Cùng với sự phát triển đó là vấn đề chất thải rắn y tế của bệnh việnngày một tăng nhanh cả về số lượng cũng như sự phức tạp về thành phần.Đây thực sự trở thành một vấn đề nhận được nhiều
Trang 1KHOA MÔI TRƯỜNG
Trang 2KHOA MÔI TRƯỜNG
Chuyên ngành : KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG
Giáo viên hướng dẫn : ThS NGUYỄN THỊ BÍCH HÀ
Địa điểm thực tập : BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH THÁI BÌNH
HÀ NỘI - 2016
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là nghiên cứu của tôi được thực hiện tại bệnhviện đa khoa tỉnh Thái bình Mọi số liệu đều được tôi điều tra, nghiên cứu,những số liệu tham khảo đều có nguồn trích dẫn Nếu có thông tin gì khôngđúng tôi xin chịu trách nhiệm
Hà Nội, Ngày 20 tháng 5 năm 2016
Sinh viên
Trần Thị Mỹ Linh
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực tập tốt nghiệp, để có thể hoàn thành đề tài “Đánhgiá hiện trạng quản lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện Đa Khoa tỉnh TháiBình” ngoài sự cố gắng nỗ lực của bản thân, em đã nhận được sự giúp đỡ củathầy cô, bạn bè và người thân
Lời đầu tiên, em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Ban giám hiệu HọcViện Nông Nghiệp Việt Nam, khoa Môi Trường, Bộ môn Quản lý môitrường, cám ơn các thầy cô đã truyền đạt cho em kiến thức và kinh nghiệmquý báu trong suốt quá trình học tập trên giảng đường đại học
Em xin gửi lời cám ơn đến tập thể cán bộ , nhân viên của bệnh viện ĐaKhoa tỉnh Thái Bình đã tạo điều kiện giúp đỡ em nhiệt tình, chu đáo trongsuốt quá trình thực tập tại đây
Đặc biệt em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo ThS NguyễnThị Bích Hà, người đã hướng dẫn, góp ý em tận tình, hết lòng giúp đỡ, độngviên em trong suốt quá trình thực tập tốt nghiệp cũng như hoàn thành đề tài
Trong quá trình thực hiện đề tài, do điều kiện về thời gian, trình độnghiên cứu của bản than còn hạn chế nên khi thực hiện đề tài khó tránh khỏinhững thiếu sót Vì vậy em mong nhận được sự quan tâm đóng góp ý kiến củacác thầy cô và các bạn để khóa luận này được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 20 tháng 5 năm 2016
Sinh viên
Trần Thị Mỹ Linh
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
MỤC LỤC
DANH MỤC VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG
DANH MỤC HÌNH
DANH MỤC SƠ ĐỒ
MỞ ĐẦU
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Tổng quan về chất thải rắn y tế
1.1.1 Một số khái niệm liên quan về chất thải rắn y tế
1.1.2 Nguồn gốc phát sinh chất thải rắn y tế
1.1.3 Phân loại chất thải rắn y tế
1.1.4 Thành phần của chất thải rắn y tế
1.2 Hiện trạng phát sinh chất thải rắn y tế trên thế giới và Việt Nam
1.2.1 Hiện trạng phát sinh chất thải rắn y tế trên thế giới
1.2.2 Hiện trạng phát sinh chất thải rắn y tế tại việt nam
1.3 Tình hình quản lý và xu hướng xử lý chất thải rắn y tế trên thế giới và ở Việt nam
1.3.1.Tình hình quản lý chất thải rắn trên thế giới
1.3.2 Tình hình quản lý chất thải rắn tại Việt Nam
1.4 Tác động của chất thải rắn y tế tới môi trường và sức khỏe cộng đồng
1.4.1 Ảnh hưởng của chất thải rắn y tế tới môi trường
1.4.2 Ảnh hưởng của chất thải rắn y tế tới sức khỏe cộng đồng
Chương 2: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Trang 62.3 Nội dung nghiên cứu
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp
2.4.2 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp
2.4.3 Phương pháp xử lý số liệu
2.4.4 Phương pháp so sánh
Chương 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1 Khái quát về bệnh viện đa khoa tỉnh Thái Bình
3.1.1 Vị trí địa lý, thông tin của bệnh viện đa khoa tỉnh Thái Bình
3.1.2 Quy mô, cơ cấu tổ chức và nguồn nhân lực của bệnh viện
3.1.3 Chức năng và nhiệm vụ của bệnh viên
3.2 Hiện trạng chất thải rắn y tế tại bệnh viện đa khoa Tỉnh Thái Bình
3.2.1 Nguồn phát sinh chất thải rắn từ hoạt động của bệnh viện
3.2.2 Thành phần chất thải rắn y tế tại bệnh viện
Chất thải không sắc nhọn: Bông băng, dụng cụ có thấm máu, chất bài tiết của bệnh nhân, găng tay sau khi sử dụng…
3.3 Thực trạng quản lý CTRYT của bệnh viện Đa khoa tỉnhThái bình
3.3.1 Tổ chức quản lý chất thải rắn y tế tại viện Đa khoa tỉnh Thái bình
3.4 Đánh giá chung về công tác quản lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện Đa khoa tỉnh Thái Bình
3.4.1 Đánh giá những mặt đã đạt được trong công tác quản lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện
3.4.2 Đánh giá những mặt tồn tại trong công tác quản lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện đa khoa tỉnh Thái Bình
3.5 Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của công tác quản lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện đa khoa tỉnh Thái Bình
3.5.1 Giải pháp về cơ chế chính sách
Trang 73.5.2 Giải pháp về giáo dục tuyên truyền
3.5.3 Giải pháp về kỹ thuật
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
15 Sở y tế Cao Bằng (2015), Cục Quản lý Khám chữa bệnh Cao Bằng triển khai kế hoạch năm 2015
Trang 8DANH MỤC VIẾT TẮT
BTNMT Bộ tài nguyên môi trường
Trang 9DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1: Nguồn phát sinh chất thải y tế
Bảng 1.2: Lượng chất thải y tế phát sinh tại các châu lục
Bảng 1.3: Lượng chất thải phát sinh tại các nước theo tuyến bệnh viện
Bảng 1.5: Khối lượng chất thải rắn y tế ở một số địa phương năm 2009
Bảng 1.6: Lượng chất thải rắn y tế phát sinh từ các khoa phụ thuộc
Bảng 1.7: Phát sinh và dự báo CTRYTNH phát sinh từ
Bảng 1.8: So sánh các công nghệ thiêu đốt chất thải y tế nguy hại
Bảng 1.10: Công tác xử lý chất thải rắn y tế ở một số vùng
Bảng 1.11: Nguy cơ mắc các bệnh khi bị bơm kim tiêm bẩn xuyên qua da
Bảng 3.1 Kết quả công tác khám chữa bệnh của bệnh viện Đa Khoa tỉnh Thái Bình
Bảng 3.2: Lượng chất thải rắn phát sinh trong ngày
Bảng 3.3: Nguồn nhân lực tham gia công tác quản lý CTRYT tại bệnh viện Đa Khoa tỉnh Thái Bình
Bảng 3.4: Mức độ hiểu biết của cán bộ bệnh viện Đa Khoa tỉnh Thái Bình về quy chế quản lý chất thải rắn y tế
Bảng 3.5: Trang thiêt bị, dụng cụ phục vụ quản lý chất thải rắn y tế
Bảng 3.6: So sánh quy định về màu sắc các loại túi, hộp, thùng đựng chất thải y tế theo quyết định số 43/2007/QĐ-BYT và theo quy định của bệnh viện
Bảng 3.7: Kiến thức về mã màu sắc trong phân loại chất thải rắn y tế của cán bộ nhân viên
Bảng 3.8: Hoạt động vận chuyển chất thải rắn y tế tại bệnh viện Đa Khoa tỉnh Thái Bình
Bảng 3.9: Công tác đào tạo, tập huẩn về quản lý chất thải y tế Bảng 3.10: Đánh giá công tác quản lý và xử lý CTRYT tại bệnh viện đa
Trang 10DANH MỤC HÌNH
Hình 1: Vị trí địa giới hành chính thành phố Thái Bình
Hình 2: Thùng đựng chất thải sinh hoạt được đặt gần các ghế đá
Hình 3: Thùng đựng chất thải vô cơ, chất thải hữu cơ
Hình 4: Hộ lý vận chuyển rác thải tới nhà lưu giữ rác
Hình 5: Nhà lưu giữ rác thải y tế nguy hại
Hình 6: Nhà lưu giữu rác thải sinh hoạt
Trang 11DANH MỤC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 1.1: Phân loại chất thải rắn y tế ở Việt Nam
Sơ đồ 3.1: Chức năng, nhiệm vụ của bệnh viện
Sơ đồ 3.2: Hệ thống quản lý CTR y tế tại bệnh viện Đa Khoa
Sơ đồ 3.3: Quá trình thu gom, vận chuyển chất thải rắn y tế tại bệnh viện
Đa Khoa tỉnh Thái Bình
Trang 12DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 1.1: Phần trăm thành phần CTR y tế theo tính chất nguy hại tỉnh Thái Bình năm 2015 Biểu đồ 3.2: Thành phần chất thải rắn y tế phân theo đặc tính lý hóa tại
bệnh viện Đa Khoa tỉnh Thái Bình năm 2015 Biểu đồ 3.3: Nhận thức của người được phỏng vấn về tác hại của chất thải
rắn y tế với người tiếp xúc Biểu đồ 3.4: Khối lượng chất thải rắn y tế phát sinh tại bệnh viện Đa Khoa
tỉnh Thái Bình năm 2011-2015 Biểu đồ 3.5: Lượng CTRYT của bệnh viện phát sinh trong 12 tháng Biểu đồ 3.6: Khối lượng chất thải rắn y tế nguy hại qua
Trang 13MỞ ĐẦU Tính cấp thiết của đề tài
Môi trường có vai trò vô cùng quan trọng đối với sự tồn tại và phát triểncủa loài người Tuy nhiên môi trường cùng với sự phát triển kinh tế của mỗiquốc gia lại luôn có mối quan hệ ngược chiều Vì vậy, vấn đề đặt ra là làmsao để vừa phát triển kinh tế vừa bảo vệ được môi trường một cách bền vững
Để giải quyết vấn đề trên người ta đã đưa ra các điều luật, các quy định vềbảo vệ môi trường buộc các tổ chức, các cơ sở sản xuất phải tuân theo
Ở nước ta, cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội thì ngành y tế cũngđược phát triển hơn trong những năm gần đây Các bệnh viện và phòng khámtăng cả về số lượng và chất lượng để đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh củangười dân Cùng với sự phát triển đó là vấn đề chất thải rắn y tế của bệnh việnngày một tăng nhanh cả về số lượng cũng như sự phức tạp về thành phần.Đây thực sự trở thành một vấn đề nhận được nhiều sự quan tâm của dư luận,khi mà nhiều bệnh viện đã trở thành nguồn gây ô nhiễm cho các khu dân cưxung quanh Nhằm khắc phục tình trạng trên, nhà nước ta đã đưa ra các quyđịnh về bảo vệ môi trường áp dụng cho các bệnh viện, phòng khám Tuynhiên việc thực hiện các quy định này vẫn còn nhiều bất cập
Thái Bình cũng như nhiều địa phương khác trong cả nước, tình trạng ônhiễm môi trường do chất thải rắn y tế ngày càng nghiêm trọng mà nguyênnhân chủ yếu là do không tuân thủ theo quy định bảo vệ môi trường do nhànước đề ra Bệnh viên đa khoa tỉnh Thái Bình là một bệnh viện lớn trong tỉnh.Hiện nay, bệnh viện đang mở rộng quy mô hoạt động nhằm đáp ứng nhu cầukhám chữa bệnh của người dân Vì vậy mà vấn đề môi trường của bệnh việncũng trở nên phức tạp hơn.Việc nghiên cứu tình hình quản lý chất thải rắn y tếtại bệnh viện từ đó đưa ra các biện pháp quản lý phù hợp, hiệu quả hơn tronggiảm thiểu ô nhiễm môi trường là việc làm hết sức cần thiết.Xuất phát từ thựctiễn trên , em tiến hành nghiên cứu và thực hiện đề tài : “Đánh giá thực
Trang 14Mục đích nghiên cứu đề tài
- Tìm hiểu và đánh giá thực trạng phát thải và quá trình phân loại, thugom, vận chuyển, xử lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện đa khoa tỉnh TháiBình
- Đề xuất một số biện pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý chấtthải rắn y tế tại bệnh viện đa khoa tỉnh Thái Bình
Yêu cầu nghiên cứu
- Tìm hiểu khái quát về bệnh viện đa khoa tỉnh Thái Bình
- Điều tra, mô tả, phân tích hệ thống quản lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện đa khoa tỉnh Thái Bình
- Đề xuất một số biện pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý chất thảirắn y tế tại bệnh viện đa khoa tỉnh Thái Bình
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Tổng quan về chất thải rắn y tế
Trang 151.1.1 Một số khái niệm liên quan về chất thải rắn y tế
Theo tổ chức y tế thế giới (WHO 1993): Chất thải y tế là tất cả các loại chất thải phát sinh trong các cơ sở y tế bao gồm cả chất thải nhiễm khuẩn và chất thải không nhiễm khuẩn.
Theo QCVN02:2012/Bộ tài nguyên môi trường: Chất thải rắn y tế là
chất thải ở thể rắn phát sinh từ hoạt động y tế bao gồm chất thải y tế nguy hại
và chất thải không nguy hại ( chất thải thông thường )
Theo quyết định 43/2007/QĐ-BYT:về quy chế quản lý chất thải y tế:
Chất thải y tế nguy hại là chất thải y tế chứa yếu tố nguy hại cho sức
khỏe con người và môi trường như dễ lây nhiễm, gây ngộ độc, phóng xạ, dễcháy, dễ nổ, dễ ăn mòn hoặc có đặc tính nguy hại khác nếu những chất thảinày không được tiêu hủy an toàn
Quản lý chất thải y tế là hoạt động quản lý việc phân loại, xử lý ban
đầu, thu gom, vận chuyển, lưu giữ, giảm thiểu, tái sử dụng, tái chế, xử lý, tiêuhủy chất thải y tế và kiểm tra, giám sát việc thực hiện
Giảm thiểu chất thải y tế là các hoạt động làm hạn chế tối đa sự phát
thải chất thải y tế, bao gồm: giảm lượng chất thải y tế tại nguồn, sử dụng cácsản phẩm có thể tái chế, tái sử dụng, quản lý tốt, kiểm soát chặt chẽ quá trìnhthực hành và phân loại chất thải chính xác
Tái sử dụng là việc sử dụng một sản phẩm nhiều lần cho đến hết tuổi
thọ sản phẩm hoặc sử dụng sản phẩm theo một chức năng mới, mục đích mới
Tái chế là việc tái sản xuất các vật liệu thải bỏ thành những sản phẩm
mới
Thu gom chất thải tại nơi phát sinh là quá trình phân loại, tập hợp,
đóng gói và lưu giữ tạm thời chất thải tại địa điểm phát sinh chất thải trong cơ
sở y tế
Vận chuyển chất thải là quá trình chuyên chở chất thải từ nơi phát sinh,
tới nơi xử lý ban đầu, lưu giữ, tiêu hủy
Trang 16Xử lý ban đầu là quá trình khử khuẩn hoặc tiệt khuẩn các chất thải có
nguy cơ lây nhiễm cao tại nơi chất thải phát sinh trước khi vận chuyển tới nơilưu giữ hoặc tiêu hủy
Xử lý và tiêu hủy chất thải là quá trình sử dụng các công nghệ nhằm
làm mất khả năng gây nguy hại của chất thải đối với sức khỏe con người vàmôi trường
Chất thải y tế là một trong những loại chất thải nằm trong danh mục A
của chất thải nguy hại chính vì vậy việc quản lý chât thải y tế cần tuân thủ cácquy định có liên quan đến quản lý chất thải nguy hại
1.1.2 Nguồn gốc phát sinh chất thải rắn y tế
Nguồn gốc, thành phần và tốc độ phát sinh của chất thải rắn y tế là cơ
sở quan trọng để thiết kế, lựa chọn công nghệ xử lý và đề xuất các chươngtrình quản lý chất thải một cách hiệu quả Nguồn gốc phát sinh CTRYT chủyếu là bệnh viện, các cơ sở y tế khác như: trung tâm vận chuyển cấp cứu,phòng khám sản phụ khoa, nhà hộ sinh, phòng khám ngoại trú, trung tâm lọcmáu, trung tâm xét nghiệm và nghiên cứu sinh học Hầu hết chất thải rắn y
tế đều có tính chất độc hại và tính đặc thù khác với các loại chất thải rắn khác( Bộ TN&MT, 2011)
Bảng 1.1: Nguồn phát sinh chất thải y tế
Chất thải sinh hoạt Các chất thải ra từ nhà bếp, khu nhà hành chính, các loại
Chất thải nhiễm bẩn Các thành phần thải ra sau khi dùng cho bệnh nhân, các
chất thải ra từ quá trình lau, cọ sàn…
Chất thải đặc biệt Các loại chất thải độc hại hơn các chất thải trên Các chất
phóng xạ, hóa chất dược… từ các khoa khám chữa bệnh,hoạt động thực nghiệm, khoa dược…
(nguồn: Bộ TN&MT, 2011)
Việc xác định được nguồn phát sinh chất thải rắn y tế có vai trò lớntrong quản lý CTR y tế tại bệnh viện vì chất thải nếu được thu gom, phân loại
Trang 17ngay tại nguồn sẽ cho hiệu quả cao hơn, thuân tiện hơn cho khâu xử lý cuốicùng.
1.1.3 Phân loại chất thải rắn y tế
Theo khuyến cáo của WHO (2010):
Các nước đang phát triển: Có thể phân CTRYT thành các loại sau:
Chất thải không độc hại (chất thải sinh hoạt gồm chất thải không bị lây nhiễmcác yếu tố nguy hại), Chất thải sắc nhọn ( truyền nhiễm hay không truyềnnhiễm), chất thải nhiễm khuẩn ( khác với vật sắc nhọn nhiễm khuẩn) , chấtthải hóa học và dược phẩm, chất thải nguy hiểm khác
Các nước phát triển: chất thải rắn y tế được phân một cách chi tiết hơn Ơ Mỹ CTRYT được phân thành 8 loại: chất thải cách ly ( chất thải có
khả năng truyền nhiễm mạnh); những nuôi cấy, dự trữ các tác nhân truyềnnhiễm và các chế phẩm sinh học liên quan; những vật sắc nhọn dùng trongnghiên cứu điều trị…; máu và các sản phẩm của máu; chất thải động vật; vậtsắc nhọn không sử dụng; chất thải gây độc tế bào; chất thải phóng xạ Ở cácnước Châu Âu CTRYT cũng được chia thành 8 loại: chất thải thông thường,chất thải giải phẫu ( mô, bộ phận cơ thể, bào thai), chất thải lây nhiễm, chấtthải sắc nhọn, chất thải phóng xạ, chất thải hóa học, dược phẩm quá hạn và
bình chứa áp suất (Nguồn: Nguyễn Thị Loan,2015).
Ở Việt Nam,theo quyết định 43/2007/QĐ-BYT: Căn cứ vào các đặc
điểm lý học, hóa học, sinh học và tính chất nguy hại, chất thải trong các cơ sở
y tế được phân thành 5 nhóm : Chất thải lây nhiễm, chất thải hóa học nguyhại, chất thải phóng xạ, chất thải thông thường và bình chứa áp suất
Trang 18Sơ đồ 1.1: Phân loại chất thải rắn y tế ở Việt Nam
(nguồn: Bộ y tế, 2015)
1.1.4 Thành phần của chất thải rắn y tế
Hầu hết các CTR y tế là các chất thải độc hại và mang tính đặc thù so vớicác loại CTR khác Các loại chất thải này nếu không được phân loại cẩn thậntrước khi xả chung với các loại chất thải sinh hoạt sẽ gây ra những nguy hạiđáng kể
Thành phần vật lý bao gồm: Bông vải sợi( bông băng , gạc, quần áo,
khăn lau, vải trải…);Giấy( hộp đựng dụng cụ, giấy gói, giấy thải từ nhà vệsinh…); Nhựa( Hộp đựng , bơm tiêm, dây truyền máu, túi đựng hàng…);Thủy tinh( Chai lọ, bơm tiêm thủy tinh, ống tiêm, ống nghiệm…); Kimloại( Dao kéo mổ, kim tiêm…); Thành phần tách ra từ cơ thể( máu mủ từbăng gạc, bộ phận cơ thể bị cắt bỏ…) và tất cả các vật dụng, vật chất khác bị
Chất thải phóng xạ
Chất thải hóa học nguy hại
Bình chứa
áp xuất
CT lây nhiễm không sắc nhọn
CT sắc nhọn
CT giải phẫu
CT có nguy cơ lây nhiễm cao
Chất hóa học nguy hại
Dược phẩm quá hạn
Chất thải chứa kim loại Chất gây độc
tế bào
Trang 19loại bỏ trong khuân khổ quá trình thăm khám và điều trị chuyên khoa, trongquá trình nghiên cứu răng miệng
Thành phần hóa học: Vô cơ ( hóa chất, thuốc thử…); Hữu cơ ( đồ vải
sợi, phần cơ thể, thuốc…)
Thành phần sinh học: máu, bệnh phẩm, bộ phận cơ thể cắt bỏ…
Trong CTR y tế, thành phần đáng quan tâm nhất là dạng CTNH, do nguy cơlây nhiễm mầm bệnh và hóa chất độc cho con người
Biểu đồ 1.1 : Phần trăm thành phần CTR y tế theo tính chất nguy hại
(Nguồn: Bộ TN&MT,2011)
Thành phần chất thải rắn y tế dựa theo tính nguy hại thì chất thải rắnthông thường vẫn chiếm tỷ lệ phần trăm cao nhất (chiếm 78%) Sở dĩ CTRthông thường có tỷ lệ cao vì chúng bắt nguồn từ hoạt động sinh hoạt của bệnhnhân , người nhà bệnh nhân, các y bác sĩ, hộ lý, y tá, từ hoạt động chuyênmôn và một số yếu tố ngoại cảnh khác.Chiếm tỷ lệ cao thứ hai sau CTR thôngthường là CTR lây nhiễm (chiếm 18%), bình áp suất chiếm 3% và ít nhất làchất thải hóa học (chiếm 1%) Dựa vào việc phân loại CTR y tế theo thànhphần nguy hại như: CTR y tế có thể tái chế được, CTR nguy hại, CTR sinhhoạt và các đặc tính của chúng mà ta có thể lựa chọn biện pháp công nghệ xử
lý phù hợp
Chất thải rắn y tế nguy hại chiếm 20-25% khối lượng CTRYT phát sinh
và có tỷ trọng là 0,13 T/m3 Tỷ trọng của CTRNH thay đổi theo thành phần,
Trang 20thay đổi lớn, không đồng nhất, độ ẩm cao chiếm tới 50% khối lượng chất thải,chất thải chứa lượng vải, găng tay nhựa dính máu , mủ khá nhiều và nhiệt trị
khá thấp (2537Kcal/Kg) ( Phạm Ngọc Châu ,2004).
1.2 Hiện trạng phát sinh chất thải rắn y tế trên thế giới và Việt Nam
Khối lượng chất thải rắn của bệnh viện không chỉ thay đổi theo từngkhu vực địa lý mà còn phụ thuộc vào các yếu tố khách quan khác như: Cơ cấubệnh tật; dịch bệnh; thảm họa đột xuất; phương pháp, thói quen của nhân viên
y tế trong khám, điều trị và chăm sóc bệnh nhân; số lượng bệnh nhân vàngười nhà được phép đến thăm; tỷ lệ bệnh nhân điều trị nội, ngoại trú
Mặt khác khối lượng chất thải rắn bệnh viện còn phụ thuộc vào điềukiện kinh tế xã hội của khu vực thể hiện rõ qua mức thu nhập của từng nướccũng như loại và quy mô bệnh viện, phạm vi cứu chữa
1.2.1 Hiện trạng phát sinh chất thải rắn y tế trên thế giới
Khối lượng phát sinh CTR y tế ở mỗi quốc gia, mỗi nền kinh tế có sựkhác nhau rõ rệt
Bảng 1.2: Lượng chất thải y tế phát sinh tại các châu lục
(Đơn vị: Kg/Giường bệnh/ngày)
Châu lục Tổng lượng chất thải CTRYT nguy hại
Đông Á
Các nước có thu nhập cao
Các nước có thu nhập trung bình
2,5 – 41,8 – 2,2
0,3 – 0,80,2 – 0,5
tế phát sinh lớn 2,5 - 4 Kg/Giường bệnh/ngày Trong khi đó các nước có thu
Trang 21nhập thấp hơn điều kiện về kinh tế kỹ thuật và nhu cầu khám chữa bệnh cũngkhông cao dẫn tới lượng CTR y tế thấp 1,8-2,2 Kg/Giường bệnh/ ngày.
Lượng phát sinh CTR y tế theo từng tuyến, loại bệnh viện, cơ sở y tế rất khácnhau:
Bảng 1.3: Lượng chất thải phát sinh tại các nước theo tuyến bệnh viện
(Đơn vị: Kg/Giường bệnh/ngày)
Tuyến bệnh viện Tổng lượng chất thải CTRYT nguy hại
sự khác biệt là do các bệnh viện ở tuyến càng cao thì kỹ thuật, công nghệ vàtrình độ của các y bác sỹ càng cao cộng thêm tâm lý của người đi khám bệnhnên lượng bệnh nhân lớn hơn dẫn tới lượng CTR phát sinh lớn hơn
Trang 22Bảng 1.4: Ước tính lượng chất thải rắn y tế phát sinh
tại một số nước Asian
Lượng chất thải rắn
y tế phát sinh (Kg/Giường/ngày)
Tổng lượng chất thải rắn y tế (Tấn/năm)
1.2.2 Hiện trạng phát sinh chất thải rắn y tế tại việt nam
Tổng kết công tác khám, chữa bệnh năm 2014, trên toàn Quốc có 1.356bệnh viện, với tổng số 260.058 gường bệnh, tăng so với năm 2012 là 38.913gường bệnh Khám và điều trị ngoại trú cho hơn 140 triệu lượt người bệnh,tăng 9,7% so với năm 2013 Trong đó, khám ngoại trú cho hơn 88 triệu lượtngười bệnh chiếm 63,3%, tăng gần 5 triệu lượt so với năm 2013 Số lượtngười bệnh nhập viện điều trị nội trú là 13,49 triệu lượt tăng 4% so với năm
2013 Theo tổng cục thống kê mức độ đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh tínhchung trong cả nước tăng lên rõ rệt trong những năm gần đây Năm 2005 là17,7 giường/1 vạn dân, năm 2008 tỷ lệ này là 25,5 giường / 1 vạn dân, sốgiường bệnh/vạn dân thực kê tại ba tuyến trung ương, tỉnh, huyện (bao gồm
cả bệnh viện tư nhân ) là 28,1 giường ( Nguồn: Sở y tế cao Bằng, 2015).
Với số lượng bệnh viện và giường bệnh khá lớn Tổng lượng CTR y tếphát sinh trên toàn quốc khoảng 100-140 tấn/ngày, trong đó có 16-30
Trang 23tấn/ngày là CTR y tế nguy hại Lượng CTR trung bình là 0,86 kg/giường/ngày, trong đó CTR y tế nguy hại tính trung bình là 0,14 - 0,2kg/giường/ngày CTR y tế phát sinh ngày càng gia tăng ở hầu hết các địaphương, xuất phát từ một số nguyên nhân như: gia tăng số lượng cơ sở y tế vàtăng số giường bệnh; tăng cường sử dụng các sản phẩm dùng một lần trong ytế; gia tăng thực hành y học hiện đại với các phương pháp chuẩn đoán và điềutrị mới; dân số gia tăng, người dân ngày càng có nhu cầu khám chữa bệnh vàtiếp cận nhiều hơn với dịch vụ y tế (Bộ TN&MT, 2011).
Bảng 1.5: Khối lượng chất thải rắn y tế ở một số địa phương năm 2009
Loại đô thị
Tỉnh/Thành phố
Khối lượng chất thải y tế ( tấn/ năm)
lượng vật tư tiêu hao sử dụng tại bệnh viện…được thể hiện trong ( bảng 1.6 ).
Bảng 1.6: Lượng chất thải rắn y tế phát sinh từ các khoa phụ thuộc
vào cấp bệnh viện
( Đơn vị:Kg/giường bệnh/ ngày)
Trang 24BV huyện
Trung bình
BVT W
BV Tỉnh
BV Huyện
Trung bình
Lượng CTR phát sinh tại các khoa có sự khác nhau,thường lượng CTR
y tế tại các khoa ngoại,khoa hồi sức cấp cứu và khoa sản sẽ cao hơn các khoakhác do đặc thù của hoạt động khám chữa bệnh từng khoa, số lượng bệnhnhân và các thủ thuật tiến hành trong mỗi khoa nên lượng phát sinh chất thảirắn sẽ khác nhau
Mặc dù chất thải y tế nguy hại chiếm một lượng không nhiều trongtổng lượng CTR y tế phát sinh nhưng do có chứa các nguy cơ lây nhiễm mầmbệnh và hóa chất độc hại cho con người nên việc quản lý CTNH được coi làvấn đề quan trọng không chỉ ở Việt Nam mà trên toàn thế giới
Bảng 1.7: Phát sinh và dự báo CTRYTNH phát sinh từ
các bệnh viện Việt Nam đến năm 2020
( Đơn vị:Kg/giường bệnh/ngày)
Năm Số bệnh Giường Hệ số phát sinh Tổng lượng
Trang 25nhân bệnh CTRYTNH CTRYTNH
(Nguồn: Cù Huy Đấu, 2005)
Dựa vào các kết quả nghiên cứu trên cho phép chúng ta ước tính sơ bộ
về lượng CTR y tế phát sinh tại một số khu vực trên cả nước Xét theo 7vùng kinh tế trong cả nước vùng Đông Nam Bộ phát sinh lượng thải nguy hạilớn nhất trong cả nước (32%), với tổng lượng thải là 10.502,8 tấn/năm, tiếpđến là vùng Đồng bằng sông Hồng (chiếm 21%) Các tỉnh có mức thải CTNHlớn (> 500 tấn/năm) tính trong cả nước theo thứ tự như sau: Tp Hồ Chí Minh,
Hà Nội, Thanh Hóa, Đồng Nai, Vĩnh Phúc, Đà Nẵng, Khánh Hòa, ThừaThiên Huế, An Giang, Cần Thơ, Nghệ An, Phú Thọ, Hải Phòng, Long An.Lượng CTNH y tế phát sinh khác nhau giữa các loại cơ sở y tế khác nhau.Các nghiên cứu cho thấy các bệnh viện tuyến trung ương và tại các thành phốlớn có tỷ lệ phát sinh CTNH y tế cao nhất Tính trong 36 bệnh viện thuộc Bộ
Y tế, tổng lượng CTNH y tế cần được xử lý trong 1 ngày là 5.122 kg, chiếm16,2% tổng lượng CTR y tế Trong đó, lượng CTNH y tế tính trung bình theogiường bệnh là 0,25 kg/ giường/ngày Chỉ có 4 bệnh viện có chất thải phóng
xạ là bệnh viện Bạch Mai, bệnh viện Đa khoa Trung ương Huế, bệnh viện Đakhoa Trung ương Thái Nguyên và Bệnh viện K Các phương pháp xử lý đặcbiệt đối với CTNH y tế đắt hơn rất nhiều so với các CTR sinh hoạt, do vậyđòi hỏi việc phân loại chất thải phải đạt hiệu quả và chính xác (BộTN&MT,2011)
Trang 261.3 Tình hình quản lý và xu hướng xử lý chất thải rắn y tế trên thế giới
và ở Việt nam
1.3.1.Tình hình quản lý chất thải rắn trên thế giới
Nghiên cứu về chất thải rắn y tế đã được tiến hành ở nhiều nước trênthế giới, đặc biệt là ở các nước phát triển như: Mỹ, Anh,Nhật, Canada…Cácnghiên cứu đã quan tâm đến nhiều lĩnh vực như tình hình phát sinh; phân loạiCTRYT; quản lý CTRYT (các biện pháp giảm thiểu chất thải, tái sử dụngchất thải, xử lý chất thải, đánh giá hiệu quả các biện pháp sử lý chất thải…);tác hại của CTRYT đối với môi trường, sức khỏe; biện pháp làm giảm thiểutác động của CTRYT đối với sức khỏe cộng đồng; những vấn đề liên quancủa y tế cộng đồng với CTRYT; tổn thương , nhiễm khuẩn ở hộ lý, y tá vànhững người thu gom rác…
1.3.1.1 Các văn bản pháp lý liên quan quản lý chất thải rắn y tế trên thế giới
Trên thế giới quản lý rác thải y tế được nhiều quốc gia quan tâm và tiếnhành triệt để từ rất lâu Về quản lý có một loạt các chính sách, quy định đãđược ban hành nhằm kiểm soát chặt chẽ loại chất thất thải này như:
Công ước Basel: Được ký kết bởi hơn 100 quốc gia và quy định chỉ
vận chuyển hợp pháp chất thải nguy hại từ các quốc gia không có điều kiện vàcông nghệ thích hợp sang các quốc gia có điều kiện vật chất kỹ thuật để xử lý
an toàn một số chất thải đặc biệt
Nguyên tắc polluter pay: Mọi cơ quan làm phát sinh chất thải phải
chịu trách nhiệm về pháp luật và tài chính trong việc đảm bảo an toàn và giữ
cho môi trường trong sạch
Nguyên tắc prosimitry: Quy định việc xử lý chất thải nguy hại cần
được tiến hành ngay tại nơi phát sinh càng sớm càng tốt Tránh tình trạng
chất thải bị lưu giữ trong thời gian dài gây ô nhiễm môi trường (Nguồn: Trần
Mỹ Vy, 2011).
1.3.1.2 Hoạt động quản lý chất thải rắn y tế trên thế giới
Hiện nay nền y học ở các nước phát triển trên thế giới đã đạt đến trình
độ cao và có nhiều thành tựu lớn trong công tác phòng và khám chữa bệnh
Trang 27cũng như trong công tác quản lý, thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải y tế
Họ đã áp dụng thành công nhiều công nghệ giải pháp khoa học kỹ thuật tiêntiến nhất để quản lý thu gom và xử lý chất thải y tế Tại mỗi nước tùy thuộcvào điều kiện địa lý,chất lượng phân loại, thu gom vận chuyển mà lựa chọncông nghệ xử lý chất thải rắn y tế khác nhau
Thu gom - phân loại: Thu gom CTYT tại nơi phát sinh là quá trình tập
hợp, đóng gói và lưu giữ tạm thời chất thải phát sinh trong cơ sở y tế Phânloại là phân các CTYT vào các nhóm khác nhau tùy theo đặc tính lý hóa học,sinh học của chúng Việc phân loại CTRYT ngay tại nguồn có ý nghĩa quantrọng giúp cho việc xử lý chất thải được thuận lợi ,nó còn giúp cơ sở y tế cóthể tái sử dụng, tái chế lại những dụng cụ y tế thích hợp nhờ đó hạn chế đượclượng chất thải đưa đi xử lý
Vận chuyển: Vận chuyển chất thải là quá trình chuyên chở chất thải từ
nơi phát sinh đến nơi xử lý ban đầu, lưu giữ và tiêu hủy Vận chuyển chất thảigồm 2 quá trình riêng biệt:
- Vận chuyển trong các cơ sở y tế thường được thực hiện bởi các hộ lý,
y tá, nhân viên vệ sinh của bệnh viện.Chất thải vận chuyển từ nguồn phát sinhđến nơi lưu trữ ít nhất 1 lần/ngày và khi cần thiết Tùy thuộc vào điều kiệnthực tế của mỗi cơ sở mà việc vận chuyển CTYT có thể bằng xe chuyên dụnghay xách tay
- Vận chuyển chất thải bên ngoài cơ sở y tế, các cơ sở y tế có thể kýhợp đồng với cơ sở có tư cách pháp nhân trong việc vận chuyển tiêu hủy chấtthải
Hiện nay tại các nước tiên tiến có 2 mô hình thu gom-vận chuyển CTRYT là:
- Hệ thống hút chân không tự động: Rác sau khi được phân loại nhờ lựchút chân không tự động( được lắp ở trạm hay trên xe chuyên dụng )sẽ chuyểnđộng theo đường ống ngầm đưới mặt đất đến xe chở rác
- Hệ thống thu gom, vận chuyển CTRYT bằng hệ thống xe chuyêndụng với các dụng cụ, phương tiện thu gom theo đúng tiêu chuẩn quy định
Trang 28Phương pháp này phổ biến ở nhiều nước do kinh phí đầu tư không lớn, khôngyêu cầu công nhân có trình độ cao.
Xử lý: Xử lý và tiêu hủy chất thải là quá trình sử dụng công nghệ nhằm
cô lập làm mất khả năng nguy hại đối với môi trường và sức khỏe con người
Có nhiều phương pháp xử lý CTRYT hiện đang được áp dụng
Khử khuẩn bằng các phản ứng hóa học : là phương pháp bổ sung hóa
chất để diệt hoặc làm mất hoạt tính của tác nhân lây nhiễm
Khử khuẩn bằng nhiệt khô: Đây là phương pháp được dùng để tiệt
trùng các vật tư, thiết bị, dụng cụ y tế, xử lý các chất thải lây nhiễm
Khử khuẩn bằng nhiệt ẩm: là phương pháp yêu cầu làm ẩm rác trước
khi khử khuẩn Hiện nay hệ thống xử lý bằng hơi nước cho phép khử khuẩnmạnh và hiệu quả Có 2 thiết bị khử khuẩn thông dụng là nồi hấp và nồichưng
Khử khuẩn bằng lò vi sóng: Phương pháp này đòi hỏi quá trình khử
khuẩn rất chặt chẽ Nếu chất thải còn khô thì không thể khử khuẩn bằng lò visóng được
Một số chất thải rắn y tế không áp dụng khử khuẩn như muối bạc, một
số hóa chất, các chất phóng xạ
- Công nghệ thiêu đốt
Thiêu đốt là quá trình xử lý CTRYT ở nhiệt độ cao kết quả là làm giảmđược phần lớn khối lượng và thể tích chất thải rắn Lò đốt thiết kế chuyêndụng cho xử lý CTRYT được vận hành trong khoảng nhiệt độ từ 1000-1200
độ C Phương pháp này xét về mặt kỹ thuật không phức tạp, không đòi hỏinhân viên vận hành có kỹ thuật cao Thiết bị xử lý khói bụi và khí thải là bộphận quan trọng và đắt tiền nhất của lò đốt Khí thải từ lò đốt thường rất độchại vì có chứa furan,dioxin, kim loại nặng ( chì, thủy ngân, cadium…) Đâychính là nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường và các bệnh về đường hô hấp
Bảng 1.8: So sánh các công nghệ thiêu đốt chất thải y tế nguy hại
Trang 29nghệ
thiêu đốt
Nhiệt độ vận hành (Độ C)
Công suất (tấn/ngày)
Thiết bị làm sạch khí thải
Lò quay 1200-1500 0,5-3 Cần thiết
Thiết bị vận hành, bảo trì đắt tiền, sản phẩm phụ ăn mòn, tiêu thụ nhiều năng lượng, thiết bị lót trong thường xuyên phải thay thế sửa chữa, nhân viên vận hành phải có trình độ cao
(Nguồn: công ty Bureap, 2003)
Dựa trên những điều kiện thực tế mà mỗi cơ sở y tế lựa chọn mô hình
xử lý và công nghệ thiêu đốt chất thải cho phù hợp
1.3.2 Tình hình quản lý chất thải rắn tại Việt Nam
1.3.2.1 Các văn bản pháp lý liên quan quản lý chất thải rắn y tế tại Việt nam
Ở nước ta chất thải y tế được quản lý bằng hệ thống văn bản pháp luật
do Quốc hội, chính phủ ban hành và các văn bản quản lý, hướng dẫn của Bộ
Y tế, Bộ Tài nguyên môi trường như:
- Luật bảo vệ môi trường năm 2014 được Quốc hội thông qua ngày
23/6/2014 về bảo vệ môi trường đối với bệnh viện và các cơ sở y tế
- Quyết định số 43/2007/QĐ-BYT của Bộ trưởng Bộ y tế ngày30/11/2007về Quy chế quản lý chất thải y tế
Trang 30- Quyết định số 170/QĐ-TTg ngày 8/2/2012 của thủ tướng chính phủ:phê duyệt quy hoạch tổng thể hệ thồng xử lý chất thải rắn y tế nguy hại đếnnăm 2025.
- Quyết định số 2038/QĐ-TTg ngày 15/11/2011 của thủ tướng chínhphủ:Phê duyệt đề án tổng thể xử lý chất thải y tế giai đoạn 2011- 2015 và địnhhướng tới năm 2020
- Quyết định 3671/QĐ-BYT của Bộ trưởng Bộ y tế ngày 27/9/2012 vềviệc phê duyệt các hướng dẫn kiểm soát nhiễm khuẩn
- Thông tư liên tịch số 48/2014/TTLT-BYT-BTNMT về việc hướngdẫn phối hợp thực hiện quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường đối với cơ sở
Có thể thấy trong hệ thống pháp luật của nước ta hiện nay vấn đề bảo
vệ môi trường và quản lý CTRYT đã phần nào đạt được những hiệu quả nhấtđịnh Tuy nhiên do sự phát triển của nền kinh tế xã hội cùng với đó là nhữnghạn chế trong lĩnh vực lập pháp, kinh nghiệm quản lý…nên chúng ta chưa đạtđược nhiều kết quả trong quản lý CTRYT trên phạm vi cả nước Vì thế việclàm rõ và hoàn thiện hệ thống pháp luật trong quản lý CTRYT luôn được đặt
ra như một nhu cầu cấp bách hiện nay
Trang 311.3.2.2 Hoạt động quản lý chất thải rắn y tế tại việt nam
Theo đánh giá của world bank, thời gian qua công tác quản lý chất thảirắn y tế ở Việt Nam đã đạt được những tiến bộ đáng kể , đặc biệt từ sau khiLuật cùng các văn bản dưới luật về bảo vệ môi trường ra đời Đây là cơ sởpháp lý đồng thời là động lực thúc đẩy công tác bảo vệ tài nguyên môi trường
ở Việt Nam nhất là chất thải nguy hại trong đó có chất thải y tế nguy hại
Tại các thành phố lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵngchính quyền thành phố đã tích cực khuyến khích cho công tác đầu tư và xâydựng bãi chôn lấp hợp vệ sinh, các cơ sở xử lý và các đội xe chuyên dụngtrong công tác thu gom, vận chuyển chất thải y tế.Tại các bệnh viện bên cạnhviệc đầu tư nâng cấp cơ sở khám chữa bệnh, mua sắm trang thiết bị phục vụcông tác khám chữa bệnh thì ban giám đốc bệnh viện rất quan tâm tới côngtác quản lý chất thải y tế Tuy nhiên vẫn còn có những hạn chế:
Theo kết quả khảo sát 834 bệnh viện của Viện Y học Lao động và Vệsinh Môi trường: Có 95,6% bệnh viện đã thực hiện phân loại chất thải trong
đó 91,1% đã sử dụng dụng cụ tách riêng vật sắc nhọn, vẫn còn có hiện tượngphân loại nhầm chất thải, một số loại chất thải thông thường được đưa vàochất thải y tế nguy hại gây tốn kém trong việc xử lý Có 63,6% sử dụng túinhựa làm bằng nhựa PE, PP Chỉ có 29,3% sử dụng túi có thành dày theođúng quy chế Chất thải y tế đã được chứa trong các thùng đựng chất thải.Tuy nhiên, các bệnh viện có các mức độ đáp ứng yêu cầu khác nhau, chỉ cómột số ít bệnh viện có thùng đựng chất thải theo đúng quy chế (bệnh việntrung ương và bệnh viện tỉnh) Hầu hết ở các bệnh viện (90,9%) CTR đượcthu gom hàng ngày Chỉ có 53% số bệnh viện chất thải được vận chuyển trong
xe có nắp đậy Có 53,4% bệnh viện có nơi lưu giữ chất thải có mái che, trong
đó có 45,3% đạt yêu cầu theo quy chế quản lý chất thải y tế (Nguồn: Nguyễn Thi Thu Thảo,2015).
Bảng 1.9: Công tác thu gom ,phân loại chất thải y tế tại các bệnh viện
trên địa bàn thành phố Hà Nội năm 2010
Trang 32Túi đựng chất thải đúng quy cách về bề dày và dung tích 66,67Túi đựng chất thải đúng quy cách về màu sắc 30,67Túi đựng chất thải đúng quy cách về buộc đóng gói 81,33
Trong xử lý chất thải rắn lây nhiễm Việt Nam đã chọn mô hình thiêu đốtvới công nghệ thiêu đốt đa vùng để xử lý chất thải rắn y tế nguy hại Tuy nhiên
do công tác thu gom, phân loại tại nguồn chúng ta làm chưa tốt làm cho mộtlượng lớn chất thải y tế vẫn còn tồn đọng trong cơ sở y tế hay lẫn trong rác thảisinh hoạt, gây cản trở trong công tác thiêu đốt và không phát huy được hết khảnăng tiêu hủy của lò Hiện có 612 bệnh viện(73,3%) đã có biện pháp xử lý chấtthải nguy hại bằng lò đốt tại chỗ của bệnh viện hoặc lò đốt tập trung cho toànthành phố (hà Nội , Tp Hồ Chí Minh) Tổng số lò đốt hiện có là 130 chiếc vớicông suất khác nhau khoảng 300-450 kg / ngày chủ yếu là lò đốt công suất nhỏ
và trung bình Các lò đốt hiện đại đạt tiêu chuẩn môi trường hiện mới chỉ xử lýchất thải của 40% bệnh viên 30% bệnh viện sử dụng lò đốt thủ công ( thiêu đốtchất thải nguy hại ngoài trời) Tuy nhiên một số lò đốt không được vận hànhhoặc vận hành không hết công suất Nhiều lò đốt không đáp ứng được yêu cầumôi trường đặc biệt gây phát thải dioxin/furan Hơn thế nữa còn gần 27% bệnh
Trang 33viện tự chôn lấp chất thải y tế nguy hại trong khuân viên bệnh viện hoặcchuyển chất thải y tế nguy hại đi chôn lấp ở bãi chôn lấp chung của địa phương.Chính vì công tác xử lý chất thải y tế rất đa dạng, phong phú với nhiều loạihình khác nhau nên khó có thể kiểm soát (Dương Nguyễn Đức Duy,2014).
Bảng 1.10: Công tác xử lý chất thải rắn y tế ở một số vùng
Khu vực
Cơ sở khám chữa bệnh
Cơ sở có
lò đốt CTRYT
Lò đốt còn hoạt động
Tỷ lệ các tỉnh
có khu xử lý CTRYT tập trung
Tỷ lệ cơ sở y
tế xử lý CTR tại khu tập trung (%)
Trang 341.4 Tác động của chất thải rắn y tế tới môi trường và sức khỏe cộng đồng
1.4.1 Ảnh hưởng của chất thải rắn y tế tới môi trường
1.4.1.1 Ảnh hưởng tới môi trường đất
Khi chất thải y tế được chôn lấp không đúng cách thì các vi sinh vậtgây bệnh, hóa chất độc hại có thể ngấm vào đất gây nhiễm độc đất làm choviệc tái sử dụng bãi chôn lấp gặp khó khăn…
1.4.1.2 Ảnh hưởng tới môi trường không khí
Chất thải bệnh viện từ khi phát sinh đến khâu xử lý cuối cùng đều gây
ra những tác động xấu đến môi trường không khí Khi phân loại, thu gom, vậnchuyển chúng phát tán bụi rác, bào tử vi sinh vật gây bệnh, hơi dung môi, hóachất vào không khí Ở khâu xử lý đặc biệt với chất thải y tế nguy hại đangđược áp dụng phổ biến ở nước ta là sử dụng công nghệ lò đốt Tuy nhiên côngnghệ này có tác động nhất định đến môi trường không khí Các chất khí tạo rasau quá trình đốt như: HCl,SO2, dioxin,furan… Việc đốt các chất thải y tếđựng trong các túi nilon cùng các loại dược phẩm có thể tạo ra các khí axit,một số kim loại nặng và hợp chất chứa kim loại như thủy ngân, chì cũng cóthể bay hơi theo tro bụi phát tàn vào môi trường Các khí này nếu không đượcthu hồi và xử lý sẽ gây ảnh hưởng xấu tới sức khỏe của cộng đồng dân cưxung quanh (Bộ TN&MT, 2013)
1.4.1.3 Ảnh hưởng tới môi trường nước
Chất thải rắn bệnh viện chứa nhiều hóa chất độc hại, phóng xạ, tácnhân gây bệnh các khả lây nhiễm cao như Samonella, coliform, tụ cầu, liêncầu… Nếu không được xử lý trước khi thải bỏ vào hệ thống thoát nước chungcủa thành phố thì có thể gây ra tình trạng ô nhiễm nghiêm trọng nguồn nước.Khi chôn lấp chất thải y tế không đúng kỹ thuật và không hợp vệ sinh Đặcbiệt là chất thải y tế được chôn lấp chung với chất thải sinh hoạt có thể gây ônhiễm nguồn nước ngầm
1.4.2 Ảnh hưởng của chất thải rắn y tế tới sức khỏe cộng đồng
1.4.2.1 Đối với sức khỏe
Việc tiếp xúc với các chất thải y tế có thể gây nên bệnh tật hoặc tổnthương Khả năng gây rủi ro từ chất thải y tế có thể do một hoặc nhiều đặc
Trang 35trưng cơ bản: Chất thải y tế chứa đựng các yếu tố truyền nhiễm là tác nhânnguy hại có trong rác thải y tế, các loại hóa chất, dược phẩm có thành phầnđộc, tế bào nguy hiểm, đồng vị phóng xạ,vật sắc nhọn có thể gây tổn thương.
Dưới đây là những nhóm chính có nguy cơ cao chịu ảnh hưởng từ chấtthải y tế:
- Cán bộ nhân viên y tế: Bác sỹ, hộ lý, y tá, nhân viên hành chính, kỹthuật viên bệnh viện, sinh viên thực tập, công nhân vận hành các công trình
xử lý chất thải
- Bệnh nhân điều trị ngoại trú và nội trú tại bệnh viện
- Khách và người nhà thăm nuôi bệnh nhân
- Nhân viên làm việc trong các dịch vụ hỗ trợ phục vụ cho các cơ sởkhám chữa bệnh và điều trị như; giặt là, lao công, vận chuyển bệnh nhân
- Những người làm việc trong các cơ sở xử lý chất thải
Trong các cơ sở y tế tính kháng đa thuốc kháng sinh của vi khuẩn đốivới hàng loạt họ kháng sinh và các hóa chất sát khuẩn cũng có thể tạo ranhững mối nguy hiểm do sự quản lý yếu kém chất thải y tế Điều này đã đượcchứng minh như các plasmid từ động vật thí nghiệmcó trong chất thải y tếđược truyền cho vi khuẩn gốc qua hệ thống xử lý chất thải Hơn nữa vi khuẩnE.coli kháng thuốc đã cho thấy nó vẫn còn sống trong môi trường bùn hoạttính mặc dù ở đó không phải môi trường thuận lợi cho sinh vật này phát triểnCác vật thể trong thành phần chất thải y tế chứa một lượng lớn các tác nhân visinh vật gây bệnh truyền nhiễm như tụ cầu, HIV, viêm gan B… Các tác nhânnày có thể thâm nhập vào cơ thể người thông qua các cách thức sau:
+ Qua da (Vết trầy xước, vết đâm xuyên hoặc vết cắt trên da)
+ Qua niêm mạc, màng nhầy
+ Qua đường tiêu hóa do nuốt, ăn phải
+ Qua hô hấp do xông, hít phải
• Nguy cơ từ chất thải truyền nhiễm và các vật sắc nhọn:
Các vật sắc nhọn được coi là rác thải rất nguy hiểm bởi nó gây nên những tổn thương kép Nó không chỉ là nguyên nhân gây ra các vết đâm thủng mà còn gây nhiễm trùng vết thương nếu nó bị nhiễm các tác nhân gây bệnh Các loại kim tiêm đã tiêm qua da là một phần quan trọng của loại hình chất thải sắc
Trang 36Bảng 1.11: Nguy cơ mắc các bệnh khi bị bơm kim tiêm bẩn xuyên qua da
do tái sử dụng bơm tiêm không tiệt trùng
Theo báo cáo của tổ chức bảo vệ môi trường Mỹ có khoảng 162-321trường hợp nhiễm virut viêm gan B có tiếp xúc với CTR y tế trong tổng số
30000 trường hợp nhiễm virut viêm gan B mỗi năm Trong số những nhânviên tiếp xúc với chất thải bệnh viện, nhân viên vệ sinh có tỷ lệ thương tổnnghề nghiệp cao nhất (180/1000 người mỗi năm), cao hơn 2 lần so với tỷ lệnày của toàn bộ lực lượng lao động Mỹ cộng lại Ở Nhật Bản các nghiêncứu về CTYT đã đưa ra số liệu: Việc khảo sát các nhà y tế cộng đồng năm
1986 cho thấy 67,3% những người thu gom rác trong các bệnh viện bị tổnthương do các vật sắc nhọn, 44,4% những người thu gom rác bên ngoài cácbệnh viện bị tổn thương khi thu gom chất thải bệnh viện.Shiro Shitaro cũng
đã nêu trong tài liệu khoa học của Nhật bản, có tổng số hơn 500 trường hợp bịlây nhiễm bệnh có liên quan tới chất thải bệnh viện, hơn 400 trường hợp bịcác tác hại sinh học từ thuốc độc tố tế bào (Nguyễn Việt Dũng, 2012)
• Ảnh hưởng của chất thải hóa học nguy hại
Mặc dù chiếm tỷ lệ nhỏ nhưng chất thải hóa học và dược phẩm có thểgây ra nhiễm độc cấp tính, mãn tính, chấn thương và bỏng…Hóa chất độc hại
và dược phẩm ở dạng dung dịch, sương mù, hơi…có thể xâm nhập vào cơ thểqua da, hô hấp và tiêu hóa… gây bỏng, tổn thương da, mắt, màng nhầy,
Trang 37đường hô hấp và một số cơ quan trong cơ thể như gan, thận… Tháng 6 năm
2000 tại Vladivostok (Nga) 6 trẻ em được chẩn đoán bị bệnh đậu mùa dạngnhẹ sau khi chơi nghịch với các ống thủy tinh có chứa Vacxin đậu mùa hếthạn trong đống phế thải (Nguyễn Thị Tiến, 2014)
Các chất khử trùng, thuốc tẩy như clo, các hợp chất natri hypoclorua cótính ăn mòn cao, thủy ngân khi xâm nhập vào cơ thể có thể làm biến đổi cấutrúc, ức chế hoạt tính sinh học của tế bào Nhiễm độc thủy ngân có thể gâythương tổn thần kinh với triệu chứng run rẩy, khó diễn đạt, giảm sút trí nhớ…nặng hơn nữa có thể gây liệt hoặc tử vong
• Nguy cơ từ các chất thải gây độc tế bào
Đối với nhân viên y tế do nhu cầu công việc phải tiếp xúc và xử lý loạichất gây độc tế bào mà mức độ ảnh hưởng sẽ phụ thuộc vào các yếu tố nhưtính chất, liều lượng và khoảng thời gian tiếp xúc Độc tính đối với tế bào củanhiều loại thuốc chống ung thư là tác động đến các chu kỳ đặc biệt của tế bào,nhằm vào các quá trình tổng hợp AND hoặc quá trình phân bào nguyên phân.Nhiều loại thuốc có độc tính cao sẽ hủy hoại cục bộ sau khi tiếp xúc trực tiếpvới da hoặc mắt Chúng cũng có thể gây ra chóng mặt buồn nôn, đau đầu hoặcviêm da…
• Nguy cơ từ chất phóng xạ
Chất thải phóng xạ có thể gây ra hội chứng đau đầu, hoa mắt, chóng mặt
và nôn nhiều một cách bất thường Chất thải phóng xạ, cũng như chất thảidược phẩm, là một loại độc hại tới tế bào, gen Tiếp xúc với các nguồn phóng
xạ có hoạt tính cao như nguồn phóng xạ của các thiết bị chuẩn đoán như máyXquang, máy chụp cắt lớp… có thể gây ra các tổn thương chẳng hạn phá hủycác mô, bỏng cấp tính
1.4.2.2 Tính nhạy cảm xã hội
Bên cạnh việc lo ngại đối với những nguy cơ gây bệnh của CTRYT đếnsức khỏe, cộng đồng thường cũng rất nhạy cảm với những ấn tượng, tâm lýghê sợ khi nhìn thấy loại chất thải thuộc về giải phẫu, các bộ phận cơ thể bị
Trang 38cắt bỏ trong phẫu thuật như chi, dạ dày, các loại khối u, rau thai, bào thai,máu…
Như vậy để tránh những nguy hại của CTYT đối với sức khỏe conngười, môi trường và để bảo vệ cho những người thường xuyên tiếp xúc vớichất thải y tế thì ngành y tế phải quan tâm, đầu tư hơn nữa cho công tác thugom, phân loại và xử lý chất thải y tế
Trang 39Chương 2: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Chất thải rắn y tế và hệ thống quản lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện đaKhoa tỉnh Thái Bình
2.2 Phạm vi nghiên cứu
Thời gian: 01/2016 đến 05/2016
Phạm vi: Bệnh viện Đa Khoa tỉnh Thái Bình
2.3 Nội dung nghiên cứu
• Tìm hiểu khái quát chung về điều kiện cơ sở vật chất và hoạt độngkhám chữa bệnh của bệnh viện Đa Khoa tỉnh Thái Bình
• Đánh giá hiện trạng phát sinh chất thải rắn y tế của bệnh viện Đa Khoatỉnh Thái Bình
• Đánh giá thực trạng công tác quản lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện ĐaKhoa tỉnh Thái Bình
• Đề xuất một số biện pháp quản lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện ĐaKhoa tỉnh Thái Bình
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp
Thu thập các tài liệu có liên quan:
- Báo cáo hiện trạng môi trường các năm nhằm tìm hiểu hiện trạng phátsinh chất thải rắn y tế trong nước và trên thế giới
- Tài liệu, báo cáo của bệnh viện nhằm tìm hiểu điều kiện, cơ sở vậtchất, nhân lực, hoạt động khám chữa bệnh cũng như hiện trạng phát sinh, hệthống quản lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện
- Sách, báo, giáo trình tham khảo về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hộitỉnh Thái Bình; khái niêm, phân loại, nguồn gốc, ảnh hưởng của chất thải rắn
y tế
2.4.2 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp
- Phương pháp khảo sát thực địa: Khảo sát khu vực bên trong và ngoàibệnh viện, thực hiện quan sát thực trạng phát sinh, phân loại, thu gom, vận
Trang 40- Phương pháp phỏng vấn:
•Phỏng vấn cán bộ chủ chốt: số lượng 1 phiếu thực hiện với trưởng khoakiểm soát nhiễm khuẩn nhằm thu thập thông tin chung về bệnh viện: Sơ đồ hệthống quản lý chất thải rắn y tế của bệnh viện; đơn vị phân loại, thu gom, vậnchuyển, xử lý
•Phỏng vấn cán bộ, nhân viên y tế: số lượng 89 phiếu nhằm thu thậpthông tin về hiện trạng phát sinh, hoạt động thu gom, phân loại, kiến thức vềquản lý chất thải rắn y tế, những tồn tại trong hoạt động quản lý CTRYT
•Phỏng vấn bệnh nhân và người nhà bệnh nhân: số lượng 30 phiếu nhằmthu thập thông tin về mức độ hiểu biết về tác hại của chất thải rắn y tế đến sứckhỏe và môi trường xung quanh
về quản lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện