Hệ thống giao thông động là bộ phận của hệ thống giao thông đô thị phục vụ hoạtđộng của phương tiện và hành khách, hàng hóa trong thời gian di chuyển, bao gồm mạnglưới đường, các công tr
Trang 1MỤC LỤC
Mở đầu 1
Chương 1 Tổng quan về giao thông tĩnh 4
1.1.Tổng quan về giao thông tĩnh đô thị 4
1.1.1 Tổng quan giao thông vận tải đô thị 4
1.1.2 Tổng quan giao thông tĩnh đô thị 7
1.2.Tổng quan về quy hoạch giao thông tĩnh 22
1.2.1 Tổng quan về quy hoạch giao thông vận tải đô thị 22
1.2.2.Tổng quan về quy hoạch giao thông tĩnh 24
Chương 2 Hiện trạng giao thông và bãi đỗ xe Quận 1 thành phố Hồ Chí Minh 30
2.1 Hiện trạng kinh tế xã hội và điều kiện tự nhiên quận 1 30
2.2.1 Hiện trạng kinh tế xã hội và điều kiện tự nhiên thành phố Hồ Chí Minh 30
2.2.2.Hiện trạng kinh tế xã hội và điều kiện tự nhiên quận 1 32
2.2 Hiện trạng giao thông quận 1 39
2.2.1 Hiện trạng giao thông đô thị thành phố Hồ Chí Minh 39
2.2.2 Hiện trạng giao thông quận 1 41
2.2.3 Hiện trạng phương tiện vận tải 42
2.3 Hiện trạng giao thông tĩnh Quận 1 43
2.3.1 Hiện trạng bãi đỗ xe thành phố Hồ Chí Minh 43
2.3.2 Hiện trạng bãi đỗ xe Quận 1 44
2.4 Hiện trạng sử dụng đất Quận 1 46
2.5 Hiện trạng hệ thống các công trình ngầm 47
2.6 Đánh giá hiện trạng 48
Trang 2CH ƯƠNG 3 Quy hoạch bãi đậu xe ngầm Quận 1 thành phố Hồ Chí
Minh 50
3.1 Mục tiêu và quan điểm quy hoạch 51
3.1.1 Quan điểm quy hoạch 51
3.1.2 Mục tiêu quy hoạch 51
3.2 Định h ướng phát triển kinh tế xã hội và giao thông quận 1 51
3.2.1 Quy hoạch có liên quan 51
3.2.3 Định hướng phát triển kinh tế xã hội và giao thông quận 1 54
3.3 Dự báo nhu cầu bãi đỗ xe quận 1 60
3.3.1 Kết quả điều tra nhu cầu đỗ xe hiện tại 60
3.3.2 Dự báo nhu cầu đỗ xe 63
3.4 Quy hoạch bãi đậu xe cho khu vực quận 1 65
3.4.1 Xác định vị trí cho các bãi đậu xe ở quận 1 65
3.4.2 Quy mô bãi đậu xe ngầm quận 1 quận 1 đến năm 2020 67
3.5 Dự kiến kiến trúc và ước tính vốn đầu tư 69
3.5.1.Dự kiến kiến trúc 69
3.5.2 Phân kỳ xây dựng và ước tính tổng vốn đầu tư 72
Kết luận và kiến nghị 75 Tài liệu tham khảo
Phụ lục
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Đặt vấn đề nghiên cứu:
Thành phố Hồ Chí Minh là một trung tâm văn hoá - khoa học kỹ thuật - công dịch vụ - thương mại - tài chính ngân hàng Dân số thành phố Hồ Chí Minh theo quy hoạchđến năm 2010 khoảng từ 7.5 đến 8 triệu dân Đi đôi với tốc độ tăng trưởng kinh tế, quátrình cơ giới hóa cũng đang có bước phát triển mạnh mẽ trên phạm vi cả nước, nhất lànhững thành phố lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh Hiện nay, Thành phố Hồ ChíMinh đã và đang tạo ra một ảnh hưởng lớn đến khu vực kinh tế trọng điểm phía Nam, đãhình thành 32 khu công nghiệp- khu chếxuất, sự phát triển đó cũng đang thu hút nhiều nhàđầu tư và lao động đến làm việc và sinh hoạt trên địa bàn thành phố, xu hướng này đòi hỏithành phố phải tổ chức lại một cách khoa học việc quy hoạch sử dụng đất và nhất là quyhoạch và phát triển giao thông
nghệ-Theo phòng cảnh sát giao thông thành phố Hồ Chí Minh, năm 2005 có 300000 xe ô
tô các loại và 2,4 triệu loại xe gắn máy các loại, chưa kể các loại xe khác Số lượng xenhiều nên thương xuyên quá tải gây ách tắc Việc tìm chỗ đỗ xe ở trung tâm thành phố rấtkhó khăn Chỉ có một số rất ít cao ốc khách sạn, nhà hàng, cơ quan và đơn vị có bãi đỗriêng, còn hầu hết xe cộ đều phải đỗ ở lòng và lề đường
Phương hướng phát triển công nghiệp ô tô giai đoạn 2001-2010 của Bộ CôngNghiệp, số lượng ô tô tăng thêm hàng năm là 12% thì năm 2005 có khoảng 650000 và năm
2010 là 110000 xe, trong đó nhu cầu về xe con tới 40-50% với tỉ lệ 6.7%/năm Tính theoước tính thì nhu cầu đỗ cho xe con năm 2010 là 260 ha Đây là điều phải tính đến trongquản lý an toàn giao thông đô thị với tình trạng ách tắc giao thông vốn đã bức xúc từ nhiềunăm nay
Nhìn chung, thành phố Hồ Chí Minh có một mạng lưới đường mất cân đối và thiếumột hệ thống phân loại Đường đô thị tập trung chủ yếu ở các quận nội thị, đặc biệt tạo mộtmạng lưới dày đặc ở các quận trung tâm
Đó là sơ bộ những bất cập về kết cấu hạ tầng, tổ chức quản lí giao thông công cộng,nhu cầu giao thông và nguy cơ ách tắc
Theo kinh nghiệm của các nước, bãi đỗ xe nhiều tầng ngầm hay trong các tầng hầmcủa các toà nhà đa năng là những biểu tượng phổ biến ở khu trung tâm mỗi thành phố,trung tâm thương mại, Hội nghị, sân bay, khách sạn, các khu vui chơi giải trí, sân vận động
và nhà ga
Giải pháp bãi đỗ ngầm dưới công viên đã góp phần đáng kể nhu câu bãi đỗ ở trungtâm các thành phố lớn như Pari (Pháp), Madrid (Tây Ban Nha)…Đỗ xe thường gắn vớinhu cầu cuộc sống Xu thế bãi đỗ như một phần trong quần thể thương mại, dịch vụ và vuichơi giải trí đã và đang phát triển tại nhiều nước trên thế giới
Sự cần thiết của việc quy hoạch bãi đỗ:
Tình trạng chiếm dụng lòng, lề đường làm bãi đỗ xe gây ùn tắc, trở ngại cho sựđảm bảo lưu thông và trật tự an toàn giao thông đô thị Sự ách tắc giao thông làm ảnhhưởng lớn tới phát triển kinh tế, dịch vụ, du lịch và môi trường đầu tư Yêu cầu vận tảingày một cao Năng lực giao thông giảm với sự gia tăng lưu lượng xe Việc xây dựng bãi
đỗ xe các loại: xe con (du lịch), xe buýt, tải nhẹ và 2-4 bánh tại khu vực gần trung tâmthành phố là bức thiết
Trang 4Phải tạo điều kiện để cho mọi người để xe đúng nơi quy định bằng cách xây dựngcác bãi đỗ xe ở trung tâm thành phố.
Trong yêu cầu xây dựng công nghiệp hóa, hiện đại hóa thành phố Hồ Chí Minh nóichung và quận trung tâm nói riêng thì việc hoàn chỉnh, phát triển hệ thống giao thông đôthị chiếm vai trò rất quan trọng Trong xu thế phát triển chung thì thành phố Hồ Chí Minhtrở thành một trung tâm và là đầu mối giao lưu kinh tế lớn nhất trong cả nước Do vậy, cácphương tiện giao thông, vận tải đường bộ trong nội đô thành phố và từ các tỉnh trong cảnước hằng ngày ra vào thành phố để trao đổi vận chuyển và lưu đậu chiếm số lượng rấtlớn Nếu không đủ bến bãi để quản lý cho xe lưu đậu sẽ có ảnh hưởng rất lớn đến trật tựgiao thông và công trình kỹ thuật hạ tầng vốn đang xuống cấp của thành phố Để có bãiđậu xe, với số lượng xe ngày càng nhiều, phải xây dựng các bãi đậu xe ngầm như là mộttrong những giải pháp nhằm giải quyết một phần nhu cầu đỗ xe của người dân hiện nay vàtrong tương lai Điều đó góp phần tạo nên cho thành phố một diện mạo mới, phát triển tốtđẹp và bền vững
2 Phạm vi nghiên cứu:
Đề tài lựa chọn nghiên cứu về việc xác định các vị trí có thể quy hoạch bãi đỗ xengầm quận 1 thành phố Hồ Chi Minh
3 Mục tiêu nghiên cứu
+ Đề tài nhằm đề xuất một số địa điểm để xây dựng bãi đỗ xe ngầm quận 1
+ Góp phần đáng kể vào việc giải quyết tình trạng hạn chế về bãi đỗ xe trên địa bànthành phố nói chung và quận trung tâm nghiên cứu nói riêng
+ Sử dụng đất có hiệu quả, kinh doanh và khai thác lòng đất
4 Phương pháp nghiên cứu
4.1 Số liệu, tài liệu sẵn có:
Sách giáo khoa, các nghiên cứu đã có về việc quy hoạch bãi đỗ xe ngầm vàcác tài liệu khác có liên quan
4.2 Khảo sát thu thập số liệu hiện trường:
+ Xác định hiện trạng các bãi đỗ xe của thành phố nói chung và của quậnnghiên cứu nói riêng
+ Khảo sát lưu lượng xe, nhu cầu đi lại, đỗ xe ở các trục đường chính thuộcquận trung tâm
4.3 Phương pháp thu thập và xử lý số liệu
+ Thu thập số liệu:
Tìm hiểu và nghiên cứu các số liệu tham khảo
Sử dụng máy ảnh cho việc lưu giữ những hình ảnh cần thiết
Thực hiện đếm phương tiện, khảo sát các vị trí cần cho đề tài
+ Xử lý số liệu:
Dùng các phần mềm autocad, microsoft Word, microsoft Excel
Trang 55 Kết cấu đồ án
Đồ án gồm 3 chương
CHƯƠNG 1: Tổng quan về giao thông tĩnh
CHƯƠNG 2: Hiện trạng giao thông và bãi đỗ xe Quận 1 Thành phố
Hồ Chí Minh
CHƯƠNG 3: Quy hoạch bãi đậu xe ngầm Quận 1 Thành phố Hồ Chí Minh
Trang 6CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN VỀ GIAO THÔNG TĨNH
1.1.Tổng quan về giao thông tĩnh đô thị
1.1.1 Tổng quan giao thông vận tải đô thị
a) Khái niệm và cấu trúc của hệ thống giao thông vận tải đô thị
*Khái niệm:
Hệ thống giao thông đô thị là tập hợp hệ thống giao thông và hệ thống vận tải nhằm đảmbảo sự liên hệ giao lưu giữa các khu vực trong đô thị
Hình 1.1 Cấu trúc hệ thống giao thông vận tải đô thị:
b) Khái niệm về giao thông đô thị:
Hệ thống giao thông đô thị là tập hợp các công trình, các con đường vàc các cơ sở hạ tầngkhác để phục vụ cho việc di chuyển và tác nghiệp hàng hóa, hành khách trong thành phốđược thuận tiện, thông suốt, nhanh chóng, an toàn và đạt hiệu quả cao
Hệ thống giao thông đô thị bao gồm hai bộ phận cấu thành:
+ Hệ thống giao thông động
+ Hệ thống giao thông tĩnh
Vận tải chủ quản và đặc biệt
vận tải công cộng
Vận tải cá nhân
Hệ thống giao thông đô thị
Hệ thống vận tải đô thị
Hệ thống
giao
thông
động
Hệ thống giao thông tĩnh
Hệ thống giao thông vận tải đô thị
Trang 7Hệ thống giao thông động là bộ phận của hệ thống giao thông đô thị phục vụ hoạtđộng của phương tiện và hành khách, hàng hóa trong thời gian di chuyển, bao gồm mạnglưới đường, các công trình trên đường, nút giao thông, cầu vượt…
Hệ thống giao thông tĩnh là bộ phận của hệ thống giao thông đô thị phục vụ phương tiện,hành khách, hàng hóa trong thời gian không hay tạm dừng hoạt động (chờ đợi, nghỉ ngơi,bảo dưỡng sửa chữa…) Đó là hệ thống các điểm đỗ, điểm dừng, các bến xe…
Giao thông động và giao thông tĩnh có mối liên hệ mật thiết, chúng phụ thuộc và bổsung lẫn nhau Bởi lẽ, cả hai đều có đối tượng phục vụ chung đó là phương tiện và hànhkhách, hàng hóa trong thành phố Điểm khác nhau duy nhất đó là: nếu giao thông độngphục vụ phương tiện, hành khách, hàng hóa trong thời gian di chuyển thì giao thông tĩnhlại có chức năng phục vụ các đối tượng này trong thời gian không di chuyển
Một mạng lưới giao thông chỉ có thể phát huy hiệu quả nếu đảm bảo được một tỉ lệphát triển tương xứng giũa giao thông động và giao thông tĩnh Sự thiếu hụt nghiêm trọngcủa hệ thống giao thông tĩnh là một trong các tác nhân gây rối loạn và ách tắc giao thông ởcác đô thị hiện nay
Hình 1.2 Cấu trúc hệ thống giao thông đô thị
c)Đặc điểm, vai trò của giao thông đô thị:
*Đặc điểm của giao thông đô thị:
Khác với giao thông liên tỉnh, giao thông quốc tế, giao thông đô thị có những đặcđiểm cơ bản sau:
Hệ thống giao thông tĩnh
Các điểm đầu cuối
Các công trình trên đường
Các công trình giaoThông khác
Các công trình khàc
Gara, bãi
đỗ xe
Hệ thống giao thông động
Hệ thống giao thông
đô thị
Trang 8+ Mạng lưới giao thông đô thị không chỉ thực hiện chức năng giao thông thuần túy
mà nó còn thực hiện nhiều chức năng khác nhau như:chức năng kỹ thuật chức năng môitrường…
Chức năng giao thông là đảm bảo liên hệ giao thông thuận tiện, nhanh chóng vớicác đoạn đường ngắn nhất và an toàn cao Đảm bảo cho việc tổ chức các tuyến giao thôngcông cộng một cách hợp lý; liên hệ tốt giữa các khu vực của đô thị như khu nhà ở với cáckhu công nghiệp, dịch vụ nhà ga, công viên…; có khả năng phân bố lại các luồng giaothông tại các đường phố trong trường hợp một số trường hợp một số đoạn đường đang có
sự cố hoặc sửa chữa.; liên hệ mật thiết và thuận tiện với các đường ô tô và các khu vực bênngoài đô thị Thỏa mãn những điều kiện phát triển giao thông đô thị trong tương lai
Ngoài chức năng chính là chức năng giao thông, đường phố còn bao gồm các côngtrình ngầm và các công trình trên mặt đất để thực hiện chức năng kỹ thuật
Các công trình ngầm gồm các đường ống và đường dây…được đặt dưới vỉa hè, thảm cỏ vàlòng đường xe chạy của đường phố
Trên mặt đất có các công trình như cầu vượt, dây điện thắp sáng, hệ thống các biển báogiao thông…Đường phố còn là hành lang thông gió và lấy ánh sáng cho đô thị
Tuy hệ thống giao thông có chức năng như trên nhưng nó còn là một bộ phận của tổng thểkiến trúc toàn đô thị, nên khi thiết kế cần đảm bảo mỹ quan đô thị
+ Mật độ mạng lưới đường cao:
Đô thị là nơi tập trung dân cư với mật độ dân số cao, đồng thời là tụ điểm các hoạtđộng kinh tế- chính trị, thương mại dịch vụ…bởi vậy xét trên phương diện vận tải, nhu cầuvận tải trong nội thị rất lớn Ngoài ra mỗi đô thị là một trung tâm thu hút hành khách từ cáckhu vực ven đô, ngoại thành và các khu vực khác từ bên ngoài vào Bởi vậy để thỏa mãnđược nhu cầu này nhất thiết phải có một mạng lưới giao thông phát triển bao phủ toànthành phố
Mặc khác, mạng lưới giao thông đô thị không chỉ làm chức năng giao thông thuầntúy mà còn thực hiện nhiều chức năng khác Vì vậy đô thị luôn có một mạng lướigiaothông với mật độ cao là một tất yếu
Tùy theo quy mô trình độ phát triển cũng như những điều kiện lịch sử mà mật độ mạnglưới giao thông ở các đô thị cũng rất khác nhau
+ Lưu lượng mật độ cao nhưng lại biến động theo thời gian và không gian rất lớn:Đây là một đặc điểm rất đặc trưng của hệ thống giao thông đô thị Khác với mạng lưới giaothông ngoại thành, liên tỉnh hay quốc tế, sự hình thành các luồng giao thông đô thị chủ yếu
là xuất phát từ nhu cầu đi lại của thị dân Nhu cầu này phụ thuộc vào một loạt các yếu tố
Trang 9làm phát sinh chuyến đi Các yếu tố chủ yếu bao gồm: Qui mô và mật độ dân số; Diện tíchthành phố và sự phân bố các khu vực chức năng đô thị; cơ cấu dân cư và thu nhập
Ưu điểm nổi bật của nhu cầu đi lại của người dân đô thị là tần suất đi lại cao, cự ly
đi lại trung bình và ngắn
Lưu lượng giao thông rất cao nhưng lại tập trung vào các khu trung tâm và lại xuấthiện vào giờ cao điểm tạo ra sự căng thẳng và có thể dẫn đến tắc nghẽn nếu hệ thống giaothông không được thỏa mãn
+ Tốc độ luồng giao thông nhỏ:
có nhiều nguyên nhân dẫn đến tốc dộ dòng giao thông trong đô thị nhỏ hơn so với giaothông đối ngoại Tuy vậy, các nguyên nhân chủ yếu có thể kể đến ở đây bao gồm:
- Mật độ và lưu lượng giao thông cao, đặc biệt là vào giờ cao điểm
- Dòng phương tiện chịu tác động của hệ thống điều khiển
- Đô thị là nơi tập trung dân cư nên để đảm bảo vấn đề an toàn giao thông và môitrường sinh thái thì tốc độ dòng giao thông cần được kiểm soát
+ Hệ thống giao thông đô thị đòi hỏi chi phí lớn về xây dựng và vận hành:
Những yếu tố làm tăng chi phí đầu tư xây dựng và vận hành hệ thống giao thông đô thị:
- Mật độ đi lại dày đặc buộc phải có những công trình hạ tầng tương ứng có quy môlớn và có yêu cầu kỹ thuật cao như: cầu vượt, các tuyến đường ngầm, đường đi trêncao…đặc biệt khi cần phải dỡ bỏ và cải tạo các công trình kiến trúc đô thị đã cóhoặc phải sử dụng kết cấu đặc biệt để giải quyết thì chi phí này cũng rất lớn
- Phương tiện gồm các phương tiện vận tải đắt tiền như: Xe điện bánh hơi, xe điệnbánh sắt, ác loại xe điện ngầm, xe điện treo, cabin tự hành… Chất lượng khai thác
và thẩm mỹ các loại phương tiện này đòi hỏi cao, khai thác trong điều kiện phứctạp…cũng góp phần tăng chi phí
1.1.2 Tổng quan giao thông tĩnh đô thị
a) Khái niệm
Thuật ngữ giao thông tĩnh xuất hiện ở nước ta vào những năm đầu thập niên 90.Khái niệm giao thông tĩnh được sử dụng nhiều trong các cuộc hội thảo, các đề tài nghiêncứu khoa học và đã được thừa nhận trong các văng bản pháp lí của chính phủ, Bộ giaothông vận tải, UBND các tỉnh, thành phố trong cả nước Tuy nhiên cho đến nay chưa cómột khái niệm chính thức về giao thông tĩnh
Theo nghĩa chung nhất, giao thông là sự di chuyển có mục đích của con người,hàng hóa và phương tiện trong không gian và theo thời gian
Trang 10Để phục vụ cho quá trình vận tải của phương tiện, hành khách và hàng hóa, cần xâydựng một hệ thống cơ sở hạ tầng như đường xá, cầu cống, nhà ga, bến cảng…Để chỉ cáccông trình phục vụ phương tiện trong quá trình di chuyển, người ta dùng thuật ngữ “ườnggiao thông” và tập hợp các đường giao thông tạo thành mạng lưới giao thông Đối với cáccông trình giao thông khác, tùy vào chức năng công dụng của nó mà các nước có tên gọikhác nhau Chẳng hạn, đối với các điểm đỗ xe dùng thuật ngữ “PARKING”, điểm đầu cuốidùng thuật ngữ “ DEPOR”, điểm dừng dọc tuyến dùng “ BUS STOP”…Nói một cách khác
cơ sở để phân tách các công trình nói trên là phân theo chức năng các công trình
Quá trình hoạt động của phương tiện gồm 2 trạng thái: trạng thái di chuyển và trạngthái không di chuyển Hai trạng thái này có liên hệ với nhau tuy nhiên chúng có những đặcđiểmvề công nghệ, kỹ thuật môi trường khác nhau, do đó cần xem xét hệ thống giao thông
và phương tiện vận tải trong mối quan hệ tương đối về không gian và thời gian
Trong quá trình phục vụ các phương tiện vận tải các công trình trên có một đặc điểm chung
là nhằm phục vụ phương tiện vận tải trong thời gian không hoạt động, để chỉ những côngtrình giao thông này người ta dùng thuật ngữ “giao thông tĩnh"
Như vậy việc phân tách các công trình gia thông trên dựa trên mối quan hệ tươngđối về không gian giũa các công trình giao thông và phương tiện vận tải Việc phân tách hệthống giao thông thành hệ thống giao thông thành hệ thống giao thông động và hệ thốnggiao thông tĩnh nhằm mục đích xác định mối tương quan về mặt công nghệ giữa nhữngcông trình giao thông để đảm bảo quá trình vận tải được liên tục và thông suốt Giao thôngđộng là một phần của hệ thống giao thông phục vụ phương tiện trong quá trình di chuyển.Giao thông tĩnh là một phần của hệ thống giao thông phục vụ phương tiện trong quá trìnhkhông hoạt động, có thể hiểu đây là trạng thái đứng yên tương đối trong sự vận động liêntục trong hệ thống giao thông vận tải
Vậy “hệ thống giao thông tĩnh là một phần của hệ thống giao thông phục vụphương tiện và hành khách trong thời gian không di chuyển” Theo định nghĩa này giaothông tĩnh gồm hệ thống các điểm đầu mối giao thông của các phương thức vận tải khácnhau (các nhà ga đường sắt, các cảng bến thủy, ga hàng không, các bến vận tải đường bộ),các bãi đỗ xe, các điểm đầu cuối, các điểm dừng dọc tuyến, các điểm trung chuyển
b) Chức năng của giao thông tĩnh
Hệ thống giao thông tĩnh đảm bảo tính liên tục về mặt công nghệ trong quá trìnhvận chuyển hàng hóa và hành khách Yêu cầu cơ bản của hệ thống giao thông tĩnh phảiđồng bộ và tương thích với hệ thống của mạng lưới giao thông và hệ thống vận tải Việcxác định các thành phần của hệ thống giao thông tĩnh cũng như sắp xếp chúng một cáchhợp lí có ý nghĩa quyết định dến hiệu quả hoạt động của mạng lưới đường giao thông, hệthống vận tải và toàn bộ hệ thống giao thông vận tải đô thị Hệ thống giao thông tĩnh thựchiện nhiều chức năng khác nhau, các chức năng này có thể chia thành 6 nhóm sau:
Trang 11- Chức năng bảo quản, gìn giữ phương tiện
- Chức năng trung chuyển hàng hóa, hành khách
- Chức năng đầu cuối
- Chức năng dịch vụ, kỹ thuật phương tiện
- Chức năng dịch vụ phục vụ hành khách
- Các chức năng khác như mỹ quan, kiến trúc…
Thông thường các chức năng trên không phân tách rõ ràng mà thường kết hợp với nhau vớimột giới hạn nhất định Việc kết hợp các chức năng trên còn tùy thuộc vào yêu cầu thực tế,quy mô, định hướng phát triển từng khu vực Khả năng kết hợp các chức năng trên tại cáccông trình giao thông được thể hiện trong bảng sau:
Bảng 1.1 Khả năng kết hợp các chức năng giao thông tĩnh
Tuy nhiên không phải tất cả các chức năng của giao thông tĩnh đều được kết hợpvới các khu chức năng trong đô thị Một chức năng đô thị có thể có đầy đủ chức năng giaothông tĩnh, cũng có thể không cần đủ toàn bộ mà chỉ cần một số chức năng của giao thôngtĩnh hoặc số lượng nhỏ Khả năng kết hợp các chức năng này với các chức năng chínhtrong đô thị được trình bày trong bảng sau:
Bảng 1.2 Khả năng kết hợp các chức năng giao thông tĩnh với chức năng
trong đô thị
Chức năng
Chức năng
Bảo quản
Đầu cuối
Trung chuyển
Dịch
vụ phương tiện
Dịch vụ hành khách
Dịch vụ khác
Trang 12Chức năng
Khu chức
năng
Bảoquản
Đầucuối
Trungchuyển
Dịchvụphươngtiện
Dịch vụhànhkhách
Dịch vụkhác
c) Vai trò giao thông tĩnh trong quy hoạch phát triển giao thông vận tải đô thị
Giao thông tĩnh đóng một vai trò hêt sức quan trọng trong hệ thống giao thông vậntải Do đó mặc dù có những quan điểm khác nhau về quy hoạch giao htông vận tải nhưngcác nước phát triển trên thế giối đều rất quan tâm và đầu tư đúng mức cho hệ thống giaothông tĩnh Một thái cực hoàn toàn ngược lại xảy ra tại các nước đang và chậm phát triển
Do không nhận thức đầy đủ vai trò của giao thông tĩnh nên nhiều đô thị trên thế giới đặcbiệt các nước đang phát triển chỉ chú trọng phát triển mang lưới đường, trong khi hệ htốnggiao thông tĩnh có thể bị lãng quên Kết quả là tốc độ giao thông vẫn chậm và tắc nghẽn,mạng lưới đường không phát huy được tác dụng, các phương tiện vận tải trong đô thị hoạtđộng hiệu quả thấp, ách tắc giao thông và tai nạn giaot hông thừong xuyên xảy ra
Điều này hoàn toàn đúng cả về lý thuyết và thực tế vì dù thời gian phương tiện dichuyển hay không di chuyển thì chúng đều trực tiếp hoặc gián tiếp ảnh hưởng đến hiệu quả
Trang 13hoạt động chung của cả hệ thống giao thông đô thị Bởi vậy một hệ thống giao thông chỉphát triển hiệu quả nếu đảm bảo được tỉ lệ phát triển tương xứng giữa giao thông động vàgiao thông tĩnh Trên thực tế thời gian phương tiện yêu cầu được phục vụ tại hệ thống giaothông tĩnh là rất lớn Đối với phương tiện xe buýt thời gian này chiếm tới 60-75% thời giantrong ngày; xe đạp, xe máy , xe con chiếm khoảng 90% Giao thông tĩnh được xem nhưmột công cụ hữu hiệu để điều tiết luồng giao thông trong đô thị Mục đích chính của điềutiết luồng giao thông nhằm tác động vào hành vi của người dân khi họ lựa chọn phươngtiện đi lại trong đô thị, và tác động vào hành trình đi lại sao cho đảm bảo toàn bộ hoạt độngcủa hệ thống giao thông vận tải, tránh ách tắc giao thông, nâng cao tốc độ giaothông vàgiảm ô nhiễm môi trường Theo xu hướng phát triển, giao thông tĩnh ảnh hưởng rất lớn đếnquy hoạch phát triển giao thông vận tải đô thị với các vai trò chủ yếu sau:
Thứ nhất: Giao thông tĩnh đảm bảo hệ thống đồng bộ và tương thích giữa các bộphận trong hệ thống giao thông vận tải đô thị Giao thông tĩnh là một yếu tố quan trọng cấuthành hệ thống giao thông Hệ thống giao thông vận tải chỉ hoạt động có hiệu quả khi cácyếu tố trong hệ thống đồng bộ tương thích, do đó cần đặt giao thông tĩnh ngang với tầmquan trọng của nó Điều này được xem xét ngay từ khâu lập quy hoạch, triển khai thựchiện, và trong khai thác vận hành
Thứ hai: Giao thông tĩnh là một công cụ điều tiết phương tiện vận tải và điều hòadòng giao thông trong thành phố Dùng giao thông tĩnh điều tiết nhu cầu sử dụng phươngtiện vận tải và điều hòa dòng giao thông trong đô thị thông qua việc quy hoạch các côngtrình giao thông tĩnh (số lượng, vị trí), và chính sách giá trong giao thông tĩnh (chi phí đỗ
xe, trong giữ xe…) Đây là một trong các giải pháp quan trọng nhất cho phép các đô thị cóthể kiểm soát chặt chẽ sự gia tăng phương tiện cá nhân cũng như có thể tạo ra những lợithế cho hành khách công cộng phát triển
d) Biến động nhu cầu giao thông tĩnh:
+ Biến động theo thời gian và mục đích chuyến đi:
Thời gian là một nhân tố ảnh hưởng lớn đến nhu cầu giao thông tĩnh Khi ngườidân di chuyển trên phương tiện thì nhu cầu giao thông tĩnh giảm xuống và ngược lại Nhucầu giao thông tĩnh biến đổi theo từng khu chức năng của đô thị Tổng nhu cầu giao thôngtĩnh trong một khu chức năng phụ thuộc vào tổng nhu cầu giao thông tĩnh của các chuyến
đi với mục đích khác nhau( chuyến đi đến, thông qua) các chuyến đi này biến đổi theo thờigian Như vậy nhu cầu giao thông tĩnh trong mỗi khu chức năng đô thị sẽ biến đổi và nhậnmột giá trị cực đại vào một thời điểm nhất định, đây chính là “ cao điểm giao thông tĩnh”đối với toàn bộ đô thị Cao điểm giao thông tĩnh là căn cứ chính xác nhất để xác định côngsuất, khả năng thông qua tối đa của hệ thống giao thông tĩnh trong đô thị
+ Biến đổi theo thời gian với từng ph ươ ng tiện vận tải:
Trang 14Nhu cầu giao thông tĩnh theo từng loại phương tiện còn biến đổi theo thời gian Đốivới ô tô do thời gian hoạt động lớn hơn nên thời gian chiếm dụng nhỏ hơn các phương tiện
cơ giới 2 bánh Tính chất sở hữu các phương tiện cũng có ảnh hưởng đến nhu cầu giaothông tĩnh Các phương tiện cộng cộng có thời gian hoạt động lớn nên có nhu cầu giaothông tĩnh lớn hơn so với các phương tiện cá nhân
+ Biến động không gian theo đối t ư ợng vận chuyển:
Nhu cầu giao thông tĩnh đối với các phương tiện vận chuyển các đối tượng khácnhau biến đổi theo không gian Tại khu vực trung tâm thường có nhu cầu giao thông tĩnhcao hơn, càng ra xa trung tâm nhu cầu giao thông tĩnh càng giảm Đối với các phương tiệnhàng hóa thì nhu cầu giao thông tĩnh lại tăng vọt tại các khu vực vành đai đô thị
+ Biến động không gian theo ph ươ ng tiện vận tải:
Quy hoạch các công trình giao thông tĩnh trong không gian nhằm mục đích phục vụhành khách một cách thuận tiện và nhanh chóng nhất Muốn vậy việc bố trí các công trìnhgiao thông tĩnh phải đảm bảo thời gian đi bộ của hành khách trong giới hạn cho phép Thờigian đi bộ phụ thuộc vào thời gian chuếyn đi của người dân đối với mỗi đô thị, dao độngkhoảng 30 đến 60 phút/ 1 chuyến Thông thường thời gian đi bộ của hành trong mộtchuyến đi từ 5-15 phút, mức trung bình là 10 phút Theo tiêu chuẩn nhiều nước trên thếgiới khoảng cách từ nơi ở, nơi làm việc đến nơi đỗ xe nằm trong khoảng 400-500m
Việc bố trí các công trình giao thông tĩnh phải đảm bảo khả năng tiếp cận của người
sử dụng Điều này có thể thỏa mãn khi các công trình giao thông tĩnh được bố trí với mật
độ nhất định Mỗi công trình giao thông tĩnh đều có một phạm vi thu hút nhất định, khi cự
ly càng lớn thì lượng thu hút càng giảm, tại một cự ly giới hạn nhu cầu giaot hông tĩnh sẽgiảm một cách đột ngột và tiến dần tới 0 Cự ly này gọi là giới hạn thu hút của công trìnhgiao thông tĩnh
Giữa cự ly đi bộ và số lượng chuyến đi có mối quan hệ hàm số khi cự ly đi bộ càng
xa và đi bộ càng xa thì số lượng chuyến đi càng nhỏ Khi cự ly đi bộ sau khi đỗ xe giảm thì
số chuyến đi càng tăng lên
Tùy theo phương thức vận tải mà cự ly thu hút của các công trình giaothông tĩnhkhác nhau Những hành khách sử dụng phương tiện bánh sắt có thể chấp nhận khoảng cách
đi bộ khá lớn để đến được điểm dừng đỗ, khoảng cách này sẽ giảm xuống đối với xe buýt
và tiếp tục giảm đối với phương tiện vận tải cá nhân như xe máy, xe đạp
Một nhân tố rất quan trọng ảnh hưởng đến cự ly thu hút các công trình giao thôngtĩnh là văn hóa sống, thói quen của người dân Những ngườ dân Châu Âu hoặc Châu Mỹ
có thói quen sử dụng phương tiện công cộng từ rất lâu nên việc áp dụng các phương thứcvận tải công cộng với sức chuyên chở lớn rất thành công Tuy nhiên người ta lại gặp khó
Trang 15khăn khi áp dụng với các nước Châu Á khi người dân cảm thấy khó khăn khi chấp nhận sửdụng các phương tiện vận tải hành khách công cộng và đi bộ.
e) Các yếu tố cấu thành hệ thống giao thông tĩnh:
+ Gara, bãi đỗ xe:
Gara có chức năng chính là trông giữ bảo quản phương tiện vận tải, bao gồm các côngviệc: bảo quản, giữ gìn phương tiện, đồng thời có thể kết hợp bảo dưỡng kỹ thuật, sửa chữathường xuyên phương tiện vận tải Các gara có thể phục vụ nhiều loại phương tiện khácnhau và nhiều loại công việc ở các mức khác nhau như gara ô tô con, gara ô tô buýt, gara
xe tải…chế độ làm việc của gara phụ thuộc vào tính chất đặc điểm của phương tiện màchúng phục vụ Một cách chung nhất chức năng chính của gara là giữ gìn và bảo quảnphương tiện, Theo cách thức bảo quản mà gara phân thành 2 loại: gara không có mái che,
và gara có một phần hay toàn bộ mái che
Bãi đỗ xe là một dạng giao thông tĩnh phổ biến nhất gồm cả bãi trông giữ xe các loại nhưbãi đỗ xe ô tô con, bãi đỗ xe tải, bãi giữ xe đạp, bãi trông xe máy… với xu hướng cơ giớihóa phương tiện đi lại của người dân đô thị, bãi đỗ xe càng trở nên quan trọng và phổ biến.Bãi đỗ xe thường chia làm 2 loại, bãi đỗ xe trong đường phố là bãi đỗ xe tận dụng ngayphần đường xe chạy hoặc lề đường của đường trong đô thị làm vị trí dừng đỗ xe và bãi đỗ
xe ở ngoài đường phố( bãi đỗ xe tại mặt đất, bãi đỗ xe trên cao và ngầm)
+ Các điểm đầu cuối:
Các điểm đầu cuối là nơi thực hiện các tác nghiệp đầu cuối trong quy trình vận tải hànghóa, hành khách Số lượng và quy mô các hạng mục công trình trong các điểm đầu cuốiđược thiết kế dựa trên cơ sở quy mô và đối tượng phục vụ Thông thường các điểm đầucuối được phân thành 2 loại:
Các điểm đầu cuối phục vụ liên tỉnh: là các điểm dùng để tác nghiệp đầu cuối với cácphương thức vận tải liên tỉnh Các điểm này được xây dựng với số lượng hạn chế và vớiquy mô lớn, bao gồm: sân bay, ga tàu, bến thủy, bến xe khách liên tỉnh
Các điểm đầu cuối phục vụ nội đô: được bố trí ở đầu cuối tuyến vận tải hành khách vàhàng hóa trong đô thị như điểm đầu cuối của các tuyến xe buýt…
+ Các điểm trung chuyển hàng hóa, hành khách:
Điểm trung chuyển là nơi dùng để chuyển tải hàng hóa và hành khách trong cùng mộtphương thức vận tải trong quá trình vận tải (vận tải đa phương thức), Các điểm trungchuyển cũng có thể kết hợp làm điểm đầu cuối
+ Các điểm dừng dọc tuyến:
Trang 16Điểm dừng dọc tuyến là một phần của hệ thống giao thông tĩnh Nó bao gồm các vị trídừng xe, các phần diện tích trên vỉa hè để xây dựng các công trình phụ trợ nhằm cung cấpcho lái xe và hành khách các thông tin phục vụ chuyến đi.
+ Các công trình khác:
Là các công trình phục vụ phương tiện trong thời gian tạm dừng di chuyển nhưng khôngnằm trong các công trình trên
f) Nhu cầu giao thông tĩnh và các nhân tố ảnh hưởng:
+ Nhu cầu giao thông tĩnh: Là yêu cầu được phục vụ của phương tiện và hànhkhách trong thời gian không di chuyển Các công trình suy cho cùng đều nhằm phục vụcon người Nhu cầu giao thông tĩnh là một nhu cầu phát sinh và được hình thành theo cơchế:
Hình 1.3 Sơ đồ cơ chế hình thành nhu cầu giao thông tĩnh
* Nhân tố ảnh hưởng gián tiếp:
Con người
và các nhu cầu
Mức độ phát triển
đô thị
Nhu cầu giao thông tĩnh
Nhu cầu sử dụng phương tiện
Nhu cầu di chuyển
Quy mô dân số và dân số đô thị
Trang 17Nhu cầu giao thông tĩnh xuất hiện khi có nhu cầu di chuyển băng phương tiện vậntải Nhu cầu di chuyển của phương tiện lại gắn liền với quy mô dân số và mức sống củangười dân, các khu chức năng đô thị và một số nhân tố khác.
Quy mô của đô thị thể hiện bằng dân số và diện tích Quy mô đô thị càng lớn tần
suất chuyến đi của người dân càng cao, dẫn đến nhu cầu di chuyển càng lớn Quy mô đôthị có ảnh hưởng trực tiếp đến lựa chọn phương thức vận tải của người dân đô thị Khi quy
mô đô thị càng lớn khoảng cách chuyến đi càng tăng lên Người dân sẽ có xu hướng cơgiới hóa phương tiện vận tải và sử dụng phương tiện vận tải có tốc độ cao, sức chứa lớn.Dân số đô thị ảnh hưởng đến nhu cầu di chuyển trong đô thị Dân số càng lớn nhu cầu dichuyển càng cao
Thu nhập: thu nhập của người dân càng cao sẽ quyết định đến việc lựa chọn
phương tiện họ sẽ sử dụng khi thu nhập cao lên người dân sẽ có xu hướng cơ giới hóaphương tiện vận tải, chuyển từ đi xe thô sơ sang xe máy, xe buýt, taxi xe ô tô cá nhân…Tuy nhiên đô thị thường phân thành các khu chức năng nhất định Mỗi khu chức năng cónhu cầu đi lại và khả năng phát triển cơ sở hạ tầng khác nhau, dẫn đến yêu cầu về số lượngquy mô của các công trình giao thông cũng khác nhau Khi trình độ sản xuất càng pháttriển thì sự chuyên môn hóa càng cao Căn cứ vào khu chức năng có sự tương đồng về giaothông có thể xác định những đặc diểm, quy mô, kết cấu của các công ttrình giao thông tĩnh
Thời tiết khí hậu, phong tục tập quán, đặc tính nhu cầu đi lại…là những nhân tố
ảnh hưởng đến nhu cầu giao thông tĩnh, đặc điểm công trình giao thông tĩnh Tại những nơi
có khí hậu càng khắc nghiệt, phương tiện vận tải hành khách công cộng càng phát triển nhucầu giao thông tĩnh cho phương tiện các nhân càng giảm
* Nhóm nhân tố ảnh hưởng trực tiếp:
Số lượng kết cấu của các phương thức vận tải trong đô thị: mỗi một phương thức,phương tiện vận tải đều có những đặc điểm, tính năng kỹ thuật, điều kiện khai thác khácnhau Điều này dẫn đến các công trình giao thông tĩnh phục vụ chúng khác nhau.Tuynhiên, nhu cầu giao thông tĩnh chỉ trở nên bức xúc khi diện tích chiếm dụng tĩnh dành chomột phương tiện vận tải và một chuyến đi nhỏ hơn giới hạn cho phép
Bảng 1.3 Diện tích chiếm dụng tĩnh của một số phương tiện vận tải
phươngtiện
Sức chứa( chỗ)
Dài (m) Rộng (m) Diện tích
chiếm dụngtĩnh/ 1 xe(m2/xe)
Diện tíchchiếm dụngtĩnh/ người(m2/người)
Trang 18Kết cấu công trình xây dựng: Phương tiện càng tiếp cận các công trình xây dựng,nhu cầu giao thông tĩnh càng nhỏ.Các công trình giao thông tĩnh càng xây dựng cao tầnghoặc ngầm dưới đất càng làm giảm yeu cầu quỹ đất dành cho giao thông tĩnh.
Phương pháp bảo quản: phương pháp bảo quản có ảnh hưởng trực tiếp đến yêu cầumặt bằng giao thông tĩnh Một số phương pháp bảo quản được áp dụng như: bảo quản lộthiên, bảo quản kín hay bảo quản bán lộ thiên Trong quá trình bảo quản, phương pháp sắpxếp có ảnh hưởng quan trọng đối với diện tích bảo quản Diện tích chiếm dụng tĩnh củaphương tiện thay đổi tùy theo phương pháp bố trí phương tiện Phương pháp này được đặctrưng bởi góc đỗ của trục phương tiện so với đường phố hoặc công trình bảo quản
Về cơ bản phương pháp đỗ xe vuông góc là phương pháp tiết kiệm diện tích nhất,tuy nhiên trogn trường hợp hạn chế buộc phải chọn góc đỗ nhỏ hơn 90o Phương án tiếtkiệm chiều rộng nhất là phương án đỗ xe dọc theo trục đường phố, đây cũng là phương ánthường sử dụng đối với đường trong đô thị
Trên thực tế các nhân tố trên ảnh hưởng đồng thời ở mức độ khác nhau trong nhữngđiều kiện cụ thể Do đó việc phân tích đánh giá cũng tiến hành trong những điều kiện cụthể
g) Các chỉ tiêu đánh giá hệ thống giao thông tĩnh:
Để đánh giá mức độ phát triển hệ thống giao thông tĩnh ở mỗi đô thị, mỗi quốc gia,mỗi khu vực người ta thường dùng các chỉ tiêu cụ thể Các chỉ tiêu này được chia thành 2nhóm: nhóm chỉ tiêu tuyệt đối và nhóm chỉ tiêu tương đối
* Nhóm chỉ tiêu tuyệt đối:
Trang 19+ Diện tích giao thông tĩnh trong đô thị:
Chỉ tiêu này phản ánh về mặt số lượng quỹ đất dành cho giao thông tĩnh trong đôthị Tuy nhiên chỉ tiêu này chỉ phản ánh về số lượng các công trình giao thông tĩnh trong
đô thị
+ Số lượng các công trình giao thông tĩnh trong đô thị:
Chỉ tiêu này phản ánh số lượng từng loại công trình giao thông tĩnh trong khhu vực đô thị
* Nhóm chỉ tiêu tương đối:
+ Diện tích giao thông tĩnh cho 1 xe chuẩn:
Chỉ tiêu này được xác định theo công thức:
là diện tích giao thông tĩnh cho 1
xe chuẩn
là diện tích giao thông tĩnh cho toàn thành phố
là số xe chuẩn
Diện tích chiếm dụng cho một xe chuẩn gồm diện tích dành cho phương tiện dừng
đỗ và diện tích dùng cho phương tiện quay trở cơ động
+ Diện tích chiếm dụng tĩnh cho 1 chuyến xe:
/ chuyến)
là diện tích giao thông tĩnh cho 1chuyến đi
là diện tích giao thông tĩnh cho toàn thành phố
là tổng số chuyến đi toàn thành phố, khu vực trong 1 thời gian nhất định+ Tỷ lệ diện tích dành cho giao thông tĩnh trong tổng diện tích thành phố:
là diện tích giao thông tĩnh cho toàn thành phố
là diện tích thành phố
+ Tỷ trọng giao thông tĩnh trong tổng diện tích dành cho giao thông:
là diện tích giao thông tĩnh cho toàn thành phố
) / ( / /xe D N m2 xe
D 2 *100/
GTT
D
Trang 20là diện tích dành cho giao thông
+ Hệ số phân bố không đều của hệ thống giao thông tĩnh trong thành phố:
là diện tích giao thông tĩnh cho toàn thành phố
là số điểm giao thông tĩnh cho toàn thành phố
là dân số thành phố
Ngoài ra còn có thể sử dụng 1 số chỉ tiêu khác để đánh giá hệ thống giao thông tĩnh
đô thị như quãng đường đi bộ bình quân đến công trình giao thông tĩnh, thời gian chiếmdụng giao thông tĩnh bình quân…
e) Tính toán diện tích cho bãi đậu xe:
* Diện tích đậu một xe ở bãi đậu xe trong trường hợp xe đến, đi tùy ý:
- Khi xe đậu song song với đường xe chạy
Diện tích đậu một xe có thể được xác định theo công thức sau:
F1 = (B + 0,5) (L + a) + (L + a).b/2 (m2)Trong đó:
B- chiều rộng thân xe thiết kế (m)
L- chiều dài thân xe thiết kế (m)
a- khoảng cách hai xe liền nhau, theo quan trắc, a = L/2
b- chiều rộng đường xe chạy (m), theo quan trắc, thông thường dùng b = 2B
- Khi xe đậu thẳng góc với đường xe chạy
Diện tích đậu một xe như sau:
F2 = (L + 0,5)(B + c) + (B + c)b/2 (m2)
Trong đó:
L,B- ý nghĩa giống trên
c- khoảng cách hai xe liền nhau (m), theo quan trắc, c = 1,0m
gttp
D
TP GTT
Trang 21d- chiều rộng đường xe chạy (m), theo quan trắc, d = L + (0,5 ~ 1,0) hoặc lấy dbằng bán kính quay vòng nhỏ nhất (d = Rmin);
- Khi xe đậu chéo góc với đường xe chạy
Công thức diện tích đậu một xe như sau:
F3 = [(B + 1,0).cos + (L
+ 1,0).sinTrong đó:
B, L- ý nghĩa giống trên
: góc chéo với đường xe chạy, = 300 hoặc 450 hoặc 600
e- chiều rộng đường xe chạy (m), e = L + 0,5 đối với xe nhỏ
Tính diện tích một vị trí đậu xe trong trường hợp đậu chéo:
- Diện tích đậu một xe trong trường hợp xe đi đến có ấn định trước:
Trong trường hợp này, có thể bố trí xe gọn hơn Đối với trường hợp xe điđến tùy ý, có thể sử dụng số liệu thống kê sau: diện tích để cho một xe con (kể cảđường xe chạy): 22m2 để tính diện tích bãi đậu
- Diện tích bãi đậu xe: bao gồm diện tích đậu xe và các diện tích khác như trồngcây, trạm bán vé…
Diện tích đậu xe: Diện tích đậu xe có thể tính như sau:
F = Q.a1
Trong đó:
Q - số xe đậu giờ cao điểm
a1 - diện tích đậu một xe (m2), tùy thuộc loại xe và phương thức đậu
Với ước toán mỗi xe gắn máy chiếm a1= 3m2 diện tích đường khi lưu thông,và một xe ô tô con chiếm diện tích mặt đường khoảng a1= 22m2
1 0 sin
1 0
Trang 23Xe đậu chéo góc 600
Lối vào một chiều
14
Xe đậu chéo góc 300
1.2.Tổng quan về quy hoạch giao thông tĩnh
1.2.1 Tổng quan về quy hoạch giao thông vận tải đô thị
a) Mục đích, nguyên tắc quy hoạch giao thông vận tải đô thị:
Khi định hướng phát triển một đô thị thì yếu tố quan trọng cần được chú ý đó là quy hoạch giao thông vận tải đô thị Công tác này nhằm mục đích đảm bảo sự giao lưu trong đô thị và giữa đô thị với bên ngoài một cách nhanh chóng, thuận tiện, tin cậy đạt trình độ hiện đại
và ngang tầm với sự phát triển của đô thị Để đảm bảo mục tiêu này, việc quy hoạch phát triển giao thông vận tải đô thị phải đảm bảo 1 số nguyên tắc sau:
Trang 24- Quy hoạch giao thông vận tải đô thị phải được tiến hành theo một quy hoạch thống nhất phù hợp với chiến lược phát triển của
b) Mối quan hệ giữa quy hoạch giao thông vận tải với các quy hoạch trong đô thị:
Quy hoạch giao thông vận tải có mối quan hệ chặt chẽ với các quy hoạch :
- Quy hoạch phát triển không gian
- Quy hoạch kiến trúc đô thị
- Quy hoạch các ngành trong đô thị (sử dụng đất, công nghiệp)
c) Nội dung quy hoạch giao thông vận tải đô thị:
Mặc dù được tiến hành với nhiều mảng, yếu tố của hệ thống giao thông vận tải nhưmạng lưới đường, giao thông tĩnh, vận tải…nhưng về mặt nguyên tắc, một phương án quyhoạch giao thông vận tải bao gồm các bước sau:
- Phân tích đánh giá thực trạng (thực trạng kinh tế xã hội, thực trạng mạng lướiđường giao thông, thực trạng mạng lưới giao thông tĩnh, hệ thống vận tải, cơ khígiao thông và an toàn giao thông)
- Xác lập các mục tiêu và quan điểm quy hoạch
- Xác lập các căn cứ, tiền đề lập quy hoạch (dự báo các điều kiện cơ bản khi ápdụng, các cơ chế chính sách và ràng buộc có liên quan)
- Xây dựng phương án quy hoạch,
- Xác định vốn đầu tư và phân kỳ đầu tư
- Đánh giá tính khả thi hiệu quả của phương án
Hình 1.5 Nội dung quy hoạch giao thông vận tải đô thị
Quy hoạch tổngthể phát triển giaothông đô thị
Trang 25d) Phương pháp Quy hoạch giao thông vận tải đô thị
Mặc dù trong phương án quy hoạch có nhiều nội dung khác nhau được thực hiệntheo một trình tự nhất định Tuy nhiên không có một phương pháp cụ thể nào áp dụngchung và xuyên suốt quá trình lập phương án quy hoạch Thậm chí trong một nội dung quyhoạch có thể sử dụng nhiều phương pháp khác nhau để xác định cùng một kết quả, chẳnghạn trong dự báo nhu cầu đi lại có thể dùng phương pháp mô hình hóa hoặc phương phápkịch bản trong xác định nhu cầu phương tiện có thể dùng phương pháp tăng trưởng bìnhquân hoặc phương pháp tương tự Mỗi phương pháp đều có một ưu nhược điểm và được ápdụng trong một điều kiện cụ thể Nói một cách khác, trong từng nội dung khác nhau, người
ta sử dụng các phương pháp khác nhau Trong quy hoạch cũng thường sử dụng kết hợpnhững phưong pháp để đảm bảo tính chính xác của phương án quy hoạch
Bảng 1.4.Các phương pháp quy hoạch giao thông vận tải thường sử dung: Nội dung quy hoạch Các phương pháp thường sử dụng
Phân tích,đánh giá hiện trạng Phương pháp thống kê, phương pháp phân tích…
Xác lậpmục tiêu quan điểm quy
Quy hoạch
hệ thống cơ khí giao thông
Quy hoạch phát triển nguồn nhân lực, tổ hức quản lý
Trang 26Xác lập các căn cứ, tiền đề lập
quy hoạch( dự báo các điều kiện
cơ bản khi áp dụng, các cơ chế
chính sách và ràng buộc có liên
quan)
Phương pháp dự báo trực tiếp, pương pháp dự báogián tiếp(phương pháp kịch bản, phương pháp môhình hóa…), phương pháp cân đối, phương phápđịnh mức, phương hệ số đi lại, phương phápdetroit…
Xây dựng phương án quy hoạch Pương pháp cân đối, phương pháp phân tích tính
toánXác định vốn đầu tư và phân kỳ
1.2.2.Tổng quan về quy hoạch giao thông tĩnh
a) Nội dung quy hoạch giao thông tĩnh đô thị
Việc quy hoạch giao thông tĩnh cũng được tiến hành theo những bước chung trongquy hoạch giao thông vận tải, cụ thể gồm những nội dung sau:
- Phân tích đánh giá thực trạng hệ thống giao thông tĩnh
- Xác lập các mục tiêu và quan điểm quy hoạch giao thông tĩnh
- Xác lập các căn cứ quy hoạch giao thông tĩnh
- Xây dựng phương án quy hoạch giao thông tĩnh
- Xác định vốn đầu tư và phân kỳ đầu tư hệ thống giao thông tĩnh
- Đánh giá tính khả thi hiệu quả của phương án
Phương pháp quy hoạch giao thông tĩnh gồm những nội dung sau:
- Xác định nhu cầu về quỹ đất dành cho giao thông tĩnh
- Xác định cơ cấu quỹ đất các công trình giao thông tĩnh theo phương thức vận tải
- Xác định vị trí các công trình giao thông tĩnh trong không gian đô thị
- Các phướng án thiết kế mẫu cho các công trình giao thông
b) Phương pháp Quy hoạch giao thông tĩnh
Do mỗi bước, mỗi nội dung quy hoạch đều có những phương pháp cụ thể, sau đây
Trang 27toán nhanh, nhưng có thể lặp lại sai lầm của quy hoạch đi trước, cho kết quả độ chính xáckhông cao.
Phương pháp phân tích tính toán: là phương pháp kết hợp giữa phân tích các yếu tốảnh hưởng và các yêu cầu đối với việc phát triển giao thông tĩnh Đây là phương pháp cónhiều ưu điểm, đảm bảo cho việc dự báo hay việc xác định nhu cầu giao thông tĩnh mộtcách chính xác, tuy nhiên khối lượng tính toán lớn và phức tạp Phương pháp tính toántoán có nhiều dạng khác nhau: tính toán theo phương tiện vận tải, hay theo hệ số tăngtrưởng bình quân
Phương pháp chuyên gia: Phương pháp này dựa vào ý kiến của chuyên gia có trrình
độ để xác định nhu cầu giao thông tĩnh Trong nhiều trường hợp phương pháp chuyên giađược áp dụng và cho kết quả tốt9 đặc biệt với các nước lạc hậu kém phát triển
Tóm lại qua phân tích một số phương pháp thông dụng trên ta thấy: để xác định nhu cầugiao thông tĩnh cho một đô thị không chỉ sử dụng một phương pháp, mà phải kết hợp một
số phương pháp nhằm đảm bảo độ chính xác của kết quả tính toán
Vậy, cùng với xu hướng đô thị hóa các đô thị đang đối mặt với các thách thức rấtlớn từ giao thông vận tải Để hướng tới mục tiêu phát triển bền vững cần phát triển giaothông vận tải đống bộ và tương thích Giao thông tĩnh là một nhân tố quan trọng trong hệhtống giao thông vận tải Do đó khi quy hoạch giao thông vận tải cần xem xét giao thôngtĩnh một cách hệ thống với đúng vị trí vai trò của nó trong giao thông vận tải đô thị Đặcbiệt đô thị hóa càng có vai trò quan trọng khi tốc độ ô tô hóa tăng lên cùng với sự pháttriển của mỗi đô thị Giao thông tĩnh phát triển không đồng bộ sẽ dẫn đến giảm tốc độ giaothông, gây khó khăn trong tổ chức quản lý Việc làm rõ các khái niệm, xem xét các nhân tốảnh hưởng, đặc điểm giao thông tĩnh, sự biến động nhu cầu giao thông tĩnh, các chỉ tiêuđánh giá, phương pháp quy hoạch giao thông vận tải là những căn cứ rất quan trọng đểtiến hành quy hoạch giao htông tĩnh
c) Tổng quan về quy hoạch ngầm đô thị
Trang 28
Trong quá trình xây dựng, cải tạo và phát triển đô thị, việc kết hợp chặt chẽ và hữu
cơ giữa các công trình trên mặt đất và công trình được xây dựng dưới mặt đất là rất cầnthiết Kinh nghiệm và bài học trong xây dựng ở các đô thị lớn trên thế giới đều hướng tớiviệc tìm cách khai thác triệt để không gian ngầm với nhiều mục đích khác nhau hoặc kếthợp với nhau về kinh tế, kỹ thuật, xã hội, môi trường, an ninh và quốc phòng đồng thời banhành các quy định cụ thể về quản lý xây dựng các công trình ngầm sao cho có hiệu quảnhằm phát triển đô thị hài hoà và bền vững
Trong những năm gần đây, tốc độ đô thị hoá của nước ta ngày càng nhanh, hệ thống
đô thị phát triển cả về số lượng, chất lượng và quy mô Nhiều công trình nhà cao tầng đòihỏi phải có tầng hầm, các công trình ngầm dưới mặt đất như bãi đỗ xe ngầm, các tuyến tàuđiện ngầm, hầm đường ô tô, hầm cho người đi bộ và một số dự án hạ ngầm các công trìnhđường dây, đường ống đang được nghiên cứu và triển khai đầu tư xây dựng tại các đô thịlớn đặc biệt tập trung ở thành phố Hồ chí Minh và Hà Nội
Tuy nhiên công tác quản lý xây dựng ngầm còn nhiều bất cập, thể hiện: Các côngtrình đường dây, đường ống ngầm thường thi công vào nhiều thời điểm khác nhau dẫn đếnhiện tượng đào lên lấp xuống trong thời gian ngắn; quy định về quản lý xây dựng ngầmtrong đô thị còn thiếu, hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn xây dựng liên quan chưa có hoặc cónhưng không đầy đủ và chưa đồng bộ Trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân liên quan đếnquản lý xây dựng, lưu trữ, cung cấp thông tin về công trình ngầm chưa rõ ràng
Quy hoạch xây dựng đô thị đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát triển đô thị,tuy nhiên trong thời gian vừa qua chúng ta mới chỉ tập trung nghiên cứu sử dụng phầnkhông gian đô thị trên mặt đất, chưa nghiên cứu sâu đến phần không gian ngầm Bởi vậy
Trang 29việc nghiên cứu bổ sung nội dung quy hoạch xây dựng ngầm là rất cần thiết nhằm sử dụng,khai thác tài nguyên đất có hiệu quả đồng thời phục vụ tốt cho công tác quản lý xây dựngtheo quy hoạch đô thị
Lợi ích của việc khai thác sử dụng không gian ngầm :
Trong xây dựng, cải tạo và phát triển đô thị, đặc biệt đối với các đô thị lớn luônluôn phải có sự kết hợp chặt chẽ và hữu cơ giữa các công trình trên mặt đất và công trìnhđược xây dựng dưới mặt đất
Sử dụng, khai thác không gian ngầm có hiệu quả, tiết kiệm đất đai cũng như bố trí hợp lýcác công trình dưới mặt đất góp phần thúc đẩy quá trình phát triển đô thị, nâng cao chấtlượng sống của cư dân đô thị
Lợi ích của việc sử dụng không gian ngầm:
- Góp phần tạo nên sự hợp lý hơn của quy hoạch tổng mặt bằng xây dựng đô thị
- Sử dụng hợp lý, tiết kiệm và hiệu quả quỹ đất xây dựng đô thị để xây dựng nhà ở,xây dựng các công trình phục vụ lợi ích công cộng, các công trình hạ tầng kỹ thuật
đô thị đặc biệt các công trình giao thông ngầm (tuyến, nhà ga, bãi đỗ xe, hầm chongười đi bộ… ) trong đô thị
- Góp phần bảo vệ môi trường, sinh thái đô thị
- Kết hợp xây dựng công trình ngầm phục vụ phát triển kinh – xã hội với đảm bảo
an ninh, quốc phòng
Cần phải khẳng định quy hoạch xây dựng ngầm là một nội dung của quy hoạch xâydựng đô thị Khi lập quy hoạch xây dựng đô thị phải căn cứ vào nhu cầu phát triển củathành phố để quy hoạch xây dựng ngầm Xây dựng các công trình ngầm trong đô thị cầnphải tiến hành một cách tổng thể và có quy hoạch đảm bảo sự khớp nối giữa công trìnhtrên mặt đất và dưới mặt đất thành một thể thống nhất
Trong quy hoạch xây dựng đô thị các phương án về cơ cấu của đô thị, tổ chức phânkhu chức năng chính cần phải kết hợp xác định các khu vực dự kiến bố trí công trình ngầm(vùng chức năng không gian ngầm) và hướng sử dụng không gian ngầm theo các nguyêntắc ưu tiên tại trung tâm chính đô thị và của các khu vực, các vùng dân cư tập trung và dọccác trục đường phố chính đô thị
Quy hoạch xây dựng ngầm phải chú ý tới bảo vệ và cải thiện môi trường đô thị, sửdụng tiết kiệm và hiệu quả về đất xây dựng, phải căn cứ vào đặc điểm địa hình, địa mạo,điều kiện địa chất công trình, địa chất thuỷ văn, vị thế và giá trị của công trình kiến trúchiện hữu bên trên cũng như mạng lưới các công trình hạ tầng kỹ thuật ngầm sẵn có ở dưới
… để đảm bảo an toàn và thuận lợi cho mọi điều kiện sinh hoạt của người dân
Trang 30Quy hoạch xây dựng ngầm bao gồm những nội dung cơ bản như sau:
+Đối với quy hoạch chung xây dựng đô thị:
- Phân tích, đánh giá các điều kiện tự nhiên, địa chất công trình, địa chất thuỷ văn liên quan đến việc xây dựng ngầm trong đô thị
- Phân tích, đánh giá hiện trạng các khu vực, vùng đã có xây dựng công trình ngầm, mạng lưới đường dây, đường ống ngầm
- Trên cơ sở định hướng phát triển và phân khu chức năng của
đô thị dự báo nhu cầu phát triển và sử dụng không gian ngầm
- Xác định các khu vực hạn chế hoặc cấm xây dựng ngầm
- Dự báo vị trí, quy mô các công trình công cộng ngầm, hệ thống giao thông ngầm trong đô thị (đặc biệt các tuyến tàu điện ngầm,
vị trí nhà ga, bãi đỗ xe ngầm…)
+ Đối với quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị:
- Phân tích đánh giá hiện trạng xây dựng ngầm tại khu vực thiết kế
- Xác định cụ thể vị trí, quy mô các công trình ngầm
- Xác định các vị trí đấu nối không gian và đấu nối kỹ thuật công trình trong đó đềxuất các giải pháp khớp nỗi giữa các công trình ngầm với nhau theo chiều đứng,chiều ngang và với các công trình trên mặt đất (bố trí công trình đường dây, đườngống, các tuyến đường tàu điện ngầm, các đầu mối giao thông, các công trình côngcộng ngầm )
+ Hồ sơ quy hoạch xây dựng ngầm: trong hồ sơ quy hoạch xây dựng đô thị cần bổ sungcác bản vẽ sau:
Bản đồ hiện trạng xây dựng các công trình ngầm trong đô thị (bao gồm: các khu vực có cáccông trình nhà cao tầng có xây dựng tầng hầm, các công trình công cộng ngầm, hệ thốngđường dây, đường ống ngầm);
Bản đồ phân vùng và các khu vực dự kiến xây dựng các công trình ngầm;
Bản đồ hệ thống tuyến tàu điện ngầm;
Bản đồ hệ thống công trình hạ tầng kỹ thuật ngầm;
Trang 31Việc thẩm định, phê duyệt quy hoạch xây dựng ngầm thực hiện theo các quy định về thẩmđịnh, phê duyệt các đồ án quy hoạch xây dựng đô thị
Một số nhiệm vụ chính về xây dựng và quản lý xây dựng ngầm tại các đô thị ở Việt trongthời gian tới như sau:
- Hoàn thiện nội dung của quy
hoạch xây dựng ngầm và đưa nội
dung này vào các đồ án quy hoạch
xây dựng đô thị
- Từng bước lập bản đồ hệ thống
công trình ngầm tại một số đô thị
thí điểm sau đó nhân rộng cho tất
cả các đô thị
- Xây dựng hào hoặc hầm kỹ thuật
tại các đô thị mới, trên các trục
đường phố được xây dựng mới của
các đô thị hiện hữu, ngầm hoá các công trình đường dây, đường ống kỹ thuật
- Xây dựng một số hầm cho người đi bộ, các tuyến đường tàu điện ngầm tại TP.HồChí Minh và Hà Nội
- Ban hành nghị định Quản lý xây dựng ngầm và các văn bản hướng dẫn thực hiện Quá trình xây dựng và phát triển đô thị lớn trên thế giới đều liên quan đến sử dụngkhông gian ngầm Việc quy hoạch xây dựng ngầm là yêu cầu bắt buộc, là nhu cầu của cuộcsống và xây dựng công trình ngầm đang trở nên phổ biến ở nước ta Theo tư duy mới thìmột đô thị được coi là mẫu mực sẽ là đô thị có quy hoạch xây dựng trên và dưới mặt đấthợp lý, sử dụng có hiệu quả tài nguyên đất và được quản lý xây dựng chặt chẽ Việc hoànthiện từng bước nội dung quy hoạch xây dựng ngầm và đưa vào cuộc sống là cần thiếttrong giai đoạn hiện nay
Trang 32CHƯƠNG 2 HIỆN TRẠNG GIAO THÔNG VÀ BÃI ĐỖ XE
QUẬN 1 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
2.1 Hiện trạng kinh tế xã hội và điều kiện tự nhiên quận 1
2.2.1 Hiện trạng kinh tế xã hội và điều kiện tự nhiên thành phố Hồ Chí Minh
Thành phố Hồ Chí Minh là một trung tâm kinh tế-thương mại-vănhóa-khoa học lớn nhất ở khu vực phía Nam và có vị trí thứ hai sauthủ đô Hà Nội Đây cũng là một đầu mối giao thông lớn nhất cảnước với tất cả các loại hình vận tải: Đường bộ, đường sắt, đườngsông, đường biển và đường không
Theo định hướng quy hoạch tổng thể phát triển đô thị ViệtNam đến năm 2020 đã được Chính phủ phê duyệt trong quyết định
số 10/1998/QĐ ngày 23/01/1998 thành phố Hồ Chí Minh là đô thịtrung tâm cấp quốc gia và cũng là đô thị hạt nhân của Vùng kinh tếtrọng điểm Phía Nam
Đặc điểm kinh tế- xã hội:
Thành phố Hồ Chí Minh có diện tích tự nhiên 2.095 km2 , trong đó :
Bảng 2.1 Diện tích thành phố Hồ Chí Minh
Tổng diện tích
tự nhiên TP (km2)
Diện tích tự nhiênnội thành (km2)
Diện tích tự nhiênngoại thành (km2)
Bảng 2.2 Dân số thành phố Hồ Chí Minh qua các năm:
STT Các chỉ tiêu
Năm 1980 (triệu người)
Năm 2004 (triệu người)
Năm 2020 (triệu người)
Trang 33Trong những năm qua dân số thành phố không ngừng tăng với tốc độ cao Qua 24năm qua dân số thành phố tăng 1,94 lần, trong đó nội thành tăng tới 2,26 lần, làm quá tảikết cấu hạ tầng giao thông đô thị vốn đã quá lạc hậu.
Hiện ở năm quận: quận 10, quận 3, quận 4, quận 11 và quận 5 mật độ dân số trên
40 ngàn người/1km2; đất đô thị (bao gồm đất ở, đất giao thông, công viên v.v…) bình quânchỉ vào khoảng 25 m2/người Do mật độ dân quá tập trung nên việc mở rộng đường và nútgiao thông cho tương ứng với tốc độ phát triển kinh tế-xã hội thường rất khó khăn do chiphí đền bù-giải tỏa-tái định cư rất lớn
Tại các quận cửa ngõ thành phố: quận Gò Vấp, quận 8, quận Bình Thạnh, quận TânBình, Tân Phú mật độ dân từ 18 ngàn đến 23 ngàn người/1km2, chưa đạt mức tới hạn, dovậy vẫn còn tiềm ẩn nguy cơ bùng nổ dân số; trong khi đó mạng lưới đường không pháttriển kịp nên sẽ tạo ra nhiều điểm ùn tắc giao thông mới
Nằm ở điểm giao nối giữa miền Tây Nam bộ và miền Đông Nam bộ, thành phố HồChí Minh trở thành đầu mối trung chuyển hàng hóa, hành khách cho toàn vùng Nam bộ đi
cả nước và ra nước ngoài Với những thuận lợi về điều kiện sông biển thành phố Hồ ChíMinh từ lâu đã trở thành một hải cảng quốc tế lớn nhất cả nước Sản xuất, thương mại,xuất-nhập khẩu phát triển làm cho các dịch vụ về tài chính, ngân hàng, vận tải, thông tinliên lạc, khách sạn, nhà hàng cũng phát triển mạnh theo
Những lợi thế về vị trí địa lý giúp cho thành phố trở thành trung tâm kinh tế củatoàn vùng, song quá khứ phát triển cũng biến thành phố trở thành siêu đô thị với sự tậptrung quá mức dân cư, cơ sở kinh tế, làm tăng nguy cơ phá vỡ cân bằng sinh thái Mức độtập trung công nghiệp của thành phố hiện rất cao: có gần 28.600 cơ sở sản xuất côngnghiệp, trong đó 80% nằm đan xen trong nội thành; 13 khu công nghiệp-khu chế Điều này
đã tạo ra hiện tượng di dân cơ học với số lượng lớn từ các địa phương khác Hiện nay đangbộc lộ sự mất cân đối về nhà ở, điện, nước, hạ tầng giao thông, xã hội Các khu côngnghiệp tập trung mới hình thành cùng với quá trình đô thị hóa vùng ven đã góp phần làmtăng nhanh di chuyển lao động giữa nội thành và ngoại thành, giữa thành phố Hồ Chí Minhvới các tỉnh lân cận gây ách tắc giao thông trong giờ cao điểm, nhất là tại các cửa ngõ ravào thành phố
* Mức tăng trưởng kinh tế
Bảng 2.3 Mức tăng trưởng kinh tế Thành phố HCM qua các năm
Trang 34Chỉ tiêu 1996 2004 2010 GDP bình quân
cơ sở hạ tầng, là “mạch máu” của nền kinh tế cũng cần được quy hoạch để nối kết chặt chẽcác trung tâm phát triển của thành phố với nhau, giải quyết được nhu cầu giao tông củangười dân
2.2.2.Hiện trạng kinh tế xã hội và điều kiện tự nhiên quận 1
a)Điều kiện tự nhiên- tài nguyên thiên nhiên và tổng quan môi trường
a 1 ) Điều kiện tự nhiên:
Vị trí dịa lý:
Quận 1 là quận trung tâm của thành phố Hồ Chí Minh với tổng diện tích tự nhiên772.61 ha, được bao bọc bởi sông Sài Gòn, rạch Thị Nghè và rạch Bến Nghé Ranh giớihành chính được xác định như sau:
- Phía Bắc giáp Quận Bình Thạnh, quận Phú Nhuận(rạch Thị Nghè)
- Phía đông giáp Quận 2 (sông Sài Gòn)
- Phía Đông Nam giáp quận 4 (rạch Bến Nghé)
- Phía Tây Nam giáp quận 5 (đường Nguyễn Văn Cừ)
- Phía Tây giáp quận 3 (đường Hai bà Trưng, Nguyễn Thị Minh Khai)
Với vị trí là trung tâm đô thị lớn của Sài Gòn- Thành phố Hồ Chí Minh, quận 1 có mạnglưới giao thông bộ và giao thông thủy thuận lợi; nơi tập trung các đầu mối giao lưu pháttriển kinh tế, văn hóa chính trị của khu vực, trong nước và quốc tế tất cả đã tạo cho quận 1
có nhiều ưu thế thuận lợi cho kinh tế phát triển, đặc biệt là lĩnh vực dịch vụ, thương mạixuất nhập khẩu và đầu tư
Trang 35Địa chất
Toàn quận hiện có 772.61 ha đất tự nhiên (100% là đấ phi nông nghiệp) Với mộtđịa hình cao hơn mực nước biển từ 2 đến 6 m, quận 1 là vùng tương đối thấp của một nềnmóng đất nén dẽ, giàu đá ong có tới mấy vạn năm tuổi Theo kết quả thăm dò địa chất chothấy mặt đất của quận 1 còn mang nhiều dấu vết của rừng già, giàu cây dầu, sao, bằng lăng.Bên dưới lớp rừng này là một chiều dày hơn 200m Bên dưới là móng đá phiến sắt khôngthấm, nó ngăn nước không cho tụt sâu hơn nữa Đất có kết cấu chặt, tương đối thuận lợicho việc trí xây dựng các công trình hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội, phục vụ phát triẻnkinh tế-xã hội của một khu vực đô thị Địa chất công trình tương đối ổn định và chắc chắn,thuận lợi cho việc bố trí xây dựng các công trình lớn, công trình ngầm kiên cố, như chung
cư cao tầng, cao ốc văn phòng, các bãi đậu xe…
Khí hậu:
Quận 1 nằm trong đới khí hậu gần ven biển, hướng gió mát từ Cần Giờ về Trongnăm có hai mùa rõ rệt: mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11, mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4năm sau
Nhiệt độ cao và điều hòa trong năm, trung bình cả năm khoảng 260c tuy nhiên sựchênh lệch nhiệt độ ngày đêm rất lớn( 7-100c) Số giờ nắng cả năm là 1829 h Với đa sốcác tuyến đường là bê tông và nhựa, trong các tháng nắng có hiện tượng khô hạn của khíhậu một số ngày, cũng trong mùa khô nước các sông rạch thường bị nhiễm mặn
Độ ẩm không khí: trung bình đạt 76%, nhìn chung không ổn định và có sự biếnthiên theo mùa Sự chênh lệch độ ẩm không khí giữa hai mùa khoảng 10-15%
Lượng mưa: lượng mưa trung bình năm đạt 1800mm Quận 1 là một trong vài khuvực của thành phố được hưởng sự thông thoáng, ẩm mát quanh năm Song lượng mưa phân
bố không đều, tập trung chủ yếu từ tháng 5 đến tháng 11, lớn nhất thường xảy ra vào tháng
7 hoặc tháng 10
Gió: Quận 1 nằm trong vùng chịu ảnh hưởng của hai hướng gió mùa, chủ yếu từBiển Đông thổi vào , và từ Ấn Đô Dương Ngoài ra còn có hướng gió từ phương Bắc thổivào
Thủy văn:
Quận 1 có hệ thống sông kênh rạch khá đa dạng, có đặc điểm:
- Sông Sài Gòn chịu ảnh hưởng chế độ dao động bán nhật triều, với mực nước triềubình quân thấp nhất là 1,2m và cao nhất là 2,0m
- Các hệ thông kênh rạch tự nhiên khác thì đa số chịu ảnh hưởng trực tiếp chế độthủy văn của sông Sài Gòn như: rạch Bến Nghé, rạch Thị Nghè
Trang 36Hệ thống sông, kênh, rạch trực tiếp chi phối chế dộ thủy văn của quận và nét nỗi bậtcủa dòng chảy là sự xâm nhập của thủy triều.
b) Thực trạng phát triển kinh tế xã hội quận 1
b 1 ) Thực trạng kinh tế:
Tăng trưởng kinh tế:
Trong giai đoạn 2000-2006, cơ cấu kinh tế của quận 1 vẫn là thương mại- dịch
vụ-du lịch Hoạt động dịch vụ- thương mại tăng trưởng khá, bình quân khoảng 23% Giá trịsản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp tăng bình quân hàng năm 11,24% Tổng mứcluân chuyển hàng hóa tăng bình quân hàng năm là 18,76%, đặc biệt mức tăng trưởng vềdịch vụ tăng bình quân hàng năm là 23,79% Kinh tế tư nhân phát triển nhanh và phát huytác dụng, bình quân hàng năm có 1138 doanh nghiệp ngoài quốc doanh, 2708 sở kinhdoanh cá thể phát triển mới Hiện nay toàn quận có 5038 doanh nghiệp ngoài quốc doanh,15.558 hộ sản xuất kinh doanh cá thể và 86 đơn vị kinh tế Hợp tác- Hợp tác xã đang hoạtđộng Tổng vốn đầu tư của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh và cơ sở kinh doanh cá thểtăng bình quân 2500 tỷ đồng/năm
Tổng thu ngân sách nhà nước theo phân cấp cho quận trong 5 năm tăng bình quân12,99%/năm Tổng chi ngân sách quận tăng bình quân 25%/năm
Chuyển dịch c ơ cấu kinh tế:
Với đặc diểm có vị trí thuận lợi và chủ trương đổi mới cải cách nền kinh tế nhằmthực hiện hiệu quả chính sách mở cửa trong những năm qua, tiềm lực kinh tế thành phố
Hồ chí Minh nói chung và quận 1 nói riêng tăng trưởng khá cao, đặc biệt trong lĩnh vựcthương mại dịch vụ đã phát triển đa dạng năng động hơn Tổng mức lưu chuyển hàng hóa
có mức tăng trưởng khá, đời sống nhân dân được cải thiện
Giá trị sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp của quận giữ vững được mứctăng trưởng tương đối ổn định đều Từ năm 2003 đến nay và những năm tiếp theo với chủtrương sẽ giảm dần hoặc tăng ttrưởng chậm do quy hoạch, chuyển đổi ngành nghề,, di dờihoặc ngưng hoạt động một số cơ sở do không còn phù hợp với địa bàn quận trung tâmthành phố
Nhìn chung từ đặc điểm và kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh đã phát triểntrong những năm qua, xác định thế mạnh của quận 1 vẫn là thương mại- dịch vụ- du lịch
Từ cơ sở đó đặt ra cho quận 1cần phải định hướng cơ bản, lâu dài về chất và lượng đối vớilĩnh vực này, góp phần cùng thành phố xây dựng một trung tâm ngày càng phát triển, năngđộng và giàu mạnh
Thực trạng phát triển 1 số ngành kinh tế:
Kinh tế công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp:
Trang 37Giá trị sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp của quận thực tính đến tháng12/2005 đạt 82.964 triệu đồng Tính chung năm 2005, giá trị sản xuất của quận đạt 782.672triệu đồng Doanh thu thực hiện tháng 12/2005 dạt 134.632 triệu đồng, trong đó doanh thuxuất khẩu đạt 24.673 triệu đồng.
Kinh tế thương mại- dịch vụ:
Nằm giữa trung tâm thành phố, quận 1 có một thế mạnh riêng trong việc thu hútnguồn vốn đầu tư nước ngoài Đã tiến hành khôi phục mở rộng, khôi phục và từng bướcnâng cao năng lực động các khu trung tâm thương mại- dịch vụ như: chợ Bến Thành, chợThái Bình, chợ Dân Sinh…khu buôn bán điện máy Huỳnh Thúc Kháng, Tôn Thất Đạm.Các trục đường lớn: Đồng Khởi, Lê Lợi, Hàm Nghi, Trần Hưng Đạo…Trên cơ sở đó hìnhthành các trung tâm siêu thị chuyên kinh doanh của các thành phần kinh tế xen kẽ nhau
Tính chung năm 2005, doanh thu ngành thương mại- dịch vụ khối doanh nghiệpnhà nước quận 1 đạt 33.011,94 tỷ đồng, tăng 25,69% so với cùng kỳ năm trước
Kinh tế ngoài quốc doanh: hoạt động kinh tế ngoài quốc doanh ngày càng phát triển, hànghóa phong phú, đa dạng Tuy nhiên cũng kéo theo nhiều phức tạp trong hoạt động kinhdoanh, làm ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội, nhất là đối với các ngành nghề “nhạycảm”
Bảng 2.4 Thống kế số lượng doanh nghiệp theo lĩnh vực quận 1
STT Các lĩnh vực Số doanh nghiệp ( năm 2005)
Tính chung doanh thu ngành thương mại dịch vụ Quận 1 năm 2005 đạt 36.863,88
tỷ đồng tăng 23,82% so với năm 2004.Dự kiến tốc độ tăng trưởng dịch vụ trong năm tới là25%
Nhìn chung hoạt động thương mại trên địa bàn quận 1 những năm qua đã khôngngừng củng cố và mở rông với sự tham gia nhiều thành phần kinh tế quốc doanh, tập thể
và tư nhân Thị trường hàng hóa phong phú, đa dạng đáp ứng được yêu cầu sản xuất và đời
Trang 38sống dân cư Tuy nhiên trong những năm tới, cần tiếp tục phát huy có hiệu quả và khôngngừng đầu tư phát triển các loại hình kinh doanh dịch vụ, thương mại nhằm từng bướcnâng cao tỷ trong của ngành trong cơ cấu kinh tế của quận.
Theo số liệu thống kê ngày 31/12/2005
Trong địa bàn quận có nhiều dân tộc sinh sống trong đó người kinh chiếm 89,30%dân số, người Hoa chiếm 10,20% dân số, các dân tộc khác gồm người Chăm, Khơmer, Tày,Nùng, Mường…chiếm 2,3% dân số
Phân bố tập trung ở phường Tân Định (28.778 nhân khẩu), Nguyễn Cư Trinh(28.006 nhân khẩu), ít nhất ở phường cầu Ông Lãnh( 13.277 nhân khẩu)
Mật độ bình quân 25.880 người/km2, song lại có sự phân bố không đều trong 10phường và có sự chênh lệch khá lớn giữa các khu vực, cao nhất là phường Cầu Ông Lãnh57.676 người/km2, thấp nhất là phường Bến Nghé 7.522 người/km2
Bảng 2.6 Dân số và mật độ dân số quận 1 năm 2005 STT Đơn vị hành chính Dân số đến 31/12/2005
( người)
Mật dộ dân năm 2005
Trang 39Tỉ lệ gia tăng tự nhiên 0.32 0.76 0.68 1 1.38 0.83
*Lao động việc làm và thu nhập:
Cơ cấu dân cư của quận 1 chuyển dịch theo hướng phù hợp với đặc điểm phù hợpvới 1 quận trung tâm của thành phố Nguồn lao động tăng nhanh là một trong những thuậnlợi để phát triển kinh tế xã hội của quận
Bảng 2.8 Thống kê số người trong độ tuổi lao động quận 1 năm 2005
Số lượng
Tỷ lệ so toàn quận
1 Tổng dân số 200.052 100%
2
Số người trong tuổi lao động 124.031 62%
Quận 1 có hơn 85% dân số có độ tuổi dưới 50 trở xuống Dân số trong độ tuổi laođộng tập trung phần lớn ở những phường có dân số đông như: Tân Định, Nguyễn Cư trinh,
Cô Giang Lực lượng lao động của quận 1 khá dồi dào, đặc biệt là lao động có trình độ
Trang 40chuyên môn đủ sức tiếp thu những tiến bộ khoa học kỹ thuật và trình độ quản lý của cácnước tiên tiến trên thế giới cũng như trong khu vực.
Trong những năm qua, cùng với sự phát triển kinh tế, đời sống của đại bộ phậnnhân dân trong quận 1 không ngừng được cải thiện và nâng cao Tỷ lệ hộ gia đình có xegắn máy tăng từ 86,30% năm 2000 lên 88,02% năm 2004…Trên địa bàn quận cơ bảnkhông còn hộ nghèo
* Y tế:
Các hoạt động về y tế, chăm sóc sức khỏe cộng đồng tiến triển khá tốt Hệ thốngmạng lưới y tế trên địa bàn quận 1 quản lý hiện có: trung tâm y tế quận, phòng khám đakhoa Trần Hưng Đạo, phòng khám đa khoa Cao bá Nhạ, phòng tham vấn sức khỏe cộngđồng, và các trạm y tế ở các phường Ngoài ra trên địa bàn quận 1 có bệnh viện Nhi Đồng
2, bệnh viện phụ sản Từ Dũ, bệnh viện Sài Gòn, bệnh viện RHM, bệnh viện phụ sản quốc
tế, 4 phòng khám đa khoa và RMM tập thể, 459 cơ sở y tế tư nhân có khối lượng khám vàchữa bệnh rất lớn Điều này kéo theo lượng người đến quận có nhu cầu giao thông tĩnhcao
* Văn hóa:
Cảnh quan quận 1 đa dạng và phong phú, là nơi tập trung nhiều danh lam thắngcảnh, những di tích lịch sử nổi tiếng cũng như những công trình kiến trúc tồn tại hàng trămnăm Về cơ sở vật chất trên địa bàn quận hiện có 7 công viên, 10 công trình kiến trúc thờ
tự như: Đình Nhơn Hòa, Đình Nam Chơn, Đền Trần Hưng Đạo…Tiêu biểu là những côngtrình mang phong cách Châu Âu: Nhà thờ Đức Bà, Dinh Thống Nhất, Trụ sở UBND ThànhPhố, Trụ sở UBND quận 1…Nhiều công trình đã được bộ văn hóa thông tin và Sở văn hóaxếp hạng Bên cạnh đó trên địa bàn quận 1 còn có các nhà bảo tàng, trung tâm, văn hóa,rạp chiếu phim, các bia truyền thống Nhìn chung với những cơ sở văn hóa hiện có đã đápứng phần nào nhu cầu sinh hoạt văn hóa của nhân dân Và đây là tiềm năng lớn để pháthuy văn hóa vừa hiện đại vừa đậm đà bản sắc dân tộc
Khi thương mại dịch vụ càng phát triển thì kéo theo nhu cầu giao thông tĩnh, nhucầu đi lại buôn bán, mua sắm ngày một cao và xây dựng các bãi đỗ xe là một yêu cầu cấpthiết Khi quỹ đất ngày một có hạn thì việc bố trí các công trình ngầm càng trở nên hết sứccần thiết
Vấn đề xã hội, mật độ dân số có sự chênh lệch giữa các phường gây khó khăn trongviệc bố trí dân cư, đầu tư cơ sở hạ tầng, nên việc quy hoạch các khu vực giao thông tĩnh,các bãi đỗ theo nhu cầu là một vấn đề không đơn giản Khi đã có một hệ htống cơ sở hạtầng hoàn chỉnh thì ắt hẳn trong tương lai không xa quận 1 sẽ vững mạnh hơn là nét đẹpbền vững của thành phố