1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Học thuyết mác – lênin và tư tưởng hồ chí minh về đảng và xây dựng đảng

19 582 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 105 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

PHẦN MỘT: MỞ ĐẦU Lịch sử phong trào cộng sản và công nhân quốc tế đã đi qua nhưng những gì mà nó để lại thì vẫn còn mãi với thời gian, đó là một minh chứng sống động cho lịch sử thế giới. Qua lịch sử phong trào cộng sản và công nhân quốc tế chúng ta đã học được nhiều bài học quý giá, không chỉ là những bài học về phương pháp đấu tranh mà qua đó chúng ta còn học được tinh thần đấu tranh quả cảm của các chiến sĩ, sự đấu tranh anh dũng của nhân dân thế giới. Trong các thời kỳ phát triển khác nhau của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế đã xuất hiện nhiều khuynh hướng cơ hội. Sự xuất hiện của chủ nghĩa cơ hội gây ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển của phong trào. Chừng nào còn tồn tại cuộc đấu tranh đó thì vẫn còn cơ sở cho sự xuất hiện khuynh hướng này hay khuynh hướng khác của chủ nghĩa cơ hội. Vì vậy, việc chống chủ nghĩa cơ hội là việc làm hết sức cần thiết và quan trọng. Chính vì thấy rõ được tầm quan trọng đó mà Mác Ănghen trong quá trình hoạt động của mình đã luôn ra sức đấu tranh chống lại chủ nghĩa cơ hội, chống lại những thủ đoạn của các thế lực chống đối. Đặc biệt là trong giai đoạn 1847 – 1895, những đóng góp lớn lao của hai ông trong giai đoạn này đã đem lại những hiệu quả cực kỳ quan trọng, góp phần vào thành công của phong trào, cổ vũ tinh thần chiến đấu của giai cấp công nhân giai đoạn đó. Để tìm hiểu rõ hơn về cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa cơ hội của Mác và Ănghen trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế giai đoạn 1847 – 1895. Trong bài tiểu luận về chủ đề trên , Em xin được đề cập đến những nội dung quan trọng và chủ yếu nhất về cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa cơ hội trong lịch sử phong trào cộng sản và công nhân quốc tế giai đoạn MácĂngghen, 1847 1895.

Trang 1

Phần một: mở đầu

Lịch sử phong trào cộng sản và công nhân quốc tế đã đi qua nhng những gì mà nó để lại thì vẫn còn mãi với thời gian, đó là một minh chứng sống

động cho lịch sử thế giới Qua lịch sử phong trào cộng sản và công nhân quốc tế chúng ta đã học đợc nhiều bài học quý giá, không chỉ là những bài học về phơng pháp đấu tranh mà qua đó chúng ta còn học đợc tinh thần đấu tranh quả cảm của các chiến sĩ, sự đấu tranh anh dũng của nhân dân thế giới Trong các thời kỳ phát triển khác nhau của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế đã xuất hiện nhiều khuynh hớng cơ hội Sự xuất hiện của chủ nghĩa cơ hội gây ảnh hởng không nhỏ đến sự phát triển của phong trào Chừng nào còn tồn tại cuộc đấu tranh đó thì vẫn còn cơ sở cho sự xuất hiện khuynh hớng này hay khuynh hớng khác của chủ nghĩa cơ hội Vì vậy, việc chống chủ nghĩa cơ hội là việc làm hết sức cần thiết và quan trọng Chính vì thấy rõ đợc tầm quan trọng đó mà Mác - Ănghen trong quá trình hoạt động của mình đã luôn ra sức đấu tranh chống lại chủ nghĩa cơ hội, chống lại những thủ đoạn của các thế lực chống đối Đặc biệt là trong giai đoạn 1847 – 1895, những đóng góp lớn lao của hai ông trong giai đoạn này đã đem lại những hiệu quả cực kỳ quan trọng, góp phần vào thành công của phong trào,

cổ vũ tinh thần chiến đấu của giai cấp công nhân giai đoạn đó

Để tìm hiểu rõ hơn về cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa cơ hội của Mác

và Ănghen trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế giai đoạn 1847 – 1895 Trong bài tiểu luận về chủ đề trên , Em xin đợc đề cập đến những nội dung quan trọng và chủ yếu nhất về cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa cơ hội trong lịch sử phong trào cộng sản và công nhân quốc tế giai đoạn

Mác-Ăngghen, 1847- 1895

Phần hai: nội dung

Chơng I Những vấn đề lý luận về chủ nghĩa cơ hội và chủ nghĩa cơ hội trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế giai đoạn 1847 – 1895.

1.Khái niệm chủ nghĩa cơ hội và nguồn gốc của chủ nghĩa cơ hội 1.1 Khái niệm chủ nghĩa cơ hội.

Trang 2

Trong thời kỳ 1847 – 1895, Mác và Ănghen đã liên tục phải tiến hành cuộc đấu tranh chống lại nhiều trào lu chủ nghĩa cơ hội trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế nhng các ông cha đa ra một quan niệm hoàn thiện về chủ nghĩa cơ hội, mà chỉ qua kinh nghiệm của cuộc đấu tranh đó để

đi đến kết luận về chủ nghĩa cơ hội là: “Vì những lợi ích nhất thời hàng ngày mà quên đi những quan điểm chủ yếu lớn, chạy theo những thành công chốc lát và đấu tranh cho những thành công chốc lát mà không tính

đến hậu quả về sau, hy sinh tơng lai của phong trào vì hiện tại (Mác -” (Mác

-Ănghen,T25, tr346)

Sau Mác và Ănghen, V.I.Lênin đa ra khái niệm khá hoàn chỉnh nh sau:

“Chủ nghĩa cơ hội là ở chỗ hy sinh những lợi ích căn bản để có đợc những lợi ích cục bộ và tạm thời Nội dung chính là ở đó, nếu ta muốn cho chủ nghĩa cơ hội một định nghĩa có tính chất lý luận ” (Mác - (Lênin ,T39,

tr70)

Qua đó có thể thấy, chủ nghĩa cơ hội là một hiện tợng nảy sinh trong cuộc đấu tranh giữa giai cấp vô sản với giai cấp t sản, giữa chủ nghĩa xã hội

và chủ nghĩa t bản, đó là việc làm cho chính trị và t tởng của phong trào công nhân thích nghi với lợi ích và nhu cầu của các giai tầng phi vô sản, đem lợi ích của một bộ phận công nhân thích ứng với những biến đổi nhất thời, trớc mắt mà hy sinh lợi ích cơ bản, có tính chiến lợc của giai cấp công nhân

1.2 Nguồn gốc của chủ nghĩa cơ hội.

Thứ nhất, nguồn gốc giai cấp: Trong quá trình phát triển của mình, phong trào công nhân đã thu hút những lớp “tân binh mới” (Mác -, đó là những ngời xuất thân từ các giai tầng phi vô sản mà chủ yếu chính là tầng lớp tiểu t sản – lực lợng của nền sản xuất nhỏ, nền sản xuất mà hàng ngày hàng giờ có xu hớng

tự phát theo khuynh hớng t bản chủ nghĩa, sẵn sàng tiếp tay cho giai cấp t sản chống lại giai cấp vô sản khi lợi ích của họ bị đe doạ, còn khi rủi ro họ lại đứng vào hàng ngũ Đảng tiên phong Điều đó tất yếu đưa họ đến với chủ nghĩa cải lơng, xét lại và cơ hội

Thứ hai, nguồn gốc kinh tế: Theo Ănghen, việc một bộ phận giai cấp công nhân tham gia vào sự thống trị về kinh tế thị trờng của giai cấp t sản, sự

“bám đuổi giai cấp t sản” (Mác - trong việc sử dụng về kinh tế địa vị độc quyền đó

l việc tham gia vào hà việc tham gia vào h ởng lợi nhuận của nó làm cho một bộ phận công nhân

Trang 3

tự bắt mình lệ thuộc về kinh tế vào giai cấp t sản và làm tay sai cho chúng trong phong trào công nhân Những phần tử cơ hội chỉ nhìn thấy điểm tiến bộ của chủ nghĩa t bản mà không nhận thức đợc rằng đến một trình độ phát triển nào đó thì chính chủ nghĩa t bản sẽ làm trở ngại cho sự phát triển của lực l-ợng sản xuất

Thứ ba, nguồn gốc chính trị – t t ởng: Sự đàn áp dã man của giai cấp t sản đối với phong trào công nhân, đặc biệt là đạo luật chống những ngời xã hội chủ nghĩa của các chính phủ t sản cuối thế kỷ XIX làm cho những kẻ kém ý chí, bạc nhợc, run sợ, quỳ gối xin tha thứ và tình nguyện làm tay sai cho giai cấp t sản để “lập công chuộc tội” (Mác -

2 Bản chất và đặc trng của chủ nghĩa cơ hội.

2.1 Bản chất của chủ nghĩa cơ hội.

Chủ nghĩa cơ hội đã chống lại việc đấu tranh giành tự do chính trị cho giai cấp vô sản, chống lại việc giành chính quyền bằng phơng pháp đấu tranh cách mạng triệt để V.I.Lênin đã khẳng đinh rằng tất cả những luận điệu này của chủ nghĩa cơ hội là sự xuyên tạc, bóp méo, phản bội lại chủ nghĩa Mác,

là sự phủ nhận chân lý đã đợc nêu ra trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng Sản:

“Bất cứ cuộc đấu tranh nào cũng là đấu tranh chính trị, phong trào công nhân chỉ trở thành phong trào có tính chất giai cấp khi nào nó chuyển sang đấu tranh chính trị” (Mác -.(Mác-Ănghen,T16, tr394)

Các nhà kinh điển Macxit chỉ ra rằng, những biểu hiện cụ thể của chủ nghĩa cơ hội rất đa dạng, phong phú, thay đổi theo những điều kiện kinh tế – xã hội, lịch sử ; nhng về bản chất thì chủ nghĩa cơ hội ở đâu cũng giống

nhau Đó là “Sự hy sinh lợi ích căn bản của quần chúng cho lợi ích tạm thời của một số hết sức ít ỏi công nhân, nói cách khác, tức là sự liên minh của một bộ phận công nhân với giai cấp t sản để chống lại quần chúng vô sản ( ” (Mác - T37,tr307-308) Để “chứng minh” (Mác - cho bản chất của mình, bọn chủ

nghĩa cơ hội đã cắt xén chủ nghĩa Mác cho phù hợp với lợi ích của giai cấp t

sản, núp dới chiêu bài bảo vệ, phát triển chủ nghĩa Mác mà thực chất là Ôm

hôn chủ nghĩa Mác để bóp chết chủ nghĩa Mác” (Mác -(Lênin,T37,tr208)

2.2 Đặc trng của chủ nghĩa cơ hội.

Đặc trng của chủ nghĩa cơ hội thể hiện trên một số nội dung sau: Những ngời chủ nghĩa cơ hội đã đa ra những luận điểm coi thờng: “Giai cấp

Trang 4

công nhân không thể tự giải phóng mình đợc Muốn đạt đợc mục đích đó, giai cấp công nhân phải tự đặt mình dới sự lãnh đạo của giai cấp t sản “có học và có của” (Mác -, vì chỉ có bọn này mới có “thì giờ và cơ hội” (Mác - nghiên cứu những điều “có lợi cho công nhân” (Mác -, và vì thế mà họ khuyên giai cấp công nhân “không nên đấu tranh với giai cấp t sản dới bất cứ hình thức nào, mà phải tranh thủ họ bằng sự tuyên truyền mạnh mẽ” (Mác - Đến khi nhận ra rằng đấu tranh giai cấp là một tất yếu khách quan không thể phủ nhận đợc thì những ngời chủ nghĩa cơ hội buộc phải nói đến đấu tranh giai cấp

Bớc đầu của con đờng đúng đắn mà phong trào công nhân phải đi tới thành lập là một chính Đảng công nhân với tính cách là lực lợng chính trị

độc lập của giai cấp công nhân đối lập với những lực lợng chính trị của giai cấp t sản Những phần tử chủ nghĩa cơ hội đã tìm mọi cách ngăn cản, làm cho phong trào đi chệch khỏi con đờng này Từ đó họ đòi chuyển quyền lãnh

đạo vào tay những phần tử t sản Mác - Ănghen đã cảnh báo, Nếu nh trong chừng mực nào đó, sự lãnh đạo của Đảng rơi vào tay những ngời ấy thì

Đảng sẽ mất sinh lực ngay và sẽ không còn năng lực vô sản nữa (Mác-” (Mác

-Ănghen,T22,tr254-255)

3 Các phái cơ hội chủ yếu trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế giai đoan 1847 1895

3.1 Chủ nghĩa Pru-đông.

Chủ nghĩa Pru-đông là chủ nghĩa cải lơng và trào lu vô chính phủ lu hành trong phong trào công nhân Pháp từ những năm 40 đến những năm 90 thế kỷ XIX Nhân vật đại biểu của nó là Pie Giôdép Pru-đông (1809 – 1865) Trào lu này tập trung phản ánh tâm lý và yêu cầu của giai cấp tiểu t sản mong muốn thoát khỏi số phận phá sản do sự đả kích của giai cấp t sản Năm 1846, Pru-đông xuất bản cuốn sách với nhan đề: “Hệ thống mâu thuẫn kinh tế” (Mác -, hay “Triết học về sự khốn cùng” (Mác - Pru-đông còn lạm dụng một cách xuyên tạc phép biện chứng của Hêghen trong sự giải thích đảo ngợc đầu

đuôi mối quan hệ giữa sự vật và phạm trù, tuyên truyên cho quan điểm duy tâm về lịch sử

Khi bàn về đấu tranh giai cấp và cách mạng xã hội, chủ nghĩa Pru-đông bộc lộ rõ nhất bản chất chủ nghĩa cơ hội của mình Pru-đông phản đối cuộc

đấu tranh kinh tế của công nhân, chĩa mũi nhọn vào chế độ t bản, coi cuộc

Trang 5

bãi công của công nhân là phi pháp ảnh hởng của chủ nghĩa Pru-đông đã gây trở ngại nghiêm trọng cho sự truyền bá chủ nghĩa xã hội

3.2 Chủ nghĩa Latxan.

Chủ nghĩa Latxan là “chủ nghĩa xã hội vô chính phủ vơng quốc Phổ” (Mác -sinh ra ở nớc Đức những năm 60 thế kỷ XIX

Nhà sáng lập chủ nghĩa Latxan, Phécđinăng Latxan (1825 – 1864) xuất thân trong một gia đình thơng gia giàu có ngời Do thái ở Brêlap, miền Đông nớc Đức Nội dung chủ yếu của chủ nghĩa Latxan có những điểm sau:

Thứ nhất, Latxan đề ra quy luật “quy luật sắt về tiền công” (Mác -, dới chế độ t bản chủ nghĩa, tiền công trung bình của công nhân trớc sau chỉ có thể dừng lại ở mức độ yêu cầu sinh hoạt theo tập quán của nhân dân một nớc để duy trì cuộc sống của bản thân và nuôi dạy con cái

Thứ hai, Latxan tuyên truyền cổ vũ cho quan điểm duy tâm chủ nghĩa về nhà nớc, trông mong nhà nớc để thực hiện công cuộc giải phóng kinh tế của giai cấp công nhân Vì vậy, Latxan gửi gắm hy vọng thực hiện chủ nghĩa cơ hội vào sự giúp đỡ của nhà nớc

Thứ ba, chủ nghĩa Latxan kêu gọi thực hiện chủ nghĩa xã hội thông qua quyền phổ thông đầu phiếu, vì chỉ cần điều đó là có thể biến nhà nớc chuyên chế Phổ thành “nhà nớc tự do” (Mác - T tởng này của Latxan thực tế là cải lơng chủ nghĩa, thoả hiệp và theo đuổi giai cấp t sản, phong kiến

3.3 Chủ nghĩa vô chính phủ Bacunin.

Xuất hiện gần nh đồng thời với chủ nghĩa Latxan vào những năm 60 thế

kỷ XIX là chủ nghĩa vô chính phủ Bacunin Mikhain Alêchxanđrôvich Bacunin (1814 – 1876) từ rất sớm đã tôn thờ triết học cổ điển Đức, chịu ảnh hởng sâu sắc mặt phản động và chủ nghĩa bảo thủ của triết học Hêghen Chủ nghĩa vô chính phủ Bacunin tập trung vào mấy vấn đề cơ bản sau:

Trớc hết, Bacunin cho rằng “cái phủ định triệt để nhất, độc ác nhất và tàn khốc nhất” (Mác - đối với nhân loại là do quyền thừa kế tài sản t hữu t bản chủ nghĩa gây ra, vì quyền thừa kế làm cho tài sản của một giai cấp đợc tích luỹ nhiều, tạo cơ sở kinh tế cho giai cấp t sản bóc lột giai cấp vô sản

Hạt nhân lý luận của chủ nghĩa vô chính phủ Bacunin là chống lại và xoá

bỏ mọi loại nhà nớc Phủ nhận lý luận của chủ nghĩa Mác về nhà nớc chuyên chính vô sản, cho rằng chuyên chính vô sản cũng giống nh bất kỳ kiểu nhà

n-ớc nào

Trang 6

Đặc trng lý luận của chủ nghĩa vô chính phủ Bacunin là chống mọi quyền

uy Cho mọi quyền uy đều là giả dối, ngang ngựơc và cực kỳ có hại

Thực chất, học thuyết của Bacunin là sự pha tạp giữa các t tởng của chủ nghĩa xã hội không tởng, chủ nghĩa vô chính phủ…đ ợc nhào nặn thông quađ thế giới quan của một ngời duy tâm về lịch sử và hiểu biết nông cạn về kinh

tế

3.4 Chủ nghĩa Đuyrinh.

Chủ nghĩa Đuyrinh là thứ lý luận xã hội chủ nghĩa không tuởng của giai cấp tiểu t sản dựa trên cơ sở triết học chiết trung chủ nghĩa và kinh tế tầm th-ờng Nhân vật đại biểu là Oighen Cáclơ Đuyrinh (1833 – 1921) Trong một thời gian ngắn mà đã cho công bố nhiều tác phẩm mở cuộc tấn công vào triết học, kinh tế học và lý luận về chủ nghĩa xã hội của Mác:

Về triết học, Đuyrinh vu cáo lý luận Mác là sự tái bản “phi logic học của Hêghen” (Mác -, rằng Mác đã lợi dụng nó “tạo ra những phép mầu nhiệm biện chứng cho các tín đồ của mình” (Mác -, nhng phép biện chứng đó chẳng qua chỉ là

sự bắt chớc phép biện chứng của Hêghen

Về kinh tế học, công kích khái niệm của Mác về t bản “chỉ là những sản phẩm lai căng của câu chuyện hoang đờng về lịch sử và về logic” (Mác -, “chỉ taọ ra một sự rối rắm trong khoa học chặt chẽ về kinh tế quốc dân” (Mác -

Đuyrinh công kích Mác nhằm mục đích dùng cái gọi là “chân lý cuối cùng, tuyệt đỉnh” (Mác - của ông ta thay thế cho vai trò chỉ đạo của chủ nghĩa Mác trong Đảng công nhân Đức và trong phong trào cộng sản và công nhân quốc

tế Chủ nghĩa Đuyrinh một thời đã gây ảnh hởng xấu đối với phong trào công nhân Đức, gây trở ngại nghiêm trọng cho sự thống nhất về chính trị, t tởng và

tổ chức trong Đảng trên cơ sở chủ nghĩa Mác

4 Tác hại của chủ nghĩa cơ hội đối với phong trào cộng sản và công nhân quốc té giai đoạn 1847 1895.

Tác hại của chủ nghĩa cơ hội đối với phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, Ănghen nói chủ nghĩa cơ hội là “đại hoạ của phong trào” (Mác - Nó cổ vũ thứ “chủ nghĩa” (Mác - mơ hồ, làm tê liệt t tởng của công nhân, “chủ nghĩa” (Mác - đó chủ trơng đòi hỏi những cải lơng và nhợng bộ nhỏ giọt, lấy đó làm mục tiêu của phong trào công nhân

Trang 7

Ănghen cũng chỉ ra rằng, khác với các phái t sản công kích chủ nghĩa Mác một cách trắng trợn, chủ nghĩa cơ hội là t tưởng t sản và tiểu t sản đó

đ-ợc tô son vẽ phấn, những phần tử chủ nghĩa cơ hội núp dới khẩu hiệu ủng hộ chủ nghĩa Mác, dùng phơng pháp xuyên tạc, lén lút sửa đổi và cắt xén, làm cho chủ nghĩa Mác thích hợp với nhu cầu của giai cấp t sản

Tại Anh, phong trào công nhân chịu ảnh hởng nặng nề của chủ nghĩa cơ hội, cha thiết lập được chính Đảng cách mạng của mình, các tổ chức công nhân ra đời còn bó hẹp phạm vi đấu tranh và mục đích đấu tranh của công nhân

Tại Đức, chủ nghĩa cơ hội đã ăn sâu vào trong Đảng, thậm chí nó bắt đầu

đấu tranh công khai chống chủ nghĩa Mác, gây giảm sút nghiêm trọng tinh thần cách mạng trong phong trào công nhân

Tại Pháp, ảnh hởng của chủ nghĩa Pru-đông và những học thuyết tiểu t sản khác đã gây nên sự phân biệt trong Đảng công nhân Pháp

Tại áo, sự phân biệt trong Đảng Dân Chủ – xã hội cũng diễn ra Những

cố gắng nhằm khắc phục tình trạng đó tại các Đại hội đều không đạt

Các nớc khác, ảnh hởng của chủ nghĩa cơ hội trong phong trào công nhân diễn ra tơng tự Vì vậy cần phải đấu tranh chống chủ nghĩa cơ hội

Chơng II.Cuộc đấu tranh của C.Mác Ph.Ănghen chống chủ nghĩa cơ hội giai đoạn 1847 1895 và ý nghĩa của cuộc đấu tranh ấy

đối với phong trào cộng sản và công nhân quốc tế.

1 Chống chủ nghĩa Pru-đông.

Thứ nhất, Mác - Ănghen phê phán mâu thuẫn trong hệ thống kinh tế của Pru-đông và mầm mống của học thuyết giá trị thặng d

Pru-đông khi trình bày “mâu thuẫn kinh tê” (Mác - trong xã hội t bản, đã coi phạm trù kinh tế là “quan niệm” (Mác - hoặc là t tởng hoàn toàn tách rời thực tế Chống lại điều đó, Mác vạch rõ phạm trù kinh tế là biểu hiện lý luận có tính lịch sử về quan hệ sản xuất phù hợp với từng giai đoạn phát triển nhất định

của nền sản xuất vật chất Còn khi bàn về giá trị , C.Mác đã chỉ ra: “Những khái niệm của Pru-đông về cái cơ sở của toàn bộ vấn đề tức là về giá trị trao đổi, vẫn không rõ ràng, không đúng và nửa vời đến chừng nào; chính vì vậy mà ông ta coi sự giải thích một cách không tởng học thuyết giá trị của R icácđô là cơ sở của một khoa học mới” (Mác -.(Mác-Ănghen,T19, tr44)

Trang 8

Thứ hai, Mác phê phán Pru-đông lạm dụng phép biện chứng của Hêghen,

đồng thời trình bày t t ởng cốt lõi của phép biện chứng duy vật

Mác chỉ ra rằng Pru-đông chỉ học đợc ở Hêghen những thuật ngữ của phép biện chứng, cái mà ông ta gọi là vận động biện chứng chẳng qua chỉ là

sự phân ra một cách giáo điều hai mặt tốt xấu mà thôi Chống lại sự xằng bậy

đó, lần đầu tiên Mác đã trình bày cực kỳ sâu sắc thực chất của phép biện chứng duy vật:

Mác trình bày: “Cái cấu thành bản chất của sự vận động biện chứng, chính là sự cùng nhau tồn tại của hai mặt mâu thuẫn, sự đấu tranh giữa hai mặt ấy và sự dung hợp của hai mặt ấy thành một phạm trù mới Chỉ với việc tự đề ra cho mình vấn đề loại bỏ mặt xấu ngời ta cũng đã chặn

đứng sự vận động biện chứng rồi” (Mác -.(Mác-Ănghen,T16, tr191)

Mặt khác, Mác còn phê phán Pru-đông đã vận dụng một cách xuyên tạc phép biện chứng của Hêghen để tuyên truyền cho quan điểm duy tâm về lịch

sử Mác đã đi đến khẳng định: Của cải và lực lợng sản xuất đợc sản sinh

đồng thời với đối kháng giai cấp và trong hai giai cấp đối kháng thì giai cấp tiên tiến, đại biểu cho mặt phủ định, dần dần lớn mạnh lên, cho tới khi điều kiện vật chất cho sự giải phóng của họ trở nên chín muồi

Thứ ba, Mác trình bày những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa xã hội khoa học trên cơ sở lý luận mới, phê phán lý luận cách mạng xã hội của chủ nghĩa Pru-đông

Trong khi phê phán quan niệm duy tâm về lịch sử hay khi phê phán lý luận kinh tế của mình, Mác cũng đều lập luận một cách khoa học học thuyết

đấu tranh giải phóng giai cấp vô sản Đó là sự thống nhất giữa đấu tranh kinh

tế và đấu tranh chính trị nhằm cải thiện điều kiện sinh hoạt vật chất tiến tới giải phóng bản thân, lật đổ nền thống trị của giai cấp t sản Tháng 9/1865, cuộc xung đột quanh vấn đề có đa Balan vào chơng trình nghị sự Đại hội đại biểu lần thứ nhất của Quôc tế I hay không đã phản ánh sự

đối lập gay gắt giữa chủ nghĩa Mác và chủ nghĩa đông Chủ nghĩa

Pru-đông cho rằng, phong trào giải phóng dân tộc của Balan không liên quan gì

đến cách mạng vô sản Ngay cả hoạt động đấu tranh đòi ngày làm việc bình thờng cũng cần phải gạt bỏ ra khỏi phạm vi phong trào công nhân Chống lại

việc đó, Mác đã đề ra lý luận, sách lợc “Thống nhất hành đông quốc tế trong cuộc đấu tranh giữa lao động và t bản” (Mác - Mặt khác Mác nhấn mạnh

Trang 9

tầm quan trọng của việc đấu tranh đòi giới hạn ngày làm việc và cho rằng

nếu không có giới hạn ngày làm việc là điều kiện tiên quyết thì “Mọi cố gắng khác nhằm cải thiện tình cảnh của công nhân và giải phóng họ đều

sẽ không tránh khỏi thất bại” (Mác -.(Mác-Ănghen,T19,tr260)

Cuộc đấu tranh chống lại chủ nghĩa vô chính phủ của Pru-đông kéo dài mấy chục năm, tới khi Công xã Pari thất bại mới triệt để xoá bỏ đợc

2.Chống chủ nghĩa Latxan.

Thứ nhất, phê phán những quan điểm tiểu t sản của Latxan về phân phối

“Cơng lĩnh Gô - ta” (Mác - sao nguyên xi quan điểm của Latxan, trong đó “ lao

động là nguồn của mọi của cải và của mọi văn hoá” (Mác , còn lao động “có ích” (Mác -không tách rời xã hội, cho nên thu nhập do lao động đem lại là “thuộc về tất cả mọi thành viên trong xã hội một cách không bị cắt xén” (Mác -, “theo những quyền ngang nhau” (Mác - Mác cho rằng đó là quan điểm sai lầm, lẩn tránh chế độ

sở hữu t liệu sản xuất, che đậy tình trạng bóc lột giai cấp Mác chỉ ra rằng:

“Lao động không phải là nguồn của mọi của cải Giới tự nhiên, cũng nh lao động, là nguồn của những giá trị sử dụng” (Mác -.(Mác-Ănghen,T22,tr26)

Chẳng những dới chế độ t hữu việc phân phối không thể “không bị cắt xén” (Mác -, mà cả khi chế độ t hữu đã bị xoá bỏ, việc phân phối cũng không thể

“không bị cắt xén” (Mác - Thu nhập lao động là thu nhập có cắt xén, tức là phải khấu trừ các bộ phận tất yếu về kinh tế, nh một phần để bù đắp t liệu sản xuất

đã tiêu dùng, một phần phụ thêm để mở rộng sản xuất, một phần làm quỹ dự trữ hoặc quỹ bảo hiểm đề phòng tai nạn bất ngờ và thiên tai; Sau đó mới có thể tiến hành phân phối cho cá nhân

Thứ hai, phê phán lập tr ờng lẫn lộn ranh giới giai cấp và chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi của chủ nghĩa Latxan

Latxan từng nói, đối diện với giai cấp công nhân, tất cả các giai cấp khác chỉ là hợp thành một khối phản động Mác chỉ ra rằng, điều đó đã xuyên tạc

luận điểm “Trong tất cả các giai cấp đối lập với giai cấp t sản, thì chỉ có giai cấp vô sản là thực sự cách mạng ” (Mác - đợc trình bày trong Tuyên ngôn của

Đảng Cộng Sản (1847) Dựa vào những kinh nghiệm đấu tranh của Đảng công nhân Đức, Mác đã chỉ rất rõ ràng và chính xác rằng, các đẳng cấp trung gian, đặc biệt là quảng đại quần chúng nông dân vào “một khối phản động” (Mác -,

“chỉ là để biện hộ cho sự liên minh của ông ta với những kẻ thù chuyên chế

và phong kiến

Trang 10

Mác phê phán Cơng lĩnh Gô - ta đã theo đuổi Latxan, nhìn nhận phong trào công nhân theo quan điểm dân tộc hẹp hòi, đóng khung hoạt động và phạm vi hoạt động của giai cấp công nhân trong khuôn khổ nớc mình

Thứ ba, phê phán quy luật sắt về tiền công của Latxan

Trong cơng lĩnh Gô - ta đã cố nhét cái “lý luận sắt về tiền công” (Mác - của Latxan vào cơng lĩnh Vì thế, Mác chỉ ra rằng, cái quy luật này của Latxan quy nguyên nhân nghèo khổ của giai cấp vô sản là do sự tăng dân số tự nhiên Chỉ rõ tác hại đó do Latxan nêu ra , Mác và Ănghen khẳng định, cuộc

đấu tranh đòi tăng tiền công của giai cấp công nhân không những bảo vệ lợi ích thiết thân của họ mà còn là bộ phận hợp thành tất yếu của cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân chống lại các nhà t bản Đồng thời cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân không chỉ dừng lại ở đấu tranh hàng ngày đòi tăng tiền công mà còn phải tiến xa hơn, kết hợp cuộc đấu tranh đó với cuộc đấu tranh chống toàn bộ chế độ t bản chủ nghĩa Và Mác yêu cầu giai cấp công

nhân rằng: “Thay cho khẩu hiệu ” (Mác -Tiền công công bằng cho một ngày lao

động công bằng! , ” (Mác - họ phải viết lên lá cờ của mình khẩu hiệu cách mạng:

“Xoá bỏ chế độ lao động làm thuê! (Mác-Ănghen,T19,tr207)” (Mác

-Thứ t , phê phán luận điệu nhảm nhí mà chủ nghĩa Latxan cổ suý về nhà n

ớc tự do dựa theo quan điểm dựa theo quan điểm siêu giai cấp của Latxan Thực chất, lý luận của chủ nghĩa Latxan về phong trào công nhân là đề x-ớng một thứ “chủ nghĩa xã hội của chính phủ vơng quốc Phổ” (Mác - Mác chỉ ra

rằng, xây dựng “nhà nớc tự do” (Mác - là khẩu hiệu của giai cấp t sản “Quyết không phải là mục đích của những ngời công nhân đã thoát khỏi cái cách suy nghĩ hạn chế của những thần dân” (Mác -(Mác-Ănghen,T28,tr46) Mục đích của

cách mạng vô sản là nhằm xoá bỏ bóc lột, xoá bỏ giai cấp, thực hiện chủ nghĩa cộng sản, không phải để biến nhà nớc thành “nhà nớc tự do” (Mác - mà giai cấp vô sản muốn giành lấy tự do thì phải lật ách thống trị của giai cấp bóc lột, giành lấy chính quyền nhà nớc

Ănghen cũng chỉ ra rằng “nhà nớc tự do” (Mác - hoàn toàn là một khái niệm đầy mâu thuẫn Tự do và nhà nớc không thể gắn với nhau làm một đợc Cho nên

“toàn bộ chủ nghĩa xã hội của Latxan là thoá mạ các nhà t bản và phỉnh nịnh bọn địa chủ quý tộc Phổ hủ lậu ” (Mác -

3.Chống chủ nghĩa vô chính phủ Bacunin.

Ngày đăng: 27/04/2017, 12:40

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w