“VỀ NHỮNG BIỂU HIỆN TỤT HẬU CỦA KHU VỰC DỊCH VỤ”LỜI NÓI ĐẦU Khu vực dịch vụ có vai trò vô cùng quan trọng đối với tăng trưởng kinh tế của mỗi quốc gia cũng như toàn thế giới; là động lực
Trang 1“VỀ NHỮNG BIỂU HIỆN TỤT HẬU CỦA KHU VỰC DỊCH VỤ”
LỜI NÓI ĐẦU
Khu vực dịch vụ có vai trò vô cùng quan trọng đối với tăng trưởng kinh tế của mỗi quốc gia cũng như toàn thế giới; là động lực thúc đẩy tăng trưởng nội địa, thu hút mạnh mẽ đầu tư nước ngoài, tạo ra khối lượng việc làm lớn; đóng góp phần quan trọng trong việc nâng cao chất lượng cuộc sống, xóa đói giảm nghèo và phát triển bền vững.
Tuy nhiên, trong những năm gần đây, tốc độ tăng trưởng của khu vực dịch vụ nước ta lại có xu hướng suy giảm và thấp hơn mức tăng trưởng trung bình của nền kinh tế; tỷ trọng của khu vực dịch vụ trong GDP thấp hơn so với mức trung bình của thế giới và còn có dấu hiệu giảm sút Đây là một điều rất đáng lo ngại, bởi vì nó đi ngược với xu hướng phát triển chung của thế giới hiện nay, khi khu vực dịch vụ ngày càng giữ vị trí quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội và chiếm tỷ trọng lớn trong GDP; hơn nữa, sự yếu kém, giảm sút của khu vực dịch vụ còn có thể dẫn đến nguy cơ kìm hãm tốc độ phát triển chung của đất nước.
Sau quá trình tìm hiểu, nghiên cứu về thực trạng nói trên, Trung tâm Thông tin và
Dự báo Kinh tế - xã hội Quốc gia tổng hợp và biên soạn ấn phẩm Thông tin chọn lọc
phục vụ lãnh đạo “Về những biểu hiện tụt hậu của khu vực dịch vụ” với nội dung
khái quát hiện trạng, tìm hiểu nguyên nhân suy giảm tăng trưởng của khu vực dịch
vụ cũng như đưa ra một số giải pháp mang tính gợi mở nhằm phát triển mạnh mẽ hơn khu vực kinh tế quan trọng này.
Xin trân trọng giới thiệu.
I THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KHU VỰC DỊCH VỤ Ở VIỆT NAM
1 Vai trò của khu vực dịch vụ đối với sự phát triển kinh tế - xã hội
Cùng với sự phát triển kinh tế và quá trình toàn cầu hóa, khu vực dịch vụ ngày càng giữ vai trò quan trọng đối với tăng trưởng kinh tế của mỗi quốc gia và thế giới Khu vực dịch vụ cũng đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển của hai khu vực công nghiệp và nông nghiệp Chất lượng của các ngành dịch vụ đầu vào sẽ nâng cao giá trị gia tăng trong các ngành sản xuất hàng hóa cũng như tăng cường năng lực cạnh tranh của các ngành định hướng xuất khẩu Trong vòng 20 năm trở lại đây, dịch vụ luôn là lĩnh vực thu hút lượng vốn đầu tư nước ngoài lớn nhất với khoảng trên 50% tổng vốn đầu tư toàn cầu Theo đó, các doanh nghiệp dịch vụ tạo ra ngày càng nhiều việc làm với nhiều loại hình khác nhau
Có thể nói, dịch vụ là nhân tố quan trọng và là động lực mạnh mẽ thúc đẩy các hoạt động kinh tế và tăng trưởng nội địa Các dịch vụ cơ sở hạ tầng như xây dựng (Hiện nay, theo cách tính của Thống kê Việt Nam, xây dựng vẫn chưa được tính vào khu vực dịch vụ), giao thông, viễn thông, tài chính… hỗ trợ đắc lực trong hoạt động của các loại hình doanh nghiệp; chất lượng dịch vụ chính phủ đóng vai trò quyết định
Trang 2đối với môi trường kinh doanh Hơn nữa, khi nền kinh tế càng phát triển thì vai trò của ngành dịch vụ càng được thể hiện rõ nét Trên thực tế, tăng trưởng của khu vực dịch vụ chính là nhân tố thúc đẩy có hiệu quả nhất sự tăng trưởng của toàn bộ nền kinh tế; không những thế, nó còn góp phần quan trọng nâng cao chất lượng cuộc sống (như các dịch vụ y tế, bảo hiểm, giáo dục…), tăng cường ổn định xã hội, xóa đói giảm nghèo và phát triển bền vững
Hiện nay, dịch vụ đóng góp trung bình khoảng 68% GDP toàn cầu và đặc biệt là
có xu hướng ngày càng tăng lên Những nước càng phát triển thì khu vực dịch vụ
càng chiếm tỷ trọng lớn trong GDP, điển hình như Hoa Kỳ (79,3%), Nhật Bản (72,4%), Pháp (72,8%), Anh (73,1%) (Số liệu năm 2003.) Sự đóng góp lớn của khu vực dịch vụ khiến cho nền kinh tế của các nước phát triển trở nên linh hoạt hơn, tạo
ra nhiều giá trị gia tăng và cơ sở vững chắc cho phát triển Đối với các nước đang phát triển, vai trò của dịch vụ trong GDP mặc dù chưa thể hiện rõ nét như các nước phát triển nhưng cũng khá cao và đang diễn ra sự dịch chuyển mạnh mẽ trong cơ cấu kinh tế: tăng dần tỷ trọng các ngành dịch vụ, giảm dần tỷ trọng của các ngành công nghiệp, nông nghiệp
2 Thực trạng phát triển khu vực dịch vụ ở Việt Nam
Trong những năm qua, cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, khu vực
dịch vụ cũng đã đạt được những kết quả đáng khích lệ Các ngành dịch vụ có bước
chuyển dịch tích cực, theo hướng đáp ứng tốt hơn các nhu cầu về sản xuất, kinh doanh và phục vụ đời sống dân cư Đặc biệt, trong các hoạt động dịch vụ đã bắt đầu thực hiện bình đẳng giá giữa người nước ngoài và người trong nước
Giai đoạn 2001 - 2005, giá trị sản xuất của các ngành dịch vụ tăng bình quân hàng năm khoảng 7,6%, giá trị tăng thêm bình quân đạt 6,9% Ngành du lịch có bước phát triển khá nhanh, thị trường du lịch được mở rộng, thu nhập từ du lịch tăng mạnh, góp phần tạo thêm nhiều việc làm; dịch vụ bưu chính - viễn thông phát triển khá nhanh, mạng lưới viễn thông tiếp tục được hiện đại hóa; các dịch vụ tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, kiểm toán, tư vấn pháp luật, dịch vụ trí tuệ và tin học, dịch vụ kỹ thuật, y tế, giáo dục và đào tạo,… đều có bước tiến bộ; thị trường chứng khoán bước đầu được xây dựng
và phát triển, góp phần huy động nguồn lực tài chính cho đầu tư
Có thể nói, những kết quả đạt được của khu vực dịch vụ đã có đóng góp tích cực đối
với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Tuy nhiên, có một thực tế là, sự phát triển của khu vực dịch vụ nước ta trong khoảng 10 năm gần đây lại có những điểm ngược với xu thế tăng trưởng khu vực dịch vụ toàn cầu cũng như quy luật vận động chung của các nước đang phát triển Trong khi đáng lẽ phải tăng trưởng nhanh, tăng
trưởng mạnh để tạo điều kiện cho các ngành kinh tế khác phát triển, thì trong những năm
qua, ngành dịch vụ nước ta lại đang có những dấu hiệu của sự thụt lùi, biểu hiện trên các
mặt sau đây:
Một là, tốc độ tăng trưởng của khu vực dịch vụ trong những năm gần đây giảm
dần và thấp hơn mức tăng trưởng trung bình của nền kinh tế Giai đoạn 1986-1995,
với việc xóa bỏ cơ chế bao cấp đối với hàng hóa, chuyển sang cơ chế thị trường, khu vực dịch vụ đã có những bước phát triển đáng kể, tốc độ tăng trưởng bình quân cao hơn tốc
Trang 3độ tăng trưởng của nền kinh tế (GDP) Tuy nhiên, kể từ sau năm 1995, tốc độ tăng trưởng của khu vực dịch vụ liên tục giảm xuống, thấp hơn mức tăng trưởng GDP trung bình Tính chung trong giai đoạn 1996-2004 (theo giá so sánh), tốc độ tăng trưởng GDP bình quân đạt 7,1%, trong khi đó, tốc độ tăng trưởng của khu vực dịch vụ lại chỉ đạt 6,1% Điều này trái ngược với xu hướng tăng trưởng chung của khu vực dịch vụ toàn
cầu Có thể nói, khu vực dịch vụ nước ta đang có những biểu hiện rõ nét của sự “tụt hậu” so với quá trình phát triển của nền kinh tế, so với yêu cầu tăng trưởng và so với sự
phát triển của khu vực dịch vụ toàn cầu
Tốc độ tăng trưởng bình quân khu vực dịch vụ của Việt Nam, giai đoạn
1986-2003
Đơn vị: %
Giai đoẠn Tăng trưởng GDP của khu vực dịch vụ Tăng trưỞng
Nguồn: Số liệu của Tổng cục Thống kê, Niên giám thống kê (nhiều năm).
Hai là, tỷ trọng của khu vực dịch vụ trong GDP của nước ta những năm vừa qua
vẫn còn thấp và nhất là liên tục giảm sút qua các năm (Xem biểu đồ)
Tỷ trọng khu vực dịch vụ trong GDP của nước ta đạt mức cao nhất là 44,06% vào năm 1995, nhưng sau đó liên tục giảm xuống, và đến năm 2003 chỉ còn 38%, thấp hơn nhiều so với mức trung bình 71% của các nước phát triển và khoảng 50% của các nước có thu nhập thấp Trong khi đó, các nước trong khu vực như Thái Lan, Philíppin, Brunây, Xingapo đều có tỷ trọng dịch vụ khá cao, con số tương ứng là 49,79%; 53,16%; 54,79%; 64,96% (số liệu năm 2003) Niên giám thống kê 2004)
Biểu đồ: Tỷ trọng khu vực dịch vụ trong GDP
qua các năm
── dịch vụ/GDP (%)
44.06 42.51 42.15 41.73
40.08 38.74 38.63 38.48
38 38.16
34 36 38 40 42 44 46
1995 1996 1997 1998 1999 2000 2001 2002 2003 2004
Nguồn: Niên giám thống kê 2004
Trang 4Những con số thống kê cũng cho thấy, giai đoạn 1996-2000, khu vực dịch vụ không đạt được mục tiêu về tăng trưởng do Đại hội Đảng đề ra cho thời kỳ này, đó là tăng trưởng 12-13% và đạt tỷ trọng 45-46% GDP vào năm 2000 Giai đoạn tiếp theo
từ 2001-2005, một trong những yếu kém của nền kinh tế nước ta được nêu ra là:
“chuyển dịch cơ cấu kinh tế chưa đồng đều và chưa phát huy sức mạnh trong từng ngành, từng vùng và từng sản phẩm Cơ cấu dịch vụ chưa có sự dịch chuyển đáng kể, tốc độ tăng trưởng chưa cao… Tỷ trọng dịch vụ trong GDP còn thấp và chưa có chuyển biến rõ nét…” (Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2006-2010,
Bộ Kế hoạch và Đầu tư, tháng 12/2005 (Bản dự thảo))
Như vậy, có thể thấy, đóng góp của ngành dịch vụ trong cơ cấu kinh tế là chưa tương xứng với tiềm năng và vai trò thúc đẩy phát triển kinh tế đất nước Ngược lại, sự suy
giảm tỷ trọng khu vực dịch vụ trong cơ cấu GDP phần nào còn có thể dẫn đến kiềm chế tăng trưởng GDP Nhiều nhà nghiên cứu đã đưa ra một con số giả định, nếu trong giai
đoạn 2001-2004, khu vực dịch vụ Việt Nam đóng góp 44,3% GDP (như mức hiện tại của Thái Lan) thì sẽ đẩy tốc độ tăng trưởng bình quân của GDP lên đạt mức 2 con số là 10,1% chứ không chỉ dừng ở 7,1%
Trên thực tế, khu vực dịch vụ nước ta chưa hỗ trợ nhiều cho các ngành kinh tế khác mà trái lại, phần nào còn hạn chế và làm giảm đi sức cạnh tranh của các ngành sản xuất Theo thống kê, để sản xuất ra một thành phẩm có giá trị 100 đồng, thì 10 đồng phải chi cho dịch vụ vận tải, 10 đồng chi cho dịch vụ viễn thông, 10 đồng chi cho dịch vụ quảng cáo, 30 đồng chi cho các dịch vụ liên quan tới sản xuất, chỉ có 20 đồng cho nguyên vật liệu và còn lại là các chi phí khác như tiền lương, quản lý Trong khi đó, các chi phí của nhiều dịch vụ tại Việt Nam còn khá cao (chi phí vận tải, chi phí viễn thông… của nước ta cao hơn nhiều so với mức trung bình của thế giới), dẫn đến tăng chi phí đầu vào của các ngành sản xuất, đặc biệt là đối với các sản phẩm xuất khẩu.
Theo kết quả điều tra của Tổ chức xúc tiến thương mại Nhật Bản (JETRO), từ năm 1998 đến nay, chi phí kinh doanh tại Việt Nam đã giảm đi rất nhiều, đặc biệt là cước điện thoại Gần đây, Bộ Bưu chính - Viễn thông đã ban hành nhiều quyết định điều chỉnh cước viễn thông giảm
từ 10-40% đối với nhiều loại dịch vụ như Internet, điện thoại di động, điện thoại quốc tế… Tuy nhiên, cước viễn thông quốc tế của Việt Nam vẫn còn cao hơn một số nước trong khu vực như Malaixia, Thái Lan, Xingapo…
một phần bởi vì các nước cũng giảm giá cước viễn thông
và giảm nhanh hơn so với Việt Nam Lộ trình giảm giá cước viễn thông của nước ta, tuy có những chuyển biến tích cực, nhưng so với các nước trong khu vực và trên thế giới, có thể nói là vẫn đang diễn ra tương đối chậm.
Một điều được coi là bất hợp lý và cũng là điểm yếu của khu vực dịch vụ nước ta chính là cơ cấu ngành dịch vụ và tỷ trọng các phân ngành còn có sự chênh lệch lớn và
Trang 5hầu như không thay đổi trong một thời gian dài Phân ngành thương nghiệp và sửa chữa vật phẩm tiêu dùng chiếm tỷ trọng áp đảo 40,1%; trong khi đó, phân ngành khách sạn, nhà hàng trong nhiều năm qua vẫn chỉ dừng lại ở con số 7,9% Ngành vận tải và thông tin liên lạc là hai ngành có tác động trực tiếp và không thể thiếu đối với
các ngành sản xuất cũng chỉ chiếm một tỷ trọng khiêm tốn là 9,2% (năm 1995) và có
tăng lên nhưng không đáng kể, đạt 9,6% (năm 2004) Dịch vụ khoa học - công nghệ, một trong những công cụ quan trọng để đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) đất nước thì lại chỉ chiếm tỷ trọng quá nhỏ 1,4-1,5% Ngoài ra, tỷ trọng của các ngành dịch vụ khác như dịch vụ giáo dục, y tế,… cũng rất thấp và hầu như không thay đổi
Các ngành dịch vụ cơ bản (bao gồm: khách sạn, nhà hàng; vận tải, kho bãi và thông tin liên lạc; tài chính - tín dụng; kinh doanh tài sản và dịch vụ tư vấn; khoa học
và công nghệ; giáo dục và đào tạo; y tế và các hoạt động cứu trợ xã hội) là các ngành
có giá trị gia tăng cao, đóng góp quan trọng vào GDP và có tác động thúc đẩy sự phát triển của các phân ngành dịch vụ khác Tuy nhiên, trong 10 năm qua, tỷ trọng của các ngành dịch vụ cơ bản chỉ chiếm khoảng 46% và không có sự biến động, thay đổi nào đáng kể Như vậy là, ngay trong nội bộ khu vực dịch vụ cũng đang diễn ra sự “tụt hậu” của chính những phân ngành dịch vụ cơ bản: đó là, thay vì phải tăng trưởng mạnh mẽ và nâng dần tỷ trọng, góp phần hỗ trợ các phân ngành dịch vụ khác, thì chính khu vực này cũng đang chậm thay đổi, chưa thực sự phát triển xứng đáng với vai trò “đầu tàu” của mình
Ngoài ra, khu vực dịch vụ còn có vai trò quan trọng là tạo việc làm, góp phần ổn
định xã hội và nâng cao chất lượng cuộc sống Tuy nhiên, mức độ đóng góp vào vấn
đề giải quyết việc làm của khu vực dịch vụ nước ta còn chưa tương xứng với tiềm năng, mức gia tăng việc làm còn thấp so với tốc độ hình thành doanh nghiệp Tại các
nước phát triển, tỷ trọng lao động trong ngành dịch vụ rất cao, chiếm 70-80% lực lượng lao động xã hội; ở các nước đang phát triển tỷ lệ này tuy thấp hơn nhưng cũng đạt 30-35% Ở Việt Nam, số lượng lao động trong các ngành dịch vụ vẫn còn ở mức rất khiêm tốn, chỉ chiếm khoảng 25% Tốc độ tăng lao động trong ngành dịch vụ chỉ đạt khoảng 5%/năm, trong khi đó, ở các nước đang phát triển bình quân đạt 8-9%/năm Hiện nay, ở nước ta, các ngành nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản vẫn tiếp tục sử dụng tới 2/3 lực lượng lao động của cả nước, mục tiêu dịch chuyển lao động từ khu vực nông nghiệp sang khu vực dịch vụ, giảm tỷ lệ lao động thất nghiệp ở thành thị đến nay vẫn chưa thực hiện được một cách hiệu quả
Một vài năm trở lại đây, do những cải cách mạnh mẽ của Chính phủ về cơ chế chính sách và môi trường đầu tư, đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào Việt Nam đang có những tín hiệu khởi sắc, tuy nhiên, FDI vào khu vực dịch vụ chỉ chiếm trung bình khoảng 13% tổng số vốn FDI của cả nước, thấp hơn nhiều so với mức trung bình chung của thế giới (trên 50%) Hiện nay, tại Việt Nam, các lĩnh vực như viễn thông, dịch vụ tài chính, giáo dục đào tạo… đang phát triển với tốc độ cao và rất cần một lượng vốn FDI lớn, cần được tăng cường đầu tư hơn nữa, bởi vì, chính những ngành này sẽ góp phần rất quan trọng để thúc đẩy nền kinh tế nước ta đạt được mức
Trang 6tăng trưởng cao
Theo tính toán, thời gian gần đây, xuất khẩu dịch vụ của Việt Nam đã có những bước tăng trưởng đáng kể, tuy nhiên, tỷ trọng xuất khẩu dịch vụ của Việt Nam mới chỉ đạt con số 13,4% tổng kim ngạch xuất khẩu, dưới mức trung bình của thế giới (20%), thậm chí còn thấp hơn mức trung bình của các nền kinh tế đang phát triển và chuyển đổi (14,7%) Nguyên nhân là do năng lực cạnh tranh của khu vực dịch vụ của Việt Nam còn rất thấp, nhập khẩu dịch vụ cao hơn nhiều so với xuất khẩu dịch vụ.
Thời gian qua, ngành bưu chính - viễn thông đã có những bước phát triển nhanh, đạt mức tăng trưởng rất cao và được đánh giá là ngành dịch vụ có tốc độ phát triển mạnh
mẽ nhất Trong 5 năm 2001-2005, toàn ngành đã phát triển mới 11 triệu máy điện thoại, 100% số xã trên toàn quốc đã có điện thoại, 83% xã có điểm bưu điện - văn hóa
xã, số người sử dụng Internet là 14,9%, đạt 3,1 triệu thuê bao Internet; chỉ số doanh thu toàn ngành tăng 18,3%, tổng nộp ngân sách tăng 16,5% Tính riêng trong năm
2005, lắp đặt và thuê bao mới đạt khoảng 3,48 triệu máy điện thoại, nâng tổng số thuê bao điện thoại trên toàn mạng lên gần 15,78 triệu máy (trong đó thuê bao di động chiếm 55%), tăng 53,2% so với năm 2004, mật độ đạt 19,1 máy/100 dân (Báo cáo bổ sung Tình hình thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội năm 2005 và triển khai thực hiện nhiệm vụ năm 2006 tại kỳ họp thứ 9, Quốc hội khóa
XI, tháng 5/2006) Tuy nhiên, theo đánh giá, mức độ phổ cập dịch vụ này vẫn thấp hơn mức trung bình của khu vực, đặc biệt là nhập khẩu các dịch vụ viễn thông còn rất lớn.
Bài toán đặt ra cho các ngành dịch vụ Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay là cần phải nâng cao hơn nữa năng lực cạnh tranh của mình, tăng cường xuất khẩu dịch vụ và khả năng xâm nhập thị trường quốc
tế, nếu không, tình trạng thâm hụt cán cân thương mại dịch vụ vẫn còn tiếp tục gia tăng.
Như vậy, mặc dù có nhiều lợi thế và dư địa để phát triển, nhưng đến nay, khu vực
dịch vụ vẫn đang “tụt hậu” trong sự phát triển chung của nền kinh tế cũng như trong
xu hướng tăng trưởng mạnh mẽ của dịch vụ toàn cầu Vai trò của ngành dịch vụ đối với nền kinh tế nước ta hiện nay dường như còn nhiều bất hợp lý và chưa thực sự trở thành động lực thúc đẩy tăng trưởng Không chỉ có vậy, sự yếu kém, giảm sút của
khu vực dịch vụ còn có thể dẫn đến nguy cơ kìm hãm sự phát triển kinh tế đất nước Vậy, sự “tụt hậu” của khu vực dịch vụ là do những nguyên nhân nào?
II NGUYÊN NHÂN “TỤT HẬU” CỦA KHU VỰC DỊCH VỤ
1 Nhận thức về vai trò của khu vực dịch vụ chưa thỏa đáng
Một thời gian khá dài trong quá khứ, vai trò của khu vực dịch vụ chỉ được nhìn
Trang 7nhận là “phụ”, là “thứ yếu” trong nền kinh tế; ngành dịch vụ được xếp vào khu vực
phi sản xuất và được coi là “không đóng góp vào việc sản xuất ra của cải vật chất” cho đất nước Quan niệm “cũ” này đã để lại dấu ấn khá nặng nề trong sự phát triển của khu vực dịch vụ
Ngày nay, nhận thức về vai trò của dịch vụ trong nền kinh tế thị trường cũng như mối quan hệ giữa khu vực dịch vụ và các khu vực kinh tế khác của nước ta đã có những cải thiện đáng kể, nhưng bên cạnh đó, vẫn còn rất nhiều vấn đề cần phải xem xét và điều chỉnh
Bàn về những thách thức đối với các nước đang phát triển, nhiều chuyên gia kinh
tế đã đưa ra cảnh báo: cần tránh nhận thức sai lầm khá phổ biến hiện nay, đó là cho rằng nếu một nền kinh tế chuyển đổi hay đang phát triển còn khan hiếm nguồn lực (như vốn, tài nguyên…) thì phải ưu tiên phát triển ngành công nghiệp hoặc nông nghiệp chứ không phải dịch vụ Nhận thức này xuất phát từ việc chưa đánh giá đúng vai trò, vị trí của ngành dịch vụ đối với nền kinh tế; hiểu “dịch vụ” một cách phiến diện (cho rằng dịch vụ chủ yếu chỉ phục vụ cho người tiêu dùng, hoặc là những giao dịch không bắt buộc)
Những biểu hiện tụt hậu của khu vực dịch vụ nước ta trong thời gian qua, một
phần là do còn tồn tại một số nhận thức chưa thực sự đúng đắn về vai trò của ngành dịch vụ cũng như mối quan hệ giữa ngành dịch vụ và các ngành kinh tế khác (công
nghiệp, nông nghiệp); vẫn còn nhiều ý kiến cho rằng, dịch vụ chỉ là ngành “ăn theo”
các ngành sản xuất và do đó, chỉ nên tập trung đẩy mạnh phát triển các ngành sản xuất
Một khi nhận thức về vai trò, vị trí của khu vực dịch vụ chưa thỏa đáng, sẽ kéo theo những hạn chế trong việc điều hành nền kinh tế của Nhà nước và Chính phủ Nếu chỉ ưu tiên phát triển công nghiệp mà không coi trọng dịch vụ, dẫn đến chỉ tập trung phát triển sản xuất, không có sự ưu tiên về vốn, chính sách cho phát triển khu vực dịch vụ Điều này sẽ khiến cho nền kinh tế phát triển thiếu hài hòa và kém cạnh tranh Mức độ đầu tư cho phát triển các ngành dịch vụ bị hạn chế, các giải pháp phát triển ngành cũng chưa tập trung và đủ mạnh để thúc đẩy tăng trưởng cao
Để thực hiện thắng lợi công cuộc CNH, HĐH đất nước, “đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại” thì trong giai đoạn hiện nay lại càng phải chú trọng phát triển mạnh khu vực dịch vụ Bởi vì, chính khu vực dịch vụ là tác nhân thúc đẩy toàn bộ quá trình hoạt động của các ngành sản xuất, cả
từ phía đầu vào và đầu ra Sự phát triển của khu vực dịch vụ sẽ tăng cường năng lực cạnh tranh cho các ngành công nghiệp của nền kinh tế, giúp cho các ngành sản xuất trong nước không bị hàng hóa nhập khẩu đè bẹp trong bối cảnh cạnh tranh gay gắt trên phạm vi toàn cầu Hơn nữa, các dịch vụ đầu vào như vận tải, viễn thông, nghiên cứu thị trường… vô cùng quan trọng đối với việc nâng cao giá trị gia tăng trong sản xuất công nghiệp cũng như năng lực cạnh tranh của các ngành định hướng xuất khẩu Bên cạnh đó, các dịch vụ đào tạo nhân lực cũng sẽ làm tăng hiệu quả sử dụng và khắc phục được tình trạng khan hiếm nguồn nhân lực, nhất là nhân lực có trình độ cao
Trang 82 Môi trường pháp lý chưa hoàn chỉnh và thiếu đồng bộ
Một trong những nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng “tụt hậu” của khu vực dịch
vụ nước ta là do môi trường pháp lý cho khu vực này còn nhiều phức tạp, chưa thực
sự hoàn chỉnh và đồng bộ Theo thống kê, hiện nay nước ta có trên 70 văn bản luật và
trên 60 pháp lệnh có liên quan trực tiếp đến lĩnh vực dịch vụ Về cơ bản, các luật và pháp lệnh này được xây dựng cho từng ngành dịch vụ, như Luật Thương mại, Luật Xây dựng, Luật Kế toán, Luật Ngân hàng, Luật Hàng không dân dụng, Luật Hàng hải… Một vài năm trở lại đây, do yêu cầu của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, khuôn khổ pháp luật nước ta có thêm một số điều chỉnh cho phù hợp với luật pháp quốc tế, hoặc đang xem xét sửa đổi để đáp ứng yêu cầu của các hiệp định, hiệp ước quốc tế mà ta đã ký kết (như Hiệp định thương mại song phương Việt Nam - Hoa Kỳ, Hiệp định khung ASEAN về dịch vụ) Một số luật mới được ban hành, như Luật Cạnh tranh, Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư… và những nghị định, văn bản hướng dẫn thi hành đang trong quá trình hoàn thiện
Tuy nhiên, có thể thấy là, môi trường pháp lý của Việt Nam vẫn chưa thực sự hoàn chỉnh và tạo những điều kiện thuận lợi nhất cho khu vực dịch vụ phát triển Một số luật đã có hiệu lực nhưng chưa thực sự đi vào cuộc sống vì việc ban hành những Nghị định, Thông tư hướng dẫn thi hành còn chậm trễ Các luật được ban hành riêng lẻ và chưa thực sự có sự gắn kết; phạm vi của một số vấn đề cụ thể bị chia nhỏ và giải quyết theo một số văn bản khác nhau, thậm chí còn mâu thuẫn với nhau Tuy một số
luật có thêm điều khoản quy định “nếu mâu thuẫn thì giải quyết theo Luật chuyên ngành”, nhưng có thể nói, việc chưa có một chính sách điều chỉnh chung cho khu vực
dịch vụ đã gây ra rất nhiều khó khăn đối với các doanh nghiệp khi tiếp cận, nhất là những doanh nghiệp nước ngoài
Chính những điều không rõ ràng, thiếu minh bạch trong môi trường pháp lý của Việt Nam thời gian qua đã ảnh hưởng rất nhiều đến việc thu hút đầu tư nước ngoài nói chung và đầu tư nước ngoài cho khu vực dịch vụ nói riêng Với việc ban hành Luật Đầu tư chung, đến nay, doanh nghiệp nước ngoài được phép đầu tư vào Việt Nam dưới mọi hình thức trong tất cả các lĩnh vực không bị cấm Tuy nhiên, trong lĩnh vực dịch vụ thì vẫn còn một số hạn chế
Hơn nữa, hiệu lực pháp lý yếu kém cũng như việc thực thi các chính sách còn thiếu các biện pháp, chế tài kiểm tra, kiểm soát… là một trong những trở ngại rất lớn đối với sự phát triển của các doanh nghiệp tư nhân, nhất là các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ Các doanh nghiệp luôn thận trọng và phải tự tìm cách để đối phó với những khả năng rủi ro có thể xảy ra trong kinh doanh do các quy định về pháp lý không được thực hiện đúng và quyền lợi của họ không được đảm bảo một khi xảy ra tranh chấp hoặc phía đối tác vi phạm hợp đồng Điều này góp phần làm tăng thêm chi phí giao dịch của doanh nghiệp, giảm lợi nhuận, hạn chế những quyết định táo bạo trong kinh doanh…
Thêm vào đó, hiện nay, nước ta vẫn áp dụng mức thuế khác nhau cho các doanh nghiệp dịch vụ Trừ một số trường hợp đặc biệt, tất cả các doanh nghiệp ở Việt Nam
Trang 9đều phải đóng thuế giá trị gia tăng (VAT) và thuế thu nhập doanh nghiệp Thuế thu nhập doanh nghiệp thì có mức thống nhất là 28% - áp dụng từ tháng 1/2004, nhưng với thuế VAT thì áp dụng khác nhau cho những ngành dịch vụ khác nhau, dao động
từ 5-20% Phần lớn các doanh nghiệp chịu mức thuế VAT là 10% (như các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ bưu điện, viễn thông, xây dựng, vận tải…); các dịch vụ kỹ thuật, giáo dục… chịu mức thuế 5%; các dịch vụ môi giới hàng hải và vận tải biển thì phải chịu mức thuế cao nhất: 20% Tuy áp dụng những mức thuế khác nhau cho các ngành dịch vụ như vậy, nhưng chưa có cơ sở rõ ràng Ngoài ra, các chính sách áp dụng trong thực tế hiện nay chưa có sự đột biến, chậm thay đổi và bổ sung cho phù hợp với tình hình thực tế của sự phát triển nhanh chóng các ngành dịch vụ
Một trong những yếu tố nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành dịch vụ chính là
sự vững mạnh của môi trường pháp lý trong nước Trong bối cảnh hội nhập, những yếu tố cản trở sự phát triển của thương mại dịch vụ cũng thường là do hệ thống pháp luật trong nước gây nên Các chuyên gia nước ngoài nhận xét, tại các nước đang phát
triển như Việt Nam, thủ tục hành chính đã gây khó khăn gấp đôi cho các nhà kinh doanh trong việc khởi nghiệp
3 Nhiều bất cập trong quản lý nhà nước và vấn đề độc quyền nhà nước
Vấn đề quản lý nhà nước đối với khu vực dịch vụ của nước ta hiện nay cũng vẫn còn đang tồn tại nhiều bất cập Trách nhiệm quản lý khu vực dịch vụ thuộc phạm vi quản lý của nhiều bộ, ngành Mỗi bộ, ngành đóng vai trò nhất định đối với khu vực dịch vụ như xây dựng định hướng phát triển hoặc giám sát trực tiếp một ngành dịch
vụ Không như những khu vực kinh tế khác, đặc thù của khu vực dịch vụ là có mối quan hệ liên ngành rất cao; mỗi ngành dịch vụ đều là nguồn đầu vào cho các ngành sản xuất hàng hóa, đồng thời, lại cung cấp đầu vào cho các ngành dịch vụ khác Như vậy, sự phát triển của khu vực dịch vụ sẽ phụ thuộc cơ bản vào sự phối hợp chặt chẽ
và hiệu quả giữa các bộ, các ngành và các cơ quan
Hiện nay, mỗi ngành dịch vụ chịu sự quản lý của một bộ, ngành; tuy nhiên, một số
bộ khác cũng chịu trách nhiệm quản lý hoạt động của các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ (Ví dụ như dịch vụ du lịch lữ hành chịu trách nhiệm quản lý của Tổng cục Du lịch, Bộ Thương mại, Bộ Giao thông - Vận tải, Bộ Văn hóa - Thông tin); tại các địa phương, UBND tỉnh và các sở lại chịu trách nhiệm quản lý và giám sát hoạt động của ngành đó trên địa bàn tỉnh Với một hệ thống quản lý hành chính tương đối phức tạp và “đan xen” như thế, khu vực dịch vụ phải chịu sự chi phối từ nhiều phía Sự phân chia trách nhiệm không rõ ràng giữa các bộ, ngành và các cơ quan sẽ rất dễ dẫn đến tình trạng mỗi bộ, ngành, cơ quan luôn có xu hướng bảo vệ những lợi ích riêng của mình; kể cả việc ban hành các luật, các văn bản dưới luật
cũng có thể “gài” vào đó những điều có lợi cho mình Điều này đã khiến cho sự phát
triển tổng thể của khu vực dịch vụ bị ảnh hưởng rất lớn, không những không đạt được kết quả như mong muốn mà trái lại còn có những biểu hiện suy giảm
Đến nay, vẫn chưa có một cơ quan cấp cao của nước ta được Chính phủ giao nhiệm vụ đầu mối chuyên trách về quản lý khu vực dịch vụ mà trách nhiệm quản lý
Trang 10vẫn còn dàn trải, kém hiệu quả Việc tổ chức quản lý nhà nước chồng chéo nhưng vẫn lỏng lẻo, vừa thừa lại vừa thiếu của chúng ta hiện nay đã tạo ra một môi trường kinh doanh kém thuận lợi, nhiều rủi ro, làm tăng chi phí giao dịch và giảm lợi nhuận của các doanh nghiệp trong ngành dịch vụ Điều này lý giải một phần tại sao giá dịch vụ của nước ta trong thời gian qua còn rất cao so với mức trung bình của khu vực và thế giới Là nguồn cung cấp đầu vào cho các ngành sản xuất, nên việc giá dịch vụ cao đã làm gia tăng chi phí sản xuất của các ngành nông nghiệp và công nghiệp, làm giảm sức cạnh tranh của các ngành kinh tế này
Có thể nói, thể chế quản lý kinh tế trong lĩnh vực dịch vụ còn thiếu sự tách bạch giữa công tác quản lý và hoạt động kinh doanh Các bộ chủ quản có trách nhiệm quản
lý nhà nước trong các ngành của mình, đồng thời, cũng là đại diện sở hữu của Nhà nước trong công tác quản lý các doanh nghiệp quốc doanh cung cấp dịch vụ Tình trạng “vừa đá bóng vừa thổi còi” này đã gây ra không ít khó khăn cho việc quản lý
chính sách, dẫn đến tình trạng độc quyền còn bộc lộ nhiều trong các ngành cung cấp
dịch vụ
Thời gian qua, nhất là từ khi Luật Doanh nghiệp có hiệu lực (năm 2000), tỷ trọng của khu vực doanh nghiệp nhà nước đã giảm dần từ 40,2% tổng số doanh nghiệp (năm 1994) xuống 38,3% (năm 2003) Nhưng nhìn chung, các doanh nghiệp nhà nước vẫn giữ vị trí độc quyền, chi phối ở nhiều lĩnh vực kinh doanh dịch vụ, điển hình như ngành bưu chính - viễn thông
Hiện nay, trong lĩnh vực cung cấp dịch vụ bưu chính -viễn thông, các nhà đầu tư tư nhân và đầu tư nước ngoài chỉ được phép tham gia vào mạng lưới viễn thông cơ bản thông qua các dự án hợp đồng hợp tác kinh doanh, còn các công ty nhà nước vẫn giữ vị trí độc quyền Trong đó, riêng Tổng Công ty Bưu chính - Viễn thông Việt Nam (VNPT) đã chiếm 90% thị phần, 10% còn lại thuộc về một
số ít các doanh nghiệp nhà nước khác Một ví dụ khác, trong dịch vụ ngân hàng, 4 ngân hàng thương mại nhà nước khống chế hơn 70% thị phần thị trường tín dụng và được Nhà nước hỗ trợ thông qua việc tái cấp vốn Lợi thế từ vị trí độc quyền của nhóm các doanh nghiệp này
sẽ càng được gia tăng khi công tác quản lý nhà nước không tách bạch với chức năng chủ sở hữu của các doanh nghiệp thuộc bộ, ngành chủ quản, và không tránh khỏi việc thiên về bảo vệ lợi ích của ngành.
Có thể nói, nguyên nhân sâu xa của sự “tụt hậu” và “trì trệ” của khu vực dịch vụ
trong một thời gian dài vừa qua là do hầu hết các ngành dịch vụ lâu nay đều do các doanh nghiệp nhà nước thực hiện Vị trí độc quyền của các doanh nghiệp nhà nước trong các ngành dịch vụ viễn thông, điện lực, vận tải hàng không… dẫn tới sự bất bình đẳng trong tiếp cận thị trường khi các doanh nghiệp tư nhân hoặc doanh nghiệp nước ngoài không được phép tham gia vào kinh doanh các lĩnh vực dịch vụ này; hoặc khi tiếp cận gặp phải rất nhiều rào cản về cơ chế hành chính… Chính vì thế đã gây