Trong khi đó các mỏ khai thác Titan ở Việt Nam việc nghiên cứu đánh giá ảnh hưởng đến môi trường của hoạt động khai thác còn nhiều vấn đề cần quan tâm.. Đây là hoạt động được tiến hành s
Trang 1CHƯƠNG I: MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Khai thác khoáng sản là hoạt động có nhiều ảnh hưởng tới môi trường Những năm gần đây vấn đề ô nhiễm môi trường tại các mỏ khai thác khoáng sản
đã được nhà nước và các đơn vị khai thác quan tâm Cùng với việc tiếp tục cải tạo mở rộng khai trường, thì vấn đề đánh giá ảnh hưởng tới môi trường và cải tạo phục hồi môi trường sau khai thác cũng được quan tâm
Tuy nhiên, những kết quả nghiên cứu trước chỉ mới quan tâm đánh giá một cách tổng thể môi trường trong khai thác mỏ và công tác cải tạo và phục hồi môi trường sau khi kết thúc khai thác Chưa chú ý đến việc đánh giá cụ thể những nguồn ô nhiễm lan truyền và thứ sinh trong công tác đổ thải, là một trong những nguyên nhân chủ yếu gây ô nhiễm môi trường khi các bãi thải này ngừng hoạt động
Đặc biệt là trong khai thác Titan lộ thiên làm thay đổi cảnh quan và tác động
đến môi trường trên diện rộng Nếu không có biện pháp quản lý phù hợp thì sẽ gây hậu quả làm bồi lấp sông suối, phá hủy các công trình đường sá và những ô nhiễm thứ sinh như bụi, nước thải có chứa các ion kim loại nặng với độ pH thấp làm ô nhiễm không khí, nguồn nước tự nhiên Trong khi đó các mỏ khai thác Titan ở Việt Nam việc nghiên cứu đánh giá ảnh hưởng đến môi trường của hoạt động khai thác còn nhiều vấn đề cần quan tâm
Việc đánh giá trực tiếp các nguồn tác động từ hiện trạng công tác khai thác
sa khoáng Titan – Ninh Thuận là việc làm cần thiết và có ý nghĩa thực tiễn to
lớn Chính vì vậy tôi thực hiện đề tài “Đánh giá ảnh hưởng của khai thác sa khoáng Titan – Zircon tới môi trường tại xã Phước Dinh – huyện Thuận Nam –tỉnh Ninh Thuận”
Trang 21.2 Mục tiêu nghiên cứu
- Đánh giá hiện trạng môi trường tại khu vực khai thác sa khoáng Titan –
Zircon tại xã Phước Dinh, huyện Thuận Nam, tỉnh Ninh Thuận
- Xác định những ảnh hưởng tới môi trường của việc khai thác sa khoáng Titan – Zircon tại xã phước Dinh - huyện Thuận Nam – Ninh thuận
- Đề xuất các biện pháp giảm thiểu tác động xấu từ việc khai thác sa khoáng Titan – Zircon cho địa phương
Trang 3CHƯƠNG II: TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
2.1 Khái niệm, vai trò của khai thác khoáng sản
2.1.1 Khái niệm về khai thác khoáng sản
Khái niệm về khai thác khoáng sản
Khai thác khoáng sản là hoạt động xây dựng cơ bản mỏ, khai đào, sản xuất
và các hoạt động có liên quan trực tiếp nhằm thu hồi khoáng sản (Khoản điều 3 Luật Khoáng sản 1996)
Theo luật khoáng sản 2010 thì khai thác khoáng sản là hoạt động nhằm thu hồi khoáng sản, bao gồm xây dựng cơ bản mỏ, khai đào, làm giàu và các hoạt động có liên quan
Đây là hoạt động được tiến hành sau khi có giấy phép khai thác khoáng sản của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền và được tính từ khi mỏ bắt đầu xây dựng
cơ bản (hay còn gọi là mở mỏ), khai thác bình thường theo công thức thiết kế, cho đến khi mỏ kết thúc khai thác (đóng cửa mỏ - phục hồi môi trường)
Trước đây, trong thời kỳ bao cấp hoạt động khai thác khoáng sản chủ yếu
do các tổng công ty, công ty Nhà nước thực hiện tại các mỏ đã được tìm kiếm, thăm dò bằng nguồn vốn nhà nước như Apatit, quặng sắt, than, đá vôi, sét làm nguyên liệu xi măng, thiếc với số lượng rất ít Sau năm 1996 khi Luật khoáng sản được ban hành với chính sách đầu tư của nhà nước, hoạt động khai thác đã phát triển nhanh cả về quy mô và thành phần kinh tế tham gia hoạt động khoáng sản nhất là trong vài năm trở lại đây
a Khái niệm, đặc điểm của khai thác Titan và Titan-zicon
Tiềm năng tài nguyên khoáng sản titan-zircon tương đối lớn, nhưng tập trung chủ yếu là tài nguyên trong tầng cát đỏ tuổi Pleistocen Các sa khoáng ven biển tuổi Holocen có trữ lượng nhỏ hoặc vừa đã được khai thác gần như cạn kiệt
để xuất khẩu trong một thời gian nhất định
Trên cơ sở các kết quả điều tra địa chất khoáng sản hiện nay có thể tiếp tục điều tra thăm dò địa chất để tăng đáng kể nguồn tài nguyên titan-zircon trong các trầm tích ven bờ, một số vùng trong vỏ phong hóa các đá gabrro phức hệ Núi
Trang 4Chúa (Thái Nguyên) hay các khối đá gabro amphibolit thuộc phức hệ Kanack (Kon Tum) và quặng sa khoáng titan- zircon trong các diện tích thuộc khu kinh tế Chu Lai, khu du lịch các bán đảo Phước Mai (Cam Ranh), Hòn Gốm và Cam Ranh (Khánh Hòa) [7]
Nguồn tài nguyên titan-zircon nếu được tiếp tục điều tra, thăm dò và biết khai thác chế biến và sử dụng hợp lý không những có khả năng thỏa mãn nhu cầu nguyên vật liệu cho các ngành công nghiệp trong nước, mà còn có thể tăng chủng loại, khối lượng, chất lượng và giá trị nguồn hàng xuất khẩu trong một thời gian nhất định.[7]
Cấp hạt khoáng vật nặng có giá trị kinh tế chủ yếu là từ 0,1-0,3 mm [14]Hàm lượng khoáng vật nặng thấp 0,6-5,0 % nên trong quá trình tuyển thô khối lượng cát thải rất lớn, từ 95÷98% khối lượng quặng nguyên [14]
c Đặc điểm phân bố
Các sa khoáng phong hóa titan lục địa thường phân bố tại vùng Trung Du
là nơi trồng cây lương thực, cây ăn quả, rừng đặc dụng và dân cư đông đúc
Sa khoáng ven biển thường có vỉa mỏng và phân tán nên diện tích khai thác lớn Tại đây là vùng thường có rừng chắn cát, rừng phòng hộ, rừng đặc dụng
và ruộng vườn nhà cửa của dân cư đang sinh sống
Các mỏ titan trong tầng cát đỏ lại là nơi thiếu nước vì mùa khô kéo dài và địa hình dốc [6]
Vì vậy, nếu việc khai thác các mỏ quặng titan-zircon không hợp lý sẽ không chỉ tác động đến môi trường tự nhiên (đất, nước, không khí và sinh thái) mà còn tác động đến hạ tầng cơ sở, môi trường kinh tế và văn hóa xã hội của khu vực
Trang 52.1.2 Vai trò của khai thác khoáng sản
Vai trò chung của khai thác khoáng sản
Những năm gần đây, cùng với sự phát triển chung của cả nước, các hoạt động khai thác khoáng sản đã và đang góp phần to lớn vào công cuộc đổi mới đất nước Ngành công nghiệp khai thác mỏ đã và đang ngày càng chiếm vị trí quan trọng trong nền kinh tế của Việt Nam
Trong những năm qua, hoạt động khai khoáng sản đã đóng góp tới 5,6% GDP Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực đạt được, chúng ta cũng đang phải đối mặt với nhiều vấn đề về môi trường Quá trình khai thác mỏ phục vụ cho lợi ích của mình, con người đã làm thay đổi môi trường xung quanh Yếu tố chính gây tác động đến môi trường là khai trường của các mỏ, bãi thải, khí độc hại, bụi
và nước thải làm phá vỡ cân bằng điều kiện sinh thái, đã được hình thành từ hàng chục triệu năm, gây ra sự ô nhiễm nặng nề đối với môi trường và là vấn đề cấp bách mang tính chất xã hội và chính trị của cộng đồng
Vai trò của khai thác Titan và Titan-zicon
Trong quá trình công nghiệp hóa nhu cầu tiêu dùng sản phẩm được chế tạo từ titan và zircon trong nước có khả năng tăng trưởng nhanh Vì vậy cần phải phát triển công tác chế biến sâu và sản xuất để nâng cao khối lượng, chủng loại, chất lượng và giá trị các sản phẩm từ titan-zircon:
Các hộ tiêu thụ bột màu titan (sơn, nhựa, giấy, mực in ) trong nhiều năm nay đều có mức tăng trưởng >15% Sản lượng bột màu titan hiện nay tiêu thụ cho các ngành công nghiệp trong nước chủ yếu là nhập khẩu Dự báo nhu cầu bột màu titan trong vài chục năm tới tăng trưởng khoảng 6,8% năm, tức là năm 2020 có khoảng 137 000 tấn và đến 2030 là 265 000 tấn.[9]
Tốc độ tăng trưởng chung của ngành gốm sứ (hộ tiêu thụ zircon) trong nhiều năm tới có mức tăng trưởng lớn hơn 10% Hiện miền Bắc có 26 công ty, miền Trung có 07 công ty và miền Nam có 21 công ty sản xuất gạch men sử dụng bột zircon siêu mịn.[9]
Trang 6Với sản lượng xi măng 100 triệu tấn/năm và hàng chục triệu tấn thép năm, nhu cầu trong nước về vật liệu chịu lửa tương đối lớn trong đó phải kể đến các sản phẩm được chế tạo từ zircon như gạch Bakor và gạch Cordezit có tỷ lệ ZrO2 lớn…[11]
Hiện nay tuy trên thế giới còn khả năng biến động về nhu cầu và giá cả nhưng Việt Nam vẫn còn cơ hội để phát triển ngành công nghiệp khai thác, chế biến, sử dụng hợp lý TNKS titan – zircon và khả năng tìm kiếm được thị trường xuất khẩu để tiêu thụ các sản phẩm chế biến như xỉ titan, rutil nhân tạo, zircon siêu mịn [18]
2.2 Vấn đề môi trường trong khai thác khoáng sản
2.2.1 Ảnh hưởng của khai thác khoáng sản đến môi trường không khí
2.2.1.1 Ảnh hưởng của khai thác khoáng sản đến môi trường không khí
a Ảnh hưởng của chất ô nhiễm không khí đến sức khỏe con người
Tất cả các chất ô nhiễm không khí đều gây ra tác hại đối với sức khỏe con nguời, có thể gây bệnh tật thậm chí tử vong Ảnh hưởng mãn tính để lại các tác hại lâu dài như viêm phế quản mãn, ung thư phổi, lao
Các hạt bụi có đường kính D<10 µm có thể xâm nhập sâu vào phổi con người Hạt bụi có đường kính từ 0,1 – 2 µm gây ảnh hưởng đến thị giác [12]Các hạt bụi có đường kính lớn và độc có thể gây hiểm họa khi xâm nhập vào đường hô hấp hay tiêu hóa
Một số bệnh thường thấy do bụi, khí độc hại phát sinh từ khu vực mỏ là:Bệnh bụi phổi: chủ yếu do bụi khoáng, amiang, silic
Bệnh đường hô hấp: Tùy theo nguồn gốc loại bụi mà gây ra các bệnh về tai mũi họng, viêm phế quản, bụi phổi
Bệnh ngoài da: gây nhiễm trùng da rất khó chữa, viêm da, da khô, chấn thương mắt hoặc mù
Bệnh về đường tiêu hóa: gây sâu, hỏng men răng, rối loạn tiêu hóa
Các khoáng Silicat gây bệnh nhiễm bụi Si làm mất chức năng của phổi hay
bị viêm phổi
Trang 7Tính độc hại nhiều hay ít còn phụ thuộc vào kích thước hạt bụi và dạng hợp chất của nó.
Bụi amiang và bụi khoáng khi hít thở vào làm giảm chức năng hô hấp, gây bệnh bụi phổi, ung thư phổi Bụi amiang đặc biệt nguy hiểm do sợi amiang không phân hủy trong bất cứ môi trường nào
Nhiều bụi kim loại nặng rất nguy hiểm khi hít thở vào nhưng chưa biểu hiện bệnh ngay, tùy thuộc vào dạng hợp chất của nó và cấu tạo hóa học mà mức độ nguy hiểm khác nhau
b Gây suy thoái đất và ô nhiễm nguồn nước mặt và ngầm
Vùng đất đá tại bãi thải và xung quanh bãi thải do nồng độ bụi và khí độc cao nên khi có mưa hay dòng chảy đi qua dễ bị ngấm các hóa chất độc sâu xuống tầng đất và nước ngầm nếu các bãi thải không được xây dựng đúng quy cách.Đặc biệt khí độc SO2 khi gặp H2O tạo thành dòng chảy axit mỏ, làm suy thoái đất
Các chất mang tính axit còn gây mưa axit
c Tác động lên hệ sinh thái và thực vật
Các chất khí mang tính axit có khả năng gây mưa axit ở phạm vi hẹp, phá hoại cây cối mùa màng, nguồn nước sinh hoạt của con người Các chất ô nhiễm khí phá hủy môi trường sống của nhiều loài sinh vật Một số chất khí gây ảnh hưởng đến cây trồng đặc biệt như SO2, chỉ cần nồng độ 0,03 ppm SO2 đã gây ảnh hưởng đến sự sinh trưởng của rau quả, với nồng độ cao trong một thời gian ngắn gây rụng lá và chết thực vật [13]
SO2 hòa tan cùng nước mưa hay ở dạng axit rơi xuống hồ ao làm chết thủy sinh vật
d Tác động lên các công trình xây dựng
Do một số chất gây ô nhiễm không khí có tính ăn mòn hóa học ảnh hưởng lên các công trình xây dựng, vật liệu, di tích lịch sử làm giảm tuổi thọ của chúng
Đặc biệt SO2 tác động lên vật liệu nhựa làm nhựa bị khô cứng, tác động lên săt gây ăn mòn kim loại (khi ở dạng axit), phá hủy cấu trúc vật liệu:gạch, đa (đặc biệt vôi canxi) làm giảm tuổi thọ của bê tông
Trang 8Bụi từ quặng chì do xí nghiệp chì -kẽm Chợ Điền ( Bắc Kạn) khai thác
2.2.1.2 Đặc điểm tác động đến môi trường không khí của khai thác titan
Ảnh hưởng do bụi phát sinh do gió
Khu vực khai thác là các bãi cát có thành phần cát hạt nhỏ, mịn vào mùa khô có gió mùa đông bắc sẽ gây ô nhiễm bụi tự nhiên
Gió Tây Bắc đến Bắc sẽ đưa bụi về phía Đông Nam và phía Nam của mỏ vào các tháng mùa đông trong năm
Gió Đông, Đông Nam sẽ đưa bụi về phía Tây, Tây Bắc của mỏ vào các tháng 4, 5 và đến tháng 6, 7 thì gió Tây, Tây Bắc lại đưa bụi về hướng Đông, Đông Nam
Bụi phát sinh từ nguồn này tác động liên tục và thường xuyên trong ngày, tuy nhiên tuyển thô bằng vít xoắn, cát quặng được làm ẩm và pha trộn nước nên cũng hạn chế bụi gây ô nhiễm không khí
2.2.1.3 Ảnh hưởng do bụi phát sinh do các hoạt động khai thác
Bụi do quá trình vận chuyển thiết bị, nguyên nhiên vật liệu, do quá trình san gạt xúc bốc sẽ phát tán vào môi trường gây bụi bẩn các công trình nhà cửa trên tuyến đường vận chuyển, ảnh hưởng trực tiếp đến công nhân lao động trên khai trường Bụi bay lên chủ yếu là bụi đất cát trong
đó có cả cát quặng sẽ tác động trực tiếp đến người lao động điều khiển
Trang 9các phương tiện san ủi, công nhân làm việc trên công trường Với diện tích khu khai thác xấp xỉ 1050 ha thì không gian phát tán bụi lớn, từ vị trí khai thác đến khu dân cư cách xa và dự án đã để lại phần hàng rào cây che chắn rộng 30m nên không gây ảnh hưởng tới dân cư khu vực xung quanh, chỉ ảnh hưởng trực tiếp tới người lao động Tuy nhiên nếu tiếp xúc ở những khu vực tập trung nhiều các hoạt động XDCB thì người lao động mà có thể bị các bệnh như sau:
Bệnh bụi phổi: Bệnh này có khả năng làm xơ hoá phối và làm giảm chức năng hô hấp Trong trường hợp này bệnh bụi phổi thường gặp là bệnh Silicose (do nhiễm bụi SiO2)
Các loại bệnh đường hô hấp: các bệnh viêm mũi, họng phế quản
Các bệnh ngoài da như nhiễm trùng da, khô da, ghẻ lở, các loại bệnh về mắt (kích thích màng tiếp hợp viêm giác mạc…)
Các loại bệnh về đường tiêu hoá (đau bụng tiêu chảy…)
Bụi còn gây tác hại đối với thực vật, các tác động này sẽ gây chết, tổn hại sắc tố, hay tác động đến sự phát triển của cây như không nảy chồi, bị rũ lá hay còi cọc chóng tàn phát triển không bình thường…
Tiếng động do tiếng ồn
Theo tính toán tải lượng ô nhiễm tiếng ồn khi các thiết bị khai thác hoạt động thì cường độ tiếng ồn lớn nhất là 94dB vượt quá tiêu chuẩn cho phép (70dB) Tiếng ồn sẽ gây ra những ảnh hưởng đến sức khoẻ con
Trang 10người như ảnh hưởng đến tâm lý, ảnh hưởng lên thính giác gây mệt mỏi và có thể ảnh hưởng lên một vài cơ quan khác nếu thường xuyên tiếp xúc, làm giảm năng suất làm việc…
Tác động do hàm lượng các chất phóng xạ
Theo các số liệu đo đạc trong bản đồ cường độ phóng xạ tại khu mỏ thì cường độ phóng xạ tự nhiên chỗ cao nhất đạt 15 µR/h nhỏ hơn tiêu chuẩn cho phép (30 µR/h) vì vậy trong quá trình khai thác không gây ảnh hưởng đến sức khỏe của người lao động
2.2.2 Ảnh hưởng của khai thác khoáng sản đến môi trường nước
2.2.2.1 Ảnh hưởng của khai thác khoáng sản đến môi trường nước
a Nước thải trong khai thác mỏ gồm:
Nước mưa chảy tràn khi khai thác xuống sâu
Nước mưa chảy tràn qua hoặc chảy vào khu vực khai thác mỏ
Nước sinh ra trong quá trình khai thác bằng sức nước, tuyển rửa quặng
Nước thải từ các nhà máy làm giàu quặng
Có hai loại nước thải cần được quan tâm, đó là dòng thải axit và nước thải
từ các nhà máy làm giàu quặng
Dòng thải axit hay còn gọi là nước thải mỏ là nước thải từ các bãi thải
đất đá hoặc quặng đuôi của các mỏ quặng chứa khoáng sulfua và các mỏ than đá trong quá trình khai thác và cả sau khi mỏ đã đóng cửa Đặc tính của loại nước thải này là có độ axit cao, thậm chí rất cao
Nước thải từ các nhà máy làm giàu quặng
Phần lớn nước thải của các nhà máy làm giàu quặng ở dạng bùn thải chứa các hạt mịn (quặng đuôi) ở thể huyền phù trong nước
Thải trực tiếp ra môi trường
Thông thường không được thải trực tiếp nước thải các nhà máy làm giàu quặng ra sông, hồ Tuy nhiên, trong thực tế có một số nơi, nước thải của các nhà
Trang 11vấn đề tiềm ẩn về môi trường liên quan đến sự có mặt lâu dài của các chất gây ô nhiễm cũng như ảnh hưởng đến động, thực vật thủy sinh.
Thải ra bãi thải quặng đuôi
Hầu hết nước thải của các nhà máy làm giàu quặng được thải ra bãi thải quặng đuôi được thiết kế riêng để lắng các chất rắn Tùy thuộc vào mức độ cân bằng giữa lượng nước mưa, nước bốc hơi, nước thấm vào đất, nước giữ độ ẩm của vật liệu thải cũng như mức độ sử dụng nước tuần hoàn mà nước thải từ hồ thải quặng đuôi sẽ được thải một phần hay toàn bộ ra môi trường Các chất ô nhiễm trong bùn thải gồm các chất rắn lơ lửng chứa các nguyên tố có trong quặng, các kim loại nặng ở dạng hòa tan, các muối và các loại thuốc tuyển
b Các đặc điểm của hệ thống quản lý nước ở các khu mỏ
Mục tiêu chính của hệ thống quản lý nước ở khu vực mỏ là cung cấp nước đáp ứng nhu cầu của hoạt động khai thác (cả về chất lượng và số lượng), xử lý nước thải, bảo vệ môi trường theo đúng luật Bảo vệ Môi trường và các văn bản pháp lý về môi trường đã được chính phủ ban hành
Hệ thông quản lý nước bao gồm 2 phần chính:
Hệ thống kiểm tra và tính lượng nước
Hệ thống chuyển tải nước
Việc kiểm tra và tính lượng nước trong hoạt động khai thác mỏ cho các đối tượng sau:
Các mỏ lộ thiên và mỏ hầm lò
Các bãi thải đất đá và quặng đuôi
Các nền đất cứng ở các khu vực xưởng tuyển, phân xưởng cơ khí, khu hành chính, kho bãi và các khu vực phụ trợ ít thấm hoặc không thấm
Hệ thống cống rãnh trên mặt đất
Hệ thống kho, sân, bãi
Các khu vực có liên quan đến việc cung cấp nước và quản lý môi trường
Hệ thống cung cấp nước mặt và ngầm
Hệ thống nước thải
Trang 12Hệ thống chuyển tải nước bao gồm hệ thống kênh, rạch, đường ống, bơm, van, hệ thống đo lường, kiểm tra và điều khiển.
c Xử lý nước thải
Khử axit và kim loại nặng:
Phương pháp thông dụng nhất là trung hòa axit và làm kết tủa các kim loại nặng ở dạng hydroxid trong môi trường kiềm Bởi vì oxit sắt III khó tan trong nước hơn oxit II, vì thế thông thường nước thải được sục khí để oxy hóa oxit sắt
II thường hay có trong nước axit mỏ Cũng có nhiều chất oxi hóa (ozon, clo, thuốc tím ) nhưng vì lý do về chi phí, nên chúng ít được sử dụng trong thực tế
Đá vôi là chất trung hòa axit rẻ nhất Tuy nhiên trong nhiểu trường hợp đá vôi không thích hợp vì nó chỉ có thể làm độ pH≈7, mà với độ pH như vậy thì phần lớn các hydroxyt kim loại sẽ kết tủa không triệt để Vì thế trong thực tế, sữa vôi được sử dụng rộng rãi hơn nhiều
Trong xử lý nước thải có tính axit, việc tách các hydroxit kim loại kết tủa
ở dạng các chất rắn vô định hình thường có tốc độ lắng rất thấp và khả năng khử nước rất kém kể cả khi sử dụng các chất kết bông Trong nhiều trường hợp, có thể thải bùn có chứa các kim loại nặng vào các hồ thải quặng đuôi được thiết kế độc lập, hoặc trộn trong các bãi thải đất đá hoặc thải vào các khai trường hầm lò
và lộ thiên đã khai thác xong Tất cả các loại bùn thải này là nguồn gây ô nhiễm tiềm tàng Do đó, việc thiết kế, vận hành hệ thống xử lý hay thải bỏ loại bùn này cần phải được cân nhắc hết sức cẩn thận
2.2.2.2 Đặc điểm tác động đến môi trường nước của khai thác titan
Tác động đến môi trường nước mặt
- Nước thải sinh hoạt:
Chất hữu cơ có trong nước thải sinh hoạt là các loại cacbon hydrat, protein, lipit là các chất dễ bị các vi sinh vật phân huỷ Khi phân huỷ thì các vi sinh cần lấy ôxi hoà tan trong nước để chuyển hoá các chất hữu cơ thành CO2, N2O, H2O, CH2… Tuy nhiên do khu vực dự án là bãi cát khá rộng và việc khai thác khoáng sản không cố định một vị trí, hơn nữa công ty sẽ thực hiện các biện pháp lưu giữ,
Trang 13ảnh hưởng đến môi trường nước mặt.
- Nước tuần hoàn trong quá trình tuyển quặng:
Nước khai thác được sử dụng tuần hoàn được cấp từ hai hồ trữ nước trong mùa mưa và được cấp bù nước từ Công ty cổ phần cấp nước Ninh Thuận (theo biên bản thỏa thuận hợp tác ngày 25/2/2013) với công suất giai đoạn đầu (2014-2017) là 10.000m3/ngày và giai đoạn sau dự kiến sẽ tăng gấp đôi Trong quá trình khai thác không làm ô nhiễm loại nước này Nước này sau khi bơm lên được hoà trộn với cát để tách quặng và xả thải ngược lại trong mỏ quặng nên không có khả năng gây ảnh hưởng đến nước mặt trong khu vực Bên cạnh đó nếu để rác thải được bơm lên theo hệ thống mà không có biện pháp thu gom trước, không có bộ phận tách lọc rác và dầu mỡ chảy tràn thì đây sẽ là nguồn gây ô nhiễm đáng kể
do vậy cần phải được thu gom và tách lọc rác thải, tách lọc dầu mỡ chảy tràn (nếu có) trước khi bơm lên hệ thống khai thác Trên thực tế, thành phần chủ yếu của nước sau tuyển, các thành phần bị ô nhiễm là SS, COD và BOD5, căn cứ vào kết quả phân tích mẫu sau tuyển ở các dự án có điều kiện tương tự thì việc ô nhiễm nguồn nước sau tuyển là không đáng kể
Tác động đến môi trường nước ngầm
Như đã đề cập ở trên, trong quá trình tuyển quặng Công ty có sử dụng một lượng lớn nước để tuyển quặng Nước dùng cho tuyển quặng được Công ty cổ phần cấp nước Ninh Thuận cấp nước công nghiệp với công suất 10.000m3/ngày (giai đoạn 2014-2017), tăng gấp đôi trong giai đoạn sau và hút xả tại chỗ cùng với cát có chứa khoáng vật nặng Nước này tuần hoàn trong quá trình khai thác,
do công suất mỏ lớn nên dự án gây hao hụt hơn 6 triệu m3 nước/năm Dự án đã thiết kế hệ thống chống thấm nước ở đáy moong khai thác cũng như cấp nước liên tục trong quá trình khai thác Như vậy, trong quá trình khai thác sẽ giảm thiểu tối đa hiện tượng hạ thấp mực nước ngầm của các khu vực lân cận
Tác động của các chất phóng xạ tới môi trường nước
Theo Lê Khánh Phồn và Võ Ngọc Anh, 2003, nghiên cứu bản chất, đặc điểm dị thường phóng xạ các đới sa khoáng ven biển miền Trung thì các nguyên
Trang 14tố phóng xạ Th và U nằm trong các hợp chất khó hòa tan, hầu như không có mặt trong nước dưới đất cũng như nước bề mặt nên không gây ô nhiễm nguồn nước.
2.2.3 Ảnh hưởng của khai thác khoáng sản đến môi trường đất
2.2.3.1 Ảnh hưởng của khai thác khoáng sản đến môi trường đất
Khai thác khoáng sản là quá trình con người bằng phương pháp khai thác
lộ thiên hoặc hầm lò đưa khoáng sản từ lòng đất phục vụ phát triển kinh tế - xã hội Các hình thức khai thác bao gồm: khai thác thủ công, khai thác quy mô nhỏ
và khai thác quy mô vừa Bất cứ hình thức khai thác khoáng sản nào cũng dẫn đến sự suy thoái môi trường Nghiêm trọng nhất là khai thác ở các vùng mỏ, đặc biệt là hoạt động của các mỏ khai thác than, quặng và vật liệu xây dựng Năm
2006 các mỏ than của Tập đoàn Công nghiệp Than và Khoáng sản Việt Nam đã thải vào môi trường tới 182,6 triệu m3 đất đá và khoảng 70 triệu m3 nước thải từ mỏ.Quá trình khai thác khoáng sản thường qua ba bước: mở cửa mỏ, khai thác và đóng cửa mỏ Như vậy, tất cả các công đoạn khai thác đều tác động đến tài nguyên và môi trường đất Hơn nữa, công nghệ khai thác hiện nay chưa hợp lý, đặc biệt các mỏ kim loại và các khu mỏ đang khai thác hầu hết nằm ở vùng núi
và trung du Vì vậy, việc khai thác khoáng sản trước hết tác động đến rừng và đất rừng xung quanh vùng mỏ
Khai thác Bô-xít lộ thiên sẽ tàn phá thảm
động thực vật và gây xói mòn (Đắc Nông)
Đất khai thác bô-xít (để lầm phèn chua) sau khi hoàn thổ không loại cây nào mọc được ngoài keo tai tượng (Bảo Lộc- Lâm Đồng)
Trang 15Do đặc thù của khai thác mỏ là một hoạt động công nghiệp không giống các hoạt động công nghiệp khác về nhiều mặt, như phải di dời một khối lượng lớn đất đá ra khỏi lòng đất tạo nên một khoảng trống rất lớn và rất sâu Một khối lượng lớn chất thải rắn được hình thành do những vật liệu có ích thường chỉ chiếm một phần nhỏ của khối lượng quặng được khai thác, dẫn đến khối lượng đất đá thải vượt khối lượng quặng nằm trong lòng đất Chất thải rắn, không sử dụng được cho các mục đích khác, đã tạo nên trên bề mặt đất địa hình mấp mô, xen kẽ giữa các hố sâu và các đống đất, đá Đặc biệt ở những khu vực khai thác
"thổ phỉ", tình hình còn khó khăn hơn nhiều Một số diện tích đất xung quanh các bãi thải quặng có thể bị bồi lấp do sạt lở, xói mòn của đất đá từ các bãi thải, gây thoái hoá lớp đất mặt Việc đổ bỏ đất đá thải tạo tiền đề cho mưa lũ bồi lấp các sông suối, các thung lũng và đồng ruộng phía chân bãi thải và các khu vực lân cận Khi có mưa lớn thường gây ra các dòng bùn di chuyển xuống vùng thấp, vùng đất canh tác, gây tác hại tới hoa màu, ruộng vườn, nhà cửa, vào mùa mưa lũ thường gây ra lũ bùn đá, gây thiệt hại tới môi trường kinh tế và môi trường xã hội
Đất đai bị “ móc ruột” biến dạng
( huyện Trảng Bom _ Đồng Nai”)
Ruộng vườn của người dân biến thành
hố bom, ao hồ( huyện Trảng Bom _ Đồng Nai”)
Trang 16Bã xít thải tại khai trường mỏ Cao Sơn
( Quảng Ninh )
Quá trình đào xới, vận chuyển đất đá và quặng làm địa hình khu khai trường
bị hạ thấp, ngược lại, quá trình đổ chất thải rắn làm địa hình bãi thải tâng cao Những thay đổi này sẽ dẫn đến những biến đổi về điều kiện thuỷ văn, các yếu tố của dòng chảy trong khu mỏ như: thay đổi khả năng thu, thoát nước, hướng và vận tốc dòng chảy mặt, chế độ thuỷ văn của các dòng chảy như mực nước, lưu lượng, v.v Sự tích tụ chất thải rắn do tuyển rửa quặng trong các lòng hồ, kênh mương tưới tiêu có thể làm thay đổi lưu lượng dòng chảy, dung tích chứa nước, biến đổi chất lượng nguồn nước
2.2.3.2 Đặc điểm tác động đến môi trường đất của khai thác titan [12]
Do thu hồi đất
Khu vực thực hiện dự án được quy hoạch, nên công tác thu hồi đất để thực hiện dự án gặp khá nhiều thuận lợi
2.2.4 Tình trạng đánh giá tác động môi trường trong khai thác khoáng sản
2.2.4.1 Tình trạng đánh giá tác động môi trường trong khai thác
khoáng sản
Đánh giá tác động môi trường trong khai thác khoáng sản không phải là một nghĩa vụ mang tính hình thức, tức là không phải chỉ một điều kiện giấy tờ cần phải có cho việc phê duyệt một dự án mà nó là một nghĩa vụ mang tính chất nội dung
Trang 17Như vậy việc đánh giá tác động môi trường sẽ giúp cho các nhà đầu tư chủ động lựa chọn phương án khả thi về kinh tế và kỹ thuật trong kế hoạch phát triển kinh tế bảo vệ môi trường của mình Đồng thời đây là cách thức để cơ quan
có thẩm quyền để kiểm soát các hoạt động ảnh hưởng đến môi trường hiệu quả nhất
Đánh giá tác động môi trường là một trong những giải pháp quan trọng trong quản lý ô nhiễm công nghiệp, góp phần tích cực trong việc phòng ngừa ô nhiễm do các hoạt động sản xuất gây ra Tuy nhiên trong thời gian qua thì vấn đề đánh giá tác động môi trường không được các chủ đầu tư dự án quan tâm Mặc
dù đa số tất cả các dự án đầu tư đều thực hiện công tác đánh giá tác động môi trường, nhưng hầu hết chỉ dùng để đối phó, để dự án được thông qua nên họ chỉ làm qua loa, chú trong làm cho đủ thủ tục chứ không quan tâm đến những tác động và nguy cơ môi trường thực sự, dẫn đến nhiều trường hợp vi phạm quy định về đánh giá tác động gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng
Đánh giá tác động môi trường là việc làm hữu ích, có ý nghĩa thiết thực đối với các hoạt động phát triển Tuy nhiên do ĐTM là một quá trình nghiên cứu, phân tích tổng hợp phức tạp, đòi hỏi chuyên gia kinh nghiệm, tốn kém về thời gian, kinh phí Vì vậy đối với các dự án phát triển việc ĐTM đầy đủ chỉ tiến hành đối với các dự án phát triển quan trọng, còn đối với các dự án ít quan trọng hơn thì không được quan tâm đúng mức
2.2.4.2 Quản lý môi trường trong khai thác Titan
Đồng thời với việc phát triển kinh tế, việc bảo vệ môi trường phải đặt lên hạng ưu tiên để luôn đảm bảo môi trường sinh thái bền vững cho con người Để đảm bảo mục tiêu bảo vệ môi trường chúng tôi sẽ kết hợp với các cơ quan chức năng của Nhà nước để quản lý giám sát quá trình hoạt động của đơn vị mình, nhằm hạn chế và giảm thiểu các tác nhân gây ô nhiễm môi trường, đóng góp kinh phí để khắc phục và giảm thiểu ô nhiễm môi trường
Có kế hoạch quản lý, triển khai công tác bảo vệ môi trường của Công ty trong quá trình khai thác
Công tác quản lý nguồn ô nhiễm bao gồm các nội dung chính sau đây:
Trang 18Không chặt phá cây xanh và làm ảnh hưởng môi trường đất trên diện tích tiếp giáp với khu mỏ.
Nâng cấp, duy tu sửa chữa thường xuyên đường vận tải nội bộ mỏ Có một công nhân chuyên trách chuyên đi kiểm tra và sửa chữa đoạn đường vào mỏ
Quản lý chặt chẽ các quá trình vận hành khai thác trên mỏ
Quản lý chặt chẽ công tác ATLĐ, vệ sinh môi trường, chất thải rắn và nước thải, nhất là chất phóng xạ phải kiểm tra thường xuyên nếu phát hiện vượt quy định phải phối hợp với cơ quan chức năng xử lý kịp thời
Xây dựng hệ thống phòng chống sự cố môi trường
2.3 Tình hình khai thác, chế biến và sử dụng khoáng sản titan-zircon tại Việt Nam
2.3.1 Hiện trạng ngành khai thác khoáng sản titan-zircon Việt Nam
Trong vòng 20 năm gần đây do có thị trường xuất khẩu và lợi nhuận cao, nhiều mỏ titan đã được thăm dò, khai thác-tuyển có quy mô, trình độ công nghệ
và thiết bị khác nhau
Đến 31/12/2010 có 47 giấy phép khai thác quặng titan còn hiệu lực trong đó
có 13 giấy phép do Bộ Công Thương và Bộ Tài nguyên & Môi trường cấp; số 34 giấy phép còn lại do Ủy ban Nhân dân các tỉnh cấp Ngoài ra còn phải kể đến hàng chục cơ sở khai thác quặng titan trái phép hoạt động ở nhiều địa phương có tài nguyên.[16]
Tại các sa khoáng ven biển tuổi Holocen do điều kiện khai thác thuận lợi, công nghệ và thiết bị đơn giản, vốn đầu tư không lớn nên các cơ sở khai thác – tuyển quặng titan ngày càng phát triển Từ năm 2006 đến nay, các đơn vị khai thác titan trong cả nước đã và đang xuất khẩu (chủ yếu là tiểu ngạch) khoảng 600 – 800 ngàn tấn quặng tinh ilmenit/năm Trước đây thường chỉ khai thác quặng giàu, có hàm lượng > 3-4% khoáng vật nặng; nhưng hiện nay một số nơi đã phải khai thác các mỏ có hàm lượng ≤ 1% khoáng vật nặng hoặc khai thác lại các bãi thải cũ
Trang 192.3.2 Quy trình khai thác, tuyển sa khoáng
2.3.2.1 Phương án khai thác
Với loại khoáng sản sa khoáng ven biển, nói chung có thể áp dụng 2 phương án khai thác như sau:
- Khai thác bằng cơ giới: xúc bốc cát quặng bằng máy xúc thuỷ lực lên ôtô
tự đổ, vận chuyển về trạm tuyển đổ vào bun ke tiếp liệu, nạp tải cho các vít xoắn Bơm dung dịch cát quặng lên các vít tuyển thô; tuyển trung gian; tuyển sản phẩm; bơm sản phẩm về bãi chứa sản phẩm tổng khoáng vật nặng
- Khai thác bằng bơm hút bùn cát, vận chuyển bằng bơm theo đường ống về phà có đặt các vít xoắn Bơm dung dịch cát quặng lên các vít tuyển thô, tuyển trung gian, tuyển sản phẩm, bơm sản phẩm về bãi chứa sản phẩm tổng khoáng vật nặng
2.3.2.2 Công nghệ sản xuất vận hành
Trình tự khai thác
Toàn bộ diện tích khai thác của khai trường được chia làm 2 khu khai thác đồng thời, mỗi khu gồm 28 khoảnh khai thác và tuần tự tiến hành khai thác từ khoảnh số 1 đến khoảnh 28
Trình tự và hướng phát triển công trình khai thác mỏ khi I từ khoảnh 1 ở phía Nam lên các khoảnh tiếp theo ở phía Đông Bắc (song song với tuyến đường vận chuyển chính số 1) Khu II được bắt đầu từ khoảnh 1 ở phía Tây và tiếp tục phát triển lên các khoảnh ở phía Đông Các khoảng ở giữa đổi hướng theo địa hình
Trang 20Tại khoảnh khai thác đầu tiên, bố trí hệ thống phà khai thác, trên đó đặt các thiết bị khai thác, tuyển quặng, các phà (cụm vít xoắn) được bố trí khoảng cách làm việc hợp lý (bằng chiều rộng luồng công tác hợp lý và khoảng cách an toàn giữa các phà) Với chiều dài thân quặng trung bình 15 – 60 m, thân quặng được chia thành 1 tầng khai thác Khai thác hết các khoảnh khai thác theo trình tự
đã phân chia (thường phần dưới của tầng khai thác bị ngập 10 - 15 m) Các phà khai thác được tịnh tiến song song về phía trước và cát thải được thải vào các khoảng trống đã khai thác ở phía sau Khối lượng công tác mỏ được nêu trong bảng 2.2 , sơ đồ hố khai thác được nêu trên hình
Trang 21Bảng 2.1: Khối lượng công tác mỏ
1 Tỷ trọng trung bình của cát quặng tấn/m3 1,56
2 Sản lượng cát quặng của mỏ m3/năm 11.846.580
3 Sản lượng cát quặng khai thác/h m3/h 2.190
4 Tổng khối lượng cát quặng khai thác m3 334.123.160
5 Tổng khối lượng khoáng vật năng tấn 3.534.070
6 Khối lượng cát thải khai thác m3 333.371.230
7 Khối lượng XDCB: Đào (đắp) m3 1.951.874 (1.262.681)
Trang 22Hình 2.1: Sơ đồ hố khai thác mỏ
Trang 23Sơ đồ công nghệ khai thác.
Công nghệ khai thác hợp lý nhất áp dụng cho Dự án là công nghệ khai thác bằng sức nước kết hợp đồng thời với tuyển thô quặng bằng phương pháp tuyển trọng lực Sơ đồ công nghệ quy trình khai thác quặng được nêu trôog hình 2.2
Hình 2.2: Sơ đồ công nghệ quy trình khai thác và tuyển thô
Các thông số của hệ thống khai thác được nêu trong bảng 2.3
BÙN QUẶNG VẬN TẢI TRONG ĐƯỜNG ỐNG CÓ ÁP SÀNG LỌC RÁC
VÍT XOẮN SƠ CẤP
BƠM VÍT TRUNG GIAN
VÍT XOẮN TRUNG GIAN
BƠM VÍT SẢN PHẨM
VÍT XOẮN SẢN PHẨM
BƠM SẢN PHẨM KVN = 90%
TG TG
BƠM CẤP NƯỚC KHAI THÁC BẰNG BƠM CÁT
Trang 24Bảng 2.2: Các thông số cơ bản của hệ thống khai thác
2 Chiều dài TB của tuyến khai thác Lt m 800-1.100
4 Chiều rộng của rãnh khai thác cho 1 cụm B m 25
2.3.2.3.Quy trình chế biến quặng
Quy trình chế biến quặng bao gồm 2 khâu:
* Khâu tuyển thô: được tuyển ngay tại khai trường nhờ công nghệ tuyển trọng lực sử dụng các cụm vít xoắn với các công đoạn như sau :
1 Cát quặng được bơm hút từ gương khai thác với tỷ lệ 7 m3 nước/1m3 cát quặng, bơm lên sàng lọc rác trước khi đưa vào vít xoắn sơ cấp; dung dịch cát thải được bù nước bơm ra bãi thải
2 Dung dịch cát quặng đã qua tuyển sơ cấp được bơm bù nước, bơm lên vít xoắn trung gian; dung dịch cát thải của khâu này, được bơm bù nước, bơm
ra bãi thải
3 Dung dịch cát quặng đã qua tuyển trung gian được bơm bù nước, bơm lên vít xoắn tuyển sản phẩm; dung dịch cát thải của khâu này, được bơm bù nước, bơm ra bãi thải
4 Sản phẩm cát quặng được bơm bù nước, bơm lên bãi chứa sản phẩm
* Khâu tuyển tinh: quặng được vận chuyển về nhà máy tuyển tinh được xây dựng ngay trên diện tích khu mỏ (thuộc dự án riêng về công tác chế biến tinh)
Trang 25TiO 2 ZrO 2 TiO 2 ZrO 2
Quặng tinh thô
2.3.3 Ưu điểm và hạn chế ngành khai thác khoáng sản titan-zircon Việt Nam
2.3.3.1 Ưu điểm ngành khai thác khoáng sản titan-zircon Việt Nam [18]
- Ngành titan-zircon đã lựa chọn bước đi ban đầu hợp lý là đã tập trung tiến hành điều tra thăm dò địa chất và nghiên cứu lựa chọn công nghệ, thiết bị để khai thác- tuyển sa khoáng ven biển, nơi có điều kiện thuận lợi hơn so với các loại hình mỏ khác
- Đã huy động được tiềm lực khoa học kỹ thuật trong nước phục vụ sự phát triển ngành titan – zircon, đặc biệt trong giai đoạn điều tra, thăm dò địa chất, khai thác, tuyển khoáng Hình thành được nguồn lực KHCN để đóng góp vào sự phát triển ngành CNKS titan-zircon của đất nước
- Sự hình thành Hiệp hội Titan Việt Nam gồm các doanh nghiệp, các tổ chức dịch vụ tư vấn KHCN và các cơ sở chế tạo thiết bị đã tạo điều kiện để chuyển giao công nghệ và huy động được các nguồn lực để phát triển ngành
- Sản lượng, chất lượng và giá trị các sản phẩm titan và zircon ngày một cao góp phần tăng giá trị nguồn hàng xuất khẩu
- Tạo công ăn việc làm và góp phần phát triển KTXH, tăng nguồn thu ngân sách của nhiều địa phương có tài nguyên
2.3.3.2 Hạn chế ngành khai thác khoáng sản titan-zircon Việt Nam [18]
Bên cạnh những thành tựu cũng còn một số vấn đề tồn tại làm ảnh hưởng đến sự phát triển hợp lý và bền vững của ngành CNKS titan-zircon
- Phần lớn mỏ quặng titan giàu ven biển có điều kiện khai thác và tuyển thuận lợi đã bị khai thác cạn kiệt để xuất khẩu Tài nguyên titan-zircon còn lại
Trang 26chủ yếu trong tầng cát đỏ chưa được nghiên cứu, đánh giá đầy đủ khả năng khai thác, chế biến hợp lý và hiệu quả kinh tế.
- Việc tranh chấp tài nguyên, cấp phép thăm dò, khai thác tài nguyên không hợp lý và việc khai thác tài nguyên trái phép, không tuân thủ quy trình, quy phạm còn phổ biến ở nhiều địa phương có tài nguyên
- Tình trạng xuất khẩu tiểu ngạch nguyên liệu thô giá trị thấp tương đối phổ biến
- Vì lợi nhuận cao và lợi dụng kẽ hở của luật pháp quản lý nên việc lập dự
án đầu tư theo phong trào để xin cấp phép thăm dò, khai thác và chế biến khoáng sản titan-zircon khá phổ biến ở nhiều địa phương
- Trong những năm gần đây vì lợi nhuận các doanh nghiệp chỉ chú ý đến phát triển sản xuất kinh doanh Việc đầu tư của Nhà nước và các doanh nghiệp cho nghiên cứu phát triển KHCN không hợp lý và chưa đúng mức đã ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững (PTBV) của ngành CNKS titan-zircon Việt Nam
- Sự thiếu liên kết và đồng bộ về quy mô, trình độ KHCN giữa các công đoạn khai thác, tuyển và chế biến, sản xuất các sản phẩm titan-zircon, đặc biệt công đoạn chế biến sâu còn nhiều vấn đề tồn tại
- Tình trạng nhập khẩu cộng nghệ lạc hậu, công nghệ bẩn trong sản xuất xỉ titan đã và đang xảy ra
- Khá phổ biến tình trạng suy thoái môi trường tự nhiên, tác động xấu đến
hạ tầng cơ sở và môi trường văn hóa, môi trường kinh tế xã hội, đặc biệt công tác hoàn phục môi trường mỏ sau khai thác chưa được chú ý
Trang 272.4 Nguyên nhân những tồn tại của ngành khoáng sản Titan –Zircon [18]
- Việt Nam là một nước đang phát triển, bắt đầu tiến hành công nghiệp hóa nên việc huy động nguồn TNKS, trong đó có titan và zircon là nhu cầu khách quan
- Trình độ phát triển KTXH và KHCN của Việt Nam nói chung còn thấp, đặc biệt đối với ngành khoáng sản mới là titan-zircon
- Sức ép về yêu cầu phát triển KTXH và nhu cầu giải quyết việc làm của các địa phương tương đối lớn
Nhận thức chưa đúng hoặc chưa đầy đủ của các ngành, các cấp, các địa phương, các doanh nghiệp và cộng đồng dân cư về đặc điểm phát triển khoáng sản titan-zircon là nguyên nhân quan trọng của những tồn tại, trong đó phải kể đến:
- Đặc điểm phân bố, trữ lượng, chất lượng và thị trường trong nước và thế giới của khoáng sản titan – zircon và các khoáng vật đi kèm
- Đặc điểm của vị trí và quy trình phát triển của TNKS nói chung và khoáng sản titan - zircon nói riêng trong sự nghiệp phát triển bền vững KTXH
- Xu thế phát triển KHCN trong khai thác, chế biến và sử dụng khoáng sản titan – zircon trong khu vực và thế giới
- Mối quan hệ giữa khai thác tài nguyên titan – zircon với các tài nguyên thiên nhiên khác và các họat động kinh tế khác; cũng như tác động đến môi trường tự nhiên, văn hóa và KTXH của địa phương và khu vực
* Nguyên nhân kinh tế xã hội
- Do luật pháp, chính sách còn nhiều tồn tại nên hoạt động khoáng sản trong thời gian vừa qua mang lại siêu lợi nhuận Vì vậy nhiều nhà đầu tư bỏ tiền lập dự
án đầu tư để xin cấp phép thăm dò khoáng sản titan – zircon
- Trong quản lý và họat động khoáng sản vì lợi nhuận, vì lợi ích cá nhân, cục bộ (lợi ích nhóm), địa phương và lợi ích trước mắt (tư duy nhiệm kỳ) thường xảy ra tình trạng cấp phép tùy tiện (theo cơ chế xin cho) và khai thác khoáng sản trái phép hay không tuân thủ quy trình, quy phạm và pháp luật Tình trạng này dẫn đến tổn thất, lãng phí tài nguyên và suy thoái môi trường của nhiều khu vực
Trang 28- Nhu cầu giải quyết việc làm, hy vọng cải thiện đời sống trong thời gian nông nhàn và ngư nhàn hay mong muốn làm giàu của một bộ phận dân cư vì đào đãi khoáng sản có thu nhập cao hơn canh tác nông nghiệp, trồng rừng và đánh bắt hải sản
- Việc phân chia lợi ích của khai thác tài nguyên không hợp lý và thiếu công khai minh bạch dẫn đến tranh chấp trong cấp phép của các cơ quan quản lý trung ương và địa phương, của các cá nhân, tổ chức tham gia quản lý và hoạt động khai thác quặng titan-zircon
*Nguyên nhân KHCN và BVMT
- Trong những năm gần đây việc đầu tư cho nghiên cứu KHCN và BVMT chưa hợp lý và đúng mức đặc biệt cho các quá trình chế biến sâu và sản xuất các sản phẩm mới để đa dạng hóa chủng loại, nâng cao chất lượng và giá trị sản phẩm titan-zircon
- Chưa đầu tư hợp lý cho công tác nghiên cứu KHCN và đánh giá kinh tế để lựa chọn phương án khai thác, chế biến, sử dụng hợp lý, có hiệu quả và BVMT đối với tài nguyên titan-zircon trong tầng cát đỏ Bình Thuận và Ninh Thuận
- Không chú ý đến việc cải tiến các sơ đồ công nghệ và thiết bị của các nhà máy tuyển tinh để nâng cao các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật cũng như chất lượng và giá trị của các sản phẩm cộng sinh như rutil, zircon, monazit
* Nguyên nhân quản lý nhà nước
- Luật pháp, chính sách chung tuy được bổ sung sửa đổi nhưng vẫn còn những vấn đề tồn tại như khai thác tận thu, phân cấp việc cấp phép họat động khoáng sản, thuế và phí tài nguyên và môi trường
- Chậm ban hành chiến lược phát triển ngành công nghiệp khoáng sản trong
đó có khoáng sản titan-zircon
- Quy hoạch phát triển ngành titan-zircon mới chỉ chú ý đến công tác thăm
dò địa chất, đầu tư phát triển sản xuất chưa chú ý đúng mức đến công tác nghiên cứu phát triển KHCN và BVMT
- Công tác hướng dẫn, kiểm tra, giám sát các HĐKS còn chưa có hiệu quả
Trang 29CHƯƠNG III: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Tác động tới môi trường của việc khai thác thu hồi sa khoáng Titan – Zircon tại xã Phước Dinh huyện Thuận Nam, tỉnh Ninh Thuận
3.2 Nội dung nghiên cứu
3.2.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hôi xã Phước Dinh, huyện Thuận Nam, tỉnh Ninh Thuận
• Đặc điểm tự nhiên xã Phước Dinh, huyện Thuận Nam, tỉnh Ninh Thuận
• Đặc điểm xã hôi xã Phước Dinh, huyện Thuận Nam, tỉnh Ninh Thuận
3.2.2 Xác định hiện trạng môi trường khu vực khai thác sa khoáng Titan – Zircon tại xã Phước Dinh, huyện Thuận Nam, tỉnh Ninh Thuận
• Đặc điểm dự án khai thác sa khoáng titan tại xã Phước Dinh huyện Thuận
Nam, tỉnh Ninh Thuận
• Hiện trạng môi trường khu vực mỏ khai thác sa khoáng titan – Zircon tại xã Phước Dinh, huyện Thuận Nam, tỉnh Ninh Thuận
3.2.3 Xác định những tác động tới môi trường của việc khai thác sa khoáng Titan – Zircon tại xã Phước Dinh, huyện Thuận Nam, tỉnh Ninh Thuận
• Xác định những tác động đến môi trường hoạt động khai thác sa khoáng Titan – Zircon tại xã Phước Dinh
3.2.4 Đề xuất các biện pháp giảm thiểu ảnh hưởng xấu từ việc khai thác sa khoáng Titan – Zircon tại xã Phước Dinh huyện Thuận Nam, tỉnh Ninh Thuận.
• Biện pháp giảm thiểu tác động đến môi trường trong hoạt động khai thác sa khoáng Titan – Zircon
Trang 303.3 Phương pháp nghiên cứu
3.3.1 Phương pháp lấy mẫu và chỉ tiêu phân tích
3.3.1.1 Đối với môi trường không khí,
- Lấy mẫu khí tại 4 điểm: Đường giao thông phía đông gần khu mỏ; Đường giao thông phía đông bắc khu mỏ; Đường di chuyển thiết bị phía tây bắc khu mỏ; Đường di chuyển thiết bị phía nam khu mỏ
Vị trí lấy mẫu trong bảng sau:
Bảng 3.1: Tọa độ vị trí các điểm lấy mẫu
1110, múi chiếu 60)
Điểm KK1: Đường giao thông phía Đông gần khu mỏ 1264856 280094Điểm KK2: Đường giao thông phía Đông Bắc khu mỏ 1266847 278045Điểm KK3: Gần ranh giới phía Bắc khu mỏ 1267506 277028Điểm KK4: Gần ranh giới phía Nam khu mỏ 1262652 278119
3.3.1.2 Đối với môi trường nước
- Lấy 4 mẫu nước mặt tại các vị trí: Nước suối phía đông của mỏ ; Nước suối phía đông bắc của mỏ ; Nước suối phía tây bắc mỏ; Nước trong hồ Núi một
Vị trí lấy mẫu trong bảng sau:
Bảng 3.2: Tọa độ vị trí các điểm lấy mẫu
Vị trí lấy mẫu Tọa độ hệ VN2000 (KTT
1110, múi chiếu 60)
Điểm NM1: Nước suối phía đông của mỏ 1265159 279875Điểm NM2: Nước suối phía đông bắc của mỏ 1267493 278246Điểm NM3: Nước suối phía tây bắc mỏ 1266283 276527Điểm NM4: Nước trong hồ Núi Một 1262147 278293
Lấy 3 mẫu nước ngầm tại các vị trí: Khu vực chùa phía đông bắc mỏ; Nhà dân phía bắc khu mỏ; Khu vực dự kiến xây dựng khu phụ trợ phía Nam mỏ
Vị trí lấy mẫu trong bảng sau:
Trang 31Vị trí lấy mẫu Tọa độ hệ VN2000 (KTT
1110, múi chiếu 60)
Điểm NN1: Khu vực chùa phía Đông Bắc mỏ 1266905 278135
Điểm MN3: Khu vực dự kiến xây dựng khu phụ trợ
- Các chỉ tiêu phân tích: pH, DO (Độ oxy hoà tan), COD, BOD5 , TSS, NO3-, NO2-, NH4 , Cl-, Cr3+, Fe tổng, Ni, Cd, Pb, Cu, Zn, Hg, As, Dầu mỡ Tổng hoạt độ phóng xạ α, Tổng hoạt độ phóng xạ β, Coliform
3.3.1.3 Đối với môi trường đất
- Lấy 3 mẫu đất tại các vị trí : Giáp ranh giới phía Đông mỏ; Giáp đường mòn phía Đông Bắc mỏ; Giáp ranh giới phía Nam mỏ
Vị trí lấy mẫu trong bảng sau:
Bảng 3.4: Tọa độ vị trí các điểm lấy mẫu
1110, múi chiếu 60)
Điểm MĐ1: Giáp ranh giới phía Đông mỏ 1264840 279877Điểm MĐ2: Giáp đường mòn phía Đông Bắc mỏ 1266718 277996Điểm MĐ3: Giáp ranh giới phía Nam mỏ 1262696 278942
- Các chỉ tiêu phân tích: pH (KCL), Độ mùn, Nitơ tổng, P2O5 tổng, K2O dễ tiêu, CaO, Zn, Cd, Pb, Cu, As, Tổng hoạt độ phóng xạ α, Tổng hoạt độ phóng xạ β
3.3.2 Phương pháp phân tích
- SO2 phân tích theo phương pháp Huỳnh quang cực tím
- NO2 phân tích theo phương pháp Huỳnh quang hóa học pha khí
- CO: phân tích theo phương pháp Quang phổ hồng ngoại không phân tán (NDIR)
- Bụi phân tích theo phương pháp khối lượng
Trang 32- Tiếng ồn xác định theo phương pháp: Sử dụng Máy đo độ ồn Lutron SL 4001, 30 ~ 130 dB
Trang 33CHƯƠNG IV: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
4.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hôi xã Phước Dinh, huyện Thuận Nam, tỉnh Ninh Thuận
4.1.1 Đặc điểm tự nhiên xã Phước Dinh, huyện Thuận Nam, tỉnh Ninh Thuận 4.1.2 Vị trí địa lý
Xã Phước Dinh nơi diễn ra việc khai thác sa khoáng titan – zircon có vị trí tiếp giáp với các xã:
Vũng Sơn Hải