Vì vậy phương phóp hành thành các biểu tượng toán học sở đẳng cho trẻ còn được coi là phương thúc hoạt động cùng nhau giữa nhà gido duc vdi trẻ uò giữa trẻ uới trẻ nhằm bình thành hứng
Trang 1TS ĐỖ THỊ MINH LIÊN
| PHUONG PHÁP HÌNH THÀNH BIỂU TUONG TOAN HOC SO DANG
NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
Trang 2ĐỐI TƯỢNG, NHIỆM VỤ VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
BỘ MÔN PHƯƠNG PHÁP HÌNH THAN H BIEU TƯỢNG
_ TOÁN HỌC SƠ ĐẲNG CHO TRẺ MẦM NON
1 Đối tượng và nhiệm vụ - on
9 Những khoa hoc c6 lién quan
: 8 Phương phấp nghiên cứu -
Chương ÏÏ o e4 4906066000010 0106180001000100204101000 al _ QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH CÁC BIEU TƯỢNG TOÁN HỌC
SƠ ĐẲNG CHO TRẺ MẦM NON .-222scccecsscrrrrrrev 21
1.Bản chất và nhiệm vụ của quá trình hình thành các biểu tượng toán học sơ đẳng cho trẻ mầm non
9 Các nguyên tắc dạy học những kiến thức toán học sơ đẳng
1 Nội dụng hình thành các biểu tượng toán học sơ đẳng cho trẻ
Lổt 8.0017
4 Các phương pháp dạy học những kiến thức toán học sở đẳng “
5 Các hình thức tổ chức hình thành các biểu tượng toán học sơ đẳng cho trẻ mầm non
Chương TT -c<s<<s<ss
HÌNH THANH BIEU TƯỢNG VE SO LƯỢNG, CON SO VA
PHEP-DEM CHO TRE MAM NON .cececceeerirrrree 79
1 Đặc điểm phát triển những biểu tượng về số lượng, cón số
và phép đếm ở trẻ lứa tuổi mầm non - .5ccccssreeerrrer 79
2 Nội đung hình thành biểu tượng về số lượng, con số và phép đếm
cho trẻ mẫu giáo
3 Phương pháp hình Ợ Ợ
cho trẻ mẫu giáo — Ô
Trang 3
Chương Tˆ ««c«sessse
2 Nội dung hình thành biểu tượng kích thước cho trẻ mầm non 125
3 Phường pháp hình thành biểu tượng kích thước cho trẻ mầm non 129
CRUG V veressesssrercssrssssrscseracacassssssessrsseorsessseaeseserseeeeenes —— ` 141
HÌNH THÀNH BIỂU TƯỢNG VỀ HÌNH DẠNG VẬT THỂ CHO
mam non
2, Nội dung hì ig ang cho trẻ mầm non
3 Phương pháp hình thành biểu tượng hình dang ( cho trẻ mắm non 152
Chương VĨ esscess v81 0491 0968856905694686008016494884004067/840480 1280089 168
HÌNH THÀNH SỰ ĐỊNH HƯỚNG TRONG KHÔNG GIAN CHO
15517180) 0Ẽ7Ẽ7ñn 5 168
1 Dac diém phat trién biéu tugng vé khong gian và sự định hướng :
trong không gian ở trẻ lứa tuổi mầm non
9 Nội dung dạy trẻ mẫu giáo định hướng trong không gian ve
3 Phuong pháp hìniythành sự định hướng trong không gian ở trẻ
1 Đặc điểm thhát triển biểu tượng thời gian ở trẻ lứa tuổi mẫm non 2.188
9 Nội dung và Phương pháp đạy trẻ mầm.non định hướng thời gian192
Chương VÏÏH se + ng n4 men e1464460167000046 036 203
THIẾT BỊ DẠY HỌC TRONG HÌNH THÀNH CÁC BIẾU TƯỢNG
1 Quan niệm về thiết bị dạy học
2 Các tính chất của thiết bị dạy học
- 8 Những chức năng của thiết bị dạy học
4 Cấu trúc của hệ thống thiết bị dạy học
5, Si dung thiét bị dạy học trong quá trình hình thành các
biểu tượng toán học cho trẻ mầm non
Chương ÏỮN e«eeceeesseseresrnerrisriisitteiieieri1 10n1neneee 319 LẬP KẾ HOẠCH HÌNH THÀNH CÁC BIỂU TƯỢNG TOÁN HỌC
SƠ ĐẲNG CHO TRẺ TRONG TRƯỜNG MẦM NON 219
1 Cơ số lý luận của việc lập kế hoạch hình thành các biểu tượng toán học
sơ đẳng cho trẻ trong trường rnâmnon
2 Nội dung lập kế hoạch hình thành các biểu tượng toán học cho trẻ mầm non :
3 CAc hinh thiic lập kế hoạch hinh thành các biểu tượng toán học
sơ đẳng cho trể trong trường mam non 224
92 Các tác giả nước ngoài Thu muc
Trang 4
LỜI NÓI ĐẦU
Giáo dục mầm non là bậc học đầu tiên trong hệ thống giáo
dục quốc dân Mục tiêu của giáo đực mầm non là hình thành
cơ sở bạn đầu về nhân cách con người phát triển toàn diện
Hình thành các biểu tượng toán học sơ đẳng cho trễ mầm non
là một nội dung quan trọng góp phần thực hiện mục tiêu giáo
đục mầm non Hiệu quả của việc bình thành các biểu tượng
toán học sơ đẳng cho trẻ mâm non không chỉ phụ thuộc vào
việc xây dựng hệ thống các biểu tượng toán học cần hình thành
cho trẻ mà còn phụ thuộc vào phương pháp, biện pháp tổ chức
các hoạt động mà trọng tâm là các "tiết học toán" cho tré 3
trường mầm non Hơn nữa, nội dung, phương pháp, biện pháp
hình thành các biểu tượng toán học sơ đẳng cho trẻ mầm non
phải phù hợp Với đặc điểm phát triển tâm sinh lý của trẻ, điều
kiện kinh tế xã hội mà trẻ là thành viên "Phương pháp hình
thành các biểu tượng toán học sơ đẳng cho trẻ mắm
non" la mét gido trinh được biên soạn theo quan điểm trên
Giáo trình này gồm 9 chương
Chương I Đối tượng, nhiệm vụ và phương pháp nghiên
cứu bộ môn phương pháp hình thành các biểu tượng toán học
sơ đẳng cho trẻ mầm non
Chương II Quá trình hình thành các biểu tượng toán học
sơ dang cho tré m4m non
Chương II Hình thành biểu tượng về số lượng, con số và
m non
me aie VIL Hình thành sự định hướng thời gian cho trẻ
_ VIIIL Thiết bị dạy học trong việc hình thành các biểu tượng toán học sơ dang cho tré mam non
Chương IX Lap ké hoach hinh thành các biểu tượng toán đẳng cho trẻ mầm non
nee Mỗi một vấn để trong các chương đều được trình bày một cách hệ thống từ lí luận đến thực tiễn: Cuối mỗi chương là những câu hổi ôn tập và bài tập thực hành nhằm giúp cho sinh viên hệ thống hoá kiến thức và bước đầu hình thành kỹ năng thực hành thực tiến Do vậy, giáo trình này có thể sử đụng cho mọi trình độ đào tao, moi hinh thức đào tạo (chính quy, tại chức, từ xa)
- Trong quá trình biên soạn, tác giả đã tham khảo nhiều tài liệu trong và ngoài nước, phát huy hết khả năng và kinh nghiệm thực tiễn của mình song khó có thể tránh được những thiếu sót nhất định Tác giả mong nhận được những ý kiến góp ý của các bạn đồng nghiệp, của những ai quan tâm đến sự nghiệp giáo dục mam non nói chung va phương pháp hình thành các biểu tượng toán học sơ đẳng cho trẻ mầm non nói riêng
Mọi ý kiến xin gửi về khoa Giáo dục Mầm non Trường Đại
học Sư phạm Hà Nội hoặc Nhà xuất bản Đại học Sư phạm (136
Đường Xuân Thuỷ - Quận Câu Giấy - Thành phố Hà Nội)
Túc giả
Đỗ Thị Minh Liên
Trang 5Chương I
ĐỐI TƯỢNG, NHIỆM VỤ VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU BỘ MÔN PHƯƠNG PHÁP
HÌNH THÀNH BIẾU TƯỢNG TOÁN HỌC
SO DANG CHO TRE MAM NON
1 Đối tượng và nhiệm vụ
1.1 Đối tượng
Phương pháp hình thànB biểu tượng toán học sơ đẳng cho
trẻ mầm non nghiên cứu những quy luật hình thành những
biểu tượng toán học ở trẻ lứa tuổi mầm non, nghiên cứu những
điểu kiện giáo dục đảm bảo cho sự phát triển những biểu
tượng toán học diễn r được tốt nhất ở trể thông qua quá trình
day học có mục đích trong các trường mầm non Như vậy, đối
tượng phương pháp hình thành những biểu tượng toán học sở
đẳng cho trẻ thực chất là một quá trình đạy học những biểu
tượng toán học cho trẻ Tuy nhiên thuật ngữ “dạy học” ở đây
được hiểu theo nghĩa rộng bởi nó không chỉ nhằm mục đích
truyền thụ tri thức, rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo, phát triển các
năng lực cho trẻ mà còn nhằm giáo duc cho tré những phẩm
chất đạo đức, khả năng thẩm mỹ
` Tóm lại, đối tượng của phương pháp hành thanh các biểu
tượng toán học cho trẻ mẫm non là quá trình dạy học những
biến thức toán học sơ đẳng, uê thực chất đó là quá trình giáo
dục thông qua uiệc dạy những kiến thức toán học sở đẳng cho
trẻ mâm non
8
Trong quá trình hình thành các biểu tượng toán học sơ đẳng cho trẻ, giáo viên giữ vai trò chủ đạo, là người tổ chức, hướng dẫn, điều khiến hoạt động có mục đích học tập của trẻ, trẻ giữ vai trò chủ động, tích cực nhằm chiếm lĩnh tri thức,
hình thành kỹ năng, phát triển năng lực nhận thức và hành động Trong quá trình này hình thành nên các mối quan hệ
giữa giáo viên và cá nhân trẻ, giữa giáo viên và tập thể trẻ, giữa trẻ với trẻ Vì vậy phương phóp hành thành các biểu tượng
toán học sở đẳng cho trẻ còn được coi là phương thúc hoạt động
cùng nhau giữa nhà gido duc vdi trẻ uò giữa trẻ uới trẻ nhằm bình thành hứng thú nhận biết cho trẻ 0à thực hiện noi dung
dạy học - hình thành những biểu tượng toán học sở đẳng cho trẻ nhằm góp phân phát triển trí tuệ, giáo dục nhân cách toàn
điện cho trẻ uà chuẩn bị cho trẻ học tập ở trường phổ thông
Trong quá trình hình thành các biểu tượng toán học sở
đẳng cho trẻ tồn tại mối liên hệ giữa ba thành phần cơ bản của
quá trình dạy học: mục đích - nội dung - phương pháp Mục đích của quá trình này nhằm hình thành hệ thống những biểu tượng toán học sơ đẳng cho trẻ, qua đó góp phần giáo dục toàn
điện nhân cách trẻ và chuẩn bị cho trẻ học tập ở trưởng phổ thông Nội dung day, hoc ở đây là hệ thống những kiến thức toán học sơ đẳng và cả các biện pháp hoạt động trí tuệ cần dạy cho trẻ, phương pháp dạy học là cách thức hoạt động và ứng xử của giáo viên để gây nên hoạt động và giao lưu của trẻ nhằm đạt mục đích dạy học Ngoài ba thành phần trên chúng ta phải chú ý tới điểu kiện đạy học, đó là điều kiện về cơ sở vật chất, về
tự nhiên, chính trị, xã hội đó là những điều kiện đóng vai trò quan trọng trong việc đưa lại hiệu quả của quá trình dạy học Như vậy, phương pháp hình thành các biểu tượng toán học
sơ đẳng cho trẻ mầm non là khoa học nghiên cứu những quy
luật của quá trình hành thành các biểu tượng toán học sở đẳng
9
Trang 6cho trẻ mâm non thông qua quá trùnh dạy học có mục đích
trong các trường mâm non dưới sự tổ chức, điều khiển của giáo
uiên, tức là nghiên cứu những quy luột của mối quan hệ hữu cơ
giúa mục đích, nội dung, phương pháp dạy học nhằm nâng cao
hiệu quả của uiệc dạy học những biến thức toán học sơ đẳng
Phương pháp hình thành các biểu tượng toán học sơ đẳng
cho trẻ mầm non là một ngành khoa học vì nó có đối tượng,
nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu xác định Không nên
hiểu thuật ngữ “phương pháp” ở đây theo nghĩa hẹp rằng
ngành khoa học này chỉ nghiên cứu một cách cô lập những
phương pháp đạy học, mà cần hiểu nó theo nghĩa rộng, nó
nghiên cứu bao gồm cả mục đích, nội dung, phương pháp, hình
thức và phương tiện trong mối quan hệ hữu cơ với nhau Bởi vì
không thể có phương pháp tách rời mục đích, thoát ly nội
dung, không thể nghiên cứu phương pháp mà không tính tới
các thành phần khác như: hình thức, phương tiện của quá
trình dạy học z
1.2 Nhiệm uụ của phương pháp hình thành các biểu
tượng toán học sơ đẳng cho trẻ mầm non
Phương pháp hình thành các biểu tượng toán học sơ đẳng
cho trẻ mầm non phải góp phần thực hiện các nhiệm vụ sau:
- Xác định mục đích của việc hình thành các biểu tượng
toán học sơ đẳng cho trẻ mâm non
- Xác định nội dung của môn học
- Nghiên cứu những phương pháp hình thành các biểu
tượng toán học sơ đẳng cho trẻ mầm non
Do dé khoa học phương pháp hình thành các biểu tượng
toán học sơ đẳng cho trẻ mầm non phải nghiên cứu những vấn
dé co ban sau:
10
1 Vị trí, nhiệm vụ, yêu cầu của môn “Hình thành các biểu tượng toán học sơ đẳng cho trẻ mầm non” đối với trẻ các lứa tuổi khác nhau, mỗi loại lớp khác nhau
2 Nội dung những biểu tượng toán học sở đẳng cần hình
thành cho trễ mầm non các lứa tuổi khác nhau, cơ sở lý luận
của chương trình, sách giáo khoa, tài liệu hướng dẫn, tham
khảo cho giáo viên và phụ huynh của trẻ
8 Phương pháp và hình thức tổ chức dạy học những kiến thức toán học sơ đẳng phù hợp với nội dung chương trình, đặc điểm
tâm, sinh lý lứa tuổi trẻ và tuân theo các nguyên tắc dạy học
4 Nghiên cứu những thiết bị cần thiết cho việc hình thành các biểu tượng toán học sơ đẳng cho trẻ mầm non
mm Nghiên cứu -việc phát triển năng lực trí tuệ, năng lực học tập, giáo dục đạo đức, thẩm mỹ cho trể trong quá trình hình
thành những biểu tượng toán học sơ đẳng cho trẻ mầm non
6 Các hình thức và biện pháp thực hiện sự kế thừa giữa dạy học những kiến thức toán học sơ đẳng ở trường mầm non với việc đạy toán ở lớp một phổ thông :
7 Giáo đục toán học cho trẻ mẫu giáo trong gia đình
1.8 Nhiệm uụ của bộ môn phương pháp hình thành
.các biểu tượng toán học sơ đẳng cho trẻ mâm non trong
nhà trường sư phạm
Với tư cách là một môn học có tính nghiệp vụ trong nhà trường sư phạm, bộ môn “Phương pháp hình thành các biểu tượng toán học sơ đẳng cho trẻ mầm non” có những nhiệm vụ sau:
a Truyền thụ cho giáo sinh những kiến thức cơ bản về dạy
học những kiến thức toán học sơ đẳng bao gồm:
- Những hiểu biết đại cương về phương pháp hình thành
các biểu tượng toán học sơ đẳng cho trẻ mâm nơn với tư cách là một ngành khoa học và là một môn học trong nhà trường sư
il
Trang 7phạm: đối tượng, nhiệm vụ, phương pháp nghiên cứu của nố và
mối liên hệ của nó với các ngành khoa học khác
- Những kiến thức cơ bản về những quy luật, đặc điểm
phát triển những biểu tượng toán học sơ đẳng cho trẻ mầm
non như: đặc điểm phát triển những biểu tượng về số lượng,
con số và phép đếm, đặc điểm phát triển những biểu tượng về
kích thước, hình dạng, sự định hướng trong không gian và
định hướng thời gian ở trẻ lứa tuổi mầm non
- Những kiến thức cơ bản về mục đích, nội dung, các
nguyên tắc và phương pháp hình thành những biểu tượng toán
học sơ đẳng cho trẻ Đặc biệt giáo sinh cần nam vững chương
trình và tài liệu hướng dẫn thực hiện chương trình “Hờuh
thành các biểu tượng toán học sơ đẳng cho trẻ mẫm non”, kể cả
chương trình của các lốp mà mình không trực tiếp dạy
Những kiến thức cụ thể về việc lập kế hoạch cho việc
hình thành các biểu tượng toán học cho trẻ, kế hoạch chuẩn bị
và tiến hành từng tiết học toán 1
b Rèn luyện nhữhg kỹ năng cơ bản về hình thành những
biểu tượng toán học sơ đẳng cha trẻ mầm non, bao gồm:
- Tìm hiểu chương trình, sách giáo khoa, sách giáo viên và
các sách tham khảo có liên quan
- Tìm hiểu đối tượng trẻ trong lớp mà mình chịu trách
- Lập kế hoạch dạy học và chuẩn bị từng tiết lên lớp
- Rèn kỹ năng tiến hành tiết học toán và kỹ năng đánh giá tiết
học, thực hiện kiểm tra, đánh giá mức độ hình thành những biểu
tượng toán học ở trẻ mẫu giáo các lớa tuổi khác nhau
- Tiến hành việc hình thành các biểu tượng toán học cho
trẻ qua các tiết học và các hoạt động khác của trẻ trong trường
mầm non
12
- Sưu tâm, lựa chọn, tự thiết kế và tổ chức các trò chơi học
tập nhằm hình thành các biểu tượng toán học cho trẻ
- Làm mới và sửa chữa các đề dùng dạy học, xây dựng góc
học toán trong lớp học mà mình phụ trách
- Vận động công tác phụ huynh, công tác đoàn thể hỗ trợ việc hình thành các biểu tượng toán học cho trẻ
e Góp phần bồi dưỡng tình cảm nghề nghiệp, phẩm chất
đạo đức của người giáo viên mâm non cho giáo sinh thông qua học tập bộ môn “Tịnh thành các biểu tượng toán học cho trẻ
mém non” Oụ thể là, qua việc học tập bộ môn làm cho giáo sinh thấy rõ vị trí, vai trò của việc dạy trẻ những kiến thức, kỹ nặng toán học đối với sự phát triển và giáo dục trẻ mầm non,
"thấy được tính chất nghiệp vụ của môn học trong việc rèn luyện những phẩm chất, năng lực nghề nghiệp, Từ đó giáo đục cho giáo sinh ý thức trách nhiệm trong công việc, góp phần rèn luyện cho họ những phẩm chất đạo đức cân thiết của người giáo viên mầm non như: yêu nghể, mến trẻ, kiên trì, cần thận,
chính xác, có ý thức phê bình và tự phê bình
d Phat triển năng lực tự đào tạo, tự nghiên cứu về phương pháp hình thành những biểu tượng toán học sơ đẳng cho trẻ mâm non, giúp họ khi trổ thành giáo viên sẽ có khả năng thích
ứng nhanh chóng với công việc, với sự thay đổi của chương
lrình, sách giáo khoa, tài liệu hướng dẫn, có khả năng viết các
sáng kiến kinh nghiệm Các năng lực này thể hiện qua những
khả năng:
- Có khả năng biến quá trình đào tạo thành quá trình tự
đào tạo trong khi học bộ môn, làm cho giáo sinh có khả năng tự
học, tự nghiên cứu về nghiệp vụ
- Viết và bảo vệ thành công những bài tập lớn, khoá luận
và luận văn tốt nghiệp về để tài “Phương pháp hình thành những biểu tượng toán học sở đẳng cho tré mam non” Tiến
13
Trang 8hành nghiên cứu những để tài về phương pháp hình thành
những biểu tượng toán học sơ đẳng cho trẻ mầm non nói riêng
và về khoa học giáo dục nói chung
2 Những khoa học có liên quan
2.1 Triết bọc duy uật biện chứng
Phương pháp hình thành các biểu tượng toán học sơ đẳng
cho trẻ mầm non phải đựa vào triết học duy vật biện chứng, đó
là một khoa học nghiên cứu những quy luật chung nhất của sự
phat triển tự nhiên, xã hội và tư duy con người Cơ sổ phương
pháp luận của khoa học “Phương pháp hình thành các biểu
tượng toán học sơ đẳng cho trẻ mầm non” cũng như mọi khoa
học khác là phương pháp luận mác xít Dựa vào đó chúng ta
hiểu một cách sâu sắc và đúng đắn đối tượng và phương pháp
lôgie, nhờ vậy mà chúng ta có thể hình thành ở trẻ một.cái
nhìn duy vật đúng đắn; nó giúp ta có được phương pháp
nghiên cứu đúng đắn, xem xét quá trình hình thành các biểu
tượng toán học ở trẻ mầm non như một hiện tượng giáo dục
trong quá trình phát triển và trong mối liên hệ phụ thuộc lẫn
nhau
2.2 Toán học
Phương pháp hình thành các biểu tượng toán học sơ đẳng
cho trẻ mầm non có hên hệ chặt chẽ với khoa họe-toán học
Ngày nay với sự phát triển nhanh chóng của khoa học toán học `
và sự xâm nhập của nó vào mọi lĩnh vực kiến thức khác nhau,
"phương phấp hình thành các biểu tượng toán học sơ đẳng cho
trẻ mầm non phải phản ánh vào nhà trường mầm non những
kiến thức toán học sơ đẳng nhất trong những thành tựu của
nhân loại, sắp xếp chúng thành một hệ thống bảo đảm tính
khoa học và tính sư phạm, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh
của đất nước đáp ứng được những yêu cầu của giáo dục mầm non (GDMN) nói riêng và giáo dục thế hệ trẻ nói chung
2.3 Gido duc hoc mém non
Quá trình hình thành các biểu tượng toán học sơ đẳng cho
trẻ mầm non là một bộ phận của quá trình giáo dục mầm non
nói chung, nó chịu sự chi phối của những quy luật giáo dục
> mầm non Vì vậy phương pháp hình thành các biểu tượng toán
học sơ đẳng cho trẻ mầm non phải dựa vào mục tiêu, phương
pháp đạy học ở trường mầm non để xác định vị trí, nhiệm vụ,
yêu cầu của việc hình thành các biểu tượng toán học sơ đẳng cho trẻ trong toàn bộ hệ thống giáo dục trẻ mầm non! Phuong pháp hình thành các biểu tượng toán học sơ đẳng cho trẻ mầm non phải biết vận dụng những thành tựu nghiên cứu lý luận
dạy học mầm non của nước ta và trên thế giới để xác định mục tiêu, nội dung và phương pháp dạy học đó phù hợp với sự phát triển của khoa học giáo dục mầm non nói riêng và khoa học giáo dục nói chung
3.4, Tâm lý học mầm non
Phương pháp hình thành các biểu tượng toán học SƠ đẳng
mâm-non, nhất là dựa vaio những đặc điểm ‹ của các ° quá trình cảm giác,-tri-giác, trí nhớ, tư đuy của trẻ lứa tuổi mâm non, đặc biệt là "phải nắm chắc các Hình thức tư duy của trẻ mầm non để có thể vận dụng và đưa lại hiêu quả trong dạy học Dựa trên cơ sở quy luật nhận thức những biểu tượng toán học sơ
đẳng của trẻ theo lữa tuổi, chúng ta xác định khối lượng kiến thức, mức độ, yêu cầu về hành động và tư duy ở trẻ từng lứa
tuổi để tổ chức, điểu khiển quá trình nhận thức những kiến
thức toán học trong từng tiết học, trong từng hoạt động khác
nhau của trẻ ở trường mầm non "
15
Trang 92.5 Lôgic học
Phương pháp hình thành các biểu tượng toán học sơ đẳng
cho trẻ mầm non phải dựa vào lôgic học để-trình bày một cach
chính xác các kiến thức với những lập luận có căn cứ Điều này
là rất cần thiết trong quá trình hình thành các biểu tượng toán
học cho trẻ, vì đây là một khoa học có liên hệ chặt chẽ với khoa
học toán học một khoa học mang tính chính xác và được xây
2.6 Sinh ly tré.em
Phuong pháp hình thành các biểu tượng toán học sơ đẳng
cho tré mẫm non có.Hên-hệ chặt chẽ với khoa học-sinh-lý trẻ -
em, bổi khoa học sinh lý trẻ em nghiên cứu những đặc điểm và
quy luật điễn ra các quá trình sinh lý ở trẻ nhỏ Vì vậy việc
hình thành những biểu tượng toán học cho trẻ không thể đem
lại hiệu quả mong muốn nếu chúng được xây dựng mà không
tính đến những đặc điểm phát triển của cơ thể trẻ, như: đặc `
điểm hoạt động củazhệ xương, hệ cơ, hệ tiêu hoá, hệ thần
kinh 6 trẻ nhỏ, để xây dựng nội dung, phương pháp, biện
pháp, bình thức dạy học phù hợp với những đặc điểm sinh lý
của trẻ theo các lứa tuổi khác nhau
3.7 Các khoa học khúc
Ngoài những ngành khoa học kể trên, Phương pháp hình
thành các biểu tượng toán học sơ đẳng cho trẻ mầm non còn có
liên hệ chặt chẽ với nhiều ngành khoa học khắc nữa như: lý
thuyết xác suất thống kê toán học Dựa vào những kiến- thức
của các ngành này để tiến hành phân tích, xử lý số liệu thu
cho trẻ mầm non” là phương pháp nghiên cứu lý luận, quan
sát, tổng kết kinh nghiệm và thực nghiệm sư phạm
3.1 Nghiên cứu lý luận
Để phát hiện ra những quy luật của quá trình hình thành những biểu tượng toán học sơ đẳng cho trẻ mâm non, chúng ta
ghải tìm hiểu, tổng kết và khái quát những tài liệu có sẵn,
thững thành tựu của triết học, tâm lý học, giáo dục học, toán
học những văn kiện của Đảng, Nhà nước và ngành học thành
hệ thống lý luận cơ sở cho việc nghiên cứu bộ môn
Đặc biệt cần nghiên cứu những thành tựu tiên tiến của bản
thân phương pháp hình thành những biểu tượng toán học sơ
đẳng cho trẻ mâm nơn để kế thừa những cái hay, phê phán những cái chưa được, bổ sung và hoàn chỉnh những nhận thức của bản thân Hơn nữa, để xác định được đề tài nghiên cứu, tìm
ra mục đích nghiên cứu, người nghiên cứu cần thiết phải nắm được tình hình và kết quả nghiên cứu phương pháp hình thành các biểu tượng toán cho trẻ mầm nơn ở trong và ngoài nước
Trong quá trình nghiên cứu lý luận, người nghiên cứu cần
phải phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát hoá để tìm ra
những điểu cần cho công việc nghiên cứu một đề tài cụ thể nào
đó của bản thân
3.2 Quan sat Quan sát là một phương pháp được sử dụng rộng rãi trong
nghiên cứu khoa học Quan sắt có mục đích, nội dung, có kế
hoạch và hệ thống giúp người nghiên cứu theo đối đối tượng nghiên cứu theo trình tự thời gian, thấy được thực trạng của
toán cho trẻ, phát hiện ra
quá trình hình thành các biểu tượ
Trang 10
những biến đổi về số lượng và ‹ chất lượng được gây ra do tác
tượng nghiên cứu mà những điều thụ được, qua quan sát là
những tài liệu sinh độn, có ích cho việc quyết định nhiệm vụ
Có thể tiến hành quan sát trực tiếp như: dự tiết học, dự các
hoạt động của trả, trò chuyện với trẻ, có thể quan sát gián tiếp
như: qua các sản phẩm hoạt động của trẻ, qua bài soạn của
giáo viên mầm non, qua các tài liệu hướng dẫn của cơ quan chỉ
đạo quan sát có thể tiến hành công khai hoặc kín đáo, liên
tục hay gián đoạn theo thời gian
Quan sát cần có mục đích cụ thể, ví dụ: quan sát mức độ
nắm nội dung kiến thức mới của trẻ trong giờ học có nội
dung cụ thể, ví dụ: số lượng trễ giơ tay phát biểu, chất lượng
những câu trả lời của trẻ, kết quả hoạt động thực hành của trẻ;
có tiêu chí đánh giá cụ thể, ví dụ: việc trẻ trả lồi vấn để được,
hồi hay kết quả hoạt động thực hành của trẻ như thế nào thì
được đánh giá là mức độ nắm nội dung bài học cao, trung bình,
thấp
3.8 Tổng kết kinh nghiệm
Việc nghiên cứu một cách toàn điện và kỹ càng những kinh
nghiệm tiên tiến, thành công và lặp đi lặp lại nhiều lần trên cơ
sở mô tả, phân tích, so sánh, phân loại, tổng kết cho phép phát
hiện ra vấn để cần nghiên cứu hay khám phá ra những quan
hệ có tính quy luật của quá trình hình thành những biểu
tượng toán học sơ đẳng cho trễ mắm non "Tuy nhiên người
nghiên cứu phải dựa trên cơ sở lý luận để phân tích, đảnh-giá, -
loại bỏ tính vụn vặt, lộn xộn, những yếu tế ngẫu nhiên để tìm
ra cái bản chất của sự vật, hiện tượng, rút ra được những kinh
nghiệm có giá trị khoa học
18 làn
, hợp với nhau Ví dụ: trên cơ sở nghiên.-cứu-
“tổng kết kinh nghiệm, người nghiên.cứu để xuất giả thuyết
3.4 Thực nghiệm sư phạm Bằng thực nghiệm sư phạm, người nghiên cứu sẽ đánh giá được tính đúng đắn hay sai lầm của giả thuyết khoa học Bởi
.thực nghiệm sư phạm cho phép người nghiên cứu tạo nên 'những tác động sư phạm có mục đích, có phương hướng và đánh giá những tác động đó Trong quá trình thực nghiệm sư phạm, nhà nghiên cứu tổ chức quá trình sư phạm sáng tạo một
_ 'sách có mục đích, kế hoạch, trong những điểu kiện thực
nghiệm được tạo ra một cách phù hợp với ý đỗ nghiên cứu Đây
là một phương pháp nghiên cứu rất có hiệu lực, nhưng đời hỏi người nghiên cứu phải bỏ nhiều công sức và thồi gian, vì vậy `
người nghiên cứu không nên lạm dụng sử dụng phương pháp
này nếu vấn để nghiên cứu có thể được giải.quyết bằng các
phương pháp khác
Trong nghiên cứu khoa học, thông thường người nghiên
cứu phải sử đụng các phương pháp nghiên.-cứu-một-cách kết
Jý-luận, quan sat,
khoa hoe, réi bang thuc nghiém su pham để kiểm chứng tính
đúng đắn hay sai lầm của nó Sau đó những kết quả thực nghiệm lại được phân tích trên cơ sở lý luận nhằm khái quát
Ngoài những phương pháp kể trên, trong quá trình nghiên
cứu cần sử dụng các phương pháp khác như: thống kê toán
học, lý thuyết xác suất để xử lý số liệu thu được, sử dựng các phương tiện kỹ thuật như: ghi âm, chụp ảnh, quay phim để ghỉ lại những điều cần thiết
19
Trang 11CÂU HỎI VÀ BÀI TẬP
1 Phân tích đối tượng của phương pháp hình thành các
biểu tượng toán học cho trẻ mầm non
2 Phân tích những nhiệm vụ của “Phương pháp hình
thành các biểu tượng toán học cho trẻ mầm non"
3 Nêu một cách cụ thể mối liên hệ của môn học “Phương
pháp hình thành các biểu tượng toán học cho trẻ mầm non" với
một số khoa học khác
; 4 Thế nào là phương pháp nghiên cứu lí luận? Đọc sách cd
phải là phương pháp nghiên cứu lí luận hay không?
5 Thế nào là tổng kết kinh nghiệm? Chỉ mô tả lại công
việc đã làm có phải là tổng kết kinh nghiệm không?
6 Tại sao khi nghiên cứu phương pháp hình thành các
biểu tượng toán học cho trẻ mầm non phải sử dụng phối hợp
các phương phấp nghiên cứu khoa học giáo dục?
1 Bản chất và nhiệm vụ của quá trình hình thành
‘eae biểu tượng toán học sơ đẳng cho trẻ mầm non 1.1 Bản chất của quá trình hình thành các biểu
tượng toán học cho trẻ mém non
Thực chất của quá trình hình thành các biểu tượng toán học cho trẻ mầm non là quá trình hình thành ở trẻ những kiến thức sở đẳng về tập hợp, con số, phép đếm, về kích thước, hình dạng của các vật, về khả năng định hướng không gian, thời gian và mối quan hệ giữa các đại lượng dưới sự tổ chức hướng dẫn của giáo viên mầm non trong quá trình dạy học ở trường mầm non
Trong cuộc sống hiện nay việc hình thành các biểu tượng toán học cho trẻ mẫm non có một vai trò to lớn, điều này xuất phát từ sự phát triển mạnh mẽ của khoa học toán học và sự xâm nhập của nó vào mợi lĩnh vực kiến thức khác nhau Hơn nữa, sự phát triển mạnh mẽ của khoa học - kỹ thuật đòi hỏi chúng ta phải có những chuyên gia giỏi với kỹ năng phân tích một cách trình tự và chính xác các quá trình nghiên cứu, chứng ta phải đào tạo những con người tích cực, độc lập, sáng tạo đáp ứng được những đồi hỏi của nền sẵn xuất hiện đại Ghính vì vậy việc dạy học ở trường mầm non trước hết cần
21
Trang 12hướng vào việc giáo dục cho trẻ có thói quen định hướng thế
giới xung quanh một cách đầy đủ và lô gíc Việc hình thành các
biểu tượng toán hoc cho tré mim non còn có tác dụng hình
thành ở trẻ những khả năng tim tồi, quan sát thúc đẩy sự
phát triển tư duy, phát triển ngôn ngữ cho trẻ ⁄
Nhận biết cảm tính là con đường chính, để trẻ nhỏ nhận,
biết thế giới xung quanh Nhận thức cảm tính của trẻ lửa tuổi
mầm non được phát triển_cùng với quá: trình tích-luỹ› kinh
_ nghiệm của trẻ Trong các quá trình cảm nhận ở trổ hình :
thành những biểu tượng về các sự vật, hiện tượng, về những `
đặc điểm và mối quan hệ giữa các sự vật hiện tượng, như khi -
thao tác với các tập hợp da dang (các đồ vật, để chơi, tĩanh
ảnh ) trẻ học được cách thiết lập mối liên hệ số lượng giữa các
tập hợp và học cách phản ánh các mối liên hệ đó bằng.các từ: ,
nhiều hơn, ít hơn, bằng nhau Sự hình thành những biểu tượng
về tập hợp ở trẻ, cùng với:việc trẻ nắm kỹ năng so sánh độ lớn
các tập hợp cụ thể là cơ sở để trẻ lĩnh hội những mối quạn hệ
- gố lượng, cơ sở để frẻ “hiểu con số và nắm được quy luật của dãy
số tự nhiên, đó là những kiến thức trừu tượng phẩn ánh mối
liên hệ và quan hệ số lượng của mọi sự vật và hiện tượng xung -
quanh trẻ
Thực tiễn dạy trẻ cho thấy, quá.trình dạy học có mục đích
trong trường mầm non không chỉ nhằm mục đích giúp trẻ nắm
được các mối liên hệ và quan hệ toán học, lĩnh hội được những ,
kiến thức toán học ban đầu và những kỹ năng như: kỹ năng
đếm, kỹ năng đo, kỹ năng thực hiện các phép tính đơn ?
giản mà quan trọng hơn là qua đó biến đổi về chất trong các
hình thức nhận biết tích cực của đứa trẻ Những kết quả ‘
nghiên cứu của các nhà giáo dục Nga như: A.M Lêusina, MI.,
Nhepômiasaia và những kinh nghiệm sư phạm cho thấy; việc
tổ chức-hợp Ty quá trình hình thành các biểu- “tượng toán học 80;
22
dang cho trẻ góp phần tích cực vào việc phát triển trí tuệ cho
trẻ mầm non ẨM vậy việc tổ chức quá trình dạy Học trẻ dưổi sự `
“hướng dẫn c Gua người lớn một cách đúng lúc và phù hợp với đặc điểm lứa tuổi trẻ đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển
- trí tuệ cho trẻ mầm non Thông qua quá trình dạy học như vậy, trẻ sẽ nắm được những kiến thức sơ đẳng về tập hợp, con 'số, phép đếm, về kích thước và hình dang của các vật, trẻ biết định hướng trong không gian và thời gian, trẻ nắm được phép đếm, phép đo độ đài các vật bằng các thước đo ước lệ, biết thiết lập mối quan hệ số lượng giữa các sự vật, hiện tượng xung quanh, đồng thời phát triển ở trẻ khả năng ước lượng kích thước các vật bất cả điều đó có tác đụng phát triển trí tuệ của trẻ
Quá trình hình thành các biểu tượng toán học cho trẻ ồn:
giúp trẻ nắm được các thuật ngữ toán học như: tên gọi các con
SỐ, các hình hình học phẳng (hình trồn, hình vuông, hình chữ nhật, hình tam giác) và các khối hình (khối trụ, khối cầu, khối vuông, khối chữ nhật) và các thành phần của chúng (góe, cạnh,
các mặt của khối hình) Các "tiết học" toán với trổ cồn có vai
trò đặc biệt trong sự phát triển hứng thú và những kỹ năng nhận biết cho trẻ Hơn nữa, trên các tiết học toán việc giải quyết các nhiệm vụ dạy học luôn gắn bó chặt chẽ với việc giải quyết các nhiệm vụ giáo dục như: dạy tré trở nên có tổ chức, có
ky luật, biết chú ý lắng nghe và ghi nhớ, tích cực và độc lập
giải quyết nhiệm vụ được giao đúng thời gian quy: định; qua đó
trẻ được giáo dục trở nên có định hướng, cố tổ chức, có trách
nhiệm Trong quá trình hình thành những biểu tượng toán học
sơ đẳng đồng thời sẽ hình thành các mối quan hệ giữa giáo
viên với tập thể trẻ, giữa giáo viên với cá nhân trẻ, giữa trẻ với trẻ, giữa trẻ với môi trường xung quanh Vì vậy việc dạy học những | kiến thức toán.học sơ- đẳng, không chỉ gop pl
Trang 13
triển các năng lực nhận biết, năng lực học tập cho trẻ, mà còn
góp phần giáo dục toàn diện nhân cách-trẻ:^~” ^^” ~
1.2 Nhiệm uụ của quá trình hình thành các biểu
tượng toán học cho trẻ mam non
Việc hình thành các biểu tượng toán học sơ đẳng cho trẻ
mầm non có những nhiện vụ cơ bản sau:
- Trang bị cho trẻ những kiến thức ban đầu về tập hợp, con
số, kích thước, hình dạng, không gian và thời gian, đó là cơ sở
đầu tiên của sự phát triển toán học cho trẻ
- Hình thành ở trẻ những định hướng ban đầu về các mối
quan hệ số lượng, không gian và thời gian có trong hiện thực
xung quanh trẻ
- Hình thành cho trẻ một số kỹ năng như: kỹ năng đếm, kỹ
năng đo lưỡng, kỹ năng tính toán và những kỹ năng của hoạt
động học tập :
- Giúp trẻ nấm một số thuật ngữ toán học
- Phát triển hứnŠ thú và năng lực nhận biết, phát triển tư
duy lô gíc và ngôn ngữ cho trễ
Các nhiệm vụ trên được giải quyết một cách phối hợp và
linh hoạt trên mỗi tiết học toán cũng như trong quá trình tổ
chức các dạng hoạt động độc lập của trẻ Tuy nhiên chỉ khi
hoạt động của trẻ được tổ chức một cách đúng đắn và dạy học
có hệ thống thì mới tạo ra sự phát triển đúng lúc những biểu
tượng và những năng lực toán học cho trẻ Những kết quả
nghiên cứu của nhiều nhà tâm lý và giáo dục trên thế giới chỉ
ra rằng, trể lứa tuổi mẫu giáo có khả năng lĩnh hội những kiến
thức toán học sơ đẳng, tuy nhiên cần phải có sự lựa chọn các -
phương thức và hình thức dạy học phù hợp với đặc điểm lứa
tuổi trẻ Vì vậy, ở từng giai đoạn phát triển lứa tuổi trẻ cần tạo
khác, trẻ không chỉ lĩnh hội kiến thức về các con số, mà cồn học
cách trừu tượng hoá sự đánh giá số lượng khỏi tất cả những đấu hiệu khác của vật (màu sắc, hình dạng, kích thước) Việc
trẻ làm quen với thước đo và phép đo lường có tác dung giúp
trẻ hiểu con số chính xác hơn và nắm được khái niệm đơn vị Chính mối liên hệ giữa phép đếm và phép đo giúp trẻ nam được sự phụ thuộc của kết quả đếm vào đơn vị của phép đếm
và kết quả đo phụ thuộc vào độ dài của thước đo ước lệ
Việc dạy trẻ trên các tiết học toán trong trường mầm non còn góp phần hình thành ở trẻ những đạng sơ khai của hoạt động thực tiễn và hoạt động trí tuệ như: hoạt động đếm, đo lường, khảo sát Trong các dạng hoạt động này trẻ sẽ nam được những kiến thức qua việc thực hiện trình tự các thao tác, như: thực hiện trình tự các thao tác khi so sánh độ lớn của các tập hợp bằng cách thiết lập tương ứng 1:1, thực hiện trình tự các thao tác đo trẻ không chỉ nắm được trình tự các thao tác
đó, mà đồng thời còn nắm được mục đích và phương thức hành
động để hình thành kiến thức đó, như: trẻ nấm được các mối
quan hệ số lượng bằng nhau, không bằng nhau khi so sánh độ lớn các tập hợp bằng biện pháp thiết lập tương ứng 1:1 (xếp
25
Trang 14chỗng, xếp cạnh), hay ở trẻ hình thành biểu tượng về con số
khi trẻ thực hiện trình tự các thao tác so sánh, đếm trong quá
trình so sánh độ lớn hai tập hợp có số phần tử hơn kém nhau
là 1 phần tử Vì vậy trong quá trình dạy trổ giáo viên cần đặc
biệt chú ý tới việc tổ chức các thao tác thực hành với các đồ vật
cho trẻ
Một trong những nhiệm vụ trọng tâm của việc hình thành
các biểu tượng toán học cho trẻ mầm non là dạy đếm cho trẻ
Việc dạy trẻ biện pháp cơ bản - thiết lập tương ứng 1:1 với sự,
tham gia của các từ số làm cho hoạt động đếm của trẻ được
nâng cao Trẻ mẫu giáo còn được học các biện pháp so sánh
ˆ kích thước của các vật, ban đầu là các biện pháp so sánh trực
tiếp như: xếp chồng, xếp cạnh, sau đó là biện pháp so sánh
gián tiếp với sự giúp đỡ của phép đo lường, kết quả so sánh
được diễn đạt bằng các từ tương ứng: to hơn - nhỏ hơn, dài hơn
- ngắn hơn, rộng hơn - hẹp hơn Trẻ được học cách sắp xếp
các vật theo kích thước tăng dẫn hoặc giảm dẫn và phản ánh
bằng lời kích thước?của các vật trong dãy: to nhất, nhỏ hơn,
nhỏ nhất Hơn nữa chương trình hình thành các biểu tượng
toán học cho trẻ cồn chú trọng tới việc phát triển sự ước lượng
kích thước của trẻ mẫu giáo, với mục đích đó trẻ được học cách
đánh giá độ lớn và từng chiểu đo kích thước của các vật bằng
biện pháp so sánh, đối chiếu kích thước của các vật có xung
quanh trẻ Trong quá trình day trẻ ước lượng kích thước các
vật giáo viên chú trọng hình thành ở trẻ kỹ năng kiểm tra kết
quả ước lượng kích thước bằng các hành động thực tiễn, nhờ
những hành động này mà kiến thức của trẻ được mở rộng hơn
Như vậy sự hình thành những kiến thức toán học sơ đẳng cho
' trẻ luôn diễn ra đồng thời với việc hình thành ở trẻ những kỹ
năng, kỹ xảo thực hành
Quá trình hình thành các biểu tượng toán học cho trẻ mẫu
giáo còn gắn chặt với sự hình thành ở trẻ các thao tác trí tuệ
như: phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát hoá Các thao tác trí tuệ này được hình thành trên cơ sở những thao tác thực hành của trẻ Những biện pháp day học chuyên biệt có ảnh
hưởng rất lớn tới sự phát triển các thao tác trí tuệ cho tré, -
chúng hướng trẻ tới việc luyện tập so sánh và khái quát hoá, -như: khi trễ học so sánh số lượng phần tử của các tập hợp, trẻ phải: tiến hành thao tác phân tích từng phần tử của tập hợp và tổng bợp nó vào một thể trọn vẹn và so sánh số lượng của chúng, tiếp theo trẻ khái quát số lượng các phần tử của các tập hợp bằng các từ số, sau đó bằng các con số Vì vậy, cần dựa vào mức độ so sánh, phân tích, khái quát hoá và đưa ra kết luận của trẻ để đánh giá kết quả dạy học của giáo viên
“Phát triển tư duy và ngôn ngữ cho trẻ là những nhiệm vụ quan trọng của việc hình thành các biểu tượng toán học sơ đẳng cho trẻ, trong đó cần chú.trọng hình thành ở trẻ những
kỹ năng ban đầu của tư duy quy nạp và diễn dịch, hình thành
những hứng thú và năng lực nhận biết, trên cơ sở đó phát triển
tự dụy toán học cho trẻ :
- Trong quá trình hình thành các biểu tượng toán học cho
trẻ, giáo viên cần chú trọng tới việc hình thành ở mọi trẻ
những năng lực nhận biết chung - đó là những phẩm chất cần
thiết của nhân cách để con người thực hiện thành công hoạt động, bổi con người chỉ thực hiện thành công bất cứ hoạt động nào nếu có năng lực với nó Vì vậy giáo viên cần hình thành ở trệ những năng lực, phẩm chất cần thiết để thực hiện thành
công hoạt động Như vậy năng lực không chỉ được xem xét
trong mối liên hệ với dạng hoạt động nhất định của trẻ, mà cả trong mối liên hệ với cấu trúc chung của dạng hoạt động đó,
trong đó nó bao gồm các thao tác định hướng và thao tác thực
27
Trang 15hành Nghĩa là, người giáo viên cần nắm được khả năng sử
đụng kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo và mức độ độc lập nhận biết
của trẻ Tất cả điểu đó góp phần phát triển cho trẻ các năng
lực chung, hình thành ở trẻ kỹ năng trừu tượng hoá, kỹ năng
biết phân tách những dấu hiệu cơ bản -
Như vậy việc hình thành ở trẻ mẫu giáo những biểu tượng
toán học ban đầu chỉ có biệu quả khi nó được tiến hành theo
một chương trình nhất định dưới sự tổ chức, hướng dẫn của
người lớn “
9 Các nguyên tắc dạy học những kiến thức toán học
sơ đẳng
"Các nguyên tắc dạy học là những luận điểm cơ bản có tính
quy luật của lý luận đạy học, có tác dụng chỉ đạo toàn bộ quá
trình dạy học phù hợp với các mục đích dạy học nhằm thực
hiện tốt các nhiệm vụ dạy học đã để ra”!
Các nguyên tấc dạy học là kết quả của sự khái quát những
kinh nghiệm thực tiễn dạy học và việc hiểu sâu sắc những ý
tưởng của lý luận dạy học và kết quả thực hiện nó trên thực
tiễn Trong giáo dục học, việc xác định hệ thống các nguyên tác
day hoc cd ban va thực hiện chúng trong quá trình đạy học phụ
thuộc vào đặc trưng của hoạt động học tập, và trong từng
trường hợp dạy học cụ thể nó được thể hiện một cách đặc thù
Quá trình hình thành những biểu tượng toán học cho trẻ
trong các trường mầm non không chỉ nhằm trang bị cho trẻ
những kiến thức toán học sơ đẳng, hình thành những kỹ năng,
kỹ xảo, mà còn nhằm phát triển cho trẻ những năng lực trí
tuệ, năng lực học tập và những hứng thú nhận biết, qua đó góp -
phần giáo dục nhân cách cho trẻ Vì vậy việc dạy trẻ những
+
' Hà Thế Ngữ, Đặng Vũ Hoạt Giáo đục học, tậạp1 NXB GD 1987, tr.178
kiến thức toán học sở đẳng một mặt cần phải tuân theo các
nguyên tắc dạy học nói chung, mat khác cần phải cụ thể hoá
và vận đụng linh hoạt các nguyên tắc dạy học đó vào trong qua
triển nhân cách cho trẻ, bởi quá trình phát triển chính là quá
Trong quá trình hình thành những biểu tượng toán học
cho trẻ chúng ta cần dạy trẻ nhận biết cácxmối quan hệ số
lượng, các mối quan hệ không gian và thời gian có trong môi
trường xung quanh trẻ, qua đó hình thành ở trẻ một thái độ
mới đối với môi trường xung quanh, hình thành hứng thú nhận biết và phát triển tính ham hiểu biết cho trẻ
"Theo các nhà tâm lý như: L.X Vư-gôt-xki, G.X Kaxtruk
thì đạy học chỉ dẫn tới sự phát triển khi nó tác động vào “vùng phát triển gần nhất của người học Về nguyên tắc, nhờ có dạy học như vậy mà đứa trẻ, nắm được những kiến thức dưới sự hướng dẫn của người lớn Giáo viện cần chú ý rằng, “vùng phát
triển gần nhất” không chỉ phụ thuộc vào lứa tuổi, mà còn phụ
„ thuộc vào những đặc điểm riêng của trẻ -
29
Trang 16Nhiệm vụ giáo đực nhân cách trẻ được thực hiện thông qua
nội dung, phương tiện, phương pháp và các hình thức tổ chức
dạy học Như vậy dạy học được xem như một nhân tế quyết
định của giáo dục Để thực hiện được nguyên tắc này trong quá
- trình dạy những kiến thức toán học sơ đẳng cho trẻ, giáo viên
cần xác định đúng mục tiêu đạy học, sử dụng các biện phap
đạy học đa dạng nhằm trang bị cho trẻ những kiến thức toán
học phong phú, tránh sử dụng một cách đơn điệu các biện
pháp đạy hẹc, vì điều đó tạo cho trẻ thói quen lười suy nghĩ và
kém linh hoạt trong giải quyết vấn đề Hơn nữa trên các tiết
học cần chú ý phát huy tính tích cực suy nghĩ của tré, nhưng
trẻ chỉ có thể tích cực suy nghĩ và hoạt động để nắm tri thức
một khi trẻ nắm được các biện pháp thao tác chung, như: các
biện pháp so sánh số lượng các nhóm vật bằng cách thiết lập
tương ứng 1:1, biện pháp đếm, đo lường kích thước, các biện
pháp khảo sát các hình hình học Vì vậy giáo viên cần chú ,
trọng trang bị cho trẻ những biện pháp này Tuy nhiên quá
trình dạy học tuyệt đối không nên chỉ dựa vào sự bắt chước và
ghi nhớ máy móc của trẻ nhỏ ở giai đoạn đầu, việc đạy trẻ nội
dung mới cần dựa trên sự chỉ dẫn kèm lời giảng giải của giáo
viên, nhưng ở các giai đoạn sau khi trẻ đã lĩnh hội các biện
pháp thao tác, giáo viên cần tạo điều kiện cho trẻ tự suy nghĩ
và tự hành động, thậm chí điều đó có thể diễn ra cả khi trẻ
nghiên cứu nội dung mới Ví dụ: khi trẻ bất đầu học phân biệt
nhận biết các hình vuông và hình tròn, giáo viên cần dạy|trẻ
biện pháp khảo sát các hình đó bằng những thao tác khảo ae
mẫu kèm lời giảng giải của cô, nhưng trên các tiết học sau khi
trẻ phân biệt, nhận biết, so sánh các hình hình học đó, giáo
viên cần yêu cầu trẻ tự thực hiện biện pháp khảo sát các hình
và tự đưa ra kết luận cần thiết
Như vậy, trong quá trình tổ cñức dạy học cho trẻ cần chú
trọng tối sự phát triển tư duy cho trẻ Tư duy của trẻ phát
triển theo hướng từ các thao tác thực hành với các vật cụ thể
hay với các hình vẽ của chúng tới các thao tác với các khái
niệm, tức là tới các thao tác trí tuệ Ví dụ: khi trẻ làm quen với các tập hợp, giáo viên tổ chức hoạt động thực tiến cho trẻ,
trong đồ trẻ thực hiện các thao tác với tập hợp các vật cùng
loại như: xếp chúng thành hàng, xếp chồng, xếp cạnh chúng với nhau, điễn đạt bằng lời nói về các đối tượng và các thao tác,
từ đó hình thành ở trẻ biểu tượng về độ lớn của các tập hợp, sự bằng nhau và không bằng nhau về độ lớn của chúng (số hoa nhiều hơn số nhuy, số nấm bằng số thông ) Sau đó, những thao tác thực hành so sánh được thay thế bằng lời nói diễn đạt,
tiếp theo quá trình so sánh số lượng hai nhóm đối tượng được
thực hiện ở bình điện trí tuệ, trên cở sở so sánh số lượng với sự tham gia của các từ số số nấm bằng số thông và bằng 3)
Cùng với việc trẻ nắm kiến thức và hoàn thiện, biến đổi nó
_ về chất là sự phát triển tư duy, tất cả điều đó tạo nên sự phát triển chung cho trẻ
x Nguyên tắc học đi đôi uới hành, giáo dục gắn
é
tiên uới cuộc sống
Nguyên tắc này xuất phát từ những yêu cầu của xã hội đối
với nhà trường trong việc đào tạo thế hệ trẻ, sao cho các em có thể vận dụng những kiến thức, kỹ năng thu được để có thể tử lập được trong cuộc sống sau này của mình và tham gia vào công việc phù hợp với sức lực của mình Mặt khác, nguyên tác này cồn xuất phát từ quy luật duy vật biện chứng, đó là sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn Vì vay những kiến thức
toán học mà trẻ nắm được ở.trường mầm non cần dựa trên
,những kinh nghiệm cuộc sống của trẻ, và quan trọng hơn,
31
Trang 17những kiến thức này cần được trẻ ứng dụng vào thực tiễn cuộc
sống của trể thông qua các tiết học khác và các hoạt động
phong phú như: vui chơi, học tập, lao động và cuộc sống sinh
động hàng ngày của trẻ, nhờ vậy những kiến thức này sẽ trở
nên có ý nghĩa và bền vững hơn
Trong thời gian ở trường mầm non trẻ em được tham gia
vào những hoạt động khác nhau, để thực hiện chúng trễ luôn
phải sử dụng những kiến thức, kỹ năng đã nắm được trên các
tiết học toán Ví đụ: trong trò chơi “bán hàng” trẻ luôn phải sử
dụng đến kiến thức về số lượng và kỹ năng như đếm, đong,
do , con trong các trò chơi “chấp ghép” trẻ phải sử dụng tới các
biểu tượng về số lượng, về các mối quan hệ không gian và
những kiến thức về các hình hình học, trong cuộc sống hàng
ngày trẻ luôn cần tới các kiến thức về số lượng và kỹ năng
thiết lập tương ứng 1:1 vào việc chuẩn bị các đồ dùng học tập
cho các tiết học với số lượng theo yêu cầu của cô, vào việc dọn
bàn ghế, bát, thìa cho bữa ăn, sao cho số lượng của chúng
tương ứng với số tÉễ ngồi ở mỗi bàn ăn Những biểu tượng về
các hướng trong không gian như: phía trước, phía sau, phía
phải, phía trái khi trẻ lấy mình, bạn khác hay vật khác làm
chuẩn lại rất cần thiết để trẻ thực hiện những động tác thể
dục, múa hay các trò chơi đời hỏi sự đi chuyển theo hướng cần
thiết của trẻ Khả năng thu nhận và vận dụng kiến thức, kỹ
năng đã học vào những điều kiện, hoàn cảnh mới của trẻ
chứng tổ trí tuệ trẻ đã phát triển cao hơn, và trẻ đã ý thức
được vai trò của những kiến thức thu được đối với thực tiễn
cuộc sống Việc trổ sử đụng những kiến thức thu được vào thực
tiễn cuộc sống sẽ làm cho chúng trổ nên bền vững và sâu sắc
hơn, góp phần hình thành ở trẻ kỹ năng vận dụng kiến thức
vào cuộc sống _
„Để đảm bảo nguyên tấc này, trong quá trình dạy học khi lua chọn nội dung dạy học luôn phải gắn liển với điểu kiện sống của trẻ, nhằm luyện tập cho trẻ thói quen quan tâm, chú
ý đới các sự kiện, hiện tượng xung quanh trẻ, qua đó nhận biết
các mối quan hệ toán học có trong các sự kiện, hiện tượng đó
“Trong quá trình dạy học cần sử dụng hệ thống bài tập, và
các trò chơi học tập nhằm tạo điều kiện cho trẻ vận dụng
những kiến thức đã học vào thực tiễn cuộc sống, ví đụ: trẻ
đóng; :đo, đếm, tính toán Tổ chức các hoạt động để trẻ thực hành, tham quan, dạo chơi có mục đích, đặt hệ thống câu hỏi,
tổ:chức cho trẻ đàm thoại về các sự kiện, hiện tượng trong thực
Với mục đích phát triển hứng thú đối với những kiến thức
toán học cho:trẻ, cần hướng sự chú ý của trễ tới việc người lớn
sử dụng các kiến thức toán học trong cuộc sống như thế nào, tại sao con người lại cần phải đong, đo, đếm Điều đó làm
tăng hứng thú của trẻ tới sự lĩnh hội những kiến thức toán học
mới: Hơn nữa giáo viên cần suy nghĩ và tạo mọi điều kiện, tình
huống để trẻ có thể ứng dụng những kiến thức, kỹ năng của mình vào các hoạt động phong phú của trẻ
9.3 Nguyên tắc trực quan Nguyện tắc dạy-họe-trực quán: đồng xvai.trò-quanr trọng trong dạy học cho trẻ mdm non Điều này trước hết xuất phát
t7 dùy của trẻ em được đặc trưng bởi kiểu tư duy trực quan hành động-và tư duy trực quan hình tượng cho trẻ mầm non
Việc dạy học dựa trên trực quan được Ta.A Kô-men-xki: gọi đó lã:“nguyên tắc vàng của lý luận dạy học” Ông chỉ ra rằng, sự
phan biét luôn bắt đầu từ sự cảmi nhận, bởi vì những gì có trong ý thức thì trước đó đều ¿ó trong những cảm nhận
2 Trên cở sở đúc kết những kinh nghiệm thực tiến giáo dục; Èác nhà giáo dục học từ trước đến nay đã để ra nguyên tac day
Trang 18
học trực quan Theo nguyên tắc này thì việc dạy học sẽ có hiệu
quả hơn khi nó được bắt đầu bằng việc đứa trẻ được ngắm nhìn
các vật, quan sát các hiện tượng, các quá trình, các hành động
vối mọi vật trong môi trường xung quanh: Dựa trên đặc điểm
phát triển tâm lý của lứa tuổi mầm non mà nhà giáo dục Nga
K.D Uxinxki đã khẳng định rằng, tính trực quan là cần thiết
cho sự nhận biết của trẻ nhỏ, đứa trẻ sẽ bị hành hạ khổ sở bởi
nam từ mà nó không quen biết, nhưng trổ cũng sẽ dễ dang
nắm được hai mươi từ như thế nếu ta sử dụng tranh, ảnh và
việc dạy trẻ Quá trành-dạy- _học-cẩn: túân-theo nguyên tắc dạy ,
học trực quan bởi hiệu quả dạy học trực tiếp phụ thuộc vị
mức 'độ thu hút các giác quan của trẻ, vào mức c độ lôi cuốn: trẻ
đến với hoạt động từ duy đích thực
Cơ sở của nguyên tắc này là sự thống nhất: giữa các quá
trình "nhận thức cẩm tính và lý tính trong day học ở trẻ nhỏ
các.hình thức tư duy trực quan - hành động và trực quan -
hình tượng.đóng vai trò chủ yếu, do vậy những kiến thức mà
trễ nắm được phần lớn ở mức độ biểu tượng Những biểu tượng
này là sản phẩm của sự trị giác trực tiếp những sự vật và hiện
tượng diễn ra trong cuộc:sống.xã hội và thiên nhiên, qua sự
quan sát các hoạt động của người lớn Như vậy cuộc sống
xung quanh trẻ là một trong những tư liệu trực quan: chính,
cho nên nguyên tắc trực quan trong dạy học là một, nguyên | tắc
cơ bản, '
Việc sử dụng các thiết bị trực quan đa dạng trong dạy học
‘tao điều kiện để hình thành ở trẻ nhỏ những biểu tượng cụ thể,
v/sây đủ về các mối quan hệ toán học phong phú :có trong môi
\ trường xung quanh trẻ, chúng còn góp phần làm phong phú, cụ
|thể hoá và: chính xác hoá những kiến thức mà trẻ đã có từ
| trude Tính trực quan của các đỗ vật được sử dụng trọng quá
|trinh day hoc cần, được phức tạp dẫn cùng với sự phát triển tư
to sự vật, hiện tượng được trẻ trì giác trực tiếp trong các
f hoat động của mình, hoặc qua các hình vẽ của chúng trong
Ầ tưanh ảnh thì tính trực quan dần dần được phức tạp hơn và
\ được thể hiện dưới đạng các mô hình, sơ đồ, biểu đồ
„› Phương.tiện trực: quan trong- quá: trình hình thành các biểu
so dang cho trẻ xâm non _rất da dang Néu
quanh, ta có,các c nhóm sau:
¿ -: Các vật trực quan có tính tự nhiên như: các đỗ vật, các
am t thanh, chuyển động được dùng để hình thành những biểu tượng về tập hợp hay để dạy trẻ so sánh số lượng, dạy đếm,
hoặc các vật có kích thước, hình đạng và vị trí sắp đặt khác
nhau để hình thành các biểu tượng về kích thước, hình dạng
và hay, trẻ định hướng trong không gian: Lo
„ Các vật trực quan có tính tạo hình như: các hình vẽ, cất dán các vật có số lượng, kích thước, hình dạng, vị trí sắp đặt khác nhau, các loại tranh lô tô, các bộ con giống, bộ hình hình học làm bằng các chất liệu khác nhau
- Các vật trực quan có tính đỗ hoạ: các biểu bảng, mô hình, các bức hoạ để các bức vẽ kỹ thuật dùng để lựa chọn-các vật liệu
chip chép theo số lượng, kích thước và hình đạng cần thiết
:.Trong quá trình dạy trẻ mau gido;-dé~ding ‘trite quan thường là các vật thật và các vật có tính tạo hình Tuyynhiên với trẻ mẫu giáo lớn có thể sử dụng cả những vật trực quan nhằm mô hình hoá những khái niệm toán học
`: Ở.trẻ nhỏ những biểu tượng toán học được hình thành
trong quá trình hoạt động của trẻ với sự tham gia của các, giác quan, vì vậy việc sử dung dé vat truc quan phong phú tạo / điều
kiện cho tất cả trễ dude tham gia hoạt động reilin
được các mối quan hệ về số lượng và về không gian e của các vật:
35
Trang 19
; Sự thao tác với các mô hình có tác dụng giúp trẻ trừu tượng
nO hoá những dấu hiệu cơ bản của đối tượng khỏi những đấu hiệu
không cơ bản
Trong quá trình dạy trẻ những kiến thức toán học sở đẳng, đồ
dùng trực quan được chia làm hai loại: đồ dùng cho giáo viên và đồ
dùng cho trẻ Đổ dùng cho giáo viên thường có kích thước lớn,
chúng được giáo viên dùng để chỉ dẫn, làm mẫu cho tré va được trẻ
dùng khi thực-hiện nhiệm vụ được giao ở trên bảng Đồ dùng cho
tré có kích thước nhỏ và được trẻ dùng để thực hiện các nhiệm vw
tại chỗ ngôi Cả hai loại đổ dùng phải đảm bảo các yêu cầu về đỗ
dùng dạy học cho trẻ mầm nơn ,
Trong quá trình dạy trẻ từ lứa tuổi mẫu giáo bé tới lứa tuổi
mẫu giáo lớn cần sử dụng từ các vật trực quan có tính vật chất
tối những vật trực quan cố tính vật chất hoá Tính trực quan
của chúng cần thay đổi dẫn theo lứa tuổi trẻ và phụ thuộc vào
mối tương quan giữa tính cụ thể và tính trừu tượng của nội
dung đạy học ở các giai đoạn khác nhau của quá trình dạy học
Để thực hiện tố nguyên tac trực quan.trong.quá trình dạy
trẻ những kiến thức toán học sơ đẳng, trước tiên cần phải có
đây đủ đồ dùng trực quan, hơn nữa phải sử dụng nó phù hợp
với mục đích dạy-:học Ví dụ: giáo viên sử dụng các bộ con
giống, các nhóm đổ vật có trong lớp học nhằm dạy trẻ đếm số
lượng các nhóm vật cụ thể Khi sử dụng dé dùng trực quan cần
lưu ý trẻ tối sự tri giác những dấu hiệu chính của sự vật, hiện
tượng mà trẻ tìm hiểu Ví dụ: khi cho trể quan sát bể cá, lọ
hoa với mục đích hình thành biểu tượng về “một” và “nhiều”
cho trẻ, cô cần hướng trẻ chú ý tới:đấu hiệu số lượng của đối
tượng đó Cẩn sử dụng đổ dùng trực quan đúng lúc và.tiến ,
hành:nghiên cứu cÌ ¡ liên hệ với các sự vật, hiện
tượng xung quanh trẻ, Để mình hoạ cho số.lượng là.õ, giáo
viên có thể sử đụng các nhóm đồ vật có hình dạng, kích thước,
màu‹sắc, vị trí sắp đặt khác nhau, nhưng có số lượng đều
bằng nhau và bằng 5, qua đó trẻ sẽ phân tích dấu hiệu cơ bản (đố lượng) của các nhóm vật tách khỏi những đấu hiệu khác không cơ bản và luôn thay đổi, từ đó hình: thành cho trẻ biểu
tượng 'khái quát về số lượng Bằng biện pháp dạy học như vậy
giáo viên chuyển dan viée day học chủ yếu dựa vào :sự tri giác
trực tiếp các vật tới dạy học dựa vào các quá trình tư duy của trẻ
Việc sử dụng các đồ dùng trực quan trong day học luôn gan
chặt với việc sử đụng lời nói Bằng lời giảng giải ngắn gọn, hợp
- lý, cùng với hệ thống câu hỏi, giáo viên hướng dẫn trẻ quản sát những đấu hiệu cơ bản của đối tượng nghiên cứu, dạy trẻ phan
ákh những điều nhận biết bằng lời nói, nhờ vậy sự, nhận biết
của trẻ được nâng dần lên mức độ khái quát với sự tham g1a
hệ thống tín hiệu thứ hai
“TFrơng quá trình dạy học cân sử đụng các thiết bị trực quan
theo các cách kHác "hấu phụ thuộc vào nhiệm vụ day hoe Vi
dụ: để giúp trẻ nắm được những đặc điểm của các hình tròn va
hình vuông, giáo viên cần hướng sự chú ý của trẻ tới đặc điểm
đường bao quanh của hình, nhưng để giúp trẻ nhận biết được mối quan hệ số tượng giữa hai nhóm hình lại cẩn hướng sự chú
ý của trẻ tối số lượng của các hình tròn, các hình vuông và thiết lập mối quan hệ số lượng giữa chúng có
"Dạy học tuân theo nguyên tắc trực quan cố vai trò rất lớn,
tuy nhiền nếu sử đụn ; mot cach-lam dung -cac do ding truc
hoc sé kim him su phat trién tri tué
dụng các đồ dùng trực quan với mức độ
“hat dinh Vi dụ: nếu trẻ đã nắm được biện pháp đếm số lượng các nhóm vật thì giáo viên không nên đếm mẫu cho trẻ nữa, giáo viên có thể sử đụng lời nói để mô tả trình tự các thao tác đếm Hơn nữa nên dạy trẻ sử dụng các đổ dùng trực quan để kiểm tra hay chứng minh những câu trả lời của mình
37
Trang 20Như vậy, việc tuân theo nguyên tắc trực quan trong dạy
học là cơ sở để trẻ hiểu sâu sắc những kiến thức thu được, góp
phần hình thành những kỹ năng, kỹ xảo cho trẻ Các biểu
tượng toán học được hình thành ở trẻ càng cụ thể, đầy đủ,
chính xác, thì trẻ càng dễ dàng sử dụng chúng vào những dạng
hoạt động vừa sức trẻ, cũng như \ vào quá trình nhận biết tiếp
theo của trẻ
9.4 Nguyên tắc tính hệ thống va tinh trinh tu
Dé dam bao nguyén tắc này thì nội dưng những kiến thức,
kỹ năng, kỹ xảo cần hình thành cho trẻ trọng từng phần nội
dung cũng như trong toàn bệ chương trình “Hình thành các
biểu tượng toán học sơ đẳng cho trẻ” cần được sắp xếp theo một
trật tự lô gíc nhất định, nội dung các kiến thức cần được mở
rộng, phức tạp dần và đưa đến trẻ theo một trình tự nhất định,
nhờ vậy mà một hệ thống kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo sé được
hình thành ở trẻ
Trong quá trình đạy trẻ, giáo viên phải xác định chính xác
nội dung những kiến thức cần trang bị cho tré trong từng giai
đoạn học tập Với mục đích đó cần lập kế hoạch day hoe cu thé
những kiến thức toán học sơ đẳng, trong đó nội dung dạy học
cần được phân chia: ra thành các phân nhỏ, giáo viên cần phải
thiết lập mối liên hệ giữa các phần nội dụng trong các giai
đoạn dạy học khác nhau, qua đó tạo điều kiện để dam bao tinh
hé théng va tinh trinh tu trong day học ˆ
Hệ ệ thống những ] kiến thức là điề điểu kiện để phát triển trình
tự các năng lực và năng khiếu nhận biết cho trẻ, dạy trẻ biết
suy ' nghĩ có lô gíc, tạo tiền để để trẻ Tĩnh hội những, nội dụng,
hoe đập khác pt ức fap hon, _BHÚp b tr
và những kiến thức mới cần có tính trình tự mang tính kế
thừa Điều này không chỉ cần được thực hiện trong ca nam hoe,
mà nó cần được thực hiện trong suốt những năm tháng trẻ em hoc trong trường mầm non Mối liên hệ lô gíc như vậy sẽ aim bao cho tré linh héi những kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo một sóc vững chắc và sâu sắc: Vì vậy, trong quá trình đạy học cần cay trẻ'nắm được mối liên hệ bên trong giữa các phần kiến thức toán học riêng biệt, giữa các mối quan hệ số ï lượng, không gian,
và thời gian, nhờ vậy mà những kiến thức toán học được.đưa điến trẻ sẽ mang tính tổng hợp Việc trẻ em hiểu mối liên hệ giữa các nội dung kiến thức toán học có trong chương: tinh có tác dụng hình thành ở trẻ một hệ thống kiến thức cân đốt và : tu duy cho tré
a thanh những biểu tượng toán học cho trẻ được
thực hiện trên các tiết học toán và ở mọi lúc, mọi nơi như: trên các tiết học khác, trong lúc trẻ vui chơi, ao động và:trong cuộc sống hàng ngày Tuy nhiên những kiến thức ma tré thu duged mọi.lúc, mọi nơi thường tan man, ngẫu nhiên, thiếu chính:xác
và không có hệ thống, bởi trong các hoạt động đó những kiến thức toán học chỉ đóng vai trò thứ yếu Việc dạy trẻ trên các tiết học đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành những
biểu tượng toán học, bởi chỉ trên các tiết học mới trang Ì bị cho
trẻ những kiến thức chính xác, có hệ thống và trình tự Vì vậy khi dạy trẻ trên từng tiết học, hay khi thực hiện từng phẩn.của nội ôi dung: chương trình cần chú ý ý đến việc sử dụng các dang bai
39
Trang 21tập tổng hợp và tạo mối liên hệ giữa nội dung dạy học với kinh
nghiệm của trẻ
Dé dam bảo nguyên tắc này trong quá trình cho trẻ làm
quen với toán nhằm thúc đẩy sự phát triển trí tué cho tré và
giúp trẻ nắm được hệ thống kiến thức, giáo viên cần chú ý
nguyên tắc này khi lập kế hoạch cho các tiết học toán với cáo
hình thức khác nhau Mặt khác, để đảm bảo nguyên tắc trình
tự trong dạy học thì cần chú ý dạy trễ nấm được trình tự các
thao tác một cách cụ thể, chỉ tiết, phù hợp với trẻ ở mọi lứa
tuổi khác nhau Với trẻ bé, bằng hành động mẫu kết hợp lời
giảng giải, giáo viên hướng dẫn trẻ toàn bộ trình tự các thao
tác khi tái tạo lại mẫu Ví dụ: giáo viên hướng dẫn trẻ trình tự
các thao tác so sánh số lượng các nhóm vật như: xếp chỗng, xếp
cạnh, hay trình tự các thao tác đếm hoặc khảo sát các hình
hình học Việc chuẩn bị kỹ càng trình tự các thao tác cẩn dạy
không chỉ giúp trẻ dễ đàng nắm được nó, mà còn loại bổ được
rihững lỗi mà trẻ đễ mắc phải
Hơn nữa cần dạy trẻ các biện pháp thực hiện các bài tập
thông qua hành động mẫu kết hợp với lời giảng giải của, giáo
viên Với vật mẫu, ban đầu giáo viên nên thực hiện trình tự
các thao tác tái tạo mẫu, vật mẫu đó sẽ là phương tiện giúp trẻ
thực hiện nhiệm vụ theo mẫu, sau đó là phương tiện để trẻ
kiểm tra va đánh gia kết quả thực hiện nhiệm vụ của: mình
Nhờ vậy mà óc quan sat, phan tich cha tré được phát triển,
hình thành ở trẻ kỹ năng đối theo trình tự các thao tác mẫu
kết hợp lắng nghẹ những] giảng giấu
Để đảm bảo tính hệ thống: và tính trình tự trong dạy trẻ
những kiến thức toán hớc sơ đẳng, cần thiết phải sử dụng tất,
cả các giác quan vào dạy học như: thị giác, thính giác, xúc
giác Bởi trước tiên các biểu tượng về số lượng, hình dang,
kích thước, và không gian được hình thành trên cơ sở của hệ
đó sạo nên những mối liên hệ giữa các giác quan trong hoạt dong cua vỏ não Hoạt động đếm của trẻ dần dần được khái quát hoá và được ứng dụng vào những điều kiện bất kỳ như: trẻ đếm các âm thanh phát ra từ đồ chơi, đếm các động tác của hình, đếm những vật mà trẻ nhìn thấy Thông qua các bài
luyện tập đếm với sự tham gia của các giác quan khác nhau,
hoạt.động đếm của trẻ dần đần được hoàn thiện Vì vậy việc xác:định độ lớn của các tập hợp ngày càng trỏ nên chính xác điệc: sử dụng nhiều lần.những từ số trong quá trình đếm số lượng: các nhóm vật bằng nhiều giác quan khác nhau sẽ giúp
tê nấm được vai trò khái quát của các từ số và dần dần hình
thành ở trẻ khái niệm về con số Như vậy, từ việc trẻ xác định
số lượng của các nhóm vật bằng phép đếm trên cơ sở trì giác các nhóm vật cụ thể, đần dần trẻ tiến tối khái niệm trừu tượng vécon sé
Những kiến thức toán học sơ đẳng mà trẻ lĩnh hội được sẽ
trổ nên vững chắc nếu các giác quan đều tham gia vào việc tìm hiểu:znó, nếu trẻ biết tách các đấu hiệu cơ bản khổi các dấu hiệu không cơ bản, nếu tất cả những kiến thức, kỹ năng được
truyền đạt một cách có hệ thống và trình tự và được giữ lại
trọng 6c trẻ theo một hệ thống nhất định Mặt khác trong quá tình dạy học, việc sử dụng các phương pháp, biện pháp dạy học đa dạng tạo điều kiện cho trẻ lĩnh hội nội dung mới sâu sắc
ˆ Hồn; việc tổ chức cho trẻ ứng dụng các kiến thức và kỹ năng đã Học vào những trò chơi và hoạt động khác cùng với việc tổ chức ôñ:luyện những nội dung đã học đều có tác dụng làm cho những kiến thức, kỹ năng mà trẻ thu được trở nên vững chắc
41
Trang 22Khả năng ghi nhớ và tái hiện của trẻ nhỏ thường yếu, trẻ thường nhanh chóng tiếp thu kiến thức và kỹ năng được bọc,
nhưng cũng rất nhanh quên chúng, cho nên cần thường xuyên
ôn luyện và củng cố chúng; góp phần hoàn thiện khả năng ghi
nhớ và tái hiện của trẻ Với mục đích đó, cần thường xuyên tổ
chức cho trễ ôn luyện nội dung đã học, tần số ôn luyện sẽ giảm
dan theo lứa tuổi trẻ, trẻ càng bé càng phải thường xuyên ôn
luyện Để đạt được mục đích đó, giáo viên cần nắm được những `
nội dung kiến thức trẻ đã học để mở rộng chúng, trên mỗi tiết
học toán nên có sự kết hợp nội dung đã học với nội dung mối
trong cấu trúc của tiết học Sau mỗi phần nội dung hoặc sau
mỗi chương nên có tiết ôn tập để củng cố những kiến thức và
kỹ năng mà trẻ đã học Trên các tiết ôn tập nên thay đổi đồ
dùng trực quan và các biện pháp dạy học, tạo ra mối liên hệ
giữa nội dung mới với nội dung trước đó Ví dụ: nhằm cho trẻ
ôn luyện kỹ năng đo bằng thước đo ước lệ, cô có thể cho trẻ đo
cùng một khách thể bằng các thước đo khác nhau, qua đó
không những kỹ nẵng đo của trẻ được củng cố, mà cồn giúp trẻ
hiểu được tính ước lệ của thước đo và nắm được sự phụ thuộc
của kết quả đo vào kích thước của vật chọn làm thước đo
Trong quá trình dạy học giáo viên không chỉ chú ý tới quá
trình lĩnh hội kiến thức của trẻ mà phải chú trọng tối cả quá
trình trẻ ứng dụng chúng Vì vậy trong quá trình dạy trể cần
xây dựng hệ thống bài tập như: bài tập vận dụng, bài tập tổng
hợp, bài tập kiểm tra, bài tập tự kiểm tra và đặc biệt là bài tập
sáng tạo nhằm giúp trẻ vận dụng những kiến thức, kỹ năng đã
lĩnh hội vào việc giải các dạng bài tập khác nhau
Hơn nữa, cần tạo điều kiện để:trẻ sử dụng những kiến
thức, kỹ năng đã nắm được vào các dạng boạt động khác và
vào cuộc sống hàng ngày của trẻ Ví dụ: trẻ sử dụng các kiến
thức về các hình hình học vào hoạt động tạo hình, những kiến
thức về các hướng trong không gian vào các hoạt động thể dục,
múa các kỹ năng đo lường, đếm, so sánh số lượng vào các trò cHợi:có chủ đề như: bán hàng; xây dựng công viên Việc sử dụng các kiến thức, kỹ năng vào những điều kiện hoàn cảnh khác nhau không chỉ có tác dụng làm chúng trở nên vững chắc;
bởi: những kiến thức được thể hiện trong mối liên hệ mới, mà nó>tòn có tac dung hình thành ở trẻ kỹ năng vận dụng những
hiểu: biết của mình vào các hoàn cảnh, tình huống khác nhau
trofig cuộc sống
› Nguyên tắc dạy học uừa sức
“Nguyễn tắc đạy học vừa sức tiếp thu của trẻ được thể h
qửủa nội dung cũng như qua phương pháp dạy học Tính
yên: tắc: từ đơn giản đến phức tạp, từ dễ đến khó, từ cái đã biết đến cái chưa biết, từ gần tới xa Điều đó có nghĩa là trẻ ðhŠ chỉ lĩnh hội được những-kiến thức, kỹ năng phù hợp với
dae dic’ diém va tiữc độ phát triển trí tuệ của trẻ Tùy nhiên, 1iEay trong cùng một độ tuổi không phải trẻ rào cũng có năng
thú như nhau, có trẻ' tiếp thu nhanh, đã đăng, có trẻ
$ Sp thir cham va phai cổ gắng nhiều, lại có những trẻ co nang + Wưđặc biệt-trong việc lĩnh hội những kiến thức toán "học: Vi vay \#nột dũng ññững kiến thức, kỹ năng dạy trẻ cần phy Hợp với lứa tuổi tế và với từng trẻ' Nghĩa là nội dung những kiến thữe-và.kỹ năng-phẩi phir hợp” với đối: tượng trẻ, lầm cho tated tiể -tiếp thu được:'chúng với sử nỗ Tực nhất định, déng thời góp
ăng Ì lực toán-Họe-cho.tiễ - - -—- Nguyên tác này chỉ được thực hiện trong quá trình đạy trẻ ing `kiết thức toán học sơ đẳng một khi giáo viên tiến hành
lến cứu và tim 'vững những' đặc điểm tâm sinh 1ý lứa tuổi,
43
Trang 23
cũng như những đặc, điểm riêng của từng trẻ trong các hoạt
- động khác và trong cuộc sống sinh hoạt hàng ngày của trẻ,
như: tình trạng sức khoẻ của từng trẻ, khả năng tư duy, ngôn ˆ
ngữ, chú ý, ghi nhó mức độ tự lực trong hoạt động của từng
trẻ, đồng thời chú ý tới những cá tính của từng trẻ như: tính tự
tin, nhút nhát Trên cơ sở đó cần cân nhắc, lựa chọn nội dung
day hoc sao cho phù hợp với cả lớp trẻ và với từng trẻ, trong đó có
sự kết hợp hợp lý giữa nội dụng các kiến thức cảm tính và lý tính
Việc đảm bảo tính vừa sức trong đạy trẻ] hime ki kién thức
toán học sơ đẳng có thể thực hiện dựa trên lý thuyết về vùng
phát triển gần nhất của Vư-gốt-xki Theo lý thuyết này, những
yêu cầu day học cần phải hướng-vào vùng phát triển gần nhất,
tức là phù hợp với trình độ mà trẻ đạt tới ở thời điểm đó, mà
trẻ vẫn phải tích cực sủy nghĩ, giải quyết những khó khăn
nhất định
Để đảm bảo tính vừa sức trẻ những kiến thức mới ¡ truyền
thụ cho trẻ cần được phức tạp dần, được cũng cố qua các bài
luyện tập phong đhú và được ứng dụng vào các dạng hoạt động
khác nhau của trẻ Như vậy mỗi nội dung mới không quá
nhiều, quá đễ hay quá khó để trẻ có thể lĩnh hội được chúng
Vì vậy mỗi nhiệm vụ mới cân được chia thành nhiều nhiệm vụ
nhỏ và được đưa đến trẻ theo một trình tự nhất định Ví dụ: để
hình thành biểu tượng về kích thước cho trẻ, đầu tiên ta cho
trể tri giác các vật có kích thước khác nhau, trên cơ sở đó ta
dạy trẻ phân biệt và nhận biết các thông số kích thước khác
nhau của vật như: chiều dài, chiều rộng, chiều cao, tiếp theo
trẻ học so sánh độ lớn, và từng thông số kích thước của bai vật,
tiếp theo là của ba vật từ đó trẻ học cách thiết lập mối quan
hệ kích thước giữa các vật và phản ánh mối quan hệ đó bằng
' lời Như vậy sự mộ rộng dần, phức tạp dần nội dung dạy học sẽ
giúp trẻ dé dàng lĩnh hội các kiến thức và kỹ năng, tạo cho trẻ
hứng thú học toán Nếu nội dung học tập quá dễ hoặc quá khó
dé u sẽ làm giảm nhu cầu, hứng thú học tập của trẻ, như vậy
điệu qua day học sẽ không cao
Day hoc tu dé dén khé sé tao cho trẻ những khó khan nhất định, đời hỏi ở trẻ sự nỗ lực vượt khó, khi dạy trẻ giáo viên cần hướng dẫn, tác động đến trẻ sao cho những gì khó sẽ trở thành
dé hiểu với trẻ Như vậy những kiến thức của trẻ sẽ được mở
chuẩn bị kỹ càng hệ thống câu hỏi nêu vấn đề cho từng loại đối
tượng đặt ra cho trẻ và tạo điểu kiện để trẻ tự giải quyết vấn
đệ; dẫn dất trẻ khái quát vấn đề Ngoài ra cần nghiên cứu hệ thống Ì bài tập cho trẻ từng lứa tuổi, cho từng cá nhân trẻ, nâng
dân mức độ khó của bài tập tương ứng với mức độ lĩnh hội trì
thức, kỹ năng và sự.phát triển trí tuệ của trẻ nhỏ, sử đụng các bài tập khó nhằm phát triển năng lực tư duy toán học của trẻ Khi-day học cần sử dụng hợp lý đổ dùng trực quan nhằm giúp: trẻ đễ dàng lĩnh hội nội dung học tập Mặt khác việc sử dụng học cụ hợp lý còn tạo điều kiện cho sự chuyển dần từ quá trình lĩnh hội dựa vào trì giác sang giai đoạn lĩnh hội dựa vào
có tác dụng củng cố, bổ sung và làm sâu sắc hơn kiến thức đã có.và tạo.ra hiệu quả dạy học Như vậy khi lựa chọn nội dung
45
Trang 24
dạy học cũng như khi truyền đạt kiến thức, kỹ năng cho trẻ
cần dựa trên vốn kinh nghiệm đã có của trễ
Tóm lại, việc tuân theo nguyên tắc dạy:học vừa sức trẻ là
điểu kiện đảm bảo cho quá trình hình thành các biểu tượng
toán học sơ đẳng cho trẻ mầm non đạt hiệu quả cao
39:6 Nguyên tắc đảm bảo tính khoa học
Để đảm bảo nguyên tắc này trong việc dạy trẻ những kiến
thức toán học ban đầu đồi hỏi người giáo viên cần phải nắm và
vận dụng được những thành tựu của khoa học giáo đực mẩmn
non, phản ánh được tình thần của nội dưng học tập vào hoàn
cảnh cụ thể Vì vậy khi dạy trổ cần có sự lựa chọn nội dung
chương trình dạy học có tính lô gíc và tính khoa học, phù hợp
với mục tiêu và nhiệm vụ của giáo đục và dạy học, đồng thời
phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý của trẻ
Quá trình hình thành những biểu tượng toán học chơ: trễ
mầm non không chỉ nhằm trang bị cho trẻ hệ thống những
kiến thức khoa học, mà còn dạy trẻ nhận biết các mối quan hệ
số lượng, khônế gian và thời gian có trong hiện: thực:xưng
quanh trẻ, tức dạy trẻ thấy được:nguồn gốc thực tiễn của toán
học Mặt khác, những kiến thức đến với trẻ:cần phải có hệ
thống, phản ánh được các mối liên hệ qua lại giữa các khía
cạnh khác rhau, như: số lượng, hình dạng, kích thước; không
gian : và nó được đưa đến với trẻ thông qua những tư liệu cụ
thể, sinh động, qua đó trẻ thấy được mối quan hệ gắn bó giữa
các kiến thức toán học Hơn nữa, phương pháp hình thành
biểu tượng toán học sơ đẳng cho trẻ mầm non được xây: dựng
trên cơ sở của nHững khoa học nhữ: toán học, sinh lý trẻ em;
tâm lý học và giáo dục học riểm non; cơ sở toán hod cha viée
hình thành ở trẻ những'biểu tượng:về số lượng và con:số là lý
thuyết tập hợp và khái niệm về số tự nhiên, cồn việc chơ trẻ
làm quen với hình dạng các vật lại dựa vào những kiến thức
về:các hình hình học và những tính chất sơ đẳng nhất của
chúng Tâm lý học mầm non nghiên cứu các hình thức tư duy
và những đặc điểm tâm lý của trẻ mầm nơn, trên cơ sở đó tiến
hành lựa chọn các phương pháp đạy học phù hợp với quy luật
nhận thức của loài người
¿¿ Để đảm bảo tính khoa học trong dạy học cần dạy trẻ nấm được các mối liên hệ và quan hệ cơ bản, bỏ qua những dấu hiệu ông cơ bản, dạy trẻ nắm được các biện pháp khái quát, hoá
dụ: trong quá trình trẻ thực hành thao tác với các nhóm vật
có số lượng bằng nhau, trẻ sẽ thấy rằng con số không phụ
thuộc vào các dấu hiệu khác như: màu sắc, kích thước, hình
dang nhờ vậy trẻ nấm được ý nghĩa khái quất của con 36, nd
là chỉ số cho độ lớn của một lớp các tập hợp cổ độ lớn tương
đương " :
Trong quá trình dạy những kiến thức toán học cho trẻ cần
đảm bảo sự thống nhất giữa các thao tác, kiến thức, kỹ năng
vä thái độa Thông qua hoạt động mà tư duy và ý thức của trẻ được phát triển, vì vậy cần tổ chức các hoạt động phong phú chủ“ trẻ, sao cho trẻ không chỉ trì giác nhiều lần nội dung
nghién cứu, mà còn nắm được các biện pháp thao tác với chúng, nhờ vậy ở trẻ sẽ hình thành một thái độ đẳng đắn với Hoạt động của mình
"Trong quá trình hình thành-những biểu tượng toán học
clo tré cần đảm bảo tính chính xác; tính khoa học về tất cả
moi mat như: ngôn ngữ, ký biệu, hình vẽ, kiến thức; suy luận, Thông qua quá trình dạy hình thành các biểu tượng toán học, figôi ngữ của trẻ sẽ được phát triển vốn từ của trẻ thêm phong phủ; giúp trẻ nắm được một số thuật ngữ:khoa học chính xác
như: tên gợi các hình hình học, các chiều đo kích thước, các
'hữớng không gian , dạy trẻ biết suy luận có lô gic, biết chứng mình cho những giả định của mình
Trang 25
Để đảm bảo được nguyên tắc khoa học trong quá trình dạy
trẻ những kiến thức toán học sơ đẳng, giáo viên cần nắm chắc
những kiến thức toán học, đồng thời phải nắm được những quy
luật phát triển chung của trẻ và những đặc điểm phát triển
riêng của từng trẻ
'& Nguyên tắc đảm bảo tính ý thúc va phat huy tính
tích cực của trẻ
Hiệu quả của quá trình dạy học phụ thuộc vào năng lực
của giáo viên và khả năng lĩnh hội kiến thức và kỹ năng của
trẻ Nếu trong quá trình dạy học mà không có sự hoạt động tư
duy tích cực thì không thể có sự nắm vững kiến thức, mặt khác
nếu học mà hiểu và nắm được kiến thức thì tư duy sẽ hoạt
động tích cực Vì vậy để trẻ nắm được những kiến thức toán
2
hoc sd.dang mot cach ¢6-¥-thtte thi phai.tao mọi điểu kiện để
phát huy tính tích cực của trẻ trong quá.trình học toán:
Để có thể lĩnh hội kiến thức có ý thức thì trể phải có kỹ
năng tri giác và phân tích những dấu hiệu ed ban, bỏ qua
những dấu hiệu không cơ bản, trẻ phải có kỹ năng xem xét một
sự kiện, hiện tượng, hoạt động nào đó trong những mối liên hệ
phong phú của nó Tính ý thức được hình thành trong quá
trình học tập của trẻ, trong những điểu kiện đó trế phải nỗ lực
cố gắng vượt những khó khăn để nấm kiến thức và kỹ năng
cần thiết Trẻ nhỏ bắt đầu lĩnh hội kiến thức có ý thức khi trẻ
tích cực tìm tồi, khám phá để nghiện cứu nội dung học tập
thông qua các thao tác với tư liệu nghiên cứu dưới sự hướng
dẫn của giáo viên Ví dụ: trẻ tích cực khảo sát các đồ vat: để
nhận biết hình dạng, kích thước của chúng, trẻ thiết lập tương
ứng 1:1 giữa các vật của bai nhóm vật để nhận biết mối quan
hệ số lượng giữa chúng, trẻ đếm để xác định độ lồn của các tập
hợp khác nhau Vì vậy trong quá trình dạy học cần tạo mọi
nghiên cứu với sự tham gia của các giác quan khác nhau, qua
đó góp phần kích thích hoạt động tư duy của trẻ
Để đảm bảo tính ý thức trong quá trình lĩnh hội kiến thức cần dạy trẻ nhận biết những dấu hiệu bản chất của đối tượng
ˆ bằng cách thay đổi các dấu hiệu không bản chất và giữ nguyên
dấu hiệu bản chất của đối tượng nghiên cứu, trên cơ sở đó dân trẻ tới những khái quát đúng, những kiến thức chính xác và linh hoạt Ví dụ: khi trẻ làm quen với các hình hình học nên sử
dụng các mẫu hình hình học đa dang với màu sắc, kích thước,
vị trí sắp đặt phong phú qua thao tác với chúng trẻ sẽ nắm
được đấu hiệu đặc trưng của các bình và có biểu tượng chính xác về chúng; hay khi đếm các nhóm vật khác nhau nhưng cố
số lượng bằng nhau, trẻ sẽ đi đến kết luận khái quất về sự không phụ thuộc của con số vào những dấu hiệu bên ngoài, vào
vị trí sắp đặt trong không gian của các nhóm vật Như vậy con
số luôn là chỉ số cho độ lớn của một lớp các tập hợp có độ lớn tương đương, như số B cố thể hình dung dưới đạng ð búp bề, 5
lá cồ và tất cả các nhóm vật có số lượng bằng 5 Như vậy số 5 được trừu tượng hoá khỏi tất cả các đấu hiệu cụ thể khác
Để đảm bảo nguyên tắc này trong dạy học cần hình thành
và phát triển ở trẻ các thao tác tư duy như: phân tích và tổng
hợp, đó là cơ sở để phát triển tư duy cho trẻ, nhờ đó mà trẻ
nhận biết được mối quan hệ qua lại giữa các đối tượng đang nhận biết và các đối tượng khác Hơn nữa kết quả của việc giải quyết bất cứ nhiệm vụ trí tuệ nào đều phụ thuộc vào mức độ
phân tích và tổng hợp, vào mối quan hệ qua lại giữa hai quá trình đó Trong các giai đoạn khác nhau của sự lĩnh hội nội
dung học tập đều có sự thống nhất giữa hai quá trình này Tuy :_ nhiên trong'từng thời điểm mà quá trình này trội hơn quá
"4 PPHTBT ¬ 49
Trang 26trình kia Vì vậy trong mỗi giai đoạn cần dạy trẻ tiến hành
phân tích và tổng hợp một cách thống nhất với nhau
Trong quá trình dạy học cần dạy trẻ hiểu một cách có ý
thức các cặp khái niệm có tính đối lập như: tay phải - tay trái,
phía phải - phía trái, phía trước - phía sau, phía trên - phía
dưới, nhiều hơn - ít hơn , đạy trẻ hiểu các mối quan hệ thuận
nghịch giữa các số liền kể trong day số tự nhiên Sự đối lập
trong hệ thống chung các kiến thức giúp trẻ hiểu và lĩnh hội
Mặt khác, để đảm bảo tính ý thức và tích cực trong quá
trình dạy học cần sử dụng đúng mức phương pháp dạy học nêu
vấn để, giáo viên cần đặt trẻ vào các tình huống có vấn để,
buộc trẻ › phải suy nghĩ tim toi each | giải quyết chúng Ví du: các
để so sánh số ï lượng hai nhóm vật được xếp theo ¢ các Ác cách khác
nhau trong khô
dụng tới kỹ năng đo để so sánh kích thước của hai vật Mặt
khác, trong quá trình dạy học giáo viên cần chú ý tới phương
pháp gợi mở, đến hệ thống c câu hỏi dẫn đắt trẻ tự tìm ra kết,
quả, tự đưa ra kết luận khái quát bằng lời, giáo viện không
nên áp đặt trẻ bằng ñững câu trả lời có sẵn để trẻ ghi nhớ
một cách máy móc nhưng không hiểu được bản chất của nó
Trong dạy học cần chú ý sao cho những kiến thức toán học
cụ thể và trừu tượng luôn thể hiện trong mối tác động qua lại
với nhau Sự tác động qua lại đó được thể hiện trong quá trình
trẻ linh hội kiến thức ở các giai đoạn học tập khác nhau: Ví dụ:
6 giai đoạn đầu, tập hợp đối với trẻ như một biểu tượng cụ thể,
trên cơ sở trẻ thực hành so sánh độ lớn các tập hợp bằng cách „
thiết lập tương ứng 1:1 giữa các phần tử của các tập hợp, ở trẻ
hình thành khái niệm trừu tượng về con số - chỉ số cho độ lớn
của một lớp các tập hợp có độ lớn tương đương Những kiến
CÓ thể thao tác theo mẫu của giấc
ng gian, Thay:các hoàn cảnh buộc trẻ phải sử
thức về con số lại là cơ sở để trẻ hiểu mối quan hệ giữa các số
liển ké của day số tự nhiên, đó cũng chính là cơ sở để hình
thành ở trẻ biểu tượng về dãy số tự nhiên Dạy học theo cách
như vậy sẽ giúp trổ đi từ điều đã biết đến điều chưa biết, giúp
trể chuyển từ sự tích cực hành động tới tích cực tư duy, từ đó
giáo dục ở trẻ nhủ cầu suy nghĩ, hứng thú vượt khó và kỹ năng
giải 'quyết các nhiệm vụ đặt ra Tất cả điều đó giao’ duc cho tré
thái độ học tập có ý thức, phát triển hứng thú bền vững với các kiến thức toán học và hiểu được vai trò của nó đối với thực tiễn
tiến hành khảo sát các hình hình học Những kỹ năng được
hình thành ở trẻ tạo diéu kién để trẻ có thể tích cực thực hiện tốt các 'nhiềm vụ được giao Goh aA
é tré luén tich cuc trén tiét hoc, giáo viên cần chú ý tới nội đung phong phú của tiết học cũng như thời gian tiến hành
nó Thời gian của tiết học cần phù hợp với đặc điểm tâm sinh |
lý của trẻ, nhưng đó phải là thời gian tổ chức hoạt động cho trẻ
chứ không phải là thời gian hình thức của tiết học, đôi khi thời
gian của tiết học ngắn nhưng trẻ vẫn không tích cực học và ngược lại có những tiết học kéo dài hơn thời gian quy định nhưng trẻ vẫn rất hứng thú học Vì vậy việc phân chia nội
dung chính xác, cũng như thay đổi tính chất hoạt động của, tre nhằm tạo ra sự hài hoà giữa các yếu tố tĩnh và động trong các
phần khác nhau của tiết học, cùng với sự thay đổi đồ dùng dạy
3
Trang 27học và các biện pháp dạy học đa dạng góp phần tạo nên hiệu
quả của tiết học,
3 Nội dung hình thành các biểu tượng toán học sơ”
đẳng cho trẻ mầm non
Những biểu tượng toán học sơ đẳng được hình thành ở trẻ
em là kết quả của việc trẻ nắm những kiến thức qua các hoạt
động khác nhau trong cuộc sống hàng ngày và là kết quả của
việc dạy học có định hướng trên hệ thống các tiết học toán với
trẻ Chính những kiến thức, kỹ năng toán học sơ đẳng mà tré
- nắm được là phương tiện để phát triển tư duy toán học cho trẻ
và góp phần thực hiện giáo dục toàn điện nhân cách trẻ
Trong quá trình đạy học ở trường mâm non chúng ta phat
triển ở trẻ khả năng nhận biết thế giới xung quanh, khả năng
phân tách các đấu hiệu, nhận biết các tính chất, các mối liên
hệ của các sự vật, hiện tượng xung quanh trẻ, phát triển ở trẻ
hứng thú quan sát, bình thành các thao tác trí tuệ, các biện
pháp của hoạt động tư duy, qua đó tạo ra những điều kiện bên
trong để dẫn đắt trẻ tới những hình thức mới của trí nhớ, của
tư duy và tưởng tượng ;
Những kết quả nghiên cứu của các nhà tâm lý: V.V Đavưđôy,
L.V Giăngkôv và sự đúc kết những kinh nghiệm sư phạm cho
thấy rằng, việc dạy trẻ những kiến thức toán học sơ đẳng có hệ
thống có tác dụng hình thành ở trẻ những thành tố của hoạt động
cảm nhận và hoạt động tư duy, hình thành những thành tố của
năng lực nhận biết chung và riêng Hơn nữa đưới tác động của dạy
học, tư chất của cá nhân trẻ dần dân phát triển và trở thành
những năng lực cụ thể Sự khác biệt về mức độ phát triển của trẻ
được thể hiện chủ yếu qua tốc độ và những thành tích mà trẻ đạt
được trong quá trình nắm kiến thức -
AN Da-porédet, D.V Elkénhin, V.V Davudév cing chứng minh rang, trong qua trình dạy học và đưới tác động của dạy học đã diễn ra sự thay đối toàn diện và tích cực nhân cách
trẻ, diễn ra sự thay đối tình cảm, năng lực của chúng Dạy học
còn tạo khả năng lĩnh hội nội dung học tập mới, phức tạp hơn,
hình thành những tiển để mới của hoạt động học tập _
Giữa dạy học và phát triển có mối quan hệ qua lại với nhau Dạy học tác động tích cực đến sự phát trien của đứa trẻ, nhưng bản thân nó lại dựa vào mức độ phát triển của tre Day
học có thể tác động tới sự phát triển của trẻ với các mức độ
khác nhau, phụ thuộc vào: nội dung, phương phấp, hình
thức Như vậy nội dung dạy học và cấu trúc của nó là những yếu tế đảm bảo cho sự phát triển ở trẻ các biểu tượng toán học
, Nội dung những biểu tượng toán học cần hình thành ở trẻ -luôn là vấn để mà các nhà giáo dục quan tâm nghiên cứu Nội
dung đạy học - đó là khối lượng những kiến thức, kỹ năng, kỹ
xảo cần trang bị cho trẻ thông qua quá trình tổ chức các hoạt động khác nhau cho trẻ Nội dung đạy học môn toán Ở trường
mâm non là những kiến thức tiên khoa học (dưới dạng những
biểu tượng toán học sơ đẳng), trang bị cho trẻ những kỹ năng cụ
thể nhằm giúp trê có thể bước đầu thực hành định hướng trong
các mối quan hệ toán học có trong hiện thực xung quanh trẻ
Việc lựa chọn nội dung dạy trẻ cần xuất phát từ mục đích,
yêu cầu của việc hình thành các biểu tượng toán học cho trẻ và
phải phù hợp với khả năng nhận thức của trẻ, vì vậy đây là một vấn đề phức tạp Nội dung dạy trẻ được phản ánh trong
chương trình "Hành thành các biểu tượng toán học sơ đồng cho
tré:mém non" ằược Viện nghiên cữu trẻ em trước tuổi học soạm thảo qua nhiều năm, quá trình này được tiến hành trên cơ số những kết quả nghiên cứu của các nhà giáo dục trong và ngoài
53
Trang 28nước Trên cơ sở phân tích nội dung chương trình “Hình thành
các biểu tượng toán học cho trẻ mầm non” hiện hành, chúng ta
thấy nội dung này bao gồm 3 hướng sau đây:
- Hình thành cho trẻ những biểu tượng toán học
~ Dạy trẻ bước đầu nắm các mối liên hệ và quan hệ toán học
- Dạy trẻ một số biện pháp toán học
Nội dung chính của chương trình đó là hình thành cho trẻ
khối lượng phong phú những biểu tượng như: số lượng, con số,
tập lớn, tập con, kích thước, thước đo, hình dạng vật thể và các
hình hình học, những biểu tượng về không gian (phương
hướng, khoảng cách, mối quan hệ không gian giữa các vật)
Tuy nhiên trong chương trình vẫn chưa thấy có nội dung hình
thành biểu tượng thời gian cho trẻ, trong khi đó mọi sự vật,
hiện tượng trong thế giới xung quanh đều tổn tại trong không:
gian và thời gian, trong các mối quan hệ của chúng, hơn nữa
trong nội dung dạy trẻ những kiến thức toán học sơ đẳng bao
gồm việc dạy trẻ xác định các đại lượng đo khác nhau, thời
gian cũng là một đại lượng đo (đo độ dài thời gian diễn ra các
sự kiện, hiện tượng khác nhau) Vì vậy nội đung này cần được
đưa vào chương trình môn học nhằm phát triển sự định hướng
thời gian cho trẻ trên cơ sổ đó hình thành cho trê một số biểu
tượng thời gian (các đơn vị đo thời gian và một số tính chất của
thời gian)
Nội dung chương trình “Hình thành các biểu tượng toán
học cho trẻ mầm non" phải đảm bảo tính đồng tâm Mỗi biểu
tượng được hình thành trước phải là cơ sở để hình thành
những biểu tượng và khái niệm toán học tiếp theo Hơn nữa
các biểu tượng toán học khác nhau nhưng phải:có mối quan hệ
gắn bó với nhau, như: với trẻ 4 tuổi chúng ta chủ yếu chú trọng
tốt việc hình thành biểu tượng về tập hợp cho trẻ, dạy trẻ các
biện pháp so sánh độ lớn của các tập hợp có sự khác biệt lớn
hay dude biểu thị bằng các sế Ý kế cận (một và nhiều, nhiều hơn
- ít hơn) Ö các lớp mẫu giáo nhỡ và lớn những kiến thức về tập hợp của trẻ được mở rộng, chúng trở nên phong phú và sâu sắc hơn, như: trổ so sánh số lượng các phần tử của các tập hợp, xác định mối quan hệ số lượng giữa chúng và khái quát số lượng bằng các từ số, con số, trẻ học cách tách các tập con từ tập lớn, xác:định mốt quan hệ giữa các phần chia từ một tập hợp ban đầu
Trên cơ sở những biểu tượng tập hợp ở trẻ hình thành những biểu tượng và khái niệm về con số và kích thước , khát niệm con số giúp trẻ trừu tượng hoá số lượng và các mối quan
hệ số ý lượng khỏi những dấu hiệu khác của tập hợp (kích thước,
màu sắc, hình dạng) Để làm được điều đó đồi hỏi trẻ phải có kỹ.năng phân tích những dấu hiệu riêng biệt của các vật, biết
so sánh, đối chiếu, khái quát hoá và đưa ra kết luận
Sự hình thành biểu tượng về kích thước cho trẻ gắn chặt với sự phát triển những biểu tượng về số lượng và con số ở trẻ
Trong quá trình đứa trẻ đo độ dài các vật khác nhau, những
ˆ biểu tượng về số lượng và con số của trẻ được củng cố và phát triển, nhờ-vậy mà hoạt động đếm của trẻ được nâng cao Mặt khác, sự xác định kích thước và những kiến thức về con số lại
tác động tới sự hình thành ở trẻ biểu tượng về các hình hình
học (hình vuông, hình chữ nhật đều có 4 cạnh, tất cả các cạnh
của hình vuông dài bằng nhau, còn hình chữ nhật có hai cạnh đài đài bằng nhau và hai cạnh ngắn dài bằng nhau ) "
Đặc trưng của dạy học với trẻ lứa tuổi mẫm non là tất cả
những kiến thức toán học sơ đẳng được đưa đến trẻ thông qua
quá, trình tổ chức các hoạt động thực tiễn cho trẻ, mỗi biểu
tượng toán học được hình thành ở trẻ một cách trực quan trên
cơ số đứa trẻ ngắm nhìn các vật cụ thể hay thực hành thao tác với chúng Ví dụ: viẹc làm quen trẻ với các con số được thực
55
Trang 29hiện trong quá trình trẻ luyện đếm các tập hợp cụ thể (những
bông hoa, những con gà, các hình vuông ) hay sự hình thành
biểu tượng về các hình hình học diễn ra trong quá trình làm
quen trẻ với chúng mà không cần tới bất cứ định nghĩa hay lời
giải thích nào về khái niệm đó, tương tự như vậy hình thành ở
trẻ những biểu tượng: nhiều hơn - ít hơn, một, hai, ba Vì vậy
những kiến thức toán học mà trẻ nắm được là sản phẩm hoạt
động của chính bản thân trẻ dưới sự hướng dẫn của giáo viên
- Trong quá trình hình thành các biểu tượng toán học chơ
trẻ mắm non, trễ còn được làm quen với một loạt, mối quan hệ
và sự phụ thuộc toán học, như trẻ nhận biết được một số mối
quan hệ số lượng giữa tập hợp các vật (bằng nhau, không bằng
nhau), mối quan hệ về kích thước của các vật trong dãy, mối
quan hệ giữa các số liền kể thuộc dãy số tự nhiên, các mối
quan hệ thời gian, sự phụ thuộc giữa kích thước, độ dài thước
đo và kết quả đo lường:
Trong quá trình làm quen với toán, trẻ còn được làm quen
với một số biện phág nhất định như: xếp chồng, xếp cạnh, đếm,
biến đổi số lượng nhóm vật bằng cách thêm bớt, đo lường Việc
nắm các biện pháp đó có ảnh hưởng lớn tới sự phát triển trí tuệ
của trẻ Có thể chia các biện pháp đó ra làm hai nhóm:
- Nhóm biện pháp cơ bản như: đếm, đo lường, tính toán
- Nhóm biện pháp bổ trợ như: thực hành so sánh bằng xếp
chồng, xếp cạnh, thêm, bớt để tạo ra các tập hợp mới, so sánh,
đối chiếu, kết hợp nhằm thực hiện các mục đích học tập khác
nhau
- Như vậy, nội dung hình thành các biểu tượng toán học cho
trẻ ở trường mầm non có những đặc thù nhất định, điều này
xuất phát từ những đặc trưng của các khái niệm toán học, từ
những kinh nghiệm dạy học với trẻ mầm non, từ những yêu
cầu hiện nay của nhà trường đối với việc chuẩn bị cho trẻ học
toán Ở trường phổ thông Trong chương trình, nội dung đạy trẻ
được sắp xếp sao cho những kiến thức và các biện pháp hoạt
động khá đơn giản mà trẻ đã nắm được sẽ là cơ sở để trẻ nấm
những kiến thức, kỹ năng và các biện pháp hoạt động mới
phức tạp hơn nữa
Trong quá trình dạy học việc dạy trẻ các thao tác thực
hành điễn ra đểng thời với việc hình thành ở trẻ các thao tác nhận biết (thao tác trí tuệ) Trẻ không thể lĩnh hội được các thao tác này nếu thiếu sự hướng dẫn của người lồn, bởi vì đối tượng nhận biết trong toán học là các mối quan hệ số lượng, các thuật toán và các mối liên hệ qua lại không thể hiện rõ ràng, chính vì vậy mà các thao tác trí tuệ này đóng vai trò chính để giúp trẻ nhận biết chúng
Quá trình hình thành các biểu tượng toán học cho trẻ còn gắn chặt với việc đứa trẻ nắm được các thuật ngữ chuyên biệt Lời nói làm cho các khái niệm trổ nên có ý nghĩa và giúp trẻ khái quát hoá, trừu tượng hoá chúng
— Tôm lại, nội dung hình thành các biểu tượng toán học cho
trẻ mầm non không chỉ bao gồm những kiến thức, kỹ năng
toán học, mà còn gồm cả những biện pháp hoạt động thực tiễn, hoạt động trí tuệ, tất cả điều đó là cơ sở để giáo dục toàn điện nhân cách trẻ
Để đưa nội dung này tới trẻ thì việc lập kế hoạch thực hiện
nó thông qua hệ thống các tiết học và các hình thức dạy học khác đóng vai trò quan trọng Các kế hoạch đài hạn có tính định hướng cùng với các kế hoạch ngắn hạn và các giáo án tiết học có tác dụng định hướng cho giáo viên thực hiện công việc
cho trẻ làm quen với toán Trong quá trình dạy trẻ giáo viên cần thường xuyên so sánh, đối chiếu nội dung dạy học với mức
- độ phát triển những biểu tượng toán học của trẻ trong lớp Giáo viên tiến hành các tiết học toán với trẻ theo kế hoạch đã
57
Trang 30định Mỗi tiết học đều được giáo viên thực hiện một cách có tổ
chức, có lô gíc, phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi trẻ
mà không phụ thuộc vào thời gian và hình thức tiến hành Kết
quả của mỗi tiết học toán được thể hiện qua việc đạt mục đích
để ra, tạo cho trẻ cảm xúc thoả mãn và lòng ham muốn được
Phương pháp nói chung là một khái niệm trừu tượng, vì nó
không mô tả những trạng thái, những tổn tại tĩnh trong hiện
thực, mà nó chủ yếu mô tả phương hướng vận động trong quá
trình nhận thức và hoạt động thực tiễn của con người Theo
nghĩa chung nhất thì “phương pháp là con đường, là cách thức
mà chủ thể sử dụng để tác động nhằm chiếm lĩnh hoặc biến đổi:
đối tượng theo mục đích đã định” Như vậy phương pháp là
một phạm trù mang tính biện chứng, nó không phải là bất
biến, mà có thể thay đổi theo sự thay đổi của thực tiễn để đáp
ứng với các nhu cầu đồi hỏi của thực tiễn Vì vậy khi sử dụng
chúng con người có thể lựa chọn, kết hợp, thay đổi chúng và
thậm chí có thể tìm kiếm những phương pháp mới Việc xác
định đúng phương pháp sẽ góp phần nâng cao hiệu quả giải
quyết công việc để đạt mục đích đề ra
Trong khoa học sư phạm, thuật ngữ phương pháp được sử
dụng rộng rãi với nội hàm ở các cấp độ khái quát khác nhau 6
cấp độ đầu tiên phương pháp được coi là hệ thống các nguyên
tắc chủ yếu nêu lên những phương hướng xác định mực đích,
yêu cầu, nội dung tà cách thức dạy học trong những điều kiện
cụ thể để đạt mục đích đề ra Với ý nghĩa này phương pháp
đông nghĩa với chiến lược hành động chung nhất - phương hướng để đạt mục tiêu môn học 6 cấp độ hai, phương pháp là
sách thức tổ chức, là phương thức phối hợp hoạt động chung giữa hoạt động dạy của thầy và hoạt động học của trò nhằm thực hiện mục đích và yêu cầu, nội dung môn học ở cấp độ cuối cùng, phương pháp là thủ pháp Đó chính là các hành động, các thao tác cụ thể nối tiếp nhau để thực hiện nhiệm vụ học tập nào đó Như vậy chúng ta có thể tiến hành nghiên cứu phương pháp dạy học ở cả ba cấp độ này
v¿: Trong lý luận dạy học mầm non, các nhà giáo dục: A.V
Dapôrôdet, A.I Xôrôkina chỉ ra rằng, sự lĩnh hội nội dung những kiến thức này hay kiến thức khác là kết quả hoạt động nhận biết của trẻ được nhà giáo đục tổ chức tương ứng
với những đặc điểm của nội dung đạy học Kiến thức luôn
là,sản phẩm của những thao tác nhận biết nhất định của trẻ Trên cơ sở đó phương pháp dạy học mẫu giáo được xem như là cách thức hướng dẫn của nhà giáo duc vdi tré mam non nhằm mục đích lĩnh hội những kiến thúc, kỹ năng uà
hỹ xảo, hình thành thế giới quan uà phát triển cúc năng lực
khác! Các nhà nghiên cứu cho rằng, trong dạy học đôi khi
hoạt động nhận biết của trẻ gắn liển với hoạt động thực tiễn và đóng vai trò giáo dục, dạy học
` Với định nghĩa này phương pháp đạy học mầm non không chỉ được xem xét đưới góc độ nhà giáo dục đưa kiến
thức đến cho trẻ theo cách thức nào, mà còn xem xét cả hoạt động nhận.thức của trẻ diễn ra như thế nào, bởi những kiến thức mà trẻ nắm được là sản phẩm của chính hoạt động của trẻ chứ không phải của nhà giáo dục Thông qua các hoạt
Ì Phạm Viết Vượng, Giáo dục học Nxb ĐHQGHN 1996, tr.100
59
Trang 31
động có tính chất khác nhau mà tré nam được những kiến
thức Vì vậy việc tổ chức các hoạt động cho trẻ đồng vai trò
quyết định nhằm giúp trẻ lĩnh hội kiến thức Nên khi xác
định phương pháp dạy học không chỉ xuất phát từ hoạt động
của nhà giáo dục, mà còn từ tính chất hoạt động nhận biết,
hoạt động thực tiễn của trẻ
Trong phương pháp hình thành các biểu tượng toán học
cho trẻ mầm non thuật ngữ “phương pháp” được sử dụng với
nghĩa rộng và nghĩa hẹp Phương pháp có thể là phương
hướng tiếp cận việc chuẩn bị cho trẻ học toán ở trường tiểu `
học đã được hình thành trong lịch sử dạy toán cho trẻ như:
phương pháp mô phỏng, phương pháp tính toán, phương
pháp thao tác thuận nghịch Phương pháp còn được hiểu
như các phương pháp, biện pháp dạy học cụ thể được xử
dụng nhằm hình thành các biểu tượng toán học cho trẻ 4
Trong các hệ thống giáo dục của 1.G Pestalésu (1746 -
1828), Ph.” Phrébe] (1782 - 1852), M Môngtersôri (1870 -
1959) và một số các nhà giáo dục khác đã khẳng định sự cần
thiết phải cho trẻ làm quen với toán và họ đã đưa ra những
ý tưởng hoàn thiện các phương pháp dạy trẻ những kiến
thức toán học sơ đẳng
1.G Pestalôsư là nhà giáo dục đầu tiên nghiên cứu vấn
để dạy học với trẻ nhỏ, ông phê phán mạnh mẽ phương pháp
đạy học giáo điều đang thịnh hành thời kỳ đó và đưa ra cách
thức dạy đếm cho trể trên cơ sở dạy trẻ nắm được các phép
tính với các con số chứ không chỉ dựa trên sự ghi nhớ kết
quả tính toán, từ đó giúp trẻ nắm từ những yếu tố đếm đơn
giản đến những yếu tố phức tạp hơn Ông để cao vai trò của
các phương pháp dạy học trực quan trong việc giúp trẻ dễ
Các nhà giáo đục như: Ph Phrêbel, M Méngterséri lai đánh giá cao vai trò của các phương pháp dạy học trực quan
xà thực hành Đặc biệt Ph Phrêbel đã đưa việc sử dụng trò
“chơi vào trong đạy học cho trẻ với chức năng của một phương pháp dạy học chính nhằm đem lại cho trẻ sự thoải mái, tự do khi học, tuy nhiên sự tự do cần mang tính tích cực và dựa trên sự độc lập của trẻ Vai trò của giáo viên ở đây là tạo những điều kiện thuận lợi nhất để trẻ hoạt động
Như vậy, phương pháp hình thành biểu tượng toán học
cho trẻ mém non dugc coi la tổ hợp các cách thúc tổ chúc các
hoạt động của trẻ em trong quá trình hùnh thành biểu tượng toán học cho trẻ nhằm mục đích giáo dục toán học cho trẻ mam non
4.2 Phân loại cúc phương phap day | học những hiến
- thức toán học sơ đẳng Cùng với việc xây dựng khái niệm phương gháp dạy học, các nhà khoa học cồn nghiên cứu sự phân loại chúng Trong 1ý luận dạy học ngày nay tên tại một số hệ thống phân loại sác phương pháp dạy học khắc nhau, nhưng chúng chưa hoàn chỉnh và chưa đạt được sự thống nhất chung Xét về phương điện này, ta có thể liệt kê các phương phap theo kiểu này, xét về phương diện khác, ta lại cố thể liệt kê chúng theo cách khác Một trong những hệ thống phân loại phương pháp đạy học đầu tiên đó là hệ thống phân loại do nhà giáo dục Ia:A Kômenxki đề xuất Trong hệ thống đó ông để cao các phương pháp dạy học dùng lời, và cùng với nó ông còn sử dụng các phương pháp dạy học khác nhằm giúp trẻ nắm kiến thức qua sự nhận biết bản thân sự vật đó Như vậy hoạt động thực tiễn của trẻ là phương pháp chính trong hệ thống phân loại đó Vào thế ky XX tén tại cũng lúc nhiều hệ
61
Trang 32thống phân loại các phương pháp dạy học khác nhau như:
E.la.Gôlant và 8.I.Petrôvxki xuất phát từ nguồn tri thức đã
phân loại các phương pháp dạy học thành các nhóm: phương
pháp trực quan, phương pháp dùng lời nói và phương pháp - 4
thực hành Iu.K.Babanxki phân loại các phương pháp dạy
học theo tính chất hoạt động nhận biết của học sinh, còn
I la.Lepner và M.H.Xkatkin lại phân loại các phương pháp
dạy học theo mức độ tích cực và độc lập của trẻ trong quá
trình học tập thành các phương pháp giải thích - minh hoa;
tái hiện, phương pháp dạy học nêu vấn để, tìm kiếm bộ phận
và phương pháp nghiên cứu Theo vị trí của các phương
pháp trong quá trình lĩnh hội kiến thức, kỹ năng mà
G.H.Sukina lại phân chia các phương pháp thành các
phương pháp bước đầu lĩnh hội kiến thức và các phương
pháp hoàn thiện kiến thức
Xuất phát từ mối liên hệ nội tại giữa các hệ thống phương
pháp dạy học, Iu.K.Babanxki đã khái quát chúng để xây dựng
một hệ thống phưỡng pháp dạy học hoàn chỉnh, trong đó các
phương pháp dạy học được ông xem xét như phương thức hình `
thành và thực hiện các dạng hoạt động cơ bản Xuất phát từ bá
yếu tố của quá trình dạy học, Iu.K.Babanxki phân chia thành
3 nhóm phương pháp: kích thích và động cơ hoá, tổ chức và
thực hiện, kiểm tra và đánh giá kết quả
Tuy nhiên trên thực tiễn dạy học, việc sử dụng độc tôn
bất cứ một phương pháp nào cũng đều không mang lại hiệu
quả như mong muốn Vì vậy khi dạy học, điểu quan trọng là
người giáo viên phải biết xem xét các phương điện khác
nhau, thấy được các phương pháp dạy học về từng phương
diện đó, cân tiến hành lựa chọn và sử dụng các phương pháp
L luận và thực tiễn dạy học mầm non đã đưa lại những
kinh nghiệm nhất định trong việc sử đụng các phương pháp vào trong quá trình đạy học và giáo dục trẻ Trong giai đoạn
đầu, khi ngành học mầm non mới hình thành, các phương pháp dạy toán ở tiểu học đã ảnh hưởng lớn tới sự phát triển phương pháp hình thành các biểu tượng toán học cho trẻ
mầm non Chính vì vậy phương pháp hình thành các biếu
tượng toán học cho trẻ bị phổ thông hoá nặng nể, việc dạy trẻ chủ yếu điễn ra với cách thức cô giảng - trò nghe Dân dần các nhà giáo dục đã nghiên cứu và đưa nhiều yếu tố mới vào phương pháp hình thành các biểu tượng toán học cho trẻ
mầm non thông qua việc xây dựng các phương pháp đạy học
mầm non và các tiết học toán được tiến hành trên cơ sở kết
hợp việc sử dụng lời nói với hành động và trực quan Đặc biệt
trò chơi ngày càng được sử dụng như một phương pháp dạy
học với phương châm trẻ “học mà chơi, chơi mà học”- đó chính
là con đường nhận thức phù hợp nhất với trẻ mẫu giáo
Để hình thành những biểu tượng toán học sơ đẳng cho
"trổ có hiệu quả cần sử dụng nhiều phương pháp dạy học Tương ứng với các hình thức tư duy chính của trẻ mẫu giáo , và cùng với nó là các phương thức hoạt động của tré trong
quá trình học mà các phương pháp được chia thành.ba nhóm: các phương pháp dạy học trực quan, các phương pháp dạy học thực hành và các phương pháp dạy học đùng lời
63
Trang 334.3.1 Các phương pháp dạy học thực hành
Ngày nay trong việc dạy trẻ các kiến thức toán học sở
đẳng, các phương pháp thực hành ngày càng được sử dụng
thường xuyên hơn Xu thế sử dụng các phương pháp thực
hành bắt đầu được xem xét trong hệ thống các phương pháp
trực quan và dùng lời Thực tiễn đạy học cho thấy, việc trẻ
làm quen với toán luôn được bắt đầu bằng việc tổ chức cậc
hoạt động thực tiễn với các vật cho trẻ, trong đó hoạt động
nhận biết của trẻ điễn ra trên cơ sở của các hình thức tư duy
trực quan - hành động, trực quan- hình tượng trong mối
quan hệ gắn bó với tư duy lô gíc
, Các phương pháp thực hành rất phù hợp với đặc điểm
lớa tuổi và mức độ phát triển trí tuệ của trẻ mầm non,
chúng đảm bảo cho sự hình thành ở trẻ những biểu tượng
toán học sơ đẳng, những kỹ năng, kỹ xảo và tạo điều kiện
cho trẻ sử dụng chúng vào các đạng hoạt động khác nhau
Bản chất của các phương pháp dạy học thực hành là đứa
trẻ phải thực hiệrÍ các hành động gồm một chuỗi các thao tác
cùng với việc sử đụng các đỗ vật Trên cơ sở các thao tác thực
bành, ở trẻ hình thành những biểu tượng ban đầu về kiến
thức, hình thành những kỹ năng, kỹ xảo và kỹ năng vận dụng
chúng vào các tình huống khác nhau Tuy nhiên việc lạm dụng
các phương pháp thực hành sẽ ảnh hưởng xấu tối sự phát triển
của trẻ và kìm hãm nó ở mức độ thao tác thực hành
Các phương pháp của nhóm phương pháp thực hành bao
gồm: luyện tập, trò chơi và những thao tác tìm kiếm
Luyện tập đó là sự lặp đi lặp lại nhiều lần các thao tác
trí tuệ và thực hành của nội dung học tập Về bản chất,
luyện tập chính là việc vận dụng các kiến thức vào các hành -
động, luyện tập quyết định vai trò của day học và phát triển
thông qua việc trẻ nắm các phương thức cuả hoạt động trí
tuệ, kiến thức, kỹ năng và kỹ xảo, nhờ luyện tập mà những kiến thức - cơ sở của những thao tác trí tuệ và thực hành trổ tiên vững chắc và có ý thức hơn Trong quá trình dạy trẻ những kiến thức toán học sơ đẳng, giáo viên cần tổ chức cho mọi trẻ được tham gia luyện tập thông qua việc thực hiện
các:bài tập khác nhau, như: các bài tập so sánh số ố tượng các
nhóm vật bằng thiết lập tương ứng 1:1, bài luyện tập đếm,
đo lường so sánh hình dang, kích thước của các vật khác
nhau , qua đó giúp trẻ nắm kiến thức, kỹ năng và kỹ xảo Kết quả thực biện các bài tập của trẻ được thể hiện qua lời nói, hành động và sản phẩm của trẻ, nhờ vậy, người lớn cố thể kiểm tra quá trình lĩnh hội của từng trẻ, cũng như trễ cố thể tự kiểm tra kết quả thực hiện bài tập của mình, do vậy,
có thể nói, luyện tập là một trong những phương pháp dạy học:mang lại hiệu quả lớn
Sự lĩnh hội kiến thức và kỹ năng toán học là một quá trình lâu đài, nó đời hồi ở trẻ sự luyện tập thường xuyên với các bài tập có tính chất khác nhau không chỉ về nội dung, mà: cả về cấu trúc và phương thức hành động Tương ứng với nhiệm vụ dạy học; giáo viên cố thể sử dụng các bài tập đòi hồi ở trẻ sự tích cực, độc lập với các mức độ khác nhau như: bài tập tái tạo và bai tap sdng tao Việc sử dụng các dạng bài tập này trên tiết học toán phy: thuộc vào mục đích, yêu cầu của tiết học, vào mức độ nắm kiến thức, kỹ năng và
năng lực của trẻ, vào đặc điểm lứa tuổi trẻ
Khi tổ chức cho trẻ thực hiện bài tập tái tạo, giáo viên đặt cho trẻ nhiệm vụ học tap cự thể, chỉ cho trẻ biện pháp giải quyết nó bằng trình tự các thao tác mẫu và vật mẫu của mình, chỉ cho trẻ những tiêu chí đánh giá kết quả thực hiện
_bài tập: Ví dụ: khi trẻ đã nắm được kỹ năng đếm, giáo viên yêu cầu trẻ thực hiện nhiệm vụ đếm xác định số lượng các
Trang 34nhóm vật khác nhau được xếp theo hàng ngang Trong quá
trình học toán, trẻ thường xuyên phải thực hiện các bài tập
tái tạo theo hành động mẫu như các bài tập đếm, so sánh số
lượng các bằng vật bằng thiết lập tương ứng 1:1, so sánh các
chiều đo kích thước của hai vật bằng biện pháp xếp chồng,
xếp cạnh và đo lường Khi trẻ đã nắm được biện pháp giải
được các bài tập tái tạo, giáo viên sẽ thay dần những chỉ dẫn
trực quan với việc sử dụng các thao tác, hành động mẫu
bằng lời nói gợi mổ giúp trẻ tự nhớ lại trình tự các thao tac
và lôi cuốn trẻ diễn đạt bằng lời tính chất và trình tự các
thao tác đó Để giải bài tập sáng tạo đồi hỏi trẻ phải nắm
chắc những kiến thức; kỹ năng và phải biết vận dụng chúng
vào những hoàn cảnh, điều kiện mới Sự chuyển dần việc sử
dụng những bài tập tái tạo tới những bài tập sáng tạo tạo
điều kiện để trẻ em nắm vững những kiến thức và các biện
pháp hành động hợp lý cũng như tạo điều kiện để phát huy
tính tích cực tư duy và tích cực hành động của trẻ
Trong quá trình hình thành biéu.tuong toán cho trẻ lần
sử dụng rộng rãi các bài tập dùng lời nói Việc giải quyết các
bài tập dạng này có tác dụng hình thành cho trẻ kỹ năng
diễn đạt chính xác và rõ ràng những suy nghĩ của mình, biết
đưa ra những lập luận Ngoài ra, các bài tập có tính chất vui
chơi cũng thường xuyên được sử dung, chúng rất phù hợp với
trẻ mẫu giáo, đặc biệt là trẻ mẫu giáo bé, nó tạo cho trẻ
những cảm xúc tốt và làm giảm sự căng thẳng
Phương pháp dùng trò chơi được sử dụng nhiều trong
quá trình hình thành những biểu tượng toán hoc so đẳng
cho trẻ mầm non Điểu này xuất phát từ đặc điểm cơ bản
của dạy học mẫm non là trẻ “học bằng-chơi, chơi mà học”
Việc sử dụng hợp lý phương pháp trò chơi sẽ làm tăng hứng
thú học: tập của trẻ, làm cho việc học đối với trẻ trở nên thoải
Một trong những thành phần chính của trò chơi và không thể thiếu trong phương pháp chơi đó là sự tồn tại của hoàn cảnh chơi tưởng tượng dưới dạng mở rộng (có nội dung
chơi, vai chơi, các thao tác chơi và thao tác hành động), ví
dụ: việc luyện tập cho trẻ nhận biết số lượng các nhóm vật
và kỹ năng đếm được lồng vào một hoàn cảnh chơi “của hàng tạp hoá”, trong đó trẻ sẽ đồng vai người bán, người mua
hàng và cùng hành động trong mối quan hệ qua lại với nhau, cùng thực hiện các nhiệm vụ, thao tác chơi: mua và
bán các nhóm đồ vật với số lượng, kích thước, hình dạng theo yêu cầu nhất định Trong phương pháp chơi, trẻ thường
phải thực hiện các hành động đa dạng với các đỗ chơi và vật
liệu chơi, như: đếm, đo lường, tạo nhóm vật theo dấu hiệu
nhất định, so sánh hình dạng, kích thước, sắp đặt các vật -
Tất cả điều đó tạo ra sự kết hợp chặt chẽ giữa chơi mà học trong hoạt động tích cực của trẻ, dưới sự tổ chức, hướng dẫn của giáo viên
-Trong các tiết học toán, phương pháp dừng trò chơi được
sử dụng nhiều với chức năng như một biện pháp hay một
phương phấp day học Sử dụng trò chơi được coi là một phương pháp dạy học khi toàn bộ tiết học được lỗổng vào một
trò chơi mà trẻ là người tham gia chính Sử dụng trò chơi được xem là một biện pháp dạy học khi chỉ một phần của
tiết học được lồng vào nội dung chơi, ví dụ: trò chơi “Tìm
nhà” được sử dụng ở phần sau của tiết học nhằm củng cố và ứng dụng kiến thức kỹ năng cho trẻ Việc sử dụng rộng rãi
và đa dạng các trò chơi học tập, như: các trò chơi xếp hình,
67
Trang 35lắp ghép, trò chơi sử dụng lời nói đều là phương tiện gốp
phần đem lại hiệu quả cho việc hình thành biểu tượng toán
Trong quá trình trẻ làm quen với toán, các ¿ao tác tim
kiếm được sử đụng thường xuyên như các biện pháp day hoc
với trẻ mẫu giáo: bé và chúng cũng thường được sử dụng ở
giai đoạn đạy học đầu tiên với trẻ mẫu giáo nhõ Ban đầu,
các thao tác này được bình thành ở trẻ như các thao tác thử
và sửa sai nhằm giúp trẻ tìm kiếm biện pháp hoạt động đem
lại kết quả thực tiễn Các thao tác này dân đần chuyển |
thành các thao tác nhận biết, ví dụ: các thao tac khảo sát”
hình dạng của vật, hay các thao tác thiết lập các mối liên
hệ, quan hệ về số lượng, kích thước giữa các nhóm vật và
các vật Các thao tác tìm kiếm như một hình thức của tư đuy
trực quan - hành động; chúng đồng vai trò quan trọng trong
việc giúp trẻ nhận biết các dấu hiệu hình dạng, kích thước,
vị trí sắp đặt
Ngoài những Điện pháp thực hành trên giáo viên còn sử
dụng các biện pháp thực hành khác để dạy trẻ những kiến
thức toán học sơ đẳng như: thử nghiệm, giao nhiệm vụ cho
trẻ Sự phối hợp sử dụng các phương pháp, biện phấp này góp
phần hình thành cho trẻ hệ thống kiến thức, kỹ năng toán học
4.3.9 Các phương pháp dạy học trực quan
Các phương pháp dạy học trực quan trong day học
những kiến:thức toán học sơ đẳng không tổn tại độc lập mà
chúng thường được sử dụng đồng thời với phương pháp thực
hành và dùng lời Tuy nhiên chúng vẫn đồng vai trò quan
trọng trong hình thành các biểu tượng toán học sở đẳng cho
trẻ mầm non
Các phương pháp dạy học trực quan bao gồm: trình:bày vật
mẫu và tranh ảnh, quan sát, sử dụng biểu bảng, mô hình,
của các vật:trong suốt lứa tuổi mầm non
`
hành động mẫu Trên mỗi tiết học toán thường sử dụng phối
hợp các phương pháp này theo các cách khác nhau
Các phương pháp dạy học trực quan có tác dụng giúp trẻ nhận biết các thuộc tính, đặc điểm bên ngoài của sự vật, hiện tượng Để sử dụng các phương pháp dạy học trực quan thì phải cố cde vat trực quan Các đồ dùng này phải đẹp, đúng, việc lựa chọn và sử dụng chúng phải phụ thuộc vào lứa tuổi trẻ, vào mục đích, yêu cầu của tiết học toán và cần
có sự phức tạp dẫn theo su phat triển nhận thức của trẻ
Trong quá trình dạy học, các vật trực quan cần được trưng
bày đúng lúc và đặt ở nơi bợp lý để tất cả trẻ đều nhìn rõ và trên sử dụng nó theo một hệ thống, ví dụ: bộ-con giống; bộ tranh ảnh, bộ que tính, bộ hình hình học phẳng, bộ khối hình Tuy nhiên khong nên lạm dụng sử dụng các vật mẫu quá lâu, mà nên chuyển sang sử dụng các bài tập không
dùng: tối các vật mẫu để trẻ phải suy nghĩ, trong quá trình
chuyển đó nên sử dụng các vật truc.quan có tính khái quát như: các vật thế, mô hình, ký hiệu
Trong quá trình đạy' trẻ, điều quan trọng là giáo viên cần hướng dẫn trẻ sử dụng hợp lý các đồ dùng trực quan Điều này được thể hiện ở sự kết hợp đúng đắn giữa việc trì _ giác trực tiếp đối tượng với lời nói.: Lời nói của giáo viên phải điều khiển hành động của trẻ, giúp trẻ biết sử dung dé dùng trực quan đúng lác, đóng cách và hướng sự chú ý của trẻ tới
những đấu hiệu cần nhận biết, như: hình đạng, kích thước,
số lượng hay vị trí sắp đặt của các vật, hướng: dẫn trẻ khảo sát sự vật, hiện tượng theo các 'cách:khác nhau
Một trong những biện phấp đạy học được sử dụng rộng rãi trong quá trình hình thành các biểu tượng toán học sơ đẳng cho trễ là sở đụng hành động méu,: day được coi là một biện pháp minh hoạ và nó cũng có, thể được coi là một
69
Trang 36phương pháp dạy bọc có tính trực quan - thực hành Chúng
thường được giáo viên sử dụng để đạy trẻ các biện pháp như:
đếm, so sánh, đo lưỡng, thêm, bớt
Để việc sử dụng hành động mẫu một cách hiệu quả thì
giáo viên cần phải chuẩn bị trước trình tự các thao tác; trình
tự này phải đúng, ranh giới giữa các thao tác phải rõ rang
và đặc biệt phải chuẩn bị trước cả những lời giảng giải kèm
theo chúng nếu có, hơn nữa việc trình bày mẫu cần đấm bảo
cho mọi trẻ được nhìn rõ ràng và đây đủ ⁄
Trong quá trình dạy trẻ, giáo viên có thể sử dụng hành
động mẫu có kèm theo lời minh hoạ, ví dụ: các hành động
đếm, đo Hành động mẫu c6 lời minh hoạ có thể dùng ở tiết
học đầu tiên, còn hành động : mẫu không có lời minh hoạ có
thể dùng ở các tiết học sau của bài học Ngoài ra có thể sử
dụng các dạng khác nhau của hành động mẫu, như: giáo
viên yêu cầu trẻ khá làm mẫu rối giẳng giải kèm theo, ví dụ:
cô cho một trẻ thực hiện nhiệm vụ đếm xác định số lượng
nhóm vật gắn trênzbảng và cô dùng lời diễn giải trình tự các
thao tác cần thực hiện khi đếm Một dạng khác của việc sử
dụng hành động mẫu rất phổ biến trên thực tiễn dạy trẻ là
giáo viên và trẻ cùng thực hiện hành động mẫu, ví dụ: cô
thực hiện hành động đo lường độ dài của băng giấy gắn trên
bảng, còn trẻ thực hiện nhiệm vụ đo lường độ dài băng giấy
ở trước mặt mình
Trong quá trình hình thành biểu tượng toán học cho trẻ
mầm non „ việc:sử dụng hành động mẫu dạng nào, với mức
độ nào hay vào thời điểm nào phụ thuộc vào nhiều yếu tố
khác nhau như: đặc điểm lứa: tuổi trẻ, vốn kiến thức, kỹ
năng đã có của trẻ, khả năng nhận thức của trẻ trong lớp -
hay của từng trẻ, dạng bài tập cho trẻ
4.3.3 Các phương pháp dạy học dùng lời nói Trong quá trình hình thành các biểu tượng toán học sơ
đẳng cho trẻ cần sử dụng rộng rãi các phương pháp dạy học
dùng lời nói Các phương pháp dạy học dùng lời có tác dụng
bổ sung, mình hoạ cho phương pháp dạy học trực: quan; nd giúp trẻ nhận biết được những đặc điểm bên trong của đối
tượng, bởi lẽ trẻ nhỗ không thể nhận biết được những đặc
điểm này với sự giúp đỡ của các giác quan Các phương pháp dùng lời còn góp phần phát triển tư duy légic, phat trién ngôn ngữ cho trẻ
Những phương pháp dùng lỗi nói thường được sử dung trong dạy trẻ những kiến thức toán học sở đẳng như: jời diễn giải, “hướng dẫn, giảng giải của giáo viền nhằm ‘phan anh
‘ban chất của hành động mà trẻ phải thực hiện Với trẻ mẫu giáo lớn, lời hướng dẫn của giáo viên có tính tổng thể phần ánh toàn bộ quá trình thực hiện nhiệm 'vụ Với trẻ mẫu giáo
bé, lời hướng dẫn cần ngan gon, thường diễnra: đồng, thời với quá trình trẻ thực hiện các thao tác Bằng lời nồi giáo viên giảng giải chính xác lại những điều trẻ nhận biết được trong quá trình tri giác 'Ýí dụ: khi dạy trẻ khảo sát:các hình hình hóc, giáo viên giảng giải cho trẻ “cầm hình bằng tay:trái như thế nào, dùng đầu ngón tay trổ của bàn tay phải sd quanh
đường bao của hình Hãy sờ những cạnh của hình vuông,
chúng dài bằng nhau, hình vuông có các góc, hãy chỉ các góc
của hình vuông” hay trong: quá trình đo lường giáo viên hướng dẫn trẻ các thao tác thực hành đo kèm theo những lời
giảng giải phải đặt thước đo, đánh đấu một đầu thước đo,
cầm-thước đo lên rồi lại đặt thước đo tiếp như thế nào
| Trong phương pháp hình thành các biểu tượng toán hoe
cho trẻ mầm non các:câu hỏi đóng một vai trò đặc biệt Nếu, phân loại câu hỏi theo trình tự nhận thức của trẻ ta có các
7i
Trang 37or
{
- Các câu hỏi dựa trên sự trì giác 0ù trí nhớ tới tạo của
trẻ: nhằm ghi nhận những đặc điểm bên ngoài của đối tượng,
yêu cầu trẻ mô tả lại những điều vừa quan sát hay nhắc lại
nhiệm vụ cô giao, ví dụ: Đây là cái gì? Hình gì? Có bao nhiêu
cái? Có màu gì? Cháu vừa làm nhiệm vụ gì?
- Câu hỏi tới tạo có nhận thúc: nhằm giúp trẻ nắm và
+ x =, TA A ^ 4 Z ;
củng cố những kiến thức một cách sâu sắc hơn, ví dụ: Số
hoa sẽ là bao nhiêu nếu thêm một bông? Làm thế nào để biết
số lượng hai nhóm hình bằng nhau? Làm thế nào để biết
băng giấy nào đài hơn hay ngắn hơn băng giấy nào?
- Câu hỏi sứng tạo có nhận thức: nhằm giúp trẻ sử đụng
những kiến thức đã nấm được để giải quyết các tình huống
hay các nhiệm vụ khác nhau, ví dụ: hình vuông và hình chữ
nhật có điểm gì giống nhau và điểm gì khác nhau? Làm thế :
nào để số lượng hai nhóm hình trở nên bằng nhau hay nhiều
hơn, ít hơn nhau là một, là bai hình
Khi sử dụng câu hỏi giáo viên cần chú ý đặt câu hỏi phải
ngắn gọn, cụ thể, đủ ý, nội dung câu hỏi phải vừa sức trẻ,
các khái niệm trong câu hỏi phải quen thuộc với trẻ; nên đặ£
nhiều dạng câu hỏi cho một vấn để; các câu hỏi phải có tính
hệ "thống, phải kích thích sự suy nghĩ của trễ, tuyệt đối
không sử dụng các câu hỏi ép mớm trả lời Giáo viên nên đặt
câu hỏi đa dạng để mổ rộng vốn ngôn ngữ cho trẻ, tập cho
trẻ hiểu và sử dụng được nhiều cách đặt câu hồi để trẻ có thé
ứng dụng vào các tình huống khác nhau của cuộc sống Hơn
nữa, giáo viên nên tập cho trẻ biết đặt câu hỏi, đặt vấn để
_ Trong giáo dục học, phương pháp đạy học sử dụng hệ
thống các câu hỏi của giáo viên và:trả lời của trẻ được gọi là
đàm thoại, Trong quá trình đàm thoại giáo viên cần chú ý
xem trẻ có:sử dụng đúng các thuật ngữ tơán học, có nói
đúng, mạch lạc không và giáo viên có thể kết hợp giảng giải
nó cho trẻ trong lúc đàm thoại
Ngoài các phương pháp thuộc các nhóm phương pháp dạy
học trên, trong quá trình hình thành các biểu tượng toán học
cho trể mầm: non còn sử dụng một số biện pháp dạy học mà chúng không thuộc các nhóm phương pháp dạy học này Ví dụ: _ sử dụng tình huống có van dé hay các vật giúp định hướng
Tình huống có uấn dé 1a một "hoàn cảnh có mâu thuẫn và trẻ
phải suy nghĩ tích cực để giải quyết mâu thuẫn đó Ví dụ: Tại gao 7 vật xếp dài thành hàng ngang lại ít hơn 8 vật xếp gần thau trong một vòng tròn? Lam sao trẻ chỉ ra được chính xác
độ dài chênh lệch giữa chiều đài và chiều rộng của cái bàn nếu trể chỉ biết so sánh độ đài của chúng bằng các biện pháp xếp
ˆ ghồng, xếp cạnh và ước lượng kích thước bing mat? Hay Tai
sao khi đo chiều dài của một vật bằng hai thước đo khác nhau
ta lại được hai kết quả đo khác nhau? Trẻ càng lồn thì việc
sử dụng các tình huống có vấn để càng có ý nghĩa to lớn trong việc phát triển tư duy cho trẻ Dạy trẻ những kiến thức toán
học đôi lúc cồn sử dựng các uậf giúp định bướng Ví dụ: các vật
phát ra âm thánh, hay các vật đặt sẵn ở một vị trí nhất định
để giúp trẻ định hướng khi di chuyển trong quá trình tìm kiếm
và xác định vị trí của các đối tượng khác nhau
*Các: công trình nghiên cứu và thực tiễn dạy trẻ chỉ ra rằng, việc lựa chọn các phương phap ‘day học những kiến :thức toán học sơ đẳng cân tính tối các yếu tố khác nhau như: mục tiêu
day‘hoc, đặc điểm lứa tuổi trẻ và đặc điểm cá nhân trẻ, năng 'lực của trẻ và của giáo: viên, cơ sổ vật chất của trường và đặc
biệt: phẩt tính đến nội đúng những kiến thức toán học cẩn trang bị cho trẻ Ví dự: để hình thành những biểu tượng về kiðng gian:và thời gian thì các trò chơi học tập và các bài luyện tập sẽ được sử- dung nhữ các phương pháp dạy học chính, đồn'khi cho trẻ lầm quen với:hìah đạng và kích thước các vật lại cần sử dụng" nhiều tới các phương pháp và biện pháp chơi
73
Trang 38
khác nhau kết hợp với các phương pháp trực quan và thực
hành Cần phải sử dụng kết hợp các phương pháp đạy học
khác nhau để đem lại hiệu quả cho việc hình thành các biểu
tượng toán học sơ đẳng cho trẻ mầm non
5 Các hình thức tổ chức hình thành các biểu tượng toán học sơ đẳng cho trẻ mầm non
Hình thức đạy học là một trong những thành phần cơ bản của quá trình dạy học Trong lý luận dạy học “hình thức" được,
cơi là phương thức tổ chức hoạt động học tập Các hình thức
dạy học cần đảm bảo cho việc thực hiện tốt các nhiệm vụ dạy
học nhằm đạt được mục đích cuối cùng là giáo dục toàn điện
nhân cách trẻ
Các hình thức dạy học rất đa dạng, chúng phụ thuộc vào số lượng trẻ tham gia vào quá trình học, vào vị trí, thời gian tiến
hành tiết học, vào các phương thức hoạt động của trẻ và đồng
thời cả vào những phương thức mà giáo viên sử dụng để tổ
chức hoạt động chœtrẻ Phụ thuộc vào số lượng trẻ tham giá
học tập mà chúng ta có các hình thức dạy học như: đạy học với
cá nhân trẻ, dạy học theo nhóm và dạy học với cả lớp
Dạy học cá nhân là hình thức dạy học có sớm nhất Cho
đến nay, hình thức dạy học này vẫn được sử dụng trong môi -
trường giáo dục gia đình Sau này cùng với sự phát triển mạnh
mẽ của ngành giáo dục mầm non, đạy học cá nhân vẫn được sử
dụng kết hợp với bình thức đạy học tập thể Trong hình thức dạy
học cá nhân trẻ nấm kiến thức và thực hiện các nhiệm vụ khác
nhau dưới sự giúp đỡ trực:tiếp hay gián tiếp của người lớn -
Hình thức dạy học cá nhân có những tụ điểm và những hạn chế nhất định Về nguyên tắc thì hình thức dạy học này
đem lại hiệu quả hơn so với hình thức dạy học tập thể Hình
thức dạy học cá nhân đảm bảo tích luỹ những kinh nghiệm cho
trẻ, phát triển tính độc lập, tính tích cực của trẻ Trong hình thức đạy học này, sự giao lưu trực tiếp giữa trẻ và giáo viên hay người lớn đem lại cho trẻ những cảm xúc tích cực Hơn
nữa, khi dạy một trẻ, người lớn dễ dàng xác định được “vùng
_ pH: ghát triển gần nhất” của trẻ, vì vậy việc dạy mới sẽ phù hợp
với sự phát triển của trẻ Tuy nhiên, nhược điểm lớn nhất của hình thức dạy học cá nhân là không kinh tế, hơn nữa hình
thức này hạn chế khả năng hợp tác và kết bạn giữa những trẻ cùng lứa tuổi, làm giảm cảm xúc - yếu tố quan trọng trong quá trình học tập của trẻ em
Dạy học cá nhân có vị trí đặc biệt trong nền giáo duc
truyền thống của nước ta Tuy nhiến, do những yêu cầu ngày càng lớn của xã hội đối với việc giáo dục thế hệ trẻ, do những điều kiện khách quan như kinh tế và đội ngũ giáo viên nên đã
xuất hiện các hình thức dạy học khác phù hợp với tình hình thực tiễn hơn, như: dạy học theo nhóm và dạy học với cả lớp Hiện nay, hình thức dạy học với cả lớp được sử dụng rất phổ biến 6 hinh thức dạy học này một giáo viên có thể dạy học với
cả lớp trể, giữa những trẻ trong lớp có sự học hỏi, giúp đỡ lẫn
nhau: Hình thức dạy học này là mang lại hiệu quả kinh tế cao
Tuy:nhiên, hạn chế lớn nhất của hình thức dạy học này là giáo
viên khó có thể thực hiện được nguyên tắc cá biệt hoá trong dạy học, khó nắm được những đặc điểm tâm, sinh lý riêng biệt
của từng trẻ như: tần số làm việc, năng lực, thái độ đối với
hoạt động cho nên việc dạy học thường được định hướng theo mức độ: phát triển chung của trẻ trong lớp Việc dạy học như
vậy sẽ kìm hãm sự phát triển của những trẻ có khả năng; năng khiếu, nhưng ngược lại những trễ chậm phát triển lại không theo kịp Hiện nay, hình thức tiết học với cả lớp là hình thức
dạy học chính Các tiết học với cả lớp được thực hiện theo
chương -trình quy định với các tài liệu học tập thống nhất Tuy
75
Trang 39T
nhiên việc tổ chức đạy học tập thể cần xây dựng trên cơ sở có
tính đến những khác biệt cá nhân trong sự phát triển giữa
những trẻ cùng độ tuổi
Ổ nước ta, trong thời gian gần đây, vấn đề đổi mới giáo dục
mâm non đang được quan tâm hàng đầu, trong đó vấn để đổi
mới hình thức giáo đục mẫm non mà trung tâm là vấn để kết:
hợp một cách hợp lý giữa dạy học cá nhân và dạy học tập thể là
rất quan trọng Tuy nhiên, trong quá trình dạy học cần tính
đến những sự khác biệt có tính điển hình và có tính cá biệt
trong mức độ phát triển của trẻ Sự phân hoá dạy học cần thực
hiện theo những tiêu chí như: dạy học theo năng lực, theo
hứng thú, khối:lượng tri thức và mức độ phức tạp của nội
dung, mức độ tự lực và tiến bộ trong học tập của trẻ
Những kết quả nghiên cứu về dạy học phát triển của các
nhà tâm lý học, giáo dục học như: L.X Vưgôtxki, L.V Giankôv,
TU.K Babanxki có ảnh hưởng lớn tới vấn đề dạy học phân hoá
ở nhiều nước trên thế giới, đạy học phân hoá thường tiến hành
với từng nhóm trẻ Éó cùng mức độ phát triển và năng lực Việc
làm này được tiến hành trên cơ sở chấn đoán tối ưu mức độ
cũng như khả năng học tập của trẻ, từ đó xây dựng chương
trình dạy học tương ứng với mức độ phát triển của trẻ Tất cả
điểu đó đều nhằm mục đích tạo ra những điểu kiện dem lại
hiệu quả cho việc dạy học Những kết quả nghiên cứu gần đậy
của nhà giáo dục Nga T.M Xtrêpanôva đã khẳng định tính ưu
việt của việc kết-hợp các hình thức đạy học khác trong quá
trình hình thành các biểu tượng toán học cho trẻ mâm nơn
Tác giả đã đưa ra các mức độ phát triển các biểu tượng toán
học khác nhau của:trẻ và xây dựng mô hình quá trình dạy học
nhằm hình thành các biểu tượng toán học cho trể Trong mô
hình đó, việc chia lớp trẻ ra thành các nhóm nhỏ (dạy học phân
hoá) cho phép điều chỉnh khối lượng và độ phức tạp của nội
dung đạy học Hơn nữa sự phối hợp linh hoạt số lượng các tiết
học trong tuần với các nhóm trẻ có mức độ phát triển cao thấp
khác nhau đã đem lại những kết quả khả quan
Trong thực tiễn dạy học tại các trường mầm non hiện nay, hình thức dạy học với cả lớp trẻ vẫn là hình thức chính Hình
thức đạy học cá nhân và dạy học phân hoá còn ít được chú
trọng Vấn để đặt ra là, cần phải tăng cường phối hợp hình
thức dạy học cá nhân và dạy học phân hoá với hình thức dạy
học với cả lớp Các hình thức đạy học cá nhân có thể thực hiện qua các tình huống khác nhau trong cuộc sống hàng ngày của trẻ: trong quá trình tổ chức các hoạt động sinh hoạt của trẻ như: trong thời gian đón và trả trẻ, trong lúc mặc quần áo, rửa
ray, trong thời gian chơi Trong quá trình tổ chức cho trẻ thực hiện những công việc này, giáo viên yêu cầu trẻ chú ý tối việc
sử đụng tay phải, tay trái, chú ý tới chiếc giầy phải và giầy trái khi sử đụng chúng, tối số lượng bông hoa cắm trong lọ để trên bàn cô giáo Trong thời gian tiến hành tiết học với cả lớp, giáo viên cần đành thời gian chú ý tới những trẻ riêng biệt, tăng hoặc giảm yêu cầu đối với trẻ trên cơ số tính đến khả năng và
hứng thú của chúng, trực tiếp giúp đỡ trẻ khi cần thiết
Trong thời gian gần đây các vấn đề về dạy học phát triển
bắt đầu được xem xét trong mối liên quan với việc tích hợp các nhiệm vụ của chương trình, tích hợp các dạng hoạt động khác
nhau của trẻ Sự tích hợp này rất đặc trưng cho việc đạy trẻ
những kiến thức toán học sơ đẳng, Đối với trẻ mẫu giáo bé và
nhỡ thì việc nắm kiến thức và kỹ năng số điễn ra một cách tự
nhién hon thông qua các hoạt động khác nhau như: vui chơi, vận động, chắp ghép, tạo bình Vì vậy chúng ta có thể tiến
hành các tiết học tích hợp để đồng thời thực hiện nhiệm vụ dạy
học của các lĩnh vực khác nhau như: toán và tạo hình, toán và thể dục dưới các hình thức day học khác nhau Dạy học tích
77
Trang 40
hợp cho phép sử dụng một phần của tiết học toán để thực hiện
các nhiệm vụ dạy học khác như: vẽ, làm quen với môi trường
xung quanh Và ngược lại, trên các tiết học khác như: tạo
hình, thể dục, cho trê làm quen với môi trường xung quanh cố
thể kết hợp thực hiện nhiệm vụ đạy toán
Những kết quả nghiên cứu và thực tiễn dạy trẻ những kiến
thức toán học sơ đẳng của nhiều nước trên thế giới cũng như ổ 8
nước ta cho thấy tính ưu việt của việc kết hợp hợp lý các hình
thức dạy học khác nhau trong việc nâng cao hiệu quả của việc
hình thành các biểu tượng toán học cho trẻ mầm nơn
CÂU HỎI VÀ BÀI TẬP
1 Hay nêu vai trò của nhận thức cảm tính của trẻ em
trong sự phát triển những biểu tượng toán học sơ dang cho tré
2 Hãy phân tích tiểm năng phát triển trí tuệ của việc hình
thành những biểu tượng toán học sơ đẳng cho trẻ mầm non
3 Việc đảm bảo tính hệ thống, tính trình tự có vai trò như thế
nào trong quá trình đạy học những kiến thức toán học sơ đẳng
4 Hãy nêu đặc trưng của các phương pháp dạy học những
kiến thức toán học sơ đẳng Tại sao lại phải có sự thay đổi các
phương pháp dạy học trong tiết học toán?
ö Lấy một vài tiết học hình thành biểu tượng toán học sơ
đẳng cho trẻ mầm non để mình hoạ cho luận điểm: các tiết học
phải phù hợp với đặc điểm lứa tuổi và đặc điểm cá nhân của trẻ -
6 Chứng minh sự cần thiết phải có sự kết hợp các hình
thức dạy học khác nhau như: đạy học với cả lớp, dạy học theo
nhóm và dạy học với từng trẻ trong quá trình hình thành các
biểu tượng toán học sơ đẳng cho trẻ mầm non
HÌNH THÀNH BIỂU TƯỢNG VỀ SỐ LƯỢNG,
CON S6 VA PHEP DEM CHO TRE MAM NON
1 Đặc điểm phát triển những biểu tượng về số
lượng, con số và phép đếm ở trẻ lứa tuổi mầm non _ Trẻ sinh ra và lớn lên giữa thế giới của những sự vật và
“hiện tượng đa dạng Ngay từ nhỏ trẻ đã được tiếp xúc và làm
` quen với những nhóm vật có màu sắc, kích thước và số lượng phong phú, với các âm thanh, chuyển động có ở xung quanh trẻ Trẻ lĩnh hội, số lượng của chúng bằng các giác quan khác nhau như: thị giác, thính giác, giác quan vận động
"Trẻ ở lứa tuổi nhà trẻ đã bắt đầu có những nhận biết về số _lượng, đó là nấc thang đầu tiên và cần thiết giúp trẻ nhận biết hiện thực xung quanh Những biểu tượng đầu tiên về các
nhóm vật giống nhau như: nhiều con ốc, những cái l4, nhiều con búp bê được tích luỹ và phản ánh trong ngôn ngữ thụ động của trẻ nhả Được sự giúp đỡ của người lớn cùng với việc
nấm được ngôn ngữ tích cực trễ đã nhận biết, ghân biệt và nắm được tên gọi của các nhóm vật Bản thân trẻ cũng tự tạo
ra số nhiều các vật, các âm thanh, các chuyển động khác nhau
Ví dụ: trẻ thu nhiều vỏ ốc lại thành một đống hay nhặt nhiều
viên bi để vào một cái hộp, trẻ ném đi ném lại nhiều lần một đồ
chơi, đóng mở nhiều lân một cái hộp Khi thao tác với các đồ vật, đỗ chơi ở trẻ thường hình thành biểu tượng lộn xôn về số lượng Do vậy, người lớn cần hướng dẫn trẻ thao tác với từng
79