Trần Thị Minh Nguyệt em đã thực hiện đề tài: : “Nghiên cứu văn hóa đọc của sinh viên tại Trung tâm Thông tin – Thư viện Học viện Ngân hang” Để hoàn thành khóa luận này em xin chân thành
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN, ĐHQGHN
KHOA THÔNG TIN – THƯ VIỆN
-NGUYỄN NHƯ TRANG
NGHIÊN CỨU VĂN HOÁ ĐỌC CỦA SINH VIÊN TẠI TRUNG TÂM THÔNG
TIN THÔNG TIN – THƯ VIỆN HỌC VIỆN NGÂN HÀNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH THÔNG TIN – THƯ VIỆN
Hệ đào tạo: Chính quy Khóa học: QH-2011-X
HÀ NỘI, 2015
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN, ĐHQGHN
KHOA THÔNG TIN – THƯ VIỆN
-NGUYỄN NHƯ TRANG
NGHIÊN CỨU VĂN HOÁ ĐỌC CỦA SINH VIÊN TẠI TRUNG TÂM THÔNG
TIN THÔNG TIN – THƯ VIỆN HỌC VIỆN NGÂN HÀNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH THÔNG TIN – THƯ VIỆN
Hệ đào tạo: Chính quy Khóa học: QH-2011-X
Người hướng dẫn: PGS.TS Trần Thị Minh Nguyệt
Cơ quan công tác: Đại Học Văn Hoá Hà Nội
HÀ NỘI, 2015
Trang 3LỜI CẢM ƠN
***
Được sự phân công của khoa thư viện thông tin Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn và sự đồng ý của Cô giáo hướng dẫn
PGS.TS Trần Thị Minh Nguyệt em đã thực hiện đề tài: : “Nghiên cứu văn
hóa đọc của sinh viên tại Trung tâm Thông tin – Thư viện Học viện Ngân hang”
Để hoàn thành khóa luận này em xin chân thành cảm ơn các thầy côgiáo đã tận tình hướng dẫn, giảng dạy, trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và rèn luyện ở Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
Qua đây cho em xin chân thành cảm ơn sự quan tâm, giúp đỡ xủa các thầy, cô giáo, Ban lãnh đạo Thư viện Học viện Ngân Hàng Đặc biệt
em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới PGS.TS Trần Thị Minh Nguyệt – người
đã tận tình chỉ bảo và hướng dẫn em hoàn thành Khóa luận tốt nghiệp này
Mặc dù đã có nhiều cố gắng để thực hiện đề tài một cách hoàn chỉnhnhất nhưng khóa luận không tránh khỏi nhiều thiếu sót nhất định do khả năng, trình độ còn hạn chế và bản thân chưa nhận thấy được nên Khóa luậncòn nhiều khiếm khuyết Em kính mong được sự đóng góp của các thầy cô
và các bạn sinh viên để khóa luận của em hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 23 tháng 5 năm 2015
Sinh viên
Nguyễn Như Trang
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
1, Tính cấp thiết của đề tài
2, Mục tiêu nghiên cứu
3, Câu hỏi nghiên cứu
4, Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
5, Phương pháp nghiên cứu
6 Giả thuyết nghiên cứu khoa học
7, Bố cục của Niên luận
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: THƯ VIỆN HỌC VIỆN NGÂN HÀNG VỚI PHÁT TRIỂN VĂN HÓA ĐỌC CHO SINH VIÊN
I.1 Khái quát về Thư viện Học viện Ngân hàng
I.1.1 Chức năng – nhiệm vụI.1.1 Cơ cấu tổ chức – Đội ngũ cán bộI.1.2 Cơ sở vật chất
I.1.3 Đặc điểm nguồn lực thông tin và người dùng tin
I.2 Những vấn đề chung về Văn hóa đọc
I.2.1Khái niệm Văn hóa đọcI.2.2Các yếu tố cấu thành văn hóa đọcI.2.3 Các yếu tố ảnh hưởng tới văn hóa đọc
I.3 Vai trò của Văn hóa đọc đối với sinh viên Học viện Ngân hàng
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VĂN HÓA ĐỌC CỦA SINH VIÊN TẠI HỌC VIỆN NGÂN HÀNG
Trang 52.1 Nhu cầu đọc của sinh viên
2.1.1 Nhu cầu về nội dung tài liệu
2.1.2 Nhu cầu về hình thức tài liệu
2.1.3 Nhu cầu về ngôn ngữ tài liệu
2.2 Kỹ năng đọc của sinh viên
2.2.1 Kỹ năng đọc hiểu tài liệu
2.2.2 Kỹ năng vận dụng tri thức trong tài liệu vào học tập
2.3 Thái độ ứng xử với tài liệu của sinh viên
2.4 Đánh giá chung về thực trạng văn hóa đọc của sinh viên Học viện Ngân hàng
3.1 Tăng cường hoạt động Thông tin – thư viện
3.2 Cải tiến phương pháp giảng dạy và học tập
3.3 Giáo dục ý thức đọc tài liệu cho sinh viên
3.4 Các giải pháp khác
KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC 1 MẤU PHIẾU ĐIỀU TRA SINH VIÊN
PHỤ LỤC 2 KẾT QUẢ KHẢO SÁT PHIẾU ĐIỀU TRA SV
Trang 6Biểu đồ 1: Nội dung và mức độ sử dụng tài liệu của sinh viên
Biểu đồ 2 : Mục đích sử dụng thư viện của sinh viên
Biểu đồ 3: Thể hiện hoạt động của Sinh viên ngoài giờ lên lớp
Biểu đồ 4:Cách thức đọc của sinh viên
Biểu đồ 5: Thái độ ứng xử với sách báo của SV
DANH MỤC CÁC BẢNG
1 Bảng 1 loại tài liệu sinh viên thường đọc
2 Bảng 2 Thời gian sinh viên dành để đọc tài liệu mỗi ngày
3 Bảng 3 Yêu cầu đọc tài liệu chuyên ngành của thầy (cô) với sinh viên
4 Bảng 4 Loại tài liệu nào thầy (cô) đè nghị sinh viên đọc
5 Bảng 5 Mức độ đọc tài liệu thầy (cô) giao cho
6 Bảng 6: Loại hình tài liệu và mức độ sử dụng của sinh viên.
7 Bảng 7 Hoạt động của sinh viên ngoài thời gian học trên lớp
8 Bảng 8: Về thói quen đối xử với tài liệu của sinh viên
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Văn hóa đọc có vị trí quan trọng trong cuộc sống của con người Hiệnnay, các phương tiện nghe nhìn tỏ ra có nhiều ưu thế hơn, hấp dẫn hơn sovới sách, và thực tế chúng đang có xu hướng cạnh tranh lấn át văn hóa đọc.Song văn hoá đọc bao giờ cũng đóng vai trò chủ đạo trong việc truyền bá
và tiếp thu tri thức một cách hệ thống và sâu sắc mà văn hoá nghe, nhìn(vốn có thế mạnh trong việc cung cấp thông tin và giải trí) không thể làmđược
Đọc sách vẫn luôn được khẳng định là một nhu cầu thiết yếu vớinhững thế mạnh riêng của chính nó, một cách thưởng thức văn hóa sangtrọng và có chiều sâu; là phương cách tốt nhất để làm giàu có vốn liếngngôn từ của con người Những thuộc tính đi liền với việc đọc là suy nghĩ,suy ngẫm, tra cứu, tìm tòi, đòi hỏi sự kiên trì và say mê Khi đọc sách, trựcquan sẽ cảm nhận sâu sắc hơn, kiến thức đọng lại sẽ lâu hơn, là cơ sở hữuích cho việc nâng cao tri thức, hiểu biết, tạo dựng những vỉa tầng sâu sắctrong toàn bộ hệ thống kiến thức, nhận thức của mỗi con người
Ngày nay, sự bùng nổ công nghệ thông tin đã tác động lớn đến giớitrẻ, sự phát triển nhanh chóng và mạnh mẽ của công nghệ thông tin vàtruyền thông đã tác động sâu sắc đến sự phát triển của nhân loại, dẫn đếnhình thành nền kinh tế tri thức Tích cực có nhiều mặt, nhưng tiêu cựccũng không ít Một trong những vấn để đáng suy nghĩ là văn hóa đọc sáchcủa giới trẻ hiện nay.Thông tin chiếm một vị trí ngày càng quan trọng vàkhông thể thay thế trong mọi lĩnh vực kinh tế xã hội Vì lẽ đó, việc tìmkiếm, đọc hiểu thông tin để tích lũy kiến thức là rất cần thiết Ngày nay,con người đã và đang khai thác, sử dụng mạnh mẽ hơn nguồn tài nguyênđiện tử Tuy nhiên vấn đề này lại dẫn đến một thực tế là tình trạng lười đọc
Trang 8sách đang diễn ra ở mọi cấp độ, mọi lứa tuổi, văn hóa đọc ngày càng giảmkhông chỉ với đọc sách, báo, tài liệu truyền thống mà còn trên các phươngtiện truyền thông hiện đại Hiện nay, văn hóa đọc đang dần bị mai mộtnhất là trong giới trẻ hay là các sinh viên trong các trường đại học, cụ thể
là sinh viên Học viện Ngân hàng Dường như các bạn sinh viên đang bịvăn hóa nghe nhìn, các phương tiện truyền thông hiện đại chi phối và ảnhhưởng rất nhiều đến văn hóa đọc
Văn hóa đọc từ lâu đã trở thành yếu tố không thể thiếu trong sựphát triển vượt bậc của các nước phát triển Nhà báo Hà Sơn Tùng chorằng “Đọc sách là biểu tượng của con người có văn hóa và văn minh Một
xã hội chưa trọng thị sách là một xã hội chưa văn minh; một con ngườichưa có thú đọc sách thì con người đó đã khiếm khuyết đi một mảng lớn
về văn hóa” Tuy nhiên, ngày nay với sự phát triển nhanh chóng của côngnghệ thông tin và truyền thông mà đặc biệt là sự lấn át của các phương tiệnnghe nhìn, văn hóa đọc đang đứng trước cả cơ hội và thách thức Cơ hộibởi mỗi người đều được tiếp cận với một khối lượng tri thức khổng lồ quacác phương tiện truyền thông khác nhau nhưng nó lại tiềm ẩn một nguy cơlàm mai một thói quen đọc
Việc phát triển “Văn hóa đọc” đang là một hoạt động cầnthiết hiện nay mà hầu hết các thư viện đều hướng tới nhằm giúp bạnđọc có thể tiếp nhận thông tin một cách hiệu quả và nắm bắt tri thứcchính xác nhất “Văn hóa đọc” đã trở thành một nét đẹp văn hóa tâmhồn của toàn nhân loại, có thể nói đây là một vấn đề thu hút sự quantâm của đông đảo tầng lớp nhân dân cũng như những độc giả yêu
“Đọc”
Chính vì lẽ đó, tác giả đã chọn đề tài “ Nghiên cứu văn hóa đọc của sinh viên tại Trung tâm Thông tin – Thư viện Học viện Ngân hàng.” Qua đó, tác giả muốn mọi người thấy được thực trạng
văn hóa đọc trong mọi đối tượng bạn đọc nói chung và tầng lớp sinh
Trang 9viên nói riêng Đồng thời giúp nâng cao trình độ văn hóa của sinh viênnhằm thúc đẩy quá trình tự đào tạo ngày càng trở nên có hiệu quả và cóthể đưa ra một vài giải pháp để cho những bạn sinh viên – những chủnhân tương lai của đất nước thấy được tầm quan trọng của văn hóa đọc
và có cái nhìn đúng đắn về văn hóa đọc
2, Mục tiêu nghiên cứu
- Nghiên cứu tìm hiểu văn hóa đọc và vai trò của văn hóa đọc vớiviệc nâng cao chất lượng quá trình tự học, tự đọc của sinh viên
- Nắm bắt thực trạng văn hóa đọc của sinh viên tại Trung tâm
tt-tv Trường học viện Ngân hàng
- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao và thúc đẩy vai trò củavăn hóa đọc trong sinh viên
3, Câu hỏi nghiên cứu
- Thực trạng văn hóa đọc của sinh viên hiện nay trước sự pháttriển của văn hóa nghe nhìn?
- Làm thế nào để phát triển văn hóa đọc cho sinh viên?
4, Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Sinh viên là độc giả của Thư viện Họcviện Ngân hàng trong giai đoạn hiện nay
- Phạm vi nghiên cứu: Giới hạn trong phạm vi nghiên cứu vănhóa đọc của sinh viên, ngoài ra sử dụng các nguồn số liệu khác liênquan về văn hóa đọc
5, Phương pháp nghiên cứu
- Khảo sát thực tế
- Phân tích và tổng hợp tài liệu
- Phương pháp quan sát trực tiếp; phỏng vấn trực tiếp
- Phương pháp điều tra và thống kê bằng bảng hỏi
Trang 10- Phương pháp thống kê số liệu.
6, Giả thuyết nghiên cứu khoa học
Ngày nay khi sách báo viết cho lứa tuổi sinh viên ngày càng pháttriển, bên cạnh những cuốn sách tốt vẫn còn nhiều cuốn kém chất lượng,ảnh hưởng tiêu cực tới sự hình thành và phát triển văn hóa đọc cho sinhviên HVNH Nếu có sự phối hợp để định hướng, giáo dục của các thư viện,nhà trường, gia đình và các tổ chức xã hội xã hội, văn hóa đọc của sinhviên sẽ phát triển hài hòa và lành mạnh
Trang 11NỘI DUNG CHƯƠNG 1 THƯ VIỆN HỌC VIỆN NGÂN HÀNG VỚI PHÁT TRIỂN VĂN HÓA ĐỌC CHO SINH VIÊN 1.1 Khái quát về Thư viện Học viện Ngân hàng
Trung tâm Thông tin - Thư viện là đơn vị quản lý hành chính cơ
sở của Học viện Ngân hàng có chức năng phục vụ hoạt động giảng dạy,học tập, đào tạo, nghiên cứu khoa học, triển khai ứng dụng tiến bộ khoahọc, công nghệ và quản lý của Học viện thông qua việc sử dụng, khai tháccác loại hình tài liệu trong thư viện và các nguồn thông tin khác
Với nhiệm vụ chính là: - Tham mưu giúp Giám đốc Học viện xây dựng
quy hoạch, kế hoạch hoạt động dài hạn và ngắn hạn của thư viện; tổ chứcđiều phối toàn bộ hệ thống thông tin, thư viện trong Học viện
- Bổ sung, phát triển nguồn thông tin trong nước và nước ngoài đáp ứngnhu cầu giảng dạy, học tập, nghiên cứu khoa học và chuyển giao côngnghệ của Học viện; Thu nhận các tài liệu do Học viện xuất bản, các côngtrình nghiên cứu khoa học đã được nghiệm thu, tài liệu hội thảo, khoá luận,luận văn thạc sỹ, luận án tiến sỹ của cán bộ, giảng viên, sinh viên, họcviên, chương trình đào tạo, giáo trình, các ấn phẩm tài trợ, biếu tặng, tàiliệu trao đổi giữa các thư viện
Trang 12- Tổ chức xử lý, sắp xếp, lưu trữ, bảo quản các loại tài liệu; Xây dựng hệthống tra cứu thích hợp, thiết lập mạng lưới truy cập và tìm kiếm thông tin
tự động hoá; Xây dựng các cơ sở dữ liệu
- Tổ chức phục vụ, hướng dẫn người đọc khai thác, tìm kiếm, sử dụnghiệu quả nguồn tài liệu và các sản phẩm dịch vụ thông tin – thư viện thôngqua các hình thức phục vụ của thư viện phù hợp với quy định chung
- Xây dựng quy hoạch, kế hoạch, tổ chức bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp
vụ, ngoại ngữ, tin học cho cán bộ thư viện để phát triển nguồn nhân lực cóchất lượng nhằm nâng cao hiệu quả công tác
- Quản lý cán bộ, tài sản theo sự phân cấp của Giám đốc Học viện; bảoquản, kiểm kê định kỳ vốn tài liệu, cơ sở vật chất kỹ thuật và tài sản kháccủa Trung tâm Thông tin - Thư viện; tiến hành thanh lọc ra khỏi kho cáctài liệu lạc hậu, hư nát theo quy định của Học viện và của Nhà nước
- Tham gia các hội nghề nghiệp, các hội nghị, hội thảo khoa học về thôngtin thư viện trong nước và quốc tế; Liên kết hợp tác với các thư viện, tổchức cá nhân trong nước và nước ngoài về tiếp nhận tài trợ, viện trợ, traođổi nguồn lực thông tin, kinh nghiệm chuyên môn, tham gia các mạngthông tin phù hợp với quy định của Học viện và pháp luật
- Tổ chức các hoạt động dịch vụ có thu phù hợp với quy định của phápluật và chức năng nhệim vụ được giao
- Từ chối phục vụ tài liệu trái pháp luật và nội quy, quy chế của thư viện
1.1.2.Cơ cấu tổ chức, đội ngũ cán bộ
Trung tâm Thông tin - Thư viện bao gồm:
1 Tổ Bổ sung, biên mục và xử lý tài liệu
2 Tổ Phục vụ bạn đọc và bảo quản tài liệu: Phòng đọc sách tham khảo;phòng đọc giáo trình; phòng đọc ITP, Luận án, Luận văn, Khóa luận, sáchngoại văn, báo – tạp chí
3 Tổ Thông tin thư mục, dịch vụ
Trang 13Nhiệm vụ cụ thể của từng Tổ do Giám đốc Trung tâm quy định Lãnhđạo Trung tâm Thông tin - Thư viện là Giám đốc Trung tâm, giúp việc choGiám đốc Trung tâm có các Phó Giám đốc Trung tâm và Tổ trưởng các tổnghiệp vụ Giám đốc Trung tâm, Phó Giám đốc Trung tâm, Tổ trưởng các
Tổ nghiệp vụ do Giám đốc Học viện Ngân hàng bổ nhiệm, miễn nhiệm,cách chức
Hiện nay, đội ngũ cán bộ của thư viện là 14 cán bộ, trong đó có 9 đồngchí đảng viên Cử nhân chuyên ngành Thông tin – thư viện: 12 cán bộ(trong đó 3 cán bộ đang học tiếp Cao học) Thạc sĩ Thông tin – thư viện: 3cán bộ; Bảo vệ Thư viện: 2 cán bộ
1.1.3 Cơ sở vật chất
Mặt bằng làm việc của Trung tâm gồm 1 ngôi nhà 7 tầng, tổng diệntích sử dụng khoảng 1600m2, được trang bị đồng bộ phục vụ người dùng tin và các hoạt động nghiệp vụ.Tầng 1 được trang bị hệ thống bàn quầy hiện đại phục vụ mô hình hoạt động một cửa: Mượn/trả/hỏi đáp/cung cấp các sản phẩm và dịch vụ thông tin Các phòng đọc đều được trang bị hệ thống giá sách mới, hiện đại, bàn đọc ghế ngồi đều được trang bị phù hợp với tiêu chuẩn của thư viện hiện đại Hiện nay, các phòng đọc cùng một lúc có thể đáp ứng đủ chỗ ngồi cho 400 độc giả, với đầy đủ ánh sáng, hệ thống quạt mát,điều hòa, thông gió tự nhiên tốt
* Phòng phục vụ bạn đọc:
Giám đốc Trung tâm làm việc tại tầng 3
+ Tầng 1, phòng nghiệp vụ gồm: 8 cán bộ, làm việc theo ca
+ Tầng 2, phòng đọc tài liệu tham khảo, có 80 chỗ ngồi
+ Tầng 3, phòng đọc giáo trình, có 50 chỗ ngồi
+ Tầng 4, phòng đọc tài liệu tham khảo, có 80 chỗ ngồi
+ Tâng 5, phòng đọc báo, tạp chí; có 80 chỗ ngồi
Trang 14+ Tầng 6, phòng máy tính dành cho giáo viên (12 chỗ ngồi) và phòng đọc tài liệu ngoại văn (50 chỗ)
+ Tầng 7, truy cập thư mục trực tuyến, Internet và tài nguyên điện tử với
36 chỗ ngồi
* Các thiết bị tin học :
- Hệ thống máy tính cho sinh viên: 36 máy và 1 máy quản lý
- Phòng máy tính cho giáo viên: 12 máy
- Hệ thống máy tính tra cứu : 3 máy tại Tầng 6
- Máy tính dùng cho nghiệp vụ : 14 máy
Tất cả số máy tính trên đều được nối mạng với máy chủ của Học viện thông qua 3 bộ HUB
Các phòng làm việc, phòng đọc, phòng máy tính đều được trang bị đầu phát tín hiệu Wirless phục vụ truy cập Internet không dây cho phép sinh viên sử dụng laptop và các thiết bị điện tử truy cập và tìm kiếm CSDL trựctuyến của Học viện Ngân hàng
Thư viện được trang bị riêng 1 đường ADSL để kết nối hệ thống máy tính của Trung tâm với mạng Internet
* Các thiết bị giám sát an ninh:
- Hệ thống Camera giám sát an ninh toàn bộ tòa nhà và các phòng đọc, khosách
- Hệ thống Cổng từ và các thiết bị nạp từ, khử từ đảm bảo an ninh tài liệu
1.1.4.Đặc điểm nguồn lực thông tin và người dùng tin
* Đặc điểm nguồn lực thông tin:
* Nguồn lực thông tin truyền thống :
Trang 15Hiện nay, nguồn tài liệu của Trung tâm bao gồm sách báo, sáchtham khảo, tài liệu tra cứu, giáo khoa, giáo trình, các loại báo tạp chí trong
và ngoài nước.v.v
Hiện nay, tổng số vốn tài liệu của Trung tâm có trên16.000 têntài liệu được lưu trữ dướicác dạng thức khác nhau với hơn 9.059 tên sách,51.848 bản; trên 114 tên báo, tạp chí với hơn 10.000 bản, tài liệu điện tử cókhoảng 3.000 file và CD-ROM…
- Sách:
+ Giáo trình: Trung tâm có 694 đầu và 6.973 bản giáo Loại tài
liệu này do các cán bộ giảng dạy của Học viện biên soạn Đó là các tài liệuchuyên ngành được đào tạo của Học viện: ngân hàng, tài chính, quản trị,
kế toán, kiểm toán
+ Tài liệu tham khảo: Hiện nay, tổng số vốn tài liệu tham khảocủa Trung tâm là 6.996 tên tài liệu và 43.565 bản sách (chiếm 62.9 % tổng
số bản tài liệu trong kho
+ Tài liệu tra cứu: Số tài liệu này hiện nay có 155 đầu bản (chiếm0.9% tên tài liệu, với hơn 200 bản, chiếm 0,3% tổng số bản tài liệu
- Báo, Tạp chí: gồm 114 loại báo tạp chí, với 10.000 bản, chiếm
14.8% tổng số bản tài liệu Trong đó, 112 loại báo, tạp chí tếng việt, 02loại tạp chi tiếng Anh.Các loại báo, tạp chí được lưu gữ đầy đủ, có nhiềuloại được lưu giữ từ rất lâu và đóng bìa cứng
* Nguồn lực thông tin điện tử:
- Tài liệu điện tử:
- Cơ sở dữ liệu (Database)
+
Cơ sở dữ liệu thư mục : Hiện nay, Trung tâm đã tạo lập được 03
CSDL thư mục với trên 13.000 biểu ghi, cụ thể: CSDL sách tiếng việt
Trang 16khoảng 7.000 biểu ghi, CSDL sách tiếng Anh có khoảng gần 1.000 biểu ghi, CSDL tài liệu nội sinh với hơn 5.000 biểu ghi.
+ Cơ sở dữ liệu toàn văn :
Hiện Trung tâm TTTV có 3.020 (chiếm 18.3 tổng số tài liệu) tài liệuđiện tử được lưu dưới dạng file hoặc ghi trên đĩa CD-ROM
- CSDL toàn văn đề tài nghiên cứu khoa học, kỷ yếu hội
thảo
Hiện CSDL này có 258 tài liệu với 02 đề tài NCKH cấp Nhà nước,
36 đề tài NCKH cấp Ngân hàng nhà nước, 70 đề tài NCKH cấp cơ sở… và
150 đề tài nghiên cứu của sinh viên
* Đặc điểm người dùng tin:
Căn cứ vào nghề nghiệp và vị trí công tác người dùng tin ở Trung tâm TT– TV học viện Ngân hàng, hiện nay có thể chia làm 4 nhóm chính như sau:
Nhóm 1: Cán bộ và quản lý Nhóm 2: Giảng viên, cán bộ nghiên cứu Nhóm 3: Học viên cao học và nghiên cứu sinh Nhóm 4: Sinh viên
- Đặc điểm bạn đọc là cán bộ lãnh đạo:
Nhóm này bao gồm ban giám hiệu, trưởng khoa, phó khoa, phòngban, tổ bộ môn, các cán bộ lãnh đạo Đảng, chính quyền đoàn thể Nhómnày tuy chiếm tỉ lệ không cao (1%) trong số NDT tại trường HVNH nhưngđóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của Trường Họ vừa tham giagiảng dạy vừa làm công tác quản lý Đặc thù của cán bộ quản lý là đưa racác quyết định, đặt ra mục tiêu, phương hướng, đường lối phát triển củanhà trường, của khoa, của bộ môn, lập kế hoạch và tổ chức thực hiện cácmục tiêu đã đề ra Cường độ lao động của nhóm này rất cao Do vậy, họ có
Trang 17rất ít thời gian khai thác tại Thư viện mà chủ yếu là sử dụng các dịch vụ
mượn tài liệu về nhà, đa phương tiện hoặc sao in tài liệu gốc
- Đặc điểm bạn đọc là giảng viên, cán bộ nghiên cứu:
Nhóm này chiếm tỷ lệ không nhiều (5%) Tuy nhiên, đây là nhómngười có trình độ trên đại học và có khả năng sử dụng ngoại ngữ cao Họvừa là chủ thể sáng tạo ra thông tin thông qua các bài giảng, giáo trình,công trình nghiên cứu và các dự án Đồng thời, vừa là NDT thường xuyêncủa Thư viện Vì tham gia giảng dạy nên họ phải thường xuyên cập nhậtnhững kiến thức mới, công nghệ mới và chuyên sâu liên quan trực tiếp tớilĩnh vực mà họ giảng dạy, nghiên cứu Do vậy, nhóm NDT này luôn dànhmột khoảng thời gian nhất định cho việc tìm tài liệu tham khảo tại thưviện
- Đặc điểm bạn đọc là học viên cao học và nghiên cứu sinh:
Đây là những người đã tốt nghiệp đại học Họ có kỹ năng sử dụngthư viện, biết cách khai thác hiệu quả các sản phẩm và dịch vụ thông tinphục vụ cho công việc nghiên cứu, học tập của mình Do hầu hết trong số
họ là cán bộ vừa đi học vừa đi làm nên thời gian dành cho thư viện còn hạnchế
- Đặc điểm bạn đọc là sinh viên:
Trong tất cả các nhóm NDT thì nhóm NDT là sinh viên chiếm tỷ lệ caonhất (83%) Cùng với việc đổi mới phương pháp dạy và học, sinh viênkhông còn học một cách thụ động như trước mà đã có sự tìm tòi, học hỏi,
bổ sung thêm kiến thức ở bên ngoài Lúc này, thư viện được xem như
“giảng đường thứ 2”, nơi cung cấp tri thức của nhân loại thông qua hệthống các sản phẩm và dịch vụ thông tin của mình Chính vì vậy, sau giờhọc, thư viện và phòng thí nghiệm là nơi sinh viên dành nhiều thời giancho nghiên cứu và sử dụng
Trang 181.2 Những vấn đề chung về văn hóa đọc
1.2.1 Khái niệm văn hóa đọc
Bạn hiểu gì về văn hóa đọc? Văn hóa đọc ở đây chính là thái độ, làcách ứng xử của chúng ta với tri thức sách vở Phải biết đọc sách sao chohợp lý và bổ ích Đọc sao cho hợp với quy luật tiếp cận tri thức
“Văn hóa bao gồm tất cả những gì làm cho dân tộc này khác
với dân tộc khác, từ những sản phẩm tinh vi hiện đại nhất cho đến tín ngưỡng, phong tục tập quán, lối sống và lao động” (Federico Mayor -
Nguyên Tổng giám đốc UNESCO)
Văn hóa đọc – một bộ phận cấu thành văn hóa – là một trong nhữngđộng lực thúc đẩy sự hình thành nên con người mới, những công dân cóhiểu biết, có trí tuệ để có thể thích ứng với sự phát triển của xã hội hiện đại– xã hội dựa trên nền tảng của nền kinh tế tri thức Văn hóa đọc là phươngtiện quan trọng giúp cho người dân tiếp cận được với thông tin, tri thứcphù hợp, hữu ích nhất cho cuộc sống của mình
Thuật ngữ văn hóa đọc được sử dụng rộng rãi, nhưng cách hiểu vềvăn hóa đọc lại rất khác nhau, dẫn tới những định nghĩa chưa thống nhất.Nhưng nhìn chung, văn hóa đọc được xem xét trên hai bình diện: văn hóađọc cộng đồng và văn hóa đọc cá nhân (văn hóa hành vi) Đề cập một cáchkhái quát tới hai cách tiếp cận này có một số công trình nghiên cứu
Theo GS TS Hoàng Nam: “Văn hóa đọc được hình thành từ lâu đờitrong lịch sử, là một bước tiến quan trọng lịch sử văn minh nhân loại Điềukiện tiên quyết cho văn hóa đọc phải biết chữ và biết tiếng mà chữ đó thểhiện” Theo ông, văn hóa đọc gắn liền với chữ viết và nghề in.[7, tr 91]
Theo tác giả Trần Thị Minh Nguyệt, xét trên bình diện phát triển vănminh nhân loại văn hóa đọc gắn liền với sự xuất hiện và phát triển của chữviết; xét trên bình diện cá nhân văn hóa đọc biểu hiện trình độ phát triểntinh thần của con người (văn hóa) Tác giả cho rằng “văn hóa đọc xem xét
ở góc độ cá nhân bao hàm khía cạnh định hướng của chủ thể tới đối tượng
Trang 19đọc (nhu cầu đọc), khả năng, trình độ lĩnh hội thông tin (kỹ năng đọc), cả ởphản ứng với đối tượng đọc (ứng xử văn hóa)”.[12;tr 30]
Trong bài “Văn hóa đọc và phát triển văn hóa đọc ở Việt Nam”,Nguyễn Hữu Viêm cho rằng “Văn hóa đọc là một khái niệm có hai nghĩa,một nghĩa rộng và một nghĩa hẹp Ở nghĩa rộng, đó là ứng xử đọc, giá trịđọc và chuẩn mực của cộng đồng và của các nhà quản lí và cơ quan quản línhà nước… còn ở nghĩa hẹp, đó là cách ứng xử, giá trị và chuẩn mực đọccủa mỗi cá nhân Nghĩa là văn hóa đọc gắn liền với ứng xử đọc, giá trị vàchuẩn mực đọc của cá nhân và xã hội” [20]
Xem xét văn hóa đọc theo nghĩa hẹp, tức là xét dưới góc độ văn hóahành vi của con người, cũng có khá nhiều quan điểm khác nhau
Thủy Linh trong bài “ Văn hóa đọc, sức sống có bền lâu” lại chorằng: “ văn hóa đọc, nôm na hiểu rằng, biết cách đọc, biết cách cảm thụ,biết thu lượm những tri thức, lối sống từ những con chữ, từ những điềuchuyển tải sau con chữ, để biết sống tốt đẹp hơn, xây dựng một xã hội vănhóa và những con người văn hóa”[15] và rằng văn hóa đọc là một giao tiếpquan trọng đời sống con người thông qua con đường tiếp nhận là đọc, conngười có thể trao đổi và thu nhận thông tin
Nguyễn Quang A trong bài tham luận “Cảm nhận về văn hóa đọc”cho rằng “ tập quán thói quen về đọc sách, cách đọc, cách ứng xử với sách,báo…vv tạo thành văn hóa đọc”.[22]
Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm TGĐ Cty Cổ phần sách Thái Hà(Thái Hà Books) Nguyễn Mạnh Hùng cho rằng văn hóa đọc giống nhưmột tam giác gồm ba đỉnh: thái độ, cách nhìn của bạn về sách; thói quenđọc sách; cách lựa chọn sách và phương pháp cũng như khả năng đọc sách
Theo Bùi Văn Nam Sơn trong bài phát biểu tại Hội thảo về “Thựctrạng và giải pháp cho văn hóa đọc” thì văn hóa đọc thể hiện chủ yếu ởnăng lực đọc văn bản Văn hóa đọc chủ yếu là thích đọc và biết đọc, biếnviệc đọc thành bộ phận của niềm vui sống hàng ngày Đọc sách là để biết
Trang 20rằng cuộc đời, thế giới là vô cùng phức tạp và phong phú, hết sức đa nghĩa,
để đừng sống một cách giáo điều, để dám và biết sáng tạo
Tác giả tiếp cận văn hóa đọc dưới góc độ văn hóa cá nhân, văn hóa
hành vi của con người Văn hóa đọc theo quan niệm của tác giả là khả
năng định hướng tới đối tượng đọc, khả năng lĩnh hội giá trị của đối tượng đọc và thái độ của chủ thể với đối tượng đó Theo quan điểm này,
văn hóa đọc được biểu thị ở ba khía cạnh chủ yêu: nhu cầu, hứng thú đọc;
kỹ năng đọc; ứng xử với tài liệu
1.2.2 Các yếu tố cấu thành văn hóa đọc
* Nhu cầu và hứng thú đọc
Nhu cầu đọc là đòi hỏi khách quan của con người đối với việc tiếpnhận và sử dụng tài liệu trong điều kiện thời gian nhất định nhằm duy trìhoạt động sống của con người Nhu cầu đọc là dạng đặc biệt của nhu cầutin và cao hơn nhu cầu tin Nhu cầu đọc xuất hiện ở những người có trình
độ cao Theo PGS TS Trần Thị Minh Nguyệt, cùng với nhu cầu đọc, yếu
tố quan trọng có ảnh hưởng tới quá trình đọc sách là hứng thú đọc- thái độlựa chọn tích cực của chủ thể đối với việc đọc những ấn phẩm có ý nghĩa
và có sức hấp dẫn về mặt tình cảm đối với chủ thể, đáp ứng được nhữngnhu cầu tinh thần của họ Khi hứng thú đọc xuất hiện, hoạt động đọc có sựtham gia tới mức tối đa của các quá trình tâm lý: chú ý, tưởng tượng, trínhớ, tư duy v.v giúp cho người đọc có thể cảm thụ tài liệu ở mức độ caonhất Trong trạng thái hứng thú, con người có thể dành toàn tâm, toàn ýcho hoạt động đọc [10] Nhu cầu và hứng thú đọc là yếu tố định hướng chohoạt động đọc là biểu hiện của trình độ văn hóa con người ở mức độ nhấtđịnh
* Kỹ năng hiểu và lĩnh hội các giá trị trong tài liệu
Trang 21Theo PGS.TS Trần Thị Minh Nguyệt, kĩ năng đọc là khả năng hiểu,cảm thụ và lĩnh hội tác phẩm, biến tri thức, kinh nghiệm trong sách thànhtri thức, kinh nghiệm của chính mình để có thể vận dụng một cách nhuầnnhuyễn trong khi tiến hành các hoạt động sống khác nhau Kĩ năng đọcphụ thuộc vào nhiều yếu tố: tri thức, kinh nghiệm, năng lực và tính chấtcác quá trình tâm lý trong mỗi cá nhân- chủ thể của hoạt động đọc, đồngthời cũng là kết quả của quá trình rèn luyện lâu dài của chính họ[27]
Kỹ năng đọc là sự thể hiện tổ hợp những thao tác tư duy được xác lậpthành thói quen ứng xử đọc Các thao tác tư duy đó là:
- Lựa chọn có ý thức đề tài hoặc những vấn đề cần đọc cho bản thân,biết vận dụng thành thạo các cách đọc khác nhau đối với từng loại tài liệuđọc (tài liệu nghiên cứu, tài liệu phổ thông, tài liệu giải trí )
- Biết định hướng nguồn tài liệu cần thiết cho bản thân, trước hết trongcác thư mục và mục lục thư viện, các nguồn tra cứu như: bách khoa thư, từđiển giải nghĩa, các loại sổ tay, cẩm nang và biết định hướng nguồn tàiliệu cần thiết cho bản thân trong môi trường số (trong các cơ sở dữ liệu,trên Internet) Thể hiện được tính hệ thống, tính liên tục trong quá trình lựachọn tài liệu đọc (đọc từ trình độ thấp lên trình độ cao, từ các vấn đề đơngiản tới phức tạp)
- Biết cách tiếp nhận tối đa và sâu sắc nội dung tài liệu đọc, kể cả vệsinh khi đọc tài liệu như cách ngồi, khoảng cách giữa mắt và tài liệu đọc…Biết vận dụng các biện pháp kỹ thuật để củng cố và đào sâu những nộidung đã đọc như ghi chép, lập hộp phiếu thư mục, soạn tóm tắt, viết chúgiải, trao đổi với bạn bè, đồng nghiệp
- Biết vận dụng vào thực tiễn những nội dung đã đọc Biểu hiện caonhất của kỹ năng đọc là đọc có hiệu quả, nắm nội dung cốt lõi và biết vậndụng những điều đã đọc được vào cuộc sống của chính người đọc
* Thái độ ứng xử với tài liệu
Trang 22Văn hóa đọc còn biểu thị ở sự tôn trọng sách của người đọc Sáchbáo là sản phẩm kết tinh các giá trị văn hóa của nhân loại, là tài sản tinhthần của thế hệ trước truyền lại cho thế hệ sau Người có văn hóa đọc cũng
là những người biết ứng xử văn hóa với sách báo, trân trọng và yêu mếnsách báo Mỗi người đọc sách cần rèn luyện cho mình thói quen giữ gìncẩn thận sách báo: không gập gáy sách, bôi bẩn ra sách hay xé rách sách.Ngồi đọc đúng tư thế, khoảng cách giữa mắt với sách, chiều cao của bànphù hợp với cơ thể Giữ gìn sách bền lâu cũng có nghĩa là ta đang cùng thế
hệ đi trước lưu truyền tri thức trong sách tới thế hệ sau này
1 2.3 Các yếu tố ảnh hưởng tới văn hóa đọc
Văn hóa đọc chịu ảnh hưởng bởi rất nhiều yếu tố như: Môi
trường xã hội, sự phát triển của khoa học kỹ thuật, nghề nghiệp, lứa tuổi, trình độ văn hóa
* Môi trường xã hội: có ảnh hưởng lớn tới văn hóa đọc Văn
hóa đọc ở mỗi giai đoạn, mỗi thời kỳ lịch sử lại có những biểu hiện khác nhau Cùng với sự phát triển của xã hội và những thành tựu của công nghệ thông tin và truyền thông, nhiều phương tiện nghe nhìn xuất hiện đã phần nào làm giảm bớt vai trò của văn hóa đọc Có những giai đoạn văn hóa đọc bị văn hóa nghe nhìn lấn át, đặc biệt đối với lớp trẻ
Bị lôi cuốn bởi những văn hóa nghe nhìn hiện đại, một bộ phận thanh niên trở nên thờ ơ với sách, lười đọc sách Hậu quả của nó dẫn đến tình trạng không có chiều sâu tri thức, lười vận động, thiếu tính sáng tạo tìmtòi đối với mỗi sinh viên trong mọi lĩnh vực học tập và xã hội Song cũng không thể phủ nhận được vai trò của văn hóa nghe nhìn trong việc
hỗ trợ cho quá trình tự học của sinh viên
* Sự phát triển của khoa học kỹ thuật: Hiện nay, trước những
thành tựu của tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ, cùng với sự bùng
nổ thông tin, các nguồn thông tin được truyền đi nhanh chóng và đáp ứng mọi nhu cầu của bạn đọc
Trang 23Trước kia, phương tiện thông tin của văn hóa là sách, đồng thời đó cũng là phương tiện truyền tải nền văn minh của nhân loại qua mọi thời đại.
Ngày nay, xuất hiện một phương tiện thông tin khác đó chính là “mạng thông tin” Con người không thể phủ nhận được sự tiện ích do công nghệ hiện đại mang lại, tuy nhiên, sự tiến bộ của khoa học công nghệ ấy lại đặt văn hóa đọc đứng trước một nguy cơ với sự phát triển của hàng loạt các nguồn thông tin phong phú và đa dạng Và cũng
từ đó, nhu cầu đọc của con người ngày càng được đáp ứng hơn, văn hóađọc cũng từ đó mà phát triển mạnh mẽ hơn
Chúng ta cũng không nên đổ lỗi cho sự phát triển thông tin hiện đại
đã lấn át văn hóa đọc của sinh viên Trên thực tế, chúng ta phải khẳng địnhvăn hóa nghe, nhìn, internet có rất nhiều lợi ích Vấn đề đặt ra là sinh viênnên đọc gì, xem gì và phương pháp đọc như thế nào Với công nghệ hiệnđại, thông tin khoa học, những tài liệu đã được số hóa hay những côngtrình nghiên cứu khoa học lại rất ít nhận nhận được sự quan tâm của sinhviên Trong khi đó, có một số kênh thông tin giải trí – những thông tin hờihợt, thoáng qua lại là đối tượng đọc của không ít sinh viên Điều này đãảnh hưởng đến sinh viên, làm cho họ ngày càng mất dần thói quen đọcsách
* Phương pháp dạy và học trong trường đại học hiên nay
Phương pháp dạy và học trong trường đại học hiên nay có ảnhhưởng rất lớn đến trình độ, văn hóa đọc của sinh viên Nhiều chuyên gia vềvăn hóa và giáo dục trăn trở về vấn đề đổi mới phương pháp giảng dạy vàhọc tập trong trường đại học “Một trong những điểm yếu hiện nay làphương pháp dạy học vẫn còn lạc hậu, nặng về truyền thụ một chiều, thầyđọc, trò ghi, ít phát huy tính chủ động, sáng tạo của học sinh – sinh viên.Phương pháp dạy và học theo lối truyền thống đó đã làm sinh viên ngàynay thiếu sự tìm tòi sáng tạo” – đó là nhận định của Thứ trưởng Bộ Giáodục – Đào tạo tại hội thảo: “Đổi mới phương pháp dạy học đại học”
Một trong những biểu hiện của sự hạn chế về văn hóa đọc của sinhviên là tình trạng sinh viên chỉ học khi các kỳ thi đã tới gần, học đối phó –
Trang 24học để thi Chính vì vậy, sinh viên trở nên thụ động trong việc đọc vànghiên cứu tài liệu, sách, báo Nguyên nhân của sự thụ động nữa là sinhviên chỉ đọc khi giảng viên yêu cầu làm tiểu luận, bài tập lớn, hay thuyếttrình về một đề tài hoặc chỉ phục vụ cho kỳ thi, tức là chỉ khi bị áp chế, bắtbuộc, sinh viên mới có ý thức đọc mang tính tức thời Chính cách học đókhiến họ không tạo được thói quen đọc sách – học chủ động mà đọc theonhu cầu hoặc sở thích Việc đọc đối với sinh viên hiện nay mới chỉ dừnglại ở chổ đáp ứng yêu cầu bắt buộc của việc học để thi.
* Chất lượng hoạt động của thư viên
Công văn 560/ KTKĐCLGD ngày 06/6/2008 của Cục khảo thí vàkiểm định chất lượng giáo dục, Tiêu chuẩn thứ 9 ghi rõ: Thư viện, trangthiết bị học tập và cơ sở vật chất khác – một trong 10 tiêu chí để đánh giáchất lượng giáo dục đại học Điều đó đã khẳng định vai trò của thư việntrong giáo dục đại học hiện nay
Trong giai đoạn hiện nay, giáo dục đại học đang hướng đến quátrình tự đào tạo là chính Cũng theo quy định của Bộ Giáo dục- Đào tạo, từnăm 2010, các trường ĐH – CĐ sẽ chuyển qua đào tạo theo học chế tínchỉ Theo đó, thời gian dành cho việc lên lớp của sinh viên được rút ngắnlại, thời gian danh cho việc tự học nhiều hơn Do đó, khối lương tài liệu đểđáp ứng nhu cầu đọc của sinh viên ngày càng cần thiết và nhiều hơn Tất
cả các nguồn tài liệu phục vụ cho quá trình tự học của sinh viên phần lớn
là ở hệ thống thư viện của nhà trường Chính vì vậy, hoạt động của thưviện có ảnh hưởng rất nhiều đến quá trình tự đào tạo
* Nghề nghiệp: là một yếu tô ảnh hưởng đến mọi mặt của đời
sống tinh thần của con người Đó cũng là một trong những hoạt độnglao động ảnh hưởng lớn đến nhu cầu đọc Những nghề nghiệp khácnhau chắc chắn sẽ có những nhu cầu và kỹ năng đọc khác nhau
Mỗi nghề nghiệp nảy sinh một nhu cầu đọc khác nhau như: với
những cán bộ và giảng viên, đối tượng có nhu cầu về chát xám lớnthường có nhu cầu đọc phức tạp hơn, với mỗi sinh viên thì nhu cầu vềthông tin lại có những riêng biệt khác nhau
Trang 25* Lứa tuổi: Ở mỗi độ tuổi khác nhau, văn hóa đọc lại có những
cấp độ khác nhau do ảnh hưởng của tâm sinh lý lứa tuổi Với sinh viên,
vì đây là giai đoạn nhận thức thế giới, do đó, việc đọc tập trung chủ yếuphục vụ cho việc học tập và giải trí
* Trình độ văn hóa: Trình độ văn hóa là yếu tố tác động nhiều
nhất tới văn hóa đọc Tri thức càng cao thì nhu cầu đọc càng sâu, đòihỏi nhiều phương thức thỏa mãn khác nhau, kỹ năng đọc càng hoànthiện
1.3 Vai trò của văn hóa đọc đối với sinh viên Học viện Ngân hàng
Trước khi có phương tiện nghe, nhìn hiện đại như: TV, di động,Iphone, sách là con đường tốt nhất để con người tiếp cận thông tin, vănhóa, tri thức Sách là một sản phẩm xã hội, là công cụ để tích lũy, truyền bátri thức từ thế hệ này sang thế hệ khác Sách là một khái niệm mở; hìnhthức sách được thay đổi và cấu thành các dạng khác nhau tùy vào sự pháttriển khoa học, công nghệ ở mỗi thời đại Đọc sách sẽ giúp ta tích lũynhiều kinh nghiệm, mở mang kiến thức trong mọi lĩnh vực: khoa học tựnhiên, khoa học xã hội, tăng cường khả năng tư duy Sách làm ta thấy thoảimái và yêu đời hơn; đưa ta vượt thời gian, không gian để tìm hiểu lịch sửhay khám phá những ý tưởng, phát minh mới trong tương lai Đọc sáchcòn cho ta biết thêm về tinh hình trong và ngoài nước, giúp ta tìm ra giá trịbản thân và chấp cánh cho những ước mơ, sáng tạo
Thế nhưng, đa số bạn trẻ ngày nay thờ ơ với văn hóa đọc sách Vănhóa đọc là ứng xử đọc, giá trị đọc và chuẩn mực đọc của mỗi cá nhân,cộng đồng xã hội, các cơ quan quản lý nhà nước Ứng xử, giá trị và chuẩnmực này gồm 3 phần: thói quen đọc, sở thích đọc, kỹ năng đọc
Song, không thể không nói tới tác dụng của Internet đã tạo ra mộtphương thức đọc hiện đại, một mạng lưới thông tin, tri thức khổng lồ Hệthống thư viện công cộng ở các tỉnh thường xuyên tổ chức các cuộc thi kểchuyện, sách thiếu nhi, các sự kiện như ngày hội đọc sách trong mỗi dịp hè
Trang 26để tạo dựng, phát triển và giáo dục thói quen đọc sách cho thiếu nhi Bêncạnh những mặt tích cực trên, văn hóa đọc ở nước ta vẫn còn nhiều hạnchế nhất định.Chúng ta chưa hình thành được một chiến lược phát triểnvăn hóa đọc và cách phát triển nó trên bình diện quốc gia Nói thế có nghĩa
là nói rằng, những sự kiện về sách chưa đủ để thu hút người đọc đến vớisách Người dân vẫn chưa có thói quen và kỹ năng đọc sách phù hợp màchủ tếu đọc theo ngẫu hứng, chỉ có một bộ phận nhỏ học sinh, sinh viên vànhững người làm công tác nghiên cứu khoa học… mới có thói quyen vàcách đọc đúng Ngày nay giới trẻ bị những hình thức nghe nhìn lôi cuốnnhiều hơn là hình thức đọc Tuy những hình thức giải trí đó cũng rất cầnthiết những chúng chỉ đạt kết quả cao hơn khi kết hợp với các phươngpháp đọc hợp lý bởi vì không chỉ có hình ảnh và âm thanh gây đựợc cảmxúc mạnh mà kiến thức đọc cũng gây ấn tượng mạnh và lâu bền Mộtnguyên nhân khác cũng khá phổ biến là giới trẻ lười đọc Xã hội ngày càngbận rộn, nhịp sống căng thẳng đòi hỏi con người phải cập nhật thông tinnhanh hơn mà đọc sách thì cần có thời gian để hiểu và tập trung caođộ,Chính điều này đã trở thành một vấn đề lớn : mọi người chỉ đọc lướtqua với tốc độ cao nên tuy kiến thức được tăng lên về lượng những lạithiếu chiều sâu Nói một cách khác chúng ta tưởng rằng chúng ta đã hiểubiết nhưng thực chất chúng ta mới chỉ chạm đến bề nổi của kiến thức chứchưa hiểu đựợc bản chất của vấn đề Hiện tượng đáng buồn này ngày cànglan rộng trong xã hội và kéo dài khiến cho nhiêu học sinh , sinh viên khótiếp thu kiến thức trên trang sách ảnh hưởng không nhỏ đến các kỹ năngkhác là kỹ năng viết và diễn đạt ý
Học tập là một quá trình lâu dài Đọc sách cũng vậy Nếu chúng ta nhậnthức đựoc đầy đủ vai trò của sách cũng như biết cách tự tạo cho mình một
kỹ năng, sở thích đọc hiệu quả thì chắc chắn rằng văn hóa đọc của nước ta
sẽ ngày càng phát triển bền vững
Qua đó cũng thấy được Sách giữ vai trò quan trọng trong cuộc sốngmỗi con người, và thư viện trong việc giữ gìn và phát huy văn hoá đọc
Trang 27Trong xu thế hiện nay, vai trò của thư viện rất quan trọng trong việcgiữ gìn vị trí độc tôn của văn hoá đọc Văn hoá nghe nhìn ngày càng chiếm
ưu thế là một thách thức mới đối với những người làm công tác thông tin thư viện
-Trước hết, chúng ta cần phải cố gắng hình thành thói quen đọc Lấyphương tiện nghe nhìn làm phương tiện tuyên truyền, phổ biến, giới thiệusách đến với đông đảo bạn đọc, và khơi dậy niềm say mê đọc sách giúpcho họ hiểu được lợi ích của việc đọc sách Đặt biệt là đối với thế hệ trẻhiện nay, cần phải giáo dục cho họ lòng đam mê đọc sách, rèn luyện kỹnăng đọc sách và đọc sách một cách có chọn lọc Một cuốn sách hay trànđầy nhiệt tình sẽ nhen nhóm và đốt nóng lòng nhiệt tình cho lớp trẻ, giúp
họ trưởng thành và tự hoàn thiện mình một cách tự nhiên
Cán bộ thư viện (CBTV) chúng ta xưa nay luôn có tầm nhìn hướngnội, chỉ biết sắp xếp ngăn nắp kho tài liệu của mình để chờ bạn đọc đếnđọc Ngày nay, CBTV cần phải năng động hơn, cần phải có tầm nhìnhướng ngoại, hướng về bạn đọc, hướng đến những nhu cầu của xã hội,thậm chí cần phải đưa các chiến lược marketing vào trong hoạt động thôngtin - thư viện để thu hút nhiều người đến với thư viện Cần phải xây dựngmột môi trường đọc sách lý tưởng, rộng rãi thoáng mát Phải làm thế nào
để bạn đọc luôn cảm thấy thư viện là nơi mà mình luôn được chào đón, làđịa chỉ mà mọi người luôn muốn tìm đến
Với tinh thần đề cao tầm quan trọng của sách báo và tri thức trongđời sống, sự kiện ngày đọc sách thế giới ở Việt Nam đang trở thành mộtnét sinh hoạt văn hoá, văn minh của những người yêu mến sách báo cầnđược duy trì và quảng bá rộng hơn trong xã hội và rất cần sự hỗ trợ, quantâm hơn nữa của các cơ quan chức năng để Văn hóa đọc luôn là nhu cầukhông thể thiếu của những công dân văn minh trong thời đại ngày nay
Trang 28CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG VĂN HÓA ĐỌC CỦA SINH VIÊN
TẠI HỌC VIỆN NGÂN HÀNG 2.1 Nhu cầu đọc của sinh viên
2.1.1 Nhu cầu về nội dung tài liệu
Học tập là hoạt động chủ yếu của sinh viên, học tập trong môitrường Đại học khác với các bậc khác Đối với các cấp học như Tiểu học,Trung học cơ sở, Trung học phổ thông, học sinh tiếp xúc với phần lớn tàiliệu mọi kiến thức đều được trình bày đầy đủ trong sách giáo khoa củamôn học đó, học sinh chỉ tiếp thu kiến thức trong sách vở mà giáo viênhướng dẫn Ngược lại, môi trường học tập ở Đại học đòi hỏi sinh viên phải
mở rộng vốn tri thức, tích cực tìm kiếm các thông tin không chỉ về các vấn
đề đang học tập, nghiên cứu mà còn là các nguồn tin khác liên quan Khảosát cho thấy sinh viên có nhu cầu nội dung tài liệu liên quan đến tất cả mọilĩnh vực trong cuộc sống
Trong môi trường đại học, Thư viện là nơi lưu trữ vốn tài liệu
và đáp ứng nhu cầu đọc của sinh viên Với lý do đọc tài liệu trên thìkhoảng 51% sinh viên sử dụng thư viện phục vụ nhu cầu học tập Bạn đọcđòi hỏi thư viện đáp ứng đầy đủ nhu cầu về số lượng và chất lượng của tàiliệu theo nhu cầu
Trang 29Biểu đồ 1: Nội dung và mức độ sử dụng tài liệu của sinh viên
Trong môi trường Đại học, Thư viện là nơi lưu trữ vốn tài liệu vàđáp ứng nhu cầu đọc của sinh viên Với lý do đọc tài liệu trên thì khoảng51% sinh viên sử dụng thư viện phục vụ nhu cầu học tập Bạn đọc đòi hỏithư viện đáp ứng đầy đủ nhu cầu về số lượng và chất lượng của tài liệutheo nhu cầu
Theo số liệu thống kê cho thấy sinh viên thường xuyên đọc các tàiliệu liên quan đến nội dung học tập và tỉ lệ chiếm 95%, cao nhất so với cáctài liệu khác Loại tài liệu thứ hai được sinh viên quan tâm đó là tài liệu cónội dung liên quan đến đề tài nghiên cứu khoa học, mức độ sinh viênthường xuyên đọc lên đến 83,7% Các tài liệu liên quan đến tin tức thời sự,chính trị, kinh tế, báo tạp chí cũng được sinh viên quan tâm nhưng chỉ ởmức độ thi thoảng đọc, đa phần các loại tài liệu này được sinh viên đọcvào thời gian rãnh rỗi.Lý do mà sinh viên thường xuyên đọc tài liệu liênquan đến môn học chiếm tỷ lệ cao nhất là do phương pháp đào tạo mớisinh viên phải tự học, tự nghiên cứu là chính, nên sinh viên phải đọc tàiliệu trước khi lên lớp học nếu không đọc thì không nắm bắt được nội dungcủa bài học Từ đó ảnh hưởng đến kết qảu học tập của sinh viên
Bảng 1 loại tài liệu sinh viên thường đọc
Trang 30STT Loại tài liệu ưu tiên đọc
Tỷ lệ phần trăm (%)
4 Các loại tài liệu khác * 14,17
Bảng 1 cho thấy: Tài liệu mà sinh viên chọn đọc nhiều nhất là sách
chuyên ngành, tài liệu học tập 80,85%, Sách, báo, tạp chí giải trí cũng chiếm tỷ lệ khá cao, tuy nhiên, đối tượng này thích đọc sách chuyên ngành nhiều hơn.Như vậy, chúng ta thấy sinh viên HVNH chủ yếu đọc những tài liệu giải trí và tài liệu liên quan đến chuyên ngành học của mình, còn họ rất ít quan tâm dến các kiến thức về lịch sử, kinh tế, khoa học kỹ thuật…Bảng 2 Thời gian sinh viên dành để đọc tài liệu mỗi ngày
Mỗi ngày sinh viên thư viện chủ yếu dành từ 30 phút để đọc sách, ít
có sinh viên không có thời gian đọc sách và số sinh viên dành từ 3 – 4 giờ
để đọc sách chỉ chiếm 12,15% Sinh viên là “vua” về thời gian cho học tập
và nghiên cứu mà chỉ dành từ 30 phút đến trên 2 giờ để đọc sách như vậy
Trang 312 Thỉnh thoảng 50
Bảng 3 cho thấy, khi học chuyên ngành thầy (cô) đã giao cho sinhviên đọc tài liệu Tuy nhiên, tỷ lệ thầy (cô) thỉnh thoảng mới giao sinh viênđọc tài liệu chiếm 50% là khá cao Điều đó chứng tỏ các giảng viên HVNHluôn quan tâm đến việc bồi dưỡng khả năng tự học của sinh viên, một mặtnhằm nâng cao kiến thức, mặt khác tạo thói quen đọc và khai thác tài liệu
Bảng 4 Loại tài liệu nào thầy (cô) đè nghị sinh viên đọc
STT Loại tài liệu thầy (cô) giao đọc
Tỷ lệ phần trăm (%)
3 Tài liệu liên quan đến môn học 81,4
4 Tài liệu không liên quan đến
môn học
1
Bảng 4 cho thấy, tài liệu thầy (cô) giao cho sinh viên đoc chủ yếu là tài liệu liên quan đến môn học và giáo trình; còn những tài liệu không liên quan đến môn học chỉ chiếm chưa đến 1%
Bảng 5 Mức độ đọc tài liệu thầy (cô) giao cho
STT
Tỷ lệ phần trăm (%)
Trang 322 Đọc một phần 71,57
Bảng 5 cho thấy, khi thầy (cô) giao sinh viên đọc tài liệu thì tỷ lệ sinhviên chỉ đọc một phần chiếm tỷ lệ cao chiếm 71,57% Trong khi đó số sinhviên đọc hết tài liệu thầy (cô) giao chỉ chiếm 27,45%
Biểu đồ 2 : Mục đích sử dụng thư viện của sinh viên
Trong môi trường Đại học thư viên là nơi lưu trữ vốn tài liệu
và đáp ứng mọi nhu cầu đọc của sinh viên Theo khảo sát cho thấy 52%sinh viên sử dụng Thư viện cho mục đích học tập Trong quá trình học tậpsinh viên tham gia nghiên cứu khoa học hay sinh viên năm cuối làm khóaluận tốt nghiệp nên sinh viên đã quan tâm đến tài liệu nghiên cứu.Chính vìvậy nên thư viện cần đáp ứng đầy đủ cả về số lượng lẫn chất lượng tài liệu
để phục vụ cho nhu cầu của sinh viên.Theo điều tra về phản hồi của sinhviên về mức độ phù hợp nội dung tài liệu với nhu cầu đọc của sinh viêncho thấy 85% sinh viên đánh giá phù hợp, 10% sinh viên đánh giá rất phùhợp và còn lại 5% sinh viên cho rằng chưa phù hợp.Từ đó cho thấy thưviện đã đáp ứng tốt nhu cầu đọc của bạn đọc, phục vụ hiệu quả hoạt độnghọc tập và nghiên cứu của sinh viên
Trang 33Sinh viên đặc biệt quan tâm đến nội dung của tài liệu, vì hiệnnay nhu cầu về phương thức đào tạo mới đòi hỏi tính chủ động, tự học, tựnghiên cứu của sinh viên là rất cao Nên họ cần phải khai thác những tàiliệu phù hợp nhất với môn học để khai thác được những thông tin, nhữngnội dung cần thiết đối với môn học Nhằm đạt được kết quả cao trong quátrình học tập, nghiên cứu và phục vụ đắc lực cho các giờ kiểm tra cũng như
kì thi của môn học
82
52 73
141218
45 25 47
Chơi thể thao
Giúp bố mẹ
Tự học
Biểu đồ thể hiện hoạt động của Sinh viên ngoài giờ lên lớp
Gia đình viên chức Gia đình buôn bán tự do Ngành nghề khác
Biểu đồ 3: Thể hiện hoạt động của Sinh viên ngoài giờ lên lớp
Phân tích bảng thống kê trên có thể thấy rằng hoạt động mà sinh viên chútâm nhất ngoài giờ học là xem ti vi, chiếm tới 82% ở nhóm con em giađình viên chức nhà nước và 52% ở nhóm con em gia đình buôn bán tự do
và 73% là con em trong các gia đình ngành nghề khác Các hoạt động nhưđọc sách, chơi thể thao và tự học cũng chiếm tỉ lệ khá cao, lần lượt là:66%, 50% và 45% ở nhóm con em trong gia đình viên chức nhà nước ;42%, 34% và 25% ở nhóm con em gia đình buôn bán tự do; 84%, 53% và47% ở nhóm con em trong các gia đình ngành nghề khác trong đó đọcsách vẫn chiếm tỉ lệ cao nhất (66%, 42% và 84%) Điều này có nghĩa nhu
Trang 34cầu đọc của sinh viên là rất lớn Nó thể hiện rõ hơn trong phần khảo sátvới nhóm sinh viên.
2.1.2 Nhu cầu về hình thức tài liệu
Sinh viên HVNH là đối tượng học tập, nghiên cứu trên nhiềuloại môn học khác nhau như môn học chuyên ngành, nôm học chung củatrường, môn tự chon, môn bắt buộc, môn học về các kỹ năng mền… mỗimôn học đều có những yêu cầu riêng Ngoài nắm bắt thông tin cơ bảntrong quá trình học, sinh viên cần bổ sung các nguồn tài liệu nhằm đáp ứngtốt nhu cầu tin của mình
Qua khảo sát cho thấy mức độ quan tâm cảu sinh viên đối vớicác loại hình tài liệu khác nhau
Thường xuyên
Thỉnh thoảng
Chưa bao giờ Loại
hình tài
liệu
Số trả lời
Tỷ lệ (%)
Số trả
Số trả lời Tỷ lệ (%)
Trang 35Bảng 6: Loại hình tài liệu và mức độ sử dụng của sinh viên.
Theo bảng số liệu cho thấy đa phần sinh viên quan tâm và sử dụngnhiều đến các tài liệu chủ yếu để phục vụ cho quá trình nghiên cứu và họctập của mình Sách tham khảo và giá trình bài giảng là hai loại tài liệu màsinh viên dùng thường xuyên nhất tỷ lệ lườn lượt của từng loại tài liệu lênđến 76,8% và 69,5%.Đa phần sinh viên sử dụng hai loại tài liệu này vì đíchchính của họ là học tập và nghiên cứu, nhất là theo phương pháp đào tạohiện nay yêu cầu sinh viên phải tự học, tự nghiên cứu là chính, vì vậy nênmức độ sử dụng sách tham khảo, giáo trình rất cao.Hai loại tài liệu này chủyếu là sinh viên năm thứ ba và năm cuối sử dụng nhiều, còn sinh viên nămnhất và năm hai chưa tham gia vào nghiên cứu nên họ sử dụng chủ yếu làbáo, tạp chí gần 53%.Các tài liệu này là tài liệu nôi sinh ( tài liệu khôngcông bố ) vì vậy dịch vụ liên quan đến tài liệu này được tuân theo nhưngquy định riêng.Vì vậy tùy thuộc vào tài liệu cần sử dụng mà sinh viên lựachọn tài liệu phù hợp
2.1.3 Nhu cầu về ngôn ngữ tài liệu
Ngôn ngữ là một hệ thống phức tạp con người sử dụng để liênlạc hay giao thiệp với nhau cũng như chỉ chính năng lực của con người cókhả năng sử dụng một hệ thống như vậy.Với chủ trương tăng cường giáodục ngoại ngữ của Quốc hội, Bộ Giáo dục và đào tạo và nhu cầu hiểu biết
về các quốc gia có ngôn ngữ được giảng dạy và nghiên cứu ngày càng lớn.Yêu cầu sử dụng được một ngôn ngữ phổ biến và một chuyên môn khácngày càng trở nên cấp bách Trong thời buổi hôi nhập để đất nước có thểhội nhập sâu và rộng với các nước trên thế giới, việc nắm vững chuyênmôn và sử dụng thành thạo ít nhất một ngoại ngữ đang trở thành nhu cầucấp bách hiện nay
Trang 36Thư viện HVNH là một thành viên tích cực TV luôn chú trọng và
tổ chức đào tạo trên chuẩn mực quốc tế theo định hướng phát triên phẩmchất , tầm nhìn , năng lực, kỹ năng trong đó đặc biệt chú trọng đến các kỹnăng sống , ký năng ngoại ngữ, tin học, và trên nền kiến thức cần thiếtnhằm mục đích tạo cho người học có cơ hội tốt nhất tìm được việc làm phùhợp, không chỉ hướng tới thị trường lao động trong nước mà cả nướcngoài
Thư viện HVNH có nhu cầu về ngoại ngữ cao đòi hỏi thư việnkhông chỉ đáp ứng về số lượng mà còn cả về chất lượng nhằm đáp ứngchuyên môn của mình Vì vây, kho bổ sung ngôn ngữ cho tài liệu phòng tưliệu và thư viện cần chú ý bổ sung các ngôn ngữ mà sinh viên thườngxuyên dùng như: ngoài tiếng Việt còn có Tiếng Anh, Tiếng Nhật là cácloại ngôn ngữ sinh viên hay sử dụng Khảo sát sinh viên khoa Thư việnHVNH cho thấy phần lớn sinh viên đang theo học nhiều ngôn ngữ nướcngoài Nguồn học liệu này hạn chế hơn so với ngôn ngữ Tiếng Việt hayTiếng Anh vì vậy đòi hỏi thư viện và phòng tư liệu khoa cần đáp ứngnguồn tài liệu bằng các ngôn ngữ khác, nhằm đáp ứng ngu cầu tất yếu củasinh viên
2.2 Kỹ năng đọc của sinh viên
2.2.1 Kỹ năng đọc hiểu tài liệu
Theo PGS.TS Trần Thị Minh Nguyệt, kĩ năng đọc là khả nănghiểu, cảm thụ và lĩnh hội tác phẩm, biến tri thức, kinh nghiệm trong sáchthành tri thức, kinh nghiệm của chính mình để có thể vận dụng một cáchnhuần nhuyễn trong khi tiến hành các hoạt động sống khác nhau Kĩ năngđọc phụ thuộc vào nhiều yếu tố: tri thức, kinh nghiệm, năng lực và tínhchất các quá trình tâm lý trong mỗi cá nhân- chủ thể của hoạt động đọc,đồng thời cũng là kết quả của quá trình rèn luyện lâu dài của chính họ[27]
Theo kết quả khảo sát sinh viên Thư viện HVNH cho thấy có rấtnhiều sinh viên đã tự xây dựng và rèn luyện cho mình kỹ năng đọc hiểu tàiliệu rất hiệu quả, nhưng bên cạnh đó cũng còn không ít bạn sinh viên chưalàm được điều này
Trang 37Ví dụ như khi tôi hỏi các bạn SV rằng “ Bạn sẽ làm gì khi bạn cómột cuốn sách mới” và kết quả thu được như sau:
Biểu đồ 4:Cách thức đọc của sinh viên
Vậy theo biểu đồ cho ta thấy sinh viên chủ yếu đọc tài liệutheo hai cách đó là đọc lướt qua nội dung 45 (%) và đọc lần lượt từ đầuđến cuối 36 (%).Việc đọc lướt qua nội dung sẽ giúp chúng ta nắm được bốcục của bài và ý tưởng mà tác giả đề cập đến chúng ta có thể bỏ qua một sốtrang của tài liệu nên cách này sẽ không gây nhàn chán khi đọc so với việcđọc từ đầu đến cuối.Tuy nhiên mỗi cách đọc sách trên sẽ đáp ứng cho mụcđích đọc khác nhau từ đó sé quyết định đến phương hướng khai thác vấn
đề trong một cuốn sách Chính vì vậy nên chúng ta cần lựa chọn nhữngcuốn sách thật hay và bổ ích cho việc học tập, nghiên cứu của mình,và xácđịnh được mục đích của việc đọc cuốn sách đó là gì? để chúng ta có thểxác định được phương pháp đọc trước khi đọc để đáp ứng được mục đíchcủa chúng ta
2.2.2 Kỹ năng vận dụng tri thức trong tài liệu vào học tập
Khi một kiến thức đã học được nếu biết vận dụng và vận dụng thànhcông thì lúc đó kiến thức ấy đã nhuần nhuyễn, và thực sự là của
mình.Người xưa đã từng nói : “Học phải đi đôi với hành ” “Học rộng