ĐẶT VẤN ĐỀ Tính cấp thiết của đề tàiCác làng nghề truyền thống ở Việt Nam đã và đang có nhiều đóng gópcho GDP của đất nước nói chung và đối với nền kinh tế nông thôn nói riêng.Nhiề
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
KHOA MÔI TRƯỜNG
- -KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
TÊN ĐỀ TÀI: “Đánh giá hiện trạng môi trường nước mặt tại làng nghề đúc đồng thị trấn Lâm, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định”
Giáo viên hướng dẫn : PGS.TS Hoàng Thái ĐạiĐịa điểm thực tập : Làng nghề đúc đồng thị trấn Lâm, huyện ÝYên, tỉnh Nam Định
Hà Nội - 2015
Trang 2NHẬN XÉT CỦA CƠ SỞ THỰC TẬP
Tên đơn vị: Ủy Ban Nhân Dân (UBND) thị trấn Lâm-huyện Ý Yên-tỉnh NamĐịnh
Địa chỉ đơn vị: thị trấn Lâm-huyện Ý Yên-tỉnh Nam Định
Xác nhận sinh viên: Vũ Thị Ngọc Lớp: MTA-K57
Trong thời gian từ 07/02/2016 – 10/5/2016 đã thực tập tại đơn vị với tên
đề tài nghiên cứu là: “Đánh giá hiện trạng môi trường nước mặt tại làng nghề đúc đồng thị trấn Lâm, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định”
Nam Định, ngày … tháng … năm 20…
Xác nhận của cơ sở
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện khóa luận tốt nghiệp, ngoài sự cố gắng của bảnthân tôi đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ, nhân dịp này tôi xin bày tỏ lòng biết ơnvới những sự giúp đỡ đó
Em xin ơn đến thầy giáo-PGS/TS Hoàng Thái Đại đã giành thời gian đểchỉ bảo tận tình, hướng dẫn em những hướng đi cụ thể, giúp cho em hoànthành bài báo cáo khóa luận tốt nghiệp đúng thời hạn và hiệu quả
Em cũng xin cảm ơn tới toàn thể cán bộ công nhân viên các Công ty,xưởng sản xuất, hộ gia đình trên địa bàn thị trấn Lâm-huyện Ý Yên – tỉnhNam Định đã tận tình giúp đỡ cho em trong quá trình làm khóa luận và hoànthành bài báo cáo
Trong bài khóa luận này, kiến thức và kinh nghiệm của em còn nhiều hạnchế cùng với quỹ thời gian hạn hẹp nên không tránh khỏi những sai sót vàkhiếm khuyết Kính mong, nhận được sự góp ý của quý thầy cô để bài khóaluận của em được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày … tháng … năm 20…
Người thực hiện
Vũ Thị Ngọc
Trang 4MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vii
DANH MỤC BẢNG viii
Tính cấp thiết của đề tài 1
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 2
CHƯƠNG 13
1.1 Cơ sở khoa học về làng nghề và bảo vệ môi trường làng nghề 31.1.1 Một số khái niệm về môi trường, nguồn nước, ô nhiễm nguồn nước và làng nghề 3
1.1.2 Các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến bảo vệ môi trường, chất lượng nước mặt 5
1.2 Vài nét về làng nghề và môi trường làng nghề Việt Nam 7
1.2.1 Lịch sử phát triển và vai trò của làng nghề Việt Nam 71.2.2 Phân bố làng nghề 13
1.2.3 Phân loại làng nghề 15
1.2.4 Hiện trạng kinh tế - xã hội làng nghề ở Việt Nam 17
1.2.5 Hiện trạng môi trường làng nghề Việt Nam 18
1.3 Tác động của các chất thải ô nhiễm đến môi trường làng nghề 201.3.1 Tác động đến môi trường không khí 20
1.3.2 Tác động đến môi trường nước 22
1.3.3 Tác động đến môi trường đất 23
Trang 51.3.4 Tác động tới sức khỏe của con người 24
1.4 Vài nét về làng nghề và môi trường làng nghề ở tỉnh Nam Định 241.4.1 Tổng quan về làng nghề tỉnh Nam Định 24
1.4.2 Hiện trạng môi trường một số làng nghề tại tỉnh Nam Định26
CHƯƠNG 229
ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP 29
2.1 Đối tượng nghiên cứu 29
2.3 Nội dung nghiên cứu 29
2.3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của khu vực nghiên cứu
2.3.5 Đề xuất một số biện pháp bảo vệ môi trường nước mặt tại làng nghề thị trấn Lâm 30
2.4 Phương pháp nghiên cứu 30
2.4.1 Phương pháp thu thập thông tin thứ cấp 30
Trang 62.4.2 Phương pháp thu thập thông tin sơ cấp 30
2.4.3 Phương pháp tổng hợp và xử lí số liệu 31
CHƯƠNG 332
KẾT QUẢ NGIÊN CỨU 32
3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của khu vực nghiên cứu 32
3.1.1 Điều kiện tự nhiên 32
3.1.2 Kinh tế xã hội 32
3.1.3 Các yếu tố tự nhiên kinh tế ảnh hưởng tới môi trường nước mặt
36
3.2 Lịch sử phát triển làng nghề 36
3.3 Công nghệ và quy trình sản xuất tại làng nghề thị trấn Lâm 40
3.3.1 Công nghệ 40
3.3.2 Quy trình sản xuất 45
3.4 Đánh giá chất lượng nước mặt tại làng nghề thị trấn Lâm 53
3.5 Ảnh hưởng của sản xuất làng nghề đến sức khỏe của người dân 61
3.6 Đề xuất một số giải pháp cải thiện môi trường nước mặt, bảo vệ môi trường làng nghề thị trấn Lâm 63
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 66
Kết luận 66
Kiến nghị 68
PHỤ LỤC 72
Trang 7DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BOD5 : nhu cầu ô xi sinh hóa
BVMT : Bảo vệ môi trường
CNH-HĐH : Công nghiệp hóa hiện đại hóa
CN-TTCN : Công nghiệp tiểu thủ công nghiệp
COD : Nhu cầu ô xi hóa học
NM : Nước mặt
ONMT : Ô nhiễm môi trường
QCVN : Quy chuẩn Việt Nam
TCMT : Tiêu chuẩn môi trường
TCVN : Tiêu chuẩn Việt Nam
TSS : tổng chất rắn lơ lửng
TTCN :Tiểu thủ công nghiệp
UBND : Uỷ ban nhân dân
UNESCO : Tổ chức giáo dục khoa học và văn hóa liên hiệp quốc
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Phân bố các loại hình làng nghề ở các vùng nông thôn Việt Nam
14
Bảng 1.2 Kết quả phân tích mẫu không khí khu vực làng nghề tỉnh Nam Định 28
Bảng 2.1 Thông số và phương pháp phân tích 31
Bảng 3.1 Đặc điểm hợp kim và màu sắc của đồng 41
Bảng 3.2 Tỉ lệ thiếc và độ cứng của đồng 42
Bảng 3.3 Một số sản phẩm đúc đồng tiêu biểu 43
Bảng 3.4 Lượng kim loại thải, nước thải dùng cho hoạt động sản xuất của một số hộ 52
Bảng 3.5 Lượng thải của một số hộ sản xuất 53
Bảng 3.6 Kết quả phân tích nước sông nội đồng chảy qua khu vực làng nghề Nam Định 55
Bảng 3.7 Hàm lượng chất hữu cơ trong nước mặt của làng nghề đúc đồng (kết quả phân tích) 56
Bảng 3.8 Hàm lượng kim loại nặng trong nước mặt của làng nghề đúc đồng thị trấn Lâm (kết quả phân tích) 60
Bảng 3.9 Kết quả điều tra phỏng vấn tình hình sức khỏe của người dân làng nghề đúc đồng thị trấn Lâm 62
Trang 9DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1 Phân loại làng nghề Việt Nam theo ngành nghề sản xuất 16
Hình 3.1 Tượng đài Thánh Gióng 44Hình 3.2 Đại Tượng Phật Thích Ca Mâu Ni 44Hình 3.6 Biểu đồ % lượng nước thải tại các điểm lấy mẫu của sinh hoạt và sản xuất 55Hình 3.7 : Biểu đồ so sánh pH phân tích được của nước mặt với QCVN 08 57Hình 3.8 : Biểu đồ so sánh hàm lượng BOD5 phân tích được của nước mặt với QCVN 08 58Hình 3.9 : Biểu đồ so sánh hàm lượng COD phân tích được của nước mặt với QCVN 08 58Hình 3.10 : Biểu đồ so sánh hàm lượng TSS phân tích được của nước mặt với QCVN 08 59Hình 3.11 : Biểu đồ so sánh hàm lượng kim loại Cu trong nước mặt so với QCVN 08:2008/BTNMT 60Hình 3.12 : Biểu đồ so sánh hàm lượng kim loại Fe trong nước mặt so với QCVN 08:2008/BTNMT 61
Trang 10DANH MỤC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 3.1 Quy trình sản xuất nghề đúc đồng 45
Sơ đồ 3.2 Tạo mẫu 46
Sơ đồ 3.3 Tạo khuôn cho mẫu vật phẩm đồ đồng 47
Sơ đồ 3.4 Nấu và hoàn thiện sản phẩm 48
Sơ đồ 3.5 Hoàn thiện SP 50
Sơ đồ 3.6 quy trình xử lí 64
Trang 11ĐẶT VẤN ĐỀ Tính cấp thiết của đề tài
Các làng nghề truyền thống ở Việt Nam đã và đang có nhiều đóng gópcho GDP của đất nước nói chung và đối với nền kinh tế nông thôn nói riêng.Nhiều làng nghề truyền thống hiện nay đã được khôi phục, đầu tư phát triểnvới quy mô và kỹ thuật cao hơn, hàng hóa không những phục vụ nhu cầutrong nước mà còn cho xuất khẩu với giá trị lớn
Làng nghề nông thôn ở Việt Nam cũng được biết đến như một nét đẹpvăn hóa riêng biệt, đặc trưng cho từng vùng miền trên cả nước.Việc phát triểnlàng nghề không chỉ tăng thêm thu nhập cho người dân, mà còn góp phầnquảng bá hình ảnh quê hương qua những sản phẩm đặc trưng của làng nghề.Trong các tỉnh thành của cả nước, Nam Định được mệnh danh là đất trămnghề tại tỉnh hiện đang sở hữu nhiều làng nghề có lịch sử hàng trăm năm,được giữ gìn qua nhiều thế hệ Nếu như huyện Nam Trực nức tiếng gần xavới làng rèn Vân Chàng, làng hoa cây cảnh Vị Khê (Điền Xá); đan tre ởThạch Cầu, Trung Lao; nhuộm vải, làm hoa giấy ở Báo Đáp; luyện đồng,chạm vàng bạc, đóng cối xay ở Đồng Quỹ… thì huyện Trực Ninh lại đượcbiết đến với nghề ươm tơ, dệt lụa ở các làng Cự Trữ, Cổ Chất, Dịch Diệp.Huyện Vụ Bản – vùng đất “địa linh nhân kiệt” cũng khá giàu có về làng nghề:dệt vải, dệt nái tơ tằm Quả Linh, rèn Quang Trung; sơn mài, sơn then làng HổSơn; gò đồng thau làng Bàn Kết, chạm đá Thái La; nghề cung bông, làm lọng
ở Hào Kiệt với những nghệ nhân giỏi về thêu kim tuyến, chỉ màu Huyện ÝYên từ lâu đã được xem là đất nghề: nào là chạm khắc gỗ La Xuyên; đúcđồng Tống Xá, Vạn Điểm; nào là sơn mài Cát Đằng, mây tre đan Yên Tiến… Song với sự giàu lên nhanh chóng, bên cạnh những mặt tích cực, hoạtđộng sản xuất tại các làng nghề cũng mang lại rất nhiều bất cập, nhất là vềvấn đề môi trường đang ngày càng trở nên ô nhiễm, ảnh hưởng tớ sức khỏe
Trang 12của con người, sản xuất nông nghiệp và cảnh quan Điều này ảnh hưởngkhông nhỏ tới sự phát triển sản xuất bền vững ở làng nghề và cả nền kinh tếđất nước Theo kết quả khảo sát hiện trạng môi trường tại một số làng nghềtrong tỉnh, chất lượng nước trong những năm gần đây đang có xu hướng ônhiễm với các mức độ khác nhau.
Thị trấn Lâm là một trong những làng nghề truyền thống đúc đồng, sựphát triển công nghệ còn lạc hậu, chưa quan tâm nhiều tới vấn đề môi trườngđang làm suy giảm môi trường nước mặt nơi đây
Trước tình hình đó tôi thực hiện khóa luận với đề tài “ Đánh giá hiện trạng môi trường nước mặt tại làng nghề đúc đồng thị trấn Lâm, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định ”
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Đánh giá được hiện trạng môi trường nước mặt tại làng nghề đúc đồngthị trấn Lâm
Đề xuất một số biện pháp bảo vệ môi trường nước mặt tại làng nghề
Trang 13CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Cơ sở khoa học về làng nghề và bảo vệ môi trường làng nghề
1.1.1 Một số khái niệm về môi trường, nguồn nước, ô nhiễm nguồn nước
và làng nghề
Khái niệm về môi trường
Theo UNESCO (United Nations Educational Scientific and Cultural Organization), môi trường là “Toàn bộ các hệ thống tự nhiên và các hệ thống
do con người tạo ra xung quanh mình, trong đó con người sinh sống và bằnglao động của mình đã khai thác các tài nguyên thiên nhiên hoặc nhân tạonhằm thỏa mãn những nhu cầu cả con người”
Theo luật bảo vệ môi trường 2014 môi trường là “Hệ thống các yếu tốvật chất tự nhiên và nhân tạo có tác động đối với sự tồn tại và phát triển củacon người và sinh vật.”
Ô nhiễm môi trường(ONMT)
Theo định nghĩa của tổ chức y tế thế giới WHO thì “ô nhiễm môitrường là sự đưa vào môi trường các chất thải nguy hại hoặc năng lượng đếnmức ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của conngười và sinh vật”
Theo luật bảo vệ môi trường 2014 ô nhiễm môi trường là sự biến đổicủa các thành phần môi trường không phù hợp với quy chuẩn kỹ thuật môitrường và tiêu chuẩn môi trường gây ảnh hưởng xấu đến con người và sinhvật
Bảo vệ môi trường(BVMT)
Bảo vệ môi trường là hoạt động giữ cho môi trường trong lành sạch
sẽ, phòng ngừa hạn chế các tác dộng xấu tới môi trường, ứng phó sự cố môi
Trang 14trường, khắc phục ô nhiễm, suy thoái, phục hồi và cải thiện môi trường, khaithác sử dụng hợp lí và tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ đa dạng sinhhọc( luật bảo vệ môi trường 2014)
Tiêu chuẩn môi trường (TCMT)
TCMT là các giá trị được ghi nhận trong các quy định chính thức, xácđịnh nồng độ tối đa cho phép của các chất trong thức ăn, nước uống, khôngkhí; hoặc giới hạn chịu đựng của con người và sinh vật với các yếu tố môitrường xung quanh
TCMT là mức giới hạn của các thông số về chất lượng môi trườngxung quanh, hàm lượng của các chất gây ô nhiễm có trong chất thải, các yêucầu kỹ thuật và quản lý được các cơ quan nhà nước và các tổ chức công bốdưới dạng văn bản tự nguyện áp dụng để bảo vệ môi trường.(luật bảo vệ môitrường 2014)
Ô nhiễm môi trường nước
ONMT nước là sự thay đổi thành phần, tính chất của nước gây ảnhhưởng đến hoạt động sống bình thường của con người và vi sinh vật Khi sựthay đổi thành phần và tính chất của nước vượt quá một ngưỡng chi phép thì
sự ô nhiễm nước đã một mức nguy hiểm gây ảnh hưởng tới sức khoẻ conngười
Nước ngầm
Nước ngầm là một dạng nước dưới đất, tích trữ trong các lớp đất đátrầm tích bở rời như cặn, sạn, cát bột kết, trong các khr nứt, hang caxto dưới
bề mặt trái đất, có thể khai thác cho hoạt động sống của con người
Khái niệm nước thải
Trang 15Nước thải là nước được thải ra sau khi đã sử dụng hoặc được tạo ratrong một quá trình công nghệ và không còn giá trị trực tiếp đối với quá trìnhđó.
Làng nghề
Làng nghề là một thuật ngữ dùng để chỉ các cộng đồng cư dân, chủyếu chủ yếu ở các vùng ngoại vi thành phố và có chung truyền thống sảnxuất các sản phẩm thủ công cùng chủng loại tại Việt Nam Làng nghề thườngmang tính tập tục truyền thống đặc sắc, đặc trưng, không chỉ có tính chất kinhtế mà còn bao gồm cả tính văn hóa, đặc điểm du lịch
Tiêu chí công nhận làng nghề
Theo báo cáo môi trường quốc gia 2008 làng nghề được công nhậnphải đạt 04 tiêu chí sau:
- Có tối thiểu 30% tổng số hộ trên địa bàn (thôn, làng, bản, buôn) tham gia các hoạt động ngành nghề nông thôn
- Hoạt động sản xuất kinh doanh ổn định tối thiểu hai năm tính đến thời điểm đề nghị công nhận
- Đạt tiêu chuẩn, điều kiện BVMT theo các quy định hiện hành của Nhà nước
- Chấp hành tốt chính sách pháp luật của Nhà nước
Tiêu chí công nhận làng nghề truyền thống
Làng nghề truyền thống phải đạt tiêu chí làng nghề và có ít nhất một nghề truyền thống theo thông tư 116/2006/TT-BNN
1.1.2 Các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến bảo vệ môi
trường, chất lượng nước mặt.
Các văn bản luật
Trang 16- Luật BVMT do Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Namthông qua ngày 23/06/2014
- Luật Tài nguyên nước do Quốc hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩaViệt Nam thông qua ngày 29/11/2005
- Luật Quy Chuẩn và Quy chuẩn kĩ Thuật do Quốc hội nước Cộng hòaxã hội chủ nghĩa Việt Nam ngày 29/6/2006
- Nghị Định số 179/1999/ NĐ-CP của Chính phủ quy định việc thi hànhLuật Tài nguyên nước
- Nghị định số 127/2007/NĐ-CP ngày 01/08/2007 của Chính phủ vềviệc quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Tiêuchuẩn và Quy chuẩn kĩ thuật
- Quyết định số 22/2006/QĐ-BTNMT ngày 18/08/2006 của Bộ TàiNguyên và Môi Trường về việc áp dụng các tiêu chuẩnViệt Nam vềMôi Trường
- Quyết định 18/2008QĐ-BTNMT ngày 31/12/2008 của Bộ Tài Nguyên
và Môi Trường về việc ban hành quy chuẩn kỹ thuật Quốc Gia về môitrường (QCVN 08/2008/BTNMT)
Các tiêu chuẩn, quy chuẩn của Việt Nam.
- TCVN 5942:1995 (ISO Chất lượng nước - Tiêu chuẩn nước mặt
TCVN 5992:1995 (ISO 56672:1991) Chất lượng nước Lấy mẫu Hướng dẫn kĩ thật lấy mẫu
TCVN 5993:1995(ISO 56673:1998) Chất lượng nước Lấy mẫu Hướng dẫn bảo quản và xử lý mẫu
TCVN 5994:1995(ISO 56674:1987) Chất lượng nước Lấy mẫu Hướng dẫn lấy mẫu ở ao hồ tự nhiên nhân tạo
TCVN 5996:1995 (ISO 56676:1990) Chất lượng nước Lấy mẫu Hướng dẫn ở sông suối
Trang 17TCVN 6001:1995 (ISO 5815:1989) Chất lượng nước Xác định nhucầu oxi hóa sau 5 ngày (BOD5).Phương pháp cấy và pha loãng.
- TCVN 6491:1999 (ISO 6060:1989) Chất lượng nước - Xác định nhucầu oxi hóa học (COD)
- QCVN 08:2008/BTNMT Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về môi trường
- QCVN 14:2008/BTNMT Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia nước thảisinh hoạt
- QCVN 40:2011/BTNMT Quy chuẩn Quốc gia về chất lượng nước thảicông nghiệp
1.2 Vài nét về làng nghề và môi trường làng nghề Việt Nam
1.2.1 Lịch sử phát triển và vai trò của làng nghề Việt Nam
Lịch sử phát triển làng nghề Việt Nam
Cùng với sự phát triển của nền văn minh nông nghiệp từ hàng ngànnăm trước đây, nhiều nghề thủ công cũng đã ra đời tại các vùng nông thônViệt Nam, việc hình thành các làng nghề bắt đầu từ những nghề ban đầu được
cư dân tranh thủ làm lúc nông nhàn, những lúc không phải là mùa vụ chính
Bởi lẽ trước đây kinh tế của người Việt cổ chủ yếu sống dựa vào việctrồng lúa nước mà nghề làm lúa không phải lúc nào cũng có việc Thôngthường chỉ những ngày đầu vụ, hay những ngày cuối vụ thì người nông dânmới có việc làm nhiều, vất vả như: cày bừa, cấy, làm cỏ (đầu vụ) cho đến gặtlúa, phơi khô còn những ngày còn lại thì nhà nông rất nhàn hạ, rất ít việc đểlàm Từ đó nhiều người đã bắt đầu tìm kiếm thêm công việc phụ để làm nhằmmục đích ban đầu là cải thiện bữa ăn và những nhu cầu thiết yếu hằng ngày vềsau là tăng thêm thu nhập cho gia đình
Theo thời gian, nhiều nghề phụ ban đầu đã thể hiện vai trò to lớn của
nó, mang lại lợi ích thiết thân cho cư dân Như việc làm ra các đồ dùng bằng
Trang 18mây, tre, lụa phục vụ sinh hoạt hay đồ sắt, đồ đồng phục vụ sản xuất Nghềphụ từ chỗ chỉ phục vụ nhu cầu riêng đã trở thành hàng hóa để trao đổi, đãmang lại lợi ích kinh tế to lớn cho người dân vốn trước đây chỉ trông chờ vàocác vụ lúa Từ chỗ một vài nhà trong làng làm, nhiều gia đình khác cũng họclàm theo, nghề từ đó mà lan rộng ra phát triển trong cả làng, hay nhiều lànggần nhau.
Và cũng chính nhờ những lợi ích khác nhau do các nghề thủ công đemlại mà trong mỗi làng bắt đầu có sự phân hóa Nghề đem lại lợi ích nhiều thìphát triển mạnh dần, ngược lại những nghề mà hiệu quả thấp hay không phùhợp với làng thì dần dần bị mai một Từ đó bắt đầu hình thành nên những làngnghề chuyên sâu vào một nghề duy nhất nào đó, như làng gốm, làng làmchiếu, làng làm lụa, làng làm đồ đồng
Sử sách đã ghi chép sản phẩm thủ công nước ta xuất hiện từ thời ĐôngSơn, cách ngày nay từ hàng nghìn năm, trước hết là nghề luyện kim, đúcđồng, rèn sắt phục vụ nông nghiệp Sau đó, đến Thế kỷ XI - XIV, Nhà nướcĐại Việt phục hưng, sản phẩm thủ công xuất hiện ngày càng nhiều và ngàycàng tinh sảo, như gốm, dệt, làm giấy dó, tranh dân gian, đúc đồng, v.v Dưới thời Lê (Hậu Lê) và thời Mạc kếo dài suốt 300 năm (Thế kỷ XV -XVII), nhiều làng nghề ra đời Đến thời Nguyễn, những loại hàng thủ côngphát triển nhất là ngành dệt, sau đó là gốm sứ, kim hoàn, rèn đúc đồng, Ngay từ thời đó, nhiều làng nghề của các vùng đã nổi tiếng trong cả nước, từBắc đến Nam, tuy vậy, nhiều làng nghề vẫn tập trung ở miền Bắc, nhất làvùng châu thổ sông Hồng, sông Mã, sông Đáy; và đây được coi là cái nôi củarất nhiều nghề thủ công Việt Nam Những địa phương đông đặc làng nghề là:
Hà Tây, Hưng Yên, Hải Dương, Bắc Ninh, Hà Nam, Nam Định, Thái Bình,
Hà Nội Những nghề thủ công truyền thống nổi tiếng bậc nhất của cả nướccũng tập trung ở vùng này, như: làm giấy dó, dệt tơ lụa, đồ gốm, đúc đồng,
Trang 19khắc gỗ, sơn thếp, sơn mài, khảm trai, thêu ren, tranh dân gian, đóng thuyền,
in mộc bản, làm con rối nước, làm nón, làm quạt giấy, nghề kim hoàn, v.v Nhiều làng nghề nước ta có truyền thống, tuổi nghề rất cao, từ một vài trămnăm đến hàng nghìn năm Sự hình thành của làng nghề thường gắn với việccác thợ thủ công tập hợp nhau lại theo các yếu tố kinh tế, như các vùng tậptrung đông dân cư có nhu cầu về hàng thủ công (phục vụ nhu cầu của sản xuấtnông nghiệp, về ăn, ở, đi lại, thờ cúng ) hoặc để phục vụ cho vua quan chốnkinh kỳ Làng nghề thường hình thành ở những nơi thuận tiện về giao thôngthủy bộ và gần nguồn nguyên liệu Nghề thủ công và làng nghề phát triểncũng do công lao của các vị tổ nghề đã chủ động dạy nghề cho dân địaphương và những vùng xung quanh Có những sản phẩm như gốm Chu Đậu(Hải Dương) từ cuối thế kỷ XIV với những loại men và loại hoa văn độc đáo,trình độ rất cao cả về kỹ thuật và mỹ thuật, được coi là tuyệt đỉnh của đồ gốm
cổ truyền Việt Nam Có những làng nghề như làng gốm Bát Tràng, làng nghềCIEM – Trung tâm Thông tin – Tư liệu 3 giấy dó Yên Thái, giấy sắc Nghĩa
Đô, giấy dó An Cốc và Phong Khê có tuổi nghề từ 500 đến gần 800 năm.Làng nghề dệt tơ lụa Vạn Phúc (Hà Tây) với những sản phẩm độc đáo như lụa
là, gấm, vóc, the, đũi, lĩnh xuất hiện từ thế kỷ III sau Công Nguyên
Trải qua nhiều năm thăng trầm, các ngành nghề thủ công mỹ nghệ cólúc thịnh, lúc suy Thời tập trung, quan liêu, bao cấp, thủ công nghiệp đượcliệt vào "nghề phụ nông dân", các cơ sở tư nhân sản xuất, kinh doanh hàngthủ công mỹ nghệ được cải tạo, từ đó mai một dần Phải đến những năm đổimới, các ngành nghề thủ công mỹ nghệ mới được khôi phục; làng nghề cũnghồi sinh Nhiều địa phương đã có những làng nghề với những sản phẩm thủcông mỹ nghệ đặc trưng nổi tiếng trong cả nước; như gốm Bát Tràng (HàNội)), gốm Chu Đậu, Phù Lãng (Hải Dương), dệt thổ cẩm (Hoà Bình, NìnhThuận), chạm bạc Đồng Xâm (Thái Bình), dệt La Phù, lụa tơ tằm Vạn Phúc(Hà Tây), tranh Đông Hồ, rượu Làng Vân (Bắc Giang), đá mỹ nghệ Non
Trang 20Nước (Đà Nẵng) và Hoa Lư (Ninh Bình), đúc đồng Ý Yên (Nam Định), ĐạiBái (Bắc Ninh) và Phước Kiều (Quảng Nam), nước mắm Phú Quốc, nướcmắm Phan Thiết, đồ gốm Bình Dương, v.v
cờ bạc, rượu chè, đua xe… nẩy nở Phải chăng chính vì lẽ đó mà nảy sinhnhận thức: làng nghề thủ công truyền thống chắc chắn sẽ đóng góp tích cực,thiết thực vào việc xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở
Trang 21Góp phần giải quyết việc làm
Làng nghề thủ công truyền thống đã góp phần giải quyết việc làm chohàng chục ngàn, trăm ngàn cư dân, đặc biệt là thanh niên Tại các làng nghề,thanh niên - đa số là nữ thanh niên – có được "tay nghề", dù tay nghề cao haythấp thì những người lao động này cũng thoát khỏi cuộc đời chạy tìm việc laođộng phổ thông Để làm nghề thủ công truyền thống, người thợ không cần cónhiều vốn, chỉ cần một ít công cụ thủ công cùng đôi bàn tay khéo léo và đặcbiệt là sự siêng năng cần mẫn Với điều kiện như thế, khi sản phẩm nghề thủcông có chỗ đứng trong nền kinh tế hàng hóa, thì làng nghề thu hút đượcnhiều lao động
Làng nghề Việt Nam hàng năm góp phần giải quyết số lượng lớn laođộng nông thôn nhàn rỗi Lao động ở khu vực nông thôn hiện nay đang chiếmmột tỉ lệ rất lớn trong tổng số lao động của cả nước Tính mỗi năm có thêmmột triệu lao động ở nông thôn không có việc làm Trong khi đó hàng năm cókhoảng 20 vạn đất sản xuất nông nghiệp phải chuyển đổi mục đích sử dụngnên tiếp tục có thêm hàng ngàn người lao động ở nông thôn không có việclàm
Tác giả Đặng Kim Chi (2008) có cho rằng các làng nghề thủ công hoạtđộng chủ yếu dựa vào lao động cá nhân, lao động sống thường chiếm tỉ lệ lớn(50%-60%) giá thành sản phẩm, cho nên việc phát triển làng nghề truyềnthống được xem là cơ sở để giải quyết việc làm cho người lao động Điều nàyđược thể hiện như sau:
Phát triển làng nghề giải quyết được việc làm tại chỗ cho người laođộng, thể hiện được chủ trương lớn của đảng và nhà nước ta là xoá đói giảmnghèo, tạo cơ hội làm giàu ngay tại địa phương
Phát triển làng nghề sẽ thu hút được một lực lượng lớn lao động dôi dư
và lao động thời vụ tại các địa phương, góp phần làm giảm bớt thời gian lao
Trang 22động nông nhàn không những ở gia đình mình làng xóm mình mà còn thuhút lao động ở các địa phương khác, do đó góp phần giải quyết lao động dưthừa trên diện rộng.
Làng nghề thủ công truyền thống ngoài việc tạo việc làm cho người tạichỗ, còn cung cấp việc làm cho một số người làm dịch vụ cung cấp nguyênliệu, dịch vụ hoàn chỉnh và dịch vụ tiêu thụ sản phẩm
Như vậy làng nghề thủ công truyền thống đã góp phần giải quyết việclàm cho người lao động một cách hiệu quả theo phương châm "ly nông bất lyhương"
Góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng công nghiệp hóa-hiện đại hóa (CNH – HĐH)
Mục tiêu cơ bản của CNH - HĐH nông nghiệp nông thôn là tạo ra một
cơ cấu kinh tế mới phù hợp và hiện đại ở nông thôn Trong quá trình vậnđộng và phát triển các làng nghề đã có vai trò tích cực trong việc tăng trưởng
tỷ trọng của công nghiệp, tiểu thue công nghiệp (TTCN) và du lịch dịch vụ,thu hẹp tỷ trọng của nông nghiệp.Sự phát triển lan toả của làng nghề đã mởrộng quy mô và địa bàn sản xuất, thu hút nhiều lao động đồng thời nó cònđóng vai trò tích cực trong việc thay đổi tập quán sản xuất từ sản xuất nhỏ,độc canh, mang tính tự túc, tự cấp sang sản xuất hàng hoá, hoặc tiếp nhậncông nghệ mới làng thuần nông
Sự phát triển của các làng nghề trong những năm qua đã thực sự gópphần thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướngtăng cơ cấu ngành công nghiệp và dịch vụ, giảm cơ cấu ngành nông lâm ngưnghiệp, góp phần bố trí lực lượng lao động hợp lý theo hướng "ly nông bất lyhương" Đặc biệt sự phát triển của những làng nghề mới đã phá thế thuầnnông, tạo đà cho công nghiệp phát triển, thúc đẩy quá trình công nghiệp hoá,hiện đại hoá phát triển kinh tế ở nông thôn
Trang 23Các làng nghề sẽ là cầu nối giữa công nghiệp lớn hiện đại với nôngnghiệp phi tập trung, làm tiền đề xây dựng công nghiệp hiện đại ở nông thôn,
là bước trung gian chuyển từ nông thôn thuần nông, nhỏ lẻ phân tán lên côngnghiệp lớn Làng nghề sẽ là điểm thực hiện tốt phân công lao động tại chỗ, lànơi tạo ra sự liên kết công nông nghiệp có hiệu quả
Góp phần tạo ra nguồn sản phẩm phong phú cho xã hội
Hoạt động của các làng nghề đã tạo ra một khối lượng hàng hoá đa dạng
và phong phú, phục vụ cho tiêu dùng trong nước và xuất khẩu, đóng góp chonền kinh tế quốc dân nói chung và cho từng địa phương nói riêng, là nhân tốquan trọng thúc đẩy phát triển hàng hoá ở nông thôn
Sản phẩm từ các làng nghề không ch ỉ đáp ứng nhu cầu trong nước màcòn đáp ứng cho nhu cầu quốc tế Theo bộ NN-PTNT, hiện nay cả nước đã cóhơn 40% sản phẩm ngành nghề nông thôn được xuất khẩu đến thị trường hơn
100 nước trên thế giới Kim ngạch xuất khẩu từ các làng nghề cũng tăng cao:năm 2004 đạt 450 triệu USD tăng 22% so với năm 2003, năm 2005 đạt 520triệu USD tăng 16% so với năm 2004 Trong đó nhiều nghề truyền thống pháttriển như thêu, dệt thổ cẩm, gốm sứ, nghề mây tre đan
1.2.2 Phân bố làng nghề
Với nhiều chính sách đổi mới kinh tế của đất nước đã đem lại luồngsinh khí mới cho các ngành nghề thủ công truyền thống Việt Nam Sau thờigian ngừng trệ, ì ạch, bế tắc, trong vòng 10 năm trở lại đây, từ các nguồn ngânsách hỗ trợ của Nhà nước, kết hợp với cơ chế thoáng mở cửa của nền kinh tếthị trường và sự năng động cũng như tâm huyết với nghề của những ngườidân, các làng nghề thủ công đã tạo nên một diện mạo mới cho nông thôn ViệtNam Theo số liệu thống kê mới nhất của Tổng cục Môi trường được tổnghợp từ báo cáo chính thức của UBND, Sở tài nguyên và môi trường các tỉnhthành phố trực thuộc trung ương tính đến tháng 7 năm 2011 tổng số làng nghề
Trang 24và làng có nghề trên toàn quốc là 3355 làng, trong đó có 1318 làng đã đượccông nhận và 2037 làng có nghề chưa được công nhận Các loại hình ngànhnghề thủ công cũng rất đa dạng và phong phú nhưng chủ yếu là các ngànhnhư: sản xuất mây tre đan, dệt vải, thêu ren, sản xuất đồ nội thất, sơn mài,tranh, tượng
Theo thống kê trên cả nước có 13% số hộ nông dân chuyên sản xuấtnghề, 27% số hộ nông dân sản xuất nông nghiệp có tham gia sản xuất nghề.Trên 40.500 cơ sở sản xuất ở các làng nghề trong đó 80,1% là các hộ cá thể,5,8% theo hình thức hợp tác xã và 14,1% thuộc các dạng sở hữu khác, thu hútkhoảng 29% lực lương lao động ở nông thôn( khoảng 10 triệu lao động) đãtạo ra lượng hàng hóa rất lớn
Nhiều tỉnh thành có số lượng làng nghề lớn như Hà Tây (cũ) với 280làng nghề, Hải Dương 65, Nam Định 90, Thái Bình 187
Các ngành nghề chủ yếu được phát triển ở làng nghề như sau :
Bảng 1.1 Phân bố các loại hình làng nghề ở các vùng nông thôn Việt Nam
Ươm tơ, dệt nhuộm,
đồ da
Chế biến nông sản thực phẩm
Tái chế phế liệu
Thủ công
mỹ nghệ
Vật liệu xây dựng gốm sứ
Nghề khác
Trang 25Làng nghề một nghề là những làng ngoài nghề nông ra, chỉ có thêmmột nghề thủ công duy nhất
Làng nhiều nghề, là những làng ngoài nghề nông ra còn có thêm một sốhoặc nhiều nghề khác
Phân loại theo tính chất nghề:
Làng nghề truyền thống là những làng nghề xuất hiện từ lâu đời tronglịch sử và còn tồn tại đến ngày nay
Làng nghề mới là những làng nghề xuất hiện do sự phát triển lan tỏacủa các làng nghề truyền thống hoặc du nhập từ các địa phương khác Một sốlàng mới được hình thành do chủ trương của một số địa phương cho người đihọc nghề ở nơi khác rồi về dạy cho dân địa phương nhằm tạo việc làm chongười dân địa phương mình
Năm 2006, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã ban hànhThông tư số 116/2006/TT-BNN ngày 18 tháng 12 năm 2006 quy định nộidung và các tiêu chí công nhận nghề truyền thống, làng nghề, làng nghềtruyền thống
Nghề truyền thống là nghề đã được hình thành từ lâu đời, tạo ra nhữngsản phẩm độc đáo, có tính riêng biệt, được lưu truyền và phát triển đến ngàynay hoặc có nguy cơ bị mai một, thất truyền
Làng nghề là một hoặc nhiều cụm dân cư cấp thôn, ấp, bản, làng, buôn,phum, sóc hoặc các điểm dân cư tương tự trên địa bàn một xã, thị trấn, có cáchoạt động ngành nghề nông thôn, sản xuất ra một hoặc nhiều loại sản phẩmkhác nhau
Làng nghề truyền thống là làng nghề có nghề truyền thống được hìnhthành từ lâu đời
Cũng theo Thông tư nói trên, các tiêu chí dùng để công nhận nghềtruyền thống, làng nghề và làng nghề truyền thống được quy định như sau:
Trang 26Nghề được công nhận là nghề truyền thống phải đạt 03 tiêu chí sau:nghề đã xuất hiện tại địa phương từ trên 50 năm tính đến thời điểm đề nghịcông nhận; nghề tạo ra những sản phẩm mang bản sắc văn hóa dân tộc; nghềgắn với tên tuổi của một hay nhiều nghệ nhân hoặc tên tuổi của làng nghề.
Làng nghề được công nhận phải đạt 03 tiêu chí sau: có tối thiểu 30%tổng số hộ trên địa bàn tham gia các hoạt động ngành nghề nông thôn; hoạtđộng sản xuất kinh doanh ổn định tối thiểu 02 năm tính đến thời điểm đề nghịcông nhận; chấp hành tốt chính sách, pháp luật của Nhà nước
Làng nghề truyền thống được công nhận phải đạt tiêu chí làng nghề và
có ít nhất một nghề truyền thống theo quy định tại Thông tư này Đối vớinhững làng chưa đạt tiêu chí công nhận làng nghề (theo tiêu chí trên đây)nhưng có ít nhất một nghề truyền thống được công nhận theo quy định củaThông tư này thì cũng được công nhận là làng nghề truyền thống
Hình 1.1 Phân loại làng nghề Việt Nam theo ngành nghề sản xuất
(Bộ TN&MT, 2008)
1.2.4 Hiện trạng kinh tế - xã hội làng nghề ở Việt Nam
Dân số trung bình cả nước năm 2010 ước tính khoảng 86,93 triệungười Trong đó dân số khu vực nông thôn là 60,92 triệu người chiếm 70,1%
Trang 27tăng 0,63% so với năm 2009 Dân số tham gia lao động tại các làng nghềkhoảng hơn 10 triệu lao động thường xuyên và khoảng hơn 4,5 triệu lao độngthời vụ chiếm khoảng 29% lực lượng lao động nông thôn.
Số cơ sở sản xuất trong các làng nghề là khoảng 50.800 cơ sở trong đó80,05% là cơ sở quy mô hộ gia đình, 6,0% cơ sở quy mô hợp tác xã và còn lại
là hình thức xí nghiệp tư nhân, các công ty…
Quan hệ sản xuất - lực lượng lao động: Quan hệ tư hữu gắn với quan hệgia đình, dòng tộc và bà con trong làng là chủ yếu, một số làng nghề pháttriển có sử dụng nhân công từ các nơi khác đến
Hiện trạng quy hoạch làng nghề: Mô hình tự phát các cơ sở sản xuấtnhỏ xen lẫn khu dân cư hoặc tập trung thành từng cụm Phần lớn không cònranh giới rõ ràng giữa khu sản xuất làng nghề theo hướng công nghiệp hóanông thôn Nhiều địa phương đã quy hoạch, sắp xếp lại sản xuất, xây dựngcác khu công nghiệp làng nghề tập trung để tránh sự phát triển tự phát, thiếuquy hoạch sẽ tạo điều kiện phá hủy môi trường sinh thái
Trình độ công nghệ và thiết bị: Công nghệ đã được cải thiện đáng kểnhững năm gần đây nhưng phần lớn công nghệ vẫn lạc hậu, thủ công, thiết bị
cũ chắp vá, thiếu đồng bộ Trình độ tay nghề không đồng đều trong các loạihình sản xuất, thiếu công nhân lành nghề được đào tạo toàn diện, thiếu nghệnhân Truyền nghề qua kinh nghiệm và tự học hỏi Chính sự yếu kém này đãhạn chế năng suất, chất lượng sản phẩm và hiệu quả sản xuất do đó đã làmgiảm khả năng cạnh tranh
Vốn đầu tư thấp nên không thể tiếp cận với các công nghệ thân thiệnvới môi trường, hầu hết là hoạt động tự phát không có kế hoạch lâu dài chínhvì thế mà vấn đề môi trường không được quan tâm
Cơ sở hạ tầng tại các làng nghề: Chính tính phân tán, tự phát, quy mônhỏ sẽ hạn chế việc đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng ( đường xá trạm điện cấpthoát nước…) cà đặc biệt khó khăn trong việc quản lý chất thải (xử lý, thu
Trang 28gom…) để giảm thiểu ô nhiễm, caiir thiện môi trường Tuy nhiên cùng với sựphát triển của nông thôn Việt Nam, đa số các làng nghề tập trung ở đồng bằngđều đã có “điện, đường, trường, trạm” tạo điều kiện thuận lợi cho phát triểnsản xuất, giao thông và thông tin.
Vấn đề xã hội tại các làng nghề: Phát triển sản xuất tại các làng nghềđã mang lại lợi ích không chỉ về kinh tế mà còn là mối quan hệ tình làngnghĩa xóm tốt lên do tao công ăn việc làm cho bà con láng giềng Mọi ngườigắn bó với nhau hơn Nhiều phong tục truyền thống được phục hồi như hộilàng, giỗ tổ của nghề… đóng góp xây dựng nhà tình nghĩa, nghĩa trang,trường học Tuy nhiên cũng xuất hiện nhiều tiêu cực như cờ bạc, rượu chèhay cạnh tranh mối hàng trong sản xuất
1.2.5 Hiện trạng môi trường làng nghề Việt Nam
Các làng nghề ở nước ta thường mang tính tự phát, quy mô nhỏ, thiết
bị sản xuất thủ công, lạc hậu, mặt bằng sản xuất nhỏ hẹp Bên cạnh đó, ý thứcBVMT của các chủ cơ sở sản xuất, kinh doanh ở đó chưa cao Từ những hạnchế nêu trên dẫn đến tình trạng ONMT ở các làng nghề đã đến mức báo động,ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường sống, sức khỏe đối với người dântrong làng nghề và người dân chung quanh các làng nghề
Do phát triển ồ ạt, thiếu quy hoạch của nhiều làng nghề ở khu vựcnông thôn, cùng sự phát triển thiếu cân bằng giữa nhu cầu phát triển sản xuất
và khả năng đáp ứng của các cơ sở vật chất; đồng thời sự quản lý còn khálỏng lẻo của các cơ quan chức năng trong công tác quản lý môi trường tại khuvực này, dẫn đến tình trạng ô nhiễm môi trường diễn ra khá trầm trọng
Báo cáo Môi trường quốc gia, do Bộ Tài nguyên và Môi trường côngbố mới đây cho thấy: ONMT không khí tại các làng nghề có nguồn gốc chủyếu từ đốt nhiên liệu và sử dụng các nguyên vật liệu, hóa chất trong dâychuyền sản xuất Tại hầu hết các làng nghề, ô nhiễm nguồn nước diễn ra đặc
Trang 29biệt nghiêm trọng, do khối lượng nước thải rất lớn, nhưng lại chưa qua hệthống xử lý nước thải tập trung, thường được xả thẳng ra hệ thống sông ngòi,kênh rạch quanh khu vực Trong khi đó, chất thải rắn ở hầu hết các làng nghềchưa được thu gom, xử lý triệt để, gây tác động xấu tới cảnh quan môi trường,gây ONMT không khí, nước và đất, đây chính là nguyên nhân gây ra các dịchbệnh cho người dân đang lao động và sinh sống tại các làng nghề và quanhkhu vực làng nghề Qua kết quả nghiên cứu do các đơn vị của Bộ Y tế thựchiện cho thấy, tỷ lệ người mắc bệnh tại các làng nghề đang có xu hướng giatăng trong những năm gần đây và tập trung vào một số bệnh như các bệnhngoài da, hô hấp, tiêu hóa, thần kinh, bệnh phụ khoa, ung thư Tuổi thọ trungbình của người dân sống trong các làng nghề ngày càng giảm, thấp hơn mườinăm so với tuổi thọ trung bình cả nước và thấp hơn từ năm đến mười năm sovới làng không làm nghề.
Theo báo cáo môi trường quốc gia năm 2008 với chủ đề môi trườnglàng nghề Việt Nam ngày nay thì hầu hết các làng nghề bị ô nhiễm ( trừ cáclàng nghề không sản suất hoặc dùng những nguyên liệu không gây ô nhiễmnhư thêu may) Chất lượng môi tường không đạt tiêu chuẩn dẫn đến việc conngười phải ngày càng tiếp xúc nhiều hơn với các yếu tố độc hại gây ảnhhương tới sức khỏe Qua khảo sát 52 làng nghề điển hình hiện nay trong cảnước đã có tới 46% số làng nghề trong số này môi trường bị ô nhiễm nặng,27% ô nhiễm vừa và 27% ô nhiễm nhẹ Đáng báo động là mức độ ONMT tạicác làng nghề không những không giảm, mà còn có xu hướng gia tăng theothời gian.Tùy theo tính chất của từng loại làng nghề mà loại ô nhiễm môitrường cũng khác nhau Chẳng hạn như, ở các làng nghề sản xuất mặt hàngmây, tre đan…thì có tình trạng ô nhiễm không khí, do phải sử dụng lưu huỳnhkhi sấy nguyên liệu; với các làng nghề công nghiệp chất thải chủ yếu là khói,bụi và khí độc; ở các làng nghề tái chế nhựa khi làm sạch nguyên liệu người
Trang 30ta đã thải vào sông hồ một lượng chất thải nguy hiểm như thuốc trừ sâu, hóachất…gây ô nhiễm nguồn nước, không chỉ thế khi nấu chảy nguyên liệu còntạo ra mùi rất khó chịu.v.v
Nguyên nhân dẫn đến ONMT ở các làng nghề hiện nay là do hầu hếtcác cơ sở sản xuất có quy mô nhỏ, nằm trong khu dân cư, mặt bằng chật hẹpcho nên khó xây dựng hệ thống xử lý môi trường; phần lớn các hộ sản xuấtcủa làng nghề chưa đầu tư thích đáng nhằm giảm ô nhiễm không khí, tiếng
ồn, nước thải, bụi, chất thải rắn Nước thải sản xuất chưa qua xử lý cùng nướcthải sinh hoạt được xả vào hệ thống thoát nước mặt Trong khi đó, công tácquản lý và những giải pháp BVMT chưa được quan tâm đúng mức ; ý thức
và nhận thức của người dân về BVMT còn chưa cao, cho nên ONMT đang trởthành mối đe dọa thường trực đối với môi trường sinh thái, sức khỏe cộngđồng dân cư sống trong các làng nghề, người dân khu vực chung quanh làngnghề
Tại báo nhân dân ngày 23/06/2005 PGS.TS Đặng Kim Chi cảnh báo100% mẫu nước khảo sát tại làng nghề vượt tiêu chuẩn cho phép (TCCP)
1.3 Tác động của các chất thải ô nhiễm đến môi trường làng nghề
1.3.1 Tác động đến môi trường không khí
Một trong những vấn đề đáng quan tâm tại các làng nghề hiện nay đóchính là ô nhiễm không khí Hầu hết các làng nghề đều sản xuất thủ công nênđều sử dụng than củi và than đá gây ra ô nhiễm không khí như bụi và hơinước, SO2, CO2, CO va NOx là hết sức phổ biến Trong đó, các khí CO2 vàNOx là các tác nhân gây hiệu ứng nhà kính Ngoài ra, các khí độc hại này cònđược sinh ra trong quá trình phân hủy yếm khí các hợp chất hữu cơ có trongnước thải, chất thải hữu cơ dạng rắn như H2S, NH3, CH4…Làng nghề sảnxuất vật liệu xây dựng: Đây là loại hình làng nghề gây ONMT lớn nhất về cảchất thải khí, chất thải rắn và nước thải Bụi phát sinh do các hoạt động vận
Trang 31chuyển, chế biến nguyên nhiên vật liệu (đất, đá, cao lanh, xi măng, than, ) vàbụi xỉ than tỏa ra từ khói lò Khí thải của các lò nung gạch, ngói, gốm, sứ cóchứa các loại khí có hại như CO, SO2, NOx, HF , gây ô nhiễm môi trườngkhông khí rất lớn Mức độ ô nhiễm không khí tại các làng nghề tái chế kimloại cũng không nhỏ Bụi trong không khí phát sinh từ khâu phân loại, giacông sơ bộ, tẩy gỉ, nấu, cán, kéo, đặc biệt là khu vực bên cạnh các lò đúc thép,hàm lượng bụi vượt tiêu chuẩn cho phép tới 10-15 lần Tại các làng nghề này,bụi thường có chứa kim loại mà chủ yếu là ô-xít sắt nồng độ lên tới 0,5mg/m3làm cho không khí có mùi tanh Trong không khí tại các làng nghề này luônphát hiện được hơi hóa chất độc hại như Cl, HCN, HCl, H2SO4, SO2, CO,
NO tuy hàm lượng nhỏ nhưng có mặt thường xuyên trong không khí gây ảnhhưởng đáng kể đến sức khỏe cộng đồng người dân
Kết quả phân tích của Sở Tài nguyên và Môi trường cho thấy, hàmlượng bụi tại khu vực dân cư có tác động của hoạt động sản xuất vượt tiêuchuẩn từ 2- 3 lần, nồng độ khí CO, SO2 vượt gần 2 lần và cao gấp nhiều lầntại các lò đúc thép, nhiều loại khí độc hại, bụi sắt, hơi kim loại nặng đều vượttừ 5-20 lần so với mức cho phép đối với khu dân cư Đặc biệt là yếu tố nhiệt
độ tại các xưởng đúc, cán thép vượt nhiệt độ môi trường từ 8-10 độ C.Tại cáclàng nghề mộc bụi cũng là một vấn đề đáng nói Bụi phát sinh trong quá trìnhvận chuyển và gia công sản phẩm Nồng độ bụi đo được tại làng mộc BíchChu (Vĩnh Phúc) trong khoảng 4,8 – 24,5mg/m3, tại làng mộc Minh Tân(Vĩnh Phúc) trong khoảng 2,5 – 18,3mg/m3, tại làng mộc khắc gỗ Đồng Kỵ(Bắc Ninh) trong khoảng 1,2 – 9,8mg/m3, tại làng mộc Chàng Sơn (Hà Tây)
là 4,7-8,3mg/m3 Nồng độ dung môi hữu cơ cũng tương đối cao tại các bộphận sơn hoàn thiện sản phẩm, do đặc thù sản xuất tại hộ gia đình có mặtbằng chật nên bộ phận sơn thường được bố trí ngoài trời là chính, khả năngphát tán dung môi hữu cơ ra môi trường xung quanh rất lớn Nhìn chung, sovới tiêu chuẩn vệ sinh lao động (3733/ 2002/ QĐ-BYT), các yếu tố ô nhiễm
Trang 32đều có giá trị thấp hơn, bằng hoặc cao hơn Nhưng đa số các cơ sở sản xuất ởcác làng nghề ở ngay trong khu vực nhà ở nên nếu so vớiTCVN 5937-1995 vàTCVN 5938-1995 áp dụng đối với khu dân cư thì lại cao hơn rất nhiều lần
1.3.2 Tác động đến môi trường nước
Hiện nay, tình trạng phổ biến của các hộ, cơ sở sản xuất nghề ở nôngthôn là sử dụng ngay diện tích ở làm nơi sản xuất Khi quy mô sản xuất tănglên hoặc sử dụng thiết bị, hóa chất đã làm cho môi trường sống bị ô nhiễmnặng nề, nhất là ở các làng nghề tái chế phế liệu và chế biến thực phẩm Chođến nay, phần lớn nước thải tại các làng nghề đều thải thẳng ra ngoài khôngqua bất kỳ khâu xử lý nào Đây chính là nguyên nhân khiến cho tình trạng ônhiễm nguồn nước tại các làng nghề ngày càng tồi tệ hơn
Ðối với nước thải, ô nhiễm chất hữu cơ các làng nghề chế biến lươngthực, thực phẩm, chăn nuôi và giết mổ Hàm lượng các chất ô nhiễm, nhất làCOD và BOD5 , vượt quá Quy chuẩn Việt Nam hàng chục lần Ðặc biệt lànước thải từ khâu lọc tách bã, tách bột đen của quá trình sản xuất tinh bột từsắn, dong riềng có độ pH thấp, hàm lượng BOD5, COD vượt hơn 200 lần Ví
dụ như nước thải của quá trình sản xuất tinh bột từ sắn có hàm lượng ô nhiễmrất cao (COD = 13.300 - 20.000mg/l; BOD5 = 5.500 - 125.000 mg/l) Trongkhi đó, ô nhiễm chất vô cơ lại chủ yếu tập trung tại các làng nghề dệt nhuộm,thủ công mỹ nghệ và mây tre đan, tái chế giấy, nước thải có hàm lượng cặnlớn và chứa nhiều chất ô nhiễm như dung môi, dư lượng các chất trong quátrình nhuộm, đánh bóng
Cho đến nay, phần lớn nước thải tại các làng nghề đều thải thẳng rangoài không qua bất kỳ khâu xử lý nào Nước thải này tồn đọng ở cống rãnhthường bị phân huỷ yếm khí gây ô nhiễm không khí và ngấm xuống lòng đấtgây ô nhiễm môi trường đất và suy giảm chất lượng nước ngầm
Trang 331.3.3 Tác động đến môi trường đất
Theo Đặng Kim Chi (2008) chất thải rắn cũng chỉ được xử lý đơn giảnrồi thu gom chôn lấp tạm thời Một số làng nghề ở xã Dục Tú (Ðông Anh), xãXuân Ðỉnh (Từ Liêm) chất thải được thu gom rất thủ công, rồi đem chôn lấpqua quýt ở các bãi chôn lấp hở, thậm chí bị thải bỏ và đốt bừa bãi ngay trêncác con đê làng hoặc đổ xuống dòng sông Cùng với đó là nguồn nước thảikéo theo nhiều dầu mỡ và các chất hóa học không qua xử lý khiến chất lượngnước ngầm bị ảnh hưởng nghiêm trọng Tại những xã này, hàm lượng CODvượt tiêu chuẩn cho phép 3-4 lần, hàm lượng dầu mỡ lên tới 2,2 mg/l so vớitiêu chuẩn cho phép là 0,3 mg/l.Mấy năm trước đây, khi dự án cụm côngnghiệp làng nghề (13 ha) của xã Phong Khê (Yên Phong, Bắc Ninh) đượckhởi công, Phong Khê nhanh chóng trở thành "làng công nghiệp" Sản lượnggiấy của xã nhanh chóng tăng từ 40.000 tấn/năm lên tới 80.000 tấn/năm, đạtdoanh thu gần 200 tỷ đồng Tuy nhiên, kèm theo sự phát triển kinh tế là ônhiễm môi trường Do phải thu mua giấy phế thải từ các nơi nên Phong Khêcòn có tên "làng bãi rác" Tại các làng nghề tái chế giấy, vấn đề ô nhiễm chủyếu là chất rắn như xơ sợi, bột giấy trong nước thải Kết quả khảo sát tại 30làng nghề tại Hưng Yên cho thấy có tới 60% sản xuất hoàn toàn thủ công, chỉ
có 37% là có trang bị nửa cơ khí và hầu hết là sản xuất tại gia đình Làngnghề sản xuất giấy tái chế Phú Lâm và Phong Khê (Bắc Ninh), mỗi năm làm
ra gần 20.000 tấn sản phẩm thì cũng đã thải ra môi trường khoảng 1.500 m3nước thải mỗi ngày
1.3.4 Tác động tới sức khỏe của con người
Do sự gia tăng ô nhiễm tại các làng nghề đã dẫn đến tỷ lệ người mắcbệnh tại khu vực này đang có xu hướng ngày càng gia tăng Kết quả nghiêncứu cho thấy, tuổi thọ của người dân tại các làng nghề ngày càng giảm đi,thấp hơn 10 năm so với tuổi thọ trung bình của cả nước Theo báo cáo môi
Trang 34trường quốc gia năm cũng cho thấy, tại các làng nghề sản xuất kim loại, tỷ lệngười mắc các bệnh liên quan đến thần kinh, hô hấp, điếc, ung thư Trongkhi đó, đối với các làng nghề tái chế giấy có từ 16% đến 53,7% dân số bị mắcbệnh phổi, thần kinh do chịu sức ép từ khói bụi, tiếng ồn, ô nhiễm không khí,hóa chất và các khí độc như Cl2, H2S Tại các làng nghề chế biến lươngthực, thực phẩm, tỷ lệ người mắc các bệnh về đường ruột tới 58,8% dân số,đường hô hấp là 44%.
Tại các làng nghề truyền thống, cơ sở hạ tầng còn thấp kém, mặt bằngsản xuất chật chội và tổ chức sản xuất thiếu khoa học Điều kiện và môitrường lao động rất đáng lo ngại, người lao động thường xuyên phải tiếp xúcvới bụi, nhiệt, hóa chất; nguy cơ tai nạn lao động cao và thiếu phương tiệnbảo vệ cá nhân Môi trường sống đang có nguy cơ bị ô nhiễm do chất thải sảnxuất không được xử lý mà thải trực tiếp vào môi trường xung quanh, gây ônhiễm không khí, nước và đất Sức khỏe người lao động và dân cư đang bị đedọa do ô nhiễm môi trường Bệnh tật phổ biến tại các làng nghề là viêm phếquản - phổi, dị ứng ngoài da, đau mắt, đau lưng, đau cột sống, đau bụng hộichứng dạ dày, phụ khoa
1.4 Vài nét về làng nghề và môi trường làng nghề ở tỉnh Nam Định
1.4.1 Tổng quan về làng nghề tỉnh Nam Định
Đặc điểm chung của làng nghề tỉnh Nam Định: Nam Định hiện đang
sở hữu nhiều làng nghề có lịch sử hàng trăm năm, được giữ gìn qua nhiều thế
hệ Lực lượng lao động chủ yếu là người dân trong làng Các ngành nghề phinông nghiệp này mang lại thu nhập cho người dân đáp ứng nhu cầu sống của
họ Các đơ vị sản xuất ở đây chủ yếu là hộ gia đình với nguồn nhân lực tronggia đình và cơ sở hạ tầng tự có Chính vì thế mà công nghệ và kĩ thuật còn lạchậu lợi nhuận thấp hơn so với công lao động bỏ ra Tính chuyên môn hóa ởđây phụ thuộc vào độ phức tạp của công việc, càng nhiều công đoạn thì tính
Trang 35chuyên môn càng cao Tuy trong điều kiện thiếu vốn nhưng người dân biếtvận dụng nguyên liệu và kỹ năng lao dộng khéo léo vào công việc tạo thunhập.
Đến nay, toàn tỉnh đã phát triển được 124 làng nghề, làng nghề truyềnthống sản xuất công nghiệp tiểu thủ công nghiệp (CN-TTCN) gồm 94 làngnghề cũ và 30 làng nghề mới được phục hồi, nhân cấy và phát triển thànhcông trong các năm 2011-2014; trong đó có 51 làng nghề, làng nghề truyềnthống đã được UBND tỉnh ra quyết định công nhận đủ các tiêu chí theo quyđịnh của Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn Ngoài các làng nghề truyềnthống, có lịch sử hình thành và phát triển hàng trăm năm hiện vẫn đang hoạtđộng ổn định, 4 năm qua, nhiều địa phương trong tỉnh đã phục hồi và nhâncấy thành công các làng nghề, làng nghề truyền thống, là động lực thúc đẩynhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động nông thôn Tiêubiểu như huyện Ý Yên đã nhân cấy thành công nghề chạm khắc gỗ ở thônĐằng Động, xã Yên Hồng; phục hồi thành công các nghề thêu ren, khâu nóntại các thôn Nhuộng, Trung, Mạc Sơn của xã Yên Trung Huyện Hải Hậu cócác làng nghề mộc mới như: Kim Thành, xã Hải Vân; Tam Tùng Đông xã HảiĐường Tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất CN-TTCN, làng nghề bình quângiai đoạn 2011-2014 đạt 24,4%/năm, cao hơn mức bình quân chung toàn tỉnh2,4% (ước tính tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất CN-TTCN toàn tỉnh giaiđoạn 2011-2015 đạt 22%/năm) Trong đó, năm 2014 là năm có tốc độ tăngtrưởng giá trị sản xuất CN-TTCN, làng nghề nông thôn đạt cao nhất là 25,3%
so với năm 2013 Tốc độ tăng trưởng đã làm cho tỷ trọng giá trị sản xuất TTCN, làng nghề khu vực nông thôn đến năm 2014 chiếm 53,96% tổng giá trịsản xuất toàn ngành công nghiệp; tăng 2,56% so với thời điểm năm 2011 Sảnxuất CN-TTCN ở khu vực nông thôn phát triển mạnh đã góp phần quan trọngtrong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động của các địa phương.Tính đến hết năm 2014, trên địa bàn toàn tỉnh đã có 166/209 xã, thị trấn (bằng
Trang 36CN-79,42%) có giá trị sản xuất CN-TTCN chiếm tỷ trọng trên 10% trong cơ cấukinh tế; có 78/96 xã xây dựng NTM giai đoạn I (bằng 81,25%) có giá trị sảnxuất CN-TTCN chiếm tỷ trọng trên 15% cơ cấu kinh tế toàn xã Nhiều xãxây dựng NTM đã đạt giá trị sản xuất CN-TTCN từ 50-80% tổng giá trị sảnxuất toàn xã như: Yên Ninh, Thị trấn Lâm (Ý Yên); Trực Hùng, Trung Đông(Trực Ninh); Thị trấn Thịnh Long, Hải Minh, Hải Phương (Hải Hậu); XuânKiên, Xuân Phương (Xuân Trường)
Cùng với sự phát triển của các làng nghề, cuộc sống người dân cónhiều khởi sắc là việc gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc của các làng nghềtruyền thống
1.4.2 Hiện trạng môi trường một số làng nghề tại tỉnh Nam Định
Theo báo điện tử của sở tài nguyen môi trường 2015 Nam Ðịnh hiện có
có 85% dân số ở nông thôn với khoảng 135 làng nghề, phân bố ở 10 huyện,thành phố; hoạt động sản xuất ở hầu hết các làng nghề đều gây ô nhiễm môitrường ở mức độ khác nhau, trong đó 21% tổng số làng nghề bị ô nhiễm môitrường nghiêm trọng Theo số liệu điều tra của Sở Tài nguyên và Môi trườngNam Định, hiện nay 100% số làng nghề không có hệ thống xử lý nước thải.Nước thải làng nghề được đổ trực tiếp ra hồ, ao, kênh rạch và chảy ra sânvườn chung quanh hộ gia đình Tình hình ô nhiễm do nguồn nước thải sinh ratừ các làng nghề rất khác nhau cả về thành phần và lượng thải, nhưng ảnhhưởng đến đời sống khu dân cư nhiều nhất là nhóm làng nghề sản xuất cơ khí,chế biến gỗ - mây, tre đan và làng nghề dệt, tẩy, nhuộm, tái chế nhựa Các
cơ sở sản xuất kinh doanh trong các làng nghề phần lớn chưa qua tâm đếnviệc bảo vệ môi trường, hầu như chưa có hệ thống xử lý nước thải, thu gom,
xử lý rác thải trong khi các cơ sở này thường nằm lẫn trong các khu dân cư,gây ảnh hưởng lớn đến sức khoẻ của người dân Tại làng nghề cơ khí VânChàng (huyện Nam Trực), mỗi ngày sử dụng 50-70 tấn thép, 30 tấn than, 14
Trang 37hộ mạ bản lề và phụ tùng xe đạp thường xuyên sử dụng các loại hoá chất,nước thải từ các bể mạ chạy thẳng ra sông ngòi, mẫu nước sông điểm sau khitiếp nhận nguồn thairquan trắc thông số cr có sự thay đổi lớn, tháng 12/2013hàm lượng cr(IV) rất cao vượt giá trị cho phép 12 lần
Báo cáo hiện trạng môi trường cấp tỉnh có cho rằng làng nghề Cổ Chất
và làng dệt tẩy nhuộm Cự Trữ (huyện Trực Ninh) có 500 hộ, mỗi ngày sảnxuất 1 tấn tơ, sử dụng 10 tấn than, 4 lò tẩy sợi, dùng các hoá chất H2SO4,NaOH, H2O2, Zaven , nước thải đều không xử lý chủ yếu tự thấm vào đấthoặc chảy tràn tự do vào ao, sông, hồ Các cuộc điều tra trước đây cho thấy,
tỷ lệ người dân tại các địa phương này mắc các bệnh về hô hấp, mắt, tiêu hoá,ung thư thường cao hơn nhiều so với những nơi khác Những ao, hồ, đồngruộng, nơi có nguồn nước thải sản xuất đổ ra, các lại cây trồng thường bị chết
và cho năng suất thấp
Các làng nghề sơn mài Cát Đằng, đúc đồng Tống Xá, Vạn Điểm, nứaYên Tiến, gỗ La Xuyên (huyện Ý Yên) cũng có tình trạng tương tự, do sốlượng nguyên liệu quá lớn, nên toàn bộ những điểm có mặt nước của xã đềuđược người dân tận dụng để ngâm tre, nứa Tất cả các vùng mặt nước của YênTiến dần chuyển sang màu đen kịt, đặc quánh, bốc mùi hôi thối nồng nặc Cácsố liệu quan trắc tại các kênh, ao, hồ của Yên Tiến cho thấy, các thông số độchại đều vượt 1,1 đến 1,68 lần tiêu chuẩn cho phép Kết luận phân tích cũngkhẳng định nguồn nước mặt tại Yên Tiến không thể sử dụng cho bất kỳ mụcđích nào khác, kể cả tưới tiêu nông nghiệp Tỷ lệ người dân mắc các bệnh vềphổi, ngoài da, bệnh tiêu hóa, bệnh mắt tăng cao Năm 2011, tỷ lệ mắt hộthoạt tính trong học sinh là 1,28% Đặc biệt, riêng năm 2011, xã có tới 11người chết do ung thư
Bảng 1.2 Kết quả phân tích mẫu không khí khu vực làng nghề tỉnh Nam
Định.
Trang 38Khu vực làng nghề Thông
số
Tháng 6/2011
Tháng 6/2012
Tháng 6/2013
Chất lượng nước mặt tại làng nghề đúc đồng thị trấn Lâm
Trang 392.3 Nội dung nghiên cứu
2.3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của khu vực nghiên cứu
Điều kiện tự nhiên (vị trí địa lý, địa hình địa mạo; khí tượng; thổnhưỡng; thủy văn)
Điều kiện kinh tế – xã hội: dân số và lao động; tình hình phát triển kinhtế; cơ sở hạ tầng
Các yếu tố tự nhiên, kinh tế – xã hội ảnh hưởng đến chất lượng nướcmặt tại địa bàn nghiên cứu
2.3.2 Công nghệ và quy trình sản xuất tại làng nghề thị trấn Lâm
2.3.3 Đánh giá chất lượng nước mặt tại làng nghề thị trấn Lâm
Chất lượng nước mặt tại làng nghề thị trấn Lâm
Các nguồn gây ô nhiễm nước mặt
Nguyên nhân gây ô nhiễm nước mặt tại làng nghề
Trang 402.3.4 Ảnh hưởng của sản xuất làng nghề đến sức khỏe của người dân 2.3.5 Đề xuất một số biện pháp bảo vệ môi trường nước mặt tại làng nghề thị trấn Lâm
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Phương pháp thu thập thông tin thứ cấp
Thu thập các số liệu: điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của địa bànnghiên cứu; các tài liệu có liên quan đến đề tài khóa luận: làng nghề ViệtNam, làng nghề tỉnh Nam Định; các làng nghề đúc đồng; các văn bản quyphạm pháp luật (luật, các văn bản dưới luật); các tiêu chuẩn; quy chuẩn,…
Nguồn tài liệu: thư viện, Internet (các website có các nội dung liênquan đến đề tài) Các loại công trình: các bài báo, khóa luận, luận văn
2.4.2 Phương pháp thu thập thông tin sơ cấp
- Thu thập bằng phiếu điều tra phỏng vấn :
+ Đối tượng: các hộ gia đình làm nghề và không làm nghề
+ Dự kiến số phiếu : 30 hộ theo phương pháp chọn hộ ngẫu nhiên
- Thu thập thông tin bằng việc lấy mẫu và phân tích chất lượng nước:+ Loại mẫu: nước mặt,
+ Xác định vị trí lấy mẫu: tại kênh, sông, ao tự nhiên