Vấn đề bất cập tồn tại tại bệnh viện là tình trạng chất thải rắn y tế thải ra với khối lượng không nhỏ, trong đó có cả chất thải nguy hại mà hệ thống quản lý chất thải rắn y tế CTRYT thì
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
KHOA MÔI TRƯỜNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI:
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN Y TẾ TẠI BỆNH VIỆN TRUNG
ƯƠNG QUÂN ĐỘI 108 – BỘ QUỐC PHÒNG
Người thực hiện: ĐẶNG NGỌC TUẤN
Trang 2HÀ NỘI - 2015
Trang 3MỤC LỤC
MỤC LỤC i
DANH MỤC BẢNG iv
DANH MỤC SƠ ĐỒ v
DANH MỤC VIẾT TẮT vi
MỞ ĐẦU 1
Tính cấp thiết của đề tài 1
Mục đích nghiên cứu 2
Yêu cầu nghiên cứu 2
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Các khái niệm chung 3
1.2 Nguồn gốc và phân loại chất thải y tế 4
1.2.1 Nguồn gốc chất thải y tế 4
1.2.2 Phân loại chất thải y tế 4
1.2.3 Khối lượng và thành phần chất thải rắn y tế 6
1.3 Ảnh hưởng của chất thải y tế đối với môi trường và cộng đồng 7
1.3.1 Ảnh hưởng của chất thải y tế đối với môi trường 7
1.3.2 Ảnh hưởng của chất thải y tế đối với sức khỏe cộng đồng 8
1.4 Các phương pháp xử lý chất thải rắn y tế 10
1.4.1 Tái chế chất thải bệnh viện 10
1.4.2 Công nghệ đốt 10
1.4.3 Công nghệ không đốt, thân thiện với môi trường 11
1.4.4 Phương pháp trơ hóa (cố định và đóng rắn) 12
1.4.5 Phương pháp chôn lấp an toàn 12
1.5 Tình hình phát sinh chất thải rắn y tế trên thế giới và ở Việt Nam 12
1.5.1 Tình hình phát sinh và quản lý chất thải rắn y tế trên thế giới 12
1.5.2 Hiện trạng phát sinh và tình hình quản lý chất thải rắn y tế tại Việt Nam 17
Chương 2: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 29
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 29
2.2 Nội dung nghiên cứu 29
Trang 42.2.1 Đặc điểm Bệnh viện TWQĐ108 29
2.2.2 Hiện trạng phát sinh chất thải rắn y tế tại Bệnh viện TWQĐ108 29
2.2.3 Tình hình quản lý chất thải rắn của Bệnh viện TWQĐ108 29
2.2.4 Đánh giá hiệu quả quản lý thông qua việc so sánh với quy chế quản lý CTRYT 30
2.2.5 Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng quản lý CTRYT phát sinh tại Bệnh viện TWQĐ108 30
2.3 Phương pháp nghiên cứu 30
2.3.1 Phương pháp thu thập thông tin thứ cấp 30
2.3.2 Phương pháp thu thập thông tin sơ cấp 30
2.3.3 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu 31
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 32
3.1 Đặc điểm Bệnh viện Trung ương quân đội 108 32
3.1.1 Vị trí của bệnh viện 32
3.1.2 Lịch sử hình thành và phát triển 32
3.1.3 Chức năng và nhiệm vụ của bệnh viện 33
3.1.4 Cơ sở hạ tầng 33
3.1.5 Quy mô giường bệnh 35
3.1.6 Cơ cấu tổ chức và tình hình nhân sự 35
3.1.7 Hoạt động khám chữa bệnh của bệnh viện 37
3.2 Hiện trạng phát sinh chất thải rắn tại bệnh viện TWQĐ108 37
3.2.1 Nguồn gốc 37
3.2.2 Thành phần chất thải rắn y tế tại bệnh viện 39
3.2.3 Khối lượng chất thải rắn y tế tại bệnh viện 40
3.3 Tình hình quản lý chất thải rắn của Bệnh viện TWQĐ108 42
3.3.1 Cơ sở pháp lý quản lý chất thải rắn y tế 42
3.3.2 Mô hình hoạt động thu gom quản lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện Trung ương quân đội 108 43
3.3.3 Thực trạng thu gom, phân loại, vận chuyển, xử lý chất thải rắn y tế 45
3.3.4 Nguồn lực cho công tác quản lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện Trung ương quân đội 108 58
3.4 Đánh giá chung về công tác quản lý CTRYT tại bệnh viện TWQĐ108 61
3.4.1 Đánh giá về những mặt đã đạt được trong công tác quản lý chất thải rắn y tế tại Bệnh viện 61
Trang 53.4.2 Đánh giá những mặt chưa đạt được, còn tồn tại trong công tác quản lý chất thải
rắn y tế tại bệnh viện 62
3.5 Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện Trung ương quân đội 108 63
3.5.1 Giải pháp về mặt pháp lý 64
3.5.2 Giải pháp về tổ chức quản lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện 64
3.5.3 Giải pháp về mặt kỹ thuật 65
3.5.4 Về nhân lực và trang thiết bị 66
3.5.5 Giải pháp truyền thông 66
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 67
Kết luận 67
Kiến nghị 69
TÀI LIỆU THAM KHẢO 70
PHỤ LỤC 71
Trang 6DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1: Nguồn phát sinh các loại CTR đặc thù từ hoạt động y tế 4
Bảng 1.2 Lượng chất thải phát sinh theo loại bệnh viện 6
Bảng 1.3 Phát sinh chất thải rắn y tế trên thế giới 13
Bảng 1.4: Phát sinh chất thải rắn y tế trung bình trên thế giới theo loại bệnh viện 13
Bảng 1.5 Khối lượng chất thải rắn y tế nguy hại phát sinh tại các cơ sở y tế khác nhau 19 Bảng 1.6 Khối lượng chất thải rắn y tế nguy hại phát sinh qua các năm 20
Bảng 1.7 Dự báo lượng chất thải rắn y tế nguy hại phát sinh trên địa bàn cả nước 20
Bảng 1.8 Hiện trạng thu gom, phân loại chất thải rắn y tế tại các bệnh viện trên địa bàn thành phố Hà Nội năm 2013 23
Bảng 3.1 Các loại CTR điển hình được tạo thành từ các hoạt động của bệnh viện 38
Bảng 3.2 Lượng rác thải giai đoạn 2012-2014 của bệnh viện
40
Bảng 3.3 Hiện trạng thu gom chất thải rắn y tế tại các khoa của bệnh viện Trung ương quân đội 108 51
Bảng 3.4 Đánh giá của người bệnh về công tác thu gom CTRYT tại bệnh viện TWQĐ 108 52
Bảng 3.5 Phương pháp xử lý chất thải lây nhiễm tại Bệnh viện 56
Trang 7DANH MỤC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 3.1: Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của bệnh viện 36
Sơ đồ 3.2: Nguồn phát sinh chất thải rắn y tế tại bệnh viện 108 38
Sơ đồ 3.3 Khối lượng chất thải của bệnh viện qua các năm 42
Sơ đồ 3.4 Hệ thống quản lý chất thải rắn tại bệnh viện TWQĐ108 44
Sơ đồ: 3.5 Quy trình thu gom, phân loại, quản lý CTRYT tại Bệnh viện 46
Sơ đồ 3.6 Phân loại chất thải rắn y tế tại Bệnh viện TWQĐ 108 47
Sơ đồ 3.7 Hệ thống tự xử lý CTR nguy hại tại bệnh viện 55
Sơ đồ 3.8 Quy trình xử lý rác thải sinh hoạt tại bãi rác Chúc Sơn, huyện Chương Mỹ thành phố Hà Nội 58
Trang 8TWQĐ 108 Trung ương quân đội 108
WHO Tổ chức y tế thế giới
Trang 9MỞ ĐẦU
Tính cấp thiết của đề tài
Hiện nay, vấn đề môi trường đang là mối quan tâm hàng đầu của các quốc gia và cộng đồng trên thế giới Bởi lẽ ô nhiễm môi trường, sự suy thoái
và những sự cố môi trường có ảnh hưởng trực tiếp và lâu dài đến thế hệ mai sau Từ đó, toàn cầu đã nhận thức được rằng phải bảo vệ môi trường, làm cho môi trường ngày cành trong sạch và bền vững Bảo vệ môi trường chính là việc giải quyết ô nhiễm do nguồn nước thải, ô nhiễm do chất thải sinh hoạt, công nghiệp, sinh học và đặc biệt là chất thải rắn y tế vì nó chứa nhiều chất nguy hại và mầm mống vi khuẩn gây bệnh Bảo vệ môi trường gắn kết hài hòa với sự phát triển và tăng trưởng kinh tế, đảm bảo tiến bộ của xã hội
Trong những năm qua, cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội, đời sống người dân ngày càng được nâng cao vì thế nhu cầu khám chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe của con người cũng tăng lên Số lượng, quy mô của các cơ sở y
tế cũng tăng nhanh chóng nhằm đáp ứng nhu cầu đó Bên cạnh những mặt tích cực mà các cơ sở y tế đem lại thì quá trình hoạt động của các cơ sở này cũng làm xuất hiện những nguy cơ gây ô nhiễm môi trường do lượng chất thải rắn y tế ngày càng gia tăng
Vấn đề bất cập tồn tại tại bệnh viện là tình trạng chất thải rắn y tế thải
ra với khối lượng không nhỏ, trong đó có cả chất thải nguy hại mà hệ thống quản lý chất thải rắn y tế (CTRYT) thì vẫn còn nhiều bất cập Rác thải y tế nếu không quản lý tốt thì sẽ trở thành nguồn lây nhiễm rất nguy hiểm ảnh hưởng môi trường đất, nước và không khí Chất thải y tế đang là mối đe dọa lớn đối với sức khỏe con người, đặc biệt là chất thải rắn Nguyên nhân của hiện tượng trên không chỉ bởi tính chất nguy hại của chất thải y tế mà còn bởi công tác quản lý và xử lý tại các cơ sở y tế các trong cả nước chưa thực sự đem lại hiệu quả (Bộ TN&MT, 2011)
Trang 10Bệnh viện Trung ương quân đội 108 có tổng 1260 giường bệnh, hàng năm bệnh viện khám điều trị cho trên 30 nghìn bệnh nhân/năm bao gồm cả điều trị nội trú và ngoại trú Với lượng bệnh nhân khám và điều trị tại bệnh viện lớn như vậy thì lượng rác rất lớn, trong đó có chất thải nguy hại cần phải
xử lý triệt để Nếu không quản lý tốt nó sẽ ảnh hưởng tới hiệu quả khám chữa bệnh, ảnh hưởng đến sức khỏe người bệnh cũng nhưng đội ngũ cán bộ, y, bác
sỹ nói riêng và môi trường cảnh quan khu vực bệnh viện nói chung
Vì vậy, việc đánh giá hiệu quả quản lý CTRYT phát sinh tại bệnh viện Bệnh viện Trung ương quân đội 108 nhằm tìm hiểu những thiếu sót còn tồn tại trong công tác quản lý hiện nay tại bệnh viện góp phần làm giảm tỷ lệ nhiễm khuẩn và giảm rủi ro bệnh nghề nghiệp cho nhân viên y tế cũng như hạn chế những tác động xấu đến cộng đồng và môi trường xung quanh
Xuất phát từ thực tiễn trên, tôi xin tiến hành nghiên cứu đề tài “Đánh giá thực trạng và đề xuất các giải pháp quản lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện Trung ương quân đội 108 – Bộ Quốc Phòng ”.
Yêu cầu nghiên cứu
- Xác định được hệ số rác thải CTRYT tại bệnh viện viện Trung ương quân đội 108
- Đánh giá được ưu nhược điểm hệ thống quản lý CTRYT
- Đề xuất được các giải pháp khả thi
Trang 11Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Các khái niệm chung
Chất thải là vật chất được thải ra từ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc hoạt động khác (Quốc hội, 2014)
Chất thải nguy hại (CTNH) là chất thải chứa các chất hoặc hợp chất có một trong những đặc tính gây nguy hại trực tiếp (dễ cháy, dễ nổ, làm ngộ độc,
dễ ăn mòn, dễ lây nhiễm và các đặc tính nguy hại khác), hoặc tương tác với những chất gây nguy hại cho môi trường và cho sức khỏe con người (Trịnh Thị Thanh & Nguyễn Khắc Kinh, 2005)
Chất thải y tế là vật chất ở thể rắn, lỏng và khí được thải ra từ cơ sở y tế bao gồm chất thải y tế nguy hại và chất thải thông thường
Chất thải y tế nguy hại là chất thải y tế chứa các yếu tố nguy hại cho sức khỏe con người và môi trường như dễ lây nhiễm, gây ngộ độc, phóng xạ,
dễ cháy, dễ nổ, dễ ăn mòn hoặc có đặc tính nguy hại khác nếu những chất thải này không được tiêu hủy hoàn toàn
Quản lý chất thải y tế là quá trình phân định, phân loại, thu gom, lưu giữ, giảm thiểu, tái chế, vận chuyển, xử lý chất thải y tế và kiểm tra giám sát việc thực hiện (Quốc hội, 2014)
Thu gom là quá trình tập hợp, vận chuyển chất thải y tế từ nơi phát sinh
về khu vực lưu giữ chất thải trong cơ sở y tế (Quốc hội, 2014)
Vận chuyển chất thải là quá trình chuyên chở chất thải từ khu lưu giữ chất thải của cơ sở y tế đến nơi lưu giữ, xử lý, tiêu hủy cho cụm cơ sở y tế (Quốc hội, 2014)
Xử lý và tiêu hủy chất thải là quá trình sử dụng các công nghệ nhằm làm mất khả năng gây huy hại của chất thải đối với sức khỏe con người và môi trường (Bộ Y tế, 2008)
Trang 121.2 Nguồn gốc và phân loại chất thải y tế
1.2.1 Nguồn gốc chất thải y tế
Nguồn phát sinh chất thải y tế chủ yếu là: bệnh viện, các cơ sở y tế khác như trung tâm vận chuyển cấp cứu, phòng khám sản phụ khoa, nhà hộ sinh, phòng khám ngoại trú, trung tâm lọc máu…, các trung tâm xét nghiệm
và nghiên cứu y học, ngân hàng máu…
Bảng 1.1: Nguồn phát sinh các loại CTR đặc thù từ hoạt động y tế
Chất thải sinh hoạt Các chất thải từ nhà bếp, các khu nhà hành chính, các
loại bao gói…
Chất thải chứa các
vi trùng gây bệnh
Các phế thải từ phẫu thuật, các cơ quan nội tạng của người sau khi mổ xẻ và của các động vật sau quá trình xét nghiệm, các gạc bong lẫn máu mủ của bệnh nhân…
Chất thải bị nhiễm
bẩn
Các thành phần thải ra sau khi dùng cho bệnh nhân, các chất thải từ quá trình lau cọ sàn nhà…
Chất thải đặc biệt Các loại chất độc hại hơn các loại trên, các chất phóng
xạ, hóa chất dược… từ các khoa khám, chữa bệnh, hoạt động thực nghiệm, khoa dược…
Nguồn: Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2011
1.2.2 Phân loại chất thải y tế
Theo Quy chế Quản lý chất thải y tế ban hành theo quyết định số 43/2007/QĐ-BYT ngày 30/11/2007 của Bộ Y tế, chất thải trong các cơ sở y tế được phân thành 5 nhóm sau: chất thải lây nhiễm, chất thải hóa học nguy hại, chất thải phóng xạ, bình chứa áp suất, chất thải thông thường (Bộ Y tế, 2007)
Chất thải lây nhiễm
Chất thải sắc nhọn (loại A): Là chất thải có thể gây ra các vết cắt hoặc chọc thủng, có thể nhiễm khuẩn, bao gồm: bơm kim tiêm, đầu sắc nhọn của dây truyền, lưỡi dao mổ, đinh cưa, cưa, các ống tiêm, mành thủy tinh vỡ và
Trang 13các vật sắc nhọn khác sử dụng trong các loại hoạt động y tế.
Chất thải lây nhiễm không sắc nhọn (loại B): Là chất thải bị thấm máu, thấm dịch sinh học của cơ thể và các chất thải phát sinh từ buồng bệnh cách ly
Chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao (loại C): Là chất thải phát sinh trong các phòng xét nghiệm như: bệnh phẩm và dụng cụ đựng, dính bệnh phẩm
Chất thải giải phẫu (loại D): Bao gồm các mô, cơ quan, bộ phận cơ thể người: rau thai, bào thai, và xác động vật thí nghiệm
Chất thải hóa học nguy hại
Dược phẩm quá hạn, kém phẩm chất không còn khả năng sử dụng.Chất hóa học nguy hại sử dụng trong y tế (Phụ lục 1)
Chất gây độc tế bào, gồm: vỏ các chai thuốc, lọ thuộc, các dụng cụ dính thuốc gây độc tế bào và các chất tiết từ người bệnh được điều trị bằng hóa trị liệu (Phụ lục 2)
Chất thải chứa kim loại nặng: thủy ngân (từ nhiệt kế, huyết áp kế thủy ngân bị vỡ, chất thải từ hoạt động nha khoa), cadimi (Cd) (từ pin, ắc quy), chì (từ tấm gỗ bọc chì hoặc vật liệu tráng chì sử dụng trong ngăn tia xạ từ các khoa chuẩn đoán hình ảnh, xạ trị)
Các chất thải thông thường
Chất thải thông thường là chất thải không chứa các yếu tố lây nhiễm, hóa học nguy hại, phóng xạ, dễ cháy nổ, bao gồm:
Chất thải sinh hoạt phát sinh từ các buồng bệnh (trừ các buồng bệnh cách ly)
Trang 14Chất thải phát sinh từ các hoạt động chuyên môn y tế như chai lọ thủy tinh, chai huyết thanh, các vật liệu nhựa, các loại bột bó trong gãy xương kín Những chất thải này không dính máu, dịch sinh học và các chất hóa học nguy hại.
Chất thải phát sinh từ các công việc hành chính: giấy, báo, tài liệu, vật liệu đóng gói, thùng các tông, túi ni long túi đựng phim
Chất thải ngoại cảnh: lá cây và rác từ các khu vực ngoại cảnh
1.2.3 Khối lượng và thành phần chất thải rắn y tế
2.2.3.1 Khối lượng chất thải rắn y tế
Nắm được số lượng chất thải phát sinh là điều quan trọng để đưa ra những cách xử lý khác nhau Tuy nhiên, trên thực tế việc ước tính khối lượng chất thải phát sinh từ hoạt động của các cơ sở y tế nói chung và từ hoạt động của các bệnh viện là công việc khó khăn Thông thường, khối lượng chất thải phát sinh phụ thuộc vào quy mô bệnh viện, cán bộ y tế và các phương pháp kĩ thuật áp dụng trong điều trị bệnh
Bảng 1.2 Lượng chất thải phát sinh theo loại bệnh viện
Đơn vị: Kg/giường bệnh/ngày
Loại bệnh
viện
Tổng lượng chất thải phát sinh
Tổng lượng CTRYT nguy
Xét về các thành phần chất thải dựa trên đặc tính lý hóa thì tỷ lệ các thành phần có thể tái chế là khá cao, chiếm trên 25% tổng lượng CTRYT, chưa kể
Trang 1552% CTRYT là các chất hữu cơ Trong thành phần CTRYT có lượng lớn chất hữu cơ và thường có độ ẩm tương đối cao, ngoài ra còn có các thành phần chất nhựa chiếm khoảng 10% Vì vậy, khi lựa chọn công nghệ thiêu đốt cần lưu ý đốt triệt để và không phát sinh khí độc hại (Bộ tài nguyên và Môi trường, 2011).
Trong CTRYT, các thành phần nguy hại chiếm khoảng 15-20%, bao gồm: Mô bệnh phẩm và cơ quan người từ các phòng mổ và tiểu phẫu, các bệnh phẩm nuôi cấy, mô hoặc xác động vật từ phòng thí nghiệm thải ra, các chất thải nhiễm trùng từ phòng cách ly và các khoa truyền nhiễm, các bông băng thấm dịch hoặc máu, kim tiêm, ống tiêm, lọ thuốc, dược phẩm hư hỏng
và quá đát… (Bộ tài nguyên và Môi trường, 2012)
1.3 Ảnh hưởng của chất thải y tế đối với môi trường và cộng đồng
1.3.1 Ảnh hưởng của chất thải y tế đối với môi trường
Nguy cơ đối với môi trường nước
Nguồn nước có thể bị nhiễm bẩn do các chất độc hại có trong chất thải bệnh viện Chúng có thể chứa các vi sinh vật gây bệnh hoặc chứa kim loại nặng (phần lớn là thủy ngân từ nhiệt kế và bạc từ quá trình tráng rửa phim X quang) Một số dược phẩm nhất định, nếu xả thải mà không xử lý có thể gây nhiễm độc nguồn nước thứ cấp Bên cạnh đó, việc xả bừa bãi chất thải lâm sàng, ví dụ: xả chung chất thải lây nhiễm vào chất thải thông thường, có thể tiềm ẩn nguy cơ gây ô nhiễm nguồn nước do làm tăng BOD (Bộ Y tế, 2010)
Nguy cơ đối với môi trường đất
Tiêu hủy không an toàn chất thải nguy hại như tro lò đốt hay bùn của
hệ thống xử lý nước thải rất có vấn đề khi các chất gây ô nhiễm từ bãi rác có khả năng rò thoát ra, gây ô nhiễm đất và nguồn nước, và cuối cùng là tác động tới sức khỏe cộng đồng trong dài hạn (Bộ Y tế, 2010)
Nguy cơ đối với môi trường nước và không khí
Nguy cơ ô nhiễm không khí tăng lên khi phần lớn chất thải nguy hại được thiêu đốt trong điều kiện không lý tưởng Việc thiêu đốt không đủ nhiệt
độ trong khi rác thải đưa vào quá nhiều sẽ gây ra nhiều khói đen Việc đốt
Trang 16chất thải y tế đựng trong túi ni long PVC, cùng với các loại dược phẩm nhất định, có thể tạo ra khí axit , thường là HCl và S Trong quá trình đốt các dẫn xuất halogen (F, Cl, Br, I ) ở nhiệt độ thấp, thường tạo ra axit như hydrochloride(HCl) Điều đó dẫn đến nguy cơ tạo thành didoxil, một loại hóa chất vô cùng độc hại, ngay cả ở nồng độ thấp Các kim loại nặng, như thủy ngân, có thể phát thải theo khí lò đốt Những nguy cơ môi trường này có thể tác động tới hệ sinh thái và sức khỏe con người trong dài hạn (Bộ Y tế, 2010).
1.3.2 Ảnh hưởng của chất thải y tế đối với sức khỏe cộng đồng
Phơi nhiễm với chất thải y tế nguy hại có thể gây ra bệnh tật hoặc thương tích Tất cả các cá nhân phơi nhiễm với chất thải nguy hại, cả những người ở trong hay ở ngoài bệnh viện đều có nguy cơ tiềm ẩn Những nhóm có nguy cơ bao gồm: nhân viên y tế (bác sĩ, nữ điều dưỡng nữ hộ sinh, kĩ thuật viên), bệnh nhân, người nhà bệnh nhân, khách thăm, công nhân làm việc trong khối hỗ, công nhân trong cơ sở xử lý và tiêu hủy chất thải bao gồm cả những người nhặt rác (Bộ Y tế, 2010)
Nguy cơ của chất thải lây nhiễm
Vi sinh vật gây bệnh trong chất thải lây nhiễm có thể xâm nhập vào cơ thể thông qua nhiều đường: qua vết thương, vết cắt trên da; niêm mạc; qua đường hô hấp; qua đường tiêu hóa Sự xuất hiện của các loại vi khuẩn kháng sinh và kháng hóa chất khử trùng có thể liên quan đến thực trạng quản lý chất thải rắn y tế không an toàn Vật sắc nhọn không chỉ gây ra vết thương trên da
mà còn gây nhiễm trùng vết thương nếu chúng bị nhiễm bẩn Thương tích do vật sắc nhọn là tai nạn thường gặp nhất trong cơ sở y tế (Bộ Y tế, 2010)
Một khảo sát của Viện Y học lao động và môi trường năm 2006 cho thấy 35% số nhân viên y tế bị thương tích do vật sắc nhọn trong vòng 6 tháng qua, và 70% trong sô họ bị thương tích do vật sắc nhọn trong sự nghiệp Tổn thương do vật sắc nhọn có khả năng lây truyền các bệnh nhiễm trùng nguy hiểm như HIV, HBV, và HCV Khoảng 80% nhiễm trùng HIV, HBV, HCV
Trang 17nghề nghiệp là do thương tích do vật sắc nhọn và kim tiêm Việc tái chế hoặc
xử lý không an toàn chất thải lây nhiễm, bao gồm cả nhựa và vật sắc nhọn có thể tác động lâu dài tới sức khỏe cộng đồng (Viện Y học lao động 2006)
Nguy cơ của chất thải hóa học và dược phẩm
Nhiều hóa chất và dược phẩm sử dụng trong cơ sở y tế là chất nguy hại (ví dụ chất độc, ăn mòn, dễ cháy, gây phản ứng, gây sốc, gây độc) nhưng thường ở khối lượng thấp Phơi nhiễm cấp tính hoặc mãn tính đối với hóa chất qua đường da niêm mạc, qua đường hô hấp tiêu hóa Tổn thương da mắt và niêm mạc đường hô hấp có thể gặp khi tiếp xúc với hóa chất gây cháy, gây ăn mòn, gây phản ứng (ví dụ formaldehyde và các chất dễ bay hơi khác) Tổn thương thường gặp nhất là bỏng Các hóa chất khử trùng được phổ biến trong bệnh viện thường có tính ăn mòn Trong quá trình thu gom, vận chuyển và lưu giữ, chất thải nguy hại có thể bị rò rỉ thoát, đổ tràn Việc rơi vãi chất thải lây nhiễm, đặc biệt là chất thải lây nhiễm có nguy cơ cao có thể lan truyền trong bệnh viện, như có thể gây ra đợt bùng phát nhiễm trùng bệnh viện trong nhân viên và bệnh nhân, hoặc gây ô nhiễm đất và nước (Bộ Y tế, 2010)
Nguy cơ gây độc tế bào
Nhiều thuốc điều trị ung thư là các thuốc gây độc tế bào Chúng có thể gây kích thích hay tổn thương cục bộ trên da và mắt, cũng có thể gây chóng mặt, buồn nôn, đau đầu hoặc viêm da Nhân viên bệnh viện, đặc biệt là những người chịu trách nhiệm thu gom chất thải, có thể phơi nhiễm với các thuốc điều trị ung thư qua hít thở hoặc hạt lơ lửng trong không khí, hấp thu qua da, tiêu hóa qua thực phẩm vô tình nhiễm bẩn với thuốc gây độc tế bào (Bộ Y tế, 2010)
Nguy cơ của chất thải phóng xạ
Cách thức và thời gian tiếp xúc với chất thải phóng xạ quyết định những tác động đối với sức khỏe, từ đau đầu, chóng mặt, buồn nôn cho đến các vấn đề đột biến gen trong dài hạn (Bộ Y tế, 2010)
Sự nhạy cảm của cộng đồng
Trang 18Công chúng và cộng đồng xung quanh bệnh viện rất nhạy cảm với những tác động thị giác của chất thải giải phẫu, trong khi đó, việc vận hành lò đốt không tốt có thể dẫn đến xả ra khí thải gây ô nhiễm và khó chịu cho nhà dân xung quanh (Bộ Y tế, 2010) Cụ thể, Bệnh viện Việt Đức là cơ sở ngoại khoa lớn nhất nước, nơi thực hiện hàng chục nghìn ca mổ mỗi năm, đồng nghĩa với việc xả ra lượng nước thải y tế khổng lồ - hiện vẫn chưa có hệ thống xử lý nước đạt chuẩn Khu xử lý nước thải ở đây được xây dựng từ đầu thập kỷ 1980 với quy mô chỉ phù hợp với số ca mổ còn ít ỏi, lại đã xuống cấp từ lâu Do đó, nước thải y tế từ đây vẫn gần như giữ nguyên mức độ độc hại khi xả ra môi trường, trong số 400.000 m3 nước thải đổ vào sông Nhuệ, sông Đáy mỗi ngày (hầu hết không qua xử lý), có gần một nửa là nước thải bệnh viện Mặt khác còn để rác thải y tế bán ra ngoài cho một số cá nhân gây bức xúc dư luận cho người dân sống xung quanh bệnh viện (Tổng cục Môi trường HN, 2010).
1.4 Các phương pháp xử lý chất thải rắn y tế
1.4.1 Tái chế chất thải bệnh viện
Theo (Bộ Y tế, 2008) các vật liệu thuộc chất thải thông thường không dính, chứa các thành phần nguy hại (lây nhiễm chất hóa học nguy hại, chất phóng xạ, thuốc gây độc tế bào) được phép thu gom phục vụ mục đích tái chế, bao gồm:
- Nhựa: chai nhựa đựng dung dịch không có chất hóa học nguy hại (dung dịch NaCl 0,9%, glucose, natri bicacbonate ) và các vật liệu nhựa khác không dính các thành phần nguy hại
- Thủy tinh: chai, lọ thủy tinh đựng các dung dịch không chứa các thành phần nguy hại
- Giấy: giấy , báo, bìa, thùng cát tông, vỏ hộp thuốc và các vật liệu giấy
- Kim loại: các vật liệu kim loại không dính các thành phần nguy hại
1.4.2 Công nghệ đốt
Phương pháp đốt là phương pháp õi hóa ở nhiệt độ cao với sự có mặt của oxi trong không khí, trong đó chất thải sẽ được chuyển hóa thành khí và
Trang 19các chất trơ không cháy Kết quả là tiêu diệt hoàn toàn vi sinh vật, giảm được 95% thể tích và khối lượng chất thải, làm thay đổi hoàn toàn trạng thái vật lý của chất thải Lò đốt thiết kế chuyên dùng cho xử lý chất thải bệnh viện được vận hành trong khoảng nhiệt độ từ 700 - C Phương pháp đốt áp dụng chủ yếu cho chất thải lây nhiễm, chất thải gây độc tế bào, không áp dụng cho các hóa chất có hoạt tính phản ứng, bình chứa khí có áp suất, các chất nhựa có chứa halogen như PVC vì phát thải ddioxxil (Ngô Kim Chi, 2012) Phương pháp đốt có ưu điểm là có nhiệt độ cao thì CTRYT nguy hại được xử lý triệt
để, loại trừ được các mầm bệnh trong các chất thải lây nhiễm, giảm tối đa thể tích chôn lấp sau khi xử lý Tuy nhiên đốt ở nhiệt độ không đủ theo quy định
có thể phát sinh khí thải gây ô nhiễm không khí; chi phí đầu tư xây dựng và quản lý vận hành cao (Bộ Xây dựng, 2012)
1.4.3 Công nghệ không đốt, thân thiện với môi trường
Hiện nay có 2 loại công nghệ thân thiện với môi trường chủ yếu được lựa chọn thay thế các lò đốt CTRYT là công nghệ khử khuẩn bằng nhiệt ẩm
Loại sử dụng vi sóng thuần túy trong điều kiện bình thường là tạo điều kiện khử tiệt trùng ở nhiệt độ khoảng 100 C với áp suất không khí thông thường Do vậy, hệ thống vận hành đơn giản hơn nhưng tốn thời gian xử lý cho mỗi mẻ đồng thời hiệu quả chỉ đạt 99,9% (Đặng Kim Chi và cs, 2011)
Trang 20Loại công nghệ sử dụng vi sóng kết hợp hơi nước bão hòa: có tác dụng phá hủy cấu trúc tế bào va tiêu diệt tất cả các loại mầm bệnh Nhờ đó sau khi
xử lý, chất thải lây nhiễm trở thành chất thải thông thường mà không bị phá hủy, rất thích hợp cho việc tận dụng để tái chế Toàn bộ quy trình hoạt động của công nghệ vi sóng kết hợp hơi nước bão hòa đều không tạo ra khói bụi, không xảy ra nước thải cũng như không sử dụng hóa chất để tiệt trùng nên hoàn toàn thân thiện với môi trường (Nguyễn Thị Kim Thái, 2012)
1.4.4 Phương pháp trơ hóa (cố định và đóng rắn)
Bản chất của quá trình xử lý là chất thải nguy hại được trộn với phụ gia hoặc bê tông để đóng rắn chất thải nhằm không cho các thành phần ô nhiễm lan truyền ra bên ngoài Các chất phụ gia vô cơ thường dùng là: vôi, xi măng, porand, bentonic, pizzolan, thạch cao, silicat Các chất phụ gia hữu cơ: emposi, polyester, nhựa asphalt, polyolefin, ureformandehyde
Theo quy chế quản lý CTRYT ban hành kèm theo quyết định số 43/2007/QĐ-BYT ngày 30/11/2007 của Bộ trưởng Bộ Y tế, tỷ lệ các chất pha trộn như sau: 65% chất thải dược phẩm, hóa học, 15% vôi, 15% xi măng, 5% nước Sauk hi tạo thành một khối đồng nhất dưới dạng cục thì đem đi chôn
1.4.5 Phương pháp chôn lấp an toàn
Chỉ áp dụng tạm thời đối với cơ sở y tế các tỉnh, miền núi và trung du chưa có cơ sở xử lý CTRYT nguy hại đạt tiêu chuẩn tại địa phương Hố chôn lấp phải đáp ứng các yêu cầu: có hàng rào vây quanh, cách xa giếng nước, xa nhà tối thiểu 100m, đáy hố cách mức nước tối thiểu 1,5 m, miệng hố nhô cao
và che tạm thời để tránh nước mưa, mỗi lần chôn chất thải, phải đổ lên trên mặt hố lớp đất dày từ 10-25 cm và lớp đất trên cùng dày 0,5m Không chôn chất thải lây nhiễm lẫn với chất thải thông thường Chất thải lây nhiễm phải được khử khuẩn trước khi chôn lấp (Bộ Y tế, 2008)
1.5 Tình hình phát sinh chất thải rắn y tế trên thế giới và ở Việt Nam
1.5.1 Tình hình phát sinh và quản lý chất thải rắn y tế trên thế giới
Trang 211.5.1.1 Tình hình phát sinh
Khối lượng CTRYT phát sinh thay đổi theo khu vực địa lý, theo mùa
và phụ thuộc vào các yếu tố khách quan như: cơ cấu bệnh tật, dịch bệnh, loại, quy mô bệnh viện, phương pháp và thói quen của nhân viên y tế trong việc khám chữa bệnh và chăm sóc bệnh nhân cũng như rác thải của các bệnh nhân tại các khoa phòng (Hoàng Thị Liên, 2009) Một điều dễ nhận thấy trên thực
tế những nước có thu nhập cao thường tạo ra nhiều chất thải hơn nước có thu nhập trung bình và nước có thu nhập thấp, lượng chất thải tạo ra từ các bệnh viện cấp trên cao hơn so với các bệnh viện cấp dưới Tại các nước phát triển như Hoa Kì, mỗi người tạo ra trung bình 13 kg CTRYT mỗi năm trong khi người dân ở các nước thu nhập thấp như Campuchia chỉ tạo 0,5- 3 kg CTRYT mỗi năm (Natural Standard Research Collaboration, 2013)
Bảng 1.3 Phát sinh chất thải rắn y tế trên thế giới
Đơn vị: Kg/người
Các quốc gia phát triển
- Tổng lượng CTRYT
- CTRYT nguy hại
1,1 – 12,00,4 – 5,5
Các quốc gia đang phát triển
- Tổng lượng CTRYT
- CTRYT nguy hại
0,8 – 0,60,3 – 0,4
Các quốc gia chậm phát triển
Nguồn: Bộ Y tế, 2006
Bảng 1.4: Phát sinh chất thải rắn y tế trung bình trên thế giới
theo loại bệnh viện
Đơn vị: Kg/giường bệnh/ngày
Trang 22Tổng lượng CTRYT CTRYT nguy hại
1.5.1.2 Tình hình quản lý chất thải rắn y tế trên thế giới
Trên thế giới, quản lý rác thải được nhiều quốc gia quan tâm và tiến hành một cách triệt để từ rất lâu Về quản lý, một loạt các chính sách, quy định đã được ban hành nhằm kiểm soát chặt chẽ loại chất thải này Các hiệp ước quốc tế, các nguyên tắc pháp luật quy định về chất thải nguy hại trong đó
có cả chất thải bệnh viện cũng đã được công nhận và áp dụng ở nhiều quốc gia trên thế giới
Công ước Basel: được kí kết bởi hơn 100 quốc gia, quy định về sự vận
chuyển của chất độc hại qua biên giới, đồng thời áp dụng với cả CTRYT Công ước này đưa ra nguyên tắc chỉ vận chuyển hợp pháp chất thải nguy hại
từ các quốc gia không có điều kiện và công nghệ thích hợp sang quốc gia có điều kiện vật chất kĩ thuật để xử lý an toàn các chất thải đặc biệt
Nguyên tắc polluter pay: Nêu rõ mọi người, mọi cơ quan làm phát sinh
chất thải chịu trách nhiệm về pháp luật, tài chính trong việc đảm bảo an toàn
và giữ môi trường trong sạch
Nguyên tắc proximitri: Quy định rằng việc xử lý chất thải nguy hại cần
được tiến hành ngay tại nơi phát sinh càng sớm càng tốt, tránh tình trạng chất thải bị lưu giữ trong thời gian dài gây ô nhiễm môi trường
- Phân loại chất thải: trước những năm 80 của thế kỉ XX, thế giới chưa
hề có khái niệm về việc phân loại CTRYT ngay tại nguồn phát sinh kể cả ở các nước phát triển ở Châu Âu và Nam Mỹ Ngày nay việc phân loại CTRYT ngay tại nguồn đã trở nên phổ biến đối với tất cả các bệnh viện
Theo khuyến cáo WHO (1992), ở các nước đang phát triển có thể phân loại CTRYT thành các loại sau: Chất thải không độc hại (chất thải sinh hoạt
Trang 23gồm các chất thải không bị lây nhiễm các yếu tố nguy hại); Chất thải sắc nhọn (truyền nhiễm hay không truyền nhiễm); Chất thải nhiễm khuẩn (khác với các vật sắc nhọn nhiễm khuẩn); Chất thải hóa học va dược phẩm (không kể các loại thuốc độc đối với tế bào) và chất thải nguy hiểm khác (chất thải phóng
xạ, các thuốc độc tế bào, các bình chứa khí có áp suất cao) (Bộ Y tế, 2006)
Còn tại một số nước phát triển thì CTRYT được phân loại 1 cách chi tiết hơn Ví dụ như Mỹ thì phân loại CTRYT thành 8 loại: Chất thải cách ly (chất thải có khả năng truyền nhiễm mạnh); những nuôi cấy và dự trữ các tác nhân truyền nhiễm và chế phẩm sinh học liên quan; những vật sắc nhọn dùng trong điều trị, nghiên cứu…; máu và các sản phẩm của máu; chất thải động vật (xác động vật, các phần của cơ thể…); các vật sắc nhọn không sử dụng; các chất thải gây độc tế bào; chất thải phóng xạ Các nước châu Âu cũng phân thành 8 loại CTRYT, bao gồm: chất thải thông thường; chất thải giải phẫu (mô,
bộ phận cơ thể, bào thai, xác động vật, máu và dịch cơ thể); chất thải phóng xạ; chất thải hóa học; chất thải lây nhiễm (chất thải từ phòng thí nghiệm, phẫu thuật, khám nghiệm tử thi, chất thải liên quan đến động vật nhiễm bệnh); chất thải sắc nhọn; dược phẩm quá hạn và bình áp suất (WHO, 1994)
- Thu gom và vận chuyển: Các nước tiên tiến có 2 mô hình thu gom và vận chuyển CTRYT đó là:
+ Hệ thống hút chân không tự động: Hệ thống này được lắp đặt lần đầu tại bệnh viện Solleftea – Thụy Điển vào năm 1996 Nguyên tắc rác sau khi được phân loại nhờ áp lực hút chân không tự động (được lắp ở trạm hay trên
xe chuyên dụng) tạo ra sẽ chuyển động theo đường ống ngầm đặt dưới mặt đất đến xe chuyên dụng chở rác Luồng không khí được lọc cẩn thận đảm bảo tiêu chuẩn cho phép trước khi thải ra ngoài môi trường Phương pháp này có
ưu điểm là hạn chế được lượng lớn xe vào lấy rác trong thành phố do vậy giảm được tắc đường vào các giờ cao điểm, hạn chế được việc con người tiếp xúc trực tiếp với CTRYT Nhưng hệ thống này vẫn còn nhiều hạn chế đó là
Trang 24kinh phí đầu tư lớn, công tác vận hành bảo trì yêu cầu công nhân phải có trình
độ tay nghề cao Do vậy tính tới thời điểm này mới chỉ có 500 hệ thống này được lắp đặt trên toàn thế giới mà chủ yếu là tại các nước phát triển
+ Hệ thống thu gom và vận chuyển CTRYT bằng các xe chuyên dụng với các dụng cụ, phương tiện thu gom theo đúng tiêu chuẩn quy định Phương pháp này được phổ biến rộng rãi tại nhiều nước hơn do kinh phí không quá lớn, không yêu cầu công nhân phải có trình độ chuyên môn
- Xử lý CTRYT: Theo tổ chức Y tế thế giới, ở các nước đang phát triển
có tới 18 – 64 % bệnh viện chưa có biện pháp xử lý chất thải đúng cách Tùy thuộc vào điều kiện kinh tế và khoa học công nghệ, nhiều nước trên thế giới đã
có những biện pháp khác nhau để xử lý loại chất thải độc hại này (WHO, 2006)
+ Đối với các nước đang phát triển: Lò đốt CTRYT là nguồn chính phát sinh ra dioxin và thủy ngân trong các hoạt động dân sự hiện nay Với mục tiêu bảo vệ môi trường và bảo vệ sức khỏe, các nước phát triển như Mỹ
và Châu Âu ngày càng thắt chặt các tiêu chuẩn khí thải lò đốt CTRYT Trong tình hình như vậy, nhiều loại lò đốt được sản xuất tại Mỹ và châu Âu cũng không đáp ứng được tiêu chuẩn môi trường và tìm cách xuất khẩu sang các nước đang phát triển, nơi mà các tiêu chuẩn môi trường còn lỏng lẻo hoặc chưa có các biện pháp kiểm soát chặt chẽ Năm 1988, cả nước Mỹ có 6.200 lò đốt CTRYT nhưng đến năm 2006 chỉ còn 62 lò đốt hoạt động Ở Canada, năm 1995 có 219 lò đốt nhưng đến năm 2003 chỉ còn 56 lò đốt vận hành Nhiều nước châu Âu đã đưa ra biện pháp kiên quyết nhằm đóng cửa các lò đốt CTRYT Tại Đức, năm 1984 có 554 lò đốt hoạt động nhưng đến năm
2002 không còn lò đốt nào vận hành, hay tại Bồ Đào Nha, năm 1995 có 40 lò đốt nhưng đến năm 2004 chỉ còn 1 lò đốt hoạt động Ai Len có 150 lò đốt hoạt động năm 1990 nhưng đến năm 2005 đã ngưng toàn bộ hoạt động của các lò đốt CTRYT (Nguyễn Trọng Khoa, 2011)
Vì vậy, tại các nước phát triển hiện đang ưu tiên áp dụng các công nghệ
Trang 25xử lý sau: nồi hấp và nồi hấp nâng cao, công nghệ vi sóng, nhiệt phân, kết hợp nồi hấp và thủy phân hóa học, nhiệt khô, phương pháp điều trị dầu nóng, quá trình xử lý hóa học không Clo, hóa chất khử trùng (Clo) và biện pháp sinh học (Terry L Turdo, 2007).
+ Đối với các nước đang phát triển, đốt vẫn là biện pháp được lựa chọn phổ biến nhất Theo khuyến cáo của WHO, đây cũng là lựa chọn thích hợp cho các nước đang phát triển Tuy nhiên, thực tế cho thấy, có tới 57 – 92% lò đốt ở các nước đang phát triển không hoạt động hoặc hoạt động kém hiệu quả Nguyên nhân do sự hạn chế về mặt kinh tế cũng như trình độ kĩ thuật Vì vậy,
để đảm bảo hiệu quả xử lý, các nước đang phát triển cần chú trọng đến các vấn đề như: khoảng cách với khu dân cư, thiết kế và xây dựng lò đốt đảm bảo tiêu chuẩn, kiểm soát khí thải, nhân viên vận hành lò đốt cần đào tạo bài bản
về mặt kĩ thuật… Ngoài ra, còn có một số biện pháp khác cũng sử dụng để thay thế cho lò đốt hiện nay đã và đang triển khai tại các nước đang phát triển như: nồi hấp nhỏ sử dụng năng lượng mặt trời, vi sóng, xử lý vôi, nhiệt khô, khử trùng bằng Clo, hệ thống kết hợp khử trùng hơi nước với máy xay và nén Những công nghệ này được coi là công nghệ sạch hơn, dễ dàng thiết kế, xây dựng, hiệu quả xử lý cao (Terry L Turdo, 2007)
1.5.2 Hiện trạng phát sinh và tình hình quản lý chất thải rắn y tế tại Việt Nam
1.5.2.1 Hiện trạng phát sinh chất thải rắn y tế
Hiện nay, nước ta có 13.640 cơ sở khám chữa bệnh các loại với tổng số hơn 219800 giường bệnh Với số lượng bệnh viện và số giường bệnh khá lớn, thống kê đã cho thấy tổng lượng CTR phát sinh từ các cơ sở y tế năm 2005 vào khoảng 300 tấn/ngày, trong đó có 40-50 tấn/ngày là CTRYT nguy hại phải xử lý Đến năm 2008, tổng lượng CTRYT phát sinh là hơn 490 tấn/ngày, trong đó có khoảng 60-70 tấn/ngày là CTRYT nguy hại phải xử lý (Bộ Tài Nguyên và Môi trường, 2011) Con số này ước tính sẽ tăng lên 600 tấn/ngày
Trang 26vào năm 2015 và 800 tấn/ngày vào năm 2020 (JICA,2011) Nếu chỉ tính riêng cho 19 bệnh viện tuyến trung ương, khối lượng CTRYT phát sinh vào khoảng 19,8 tấn/ngày, trong đó, khoảng 80,7% là CTRYT thông thường , 19,3% là CTRYT nguy hại (chất thải lây nhiễm, chất thải hóa học và phóng xạ) Tuy nhiên, còn trên 13.400 cơ sở khám chữa bệnh do địa phương (cụ thể là Sở Y tế)
và các ngành khác quản lý là nguồn phát sinh CTRYT rất lớn Với 373 cơ sở y
tế của tuyến tỉnh, lượng CTRYT phát sinh vào khoảng 24 tấn/ngày Lượng chất thải này được phân tán tại nhiều điểm nên cần có sự quan tâm chỉ đạo và đầu tư hiệu quả để quản lý chặt chẽ các nguồn gây ô nhiễm này (Bộ Y tế, 2011)
Trong CTRYT, thành phần đáng quan tâm nhất là dạng chất thải nguy hại (chiếm khoảng 20% tổng lượng CTRYT), do nguy cơ lây nhiễm mầm bệnh và hóa chất độc hại cho con người Lượng CTRYT nguy hại phát sinh không đồng đều tại các địa phương, chủ yếu tập trung tại các tỉnh, thành phố lớn Xét theo 7 vùng kinh tế trong cả nước (trong đó, vùng đông Bắc và Tây Bắc Bộ được gộp chung vào 1 vùng), vùng Đông Nam Bộ phát sinh lượng CTRYT nguy hại lớn nhất trong cả nước chiếm 32% với tổng lượng thải là 10.502,8 tấn/năm tiếp đến là vùng đồng bằng sông Hồng chiếm 21% (Bộ tài nguyên và Môi trường, 2011) Riêng thành phố Hồ Chí Minh, Thanh Hóa và
Hà Nội đã phát sinh cỡ 6.000 tấn CTRYT nguy hại mỗi năm Các tỉnh, thành phố khác có khối lượng CTRYT nguy hại ít hơn, cỡ khoảng 0,2 - 1,5 tấn/ngày (Bộ Y tế, 2004)
Lượng CTRYT nguy hại phát sinh khác nhau giữa các cơ sở y tế khác nhau Các nghiên cứu cho thấy các bệnh viện tuyến trung ương và tại các thành phố lớn có tỷ lệ phát sinh CTRYT nguy hại cao nhất Tính trong 36 bệnh viện thuộc Bộ Y tế, tổng lượng CTRYT nguy hại cần được xử lý trong 1 ngày là 5.122kg, chiếm 16,2% tổng lượng CTRYT Trong đó, lượng CTRYT nguy hại tính trung bình theo giường bệnh là 0,25 kg/giường/ngày Chỉ có 4 bệnh viện có chất thải phóng xạ là bệnh viện Bạch Mai, Bệnh viện Đa khoa
Trang 27TW Thái Nguyên, Bệnh viện đa khoa TW Huế và bệnh viện K (Bộ tài nguyên
và Môi trường, 2011) Các phương pháp xử lý đặc biệt đối với CTRYT nguy hại đắt hơn rất nhiều so với CTR sinh hoạt, do vậy đòi hỏi việc phân loại chất thải phải đạt hiệu quả chính xác
Bảng 1.5 Khối lượng chất thải rắn y tế nguy hại phát sinh tại các cơ sở y
tế khác nhau
Đơn vị: kg/giường bệnh/ngày
Nguồn: Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2011
Kết quả điều tra tại các bệnh viện của 5 thành phố lớn (Hà Nội, Hải phòng, Huế, Đà Nẵng và thành phố Hồ Chí Minh) cho thấy lượng chất thải phóng xạ chỉ chiếm một phần nhỏ 0,38%, chỉ có ở các cơ sở y tế có các khoa chuyên biệt, khối lượng bình áp suất xả thải là 0,01%, chất thải lây nhiễm là 18,39%, chất thải nguy hại chiếm 2,67%, rác thải sinh hoạt chiếm 78,6% Trong đó thành phố Hồ Chí Minh có tỷ lệ chất thải lây nhiễm cao nhất lên đến 22,12%, chất thải phóng xạ 0,59%, chất thải nguy hại chiếm 4,76%, còn lại là rác thải sinh hoạt (Ngô Kim Chi, 2012)
Hiện nay trên địa bàn Hà Nội, khối lượng CTR phát sinh từ các hoạt động y tế ngày càng gia tăng do tốc độ phát triển dịch vụ từ các cơ sở y tế gây
ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng tới sức khỏe cộng đồng Theo sở y tế Hà Nội, trên địa bàn có gần 100 bệnh viện từ Trung ương đến địa phương Hàng ngày các cơ sở y tế thải ra môi trường hàng trăm tấn chất thải, trong đó có nhiều chất thải rắn nguy hại gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng Qua kết quả kiểm tra của chi cục Bảo vệ môi trường (Sở Tài nguyên và Môi trường
Hà Nội) đối với hơn 50 bệnh viện, cơ sở y tế cho thấy, tổng khối lượng
Trang 28CTRYT phát sinh là 41.722 tấn/ tháng Nguồn phát sinh CTRYT nguy hại chủ yếu từ các loại bao gói thuốc chữa bệnh, găng tay cao su, các phế thải phẫu thuật, gạc bông băng, kim tiêm, ống dẫn truyền trong quá trình xét nghiệm, hoạt động thử nghiệm, dược, phóng xạ… Hà Nội có 2 trong số 4 bệnh viện trong cả nước có chất thải phóng xạ nguy hại, đó là bệnh viện Bạch Mai và Bệnh viện K (Châu Loan, 2012).
Lượng CTRYT nguy hại tăng nhanh do việc áp dụng kĩ thuật y tế mới,
sử dụng ngày càng nhiều các thiết bị y tế dùng một lần như bơm kim tiêm bằng nhựa và việc tăng số lượng xét nghiệm, liệu pháp và số ca mổ tính theo từng bệnh nhân Kết quả nghiên cứu của các đề tài trong nước cho thấy, lượng CTR phát sinh trung bình tính theo giường bệnh từ các bệnh viện là 1,02 kg/giường bệnh/ ngày đêm trong đó lượng CTRYT nguy hại chiếm 20% tương ứng 0,21 kg/giường bệnh/ngày đêm (Cù Huy Đấu, 2004)
Bảng 1.6 Khối lượng chất thải rắn y tế nguy hại phát sinh qua các năm
Năm Số bệnh
viện
Giường bệnh
Tỷ lệ phát sinh(kg/giường bệnh/ngày)
Tổng lượng(kg/ngày)
Nguồn: Cù Huy Đấu, 2004
CTRYT không ngừng phát sinh và có chiều hướng tăng khá nhanh, nếu các biện pháp thu gom, xử lý và quản lý chất thải không hiệu quả thì các chất thải này sẽ là nguồn gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng xấu đến sức khỏe cộng đồng
Bảng 1.7 Dự báo lượng chất thải rắn y tế nguy hại phát sinh
trên địa bàn cả nước
Đơn vị: kg/ngày
Trang 291.5.2.2 Công tác quản lý và xử lý chất thải rắn tại bệnh viện ở Việt Nam
1.5.2.2.1 Quy trình quản lý an toàn chất thải rắn y tế
CTRYT sau khi phát sinh sẽ phân loại vào các túi nilong và thùng đựng rác được mã màu Hộ lý hoặc công nhân vệ sinh môi trường sẽ thu gom và vận chuyển rác thải tới nơi lưu giữ tạm thời để lưu giữ tối đa trong 48 giờ Nếu cơ sở xử lý và tiêu hủy chất thải nguy hại có sẵn trong tỉnh/ thị trấn, chất thải nguy hại sẽ được vận chuyển tới đó để xử lý tập trung Chỉ khi nào bệnh viện không thể tiếp nhận được với cơ sở xử lý và tiêu hủy tập trung hoặc theo cụm, chất thải nguy hại mới được xử lý và tiêu hủy tại chỗ Chất thải thông thường sẽ được công ty môi trường đô thị vận chuyển tới bãi rác để tiêu hủy Chất thải có thể tái chế sẽ được bán cho cơ sở tái chế có giấy phép hành nghề (Bộ Y tế, 2010)
Tuy nhiên, trên thực tế, công tác quản lý CTRYT tại các bệnh viện còn bộc lộ nhiều hạn chế gây ảnh hưởng đến chất lượng môi trường và sức khỏe con người
1.5.2.2.2 Công tác thu gom, phân loại, lưu giữ và vận chuyển
Công tác thu gom, lưu giữ CTRYT nói chung đã được quan tâm bởi các cấp từ trung ương đến địa phương, thể hiện ở mức độ thực hiện quy định
ở các bệnh viện khá cao
Có 95,6% bệnh viện đã thực hiện phân loại chất thải trong đó có 91,1%
đã sử dụng dụng cụ tách riêng vật sắc nhọn Theo báo cáo của các tỉnh và
Trang 30nhận xét của đoàn kiểm tra liên bộ, còn có hiện tượng phân loại nhầm chất thải, một số loại chất thải thông thường được đưa vào cùng chất thải rắn y tế gây tốn kém trong việc xử lý Có 63,6% bệnh viện sử dụng túi nhựa làm bằng nhựa PP, PE Chỉ có 29,3% sử dụng túi có thành dày theo đúng quy chế Hầu hết ở các bệnh viện 90,9% CTR được thu gom hằng ngày, một số bệnh viện
có diện tích chật hẹp nên gặp khó khăn trong việc thiết kế lối đi riêng để vận chuyển chất thải Chỉ có 53% số bệnh viện chất thải được vận chuyển trong
xe có nắp đậy Có 53,4% bệnh viện có nơi lưu giữ chất thải có mái che, trong
đó có 45,3% đạt yêu cầu theo quy chế quản lý CTRYT (Bộ tài nguyên và môi trường, 2011)
CTRYT phát sinh từ các cơ sở khám chữa bệnh trực thuộc sự quản lý của Bộ Y tế, phần lớn được thu gom và vận chuyển đến khu vực lưu giữ sau
đó được xử lý tại các lò thiêu đốt nằm ngay trong cơ sở hoặc kí hợp đồng vận chuyển và xử lý đối với các cơ sở xử lý chất thải đã được cấp phép tại địa bàn
cơ sở khám chữa bệnh đó Đối với các cơ sở khám chữa bệnh ở địa phương
do các Sở y tế quản lý, công tác thu gom lưu giữ và vận chuyển chất thải rắn chưa được chú trọng, đặc biệt là công tác thu gom và phân loại chất thải tại nguồn (CTRYT thông thường, CTRYT nguy hại ) CTRYT (Bộ tài nguyên
và môi trường, 2011)
Trên địa bàn thành phố hà nội, hiện có 92,5% số bệnh viện, cơ sở y tế
kí hợp đồng thu gom, vận chuyển CTRYT với công ty cổ phần môi trường và công nghiệp (URENCO) (Hoàng Thị Liên, 2009) Tuy nhiên, việc thu gom, phân loại trên địa bàn Hà Nội còn gặp nhiều khó khăn do một số cơ sở chưa thực hiện đúng quy định về quản lý CTRYT, kinh phí cho các hoạt động quản
lý CTRYT còn hạn hẹp, nhân lực làm công tác BVMT chưa đáp ứng được yêu cầu, hầu hết là kiêm nhiệm Các phương tiện thu gom CTRYT nói chung, CTRYT nguy hại nói riêng như: Túi, thùng đựng chất thải, xe đẩy rác, nhà chứa rác còn thiếu và chưa đồng bộ.Hoạt động vận chuyển CTRYT nguy hại
Trang 31từ bệnh viện, cơ sở y tế tới nơi xử lý không có trang thiết bị che chắn an toàn.
Bảng 1.8 Hiện trạng thu gom, phân loại chất thải rắn y tế tại các bệnh
viện trên địa bàn thành phố Hà Nội năm 2013
Đơn vị: %
Các yêu cầu theo quy chế quản lý CTRYT Tỷ lệ tuân thủ
Túi đựng chất thải đúng quy cách về bề dày và
dung tích
66,67
Túi đựng chất thải đúng quy cách về màu sắc 30,67
Túi đựng chất thải đúng quy cách về buộc đóng gói 81,33
(Nguồn: Bộ tài nguyên và Môi trường, 2011)
Phương tiện thu gom CTRYT còn thiếu và chưa đồng bộ, hầu hết chưa đạt tiêu chuẩn Nguyên nhân do có rất ít nhà sản xuất quan tâm đến mặt hàng này Do vậy việc mua sắm phương tiện thu gom CTR bệnh viện gặp khó khăn Các cơ sở y tế của 5 thành phố điển hình là Hải Phòng, Hà Nội, Huế,
Đà Nẵng và thành phố Hồ Chí Minh, hầu hết các bệnh viện sử dụng thùng nhựa có bánh xe, xe tay, các dụng cụ vận chuyển bằng tay khác Một số khu vực lưu trữ CTR trước khi xử lý tại chỗ hoặc tại các khu vực xử lý bên ngoài được trang bị điều hòa và hệ thống thông gió theo quy định (JICA,2011) Nhìn chung, các phương tiện vận chuyển CTRYT con thiếu, đặc biệt là các xe chuyên dụng Hoạt động vận chuyển CTRYT nguy hại từ bệnh viện, cơ sở y
tế đến nơi xử lý, chôn lấp hầu hết do công ty môi trường đô thị đảm nhiệm, không có các trang thiết bị đảm bảo cho quá trình vận chuyển được an toàn
1.5.2.2.3 Xử lý và tái chế
Đối với CTRYT không nguy hại:
CTRYT không nguy hại ở hầu hết các tỉnh, thành phố đều do Công ty môi trường đô thị thu gom, vận chuyển và được xử lý tại các khu xử lý CTR tập trung của địa phương
Trang 32Hoạt độngthu hồi và tái chê CTRYT tại Việt Nam đang được thực hiện không theo đúng quy chế quản lý chất thải y tế đã ban hành Chưa có các cơ
sở chính thống thực hiện hoạt động thu mua và tái chế các loại chất thải từ hoạt động y thế ở Việt Nam Quy chế quản lý chất thải y tế (2007) đã bổ sung nội dung tái chế CTRYT không nguy hại làm căn cứ để các cơ sở y tế thực hiện Tuy nhiên, nhiều địa phương chưa có cơ sở tái chế, do vậy việc quản lý tái chế các CTRYT không nguy hại còn gặp nhiều khó khăn Một số vật liệu
từ chất thải bệnh viện như: chai dịch truyền chứa dung dịch huyết thanh ngọt (đường glucose 5%, 20%), huyết thanh mặn (NaCl 0,9%), các dung dịch acide amine, các loại muối khác, các loại bao gói nilon và một số chất nhựa khác, một số vật liệu giấy, thủy tinh hoàn toàn không có yếu tố nguy hại có thể tái chế để hạn chế việc thiêu đốt chất thải gây ô nhiễm (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2011)
Năm 2010 đã phát hiện nhiều hiện tượng đưa CTRYT ra ngoài để bán, tái chế trái phép thành các vật dụng thường ngày Việc tái sử dụng các gang tay cao su, các vật liệu nhựa đã và đang tạo ra nhiều rủi roc ho những người trực tiếp tham gia như các nhân viên thu gom, những người thu mua và tái chế phế liệu
Đối với CTRYT nguy hại
Khối lượng CTRYT nguy hại được xử lý đạt tiêu chuẩn chiếm 68% tổng lượng phát sinh CTRYT nguy hại trên toàn quốc, CTRYT xử lý không đạt chuẩn (32%) là nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường và sức khỏe cộng đồng Các thành phố lớn như Tp Hồ Chí Minh và Hà Nội đã có xí nghiệp xử
lý CTRYT nguy hại vận hành tốt, tổ chức thu gom và xử lý, tiêu hủy CTRYT nguy hại cho toàn bộ cơ sở y tế trên địa bàn CTRYT nguy hại của các tỉnh, thành phố khác hiện được xử lý và tiêu hủy với các mức độ khác nhau: một số địa phương như Thái Nguyên, Hải Phòng, Cần Thơ đã tận dụng lò đốt trang
bị cho cụm bệnh viện, chủ động chuyển giao lò đốt cho công ty môi trường đô
Trang 33thị tổ chức vận hành và thu gom, xử lý CTRYT nguy hại cho các địa bàn khác thuộc thành phố, thị xã Nếu xét mức độ xử lý của các cơ sở y tế theo tuyến trung ương và địa phương, các cơ sở trực thuộc Bộ Y tế có mức độ đầu tư xử
lý CTRYT nguy hại cao hơn hẳn các cơ sở tuyến địa phương (Bộ Tài nguyên
và Môi trường, 2011)
Đến năm 2006, hơn 500 lò đốt đã được lắp đặt tại các cơ sở y tế của Việt Nam, tập trung chủ yếu tại các thành phố lớn Tuy nhiên, trong số đó có tới hơn 33% số lò không được hoạt động do nhiều lý do khác nhau (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2011) Mặc dù công suất hiện tại của tất cả các lò đốt CTRYT ở Việt Nam có khả năng đáp ứng cho hơn 50% tổng lượng CTRYT nguy hại nhưng nhiều lò đốt vẫn chưa hoạt động hết công suất do khó khăn về tài chính Hầu hết các khoản đầu tư từ nguồn trong nước và quốc tế cho các
dự án lò đốt đều tập trung vào việc mua thiết bị trong khi đó thì các bệnh viện đều phải tự đầu tư tài chính để trang trải cho các khoản chi phí vận hành lò đốt (như tập huấn, mua nhiên liệu, nhân sự) từ nguồn kinh phí hiện có của bệnh viện Chính vì vậy, các bệnh viện không có đủ nguồn lực tài chính để vận hành các lò đốt, các CTRYT nguy hại thường không được xử lý một cách thích hợp (Bộ Y tế, 2004)
Theo số liệu thống kê của Bộ Y tế, chỉ có 1/3 số CTR được đốt bằng lò đốt hiện đại, số còn lại được tiêu hủy bằng nhiều hình thức như thiêu ngoài trời (15,3%), đốt bằng lò thủ công (13,9%), chôn trong khuôn viên bệnh viện (33,3%) hoặc thải trực tiếp ra bãi rác thải chung (27,2%) Về khí thải, đa phần các lò đốt thải ra khí thải vượt quá QCVN 02:2008/BTBMT (Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về khí thải lò đốt CTRYT) và Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về một số chất độc hại trong không khí xung quanh (QCVN 06:2009/BTNMT) (Đỗ Anh Tuấn, 2011) Một số bệnh viện mặc dù đã có lò đốt hiện đại nhưng khí đốt vẫn tạo ra một số loại khí độc nguy hiểm như dioxin, furan, loại khói độc có thể gây ung thư và một số loại khói độc gây nguy hiểm khác Hầu hết
Trang 34các bệnh viện chưa có hệ thống thu gom và xử lý khí thải lò đốt gây ô nhiễm môi trường không khí nghiêm trọng.
Tại lưu vực sông Hồng – Thái Bình, tỷ lệ bệnh viện xử lý CTRYT bằng
lò đốt là 27,34%, số bệnh viện hợp đồng với công ty môi trường thuê xử lý là 42,21% và 30,45% bệnh viện xử lý bằng cách thiêu đốt thủ công hoặc tự chôn lấp trong khuôn viên bệnh viện Tại các trạm y tế xã, phường, công tác quản
lý CTRYT chưa được quan tâm, chưa thực hiện xử lý CTRYT trước khi xả ra môi trường theo quy định (Cục Quản lý môi trường y tế - Bộ Y tế, 2011) Còn tại Hà Nội, tính riêng cho khối bệnh viện công lập, chỉ có 14/43 bệnh viện có
hệ thống xử lý chất thải rắn, chủ yếu nằm ở khu vực phía Tây, các hệ thống này đã được đầu tư từ năm 2004-2005 vẫn đang vận hành, tuy nhiên hiện đã xuống cấp, thường xuyên phải sửa chữa 27/43 bệnh viện và cơ sở y tế hiện đang xử lý rác thải y tế theo hình thức thu gom tập trung (hợp đồng với Công
ty Môi trường đô thị thu gom CTRYT để xử lý tập trung tại Cầu Diễn) 02/43 bệnh viện còn lại đang trong giai đoạn triển khai xây dựng và trong thiết kế xây dựng đã có hạng mục xử lý CTRYT theo đúng các quy định hiện hành Riêng với khối bệnh viện tư nhân, việc xử lý CTR thực hiện theo phương pháp thu gọn tập trung và ký hợp đồng với Công ty Môi trường đô thị (Sở Y
tế Hà Nội, 2011)
Tính trên địa bàn cả nước, tỷ lệ bệnh viện xử lý CTRYT bằng lò đốt là 26,9% bệnh viện xử lý bằng cách thiêu đốt thủ công hoặc tự chôn lấp trong khuôn viên của bệnh viện (chủ yếu ở bệnh viện tuyến huyện và một vài bệnh viện chuyên khoa tại các tỉnh miền núi) Trong đó, đa số các lò đốt chưa có hệ thống xử lý khí thải, công suất lò đốt sử dụng chưa hợp lý, gây ô nhiễm môi trường và hiệu quả sử dụng chưa cao Bên cạnh đó, việc đầu tư kinh phí xây dựng, nâng cấp các hệ thống xử lý chất thải, lắp đặt trang thiết bị, áo dụng công nghệ hiện đại thân thiện với môi trường thực hiện quản lý duy trì hoạt động bảo
vệ môi trường y tế chưa đáp ứng so với nhu cầu Hiện tại, nhiều cơ sở y tế tại
Trang 35các tỉnh, thành phố chưa có ngân sách để xây dựng cơ sở vật chất, bổ sung trang thiết bị, tổ chức quản lý và xử lý chất thải đảm bảo theo tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường Mạng lưới cán bộ làm công tác bảo vệ môi trường ngành y tế chưa được kiện toàn, năng lực cán bộ, đặc biệt là tại địa phương chưa đáp ứng nhiệm vụ được giao (Nguyễn Hằng, 2011).
Ngoài biện pháp sử dụng lò đốt, một số địa phương đã bắt đầu thử nghiệm các loại hình công nghệ xử lý mới như hấp ướt vi song như: Bệnh viện huyện Thủy Nguyên – Hải Phòng đầu tư thiết bị hấp thụ autoclave 7kg/h, công suất trung bình 3h/ngày); Tại TP Hồ Chí Minh, Bệnh viện Quận 11 được trang bị thiết bị hấp khử trùng công suất nhỏ hoạt động 8h/ngày; Bệnh viện Lao và Bệnh phổi – TP Hồ Chí Minh hiện đang lắp đặt thiết bị micro xử lý chất thải y tế; TP Đà Nẵng đang lắp đặt và đưa vào sử dụng 2 thiết bị vi sóng
để xử lý chất thải tại Bệnh viện C và C17
Theo danh sách tại Quyết định số 64/2003/QĐ-TTG ngày 22/4/2003, ngành y tế có 84 cơ sở y tế gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng cần phải xử
lý triệt để bao gồm 6 cơ sở y tế do Bộ Y tế quản lý; 5 cơ sở do Bộ quốc phòng quản lý và 73 cơ sở do các tỉnh quản lý (Nguyễn Hằng, 2012) Tính đến hết tháng 12 năm 2012, đã có 49/84 cơ sở chiếm 58,3% đã được công nhận xử lý triệt để ô nhiễm môi trường, 23/84 cơ sở chiếm 27,4% đang làm các thủ tục trình chứng nhận hoàn thành việc xử lý ô nhiêm môi trường triệt để, 12 cơ sở chiếm 14,3% đang chuẩn bị đầu tư xây dựng các hệ thống xử lý chất thải y tế
06 bệnh viện do Bộ Y tế trực tiếp quản lý hiện nay đã có 05 cơ sở có quyết định công nhận đã hoàn thành xử lý triệt để ô nhiễm môi trường, 01 bệnh viện
đã xây dựng hệ thống xử lý chất thải Bệnh viện Đa khoa TW Thái Nguyên (Bộ Y tế, 2013)
Nói chung, công tác quản lý chất thải của nhiều bệnh viện còn lỏng lẻo,
có hiện tượng nhân viên y tế bán chất thải ra ngoài và gây nguy cơ lây lan dịch bệnh như vụ việc xảy ra tại Bệnh viện Việt Đức và Bạch Mai Nhiều cơ
Trang 36sở kinh doanh không có giấy phép nhưng vẫn tiến hành xử lý chất thải bệnh viện, lượng CTRYT cũng như CTRYT nguy hại ngày càng gia tăng Trước thực trạng đó, ngày 15/11/2011, Thủ tướng Chính Phủ đã phê duyệt Đề án tổng thể xử lý CTRYT giai đoạn 2011-2015 và định hướng đến năm 2020, tất
cả các cơ sở y tế từ Trung ương đến địa phươngđều thực hiện xử lý CTRYT đảm bảo Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường
Trang 37Chương 2: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: CTRYT và hoạt động quản lý CTRYT phát sinh tại Bệnh viện TWQĐ108
+ Quy mô giường bệnh+ Cơ cấu tổ chức và tình hình nhân sự+ Hoạt động khám chữa bệnh của bệnh viện
2.2.2 Hiện trạng phát sinh chất thải rắn y tế tại Bệnh viện TWQĐ108
- Nguồn gốc phát sinh CTRYT tại bệnh viện (nguồn gốc, thành phần, khối lượng)
- Lượng chất thải rắn y tế phát sinh tại các khoa
- Thành phần chất thải rắn ảnh hưởng đến người dân, bệnh nhân
2.2.3 Tình hình quản lý chất thải rắn của Bệnh viện TWQĐ108
- Cơ sở pháp lý (tổ chức quản lý trong việc quản lý chất thải rắn, áp dụng các văn bản pháp luật về quản lý CTR tại Bệnh viện TWQĐ108, nội quy phòng bệnh)
- Tình hình hoạt động thu gom CTRYT tại bệnh viện
- Công tác phân loại CTRYT tại bệnh viện
- Vận chuyển rác thải trong bệnh viện
Trang 38- Công tác xử lý CTRYT phát sinh từ Bệnh viện TWQĐ108
2.2.4 Đánh giá hiệu quả quản lý thông qua việc so sánh với quy chế quản
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Phương pháp thu thập thông tin thứ cấp
Thu thập tài liệu số liệu có liên quan tại:
- Tại Bệnh viện TWQĐ108 gồm: Phòng kế hoạch tổng hợp, Phòng tài chính, Phòng kĩ thuật hậu cần;
- Vụ kế hoạch và tài chính, Bộ Y tế
- Phòng nghiệp vụ y, phòng kế hoạch – tài chính, Sở y tế Hà Nội
- Thu thập và thống kê các tài liệu đã công bố trong và ngoài nước liên quan tới quản lý chất thải rắn y tế bằng mạng internet
2.3.2 Phương pháp thu thập thông tin sơ cấp
- Khảo sát thực địa, tiến hành quan sát, tìm hiểu quá trình thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải tại bệnh viện (từ 15/9/2015-15/11/015)
- Xây dựng phiếu điều tra và phỏng vấn trọng tâm vào các vấn đề: + Tổng khối lượng CTRYT nguy hại
+ Phân loại thu gom, cách tái chế, xử lý
+ Biện pháp đào tạo cán bộ về quản lý CTR tại cơ sở
+ Nhận thức về quy chế quản lý CRTYT
- Phiếu điều tra: Tiến hành điều tra tổng số 80 phiếu từ ngày 15/11/2015 gồm bệnh nhân và người nhà bệnh nhân (50 phiếu); Cán bộ y tế (10 phiếu); Nhân viên thu gom rác thải trong bệnh viện (20 phiếu)
Trang 3910/10/2015-2.3.3 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu
Các số liệu về lượng CTRYT phát sinh qua các năm, kết quả điều tra được xử lý trên phần mềm excel và được thể hiện dưới dạng biểu đồ
Trang 40Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Đặc điểm Bệnh viện Trung ương quân đội 108
3.1.1 Vị trí của bệnh viện
Bệnh viện Trung ương quân đội 108 nằm trên đường Trần Hưng Đạo – quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội, cách trung tâm thành phố Hà Nội chưa đầy 3km về phía Đông, có vị trí rộng, đẹp, thoáng mát
3.1.2 Lịch sử hình thành và phát triển
Bệnh viện Trung ương quân đội 108 trực thuộc Bộ Quốc phòng Việt Nam, là bệnh viện tuyến cuối của toàn quân, có nhiệm vụ khám chữa bệnh cho cán bộ cao cấp trong quân đội, cán bộ cấp cao Đảng- Nhà nước và các đối tượng khác
Từ phân đội tiền thân hình thành từ năm 1951, phục vụ chiến dịch Biên giới trên đất Thủy Khẩu - Trung Quốc Bệnh viện Trung ương quân đội 108 được thành lập ngày 01/4/1951 tại Làng Nông, xã Yên Trạch, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên với 500 giường bệnh Từ 1954-1965, bệnh viện về Thủ đô, với các tên gọi mới qua các thời kỳ: Quân y viện 108 (6-1956), Viện quân y 108 (1960)
Địa điểm hiện tại của bệnh viện là Nhà thương Đồn Thủy trước kia, vốn là nhà thương do quân đội Pháp xây dựng từ năm 1894, nay là Bệnh viện quân đội 108 và Bệnh viện Hữu Nghị Việt-Xô Khoảng cuối năm 1954, đầu năm 1955, khi mới tiếp quản Thủ đô, Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam còn đóng trụ sở ở đây
Ngày 31-3-1995 Bệnh viện được chính thức mang tên Bệnh viện TWQĐ 108 Ngày 06 tháng 9 năm 2002, Bệnh viện TWQĐ 108 được chuyển
từ Tổng cục Hậu cần về trực thuộc Bộ Quốc phòng
Ngày 08 tháng 5 năm 2003, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quyết định cho