- Chất gây ô nhiễm: là các chất hóa học, các yếu tố vật lý và sinh họckhi xuất hiện trong môi trường cao hơn ngưỡng cho phép làm cho môi trường bị - Theo đinh nghĩa của Ngân hàng Thế giớ
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
KHOA MÔI TRƯỜNG
HUYỆN GIA VIỄN, TỈNH NINH BÌNH
Người thực hiện : TRẦN THỊ NGỌC ĐIỆP
Khóa : 57
Chuyên ngành : KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG
Giáo viên hướng dẫn : PGS.TS NGUYỄN XUÂN THÀNH
Hà Nội – 2016
Trang 2HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
KHOA MÔI TRƯỜNG
HUYỆN GIA VIỄN, TỈNH NINH BÌNH
Người thực hiện : TRẦN THỊ NGỌC ĐIỆP
Khóa : 57
Chuyên ngành : KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG
Giáo viên hướng dẫn : PGS.TS NGUYỄN XUÂN THÀNH Địa điểm thực tập : Bệnh viện đa khoa huyện Gia Viễn
Hà Nội – 2016
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng đây là công trình nghiên cứu của tôi, có sự hỗ trợ
từ Giáo viên hướng dẫn là PGS.TS Nguyễn Xuân Thành Các nội dung nghiêncứu và kết quả trong đề tài này là trung thực và chưa từng được công bố trongbất cứ công trình nghiên cứu nào trước đây
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện khóa luận này
đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong khóa luận này đều đã được chỉ
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành khóa luận tốtnghiệp em đã nhận được sự quan tâm, giúp đỡ tận tình của các thầy cô giáotrong khoa Môi trường - Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam, các cá nhân, tậpthể đã tạo điều kiện cho em học tập, nghiên cứu và hoàn thành đề tài này
Em xin được gửi lời cảm ơn chân thành đến các thầy giáo, cô giáo khoaMôi trường - Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam đã dạy dỗ, chỉ bảo ân cần, tạomọi điều kiện giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập, rèn luyện tại trườngcũng như trong quá trình hoàn thành khóa luận tốt nghiệp Đặc biệt em xin gửilời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất tới thầy giáo PGS.TS.Nguyễn XuânThành đã tận tình giúp đỡ và trực tiếp hướng dẫn em trong suốt quá trình thựchiện đề tài
Em cũng xin gửi lời cảm ơn tới tập thể cán bộ Bệnh viện Đa khoa huyệnGia Viễn nói chung và Điều dưỡng Bùi Xuân Tiến nói riêng đã tạo mọi điềukiện tốt nhất có thể để em có thể hoàn thành đề tài của mình tại đơn vị
Em xin chân thành cảm ơn những sự giúp đỡ vô cùng quý báu đó Em xinchúc các thầy giáo, cô giáo, các cô, các bác luôn mạnh khỏe, hạnh phúc và côngtác tốt
Hà Nội, ngày tháng năm 2016
Sinh viên
Trần Thị Ngọc Điệp
Trang 5MỤC LỤC
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1: Nguồn phát sinh CTR y tế đặc thù từ hoạt động y tế 4
Bảng 1.2: Phân loại nhóm chất thải y tế lây nhiễm 5
Bảng 1.3: Nhóm các chất phóng xạ trong bệnh viện 7
Bảng 1.4: Tổng lượng chất thải phát sinh từ các khoa trong bệnh viện 16
Bảng 1.5: Hiện trạng thu gom, phân loại CTYT tại các bệnh viện trên địa bàn Hà Nội 17 Bảng 3.1: Trình độ nhân sự của bệnh viện đa khoa Huyện Gia Viễn 29
Bảng 3.2: Kết quả thực hiện các chỉ tiêu kế hoạch của bệnh viện 29
Bảng 3.4: Khối lượng chất thải rắn y tế tại bệnh viện đa khoa Huyện Gia Viễn năm 2013 - 2015 32
Bảng 3.5 : Khối lượng chất thải rắn bệnh viện của các quý năm 2015 33
Bảng 3.6: Lượng CTRYT của bệnh viện quý I - 2016 33
Bảng 3.7: Đặc tính của Chất thải rắn y tế tại bệnh viện Gia Viễn 37
Bảng 3.8: Nguồn nhân sự của bệnh viện tham gia quản lý chất thải y tế 39
Bảng 3.9: Kết quả phỏng vấn bệnh nhân và người nhà bệnh nhân về tình hình chung của bệnh viện 41
Bảng 3.10: Kết quả dự báo khối lượng CTRYT đến năm 2020 tại bệnh viện đa khoa huyện Gia Viễn 50
Trang 7DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 3.1: Bệnh viện Đa khoa Huyện Gia Viễn 27
Hình 3.2: Sơ đồ tổ chức BVĐK Huyện Gia Viễn 28
Hình 3.3 : Nguồn phát sinh chất thải của BVĐK Huyện Gia Viễn 31
Hình 3.4: Khối lượng chất thải rắn bệnh viện của các quý năm 2015 33
Hình 3.5: Tỷ lệ thành phần CTRYT tại bệnh viện Gia Viễn 35
Hình 3.6 : Sự biến động của lượng chất thải thông thường các ngày trong quý I-2016 35 Hình 3.7 : Sự biến động của lượng chất thải nguy hại các ngày trong quý I- 2016 36 Hình 3.8: Sơ đồ cơ cấu tổ chức quản lý, xử lý chất thải y tế của BVĐK Huyện Gia Viễn 38 Hình 3.9: Khuôn viên Bệnh viện Gia Viễn 40
Hình 3.10: Sơ đồ phân loại chất thải tại bệnh viện 41
Hình 3.11: Nhận thức của cán bộ y tế về phân loại CTRYT 43
Hình 3.12: Thùng chứa CTR thông thường của Bệnh Viện 44
Hình 3.13: Thu gom chất thải y tế 46
Hình 3.14: Lò đốt rác của bệnh viện đa khoa Gia Viễn 48
Trang 8BẢNG CHỮ VIẾT TẮT
CTRYTNH Chất thải rắn y tế nguy hại
BTNMT Bộ tài nguyên môi trường
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Ngày nay, xã hội ngày càng phát triển, đời sống của con người ngày càngđược nâng cao Bên cạnh đó nhu cầu thị hiếu của con người cũng tăng lên.Chăm sóc sức khoẻ là nhu cầu thiết yếu của mỗi người, khi đời sống được cảithiện thì nhu cầu ấy càng được chăm sóc hơn Để đáp ứng nhu cầu đó, số lượng
và quy mô của các bệnh viện, cơ sở khám chữa bệnh cũng gia tăng nhanh chóng
Đi kèm với những vấn đề lợi ích mà các cơ sở y tế đem lại thì lượng rác phátsinh từ các cơ sở y tế cũng tăng lên về số lượng và phức tạp về thành phần.Trong đó bao gồm cả những chất thải nguy hại ảnh hưởng tới môi trường sống
và sức khoẻ cộng đồng Phế thải y tế nói riêng đang là vấn đề lo ngại của cácnhà quản lý môi trường và gây dư luận cho cộng đồng
Theo thống kê của bộ y tế năm 2014 cho biết, nước ta có khoảng hơn
1500 bệnh viện với 170 bệnh viện tư nhân, theo phó cục trưởng cục quản lý môitrường y tế ( Bộ Y tế) Trần Đắc Phu thì hiện nay, cả nước có 13.640 cơ sở y tếcác loại Tổng lượng chất thải rắn phát sinh từ các cơ sở y tế mỗi ngày là khoảng
450 tấn, trong số đó có 47 tấn là chất thải y tế nguy hại cần được xử lý bằng biệnpháp phù hợp Theo thống kê của Tổng cục Môi trường Việt Nam, mức chất thải
y tế hiện nay là 7,6%/năm Ước tính năm 2015, tổng lượng chất thải rắn y tế là
600 tấn/ngày và năm 2020 là 800 tấn/ngày ở tuyến trung ương, địa phương.Nhưng hiện nay, đa số các cơ sở y tế chưa có sự quan tâm đúng mức về việcquản lý, xử lý CTR y tế Tình trạng trên không những làm mất mỹ quan mà còngây ảnh hưởng xấu đến môi trường cũng như sức khỏe con người
Bệnh viện Huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình hình thành và phát triển phục
vụ nhu cầu khám chữa bệnh của đa số người dân trong khu vực và lân cận,khẳng định được vị trí và vai trò trong sự phát triển chung của toàn huyện Nhờ
Trang 10khám chữa bệnh và chăm lo sức khoẻ cho người dân Bên cạnh những thành tựuđạt được thì vấn đề mà bệnh viện đang gặp phải là tình trạng phế thải y tế vớikhối lượng khá lớn và gây nguy hại, vấn đề phế thải y tế tại bệnh viện chưađược quan tâm đúng mức gây ảnh hưởng đến sức khoẻ cộng đồng và môi trườngsống Vì vậy công tác quản lý và xử lý chất thải y tế tại bệnh viện Huyện là vấn
đề quan trọng cấp thiết, nhằm giảm thiểu tác động tiêu cực tới môi trường
Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn trên, tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Đánh
giá thực trạng và đề xuất giải pháp quản lý phế thải y tế tại bệnh viện Huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình”.
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
- Đánh giá hiện trạng chất thải rắn y tế tại bệnh viện Huyện Gia Viễn, tỉnhNinh Bình (chủng loại, khối lượng, thành phần, biện pháp thu gom, phân loại,lưu giữ và xử lý chất thải rắn y tế);
- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao công tác quản lý chất thải rắn y
tế góp phần bảo về môi trường tại bệnh viện Huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình
3 Yêu cầu nghiên cứu
- Điều tra thực tế và sử dụng bộ phiếu điều tra về chất thải rắn tại bệnh việnHuyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình, chỉ ra được khối lượng và thành phần của từngloại chất thải rắn để thu thập được số liệu mới nhất, chính xác và sát với nộidung nghiên cứu
- Đánh giá được công tác quản lý, xử lý CTR tại bệnh viện
- Các biện pháp đề xuất phải có tính ứng dụng cao, phù hợp với điều kiệncủa bệnh viện
Trang 11Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Tổng quan về CTR y tế
1.1.1 Các khái niệm và thuật ngữ
Một số thuật ngữ môi trường nói chung
- Theo luật bảo vệ môi trường 2014:
- Môi trường: là hệ thống các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo có tácđộng đối với sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật
- Thành phần môi trường: là các yếu tố vật chất tạo thành môi trường gồmđất, nước, không khí, âm thanh, ánh sáng, sinh vật và các hình thái vật chất khác
- Ô nhiễm môi trường: là sự biến đổi các thành phần môi trường khôngphù hợp với quy chuẩn kỹ thuật môi trường và tiêu chuẩn môi trường gây ảnhhưởng xấu đến con người và sinh vât
- Chất gây ô nhiễm: là các chất hóa học, các yếu tố vật lý và sinh họckhi xuất hiện trong môi trường cao hơn ngưỡng cho phép làm cho môi trường bị
- Theo đinh nghĩa của Ngân hàng Thế giới:
- Chất thải y tế: được xác định là chất thải phát sinh trong các cơ sở y
tế, từ các hoạt động khám chữa bệnh, chăm sóc, xét nghiệm, phòng bệnh, nghiêncứu, đào tạo
- Chất thải y tế nguy hại: được xác định là chất thải có chứa một trongcác thành phần như máu, dịch cơ thể, chất bài tiết, các bộ phận cơ quan của cơthể người, bơm kin tiêm và các vật sắc nhọn, dược phẩm, hóa chất và các chấtphóng xạ được sử dụng trong y tế Những chất này không được xử lý đúng cách
sẽ gây nguy hại cho môi trường và sức khỏe con người
- Theo điều 3, Chương 1, Quy chế quản lý chất thải y tế năm 2007:,
- Chất thải y tế: là vật chất ở thể rắn, lỏng và khí được thải ra từ các cơ
sở y tế bao gồm chất thải y tế nguy hại và chất thải thông thường
Trang 12- Chất thải y tế nguy hại: là chất thải y tế chứa các yếu tố gây nguy hạicho sức khỏe con người và môi trường như dễ lây nhiễm, gây ngộ độc, phóng
xạ, dễ cháy, dễ nổ,dễ ăn mòn hoặc có đặc tính nguy hại khác nếu những chấtthải này không được tiêu hủy an toàn
1.1.2 Nguồn gốc phát sinh CTR
Nguồn phát sinh chất thải y tế chủ yếu là: bệnh viện, các cơ sở y tế khác như: phòng khám sản phụ khoa, phòng khám răng hàm mặt, trung tâm lọc máu, ngân hàng máu, trung tâm xét nghiêm… Hầu hết các CTR y tế đều có tính độc hại và tính đặc thù khác với CTR khác
Bảng 1.1: Nguồn phát sinh CTR y tế đặc thù từ hoạt động y tế
Chất thải sinh hoạt Các chất thải từ nhà bếp, các khu nhà
hành chính, các loại bao gói…
Chất thải chứa các vi trùng gây bệnh Các phế thải từ phẫu thuật, các cơ quan
nội tạng của người sau quá trình xét nghiệm, các gạc bông máu mủ của bệnh nhân
Chất thải bị nhiễm bẩn Các thành phần thải ra sau khi dùng
cho bệnh nhân, các chất thải từ quá trình lau cọ sàn nhà
Chất thải đặc biệt Các chất thải độc hại hơn các loại trên,
các chất phóng xạ, hóa chất dược,… từcác khoa khám, chữa bệnh, hoạt động thực nghiệm, khoa dược…
(Nguồn: Báo cáo hiện trạng môi trường 2011)
1.1.3 Phân loại CTR y tế
- Phân loại theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), chất thải y tế được phân thành những loại chủ yếu sau:
- Chất thải thông thường: đó là chất thải không độc hại, về bản chất tương
tự rác thải sinh hoạt
Trang 13- Chất thải là bệnh phẩm: mô, cơ quan, phần bào tử thai người, xác độngvật thí nghiệm, máu, dịch thể.
- Chất chứa phóng xạ: Chất thải từ các quá trình chụp chiếu X quang,phân tích tạo hình cơ quan trong cơ thể, điều trị và khu trị khối u…
- Chất thải hóa học: có thuộc tính độc hại, ăn mòn, gây cháy hay nhiễmđộc gen hoặc không độc
- Chất thải nhiễm khuẩn: gồm các chất thải chứa các tác nhân gây bệnh như vi
- Sinh vật kiểm dịch, bệnh phẩm bệnh nhân bị cách ly hoặc máunhiễm khuẩn…
- Các vật sắc nhọn: kim tiêm, lưỡi dao, kéo mổ, chai lọ vỡ… có thể gâythương tích cho người và vật
- Dược liệu dư thừa, quá hạn sử dụng
- Phân loại dựa theo quy chế 43/2007 của Bộ y tế Việt Nam
- Căc cứ vào các đặc điểm lý học, hóa học sinh học và tính chất nguy hạichất thải trong các cơ sở y tế được phân thành 5 nhóm sau:
1 Chất thải lây nhiễm
2 Chất thải phóng xạ
3 Chất thải hóa học
4 Các bình chứa khí có áp suất
5 Chất thải thông thường
Nhóm chất thải lây nhiễm
Nhóm chất thải lây nhiễm được Bộ Y tế phân thành 4 phân nhóm chất thảilây nhiễm theo quy định số 43/2007/QĐ-BYT ngày 30-11-2007
Bảng 1.2: Phân loại nhóm chất thải y tế lây nhiễm Nhóm
chất thải
A Chất thải sắc nhọn Là chất thải có thể gây ra các vết cắt hoặc
chọc thủng, có thể nhiễm khuẩn, baogồm: bơm kim tiêm, đầu sắc nhọn củadây truyền, lưỡi dao mổ, đinh mổ, cưa,các ống tiêm, mảnh thủy tinh vỡ và cácvật sắc nhọn khác sử dụng trong các hoạt
Trang 14B Chất thải không sắc
nhọn
Là những chất thải bị thấm máu, thấmdịch sinh từ buồng bệnh cách ly
C Chất thải có nguy cơ
lây nhiễm cao
Là quá trình phát sinh trong các phòngxét nghiệm như bệnh phẩm và dụng cụđựng, dính bệnh phẩm
D Chất thải giải phẫu Bao gồm các mô, cơ quan, bộ phận cơ
thể người, các nhau thai, bào thai…
( Nguồn: Bộ Y tế, 2007)
Chất thải phóng xạ
Tại các cơ sở y tế, chất thải phóng xạ phát sinh từ các hoạt động chuẩnđoán, hóa trị liệu và nghiên cứu Chất thải phóng xạ gồm các chất thải phóng xạrắn, lỏng và khí
Trang 15Bảng 1.3: Nhóm các chất phóng xạ trong bệnh viện.
Chất thải phóng xạ rắn Ống bơm tiêm, kim tiêm, kính bảo hộ, giấy
thấm, gạc sát khuẩn, ống nghiệm, chai lọ đựngchất phóng xạ
Chất thải phóng xạ lỏng Nước tiểu của người bệnh, các chất bài tiết, nước
súc rửa các dụng cụ có chứa phóng xạChất thải phóng xạ khí Các chất khí thoát ra từ kho chứa chất phóng xạ
( Nguồn: Bộ y tế, 2007)
Chất thải hóa học nguy hại
Nhóm chất thải hóa học nguy hại được Bộ Y tế phân thành các phânnhóm chất thải hóa học nguy hại theo quy định số 43/2007/QĐ-BYT ngày30/11/2007, trong đó bao gồm:
- Dược phẩm quá hạn, kém phẩm chất không còn khả năng sử dụng
- Các chất hóa học nguy hại sử dụng trong y tế
- Chất gây độc tế bào, gồm: vỏ các chai thuốc, lọ thuốc, các dụng cụ dínhthuốc gây độc tế bào và các chất tiết ra từ tế bào được điều trị bằng hóa trị liệu
- Chất chứa kim loại nặng: thủy ngân ( từ nhiệt kế, huyết áp kể thủy ngân
bị vỡ, chất thải từ hoạt động nha khoa), cadimi (Cd) (từ pin, ắc quy), chì (từ tấm
gỗ bọc chì hoặc vật liệu trắng sử dụng trong ngăn tia xạ từ các khoa chuẩn đoánhình ảnh, xạ trị)
Bình chứa áp suất
Bao gồm bình đựng Oxy, CO2, bình ga, bình khí, các bình này dễ cháy nổkhi thiêu đốt
Chất thải thông thường
Chất thải thông thường là chất thải không chứa các yếu tố lây nhiễm, hóahọc nguy hại, phóng xạ, dễ cháy, dễ nổ, bao gồm:
- Chất thải sinh hoạt phát sinh từ các buồng bệnh ( trừ các buồng bệnhcách ly)
Trang 16- Chất thải phát sinh từ các hoạt động chuyên môn y tế như chai lọ, thủytinh, chai huyết thanh, các vật liệu nhựa các loại bó bột trong gẫy xương kín.Những chất thải này không dính máu, dính dịch sinh học và các chất hóa họcnguy hại.
- Chất thải phát sinh từ các công việc hành chính: giấy, báo, tài liệu, vậtliệu đóng gói, thùng các tông, túi đựng phim
- Chất thải ngoại cảnh: lá cây và rác từ các khu vực ngại cảnh
1.2 Ảnh hưởng của CTR y tế đến môi trường và sức khỏe
1.2.1 Ảnh hưởng của CTR y tế đến môi trường
Khi CTRYT không được quản lý và sử lý đúng cách (chôn lấp, thiêu đốtkhông đúng quy chế, tiêu chuẩn) thì sẽ dẫn đến ô nhiễm môi trường đất, nước,không khí Sự ô nhiễm này có thể gây ra những ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếpđến sức khỏe con người và hệ sinh thái
Ảnh hưởng đến môi trường đất
CTRYT trước khi thải bỏ vào môi trường nếu không được xử lý đúngcách thì các vi sinh vật gây bệnh, hóa chất độc hại, các vi khuẩn có thể nhấmvào môi trường đất gây nhiễm độc cho môi trường sinh thái, các tầng sâu trongđất, sinh vật kém phát triển,… làm cho việc khắc phục hậu quả phái sau gặp khókhăn (Trịnh Thị Thanh, 2002)
Ảnh hưởng đến môi trường nước
CTRYT bao gồm cả các rác thải sinh hoạt và rác thải y tế nguy hại, 2 loạinày đều có tác động đến môi trường nước ở mức độ khác nhau Đặc biệt là chấtthải y tế nguy hại, với đặc tính chứa nhiều mầm bệnh và các chất độc hại nếukhông được quản lý chặt chẽ sẽ lan truyền rất nhanh đến các nguồn nước và gây
ô nhiễm nguồn nước mặt Điều này sẽ gây ra tác động xấu đến cộng đồng khi sửdụng nguồn nước này ( Health Survices Advisory Committee, 1999)
Trang 17Mặt khác khi chôn lấp CTRYT không hợp vệ sinh, đặc biệt là chất thải y
tế được chôn lấp chung với chất thải sinh hoạt có thể gây ô nhiễm nguồn nướcngầm ( Trịnh Thị Thanh, 2002)
Ảnh hưởng đến môi trường không khí
Chất thải bệnh viện từ khi phát sinh đến khâu xử lý cuối cùng đều gây ranhững tác động xấu đến môi trường không khí Khi phân loại tại nguồn, thugom, vận chuyển chúng phát tán lượng rác, bào tử vi sinh vật gây bệnh, hơidung môi, hóa chất vào không khí ở khâu xử lý ( đốt, chôn lấp) phát sinh ra cáckhí độc hại HX, NOx, dioxin, furan,…từ lò đốt và CH4, NH3, H2S từ bãi chônlấp Các khí này nếu không được thu hồi và xử lý sẽ ảnh hưởng xấu đến sứckhỏe cộng đồng dân cư xung quanh ( Trịnh Thị Thanh, 2002)
1.2.2 Ảnh hưởng của chất thải rắn đến sức khỏe con người
Đối tượng chịu ảnh hưởng trực tiếp từ CTRYT
Tất cả các cá nhân tiếp xúc với chất thải y tế nguy hại là những người cónguy cơ bị ảnh hưởng đến sức khỏe cao, bao gồm những người làm việc trongcác cơ sở y tế, những người ở ngoài các cơ sở y tế làm nhiệm vụ vận chuyển cácchất thải y tế và những người trong cộng đồng bị phơi nhiễm với chất thải dohậu quả của sự sai xót trong khâu quản lý Dưới đây là những nhóm đối tượngchính có nguy cơ bị ảnh hưởng tới sức khỏe:
- Bác sỹ, y tá, hộ lý và các nhân viên hành chính của bệnh viện
- Bệnh nhân điều trị nội trú và ngoại trú
- Khách tới thăm hoặc người nhà bệnh nhân
- Những công nhân làm việc trong các dịch vụ hỗ trợ phục vụ cho các cơ sởkhám chữa bệnh và điều trị (ví dụ: giặt là, lao công, vận chuyển bệnh nhân,…)
- Những người làm việc trong các cơ sở xử lý chất thải y tế ( tại các bãi đổrác thải, lò đốt rác) và những người bới rác, thu gom rác,…(Trịnh Thị Thanh, 2002)
Trang 18Tác động từ CTRYT
Tác động đến sức khỏe con người của CTRYT được gây ra từ nhiều loạichất thải khác nhau như từ chất thải truyền nhiễm và các vật sắc nhọn, từ chấtthải hóa học và dược phẩm, từ chất thải gây độc tế bào hay từ chất thải phóng
xạ Nhưng dù từ nhóm chất thải nào thì ảnh hưởng của nó đối với con người làrất nguy hiểm và không thể xem nhẹ Một trong những mối nguy hiểm màCTRYT gây ra cho con người là nguy cơ nhiễm HIV từ các vật sắc nhọn nhưbơm kim tiêm Không những thế CTRYT còn có thể dẫn đến khả năng mắc cácbệnh từ vi sinh vật truyền nhiễm có trong chất thải như viêm gan B, các bệnhđường hô hấp, viêm da,…
Việc tiếp xúc với các chất thải y tế có thể gây nên bệnh tật hoặc tổnthương Khả năng gây rủi ro từ chất thải y tế có thể do một hoặc nhiều đặc trưng
- Chất thải có yếu tố ảnh hưởng tâm lý xã hội
Những đối tượng có thể tiếp xúc với nguy cơ:
Tất cả mọi cá nhân tiếp xúc với chất thải y tế nguy hại là những người cónguy cơ tiềm tàng, bao gồm những người làm trong các cơ sở y tế, những ngườilàm nhiệm vụ vận chuyển các chất thải y tế và những người trong cộng đồng bịphơi nhiễm với chất thải do hậu quả của sự bất cẩn và tắc trách trong khâu quản
lý và kiểm soát chất thải
Nguy cơ từ chất thải truyền nhiễm và các vật sắc nhọn:
Các vật thể trong thành phần chất thải y tế chứa đựng một lượng lớn cáctác nhân vi sinh vật gây bệnh truyền nhiễm như tụ cầu, HIV, viêm gan B Cáctác nhânnày có thể thâm nhập vào cơ thể người thông qua các cách thức sau:
- Qua da, qua một vết thương, trầy xước hoặc vết cắn trên da do vật sắc nhọn
Trang 19gây tổn thương.
- Qua niêm mạc, màng nhầy
- Qua đường hô hấp do hít phải
- Qua đường tiêu hóa do nuốt, ăn phải
Đối tượng có nguy cơ nhiễm bệnh cao nhất là các y tá, hộ lý Các cá nhân bệnhviện khác và những người vận hành quản lý chất thải xung quanh cũng có nguy
cơ nhiễm bệnh đáng kể Bệnh nhân và người nhà bệnh nhân cũng có nguy cơ bịnhiễm các tác nhân gây bệnh do vô tình tiếp xúc với những vật mang mầm bệnh.(Bộ Y tế, 2000; Bộ Y tế - WHO, 1997)
Nguy cơ từ các chất thải gây độc tế bào:
Đối với nhân viên y tế do nhu cầu công việc phải tiếp xúc và xử lý loạichất thải gây độc tế bào mà mức độ ảnh hưởng và chịu tác động từ các rủi rotiềm tàng sẽ phụ thuộc vào các yếu tố như tính chất, liều lượng gây độc của chấtđộc và khoảng thời gian tiếp xúc Quá trình tiếp xúc với các chất độc có trongcông tác y tế có thể xảy ra trong lúc chuẩn bị hoặc trong quá trình điều trị bằngcác thuốc đặc biệt hoặc bằng phương pháp hóa trị liệu Những phương thức tiếpxúc chính là hít phải hóa chất có tính nhiễm độc ở dạng bụi hoặc hơi qua đường
hô hấp, bị hấp thụ qua da do tiếp xúc trực tiếp, qua đường tiêu hóa do ăn phảithực phẩm nhiễm thuốc Độc tính đối với tế bào của nhiều loại thuốc chống ungthư là tác động đến các chu kỳ đặc biệt của tế bào, nhằm vào các quá trình tổnghợp AND hoặc quá trình phân bào nguyên phân Nhiều loại thuốc có độc tínhcao và gây nên hậu quả hủy hoại cục bộ sau khi tiếp xúc trực tiếp với da hoặcmặt.Chúng cũng có thể gây ra chóng mặt buồn nôn, đau đầu hoặc viêm da
(Bộ Y tế, 2000; Bộ Y tế - WHO, 1997)
Nguy cơ từ chất thải phóng xạ:
Loại bệnh và hội chứng gây ra do chất thải phóng xạ được xác định bởiloại chất thải đối tượng và phạm vi tiếp xúc Nó có thể là hội chứng đau đầu, hoamắt, chóng mặt và nôn nhiều một cách bất thường Chất thải phóng xạ, cũng nhưchất thải dược phẩm, là một loại độc hại tới tế bào, gen Tiếp xúc với các nguồn
Trang 20phóng xạ có hoạt tính cao ví dụ như nguồn phóng xạ của các thiết bị chuẩn đoánnhư máy X-quang, máy chụp cắt lớp… có thể gây ra một loạt các tổn thươngchẳng hạn như phá hủy các mô, nhiều khi gây ra bỏng cấp tính.
Các nguy cơ từ những loại chất thải có chứa các đồng vị có hoạt tính thấp
có thể phát sinh do việc nhiễm xạ trên bề mặt của các vật chứa, do phương thứchoặc khoảng thời gian lưu giữ của loại chất thải này Các nhân viên y tế hoặcnhững người làm nhiệm vụ thu gom và vận chuyển rác khi phải tiếp xúc với chấtthải có chứa các loại đồng vị phóng xạ này là những người có nguy cơ cao ( Bộ
1.3 Thực trạng quản lý, xử lý CTRYT trên Thế giới và Việt Nam
1.3.1 Thực trạng quản lý, xử lý CTRYT trên Thế giới
1.3.1.1 Thực trạng quản lý CTRYT trên thế giới
Tại khu vực Châu Á, vấn đề quản lý chất thải y tế đang nhận được nhiều
sự quan tâm của các chính phủ và các tổ chức phi chính phủ Tuy nhiên, không
có nhiều quốc gia có đủ điều kiện về cơ sở vật chất, nhân lực và có những quyđịnh phù hợp để kiểm soát triệt để vấn đề chất thải y tế Một trong những gợi ýcủa tổ chức y tế như WHO hay chương trình phát triển liên hợp quốc (UNDP) làcác quốc gia cần có một khung pháp luật đủ mạnh cũng như tuân theo quy địnhchung của quốc tế trong việc quản lý chất thải y tế Việc quản lý chất thải y tếchỉ có thể được giải quyết học tập các tổ chức, cơ quan trong nước và nướcngoài.Tại các quốc gia phát triển như Nhật Bản, Singapore Một số nước đangphát triển như Malaisia, Philippin và Việt Nam cũng đang từng bước thực hiện
Trang 21các yêu cầu trong quản lý chất thải y tế của WHO nhưng mức độ quản lý vẫnchưa toàn diện do một số yếu tố tác động như tài chính, thể chế, công nghiệp vànăng lực, nhận thức của nhân viên y tế Một số nước khác trong khu vực ĐôngNam Á như Indonesia, Thái Lan thì không hoàn toàn thực hiện theo các tiêuchuẩn của WHO Hiện nay công nghệ xử lý chất thải y tế đã có những thay đổitích cực tuy nhiên vấn đề áp dụng công nghệ tiên tiến, thân thiện môi trường vào
xử lý chất thải y tế cần có nguồn tài chính lớn, đây cũng là vấn đề của nhiềuquốc gia đang phát triển không có nguồn lực kinh tế để áp dụng công nghệ xử lýchất thải hiện đại Một số các quốc gia/khu vực đang sử dụng những công nghệ
có hiệu quả cao như Hà Lan, Hong Kong, Singapore – áp dụng công nghệ nhiệt
có thu hồi nhiệt để phục vụ cho các mục đích dân sinh; hay Nhật Bản, Thụy Sỹ
áp dụng công nghệ thu hồi nhiệt và thu hồi sản phẩm để tái chế Trong khi đócác nước kém phát triển và đang phát triển thì việc xử lý chất thải y tế gặp nhiềukhó khăn do chưa áp dụng được những công nghệ xử lý chất thải y tế an toàn,hiện đại và hiệu quả
1.3.1.2 Thực trạng quản lý CTRYT trên thế giới
Trên thế giới, quản lý rác thải bệnh viện được nhiều quốc gia quan tâm vàtiến hành một cách triệt để từ rất lâu Về quản lý, một loạt những chính sách quyđịnh đã được ban hành nhằm kiểm soát chặt chẽ loại chất thải này Các hiệp ướcquốc tế, các nguyên tắc, pháp luật và quy định về chất thải nguy hại, trong đó có
cả chất thải bệnh viện cũng đã được công nhận và thực hiện trên hầu hết cácquốc gia trên thế giới
Công ước Basel: Được ký kết bởi hơn 100 quốc gia, quy định về sự vậnchuyển các chất độc hại qua biên giới đồng thời áp dụng cả với chất thải y tế.Công ước này đưa ra nguyên tắc chỉ vận chuyển hợp pháp chất thải nguy hại từquốc gai không có điều kiện và công nghệ thích hợp sang các quốc gia có điềukiện vật chất kỹ thuật để xử lý an toàn một số chất thải đặc biệt (Bộ Y tế -WHO, 2005)
Trang 22Nguyên tắc polluter pay: Nêu rõ mọi người, mọi cơ quan làm phát sinhchất thải phải chịu trách nhiệm về pháp luật và tài chính trong việc đảm bảo antoàn và giữ cho môi trường trong sạch (Bộ Y tế - WHO, 2005)
Nguyên tắc proximitry: Quy định rằng việc xử lý chất thải nguy hại cần
được tiến hành ngay tại nơi phát sinh càng sớm càng tốt Tránh tình trạng chất thải
bị lưu giữ trong thời gian dài gây ô nhiễm môi trường (Bộ Y tế - WHO, 2005)
Xử lý chất thải bệnh viện, tuỳ thuộc vào điều kiện kinh tế và khoa họccôngnghệ, nhiều nước trên thế giới đã có những biện pháp khác nhau để xử lýloại rác thải nguy hại này
Các nước phát triển
Hiện tại trên thế giới ở hầu hết các quốc gia phát triển, trong các bệnhviện, cơ sở chăm sóc sức khỏe, hay những công ty đặc biệt xử lý phế thải đều cóthiết lập hệ thống xử lý loại phế thải y tế Đó là các loại lò đốt ở nhiệt độ cao tùytheo loại phế thải từ 1000oC đến trên 4000oC Tuy nhiên phương pháp này hiệnnay vẫn còn đang tranh cãi về việc xử lý khí bụi sau khi đốt đã được thải hồi vàokhông khí Các phế thải y tế trong khi đốt, thải hồi vào không khí có nhiều hạtbụi li ti và các hóa chất độc hại phát sinh trong quá trình thiêu đốt như axitclohidric,đioxin/furan, và một số kim loại độc hại như thủy ngân, chì hoặc asen,cadmi Do đó, tại Hoa kỳ vào năm 1996, đã bắt đầu có các điều luật về khí thảicủa lò đốt và yêu cầu khí thải phải được giảm thiểu bằng hệ thống lọc hóa học
và cơ học tùy theo loại phế thải
Ngoài ra còn có phương pháp khác để giải quyết vấn đề này đã được cácquốc gia lưu tâm đến vì phương pháp đốt đã gây ra nhiều bất lợi do lượng khíđộc hại phát sinh thải vào không khí, do đó các nhà khoa học hiện đang áp dụngmột phương pháp mới Đó là phương pháp nghiền nát phế thải và xử lý dướinhiệt độ và áp suất cao để tránh việc phóng thích khí thải Dựa theo phươngpháp này rác thải y tế nguy hại được chuyển qua một máy nghiền nát Phế thải
đã được nghiền xong sẽ được chuyển qua một phòng hơi có nhiệt độ 138oC và
Trang 23áp suất 3,8 bar Ở điều kiện nhiệt độ và áp suất trên là điều kiện tối ưu cho hơinước bão hòa.Phế thải được xử lý trong vòng 40 – 60 phút Sau cùng phế thảirắn đã được xử lý sẽ được chuyển đến các bãi rác thông thường vì đã đạt đượctiêu chuẩn tiệt trùng Phương pháp này còn có ưu điểm là làm giảm được khốilượng phế thải vì được nghiền nát, chi phí ít tốn kém hơn lò đốt, cũng nhưkhông tạo ra khí thải vào không khí.
Tại các nước đang phát triển
Đối với các nước đang phát triển, việc quản lý môi trường nói chung vẫncòn rất lơ là, nhất là đối với phế thải bệnh viện Tuy nhiên trong khoảng 5 nămtrở lại đây, các quốc gia như Ấn Độ, Trung Quốc đã bắt đầu chú ý đến việc bảo
vệ môi trường, và có nhiều tiến bộ trong việc xây dựng các lò đốt ở bệnh viện.Đặc biệt ở Ấn Độ từ năm 1998, chính phủ đã ban hành luật về “Phế thải y tế:Lập thủ tục và Quản lý” Trong bộ luật này có ghi rõ ràng phương pháp tiếpnhận phế thải, phân loại phế thải, cùng việc xử lý và di dời đến các bãi rác… Do
đó, vấn đề phế thải y tế độc hại của quốc gia này đã được cải thiện rất nhiều
1.3.2 Thực trạng quản lý, xử lý CTR y tế ở Việt nam
A Một số văn bản pháp luật về quản lý CTRYT của Việt Nam
- Luật bảo vệ môi trường năm 2014 và các nghị định hướng dẫn thựchiện luật
- Quyết định số 23/2006/QĐ-BTNMT ngày 26/12/2006 của Bộ Tàinguyên và Môi trường về ban hành danh mục chất thải nguy hại nhằm nhận biết,phân loại các chất thải nguy hại, làm căn cứ cho việc quản lý chất thải nguy hại
- Nghị định số 59/2007/NĐ-CP ngày 09/04/2007 về quản lý CTR nhằmquy định về hoạt động quản lý chất thải rắn, quyền và nghĩa vụ của các chủ thểliên quan đến CTR được áp dụng đối với tổ chức, cá nhân có liên quan đến CTRtrên lãnh thổ Việt Nam
- Quyết định số 43/2007/QĐ-BYT ngày 30/11/2007 ban hành quy chếquản lý chất thải y tế nhằm quy định về hoạt động quản lý chất thải y tế, quyền
và nghĩa vụ của các tổ chức, cá nhân trong việc thực hiện quản lý chất thải y tế
Trang 24- Thông tư số 12/2011/TT-BTNMT quy định về quản lý chất thải nguyhại của Bộ Tài nguyên và Môi trường.
- Thông tư số 31/2013/TT-BTNMT quy định về quan trắc tác động môitrường từ hoạt động khám chữa bệnh của bệnh viện
B Tình hình phát sinh CTRYT
Theo phó cục trưởng cục quản lý môi trường y tế ( Bộ Y tế) Trần Đắc Phuthì hiện nay, cả nước có 13.640 cơ sở y tế các loại.Tổng lượng chất thải rắn phátsinh từ các cơ sở y tế mỗi ngày là khoảng 450 tấn, trong số đó có 47 tấn là chấtthải y tế nguy hại cần được xử lý bằng biện pháp phù hợp
Bảng 1.4: Tổng lượng chất thải phát sinh từ các khoa trong bệnh viện
TW
BV Tỉnh
BV Huyện
Trung Bình
BV TW
BV Tỉnh
BV Huyện
Trung Bình
CTYT phát sinh từ các cơ sở y tế khám chữa bệnh trực thuộc sự quản lý của
Bộ Y tế phần lớn được thu gom và vận chuyển đến khu vực lưu trữ, sau đó đựợc
Trang 25xử lý tại các lò thiêu đốt nằm ngay trong cơ sở hoặc ký hợp đồng vận chuyển và
xử lý đối với cơ sở xử lý chất thải đã được cấp phép
Bảng 1.5: Hiện trạng thu gom, phân loại CTYT tại các bệnh viện trên địa
bàn Hà Nội
STT Các yêu cầu theo quy chế quản lý CTRYT Tỷ lệ
tuân thủ (%)
1 Túi đựng chất thải đúng quy cách về bề dày và dung tích 66,67
2 Túi đựng chất thải đúng quy cách về màu sắc 30,67
ô nhiễm môi trường
Phân loại chất thải y tế
Đa số các bệnh viện thực hiện phân loại chất thải ngay từ nguồn nhưngviệc phân loại còn phiến diện và kém hiệu quả do nhân viên chưa được đào tạo.Việc phân loại chất thải tất cả bệnh viện đều làm theo quy chế quản lý chất thải
y tế của Bộ y tế ban hành theo quyết định số 43/2007/QĐ-BYT
Trang 26 Thu gom chất thải y tế
Theo quy định, chất thải y tế và chất thải sinh hoạt đều đựơc các hộ lý và ycông thu gom hàng ngày tại khoa phòng Các đối tượng khác như bác sỹ, y tá cònchưa được huấn luyện để tham gia vào hoạt động quản lý chất thải y tế Tình trạngchung là các bệnh viện không đủ áo bảo hộ và các phương tiện bảo hộ khác chonhân viên trực tiếp tham gia vào thu gom, vận chuyển và tiêu hủy chất thải
Lưu trữ chất thải y tế
Hầu hết các điểm tập trung rác đều nằm trong khuôn viên bệnh viện, vệsinh không đảm bảo, có nhiều nguy cơ gây rủi ro do vật sắc nhọn rơi vãi, nhiềucôn trùng xâm nhập ảnh huởng đến môi trường bệnh viện Một số nhà lưu trữrác không có mái che, không có rào bảo vệ, vị trí gần nơi đi lại, những ngườikhông có nhiệm vụ dễ xâm nhập
Vận chuyển chất thải ngoài cơ sở y tế
Hiện nay, hầu hết lượng rác thải ở Việt Nam đều được thu gom bởi công
ty Môi Trường đô thị Chất thải bệnh viện sau khi thu gom tới khu tập trung sẽđược công ty Môi trường đô thị thu gom tiếp trong khỏang thời gian một đến haingày một lần và được vận chuyển đến bãi rác của Thành phố để xử lý Tại đây,rác thải sinh hoạt được chôn lấp, thiêu đốt tại lò đốt đặt ở bãi rác
1.4 Một số phương pháp xử lý chất thải y tế
Có nhiều phương phấp có thể áp dụng để xử lý va tiêu hủy chất thải y tế.Mỗi phương pháp đề có ưu và nhược điểm nhất định Việc áp dụng các phươngpháp này còn tùy thuộc vào hoàn cảnh và điều kiện của mỗi quốc gia, địaphương và các cơ sở y tế
1.4.1 Các phương pháp chính để xử lý CTR y tế
Phương pháp khử trùng
Phương pháp này được áo dụng để khử trùng đối với chất thải y tế cónguy cơ lây nhiễm cao nhằm hạn chế xảy ra tai nạn cho nhân viên thu gom, vậnchuyển và xử lý rác Khử trùng bằng hóa chất: Clo, Hpoclorit… Đây là phương
Trang 27pháp rẻ tiền, đơn giản nhưng có nhược điểm là thời gian tiếp xúc ít không tiêuhủy hết vi khuẩn trong rác Vi khuẩn có khả năng bề vững với hóa chất nên xử
lý không hiệu quả Hóa chất bản thân đã nguy hiểm, cần nghiền nhỏ hóa chấtthải để giảm thể tích
Khử trùng bằng nhiệt ở áp suất cao: đây là phương pháp đắt tiền đòi hỏichế độ vận hành, bảo dưỡng cao, xử lý kim tiêm khi nghiền nhỏ, làm biến dạng.Nhược điểm của phương pháp là tạo mùi hôi nên với bệnh viện có lò đốt thì kimtiêm đốt trực tiếp Khử trùng bằng siêu cao tầng: phương pháp có hiệu quả khửtrùng tốt, năng suất cao Tuy nhiên, đòi hỏi kỹ thuật cao, thiết bị đắt tiền và yêucầu có chuyên môn, là phương pháp chưa phổ biến
Chôn lấp chất thải rắn y tế
Trong hầu hết các bệnh viện huyện chất thải y tế được chôn lấp tại bãicông cộng hay chôn lấp trong khu đất của một số bệnh viện Trường hợp chônlấp trong khu đất của một số bệnh viện, chất thải được chôn vào trong các hốđào và lấp đất lên, nhiều lấp đất phủ trên quá mỏng không đảm bảo vệ sinh
Tại các bệnh viện không có lò đốt tại chỗ, bào thai, nhau thai và bộ phận
cơ thể bị cắt bỏ sau phẫu thuật được thu gom để đem chôn trong khu đất bệnhviện hoặc chôn trong nghĩa trang tại địa phương Nhiều bệnh viện hiện nay gặpkhó khăn trong việc tìm kiếm diện tích đất để chôn
Vật sắc nhọn cũng được chôn lấp cùng với các chất thải y tế tại khu đấtbệnh viện hay tại bãi rác công cộng, dễ gây rủi ro cho nhân viên thu gom, vậnchuyển chất thải và cộng đồng
Hiện tại, còn một số bệnh viện, chất thải nhiễm khuẩn nhóm A vẫn đượctrộn lẫn với chất thải sinh hoạt mà không được xử lý đặc biệt gì trước khi tiêuhủy và được thải ra bãi rác thành phố, gây ô nhiễm nghiêm trọng cho môi trườngvcuar cộng đồng sống gần bãi rác
Trang 28 Thiêu đốt chất thải rắn y tế
Phương pháp thiêu đốt là một kỹ thuật được áp dụng khi một lượng lớncác chất thải nguy hại cần được thiêu hủy Phương pháp này đảm bảo khả năngphân hủy chất thải có hiệu quả cao đối với hầu hết các chất thải hữu cơ và lượngkhí thái sinh ra với lượng nhỏ có thể kiểm soát được
Đốt chất thải là quá trình Oxy hóa chất thải bằng oxy của không khí ở nhiệt
độ cao Bằng cách đốt chất thải nguy hại ta có thể giảm thể tích của nó đến 90% Nếu nhiệt độ lò đốt < 800oC, dioxin và furan sẽ hình thành Nhiệt độ lò đốt
80-từ 900 – 1200oC, PCB là hợp chất hữu cơ chứa Clo sẽ cháy hết Sản phẩm cuốicùng của quá trình đốt phải là các chất không nguy hại như H2O, CO2…
Xử lý bằng phương pháp đốt có ý nghĩa quan trọng là làm giảm tới mứctối đa chất thải cho khâu xử lý cuối cùng, nếu xử lý công nghệ tiên tiến còn có ynghĩa cao bảo vệ môi trường Đây là phương pháp xử lý rác tốn kém nhất so vớiphương pháp chôn lấp hợp vệ sinh Tuy nhiên, năng lượng phát sinh có thể tậndụng cho các lò hơi, lò sưởi hoặc công nghiệp cần nhiệt và phát điện Mỗi lò đốtcần phải trang bị một hệ thống xử lý khí thải rất tốn kém nhằm khống chế ônhiễm không khí do quá trình đốt có thể gây ra
Ưu điểm:
- Loại trừ được các chất độc hại có thể gây bệnh ung thư ( carcinogens),một số chất thải có các mầm bệnh mà chúng có thể gây ra những tác động bất lợiđến các quá trình xử lý khác
- Xử lý được toàn bộ chất thải mà không cần nhiều diện tích đất sử dụnglàm bãi chôn lấp rác
- Một lượng lớn nhiệt lượng sinh ra có thể sử dụng cho mục đích khác.Nhược điểm
- Vận hành phức tạp, đòi hỏi năng lực kỹ thuật và tay nghề cao
- Giá thành đầu tư lớn, chi phí tiêu hao năng lượng và chi phí xử lý cao
- Những tiềm năng tác động đến con người và môi trường có thể xảy ra
- Một số chất ô nhiễm không khí có thể hình thành trong quá trình đốtnhư: HCl, SO2, CO, bụi,… có thể gây những tác động bất lợi
Phương pháp đóng rắn (trơ hóa):
Trang 29Chất thải cần đóng rắn được nghiền nhỏ, sau đó được đưa vào máytrộn theo từng mẻ Các chất phụ gia như xi măng, cát và polymer được bổ sungvào để thực hiện quá trình hòa trộn khô, sau đó tiếp tục bổ sung nước vào đểthực hiện quá trình hòa trộn ướt Sau 28 ngày bảo dưỡng khối rắn, quá trìnhđóng rắn diễn ra làm cho các thành phần ô nhiễm trong chất thải hoàn toàn bị côlập Khối rắn sẽ được kiểm tra cường độ chịu nén, khả năng rò rỉ và lưu giữ cẩnthận tại kho, sau đó vận chuyển đến bãi chôn lấp an toàn Phương pháp đóng rắnđơn giản, dễ thực hiện, chi phí thấp Tỷ lệ phổ biến cho hỗn hợp là 65% CTYT,15% vôi, 15% xi măng, 5% nước.
Bao gói:
Chất kết dính vô cơ thường dùng là xi măng, vôi, thạch cao, silicat Chấtkết dính hữu cơ thường dùng là epoxy, polyester, nhựa asphalt, polyolefin, ureformaldehyt;… Chất thải thường là chất thải hóa chất hoặc dược phẩm được đưavào 3/4 thể tích các thùng bằng polyethylene hoặc thùng kim loại Sau đó đượcđiền đầy bằng các chất kết dính - để khô - dán niêm phong và đưa đi chôn lấp
Phương pháp khử khuẩn bằng vi sóng:
Có hai phương pháp đó là sử dụng vi sóng thuần túy trong điều kiện ápsuất thường (có hoặc không có bổ sung nước/hơi nước) và sử dụng vi sóng kếthợp hơi nước bão hòa trong điều kiện nhiệt độ, áp suất cao Trong phương phápnày thường đi kèm các thiết bị máy cắt, nghiền và máy ép để giảm thể tích chấtthải Các loại chất thải lây nhiễm có thể xử lý được: Chất thải lây nhiễm khôngsắc nhọn (có thấm máu, dịch sinh học và chất thải từ buồng cách ly), chất thải cónguy cơ lây nhiễm cao và chất thải giải phẫu CTR sau khi khử khuẩn, giảm thểtích đạt tiêu chuẩn có thể xử lý, tái chế, tiêu hủy như chất thải thông thường
Trang 301.4.2 Xử lý một số loại rác y tế
1.4.2.1 Xử lý chất thải lâm sàng:
Chất thải nhóm A: áp dụng 1 trong các phương pháp sau:
- Thiêu đốt là phương pháp tốt nhất cho chất thải lây nhiễm nhưng khíthảiphải đạt tiêu chuẩn môi trường
- Chôn lấp hợp vệ sinh: phải chôn tại bãi chôn lấp riêng, có hệ thốngchống thấm tốt và che phủ tức thời
- Khử trùng chất thải lây nhiễm: Bằng xử lý nhiệt, vi sóng, hóa chất
Chất thải nhóm B:
- Không được đốt trong lò
- Nên dùng phương pháp chôn lấp
- Có thể thu hồi các phần kim loại
- Đóng rắn
Chất thải nhóm C:
- Có thể xử lý giống như chất thải nhóm A
Chất thải nhóm D:
- Thiêu đốt cùng với chất thải nhiễm khuẩn nếu có lò đốt
- Chôn lấp: trước khi đem chôn lấp phải đóng rắn chất thải
Chất thải nhóm E:
- Thiêu đốt cùng với chất thải nhiễm khuẩn nếu có lò đốt
- Chôn lấp ở nghĩa địa hoặc nơi quy định Tại một số địa phương, theotập tục văn hóa, người nhà bệnh nhân có có thể tự mang rau thai, bào thai, chi vàcác phần cắt bỏ của cơ thể người đi chôn, với điều kiện các cơ sở y tế phải đảmbảo các chất thải được đựng trong các túi nilon màu vàng và đóng gói, bao bọccẩn thận trước khi giao cho người nhà bệnh nhân
Trang 311.4.2.2 Xử lý chất thải phóng xạ:
Tất cả các công đoạn của quy trình quản lý phải tuân theo hướng dẫn về
xử lý chất thải phóng xạ Thực hiện theo các quy định của pháp lệnh an toàn vàkiểm soát bức xạ ngày 25/6/1996, nghị định số 50/cấp nhà nước ngày 16/7/1998của chính phủ quy định về việc thi hành Pháp lệnh an toàn và kiểm soát bức xạ
và các quy định hiện hành của nhà nước
Xử lý chất thải hóa chất:
Hóa chất hóa học không độc hại: có thể áp dụng 1 trong 2 phương pháp sau
- Tái sử dụng
- Tiêu hủy như chất thải sinh hoạt
Hóa chất hóa học nguy hại:
- Nguyên tắc:
+ Những hóa chất hóa học nguy hại có tính chất khác nhau không đượctrônlẫn với nhau để tiêu hủy
+ Không được đốt chất thải có chứa halogen vì sẽ gây ô nhiễm khí
+ Không được chôn lấp với khối lượng lớn vì sẽ gây ô nhiễm tới nước ngầm
Phương pháp tiêu hủy:
+ Trả lại nơi sản xuất
+ Thiêu đốt
+ Chôn lấp: trước khi chôn lấp phải trơ hóa đóng rắn
Xử lý các bình có áp suất
Không để lẫn bình chứa khí có áp suất vào chất thải lâm sàng để thiêu đốt
vì có nguy cơ gây nổ Áp dụng 1 trong các phương pháp sau để xử lý:
- Trả lại nơi sản xuất
- Tái sử dụng
Trang 32Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Chất thải rắn y tế bệnh viện Huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình và các vấn
đề liên quan
2.2 Phạm vi nghiên cứu
Pham vi thời gian: Tháng 1/2016 – tháng 5/2016
Phạm vi không gian: Bệnh viện Đa khoa huyện Gia Viễn
2.3 Nội dung nghiên cứu
2.3.1 Giới thiệu về bệnh viện Huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình
- Nguồn gốc, lịch sử thành lập
- Cơ cấu tổ chức
- Tổ chức nhân sự
- Cơ sở vật chất kỹ thuật
- Số giường bệnh và số bệnh nhân đến khám, điều trị
2.3.2 Hiện trạng CTR y tế tại bệnh viện
- Nguồn gốc phát sinh
- Khối lượng và thành phần CTR y tế tại bệnh viện Đa Khoa huyện Gia Viễn
2.3.3 Công tác quản lý, xử lý CTR y tế tại bệnh viện
- Hệ thống quản lý CTR y tế tại bệnh viện Đa khoa huyện Gia Viễn
- Công tác phân loại, thu gom, vận chuyển, lưu trữ, tái chế, tái sử dụng tạibệnh viện Đa khoa Gia Viễn
- Các phương pháp xử lý CTR y tế của bệnh viện Đa khoa Gia Viễn
2.3.4 Dự báo khối lượng chất thải rắn y tế tại bệnh viện Huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình đến năm 2020
Trang 332.3.5 Đề xuất một số biện pháp quản lý và xử lý phù hợp với điều kiện thực tế tại bệnh viện Huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình
- Biện pháp tuyên truyền giáo dục cộng đồng
- Biện pháp chính sách đầu tư trang thiết bị thu gom và phân loại
- Biện pháp hành chính
- Biện pháp bảo quản, vận chuyển, lưu dữ và công nghệ tiêu hủy chất thảinguy hại bệnh viện
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1.Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp
Các văn bản, sách báo của bệnh viện và một số tài liệu tìm trên mạnginternet có liên quan đến đề tài để biết được tổng quan và hiện trạng quản lý chấtthải rắn y tế
2.4.2.Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp
- Sử dụng bộ phiếu điều tra phỏng vấn trực tiếp công nhân thu gom vậnchuyển chất thải y tế và người bệnh,người dân để thu thập thông tin theo cácthông số điều tra của mẫu phiếu điều tra.(40 phiếu chia 2 nhóm:20 phiếu bệnhnhân và người nhà bệnh nhân, 20 phiếu cán bộ nhân viên của bệnh viện HuyệnGia Viễn, tỉnh Ninh Bình)
- Điều tra trực tiếp hiện trường, điểm thu gom, tập kết, lưu giữ và vậnchuyển, xử lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện Huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình
Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp được sử dụng trong khóa luận gồm 2phương pháp chính: Điều tra, khảo sát thực địa kết hợp chụp ảnh hiện trường vàđiều tra phỏng vấn cấu trúc và bán cấu trúc
• Điều tra, khảo sát thực địa kết hợp chụp ảnh hiện trường
Điều tra, khảo sát kết hợp chụp ảnh hiện trường về cơ sở vật chất, trangthiết bị phục vụ công tác quản lý CTRYT, bao gồm các dụng cụ, bao bì đựngdùng trong phân loại, thu gom, vận chuyển, lưu giữ, xử lý CTRYT tại bệnh viện
•Điều tra phỏng vấn cấu trúc và bán cấu trúc các nhân viên y tế,
bệnh nhân và người nhà bệnh nhân, cán bộ nhân viên môi trường tại bệnh viện
về ảnh hưởng của CTRYT và đánh giá công tác quản lý CTRYT
Trang 34Dung lượng mẫu tính theo công thức Yamane:
Trong đó: n = N/( 1+ N(e)2)
n: Dung lượng mẫu cần lấy
N: Tổng số người trong khu vực nghiên cứu
e: Mức độ sai số ( chọn 20%)
2.4.3.Phương pháp so sánh đánh giá
So sánh các số liệu, thông tin thu thập được được với các quy định trongcác văn bản sau: QCVN 02:2012/BTNMT, Thông tư 12/2011/TT-BTNMT,Quyết định 43/2007/QĐ-BYT
Các yêu cầu về thông số kỹ thuật lò đốt với QCVN 02:2012/BTNMT,quy chuẩn lò đốt quốc gia về lò đốt CTRYT
Các yêu cầu về quản lý CTNH, loại CTYTNH theo phụ lục 8 danh mụcCTNH, Thông tư 12/2011/TT-BTNMT, Thông tư quy định về quản lý CTNH
Các yêu cầu về màu sắc, thùng đựng, biểu tượng…của dụng cụ bao bì
và vận chuyển CTR trong các cơ sở y tế (Chương III); phân loại, thu gom, vậnchuyển và lưu trữ CTR tại các cơ sở y tế (Chương IV ); Vận chuyển CTR rangoài cơ sở (Chương V); xử lý chất thải khí (Điều 30) và trách nhiệm quản lýCTRYT (Điều 31); Đào tạo nghiên cứu (Điều 32) trong Quyết định43/2007/QĐ-BYT của Bộ Y tế về việc ban hành quy chế quản lý CTRYT
2.4.4.Phương pháp dự báo
Dự tính khối lượng rác thải y tế trong tương lai, dự báo số bệnh nhân, sốgiường bệnh…(dựa vào phát triển dân số và định hướng phát triển kinh tế xã hộitrên địa bàn huyện Gia Viễn)
2.4.5.Phương pháp xử lý số liệu
Từ các thông tin thu thập được thống kê và xây dựng thành các sơ đồ,biểu đồ, bảng biểu để xây dựng cơ cấu tổ chức nhân sự, quy trình quản lý tổnghợp CTRYT, so sánh hiện trạng phát sinh, công tác quản lý CTRYT giữa cáckhoa trong bệnh viện bằng phần mềm Excel
Trang 35Chương 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1 Giới thiệu về bệnh vện Đa khoa Huyện Gia Viễn
3.1.1 Vị trí địa lý và lịch sử hình thành
Bệnh viện đa khoa huyện Gia Viễn nằm trên trục đường 477, phố Kiến Yết, thuộc trung tâm của Thị trấn
Hình 3.1: Bệnh viện Đa khoa Huyện Gia Viễn
Bệnh viện được thành lập từ những năm 60 của thế kỷ trước Ban đầubệnh viện có tên gọi là bệnh xã Gia Viễn với 30 giường bệnh với đội ngũ y sỹ, y
tá với trình độ sơ cấp Sau khoảng hơn 20 năm sau, bệnh viện đã phát triển lên 5khoa với trình độ chuyên môn ngày càng lên cao
Trang 36- Ngoại chuyên khoa ( răng, mắt, tai mũi họng)
- Sản
- Nội – Nhi
- Truyền nhiễm ( lao, sốt rét…)
- Lâm sàn ( xét nghiệm, X – quang)
Và đến bây giờ, sau gần 40 năm hình thành và phát triển, đến nay bệnhviện Đa khoa huyện Gia Viễn đã phát triển lớn mạnh, có đầy đủ chuyên khoacùng với đội ngũ y bác sỹ có chuyên môn cao, được đào tạo bài bản, chính quy cùng cơ sở hạ tầng tương đối khang trang gồm 4 dãy nhà tầng, 3 dãy nhà 2 tầng
và 1 dãy nhà 3 tầng Các khoa, phòng đều được lát gạch hoa thuận tiện cho côngtác vệ sinh và vô khuẩn,trang thiết bị của bệnh viện được trang bị tương đối hiệnđại có siêu âm 2D, 4D, máy chụp X-quang, máy tạo oxi, máy monitor theo dõibệnh nhân nặng, máy sinh hóa, điện giải đồ, thông số sinh hóa nước tiểu, điệntim
3.1.2 Quy mô, điều kiện cơ sở hạ tầng và cơ cấu tổ chức.
Tính đến năm 2015, bệnh viện Đa khoa Huyện Gia Viễn có 1 Giám đốc, 2phó giám đốc và 11 khoa, phòng chắc năng
Hình 3.2: Sơ đồ tổ chức BVĐK Huyện Gia Viễn
Ngoài ra, bệnh viện có 80 giường bệnh kế hoạch và 150 giường bệnh thực
kê phục vụ cho bệnh nhân điều trị ngoại trú Với tổng số cán bộ, công nhân viênchức là 108 người với trình độ nhân sự như sau: