Theo báo cáo của Ban liên Chính phủ về biến đổi khí hậucủa Liên hiệp quốc IPCC 2007, nhiệt độ trái đất đang tăng lên 0,7 độ C kể từthời kì tiền công nghiệp và hiện tại đang tăng với tốc
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
KHOA MÔI TRƯỜNG
TỈNH THANH HÓA”
Giáo viên hướng dẫn : TS Đinh Thị Hải Vân
HÀ NỘI - 2015
Trang 2HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
KHOA MÔI TRƯỜNG
TỈNH THANH HÓA”
Người thực hiên : Nguyễn Thị Quý
Giáo viên hướng dẫn : TS Đinh Thị Hải Vân
Địa điểm thực tập : Huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa
HÀ NỘI - 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Em xin cam đoan khóa luận tốt nghiệp với đề tài : “Đánh giá ảnh hưởngcủa biến đổi khí hậu đến năng suất lúa và khả năng thích ứng của người dân tạihuyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh hóa ” là công trình nghiên cứu của bản thân.Những số liệu sử dụng trong khóa luận đã được nêu rõ trong phần tài liệu thamkhảo Các số liệu và kết quả trình bày trong khóa luận hoàn toàn trung thực, nếusai em xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Hà Nội , ngày 14 tháng 1 năm 2016
Sinh viên
Nguyễn Thị Quý
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập tại trường Học viện nông nghiệp Việt Nam, Emchân thành cảm ơn sự dạy dỗ và quan tâm giúp đỡ nhiệt tình của các thầy giáo,
cô giáo, ban Giám đốc Học viện, ban chủ nhiệm khoa Môi Trường
Sau thời gian thực tập tốt nghiệp, để hoàn thành được khóa luận tốtnghiệp này, ngoài sự nổ lực của bản thân em , ngoài ra em còn nhận được sự dạy
dỗ, quan tâm giúp đỡ nhiệt tình của nhiều tập thể, cá nhân trong và ngoàitrường
Em xin chân thành cảm ơn ban chủ nhiệm khoa, cùng toàn thể các thầy côgiáo trong khoa môi trường, đã trang bị cho em những kiến thức, tạo điều kiệncho em hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này Sự giúp đỡ nhiệt tình của các thầy
cô giáo trong bộ môn Quản lý môi trường Đặc biệt là sự hướng dẫn chỉ bảo tậntình của cô giáo TS Đinh Thị Hải Vân trong suốt quá trình em thực hiện khóaluận tốt nghiệp này
Em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ tận tình của của cán bộ PhòngNông nghiệp và PTNT huyện Hoằng Hóa, Trung tâm khí tượng thủy văn tỉnhThanh Hóa, UBND xã Hoằng Phụ và xã Hoằng Đông, huyện Hoằng Hóa đã tạođiều kiện giúp đỡ em trong thời gian thực tập tốt nghiệp
Cuối cùng em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình, bạn bè đã hếtlòng tạo điều kiện, động viên, giúp đỡ và luôn ở bên em trong suốt quá trình họctập và rèn luyện
Do kiến thức và thời gian có hạn nên đề tài không thể tránh khỏi nhữngthiếu sót và hạn chế Vì vậy em rất mong nhận được sự quan tâm đóng góp ýkiến của các thầy giáo, cô giáo cùng các bạn sinh viên
Em xin chân thành cảm ơn !
Hà Nội, ngày 14 tháng 1 năm 2016
Sinh viên
Nguyễn Thị Quý
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC BẢNG v
DANH MỤC HÌNH vii
DANH MỤC BIỂU ĐỒ viii
Phần 1: ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 3
Phần 2: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4
2.1 Tổng quan về biến đổi khí hậu 4
2.1.1 Quan điểm về biến đổi khí hậu 4
2.1.2 Biểu hiện của biến đổi khí hậu 5
2.1.3 Nguyên nhân gây ra biến đổi khí hậu 6
2.2 Tình hình biến đổi khí hậu trên thế giới và Việt Nam 10
2.2.1 Tình hình biến đổi khí hậu trên thế giới 10
2.2.2 Tình hình biến đổi khí hậu ở Việt Nam 12
2.3 Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến sản xuất nông nghiệp trên thế giới và Việt Nam 18
2.3.1 Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến sản xuất nông nghiệp trên thế giới 18 2.3.2.Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam 21
2.4 Biện pháp thích ứng với biến đổi khí hậu trong sản xuất nông nghiệp trên thế giới và Việt Nam 25
2.4.1 Khái niệm về thích ứng với biến đổi khí hậu 25
2.4.2 Biện pháp thích ứng với biến đổi khí hậu trong sản xuất nông nghiệp trên thế giới 26
2.4.3 Biện pháp thích ứng với biến đổi khí hậu trong sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam 29
Trang 6Phần 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 34
3.1 Đối tượng nghiên cứu 34
3.2 Phạm vi nghiên cứu 34
3.3.Nội dung nghiên cứu 34
3.4 Phương pháp nghiên cứu 34
3.4.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp 34
3.4.2 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp 35
3.4.3 Phương pháp xử lý số liệu 35
Phần 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 36
4.1.Điều kiện tự nhiên – kinh tế huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa 36
4.1.1 Điều kiện tự nhiên 36
4.1.2.Điều kiện xã hội 39
4.2 Diễn biến biến đổi khí hậu tại huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa 40
4.2.1 Diễn biến biến đổi về nhiệt độ 40
4.2.2 Diễn biến biến đổi về lượng mưa 43
4.2.3 Diễn biến biến đổi số giờ nắng 45
4.2.4 Diễn biến số ngày nắng nóng, nắng nóng gay gắt và rét đậm, rét hại 46
4.2.5 Diễn biến biến đổi về bão 49
4.3 Hiện trạng sản xuất lúa tại huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa 51
4.4 Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến sản xuất lúa tại huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa 54
4.5 Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến lịch thời vụ, cơ cấu cây trồng 63
4.6 Các biện pháp thích ứng trong canh tác lúa tại huyện Hoằng Hóa 65
4.7 Đề xuất các biện pháp thích ứng trong sản xuất nông nghiệp với biến đổi khí hậu tại huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa 75
Phần 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 77
5.1 Kết luận 77
5.2 Kiến nghị 78
TÀI LIỆU THAM KHẢO 79
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Mức tăng nhiệt độ và mức thay đổi lượng mưa 13
của Việt Nam trong 50 năm qua 13
Bảng 2.2 Mức tăng nhiệt độ trung bình năm (oC) so với thời kỳ1980 – 1999 15
theo kịch bản phát thải trung bình (B2) 15
Bảng 2.3 Mức thay đổi lượng mưa (%) so với thời kỳ 1980÷1999 16
theo kịch bản phát thải trung bình (B2) 16
Bảng 2.4 Mực nước biển dâng (cm) so với thời kỳ 1980 - 1999 17
Bảng 2.5 Trái đất ấm lên ảnh hưởng đến nông nghiệp 19
Bảng 2.6 Thiệt hại do thiên tai đối với nông nghiệp 23
tại Việt Nam (1995 – 2007) 23
Bảng 4.1 Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế huyện Hoằng Hóa 40
Bảng 4.2 Xu hướng biến đổi của nhiệt độ theo tháng 42
tại huyện Hoằng Hóa trong giai đoạn 1984 – 2014 42
Bảng 4.3 Tổng số ngày nắng nóng, nắng nóng gay gắt và rét đậm, rét hại trong vòng 3 thập kỷ ở huyện Hoằng Hóa 47
Bảng 4.4 Thống kê các cơn bão và ATNĐ đổ bộ vào Việt Nam năm 2005 50
Bảng 4.5 Xu hướng biến đổi của bão giai đoạn 1960- 2014 50
Bảng 4.6 Diện tích lúa của huyện Hoằng Hóa giai đoạn 2000- 2014 52
Bảng 4.7 Diện tích lúa vụ chiêm xuân và vụ mùa của 40 hộ 58
được phỏng vấn ở xã Hoằng phụ 5 năm trước và hiện nay 58
Bảng 4.8 Các cơn bão điển hình và gây ảnh hưởng trực tiếp tới cây lúa 61
ở huyện giai Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa đoạn 2005 - 2013 61
Bảng 4.9 Lịch thời vụ của cây lúa tại huyện Hoằng Hóa 63
năm 2010 và năm 2015 63
Bảng 4.10 Cơ cấu cây trồng của huyện Hoằng Hóa 64
năm 2010 và năm 2014 64
Trang 9Bảng 4.11 Các loại giống lúa tại huyện Hoằng Hóa 71
Bảng 4.12 Các giống lúa được sử dụng ở 2 xã Hoằng Phụ và Hoằng Đông 72
năm 2010 và năm 2015 72
Bảng 4.13 Biện pháp thích ứng với BĐKH trong 74
sản xuất lúa của người dân ở huyện Hoằng Hóa 74
Trang 10DANH MỤC HÌNH
Hình 2.1 Cơ chế hình thành hiệu ứng nhà kính 9Hình 2.2.Rét đậm, rét hại năm 2008 24
Trang 11DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 4.1 Hiện trạng sử dụng đất của huyện Hoằng Hóa năm 2014 38
Biểu đồ 4.2 Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp 38
của huyện Hoằng Hóa năm 2014 38
Biểu đồ 4.3.Diễn biến của nhiệt độ trung bình tối cao, nhiệt độ trung bình tối thấp tại huyện Hoằng Hóa trong giai đoạn 1984 – 2014 41
Biểu đồ 4.4 Diễn biến và xu thế tổng lượng mưa trong năm 43
tại huyện Hoằng Hóa giai đoạn 1984 – 2014 43
Biểu đồ 4.5 Diễn biến và xu thế tổng lượng mưa tháng 1 (a) và tháng 7 (b) 44
tại huyện Hoằng Hóa giai đoạn 1984 – 2014 44
Biểu đồ 4.6 Tổng số giờ nắng trong năm ở huyện Hoằng hóa 46
giai đoạn 1984 – 2014 46
Biểu đồ 4.7 Diễn biến và xu thế số ngày nắng nóng, nắng nóng gay gắt ở huyện Hoằng Hóa giai đoạn 1984 - 2014 48
Biểu đồ 4.8 Diễn biến và xu thế số ngày rét đậm, rét hại ở 49
huyện hoằng Hóa giai đoạn 1984 – 2014 49
Biểu đồ 4.9 Diện tích và năng suất lúa vụ chiêm xuân (a) và vụ mùa (b) tại .53
huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa (2000- 2014) 53
Biểu đồ 4.10 Nhận thức của người dân về BĐKH tại huyện Hoằng Hóa 55
Biểu đồ 4.11 Diện tích sản xuất lúa ở vụ Đông Xuân, vụ Mùa và cả năm 56
của huyện Hoằng Hóa giai đoạn 2000- 2014 56
Biểu đồ 4.12 Năng suất lúa của vụ Mùa, vụ Xuân và cả năm 60
ở huyện Hoằng Hóa giai đoạn 2000 – 2014 60
Biểu đồ 4.13 Mối tương quan giữa năng suất vụ mùa và lượng mưa 62
giai đoạn 2000- 2014 62
Biểu đồ 4.14 Các biện pháp thích ứng của người dân với BĐKH 66
tại xã Hoằng Phụ (a) và xã Hoằng Đông (b) 66
Trang 12Biểu đồ 4.15 Diện tích NTTS của huyện Hoằng Hóa 68
trong 4 năm gần đây (từ năm 2011 – 2014) 68
Biểu đồ 4.16 Định hướng trong sản xuất nông nghiệp của người dân 70
ở Xã Hoằng Phụ, huyện Hoằng Hóa 70
Trang 13Phần 1: ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm gần đây, biến đổi khí hậu toàn cầu đang diễn ra ngày càngnghiêm trọng Biểu hiện rõ nhất là sự nóng lên của trái đất, băng tan, nước biểndâng cao; và các hiện tượng thời tiết bất thường, bão lũ, sóng thần, động đất, hạnhán và giá rét kéo dài Theo báo cáo của Ban liên Chính phủ về biến đổi khí hậucủa Liên hiệp quốc (IPCC) 2007, nhiệt độ trái đất đang tăng lên 0,7 độ C kể từthời kì tiền công nghiệp và hiện tại đang tăng với tốc độ ngày càng cao, gia tăng
mực nước biển băng hà lùi về hai cực Nếu khoảng thời gian 40 năm (1962 –
2003) lượng nước biển trung bình toàn cầu tăng 1,8mm/năm thì riêng 10 nămcuối từ 1993 - 2003 mức tăng là 3,1mm/năm Tổng cộng, trong 100 năm qua,mực nước biển đã tăng 0,31m Theo quan sát từ vệ tinh, diện tích các lớp băng ởBắc cực, Nam cực, băng ở Greenland và một số núi băng ở Trung Quốc đangdần bị thu hẹp Chính sự tan chảy của các lớp băng cùng với sự nóng lên của khíhậu các đại dương toàn cầu (tới độ sâu 3.000m) đã góp phần làm cho mực nướcbiển dâng cao
Việt Nam là quốc gia đầu tiên hứng chịu khá nhiều tác động khi biến đổi khíhậu Ngân hàng Thế giới xếp Việt Nam là một trong năm quốc gia hàng đầu trênthế giới có nguy cơ chịu ảnh hưởng nặng nề nhất do biến đổi khí hậu mang lại.Ngân Hàng Thế Giới nhận định rằng đất nước này sẽ gánh chịu những hậu quả
của biến đổi khí hậu như là “thảm họa tiềm tàng” Mối đe dọa lớn nhất đối với
Việt Nam là mực nước biển dâng Trong một cuộc khảo sát trên 84 quốc giađang phát triển nhằm đánh giá về những rủi ro từ mực nước biển dâng thì ViệtNam đều đứng nhất nhì trên tất cả các yếu tố được xem xét Hơn một nửa dân sốViệt Nam (55%) sống ở vùng đất thấp ven biển (những vùng đất cao từ 0 – 10m
so với mực nước biển) Theo tính toán của các chuyên gia nghiên cứu BĐKH,
Trang 14đến năm 2100 nhiệt độ trung bình của việt Nam có thể tăng lên 300C và mựcnước biển có thể tăng lên 1m Theo đó, khoảng 40 nghìn km2 đồng bằng venbiển Việt Nam sẽ bị ngập Theo nghiên cứu của ngân hàng thế giới (WB),khimực nước biển dâng cao 0,2- 0,6 m sẽ có 100.000 đến 200.000 ha đất bị ngập vàlàm thu hẹp đất sản xuất nông nghiệp Ước tính Việt Nam sẽ mất đi khoảng 2triệu ha đất trồng lúa trong tổng số 4 triệu ha hiện nay, đe dọa nghiêm trọng đến
an ninh lương thực quốc gia và ảnh hưởng đến hàng chục triệu người dân
Ở nước ta, dân số trên 80 triệu và 100% người Việt Nam sử dụng lúa gạolàm lương thực chính Lúa gạo đóng vai trò chính trong sản xuất nông nghiệpcủa bà con nôngdân trên khắp cả nước, ngành sản xuất lúa gạo chiếm vị trí quantrọng trong nền kinh tế xã hội của quốc gia, là chỗ dựa cho các ngành khác pháttriển và là nguồn dự trữ cho chính sách xã hội của nhà nước Chính vì vậy, sảnxuất lúa cần được quan tâm trước thực trạng biến đổi khí hậu hiện nay
Huyện Hoằng Hóa là một huyện đồng bằng ven biển với đa số dân cưsống chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp Là một trong các huyện trọng điểmsản xuất lúa của tỉnh Thanh Hóa Lúa được coi là cây lương thực chủ đạo; khôngnhững thế huyện còn có vùng trồng lúa chất lượng tiêu biểu với giống lúa mới
cho chất lượng cao như: F1, F2, Bắc Ưu 903 Theo số liệu thóng kê của huyện Hoằng Hóa năm 2015,diện tích lúa cả năm là 14.300 ha, năng suất lúa bình quân cả
năm: 62 tạ/ha, sản lượng: 88.550 tấn.Tuy nhiên, Hoằng hóa được đánh giá là một
trong những huyện đồng bằng ven biển sẽ bị ảnh hưởng nặng nề khi nước biểndâng Trong những năm gần đây, mùa bão, lũ thường bắt đầu muộn và kết thúcsớm, hướng di chuyển của các cơn bão bất thường, số lượng các xoáy thuậnnhiệt đới không thể hiện thành xu thế Nền nhiệt trong các đợt rét đậm, rét hại vàcác đợt nắng nóng có biến động theo chiều hướng xấu về mức độ và thời gian.Mặt khác, hoạt động sản xuất lúa còn phụ thuộc rất nhiều vào thời tiết, khi nhiệt
độ tăng, tính biến động và dị thường của thời tiết và khí hậu tăng ảnh hưởng rấtlớn tới sản xuất nông nghiệp
Trang 15Trong bối cảnh của biến đổi khí hậuhiện nay, biện pháp thích ứng củangười dân là rất quan trọng trong khi nhà nước lại chưa có nhưng chính sách
thực sự phù hợp Xuất phát từ thực tiễn trên em tiến hành nghiên cứu đề tài: “ Đánh giá ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến sản suất lúa và khả năng thích ứng của người dân ở huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa”.
1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
- Đánh giá được diễn biến khí hậu của giai đoạn năm 1984 – 2014 tạihuyện Hoằng Hóa- tỉnh Thanh Hóa trong vòng 30 năm trở lại đây
- Tìm hiểu được hiện trạng sản xuất lúa của huyện Hoằng Hóa- tỉnhThanh Hóa trong vòng 15 năm trở lại đây
- Đánh giá được ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến năng suất lúa củahuyện Hoằng Hóa- tỉnh Thanh Hóa
- Tìm hiểu được các biện pháp thích ứng trong sản xuất lúa tại huyệnHoằng Hóa – Thanh Hóa
- Đề xuất các biện pháp thích ứng với biến đổi khí hậu trong sản xuấtnông nghiệp, tại điểm nghiên cứu
Trang 16Phần 2: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1 Tổng quan về biến đổi khí hậu
2.1.1 Quan điểm về biến đổi khí hậu
Thời tiết là “trạng thái khí quyển tại một địa điểm nhất định được xác địnhbằng tổ hợp các yếu tố như nhiệt độ, áp suất, độ ẩm, tốc độ gió, mưa,…” Khíhậu là “trạng thái trung bình theo thời gian (thường là 30 năm) của thời tiết” (BộTài nguyên và Môi trường, 2008)
Khí hậu là trạng thái trung bình của thời tiết tại một khu vực nào đó, nhưmột tỉnh, một châu lục họa toàn cầu trên cơ sở chuỗi số liệu dài (thường từ nhiềutháng đến hàng triệu năm, trước đây thời gian dùng để đánh giá là 30 năm- Theo
tổ chức khí tượng thế giới – WMO) Khi ta nói “ Khí hậu Việt Nam là khí hậunóng ẩm” Điều đó có nghĩa là nước ta thường xuyên có nhiệt độ trung bình nămcao và lượng mưa trung bình hằng năm lớn So với thời tiết, khí hậu thường ổnđịnh hơn
Có rất nhiều khái niệm và định nghĩa về biến đổi khí hậu (BĐKH) đượctrên thế giới và ở Việt Nam sử dụng:
Theo Công ước khung của Liên hợp quốc về BĐKH của UNFCCC: Biếnđổi khí hậu là sự biến đổi cơ bản của khí hậu được quy trực tiếp hoặc gián tiếp
do hoạt động của con người, làm thay đổi thành phần của khí quyển toàn cầu; sựthay đổi này cộng thêm khả năng biến động tự nhiên của khí hậu quan sát đượctrong các thời kì có thể so sánh được
Chương trình Môi trường Quốc gia về Ứng phó với BĐKH đưa ra địnhnghĩa: “ Biến đổi khí hậu là sự biến đổi trạng thái của khí hậu so với trung bìnhhoặc dao động của khí hậu duy trì trong một khoảng thời gian dài, thường là vàithập kỷ hoặc dài hơn Biến đổi khí hậu có thể do quá trình tự nhiên bên tronghoặc các tác động bên ngoài, hoặc do hoạt động của con người làm thay đổithành phần khí quyển hay trong khai thác sử dụng đất”
Trang 17Như vậy, từ các định nghĩa trên có thể hiểu một cách đơn giản: “BĐKH là
sự biến đổi trạng thái của khí hậu so với trung bình hoặc là dao động của khí hậuduy trì trong một khoảng thời gian dài, thường là vài thập kỷ hoặc dài hơn”
2.1.2 Biểu hiện của biến đổi khí hậu
Sự nóng lên của khí quyển và trái đất nói chung Theo IPCC (2007),nhiệt độ không khí trung bình toàn cầu trong thế kỷ XX đã tăng lên 0,740C vànhiệt độ trung bình bề mặt toàn cầu sẽ tăng 2,0 – 4,50C vào năm 2100 (so vớithời kỳ 1980 – 1999) tương ứng với mức tăng nhiệt độ nói trên, mức nước biểntrung bình toàn cầu sẽ tăng 0,18 – 0,59 m vào thời kỳ 2090 – 2099 (so với thời
kỳ 1980 – 1999)
Sự nâng cao mực nước biển do băng tan dẫn tới sự ngập úng ở các vùngđất thấp, các đảo nhỏ ven biển Trong thế kỷ XX, nước biển đã dâng cao trungbình 0,17 m (từ 0,12 m đến 0,22 m) Nguyên nhân của hiện tượng này có thểgiải thích bằng việc cả khối nước biển dãn nở khi nhiệt độ tăng và việc này làmcác chóp băng ở hai cực tan dần (Nguyễn Thọ Nhân, 2009) Theo IPCC (2007),băng giá trên mặt đất giảm dần diện tích, nhiều tảng băng đã tan từ cuối thế kỷ
19 Ở Nam cực, chiều dày của các tấm băng đã giảm đi và vào cuối năm 2002,thềm băng Larsen B đã bị vỡ ra Và ở Bắc Bán cầu diện tích băng giảm 7% từnăm 1990
Sự thay đổi thành phần và chất lượng khí quyển có hại cho môi trườngsống của con người và các sinh vật trên trái đất
Sự thay đổi cường độ hoạt động của quá trình hoàn lưu khí quyển, chutrình tuần hoàn nước trong tự nhiên và các chu trình sinh địa hóa khác
Sự dịch chuyển của các đới khí hậu tồn tại hàng nghìn năm trên các vùngkhác nhau của trái đất dẫn tói nguy cơ đe dọa sự sống của các loài sinh vật, các
hệ sinh thái và hoạt động của con người
Sự thay đổi năng suất sinh học của các hệ sinh thái, chất lượng và thànhphần của thủy quyển, sinh quyển, địa quyển (Trần Thọ Đạt, 2012)
Trang 18Tuy nhiên, sự gia tăng nhiệt độ trung bình và mực nước biển dâng thườngđược coi là hai biểu hiện chính của BĐKH.
2.1.3 Nguyên nhân gây ra biến đổi khí hậu
BĐKH là hiện tượng đã xuất hiện từ lâu trên trái đất, bắt đầu ngay từ thờiđại địa chất qua thời đại lịch sử đến thời đại hiện nay Nếu như trong thời đại địachất và thời đại lịch sử BĐKH diễn ra phù hợp với các quá trình vận động tựnhiên để duy trì sự tồn tại và phát triển của trái đất thì trong thời đại hiện nayvới hàng loạt hoạt động của con người cùng hàm lượng cao các khí nhà kínhtrong đó đặc biệt là sự xuất hiện của khí CFCs, BĐKH lại trở thành một hiệntượng đáng lo ngại, được cả thế giới quan tâm vì nó có ảnh hưởng trực tiếp đếncuộc sống, sự tồn tại và phát triển của tất cả các sinh vật sống trên trái đất
Có 2 nguyên nhân chính gây ra biến đổi khí hậu đó là do tự nhiên và docon người
2.1.3.1 Nguyên nhân gây ra BĐKH do tự nhiên
Nguyên nhân gây ra BĐKH do tự nhiên bao gồm thay đổi cường độ sángcủa Mặt trời, xuất hiện các điểm đen Mặt trời (Sunspots), các hoạt động núi lửa,thay đổi đại dương, thay đổi quỹ đạo quay của trái đất Với sự xuất hiện cácSunspots làm cho cường độ tia bức xạ mặt trời chiếu xuống trái đất thay đổi,nghĩa là năng lượng chiếu xuống mặt đất thay đổi làm thay đổi nhiệt độ bề mặttrái đất Sự thay đổi cường độ sáng của Mặt trời cũng gây ra sự thay đổi nănglượng chiếu xuống mặt đất thay đổi làm thay đổi nhiệt độ bề mặt trái đất Cụ thể
là từ khi tạo thành Mặt trời đến nay gần 4,5 tỷ năm cường độ sáng của Mặt trời
đã tăng lên hơn 30% Như vậy, có thể thấy khoảng thời gian khá dài như vậy thì
sự thay đổi cường độ sáng mặt trời là không ảnh hưởng đáng kể đến BĐKH
Núi lửa phun trào - Khi một ngọn núi lửa phun trào sẽ phát thải vào khíquyển một lượng cực kỳ lớn khối lượng sulfur dioxide (SO2), hơi nước, bụi vàtro vào bầu khí quyển Khối lượng lớn khí và tro có thể ảnh hưởng đến khí hậutrong nhiều năm Các hạt nhỏ được gọi là các sol khí được phun ra bởi núi lửa,
Trang 19các sol khí phản chiếu lại bức xạ (năng lượng) mặt trời trở lại vào không gian vìvậy chúng có tác dụng làm giảm nhiệt độ lớp bề mặt trái đất.
Các đại dương là một thành phần chính của hệ thống khí hậu Dòng hảilưu di chuyển một lượng lớn nhiệt trên khắp hành tinh Thay đổi trong lưu thôngđại dương có thể ảnh hưởng đến khí hậu thông qua sự chuyển động của CO2 vào
trong khí quyển
Thay đổi quỹ đạo quay của Trái Đất - Trái đất quay quanh Mặt trời vớimột quỹ đạo Trục quay có góc nghiêng 23,5° Thay đổi độ nghiêng của quỹ đạoquay trái đất có thể dẫn đến những thay đổi nhỏ Tốc độ thay đổi cực kỳ nhỏ cóthể tính đến thời gian hàng tỷ năm, vì vậy có thể nói không ảnh hưởng lớn đếnBĐKH
Tóm lại, có thể thấy rằng các nguyên nhân gây ra BĐKH do các yếu tố tựnhiên đóng góp một phần rất nhỏ vào sự BĐKH và có tính chu kỳ kể từ quá khứ đếnhiện nay Theo các kết quả nghiên cứu và công bố từ Ủy Ban Liên Chính Phủ vềbiến đổi khí hậu (IPCC) thì nguyên nhân gây ra BĐKH chủ yếu là do các hoạt độngcủa con người
2.1.3.2 Nguyên nhân gây ra BĐKH do con người
Có nhiều nghiên cứu chứng minh rằng nhiệt độ bề mặt trái đất tăng lênnhanh chóng hơn nửa thế kỷ qua chủ yếu là do hoạt động của con người Chẳnghạn như việc đốt các nhiên liệu hóa thạch (than đá, dầu mỏ…) phục vụ các hoạtđộng công nghiệp, giao thông vận tải, phá rừng làm mất cân bằng sinh thái, sảnxuất hóa chất và thay đổi mục đích sử dụng đất bao gồm thay đổi trong nôngnghiệp, công nghiệp, nhà ở Ngoài ra còn một số hoạt động khác như đốt sinhkhối, sản phẩm sau thu hoạch Nhu cầu năng lượng của nhân loại ngày càngnhiều, trong đó năng lượng hóa thạch chiếm phần lớn Mặc dù, năng lượng hạtnhân hoặc một số dạng năng lượng sạch khác có xu hướng tăng lên nhưng vẫnchỉ chiếm một phần nhỏ so với nhu cầu năng lượng nói chung Sử dụng năng
Trang 20lượng hóa thạch là nguyên nhân làm tăng đáng kể nồng độ khí CO2 trong khíquyển, trong đó các nước phát triển đóng góp phần lớn.
Theo Báo cáo đánh giá lần thứ 4 của IPCC (2007), hàm lượng khí CO2
trong khí quyển năm 2005 đã vượt xa mức tự nhiên trong khoảng 650.000 nămqua (180 – 280 ppm) và đạt 379 ppm (tăng ~ 35%) Lượng phát thải khí CO2 từ
sử dụng nhiên liệu hóa thạch đã tăng trung bình từ 6,4 tỷ tấn cacbon (23,5 tỷ tấn
CO2) mỗi năm trong những năm 1990 đến 7,2 tỷ tấn cacbon (45,9 tỷ tấn CO2) mỗinăm trong thời kỳ 2000 – 2005 Lượng phát thải khí CO2 từ việc thay đổi sử dụngđất ước tính bằng 1,6 tỷ tấn cacbon (5,9 tỷ tấn CO2) trong những năm 1990
Hàm lượng khí CH4 trong khí quyển đã tăng từ 715 ppb trong thời kỳ tiềncông nghiệp lên 1.732 ppb trong những năm đầu thập kỷ 90 và đạt 1.774 ppbnăm 2005 (tăng ~148%) Hàm lượng khí ôxit nitơ (N2O) trong khí quyển đã tăng
từ 270 ppb trong thời kỳ tiền công nghiệp lên 319 ppb vào năm 2005 (tăngkhoảng 18%) Các khí metan và nito ôxit tăng chủ yếu từ sản xuất nông nghiệp,đốt nhiên liệu hóa thạch, chôn lấp rác thải,… (Theo IPCC, 2007)
Việc sử dụng nhiên liệu hóa thạch phát thải 70 - 90% lượng CO2 vào khíquyển Năng lượng hóa thạch được sử dụng trong giao thông vận tải, chế tạo cácthiết bị điện: tủ lạnh, hệ thống điều hòa nóng lạnh và các ứng dụng khác Lượng
CO2 còn do hoạt động trong nông nghiệp và khai thác rừng (kể cả cháy rừng),khai hoang và công nghiệp Do đó, việc tiêu thụ năng lượng hóa thạch đóng gópkhoảng một nửa (46%) vào tiềm năng nóng lên toàn cầu Phá rừng nhiệt đớiđóng góp khoảng 18% và hoạt động nông nghiệp tạo ra khoảng 9% tổng số cáckhí gây ra lượng bức xạ cưỡng bức làm nóng lên toàn cầu Các sản phẩm hóahọc (CFC, Halocacbon,…) là 24% và các nguồn khác như rác chôn dưới đất,nhà máy xi măng,…là 3% (Lê Văn Khoa và cộng sự, 2012)
Sự gia tăng tiêu thụ nhiên liệu hóa thạch của loài người đang làm chonồng độ khí CO2 của khí quyển tăng lên Sự gia tăng khí CO2 và các khí nhàkính khác trong khí quyển trái đất làm nhiệt độ trái đất tăng lên Theo báo cáo
Trang 21của IPCC(2007) nếu nồng độ CO2 trong khí quyển tăng gấp đôi thì nhiệt độ bềmặt trái đất tăng khoảng 30C Các số liệu nghiên cứu cho thấy nhiệt độ trái đất
đã tăng 0,50C trong khoảng thời gian từ năm 1885 đến năm 1940 do thay đổi củanồng độ CO2 trong khí quyển từ 0,027% đến 0,035% Dự báo nếu không có biệnpháp khắc phục hiệu ứng nhà kính thì nhiệt độ trái đất sẽ tăng lên 1,5 đến 4,50C
vào năm 2050 (Theo IPCC, 2007).
Hình 2.1: Cơ chế hình thành hiệu ứng nhà kính
Nguồn: Tài liệu internet
Nhờ hiệu ứng nhà kính này mà nhiệt độ trung bình của bề mặt trái đất theoquan trắc là 15oC Nếu không có hiệu ứng nhà kính này xảy ra thì theo tính toán
nhiệt độ trung bình bề mặt trái đất sẽ là -18 oC
Như vậy KNK không phải là khí hoàn toàn có hại cho chúng ta, chúng giúpduy trì sự sống trên trái đất Vì hoạt động của con người làm phát thải khí nhàkính tăng, dẫn đến xuất hiện hiệu ứng nhà kính tăng cường Điều này sẽ gây cóhại cho chúng ta, cụ thể là nhiệt độ bề mặt trái đất tăng, gây nên biến đổi khíhậu Tuy nhiên câu hỏi đặt ra ở đây là với nồng độ KNK bao nhiêu thì sẽ có lợi
Trang 22cho sự sống của chúng ta? Và nếu nồng độ KNK trong khí quyển tăng lên thì sẽgây ra hiên tượng gì?
Như vậy, BĐKH hiện nay có cả nguyên nhân tự nhiên và nhân tạo, song sựnóng lên toàn cầu được khẳng định là do hoạt động của con người làm tăng hàmlượng các khí nhà kính trong khí quyển gây ra một lượng bức xạ cưỡng bức dương
2.2 Tình hình biến đổi khí hậu trên thế giới và Việt Nam
2.2.1 Tình hình biến đổi khí hậu trên thế giới
Từ giữa thế kỷ XIX cho đến nay, những số liệu có được cho thấy xu thếchung nhiệt độ trung bình toàn cầu đã tăng lên đáng kể Theo kết quả đo đạc vànghiên cứu hiện nay cho thấy, nhiệt độ không khí trung bình toàn cầu trong thế
kỷ XX đã tăng lên 0,740C, đặc biệt là vào thập kỷ 1990 là thập kỷ nóng nhấttrong thiên niên kỷ vừa qua (IPCC, 2007)
Từ những năm đầu thế kỷ XXI, nhiệt độ Trái Đất tiếp tục tăng Nhiệt độtrung bình toàn cầu năm 2003 tăng 0,460C so với trung bình thời kỳ 1971 –
2000, là năm ấm thứ ba kể từ năm 1861 Trong đó, nhiệt độ bán cầu Bắc là +0,590C và bán cầu Nam là + 0,320C Kể từ năm 1850 – 2006, trong số 12 nămnóng nhất thì đã có 11 năm nằm trong 12 năm gần đây (1995 – 2006) Hiện tượngthời tiết ấm lên ở Alaska trong những năm gần đây cũng là một minh chứng rõ rệtnhất Tại đây, nhiệt độ đã tăng lên 1,50C so với trung bình nhiều năm, lớp băngvĩnh cửu giảm 40% và hàng năm lớp băng thường dày 1,2 m chỉ còn khoảng 0,3 m(mỏng hơn 4 lần so với trung bình nhiều năm) (Theo IPCC, 2007)
Theo đánh giá của WMO: Năm 2010 là một trong ba năm nóng nhất(2005, 1998, 2010) kể từ khi có số liệu quan trắc bằng máy (1850), trong đóthập kỉ 2001-2010 là thập kỉ nóng nhất Có 6 tháng đầu năm 2010 là một chuỗitháng liên tục có nhiệt độ trung bình cao nhất chưa từng có (trong đó tháng 6 làtháng nóng kỷ lục kể từ năm 1880) Năm 2010 đã vượt qua năm 1998 (Elnino)
về số tháng phá kỷ lục nhiệt độ cao nhất theo lịch năm
Trang 23Mực nước biển trung bình toàn cầu đã tăng với tỷ lệ trung bình1,8mm/năm trong thời kỳ 1961 - 2003 và với tỷ lệ 3,1mm/năm trong thời kỳ 10năm 1993 - 2003 Tổng cộng, mực nước biển dâng quan trắc được là 0,31m(0,07)/100 năm gần đây Diện tích băng biển trung bình năm ở Bắc cực đã thuhẹp với tỷ lệ trung bình 2,7%/1 thập kỷ Riêng trong mùa hè là 7,4%/1 thập kỷ.Diện tích cực đại của lớp phủ băng theo mùa ở bán cầu Bắc đã giảm 7% kể từ
1990, riêng trong mùa xuân giảm tới 15% Ở Bắc cực, khối băng có độ dàykhoảng 3km đang mỏng dần và đã mỏng đi 66cm Ở Nam cực, băng cũng đangtan với tốc độ chậm hơn và những núi băng ở Tây Nam cực đổ sụp ỞGreenland, những lớp băng vĩnh cửu tan chảy Ở Alaska (Bắc Mỹ), nhiệt độtrung bình những năm gần đây đã tăng 1,50C so với trung bình nhiều năm, làmtan băng và diện tích lớp băng vĩnh cửu giảm 40%, lớp băng hàng năm thườngdày 1,2m nay chỉ còn 0,3m
Các báo cáo tại Hội nghị Quốc tế về BĐKH họp ở Brucxen (Bỉ) vừa quacho biết, trung bình mỗi năm, các núi băng trên cao nguyên Thanh Hải (TrungQuốc) bị giảm 7% khối lượng và 50 - 60m độ cao, uy hiếp nguồn nước của cácsông lớn ở Trung Quốc Trong 30 năm qua, trung bình mỗi năm diện tích lớpbăng trên cao nguyên Tây Tạng bị tan chảy khoảng 131km2, chu vi vùng băngtuyết bên sườn cao nguyên mỗi năm giảm 100 - 150m, có nơi tới 350m Tất cảđang làm cạn kiệt hồ nước Thanh Hải – một hồ lớn nhất Trung Quốc - đe dọa sẽ
bị biến mất trong vòng 200 năm tới Nếu nhiệt độ trái đất tiếp tục tăng, khốilượng băng tuyết ở khu vực cao nguyên sẽ giảm 1/3 vào năm 2050 và chỉ cònmột nửa vào năm 2090, đe dọa hệ thống đường sắt trên cao nguyên
Những dữ liệu thu được qua vệ tinh từng năm cho thấy, số lượng các trậnbão không thay đổi, nhưng số trận bão, lốc cường độ mạnh, sức tàn phá lớn đãtăng lên, đặc biệt ở Bắc Mỹ, tây nam Thái Bình Dương, Ấn Độ Dương, bắc ĐạiTây Dương Số lượng các trận bão lớn, lốc xoáy cường độ mạnh tăng gấp đôi,trùng hợp với nhiệt độ bề mặt đại dương tăng lên Trận sóng thần ở Ấn Độ
Trang 24Dương (2004) cướp đi sinh mạng 225.000 người thuộc 11 quốc gia, hay cơn bãoKatrina đổ bộ vào nước Mỹ (2005) gây thương vong lên đến hàng ngàn người
và thiệt hại kinh tế ước tính 25 tỷ USD Gần đây nhất “siêu bão” Nargis tạiMyanmar (2008) là thảm họa thiên nhiên tàn khốc nhất năm qua tính theo sốlượng người thiệt mạng Một nghiên cứu với xác suất lên tới 90% cho thấy sẽ có
ít nhất 3 tỷ người rơi vào cảnh thiếu lương thực vào năm 2100, do tình trạng ấmlên của Trái đất
Như vậy, BĐKH là một trong những thách thức lớn nhất đối với nhân loại.Vấn đề BĐKH đã, đang và sẽ làm thay đổi toàn diện và sâu sắc quá trình pháttriển và an ninh toàn cầu như năng lượng, nước, lương thực, xã hội, việc làm,ngoại giao, văn hóa, kinh tế, thương mại
2.2.2 Tình hình biến đổi khí hậu ở Việt Nam
Theo số liệu quan trắc, biến đổi của các yếu tố khí hậu ở Việt Nam cónhững điểm đáng lưu ý sau:
Nhiệt độ: Trong khoảng 50 năm qua (1951 - 2000), nhiệt độ trung bình năm
ở Việt Nam đã tăng lên 0,70C Nhiệt độ trung bình năm của 4 thập kỷ gần đây(1961 - 2000) cao hơn trung bình năm của 3 thập kỷ trước đó (1931- 1960) Nhiệt
độ trung bình năm của thập kỷ 1991 - 2000 ở Hà Nội, Đà Nẵng, thành phố Hồ ChíMinh đều cao hơn trung bình của thập kỷ 1931 - 1940 lần lượt là 0,8; 0,4 và 0,60C.Năm 2007, nhiệt độ trung bình năm ở cả 3 nơi trên đều cao hơn trung bình của thập
kỷ 1931 - 1940 là 0,8 - 1,30C và cao hơn thập kỷ 1991 - 2000: 0,4 - 0,50C
Lượng mưa: Trên từng địa điểm, xu thế biến đổi của lượng mưa trungbình năm trong 9 thập kỷ vừa qua (1911- 2000) không rõ rệt theo các thời kỳ vàtrên các vùng khác nhau: có giai đoạn tăng lên và có giai đoạn giảm xuống.Lượng mưa năm giảm ở các vùng khí hậu phía Bắc và tăng ở các vùng khí hậuphía Nam.Tính trung bình trong cả nước, lượng mưa năm trong 50 năm qua(1958-2007) đã giảm khoảng 2% (Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó vớibiến đổi khí hậu, Bộ TNMT, 2008)
Trang 25Bảng 2.1 Mức tăng nhiệt độ và mức thay đổi lượng mưa
của Việt Nam trong 50 năm qua
Vùng khí hậu Số
lượng trạm
Nhiệt độ (t 0 C) Lượng mưa (%)
Tháng1
Tháng7
TBnăm
Tháng9-11
Tháng5-10
Tổnglượngnăm
Nguồn: Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Môi trường, 2011
Ở nước ta, hạn hán xảy ra trong tất cả các mùa vụ, tùy từng vùng và từngnăm mức độ nặng nhẹ khác nhau nhưng hạn hán ở Trung Bộ, nhất là Nam Trung
Bộ và Tây Nguyên thường nặng nề nhất Các kịch bản về biến đổi lượng mưatrong thế kỷ XXI cho thấy, lượng mưa mùa mưa ở phần lớn các vùng, nhất làTrung Bộ sẽ tăng 5 – 10%, trong khi lượng mưa mùa khô giảm 0 – 5% Nhưvậy, hạn hán trong mùa khô có thể nghiêm trọng hơn (Bộ TN&MT, 2012)
Mực nước biển: Theo số liệu quan trắc trong khoảng 50 năm qua ở cáctrạm Cửa Ông và Hòn Dấu, mực nước biển trung bình đã tăng lên khoảng 20
cm, phù hợp với xu thế chung của toàn cầu
Số đợt không khí lạnh ảnh hưởng tới Việt Nam giảm đi rõ rệt trong haithập kỷ gần đây (cuối thế kỷ XX đầu thế kỷ XXI) Năm 1994 và năm 2007 chỉ
có 15-16 đợt không khí lạnh bằng 56% trung bình nhiều năm 6/7 trường hợp có
số đợt không khí lạnh trong mỗi tháng mùa đông (XI - III) thấp dị thường (0-1đợt) cũng rơi vào 2 thập kỷ gần đây (3/1990, 1/1993, 2/1994, 12/1994, 2/1997,11/1997) Một biểu hiện dị thường gần đây nhất về khí hậu trong bối cảnh
Trang 26BĐKH toàn cầu là đợt không khí lạnh gây rét đậm, rét hại kéo dài 38 ngày trongtháng 1 và tháng 2 năm 2008 gây thiệt hại lớn cho sản xuất nông nghiệp.
Số giờ nắng: Trong thời gian 1961-1990, số giờ nắng trung bình hàngnăm ở Việt Nam biến đổi nhiều Số giờ nắng trung bình hàng năm giảm 20 giờ ởBắc Giang, Hà Nội, Hải Dương; giảm 10 giờ ở Nam Định Ở miền Nam gia tăng
20 giờ nắng ở Nha Trang; tăng 18 số giờ nắng ở Pleiku; tăng 10 giờ nắng ở Ban
Mê Thuột; giảm 20 giờ nắng ở Cần Thơ và Bạc Liêu
Bão: Vào những năm gần đây, số cơn bão có cường độ mạnh nhiều hơn,quỹ đạo bão dịch chuyển dần về các vĩ độ phía nam và mùa bão kết thúc muộnhơn, nhiều cơn bão có quỹ đạo di chuyển dị thường hơn
Số ngày mưa phùn trung bình năm ở Hà Nội giảm dần trong thập kỷ 1981
- 1990 và chỉ còn gần một nửa (15 ngày/năm) trong 10 năm gần đây
Như vậy, biến đổi khí hậu đã gây nên những hiện tượng thời tiết khắcnghiệt, cực đoan các thiên tai, đặc biệt là bão, lũ, hạn hán ngày càng ác liệt, xảy
ra bất thường với sự gia tăng tần suất xuất hiện và cường độ
Kịch bản biến đổi khí hậu ở Việt Nam:
Kịch bản biến đổi khí hậu và nước biển dâng của Việt Nam được PhóThủ tướng Hoàng Trung Hải đồng ý để Bộ Tài nguyên và Môi trường dùng làm
cơ sở ban đầu để xây dựng các giải pháp ứng phó với BĐKH tại Việt Nam Theocác chuyên gia, kịch bản biến đổi khí hậu và nước biển dâng được xây dựng,tính toán dựa trên kịch bản phát thải khí nhà kính Theo đó, có ba kịch bản biến
đổi khí hậu tại Việt Nam được xây dựng dựa trên ba kịch bản phát thải, đó là
phát thải thấp, phát thải trung bình và phát thải cao
Tuy nhiên, theo phân tích của các nhà khoa học, do tính phức tạp của biếnđổi khí hậu và những hiểu biết chưa thật đầy đủ về biến đổi khí hậu của ViệtNam cũng như trên thế giới, cùng với yếu tố tâm lý, kinh tế, xã hội, tính chưachắc chắn về các kịch bản phát thải khí nhà kính, tính chưa chắc chắn của kếtquả mô hình tính toán xây dựng kịch bản nên kịch bản hài hòa nhất là kịch bản
Trang 27Trung bình Kịch bản này được khuyến nghị cho các Bộ, ngành và địa phươnglàm định hướng ban đầu để đánh giá tác động của biến đổi khí hậu, nước biểndâng và xây dựng kế hoạch hành động ứng phó với biến đổi khí hậu Theo đó cóthể tóm tắt như sau:
Về nhiệt độ :Vào cuối thế kỷ XXI, nhiệt độ trung bình năm có thể tăng lên2,6 0C ở Tây Bắc, 2,50C ở Đông Bắc, 2,40C ở đồng bằng Bắc Bộ, 2,80C ở BắcTrung Bộ, 1,90C ở Nam Trung Bộ, 1,60C ở Tây Nguyên và 2,00C ở Nam Bộ sovới trung bình thời kỳ 1980-1999
Bảng 2.2 Mức tăng nhiệt độ trung bình năm ( o C) so với thời kỳ1980 – 1999
theo kịch bản phát thải trung bình (B2)
Vùng
Các mốc thời gian của thế kỷ 21
2020
2030
2040
2050
2060
2070
2080
2090
2100
(Nguồn: Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2009)
Về lượng mưa: Vào cuối thế kỷ 21, lượng mưa năm có thể tăng khoảng 7
- 8% ở Tây Bắc, Đông Bắc, Đồng bằng Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ và từ 2 - 3% ởNam Trung Bộ, Tây Nguyên, Nam Bộ so với trung bình thời kỳ 1980 – 1999.Lượng mưa thời kỳ từ tháng III đến tháng V sẽ giảm từ 4 - 7% ở Tây Bắc, ĐôngBắc và Đồng bằng Bắc Bộ, khoảng 10% ở Bắc Trung Bộ, lượng mưa vào giữamùa khô ở các vùng khí hậu phía Nam có thể giảm tới 10-15% so với thời kỳ
1980 - 1999 Lượng mưa các tháng cao điểm của mùa mưa sẽ tăng từ 10 đến
Trang 2815% ở cả bốn vùng khí hậu phía Bắc và Nam Trung Bộ, còn ở Tây Nguyên vàNam Bộ chỉ tăng trên dưới 1%.
Bảng 2.3 Mức thay đổi lượng mưa (%) so với thời kỳ 1980÷1999
theo kịch bản phát thải trung bình (B2)
Nguồn: Kịch bản biến đổi khí hậu, nước biển dâng - Viện Khoa học khí tượng
Thủy văn và Môi trường
Mực nước biển dâng: Báo cáo lần thứ tư của IPCC ước tính mực nướcbiển dâng khoảng 26-59 cm vào năm 2100, tuy nhiên không loại trừ khả năngtốc độ cao hơn
Nhiều nhà khoa học đã đánh giá rằng các tính toán của IPCC về thay đổinhiệt độ toàn cầu là tương đối phù hợp với số liệu nhiệt độ thực đo Tuy nhiên,tính toán của IPCC về NBD là thiên thấp so với số liệu thực đo tại các trạm vàbằng vệ tinh Nguyên nhân chính dẫn đến sự thiên thấp này là do các mô hìnhtính toán mà IPCC sử dụng để phân tích đã chưa đánh giá đầy đủ các quá trìnhtan băng
Một số nghiên cứu gần đây cho rằng mực nước biển toàn cầu có thể tăng
Trang 29cuối thế kỷ 21 mực NBD thêm từ 65 đến 100cm so với thời kỳ 1980 - 1999
Bảng 2.4: Mực nước biển dâng (cm) so với thời kỳ 1980 - 1999
Nguồn: Kịch bản biến đổi khí hậu, nước biển dâng - Viện Khoa học khí
tượng Thủy văn và Môi trường
Theo kịch bản của Bộ Tài nguyên và Môi trường thì vào giữa thế kỷ XXI,mực nước biển có thể dâng khoảng 28cm đến 33cm và đến cuối thế kỷ XXI cóthể dâng thêm 65cm đến 100cm so với thời kỳ 1980 - 1999 Vùng duyên hảiViệt Nam có độ cao 1m trên mặt nước biển, chiếm một diện tích rất lớn theohơn 3.000 km bờ biển sẽ bị đe dọa trầm trọng Nhiều nơi trong số đó có thànhphố Sài Gòn chỉ cao hơn mặt biển 3m, nếu mực nước biển dâng cao hơn hiệnnay 100cm, sẽ khoảng 40.000 km² đất trên lãnh thổ Việt Nam, chiếm 21,1%diện tích toàn quốc bị nhấn chìm trong biển nước
2.3 Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến sản xuất nông nghiệp trên thế giới
và Việt Nam
2.3.1 Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến sản xuất nông nghiệp trên thế giới
Trong tất cả các lĩnh vực, nông nghiệp nói chung và hoạt động sản xuấtlúa nói riêng là đối tượng phải chịu tác động trực tiếp của BĐKH Bởi đối vớisản xuất nông nghiệp, khí hậu là nguồn tài nguyên thiên nhiên quý giá, trong đónăng lượng bức xạ, nhiệt độ và nước là những yếu tố không thể thiếu trong việctạo thành năng suất, sản lượng cây trồng Thông qua quá trình quang hợp, bức
xạ mặt trời quyết định đến quá trình sinh trưởng, phát triển cũng như năng suấtcủa cây trồng Năng suất tiềm năng của cây trồng là hàm đồng biến với bức xạmặt trời Trong sản xuất nông nghiệp, trên từng đối tượng khác nhau, các giai
Trang 30đoạn khác nhau thì chịu những tác động của BĐKH ở các mức ảnh hưởng khácnhau Những thiên tai như bão, lốc, tố, mưa lớn gây ngập úng, hạn hán,rét đậmrét hại…chỉ tồn tại trong thời gian ngắn nhưng gây ra thảm họa đối với sản xuấtnông nghiệp, không chỉ là quá trình sinh trưởng, năng suất mà cả sản phẩm sauthu hoạch
Ngoài các biểu hiện của BĐKH gây ra ảnh hưởng xấu đến các ngànhnông, lâm, ngư nghiệp như bão lụt, hạn hán, mực nước biển dâng cao,…thì cácnhân tố sơ cấp gây biến đổi khí hậu như nhiệt độ trái đất, lượng mưa, nồng độ
CO2, lại tác động trên năng suất, sự sinh sản, của các loại cây trồng, vật nuôi.Ngoài ra, ngành nông nghiệp mà cụ thể là hiện diện của cây trồng hay các thảmthực vật đều có đóng góp vào việc phát tán hay hấp thụ CO2 và các khí thải nhàkính khác
Nhiệt độ trên mặt đất và trong không khí tăng dần dưới ảnh hưởng củacác chất khí thải nhà kính Trong trường hợp xuất hiện các hiện tượng cực đoannhư nóng và lạnh quá mức thì nông nghiệp là lĩnh vực kinh tế bị tác động nhiềunhất Thực vật và động vật đều rất nhạy cảm với những thay đổi, dù rất nhỏ, củanhiệt độ trung bình trong môi trường sống Quá một mức nhiệt độ nào đó, tốc độphát triển của chúng sẽ trở nên suy tính, rồi đến một mức khác cao hơn, sự pháttriển sẽ giảm đi trông thấy Khi có đủ nước trong đất thì hạt lúa giống chỉ nảymầm nếu nhiệt độ đất ở một ngưỡng thích hợp Cây mạ non cũng phát triểnnhanh hay chậm tùy theo nhiệt độ Nếu bất ngờ bị rét đậm thì cây mạ có thể bịthối rễ Ở các nước nhiệt đới mà phần lớn thuộc thành phần các quốc gia đangphát triển, nhiệt độ không khí đã ở mức ngưỡng của sinh trưởng cao nên khinhiệt độ tăng lên thì năng suất cây trồng sẽ không tăng mà còn giảm đi Phần lớncác nước này đều nghèo, ít có khả năng ứng phó, hơn nữa nông nghiệp lạithường là hoạt động kinh tế chính, cho nên việc giảm năng suất cây trồng sẽ gâytác hại lớn cho nền kinh tế quốc dân Người ta tính rằng, với việc trái đất ấm dầnlên, năng suất nông nghiệp ở các nước đang phát triển sẽ giảm đi từ 9% đến
Trang 3121%, trong khi ở các nước công nghiệp phát triển năng suất này còn giảm ít hơn6% Theo báo cáo Stern năm 2009, các ảnh hưởng trên nông nghiệp của hiệntượng trái đất ấm dần lên sẽ như sau:
Bảng 2.5 Trái đất ấm lên ảnh hưởng đến nông nghiệp
Nếu trái đất ấm lên Ảnh hưởng trên sản xuất lương thực thế giới
10C Năng suất ngũ cốc ở các vùng ôn đới có thể tăng ít nhiều
20C Năng suất cây lương thực ở vùng nhiệt đới bị giảm đi
(giảm 5% - 10% ở châu Phi)
30C
Năng suất cây lương thực ở các vĩ độ cao đạt đến đỉnh caonhất, 100 triệu – 550 triệu người có thể bị thiếu đói ở cácvùng năng suất thấp
40C
Năng suất nông nghiệp ở châu Phi giảm đi từ 15% đến35% Nhiều vùng khô cằn như ở châu Úc sẽ không cònkhả năng sản xuất nông nghiệp
50C Độ axit của nước biển lên cao, tác động đến hệ sinh thái
biển Nhiều loại cá không sinh trưởng được nữa
Nguồn: Stephen N.Ngigi, 2009
Ngoài ra, độ ẩm của không khí cũng là một yếu tố quan trọng trong nôngnghiệp Nếu độ ẩm này giảm đi thì hiện tượng bốc hơi và thoát hơi nước tănglên, do đó, muốn duy trì sự tăng trưởng tối ưu của thực vật, người ta cần phải bổsung nước tưới Trong mùa thu hoạch, độ ẩm không khí cũng có tác động khôngnhỏ đến hiện tượng chín của hạt Độ ẩm cao còn làm tăng khả năng mắc bệnhcủa cây trồng Nhiệt độ không khí lên cao cũng như việc kéo dài chu kỳ sinhtrưởng trong trồng trọt có thể đẩy mạnh việc phát triển của sâu bệnh Ở các xứlạnh, nếu mùa đông có nhiệt độ cao thì các ấu trùng sâu bệnh có thể tồn tại đếnmùa gieo trồng sau khi nhiệt độ lên cao hơn
Theo báo cáo AR4 của IPCC, một số các tác hại của biến đổi khí hậu đếnnông nghiệp sẽ tăng dần trong thế kỷ 21 Mặc dù, trên các vĩ độ cao và trungbình, hiện tượng ấm dần lên của trái đất (từ 1 đến 30C) đi đôi với sự gia tăngnồng độ CO2 trong khí quyển có thể ít nhiều tăng năng suất cây trồng, nhưng ở
Trang 32các vĩ độ thấp vùng nhiệt đới, chỉ cần một sự gia tăng nhỏ của nhiệt độ (từ 1đến
20C) cũng đủ làm giảm năng suất các cây lương thực chính Ở châu Á, năng suấtcây lương thực sẽ bị giảm đi từ 2,5 đến 10% vào năm 2020 và sẽ giảm từ 5 –30% vào năm 2050 so với năm 1990 Lúa, ngô, lúa mì đã bị giảm năng suất từnhiều thập kỷ nay ở những vùng bị hạn hán đe dọa Theo nghiên cứu của ViệnLúa Quốc Tế (IRRI), năng suất lúa sẽ giảm đi 10% nếu nhiệt độ tối thiểu trongmùa gieo trồng tăng thêm 10C Trong thế kỷ 20, sản lượng lúa ở châu Á đã giảm
đi 3,8% do nhiều lý do, trong đó có biến đổi khí hậu Khi nhiệt độ tăng lên 20C,năng suất lúa nước ở Trung Quốc giảm từ 5 đến 12%, còn năng suất lúa mì ở Ấn
Độ giảm đi 0,45 tấn một hecta nếu nhiệt độ mùa đông tăng 0,50C Các hiệntương thời tiết cực đoan có khả năng tăng cường và tần suất cũng gây nguy hạicho nông, lâm, ngư nghiệp Hạn hán, lũ lụt, nắng nóng cũng như dịch bệnh, côntrùng, cháy rừng có nguy cơ tăng lên sẽ làm cho sản lượng lương thực, cây cósợi, bị hao hụt đi rất nhiều Trong đợt nắng nóng vào mùa hè 2003 (nhiệt độ caohơn bình thường đến 60C), sản lượng ngô ở Pháp giảm đi 20% so với năm 2002,sản lượng hoa quả giảm 25%, sản lượng rượu nho thấp nhất trong một thập kỷ vàthiệt hại tổng cộng của nước Pháp lên đến 4 tỷ euro (Nguyễn Thọ Nhân, 2009)
2.3.2 Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam
Việt Nam là một nước nông nghiệp với 73% dân số sống bằng nghềnông và 70% lãnh thổ là nông thôn với cuộc sống người dân còn phụ thuộcnhiều vào điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên Sản xuất nôngnghiệp hiện nay vẫn chủ yếu dựa trên các hộ cá thể, quy mô nhỏ, trình độkhoa học kỹ thuật chưa cao, phụ thuộc rất nhiều vào thời tiết Đây là mộtthách thức lớn dưới tác động của BĐKH Nhiệt độ, tính biến động và dịthường của thời tiết và khí hậu tăng sẽ ảnh hưởng rất lớn tới sản xuất nôngnghiệp, nhất là trồng trọt Sự gia tăng của thiên tai và các hiện tượng thờitiết, khí hậu cực đoan như bão, lũ lụt, hạn hán, giá rét sẽ ảnh hưởng trực tiếp
và mạnh mẽ tới sản xuất nông nghiệp Một số nghiên cứu khoa học đã chỉnhững tác động của BĐKH đến sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam như: Ảnh
Trang 33hưởng nghiêm trọng đến đất sử dụng cho nông nghiệp, mất diện tích donước biển dâng Sự giảm dần cường độ lạnh trong mùa đông, tăng cườngthời gian nắng nóng dẫn đến tình trạng mất dần hoặc triệt tiêu tính phù hợpgiữa các tập đoàn cây, con trên vùng sinh thái, BĐKH làm mất đi một số đặcđiểm quan trọng của các vùng nông nghiệp phía Bắc
Theo nghiên cứu của ngân hàng thế giới (WB), Việt Nam có đường bờbiến dài và hai vùng đồng bằng lớn, khi mực nước biển dâng cao từ 0,2 - 0,6m
sẽ có từ 100.000 đến 200.000ha đất bị ngập và làm thu hẹp diện tích đất sản xuấtnông nghiệp Nước biển dâng lên 1m sẽ làm ngập khoảng 0,3 - 0,5 triệu ha tạiĐồng bắng sông Hồng (ĐBSH) và những năm lũ lớn khoảng 90% diện tích củaĐồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) bị ngập từ 4 - 5 tháng, vào mùa khôkhoảng trên 70% diện tích bị xâm nhập mặn với nồng độ lớn hơn 4g/l Theo ướctính Việt Nam sẽ mất đi khoảng 2 triệu ha đất trồng lúa trong tổng số 4 triệu hahiện nay, đe dọa nghiêm trọng đến an ninh lương thực Quốc gia và ảnh hưởngđến hàng chục triệu người dân Biến đổi khí hậu làm thay đổi điều kiện sinhsống của các loài sinh vật, dẫn đến tình trạng biến mất của một số loài và ngượclại làm xuất hiện nguy cơ gia tăng các loài “thiên địch” Trong thời gian 2 nămtrở lại đây, dịch rầy nâu, vàng lùn, lùn xoắn lá ở ĐBSCL diễn ra ngày càng phứctạp ảnh hưởng đến khả năng thâm canh tăng vụ và làm giảm sản lượng lúa ởmiền Bắc trong vụ Đông Xuân vừa qua sâu quấn lá nhỏ cũng đã phát sinh thànhdịch, thời cao điểm diện tích lúa bị hại đã lên đến 400.000ha, gây thiệt hại đáng
kể đến năng suất và làm tăng chi phí sản xuất
Biến đổi khí hậu có thể tác động đến thời vụ, làm thay đổi cấu trúc mùa,quy hoạch vùng, kỹ thuật tưới tiêu, sâu bệnh, năng suất, sản lượng; làm suythoái tài nguyên đất, đa dạng sinh học bị đe dọa, suy giảm về số lượng và chấtlượng do ngập nước và do khô hạn, tăng thêm nguy cơ diệt củng của động vật,làm biến mất các nguồn gen quý hiếm Một số loài nuôi có thể bị tác động làmgiảm sức đề kháng do biên độ dao động của nhiệt độ, độ ẩm và các yếu tố ngoại
Trang 34cảnh khác tăng lên Sự thay đổi các yếu tố khí hậu và thời tiết có thể làm nảysinh một số bệnh mới đối với chăn nuôi gia súc, gia cầm, thủy cầm và phát triểnthành dịch hay đại dịch.
Đồng thời các hệ quả của BĐKH như bão, tố, lốc, các thiên tai liên quanđến nhiệt độ và mưa như thời tiết khô nóng, lũ lụt, ngập úng hay hạn hán, réthại, xâm nhập mặn, sâu bệnh đang ngày càng ảnh hưởng nghiêm trọng hơn đếnsản xuất nông nghiệp, làm giảm sản lượng sinh học bao gồm cả các cây trồngnông, công và lâm nghiệp, và sự diệt vong của nhiều loài động thực vật bản địagây hậu quả nghiêm trọng cho nền kinh tế nước nhà
Thiên tai, hạn hán, lũ lụt là một trong những hậu quả của BĐKH ViệtNam được đánh giá là nước nằm trong trung tâm của vùng bão nhiệt đới Kếthợp với các thiên tai khác, hàng năm ngành nông nghiệp nói riêng và nền kinh tếnói chung chịu thiệt hại nặng nề do hậu quả của bão và hiện tượng thời tiết cựcđoan (bảng 2.3)
Trang 35Bảng 2.6 Thiệt hại do thiên tai đối với nông nghiệp
tại Việt Nam (1995 – 2007)
Năm Lĩnh vực nông nghiệpTriệu VNĐ Triệu USD Triệu VNĐTất cả các lĩnh vựcTriệu USD Tỷ lệ%
Lũ năm 2008 do bão Kammuri (tháng 8) làm thiệt hại lớn về người (162người chết) và tài sản cho các tỉnh miền núi phía Bắc Hạn hán năm 2009, kéodài đến 2010 trên hầu hết các tỉnh miền núi phía Bắc làm thiệt hại rất lớn đếnsản xuất nông lâm nghiệp, bao gồm cả việc gia tăng nguy cơ cháy rừng, điển
Trang 36hình là cháy rừng ở Vườn Quốc Gia Hoàng Liên vào tháng 1/2010 thiêu chụihơn 1.000 héc ta rừng Đợt rét hại kỷ lục kéo dài 33 ngày (năm 2007 – 2008) làmột minh chứng cụ thể cho vấn đề đó Theo số liệu thống kê, có 33.000 con trâu
bò, 34.000 ha lúa Xuân đã cấy, hàng chục ngàn ha mạ non, nhiều đầm cá tôm ởtất cả các tỉnh phía Bắc và Bắc Trung Bộ bị chết, thiệt hại lên tới hàng ngàn tỷđồng (trong đó chưa tính tới các cây, con hoang dã ở các vùng núi cao bị bănggiá trong nhiều ngày liền) (Bộ NN&PTNN, 2011)
(a) (b)
Hình 2.2: Rét đậm, rét hại năm 2008
Nguồn: internet
Năm 2011, thời tiết thủy văn đã có những diễn biến phức tạp, khó lường,trong năm có hàng chục cơn bão và đợt áp thấp nhiệt đới hoạt động trên biểnĐông, nhiều đợt gió mùa Đông Bắc và không khí lạnh tăng cường Mưa lớn kéodài gây lũ, lụt ở nhiều địa phương của miền Trung, Tây Nguyên và Nam Bộ, đặcbiệt là đợt lũ tháng 9 và tháng 10 tại các tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị, QuảngNgãi và ĐBSCL đã gây thiệt hại lớn về người và tài sản của nhà nước và nhândân Theo thống kê, trong năm 2011, thiệt hại do ảnh hưởng của thiên tai, lũ lụt,bão gây ra đã làm 239.676 ha lúa bị ngập, trong đó có 15.740 ha bị mất trắng vànhiều thiệt hại khác về nông nghiệp, thủy lợi, thủy sản,…
Trang 372.4 Biện pháp thích ứng với biến đổi khí hậu trong sản xuất nông nghiệp trên thế giới và Việt Nam
2.4.1 Khái niệm về thích ứng với biến đổi khí hậu
Thích ứng với biến đổi khí hậu từ trước đến nay vẫn được coi là mối quantâm thứ yếu của các chương trình quốc tế về xóa đói giảm nghèo, bởi vì giảmnhẹ biến đổi khí hậu mới được coi là yêu cầu bắt buộc và cấp bách vì nó quyếtđịnh triển vọng tránh được các hiểm họa của biến đổi khí hậu trong tương lai đểhướng tới một xã hội ít các bon Tuy nhiên, đối với các cộng đồng dễ bị tổnthương trước biến đổi khí hậu thì thích ứng lại là một nhiệm vụ cấp thiết (IUCN,SEI, và IISD, 2003) Hơn nữa, “không được phép phó mặc cho người nghèo vànhững người dễ bị tổn thương trên thế giới bị chìm hay tự bơi chỉ với năng lựcyếu ớt của mình” (UNDP, 2008, tr 6) Điều đó có nghĩa là người nghèo vànhững người dễ bị tổn thương trước tác động của biến đổi khí hậu cũng cầnđược hỗ trợ để tăng cường năng lực thích ứng với biến đổi khí hậu
Thích ứng là một khái niệm rất rộng, khi áp dụng vào lĩnh vực BĐKH nóđược dùng trong rất nhiều trường hợp Thích ứng với BĐKH là một quá trình,trong đó những giải pháp được triển khai và thực hiện nhằm giảm nhẹ hoặc đốiphó với tác động của các sự kiện bất lợi của khí hậu và lợi dụng những mặtthuận lợi của chúng (IPCC, 2007)
Thích ứng với biến đổi khí hậu là “sự điều chỉnh hệ thống tự nhiên hoặccon người đối với hoàn cảnh hoặc môi trường thay đổi nhằm mục đích giảm khảnăng bị tổn thương do dao động hoặc biến đổi khí hậu hiện hữu hoặc tiềm tàng
và tận dụng các cơ hội do nó mang lại” (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2008, tr.6) Như vậy, thích ứng bao gồm những hoạt động điều chỉnh trong các hệ thống
tự nhiên và con người để đối phó với những tác động có thể có của biến đổi khíhậu, làm giảm bớt sự nguy hại hoặc khai thác những cơ hội có lợi từ biến đổi khíhậu Các hoạt động thích ứng được thực hiện nhằm giảm thiểu khả năng bị tổnthương và tăng cường khả năng chống chịu với biến đổi khí hậu Như vậy, trong
Trang 38công tác ứng phó với BĐKH trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng,thích ứng với BĐKH được coi trọng và là nhiệm vụ của tất cả các ngành, cáckhu vực và cộng đồng.
2.4.2 Biện pháp thích ứng với biến đổi khí hậu trong sản xuất nông nghiệp trên thế giới
Chính quyền ở các nước phát triển đều đang đưa ra những chiến lược choquá trình thích ứng với mục tiêu chung là bảo vệ con người, cơ sở vật chất và hạtầng kinh tế trước những rủi ro của BĐKH Sự quan tâm của công chúng ngàycàng lớn tới BĐKH là một nhân tố tác động lên chương trình nghị sự của côngtác thích ứng Công tác thích ứng ở các nước phát triển đang diễn ra dưới nhiềuhình thức trên tất cả các lĩnh vực nhưng các lĩnh vực nông – lâm – ngư nghiệpthì được ưu tiên hoạch định chiến lược ứng phó
Biện pháp đầu tiên là việc chọn giống, lai tạo hay biến đổi gen để tạo racác giống mới thích ứng với các điều kiện khí hậu biến đổi Ví dụ như việc tìm
ra các giống phù hợp với mùa vụ gieo trồng hoặc ngắn hoặc dài hơn trước hayphù hợp với nhiệt độ trung bình trong ngày đã thay đổi Cũng có thể sử dụng cácgiống cây thích ứng với những điều kiện khí hậu ở một vùng khác trên thế giới
và đồng thời không ngừng nghiên cứu tìm ra các biện pháp lai tạo để tìm ra cácgiống mới có khả năng chịu được sâu bệnh, điều kiện nước và đáp ứng các thayđổi về chu kỳ ánh sáng Ở Zambia, các giống ngô, kê truyền thống có thời giansinh trưởng khoảng 5 tháng nhưng vào mùa mưa thường ngắn hơn Hiện nay,người ta đã tìm ra giống ngô, kê và đậu đũa mới có khả năng chịu hạn và ngắnngày cải thiện (sinh trưởng khoảng 3 – 4 tháng) Ở Nam Phi, người nông dân sửdụng rộng rãi giống korog (lúa mì đen), Korog cho năng suất cao, chất lượngsản phẩm tốt, có khả năng chống chịu với sâu bệnh và môi trường (bao gồm cảđiều kiện đất đai) ( Theo Stephen N.Ngigi, 2009)
Bên cạnh việc cải tạo giống cho phù hợp với điều kiện BĐKH là việc thayđổi phương thức sản xuất Theo FAO (2007), để thích ứng với BĐKH, các vùngkhác nhau phải có cách bảo tồn trong nông nghiệp, chất hữu cơ trong đất và đối
Trang 39phó với rủi ro trong sản xuất Vì vậy, phương thức sản xuất như kết hợp chặt chẽtrong việc luân canh cây trồng, nông lâm kết hợp, liên kết giữa trồng trọt vàchăn nuôi, hệ thống cá – cây, hệ thống cây trồng theo ruộng bậc thang và hệthống canh tác kết hợp khác đã được áp dụng rộng rãi tại nhiều vùng ỞBangladseh, người nông dân thực hiện những mô hình nông nghiệp nhằm đểthích ứng với thời tiết như: nuôi cá – lúa, lúa – nuôi cá – trồng rau, (Hassan,2010) Ngoài ra, ở Malawi người dân ở đây đã áp dụng trồng xen canh ngô vớiquy mô nhỏ vào giữa cánh đồng trè rộng lớn Và tiếp tục trồng xen canh ngô vớicác cây họ đậu: đậu hà lan, đậu đũa, đậu tương, bí ngô, sắn, kê,…Đồng thời, cácđường ranh giới bao quanh được trồng lạc, khoai tây ngọt và họ cũng khôngtrồng độc canh nữa mà luân phiên cây trồng để tận dụng được độ ẩm trong cáctầng đất khác nhau (Theo Oxfam, 2011).
Theo Báo cáo của AR4 – 2007 của IPCC có nêu ra một số chính sách ứngphó trong nông nghiệp Thứ nhất, ứng phó tự phát hay thích ứng đối phó (dựatrên những kinh nghiệm và kỹ thuật đã có sẵn để đối phó với các biến đổi khíhậu đã xảy ra), thay đổi các loài và giống cây trồng cho phù hợp với các điềukiện khí hậu như các giống chịu nóng, chịu hạn Thay đổi liều lượng phân bón
để bảo tồn chất lượng sản phẩm, thay đổi phương pháp tưới tiêu, thay đổi thời
vụ và vùng canh tác Tăng cường công tác phòng chống sâu bệnh, cỏ dại Sửdụng các giống cây có sức đề kháng cao trước sâu bệnh, cách ly và dự phòng tốthơn Dự báo thời tiết và mùa vụ tốt hơn để giảm các nguy cơ có thể đến với sảnxuất nông nghiệp Thứ hai, ứng phó có quy hoạch hay thích ứng đón đầu (quaviệc cải thiện công tác quy hoạch và xây dựng tiềm lực quy hoạch) Thay đổiphương thức quản lý, làm cho người quản lý hiểu rằng biến đổi khí hậu là cóthật và sẽ tiếp diễn Có các chính sách theo dõi các diễn biến của khí hậu và cóchủ trương tuyên truyền rộng rãi đến bà con nông dân Có chính sách đón đầudịch bệnh và các tác hại khác của biến đổi khí hậu Làm cho bà con nông dânthấy được hiệu quả của các thay đổi Có chính sách hỗ trợ nghiên cứu, phân tích
Trang 40hệ thống, quảng bá thông tin, phát triển khuyến nông Đầu tư vào các kỹ thuật
và phương thức quản lý mới, sử dụng các kỹ thuật sinh học hiện đại, làm sốnglại các kỹ thuật cũ trước tình hình mới Liên tục theo dõi các biện pháp ứng phótrong nông nghiệp, giá thành và lợi nhuận để có thể nhanh chóng điều chỉnh vàcải tiến các biện pháp ứng phó khi biết rõ những gì hoạt động tốt, những gì chưatốt, các vướng mắc do nguyên nhân nào Những biện pháp ứng phó trong nôngnghiệp không phải luôn luôn dễ dàng trong thực hiện vì chúng có thể gây ranhiều vấn đề kinh tế và xã hội Nếu việc thay đổi giống cây trồng hay chuyểnvùng canh tác có thể thực hiện dễ dàng thì những đầu tư cho hệ thống tưới tiêulại đòi hỏi một nỗ lực tài chính quan trọng Đầu tư cho nghiên cứu nông nghiệp
để phục vụ các giải pháp ứng phó cũng không phải là nhỏ Người nông dânkhông dễ dàng thay đổi loại cây trồng hay vật nuôi mà họ đã quen từ rất lâu,nhất là khi các chủng loại mới đem đến cho họ những lợi nhuận thấp hơn trước.Vấn đề quản lý nước và duy trì mức cân bằng trong phân phối nước giữa nôngnghiệp và các lĩnh vực kinh tế khác thường rất khó giải quyết Tóm lại, muốnviệc ứng phó trong nông nghiệp trước các biến đổi khí hậu mang lại kết quảmong muốn thì người ta phải xác định rõ là cần những thay đổi gì và ở đâu, cácđầu tư cho các biện pháp phải thận trọng, đúng nơi, đúng lúc
Theo Báo cáo Phát triển Thế giới năm 2010, BĐKH sẽ đòi hỏi phải ứngdụng nhanh hơn nữa công nghệ và các phương thức tăng năng suất để đối phóvới sự thay đổi khí hậu và giảm khí thải Đánh giá lồng ghép về kiến thức, khoahọc, công nghệ nông nghiệp trong bối cảnh BĐKH đòi hỏi phải kết hợp cảphương thức cũ và phương thức mới Thứ nhất, các nước cần phát huy vốn kiếnthức truyền thống của nông dân Những kiến thức là một kho tàng tri thức cácphương án thích ứng và đối phó với rủi ro theo từng địa phương cụ thể được ứngdụng rộng rãi Thứ hai, các chính sách thay đổi mức giá tương đối của ngườinông dân có nhiều tiềm năng trong khuyến khích những tập quán giúp thế giớithích nghi với BĐKH (bằng cách tăng năng suất) và giảm thiểu tác hại (nhờ