Trong bối cảnh khó khăn chung của nền kinh tế thế giới hiện nay, nhu cầu thu hút và sử dụng ODA của các nước đang và chậm phát triển cũng như các nước bất ổn chính trị tăng lên mạnh mẽ t
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
- -
NGUYỄN THỊ TÌNH
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI VIỆN TRỢ PHÁT TRIỂN
CHÍNH THỨC (ODA) Ở MỘT SỐ NƯỚC CHÂU Á
VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM
HÀ NỘI- 2017
Trang 2
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
- -
NGUYỄN THỊ TÌNH
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI VIỆN TRỢ PHÁT TRIỂN
CHÍNH THỨC (ODA) Ở MỘT SỐ NƯỚC CHÂU Á
VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM
Chuyên ngành: Kinh tế Quốc tế
Mã số: 62.31.01.06
LUẬN ÁN TIẾN SỸ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
1 PGS.TS Chu Đức Dũng
2 PGS.TS Nguyễn Huy Hoàng
HÀ NỘI- 2017
Trang 3
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi, số liệu
và kết quả nghiên cứu trong luận án này là trung thực và chưa hề được công bố
ở bất cứ công trình nào Tôi cũng xin cam đoan các thông tin trích dẫn trong luận án đã được chỉ rõ nguồn gốc và đảm bảo tính hợp pháp về bản quyền tác giả, bản quyền dữ liệu
Tác giả luận án
Nguyễn Thị Tình
Trang 4
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể giáo viên hướng dẫn PGS.TS Chu Đức Dũng và PGS.TS Nguyễn Huy Hoàng đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ, góp ý cho tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận án tiến sĩ của mình
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám đốc, Phòng Quản lý đào tạo, Khoa Quốc
tế học, các nhà khoa học, các quý thầy cô của Học viện Khoa học Xã hội đã tạo điều kiện giúp đỡ và tận tình truyền đạt những kiến thức quý báu trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận án tiến sĩ
Xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã tạo điều kiện, quan tâm, giúp đỡ và khích lệ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận
Trang 5
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LÒI CẢM ƠN ii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT iv
DANH MỤC BẢNG v
DANH MỤC BIỂU v
DANH MỤC HÌNH vi
DANH MỤC HỘP vi
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 9
1.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 9
1.2 Tình hình nghiên cứu trên trong nước 16
1.3 Đánh giá chung và khung phân tích luận án 22
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI VIỆN TRỢ PHÁT TRIỂN CHÍNH THỨC 27
2.1 Cơ sở lý luận về quản lý nhà nước đối với viện trợ phát triển chính thức 27
2.2 Các mô hình quản lý nhà nước về ODA trên thế giới 43
2.3 Các nhân tố tác động tới quản lý nhà nước về ODA 52
CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI VIỆN TRỢ PHÁT TRIỂN CHÍNH THỨC Ở MỘT SỐ NƯỚC CHÂU Á 59
3.1 Quản lý nhà nước đối với ODA ở Malaysi giai đoạn 1970- 2000 59
3.2 Quản lý nhà nước đối với ODA ở Philippines giai đoạn 1965- 2006 74
3.3 Bài học kinh nghiệm từ công tác quản lý nhà nước đối với ODA ở Malaysia và Philippines 91
CHƯƠNG 4: VẬN DỤNG BÀI HỌC KINH NGHIỆM TỪ CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI ODA Ở CÁC NƯỚC CHÂU Á VÀO THỰC TIỄN VIỆT NAM 98
4.1 Quản lý nhà nước đối với ODA ở Việt nam từ năm 1993 đến 2016 98
4.2 Quan điểm định hướng hoàn thiện quản lý nhà nước đối với ODA ở Việt Nam trong thời gian tới 126
4.3 Vận dụng bài học kinh nghiệm từ công tác quản lý nhà nước đối với ODA ở Malaysia và Philippines vào thực tiễn Việt Nam 130
KẾT LUẬN 149 DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 6
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT Chữ viết tắt Tiếng Anh Tiếng Việt
AFD French Development Agency Cơ quan phát triển Pháp
FDI Foreign Direct Investment Đầu tư trực tiếp nước ngoài
ICC Investment Coordination
Committee
Uỷ ban Điều phối đầu tư IMF International Monetary Fund Quỹ tiền tệ quốc tế
MACC Malaysian Anti -Corruption
Commission
Ủy ban chống tham nhũng Malaysia
Development Agency
Cơ quan Kinh tế và Phát triển Quốc gia
NGO Non-governmental organization Tổ chức phi Chính phủ
Assistance
Viện trợ phát triển chính thức
OECD Organization for Economic
Cooperation and Development
Tổ chức Hợp tác Kinh tế và phát triển
PSD Public Service Department Cơ quan cung cấp dịch vụ công
TI Transparency International Tổ chức Minh bạch quốc tế
UNDP United Nations Development
Programme
Chương trình phát triển Liên hợp quốc
UNFPA The United Nations Population
Fund
Quỹ dân số Liên Hợp quốc
UNICEF United Nations Children's Fund Quỹ Nhi đồng Liên Hiệp Quốc
Trang 7Bảng 4.4: So sánh QLNN đối với ODA ở 3 nước: Malaysia,
Philippines và Việt Nam
Trang 8Hộp 3.1: Dự án đường sắt Bắc Luzon- Philippines 90
Hộp 4.1: Dự án cải tiến môi trường tại Rạch Hàng Bàng- Thành
phố Hồ Chí Minh
105
Hộp 4.3: Theo dõi và đánh giá một số dự án ODA 124
Trang 9
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Viện trợ phát triển chính thức (ODA) đã mở cánh cửa cho các nước đang và chậm phát triển bước vào một giai đoạn mới với nhiều cơ hội cho sự phát triển và thịnh vượng về kinh tế xã hội Nhiều quốc gia trên thế giới không chỉ coi ODA là nguồn lực
bổ sung quan trọng cho quá trình phát triển kinh tế, là chất xúc tác để tranh thủ các nguồn lực khác, mà ODA còn là một công cụ để các quốc gia mở rộng quan hệ kinh
tế đối ngoại nhằm phát triển kinh tế xã hội cũng như nâng cao vị thế của quốc gia trên thị trường quốc tế
Thực tế cho thấy, việc quản lý và sử dụng ODA không phải lúc nào cũng có hiệu quả ở tất cả các quốc gia Có những quốc gia nhận thức được tầm quan trọng của ODA, coi ODA là bàn đạp để phát triển và đem lại những thành công rực rỡ như trường hợp của Ba Lan, Hàn Quốc, Malaysia,… Bên cạnh đó lại có những quốc gia sử dụng ODA không thành công, không mang lại sự phát triển kinh tế xã hội như mong muốn
và để lại những hậu quả nặng nề như trường hợp của Mexico, Dămbia, Philippines, Indonesia, Do đó, ODA có thể giúp cho một nước trở nên giàu có hơn nhưng cũng
có thể làm cho một nước nghèo đi với những gánh nặng nợ nần chồng chất và lệ thuộc
về kinh tế, chính trị vào bên cấp viện trợ
Trong bối cảnh khó khăn chung của nền kinh tế thế giới hiện nay, nhu cầu thu hút và sử dụng ODA của các nước đang và chậm phát triển cũng như các nước bất ổn chính trị tăng lên mạnh mẽ trong khi lượng vốn ODA của bên cấp viện trợ có xu hướng giảm đi và đặc biệt là ngày càng có những điều kiện vay khắt khe hơn đối với bên tiếp nhận như lãi suất cao hơn, thời gian vay và thời gian ân hạn ngắn hơn hay các điều kiện về đấu thầu, thuê chuyên gia, quản lý và giám sát dự án ODA,…Trước tình hình
đó, bên tiếp nhận phải có những chính sách quản lý nguồn vốn ODA sao cho hiệu quả, đúng mục đích để nó tạo ra các “sản phẩm” kinh tế - xã hội có chất lượng, đóng góp vào quá trình phát triển lành mạnh và bền vững của đất nước
Sau hơn 20 năm thu hút và sử dụng ODA từ năm 1993 đến 2015, số vốn ODA
mà các nhà tài trợ cam kết cho Việt Nam đạt hơn 90 tỷ USD, trong đó số vốn ký kết đạt khoảng 76,8 tỷ USD (chiếm gần 80% số vốn cam kết) và số vốn giải ngân khoảng 51,5 tỷ USD (chiếm 67% số vốn cam kết) Như vậy, số vốn giải ngân vẫn chưa đạt mục tiêu đề ra trong các kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm và tỷ lệ giải ngân vẫn còn thấp hơn mức trung bình của thế giới và khu vực Nói cách khác, việc sử dụng nguồn vốn ODA ở Việt Nam chưa thực sự mang lại hiệu quả và chưa đóng góp như
Trang 10
kỳ vọng vào quá trình cải thiện nền kinh tế đất nước Vậy đâu là những nguyên nhân
dẫn đến tình trạng đó? Liệu đó có phải là do cơ chế, chính sách quản lý ODA còn nhiều chồng chéo, thiếu đồng bộ, không ổn định và chưa thực sự phù hợp với thông lệ quốc tế? Hay mô hình tổ chức quản lý, điều hành các chương trình, dự án ODA ở nước ta chưa thỏa đáng?Hay do công tác kiểm tra, giám sát nguồn vốn ODA còn lỏng lẻo, thiếu và yếu các chế tài xử phạt?Hay hiện tượng tiêu cực, tham nhũng, lãng phí trong quá trình sử dụng vốn ODA còn diễn ra mà chưa được giải quyết triệt để; Và, liệu có thể là do nhận thức của các cấp về nguồn vốn này còn lệch lạc, chưa đầy đủ?…Vậy,
tất cả những nguyên nhân gây nên tình trạng sử dụng ODA thiếu hiệu quả và gây thất thoát lớn đều có liên quan (trực tiếp hoặc gián tiếp) đến QLNN đối với việc huy động
và sử dụng ODA Do vậy, điều này đang đặt ra những thách thức về mặt QLNN để nguồn vốn này thực sự là kênh huy động vốn quan trọng góp phần vào quá trình phát triển kinh tế lành mạnh và bền vững ở Việt Nam
Từ những phân tích trên cho thấy, việc QLNN đối với nguồn vốn ODA ở Việt Nam vẫn còn chưa tốt, những chính sách được đưa ra còn mang tính tức thời chưa có một tầm nhìn dài hạn chiến lược Vấn đề này đòi hỏi các cơ quan quản lý Việt Nam cần tìm hiểu, tham khảo và học hỏi kinh nghiệm quản lý nguồn vốn ODA của một số quốc gia thành công đi trước Điều này vừa nhằm mục đích tránh lặp lại những bước
đi sai lầm trong hoạt động quản lý ODA như đã diễn ra ở một số nước, đồng thời cũng
để học hỏi những chính sách, biện pháp mà Chính phủ các nước đó đã sử dụng thành công nhằm đóng góp vào sự phát triển thịnh vượng của nền kinh tế, từ đó vận dụng có chọn lọc vào hoàn cảnh cụ thể của nền kinh tế Việt Nam Việc tìm ra, phân tích, đánh giá và lựa chọn những bài học kinh nghiệm phù hợp cho Việt Nam từ thực tiễn QLNN đối với nguồn vốn ODA của một số nước có điều kiện tương đồng là vấn đề hết sức cần thiết, giúp cho các cơ quan QLNN Việt Nam bù đắp được sự non yếu trong quản
lý đối với nguồn vốn nhạy cảm này
Với những lý do trên thì đề tài: "Quản lý nhà nước đối với viện trợ phát triển chính thức (ODA) ở một số nước Châu Á và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam" vừa
mang tính lý luận, vừa mang tính thực tiễn sâu sắc Nhất là trong bối cảnh Việt Nam đang nhận ngày càng ít lượng vốn ODA từ các nhà tài trợ nước ngoài, do vậy vấn đề cấp bách và cần thiết là Nhà nước cần phải nâng cao hiệu quả quản lý nguồn vốn này
Đó là những lý do nghiên cứu sinh đã lựa chọn đề tài này làm chủ đề nghiên cứu Luận
án tiến sỹ kinh tế của mình
Trang 112.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Với mục đích nghiên cứu trên, luận án cần thực hiện những nhiệm vụ nghiên cứu sau:
(1) Làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về QLNN đối với ODA; các nhân tố ảnh hưởng đến công tác QLNN về ODA
(2) Tìm hiểu các mô hình quản lý ODA trên thế giới; rút ra ưu, nhược điểm và đặc trưng của từng mô hình quản lý cũng như xu hướng phát triển của mô hình quản
lý ODA trên thế giới trong bối cảnh hiện nay
(3) Phân tích và đưa ra ý kiến nhận xét về thực trạng QLNN đối với ODA ở hai nước Malaysia, Philippines; đánh giá, so sánh những nội dung nàyđể thấy những mặt được và chưa được trong hoạt động QLNN ở hai quốc gia trên
(4) Tổng kết rút ra những bài học kinh nghiệm từ công tác QLNN đối với ODA
ODA
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận án tập trung nghiên cứu công tác QLNN đối với viện trợ phát triển chính thức ở một số nước Châu Á (Malaysia, Philippines) và Việt Nam
3.2 Phạm vi nghiên cứu
➢ Phạm vi về nội dung: Luận án nghiên cứu công tác QLNN đối với ODA ở các
nước tiếp nhận (công tác QLNN đối với ODA ở nước cho vay cũng như công tác QLNN đối với ODA mà nước tiếp nhận dành cho nước khác không thuộc phạm vi nghiên cứu của luận án này) với những nội dung cụ thể: Xây dựng chiến lược, quy
Trang 12
hoạch, định hướng thu hút và sử dụng ODA; Hệ thống pháp luật điều chỉnh vốn ODA;
Mô hình QLNN về ODA; Thẩm định, phê duyệt các dự án ODA; Giám sát, đánh giá việc sử dụng ODA
➢ Phạm vi về không gian: Ngoài Việt Nam, luận án sẽ tập trung nghiên cứu công
tác QLNN đối với ODA ở hai nước Châu Á, cụ thể là ở Đông Nam Á, đó là: Malaysia (đại diện cho nước quản lý ODA hiệu quả), Philippines (đại diện cho nước quản lýODA chưa hiệu quả) Lý do mà tác giả lựa chọn các quốc gia trên:
Thứ nhất, những nước Đông Nam Á nhận được tương đối nhiều sự giúp đỡ của
cộng đồng thế giới trong thời gian vừa qua Huy động vốn ODA trở thành một chính sách quan trọng trong bộ công cụ chính sách nhằm thoát nghèo và thúc đẩy phát triển
kinh tế xã hội ở các nước ASEAN “Thực hiện có hiệu quả vai trò của nhà nước trong quản lý kinh tế xã hội” là một nhận xét mà người ta có thể đưa ra khi khái quát những
đặc trưng phát triển kinh tế xã hội của các nước ASEAN [62, tr.16] Cho đến hiện nay, nhờ có sự quản lý vĩ mô tốt từ phía nhà nước đối với vốn ODA nên nhiều nền kinh tế Đông Nam Á đã phát triển và đạt được những thành tựu đáng kể như Thái Lan, Malaysia, Indonesia,…Vì vậy, để bù đắp những yếu kém trong công tác quản lý của nhà nước đối với vốn ODA, Việt Nam có thể tham khảo và học hỏi kinh nghiệm từ các nước trong khu vực, điều này sẽ tạo thuận lợi trong quá trình vận dụng các kinh nghiệm đó vào thực tiễn Việt Nam
Thứ hai, tác giả chọn hai nước Malaysia và Philippines vì có những điểm gần
gũi, tương đồng nhất định với Việt Nam về mặt địa lý, văn hoá, kinh tế, xã hội Và trong những những giai đoạn phát triển kinh tế xã hội, các nước này cũng có điểm tương đồng về mục tiêu, chiến lược, chính sách phát triển kinh tế xã hội với Việt Nam
Do vậy, từ những thành công hay thất bại trong công tác QLNN đối với ODA ở các nước trên sẽ rất có ý nghĩa thực tiễn đối với Việt Nam để chúng ta có thể rút ra những bài học kinh nghiệm quý báu
Thứ ba, cả Malaysia, Philippines và Việt Nam có điểm tương đồng nhất định
về bên cung cấp viện trợ Ba quốc gia này hầu như nhận được viện trợ chủ yếu từ: Nhật Bản, Ngân hàng thế giới (WB), Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB) và một số nhà cung cấp ODA khác Như vậy quan điểm, chính sách viện trợ của các nhà tài trợ dành cho 3 quốc gia có nhiều điểm giống nhau Từ đó cho thấy những chính sách, công cụ quản lý từ phía Nhà nước đối với ODA ở 3 nước tiếp nhận này có thể tham khảo và học hỏi kinh nghiệm lẫn nhau
Trang 13
➢ Phạm vi về thời gian: Các mốc thời gian nghiên cứu việc QLNN đối với ODA
của các quốc gia như sau:
- Nghiên cứu Malaysia trong giai đoạn 1970-2000 Sở dĩ nghiên cứu trong giai đoạn này là vì:
+ Đây là giai đoạn Malaysia thu hút được số lượng lớn nguồn vốn ODA, do đó
cơ chế, chính sách của nhà nước sử dụng để quản lý nguồn vốn ODA ở Malaysia tương đối đa dạng và nhiều chính sách sử dụng phù hợp, có hiệu quả;
+ Mặt khác, khoảng thời gian 1970- 2000 được chia thành hai giai đoạn: (i) Giai đoạn 1 từ 1970 đến 1990 là giai đoạn Malaysia thực hiện Chính sách kinh tế mới (NEP) thông qua 4 kế hoạch 5 năm, bắt đầu từ kế hoạch 5 năm lần 2 (1971- 1975) Mục tiêu của NEP này là tạo ra sự cân bằng và đồng đều trong phát triển kinh tế giữa các vùng, giữa các chủng tộc và xóa đói giảm nghèo Mục tiêu trong thu hút và sử dụng ODA ở giai đoạn này cũng không nằm ngoài mục tiêu chung của nền kinh tế Đây được coi là giai đoạn quan trọng, là công trình lớn của chính phủ để đưa Malaysia đến chỗ phát triển như ngày nay Giai đoạn 2 từ 1991- 2000 là một giai đoạn nằm trong Chương trình phát triển quốc gia 30 năm (1991- 2020) Do đó, đây là khoảng thời gian chính phủ Malaysia có những quyết tâm lớn trong điều hành kinh tế vĩ mô Chính sách, thể chế quản lý nền kinh tế nói chung và ODA nói riêng đi vào chiều sâu hơn, thực chất hơn và đề cao tính hiệu quả nên công tác QLNN về ODA ở Malaysia trong giai đoạn này sẽ giúp một số quốc gia tiếp nhận trong khu vực và trên thế giới có thể tham khảo, học hỏi những điểm tốt để vận dụng vào hoàn cảnh nước mình
- Nghiên cứu Philippines trong giai đoạn 1965-2006 Với Philippines lý do lựa chọn nghiên cứu trong giai đoạn này là:
+ Từ năm 1965 Philippines bắt đầu nhận được nhiều viện trợ từ cộng đồng quốc
tế và đến năm 2006 thì lượng viện trợ nước ngoài vào Philippines cũng bắt đầu suy giảm, là khoảng thời gian Philippines có nhiều chính sách điều hành kinh tế vĩ mô trong đó những chính sách điều hành nguồn vốn ODA rất đáng lưu ý (từ nhận thức, quan điểm cho tới cách điều hành, quản lý) cần phải được đưa ra để bàn bạc và là bài học nên tránh cho các nước khác
+ Trong giai đoạn 40 năm (1965- 2006) thì khoảng thời gian 1965- 1986 là đáng lưu tâm hơn cả, là giai đoạn đã đi vào lịch sử trong quá trình xây dựng và phát triển kinh tế ở Philippines với nhiều điểm hạn chế trong điều hành, quản lý vốn ODA Chế
độ độc tài của tổng thống Marcos thời kỳ này đã sai lầm từ nhận thức tới hành động, tạo cơ hội cho tệ nạn tham nhũng hoành hành Đây chính là vấn đề không chỉ ở
Trang 14
Philippines mà còn tương đối phổ biến ở các nước tiếp nhận ODA khác, kể cả Việt Nam Như vậy, tác giả luận án cho rằng vấn đề này cần nghiên cứu để các nước tiếp nhận ODA khác không đi vào vết xe đổ như Philippines
- Nghiên cứu Việt Nam trong giai đoạn từ năm 1993 (năm mà Việt Nam nối lại quan hệ với cộng đồng các nhà tài trợ trên thế giới) đến năm 2016
Tuy vậy, khoảng thời gian trước và sau các giai đoạn nghiên cứu này ở cả 3 nước Malaysia, Philippines và Việt Nam sẽ có tác dụng bổ trợ cho quá trình nghiên cứu nên vẫn được đề cập ở mức độ nào đó trong luận án
4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Phương pháp luận: Luận án sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và
duy vật lịch sử Luận án nghiên cứu quản lý nhà nước đối với ODA trong mối quan hệ biện chứng với quản lý nhà nước ở các lĩnh vực kinh tế xã hội khác và nghiên cứu QLNN đối với ODA trong môi trường kinh tế chính trị xã hội luôn biến động; nghiên cứu các mặt quản lý nhà nước đối với ODA trong mối quan hệ biện chứng với nhau
và nghiên cứu sự thay đổi thích ứng của các phương thức quản lý nhà nước khi mà trình độ phát triển kinh tế thay đổi
Phương pháp nghiên cứu: Phương pháp nghiên cứu chủ yếu được sử dụng khi
nghiên cứu QLNN đối với ODA là phương pháp định tính; các phương pháp cụ thể được sử dụng để giải quyết các vấn đề đặt ra trong quá trình nghiên cứu bao gồm:
Thứ nhất, sử dụng phương pháp nghiên cứu tài liệu: Dựa vào các nguồn tài liệu
trong và ngoài nước bao gồm: sách, tạp chí chuyên ngành, báo chuyên ngành, các công trình nghiên cứu như đề tài, luận án tiến sĩ, đồng thời tập trung khai thác nguồn tài liệu chính thức từ Internet và các thư viện; các số liệu thống kê, các báo cáo của các tổ chức, cơ quan có uy tín như: Tổng cục Thống kê Việt Nam, Bộ Kế hoạch và Đầu tư Việt Nam, Ngân hàng thế giới, Quỹ tiền tệ quốc tế,… để tiến hành tổng hợp, so sánh, phân tích và đánh giá Tất cả các dữ liệu và số liệu được sưu tầm để phục vụ nghiên cứu đề tài đều đã được xuất bản công khai từ các nguồn chính thức, đáng tin cậy Một
số nguồn tài liệu phải trả bản quyền đã được thanh toán đầy đủ đúng quy định, đảm bảo tính hợp quy bản quyền tác giả, bản quyền dữ liệu
Thứ hai, sử dụng phương pháp chuyên gia Phương pháp này được sử dụng chủ
yếu dưới hình thức trao đổi trực tiếp nhằm tham khảo ý kiến của các nhà khoa học, các chuyên gia hoạt động trong lĩnh vực ODA QLNN về ODA là một nội dung không mới nhưng đến nay vẫn còn tồn tại nhiều vấn đề, nghiên cứu sinh sử dụng phương pháp này nhằm thu thập thêm nhiều nhận định từ góc độ những nhà khoa học, những
Trang 15
cán bộ làm công tác quản lý ODA cũng như những chuyên gia trong ngành Những nội dung trao đổi với các chuyên gia tập trung vào những vấn đề chủ yếu của Việt Nam hiện nay: Tình hình giải ngân vốn ODA thời gian qua? những yếu tố nào làm chậm giải ngân của các chương trình/dự án? Lĩnh vực ưu tiên sử dụng vốn ODA có phù hợp? Tình trạng thất thoát, lãng phí trong sử dụng ODA? Chất lượng các công trình dự án được đầu tư bằng vốn ODA? Phân cấp trong quản lý và sử dụng ODA? Đánh giá tác động của ODA đến phát triển kinh tế xã hội cũng như nợ công? những ví
dụ cụ thể về quản lý ODA tại Việt Nam? Một số bài học từ thực tiễn quản lý ODA ở các nước Châu Á (Malaysi, Philippines) cho Việt Nam?
Thứ ba, sử dụng phương pháp thống kê: Phương pháp này được sử dụng chủ yếu
trong chương 3 và chương 4 của luận án Số liệu được thống kê, xử lý và trình bày một cách rõ ràng, từ đó rút ra những xu hướng, quy luật, đưa ra những nhận định khách quan nhất có thể về đối tượng nghiên cứu
Thứ tư, sử dụng phương pháp phân tích hệ thống, toàn diện và logic khi nghiên
cứu QLNN đối với ODA ở các nước Malaysia, Philippines và Việt Nam, đánh giá từng nội dung QLNN về ODA trong mối quan hệ với các yếu tố tác động như: chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa, gắn với từng hoàn cảnh cụ thể
Thứ năm, sử dụng phương pháp đối chiếu, so sánh dựa trên sự tương đồng và
khác biệt về thể chế, văn hoá, kinh tế… của mỗi quốc gia
5 Đóng góp mới về khoa học của luận án
Luận án có một số đóng góp mới chủ yếu về khoa học như sau:
Một là, Luận án đã đóng góp và làm rõ thêm cơ sở lý luận về QLNN đối với
ODA, luận án đã khái quát và chỉ ra các mô hình QLNN đối với ODA trên thế giới;
ưu, nhược điểm của các mô hình và xu hướng vận động của các mô hình
Hai là, Luận án đã phân tích, đánh giá chỉ ra những đặc trưng nổi bật trong
QLNN đối với ODA ở hai nước Malaysia và Philippines trên các mặt: Chiến lược, kế hoạch thu hút, sử dụng ODA; hệ thống pháp luật điều chỉnh vốn ODA; mô hình quản
lý và thực trạng phân cấp quản lý; quá trình phê duyệt dự án ODA; công tác kiểm tra, giám sát dự án ODA Rút ra những bài học từ công tác quản lý nhà nước đối với ODA
từ hai quốc gia này
Ba là, trên cơ sở phân tích thực trạng QLNN đối với ODA ở Việt Nam cũng
như những bài học kinh nghiệm rút ra từ phân tích quá trình QLNN đối với ODA tại hai quốc gia trên, luận án đề xuất một số bài học có thể vận dụng vào thực tiễn quản
Trang 16- Luận án đã khái quát các mô hình QLNN về ODA; ưu, nhược điểm của từng
mô hình cùng xu hướng vận động của các mô hình đó
- Luận án cũng lý giải một nội dung quan trọng nữa là các yếu tố tác động đến công tác QLNN về ODA, nó bao gồm những yếu tố thuộc bên cấp ODA, bên nhận ODA và bối cảnh kinh tế chính trị thế giới hiện nay
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
- Luận án đã phân tích thực trạng QLNN về ODA ở các nước Châu Á là Malaysia, Philippines và Việt Nam, đưa ra những ý kiến nhận xét về tính hiệu quả và không hiệu quả từ công tác QLNN về ODA ở các quốc gia này, từ đó tổng kết và rút
ra bài học kinh nghiệm có thể vận dụng vào Việt Nam
- Ngoài ra, những vấn đề thực tiễn khác mà luận án đề cập góp phần thiết thực vào việc hoàn thiện QLNN về ODA ở Việt Nam trong thời gian tới
- Luận án sẽ là tài liệu tham khảo cho các nhà quản lý, nhà hoạch định chính sách và độc giả quan tâm đến chủ đề này Đồng thời, là tài liệu có thể tham khảo trong quá trình giảng dạy, học tập và nghiên cứu ở các cơ sở đào tạo có liên quan
7 Kết cấu của luận án
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, Phụ Lục, Danh mục các chữ viết tắt, Danh mục các bảng, biểu, hình, Luận án được kết cấu thành 4
chương như sau:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án
Chương 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý nhà nước đối với viện trợ phát triển
chính thức
Chương 3: Thực trạng quản lý nhà nước đối với viện trợ phát triển chính thức ở một
số nước Châu Á
Chương 4: Vận dụng bài học kinh nghiệm từ công tác quản lý nhà nước đối với viện
trợ phát triển chính thức ở một số nước Châu Á vào thực tiễn Việt Nam
Trang 17
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN
ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
Có thể khẳng định, QLNN đối với ODA ở các nước tiếp nhận trong đó có các nước ở Châu Á là chủ đề nhận được rất nhiều sự quan tâm của các học giả Với ba nước: Malaysia, Philippines và Việt Nam đều là những nước tiếp nhận ODA trong nhiều thập kỷ qua, do đó có nhiều công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về thực trạng thu hút và sử dụng ODA; về công tác QLNN đối với ODA ở các nước này và cũng đề cập ở nhiều khía cạnh, nhưng có thể khái quát như sau:
1.1 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRÊN THẾ GIỚI
1.1.1 Tình hình nghiên cứu về ODA và quản lý nhà nước đối với ODA
ODA chưa bao giờ là một khái niệm hoàn hảo, luôn có một cuộc tranh luận về
sự phù hợp và độ tin cậy của khái niệm ODA Xem xét nguồn gốc và sự tiến triển của
khái niệm ODA, đó là những nội dung chính được thể hiện trong tác phẩm: “The Evolution of Official Development Assistance: Achievements, Criticisms and a Way Forward” của William Hynes và Simon Scott (2013) [138]
Nghiên cứu mang tên: “The story of official development assistance” của Helmut Führer (1996), hay tác phẩm: “Aid untying: is it working?” của nhóm tác giả Edward J Clay, Matthew Geddes và Luisa Natali (2009), “Promoting Private Investment for Development: The role of ODA” của Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh
tế (OECD) năm 2006, đều đề cập đến những nội dung cơ bản như: một khoản vay thế nào thì được coi là khoản vay ODA, đặc điểm, vai trò, nguồn gốc hình thành ODA,…Theo tác giả luận án, đây là những bài viết rất cơ bản và chi tiết về lý thuyết ODA nói chung, các công trình trên rất có giá trị về mặt khoa học, là tiền đề quan trọng
để tiếp tục nghiên cứu vấn đề [110], [103], [131]
Năm 2008, Tổ chức Hợp tác kinh tế và phát triển (OECD) qua công trình “Is
it ODA?” đề cập đến các thành tố trong ODA như tỷ lệ viện trợ không hoàn lại là bao
nhiêu, khoản vay với các điều kiện ưu đãi như thế nào, những khoản hỗ trợ nào thì không được tính là ODA Công trình này cung cấp cho người đọc một cái nhìn sâu sắc hơn về ODA [133]
Viện trợ nước ngoài đóng một vai trò quan trọng trong sự phát triển chung của mỗi quốc gia nếu nó được sử dụng hợp lý Do sự khan hiếm các nguồn lực trong nước
và do trở ngại của các điều kiện tự nhiên khác, các quốc gia đang phát triển bù đắp sự thiếu hụt bằng nguồn vốn viện trợ nước ngoài Nói chung, viện trợ nước ngoài được cấp để giảm thâm hụt ngân sách, xúc tiến thương mại và để cân nhắc những chiến lược
Trang 18
phát triển Những nội dung cơ bản đó được đề cập trong công trình nghiên cứu:
“Comparative study of global role of foreign aid in the development and associates strategies for Pakistan” của Mehmood UI- Hassan Khan (2008) Theo nghiên cứu của
tác giả Mehmood UI- Hassan Khan, viện trợ nước ngoài có thể ảnh hưởng đến các chính sách vĩ mô và vi mô của các nước tiếp nhận Để bù đắp hai khoảng trống quan trọng của nền kinh tế là chênh lệch xuất nhập khẩu và khoảng cách đầu tư- tiết kiệm, các nước đang và chậm phát triển phải dựa vào viện trợ nước ngoài Tuy nhiên, nghiên cứu cũng cho rằng viện trợ phát triển có hiệu quả hay không thì tùy thuộc vào cách thức quản trị tại nước tiếp nhận Nghiên cứu đã lấy Pakistan làm minh chứng cho những vấn đề trên [124]
Tiếp tục xoay quanh vai trò của ODA đối với sự phát triển kinh tế xã hội ở các
nước đang và chậm phát triển, trong cuốn sách mang tên: “Foreign Aid Isn't?” của Prakash Loungani năm 2006 hay “Is Aid Effective?” của Mark McGillivray (2005),
các tác giả đã có một cách tiếp cận khác về ODA, đó là ngờ vực về vai trò của ODA đối với sự phát triển kinh tế của các nước đang và chậm phát triển Các tác giả cho rằng viện trợ nước ngoài là không cần thiết và cũng không đủ để nâng cao mức sống
ở các nước đang phát triển Nó không cần thiết vì một số quốc gia đã có thể nâng cao được mức sống mà không cần đến viện trợ, trong khi nhiều quốc gia vẫn còn sa lầy trong nghèo đói mặc dù nhận được viện trợ nước ngoài rất lớn [135], [122]
Đề cập tới điều kiện viện trợ, có nghiên cứu “Whose aid? Whose influence? China, emerging donnors and the silent revolution in development asisstance” của
Ngaire Wood (2008) Bài viết nói rằng, thực trạng gần đây, trật tự của các quốc gia cung cấp ODA đang bị lung lay trước sự thay đổi quyền lực trên phạm vi toàn cầu Trung Quốc, các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất, Ả rập Xê út, Hàn Quốc, Venezuela, Ấn Độ, Kuwait và Brasil đã, đang tăng cường viện trợ cho các quốc gia nghèo hơn theo những tiêu chí của riêng mình Tất cả các quốc gia này đều không thuộc nhóm các nhà tài trợ trong OECD, hay còn gọi là Ủy ban Hỗ trợ phát triển OECD (DAC) Họ đang bị cáo buộc là cổ xúy cho những chính sách tồi, hạ thấp các tiêu chuẩn viện trợ, điều kiện cho vay và làm chồng chất thêm gánh nặng nợ nần cho các quốc gia nhận viện trợ từ các nước này Vấn đề này đã, đang gây tranh cãi giữa những nhà tài trợ kỳ cựu (nhóm các quốc gia thành viên của DAC) và nhóm các nhà tài trợ mới nổi trên mà điển hình là Trung Quốc [130]
Tác giả John Perkins với tác phẩm: “Confessions of an Economic Hit man” (Lời thú tội của một sát thủ kinh tế) (2004), đưa cho người đọc một góc nhìn hoàn toàn khác
về viện trợ nước ngoài Đây là cuốn hồi ký của một nhân vật có tên là Perkins, tự xưng
đã từng làm “sát thủ kinh tế” Theo đó, ông là người được giới đại doanh thương Mỹ
Trang 19
gửi sang các quốc gia đang phát triển dưới danh nghĩa là thuyết phục các nước này vay tiền tài trợ cho xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế- xã hội nhưng thực chất ông phải làm thế nào để các nước vay ODA phá sản, không trả được nợ, nghe lời chủ nợ và trở thành
“đàn em” dễ bảo của Mỹ Đây là cuốn sách đã nói lên mưu đồ của Mỹ cũng như nhiều nước khi cấp viện trợ cho nước khác [118]
Báo cáo của Ngân hàng thế giới (1998): “Assessing Aid: What Works, What Doesn't, and Why”(Đánh giá viện trợ: Khi nào có tác dụng, khi nào không và tại sao?)
góp phần vào việc đổi mới tư duy về viện trợ mà cộng đồng quốc tế đang tranh luận,
theo hai nghĩa Thứ nhất, với việc kết thúc chiến tranh lạnh, có những người đặt vấn
đề liệu có cần thiết phải viện trợ hay không trong một thế giới mà các thị trường vốn liên hệ chặt chẽ với nhau Với xu hướng này, báo cáo đã chứng minh rằng viện trợ từ
nước giàu sang nước nghèo vẫn có vai trò của nó Thứ hai, các nước đang phát triển
và các nước phát triển đều đang xem xét lại vai trò của viện trợ Viện trợ hữu hiệu có thể giúp phát triển thể chế và cải cách chính sách là các yếu tố tối quan trọng cho quá trình phát triển, tuy nhiên trong suốt 50 năm qua dù đã có rất nhiều cố gắng nhưng sự nghèo khổ trên thế giới vẫn là một vấn đề nghiêm trọng Báo cáo đề cập khá kỹ đến mối quan hệ giữa môi trường chính sách của nước tiếp nhận với hiệu quả của viện trợ: viện trợ phát huy tác dụng trong một môi trường chính sách, thể chế tốt và sẽ không hiệu quả nếu môi trường chính sách của nước tiếp nhận là tồi [51]
Hai tác giả Craig Burnside and David Dollar với tác phẩm “Aid, Policies and Growth”, (1997) và “Aid, Policies, and Growth: Revisiting the Evidence” (2004) cũng
tiếp tục đề cập đến mối liên hệ giữa viện trợ, chính sách và tăng trưởng Nhóm tác giả
đã sử dụng dữ liệu của 56 quốc gia nhận viện trợ để xây dựng mô hình hồi quy tìm ra mối liên hệ giữa các biến số này Tác giả khẳng định viện trợ có tác dụng tích cực nếu trong môi trường chính sách tài khóa, tiền tệ và chính sách thương mại tốt được tạo ra bởi chính phủ của nước tiếp nhận, còn trong môi trường, chính sách vĩ mô tồi thì ngược lại Đây là một nghiên cứu rất công phu để nói về vai trò của nhà nước ở nước tiếp nhận với việc nâng cao hiệu quả viện trợ [90], [91]
Với tác phẩm “Aid, Growth and Devolution” (2011) của Christian Lessmann
và Gunther Markwardt, các tác giả tập trung vào phân tích mối quan hệ giữa phân cấp, phân quyền và hiệu quả viện trợ- vấn đề vẫn còn nhiều tranh cãi hiện nay Nhóm nghiên cứu sử dụng số liệu của 60 quốc gia để hồi quy và đưa ra kết luận rằng viện trợ
có hiệu quả ở những nước có sự quản lý tập trung và kém hiệu quả hoặc thậm chí có hại ở những nước thực hiện phân cấp quản lý [97]
Trang 20
1.1.2 Tình hình nghiên cứu về quản lý nhà nước đối với ODA ở Malaysia và Philippines
Trong bài viết:“Managing the Development Process and Aid”, nhóm tác giả
Izumi Ohno và Masumi Shimamura (2007) đã nêu kinh nghiệm của 3 nước Châu Á: Philippines, Malaysia và Thái Lan trong công tác lập quy hoạch, phê duyệt dự án, phối hợp quản lý của các cơ quan kinh tế trung ương trong quản lý các dự án đầu tư công nói chung và dự án ODA nói riêng Bài viết đã đi sâu phân tích quá trình lập kế hoạch
và ra quyết định đối với các dự án ODA của các cơ quan quản lý trung ương ở ba nước này, nêu ra vai trò quan trọng của những nhà lãnh đạo đối với sự thành công trong quản lý phát triển Điều đặc biệt là khi đề cập đến mỗi vấn đề, các tác giả đã sử dụng phương pháp so sánh để phân biệt cách thức xây dựng kế hoạch, quy trình thẩm định
dự án đến giám sát, đánh giá việc sử dụng ODA giữa ba nước với nhau, từ đó người đọc có thể thấy được đặc trưng của từng nước trong các vấn đề này [114]
Trong một cuộc hội thảo về đánh giá viện trợ ODA của Nhật Bản dành cho Malaysia vào năm 2007, Ngân hàng Hợp tác quốc tế Nhật Bản (JBIC) đã có báo cáo
“Report of the Workshop on ODA Evaluation in Malaysia” Báo cáo đã khái quát tình
hình sử dụng ODA ở Malaysia trước khi bàn về những kinh nghiệm quản lý và sử dụng ODA sao cho hiệu quả giữa bên cấp (có thêm các đại diện là JICA, ADB, Nepal)
và bên nhận (có thêm các đại diện là Việt Nam, Philippines và Sri Lanka) [115]
Trong Hội nghị bàn về việc quản lý và thực hiện các dự án ODA diễn ra tại Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam năm 2006, Hidah Misran đã trình bày bài tham
luận của mình với tiêu đề: “The role of economic planning unit (EPU) in management
of ODA” Bài tham luận chỉ rõ vai trò của các cơ quan trung ương trong quản lý nguồn
vốn ODA ở Malaysia trong đó đầu mối là Ban Kế hoạch kinh tế (EPU) Cơ quan này thuộc văn phòng chính phủ Malaysia được thành lập năm 1961 với chức năng chính
là quy hoạch phát triển và phân bổ ngân sách EPU cũng là cơ quan trung ương chịu trách nhiệm phê duyệt các chương trình, dự án ODA Kế hoạch phát triển ở cấp liên bang được thực hiện bởi EPU, Bộ Tài chính, Ngân hàng Trung ương cũng như các phòng kế hoạch của các Bộ và cơ quan khác Bài tham luận đã đưa ra những kinh nghiệm rất cụ thể trong quản lý và sử dụng ODA: từ khâu lập kế hoạch thu hút, đến tổ chức thực hiện và đánh giá, giám sát chương trình dự án ODA Đối với mỗi nhà tài trợ
sẽ có những quy trình quản lý khác nhau, Hidah Misran đã đưa ra quy trình đó ứng với mỗi nhà tài trợ chính như Nhật Bản, Đan Mạch, Đức, các tổ chức của Liên hợp quốc,…Cuối bài viết, tác giả đã đưa ra bảy tồn tại trong quản lý ODA ở Malaysia đồng thời cung cấp sáu bài học kinh nghiệm để các nước tiếp nhận ODA khác có thể học hỏi [113]
Trang 21Trong báo cáo: “Malaysia Achieving the Millennium Development Goals” của Liên hợp quốc (UN) năm 2006, cho rằng Malaysia đã hoàn thành được tám mục tiêu
phát triển thiên niên kỷ trong đó có mục tiêu trở thành đối tác phát triển toàn cầu Từ một nước nghèo đói sau khi thoát khỏi thuộc địa của Anh, Malaysia đã phải huy động vốn từ cộng đồng quốc tế Khoản vốn ít ỏi mà Malaysia nhận được vào những năm
1970 đã dùng để khắc phục tình trạng đói nghèo và tình trạng bất bình đẳng trong xã hội Thời kỳ sau đó viện trợ nước ngoài đã giúp Malaysia nâng cao được tiềm lực khoa học công nghệ, tăng cường các kỹ năng chuyên môn như lập kế hoạch, thực hiện, đánh giá, phân tích chính sách, phát triển thể chế…cũng như cải thiện nhiều lĩnh vực khác Báo cáo cũng chỉ ra, ngoài hỗ trợ về mặt tài chính mà Malaysia nhận được thì quốc gia này còn nhận được sự hỗ trợ về mặt kỹ thuật mà chủ yếu là từ nhà cung cấp Nhật Bản Hỗ trợ kỹ thuật đã có tác động tích cực đến môi trường chính sách ở Malaysia như tăng cường khả năng cạnh tranh của nền kinh tế, thị trường tài chính phát triển và nguồn nhân lực được cải thiện Để đạt được những thành công đó, Malaysia đã có một
cơ chế quản lý tốt, một đội ngũ nhân viên được đào tạo và một nền văn hóa có trách nhiệm giải trình tốt Tuy nhiên báo cáo đã không đi sâu đề cập đến phương thức quản
lý ODA, không nói rõ quy trình giám sát và đánh giá dự án như thế nào, nhưng đây là một tài liệu hay để tác giả luận án có thể tham khảo [137]
Tình hình thu hút và sử dụng ODA của Philippines trong khoảng thời gian từ
1986-2006 đã được Eduardo C Tadem mô tả chi tiết trong tác phẩm: “The crisis of official development assistance to the Philippines: New global trends and old local issues” (2007) Bài viết cho rằng nền kinh tế Philippines đã phụ thuộc rất lớn vào
nguồn vốn ODA trong khi việc sử dụng nguồn vốn này lại không hiệu quả Nghiên cứu khái quát các nhà tài trợ chính của Philippines trong thời kỳ này; lượng ODA cam kết và giải ngân; phân bổ ODA theo ngành, theo địa phương; nợ nước ngoài/GDP cũng như đề cập sơ bộ đến cách quản lý nguồn vốn trong giai đoạn này Đặc biệt, tác giả đưa ra những bất cập trong sử dụng và quản lý ODA ở Philippines, đó là: tham nhũng được coi là vấn đề nan giải của Philippines, vấn đề xã hội và môi trường, thiếu kinh phí đối ứng, ràng buộc viện trợ, bất cập trong thuê chuyên gia tư vấn nước ngoài, bồi hoàn thuế giá trị gia tăng, vấn đề ngân sách, các vấn đề mua sắm Chính phủ, [101]
Trong bài: “ODA coordination: The Philippines case” của Jeanne Frances
Trang 22
(2003), tác giả đã chỉ rõ cơ chế phối hợp của các cơ quan trong việc thực hiện các dự
án ODA ở Philippines Việc phân chia quyền hạn, trách nhiệm của các cơ quan trong việc thực hiện dự án ODA đã mang lại những kết quả nhất định nhưng cũng có những tiêu cực cần khắc phục [116]
Bài viết:“Impact of foreign aid in economic development of developing countries: A case of Philippines” của Mahmoud Kamal Abouraia (2014) đã đề cập
đến vai trò của viện trợ đối với sự phát triển kinh tế xã hội của Philippines Tác giả Mahmoud Kamal Abouraia đã tiến hành phân tích hồi quy để tìm ra mối liên hệ giữa ODA với tăng trưởng kinh tế của Philippines Tác giả sử dụng dữ liệu từ cơ sở dữ liệu của Ngân hàng thế giới về lượng vốn ODA mà Philippines nhận được từ năm 2009-
2012 Kết quả hồi quy cho thấy ODA có tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế, cụ thể khi ODA tăng lên 1% thì tăng trưởng kinh tế Philippines tăng lên 0,0035% Theo quan điểm của tác giả bài viết, vấn đề không chỉ nằm ở việc tăng quy mô GDP mà còn
là chất lượng của tăng trưởng, như là: khả năng cạnh tranh của nền kinh tế, năng suất lao động, tăng trưởng và mở rộng xuất khẩu, cải thiện đời sống cho người dân,…Vì vậy, các nước tiếp nhận ODA cần có những chính sách tích cực nhằm mang lại hiệu quả trong sử dụng ODA [121]
Bài viết “The Philippines' Absorptive Capacity for Foreign Aid” (2010) của
Hyewon Kang đã tập trung vào việc đánh giá hiệu quả của việc sử dụng nguồn vốn ODA ở Philippines trong giai đoạn 2003-2008 và so sánh với giai đoạn 1986-1988 Tác giả cho rằng, hiệu quả sử dụng nguồn vốn ODA ở Philippines đã giảm ở thời kỳ nghiên cứu so với thời kỳ trước đó Nghiên cứu cũng đã chỉ ra nguyên nhân của việc
sử dụng không hiệu quả ODA, nguyên nhân đó xuất phát từ cả hai phía (phía nước nhận viện trợ và phía các nhà tài trợ) Nguyên nhân xuất phát từ phía nhận viện trợ là
do cơ chế điều phối ODA chưa hiệu quả, thiếu năng lực và trách nhiệm của chính quyền địa phương cộng với nạn tham nhũng phổ biến ở Philippines Bên cạnh đó, việc gia tăng “quyền lực mềm” (như lợi ích về an ninh, chính trị, tìm kiếm nguồn tài nguyên, thúc đẩy thương mại…) của bên cấp viện trợ cũng là nguyên nhân cơ bản dẫn đến việc sử dụng ODA ở quốc gia này chưa đạt kết quả tốt [111]
Quan điểm của Bernadette E.Phelan và Naoyuki Yoshino được thể hiện trong
bài viết: “A simulation of the macroeconomic impact of ODA with the debt factor: the Philippine experience” năm 1995 lại đưa ra một góc nhìn khác về về tác động của
ODA đối với nền kinh tế Hai tác giả cho rằng ODA mang lại gánh nặng nợ nần hơn
là tác động tích cực đến nền kinh tế Những lý do để biện minh cho quan điểm này của tác giả là: i) Sự tham gia ngày càng tăng của Chính phủ vào hoạt động đầu tư được tài trợ bởi vốn ODA làm hạn chế đầu tư tư nhân; (ii) Dòng vốn ODA chảy vào có xu
Trang 23Công trình của Jim Morrell (1999) “Aid to the Philippines: Who benefits” đã
trình bày về viện trợ phát triển cho Philippines trong thời kỳ đầu xây dựng đất nước với nhà tài trợ chính là Mỹ Sự hỗ trợ đó đã làm cho Philippines thoát khỏi tình trạng đói nghèo tại thời điểm những năm 1950- 1960 Tuy nhiên, tác giả cũng cho rằng, liệu
đó có phải là sự hỗ trợ hảo tâm của Mỹ dành cho Philippines hay Mỹ có những lợi ích
và mưu đồ gì ở đó? [117]
1.1.3 Tình hình nghiên cứu về quản lý nhà nước đối với ODA ở Việt Nam
Nghiên cứu: “The role of donors in Vietnamese development planning” của Le
Thanh và Ari Kokko (Trường Đại học Kinh tế Stockholm) năm 2007 đã đề cập đến vai trò của ODA trong phát triển kinh tế của Việt Nam những năm qua, giúp Việt Nam giảm nghèo và đạt tăng trưởng kinh tế cao Nghiên cứu cho rằng vai trò của nhà nước
đã thay đổi từ khi Việt Nam chuyển sang nền kinh tế thị trường và Bộ KH&ĐT đóng vai trò trung tâm trong soạn thảo chiến lược phát triển tổng thể của quốc gia, trong đó
có trách nhiệm quản lý ODA [88]
Trong chuyên đề nghiên cứu “The developmental effectiveness of untied aid: evaluation of implementation of the Paris declaration and of the 2001 DAC recommendation on untying ODA to the LDCs- Vietnam country study”, Adam
McCarty, Alexander Julian và Daisy Banerjee năm 2009, đã đi sâu nghiên cứu về hiệu quả các khoản viện trợ không ràng buộc ở Việt Nam Để kết luận có tính thuyết phục, nghiên cứu đã lấy mẫu bốn chương trình, dự án: hai dự án thủy lợi được tài trợ bởi Luxembourgh và Cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA), một chương trình cấp thoát nước và vệ sinh môi trường do Cơ quan phát triển quốc tế Australia (AusAID),
Tổ chức phát triển quốc tế Đan Mạch (Danida) và Hà Lan tài trợ và một dự án xây dựng phòng chống lụt bão do Cơ quan phát triển Pháp (AFD) tài trợ Nghiên cứu cho rằng hiệu quả của các chương trình, dự án không đi kèm điều kiện ràng buộc ở Việt Nam chưa cao do tính làm chủ chưa tốt Việt Nam còn lúng túng và chưa xử lý kịp thời những vấn đề liên quan đến: mua sắm hàng hóa dịch vụ, quy trình đấu thầu và lựa chọn nhà thầu, thị trường lao động tại địa phương, [86]
Trang 241.2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG NƯỚC
1.2.1 Tình hình nghiên cứu về ODA và quản lý nhà nước đối với ODA nói chung
Về lý thuyết ODA nói chung và vai trò của ODA đối với sự phát triển kinh tế xã hội, trong nước có tương đối nhiều tác giả nghiên cứu vấn đề này, tiêu biểu là cuốn
sách “Hỗ trợ phát triển chính thức ODA- Những điều căn bản và thực tiễn ở Việt Nam” của tác giả Hà Thị Ngọc Oanh (1998), “Những điều cần biết về viện trợ phát triển chính thức” của nhóm tác giả Trần Đình Tuấn, Đặng Văn Nhiên (1993); và tác phẩm:
“Tổng quan về viện trợ phát triển chính thức Việt Nam” của tổ chức Liên hợp quốc
năm 2000 Tất cả các tác phẩm này đã đề cập khá cụ thể về lý thuyết ODA nói chung, như: khái niệm ODA, đặc điểm ODA, vai trò của ODA đối với sự phát triển kinh tế
xã hội ở các nước tiếp nhận, đồng thời các tác giả cũng khái quát tình hình thu hút và
sử dụng ODA ở Việt Nam đến thời điểm các tác giả nghiên cứu [55], [74], [44]
Tác giả Lưu Ngọc Trịnh với cuốn sách mang tên: “Vốn vay ưu đãi ở Việt Nam những năm gần đây Thực trạng vấn đề và giải pháp- Trường hợp Nhật Bản”, NXB
Lao Động Xã hội năm 2002 đã khẳng định Nhật Bản là nhà tài trợ lớn nhất ở Việt Nam cũng như nhiều quốc gia trên thế giới Cuốn sách khái quát về Ngân hàng Hợp tác quốc tế Nhật Bản (JBIC)- tổ chức có số vốn viện trợ lớn nhất cho Việt Nam, tình hình vốn vay của JBIC ở Việt Nam Cuốn sách có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn JBIC tại Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả của các hoạt động kinh tế đối ngoại giữa Việt Nam với Nhật Bản và quốc tế Ngoài ra, cuốn sách cũng góp phần hiện thực hóa chính sách mở cửa của Đảng và Nhà nước Việt Nam, thích hợp với chiến lược phát triển kinh tế của Việt Nam [72]
Bài viết của tác giả Nguyễn Hồng Sơn: “Viện trợ phát triển chính thức (ODA)- thực trạng, triển vọng và hàm ý chính sách cho Việt Nam” đăng trên tạp chí Những
vấn đề kinh tế thế giới, số 7/2003, đã đưa ra một số nhân tố ảnh hưởng tới ODA trong thập kỷ 1990 gồm: môi trường chính trị quốc tế, những điều chỉnh trong chính sách tài
Trang 25chính trị quốc tế và khu vực,…là những nội dung chính trong cuốn sách: “Thu hút và
sử dụng ODA của Ngân hàng thế giới tại Việt Nam” của Nguyễn Hữu Dũng năm 2010
Bên cạnh đó, tác giả cuốn sách cũng đưa ra các nhân tố xuất phát từ phía Việt Nam như: ổn định chính trị, kinh tế vĩ mô, hệ thống luật pháp, khả năng lập dự án, chất lượng tiến độ và hiệu quả ODA… ảnh hưởng đến quá trình thu hút và sử dụng ODA
ở Việt Nam [23]
1.2.2 Tình hình nghiên cứu về quản lý nhà nước đối với ODA ở Malaysia và Philippines
Trong “Báo cáo khảo sát về cải cách pháp luật và tư pháp tại một số nước” do
Uông Chu Lưu (2006) chủ biên, kết quả ba chuyến khảo sát tới Hoa Kỳ và Canada, Nhật Bản, Indonesia và Philippine của đoàn cán bộ cấp cao Chính phủ Việt Nam trong khuôn khổ Dự án VIE/02/015 về: “Hỗ trợ thực thi chiến lược phát triển hệ thống pháp luật Việt Nam đến 2010” do UNDP, Thụy Điển, Đan Mạch, Na Uy và Ailen tài trợ,
có Phần ba đề cập đến việc sử dụng và điều phối nguồn hỗ trợ quốc tế cho hoạt động xây dựng và thực thi pháp luật tại Indonesia và Philippines Trong phần này, nhóm khảo sát đã trình bày sơ qua về quy trình thu hút và sử dụng ODA nói chung cũng như trong lĩnh vực pháp luật và tư pháp ở Philippines nói riêng Phần cuối của báo cáo là
đề xuất các khuyến nghị cụ thể nhằm tăng cường cơ chế điều phối ODA và các hình thức hỗ trợ quốc tế khác trong việc phát triển hệ thống pháp luật ở Việt Nam [47]
Bài viết “Kinh nghiệm sử dụng ODA của một số nước và bài học rút ra đối với Việt Nam” của Nguyễn Thị Hoàng Oanh được đăng trên tạp chí Khoa học thương mại,
số 8/2004, hay bài viết: “Kinh nghiệm thu hút và sử dụng vốn ODA của EU tại các nước Châu Á” của Hoàng Xuân Trung đăng trên tạp chí Nghiên cứu Châu Âu số
6/2008, các tác giả đều đề cập đến kinh nghiệm thành công và không thành công trong thu hút và sử dụng ODA ở các nước trên thế giới, từ đó rút ra một số bài học cho Việt Nam Tuy vậy, những bài viết này chưa đề cập nhiều đến công tác QLNN đối với ODA
ở các quốc gia, nên bài học rút ra còn chung chung, chưa bộ lộ rõ những vấn đề quản
Trang 26đã không đề cập đến công tác QLNN đối với ODA ở Philippines [48]
Tác giả Hoàng Xuân Hòa trong bài viết của mình: “Kinh nghiệm thu hút và sử dụng nguồn vốn ODA của một số nước ở Châu Á” đăng trên Tạp chí Nghiên cứu kinh
tế, số 335, tháng 4 năm 2006, đã đưa ra ba nước điển hình ở Châu Á trong việc sử
dụng hiệu quả nguồn vốn ODA, đó là Ấn Độ, Thái Lan và Malaysia Ấn Độ đã công
bố Chương trình hành động quốc gia trong giai đoạn 2001- 2005, tập trung vào các lĩnh vực ưu tiên như phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế, giảm nghèo, bảo vệ môi trường, chăm sóc sức khỏe và y tế,…Với chương trình cụ thể, Ấn Độ đã thu hút được nhiều vốn ODA từ các nhà tài trợ lớn như Nhật Bản, EU để thực hiện các lĩnh vực ưu tiên trên Với Thái Lan, ngay từ những năm 1980 đã nhận được viện trợ phát triển từ Canada để củng cố sự phát triển bền vững với các lĩnh vực như: cơ sở hạ tầng, bảo vệ môi trường, phát triển dân chủ, Ngoài Canada, EU cũng là đối tác viện trợ lớn của Thái Lan, cũng giúp Thái Lan củng cố sự phát triển kinh tế, xã hội Hiện nay, mối quan
hệ giữa hai nhà tài trợ EU, Canada với Thái Lan là quan hệ đối tác, hỗ trợ kỹ thuật và tập trung chủ yếu vào các lĩnh vực quản lý nguồn tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường, phát triển nguồn nhân lực, Cũng giống như Thái Lan, Malaysia cũng đạt được những thành công nhất định trong thu hút và sử dụng ODA [37]
Tôn Thanh Tâm (2004) trong luận án tiến sỹ kinh tế “Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) tại Việt Nam”, đã đưa ra
kinh nghiệm thành công trong sử dụng ODA của Malaysia Tác giả cho rằng Malaysia thành công là do biết điều chỉnh những chính sách quản lý phù hợp với từng điều kiện, hoàn cảnh của từng thời kỳ phát triển của mình [61]
1.2.3 Tình hình nghiên cứu về quản lý nhà nước đối với ODA ở Việt Nam
Liên quan đến vấn đề QLNN đối với ODA ở Việt Nam hơn hai thập kỷ qua, trong nước cũng đã có nhiều công trình nghiên cứu, tiêu biểu là:
Luận án tiến sỹ kinh tế của Lê Hải Hà: “Viện trợ không hoàn lại của các tổ chức Liên hợp quốc tại Việt Nam” (2016), đã tập trung phân tích đặc điểm của viện trợ
không hoàn lại, những kết quả đạt được và những hạn chế trong việc thu hút và sử dụng vốn viện trợ không hoàn lại của các tổ chức Liên hợp quốc (UNDP, UNICEF, UNFPA) tại Việt Nam, từ đó đưa ra giải pháp nhằm thu hút và sử dụng vốn viện trợ không hoàn lại của các tổ chức này ở Việt Nam [29]
Trang 27lý các cấp chưa phát huy vai trò làm chủ trong công tác quy hoạch, kế hoạch, điều phối vốn ODA; chiến lược thu hút ODA chưa khoa học, chưa có tầm nhìn dài hạn; quy trình
và thủ tục quản lý chương trình, dự án ODA trong xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế còn phức tạp và có sự khác biệt với các nhà tài trợ; công tác theo dõi đánh giá dự án trong thời gian dài bị buông lỏng, tính công khai, minh bạch thấp…Về bài học kinh nghiệm từ công tác QLNN đối với ODA ở một số nước trên thế giới, tác giả Vũ Thu Hằng lấy kinh nghiệm quản lý thành công ở Trung Quốc, Malaysia, quản lý chưa thành công là ở một số nước Châu Phi Nhưng theo nghiên cứu sinh, phần kinh nghiệm của tác giả Vũ Thu Hằng đưa ra chưa sâu, chưa đủ sức thuyết phục và chưa đủ điều kiện
để có thể vận dụng vào thực tiễn Việt Nam Do đó, phần giải pháp hoàn thiện QLNN đối với ODA trong thời gian tới, tác giả Vũ Thị Thu Hằng đưa ra chủ yếu dựa vào thực trạng QLNN đối với ODA của Việt Nam thời gian qua Trong công trình nghiên cứu của mình, tác giả Vũ Thị Thu Hằng cũng chưa khái quát các mô hình QLNN đối với ODA trên thế giới [31]
Quan hệ hợp tác phát triển giữa Việt Nam và các nhà tài trợ hiện đang có những điều chỉnh nhất định về chính sách để phù hợp với bối cảnh mới của Việt Nam khi trở thành quốc gia có mức thu nhập trung bình thấp (LMIC): (i) Thay đổi về chính sách viện trợ; (ii) Thay đổi về cơ cấu nguồn vốn viện trợ; và (iii) Thay đổi về phương thức hợp tác phát triển Những nội dung đó đã được Bộ Kế hoạch và Đầu tư trình bày trong
bài tham luận: “Chính sách huy động nguồn vốn ODA và các khoản vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài trong bối cảnh “hậu ODA” và tác động tới Việt Nam” Tại
Hội thảo Khoa học quốc tế “Đánh giá 20 năm huy động và sử dụng ODA của Việt Nam” năm 2015 Ngoài ra, Bộ Kế hoạch và Đầu tư cũng nêu ra những thách thức trong việc thu hút, quản lý và sử dụng nguồn vốn ODA trong thời gian tới đó là: xu thế nguồn vốn ODA giảm dần và vốn vay ưu đãi tăng lên, ODA viện trợ không hoàn lại
Trang 28
giảm dần là một thách thức đối với các ngành, lĩnh vực sử dụng nhiều nguồn vốn này như y tế, giáo dục và đào tạo, vay với điều kiện kém ưu đãi buộc chúng ta phải thông minh để lựa chọn đồng tiền vay trong một rổ tiền tệ gồm USD, Yên (Nhật) hay đồng Euro sao cho rủi ro tỷ giá khi vay trả là thấp nhất Một số định hướng huy động và sử dụng vốn ODA và vốn vay ưu đãi trong thời gian tới đã được Bộ này đưa ra nhằm đối phó với những thách thức trên [10]
Tác giả Trần Thị Hồng Thủy trong luận án tiến sỹ với tiêu đề: Viện trợ phát triển chính thức (ODA) trong bối cảnh Việt Nam trở thành nước có thu nhập trung bình (MIC), Trường Đại học Kinh tế quốc dân, năm 2015, thì lại đi sâu vào phân tích,
đánh giá tình hình thu hút và sử dụng ODA tại Việt Nam trước và sau khi Việt Nam trở thành nước thu nhập trung bình Khi Việt Nam trở thành nước có mức thu nhập trung bình thì chính sách viện trợ cho Việt Nam thay đổi: thay đổi về tính chất, về quy
mô vốn, về phương thức cung cấp vốn, về cơ cấu vốn và về mô hình cung cấp vốn Trước thay đổi đó, Việt Nam cần một thể chế thu hút và sử dụng viện trợ phát triển phù hợp để tối đa hóa hiệu quả nguồn vốn này Theo tác giả Trần Thị Hồng Thủy, trong bối cảnh này, Việt Nam cần thay đổi từ nhận thức, tầm nhìn, những nguyên tắc
ở tầm vĩ mô đến các giải pháp tổ chức, quản lý và thực hiện cụ thể Đó cũng là những thách thức mới đặt ra cho những người làm công tác nghiên cứu kinh tế, các nhà hoạch định chính sách và những người quản lý ở cơ sở liên quan tới thu hút và sử dụng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức tại Việt Nam [66]
Với luận án tiến sỹ “Viện trợ phát triển chính thức của Liên minh Châu Âu cho Châu Phi từ năm 2000 đến nay” của Kiều Thanh Nga năm 2015, đã chú trọng nghiên
cứu viện trợ của EU cho Châu phi Tác giả cho rằng việc nghiên cứu viện trợ của EU cho các nước châu Phi cần thiết cho Việt Nam trong việc xây dựng chính sách tiếp nhận và sử dụng ODA của EU nói riêng và của thế giới nói chung một cách hiệu quả hơn, nhằm xây dựng lộ trình giảm dần phụ thuộc vào ODA và tìm kiếm cơ hội tham gia vào hợp tác ba bên với EU và các nước châu Phi Công trình đã nghiên cứu về sự thay đổi viện trợ của EU cho châu Phi từ sau năm 2000, đánh giá những kết quả đạt được và những vấn đề còn tồn tại trong ODA của EU cho châu Phi Phân tích những điểm tương đồng và khác biệt trong chính sách và nội dung viện trợ ODA của EU cho Việt Nam và châu Phi Từ đó, đưa ra một số kiến nghị chính sách đối với Việt Nam trong tiếp nhận và sử dụng ODA hiệu quả hơn, xây dựng lộ trình giảm dần phụ thuộc vào ODA và tham gia hợp tác ba bên với EU và các nước châu Phi [49]
Tại Hội thảo Khoa học quốc tế “Đánh giá 20 năm huy động và sử dụng ODA của Việt Nam” năm 2015, Nguyễn Thành Đô- Nguyên cục trưởng Cục quản lý nợ và
tài chính đối ngoại - Bộ Tài chính đã có bài tham luận: “Đánh giá 20 năm huy động
Trang 29
và sử dụng ODA của Việt Nam: những bài học từ thất bại” Bài tham luận đưa ra 6 dự
án được tài trợ bởi nguồn vốn ODA đã thất bại hoàn toàn hoặc không có hiệu quả như mong muốn Điều quan trọng hơn nữa là 6 dự án này là 6 dự án thực hiện theo cơ chế cho vay lại và do không trả được nợ thì chúng ta mới đánh giá là thất bại, còn lại 70% trong số các dự án là thực hiện theo cơ chế cấp phát từ ngân sách nhà nước nên hầu như chưa có đánh giá về các mặt thất bại, trừ một số dự án có phát hiện ra sai sót hoặc biểu hiện tiêu cực [27]
Thực trạng QLNN về ODA ở những khía cạnh khác nhau, những vướng mắc, hạn chế còn tồn tại trong quá trình quản lý và sử dụng ODA ở Việt Nam là nội dung
chính trong một số bài viết được đăng trên tạp chí chuyên ngành, như: “Hài hòa hóa quản lý các dự án ODA ở Việt Nam” bài của Nguyễn Đoan Trang trên tạp chí Kinh tế
và Dự báo, số 7 năm 2011; “Diễn biến ODA vào Việt Nam trong khủng hoảng tài chính toàn cầu và lựa chọn chính sách” của Phạm Thị Túy đăng trên Tạp chí Nghiên cứu
lý thực hiện các hoạt động đầu tư là những mục đích của chương trình đánh giá Qua đánh giá cho thấy mặc dù tốc độ chuẩn bị và thực hiện dự án đã được tăng lên, tỷ lệ giải ngân được cải thiện nhưng chất lượng của các dự án hoàn thành lại bị sụt giảm là
do các yếu tố như thiết kế quá phức tạp, khung kết quả yếu kém và chậm trễ trong việc thực hiện các hành động khắc phục hậu quả Tính chủ động và tính minh bạch khi sử dụng vốn ODA thấp, tụt hậu so với các nước khác trong khu vực; các dự án có vấn đề
có xu hướng chậm cải thiện hơn nhiều so với các dự án có vấn đề của các nước khác Cũng theo báo cáo, tình hình thực hiện của các dự án giao thông, y tế và phát triển đô thị không được như mong đợi, các khó khăn chính được chỉ ra là vốn đối ứng, quy trình phê duyệt công tác đấu thầu của chính phủ quá phức tạp, dự án thiếu tính sẵn sàng, và năng lực và thẩm quyền quyết định của Ban QLDA còn yếu kém Từ thực trạng đó nhóm nghiên cứu đưa ra một số bài học cho Việt Nam trong thời gian tới: tinh giản khi thiết kế dự án sẽ giúp đẩy nhanh việc thực hiện và giảm công sức lẫn chi phí thực hiện; thiết kế tốt và có thể đánh giá là rất quan trọng, nhưng cần phải đi kèm
Trang 30Với bài viết: “Bàn về vấn đề quản lý vốn ODA ở Việt Nam” đăng trên Tạp chí
Khoa học và công nghệ, Đại học Đà Nẵng, số 2 năm 2009, Hồ Hữu Tiến cho rằng, Việt Nam đã đạt thành tựu trong việc thu hút được số lượng lớn nguồn vốn ODA, đồng thời các khoản nợ ODA của Việt Nam cũng nằm trong giới hạn an toàn Tuy nhiên, vẫn còn sự chồng chéo trong thủ tục chuẩn bị và triển khai dự án ODA, tình trạng thất thoát, lãng phí nguồn vốn vẫn còn phổ biến Nguyên nhân chính của vấn đề đó là Việt Nam vẫn chưa nhận thức đúng về vai trò, vị trí của nguồn vốn này trong sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội của đất nước, cơ chế vận động và sử dụng nguồn vốn ODA quá phức tạp liên quan đến nhiều cấp bộ ngành, địa phương,…[68]
Cuốn sách: “Phân cấp quản lý vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) ở Việt Nam - Chính sách và thực hiện ở địa phương” của tác giả Lê Xuân Bá và cộng sự
(2008) thì cho rằng thực tiễn sử dụng nguồn vốn ODA ở các bộ và các cấp địa phương đang gặp nhiều vấn đề, như thiếu đồng bộ trong khung pháp lý liên quan đến phân bổ,
sử dụng ODA và yếu kém trong xây dựng kế hoạch, kiểm tra, giám sát và đánh giá các
dự án ODA Trong số các yếu tố còn lại, phân cấp quản lý, sử dụng ODA và thực hiện chính sách phân cấp được xem là yếu tố quan trọng nhất Những bất cập trong chính sách phân cấp quản lý ODA hiện hành và kết quả thực hiện còn nhiều yếu kém ở các cấp hành chính thấp hơn nhất là ở các địa phương, từ đó đòi hỏi phải có những chính sách phù hợp như: tạo đồng bộ về chính sách phân cấp trong quản lý, sử dụng ODA; đẩy mạnh phân cấp quản lý ODA từ phía nhà tài trợ và đẩy mạnh việc phân cấp cho các địa phương, cho các chủ thể trực tiếp thực hiện dự án [4]
1.3 ĐÁNH GIÁ CHUNG VÀ KHUNG PHÂN TÍCH LUẬN ÁN
1.3.1 Đánh giá các nghiên cứu đã có
Qua việc tổng quan tình hình nghiên cứu ở trên, tác giả luận án có một vài nhận xét như sau:
- Những vấn đề các nghiên cứu đã làm rõ, gồm:
+ Cơ sở lý luận về ODA: Rất nhiều công trình nghiên cứu đã đề cập những vấn
đề về ODA nói chung, như: khái niệm, đặc điểm, phân loại, vai trò của ODA Những
Trang 31
công trình này có ý nghĩa về mặt khoa học, có thể là tài liệu tốt để tác giả luận án tham khảo khi nghiên cứu vấn đề
+ Thực trạng thu hút và sử dụng ODA ở các nước nghiên cứu: Nhiều công trình
nghiên cứu đề cập đến quá trình thu hút và sử dụng ODA ở các nước nghiên cứu (Malaysia, Philippines và Việt Nam) một cách chi tiết Các công trình cung cấp cho độc giả những thông tin liên quan đến thực trạng thu hút và sử dụng ODA ở các nước này như: số lượng ODA cam kết, lượng ODA giải ngân, đối tác viện trợ, lĩnh vực viện trợ,….Tuy vậy, tính cập nhật của các nghiên cứu này chưa cao
- Những vấn đề nghiên cứu còn đang tranh luận, gồm:
+ Vai trò của ODA (ODA có cần thiết hay không?): Các nghiên cứu từ trước
đến nay vẫn còn đang tranh luận về vai trò của ODA đối với sự phát triển kinh tế xã hội ở những nước tiếp nhận, vì các tác giả cho rằng: có những quốc gia nhận được viện trợ rất nhiều từ cộng đồng quốc tế nhưng chưa cải thiện được tình hình khó khăn của nền kinh tế nước mình, đó là chưa kể tình trạng nợ nước ngoài ngày càng chồng chất
+ Quan điểm về thu hút ODA: Hiện nay một số người và một số quốc gia vẫn
nghĩ rằng thu hút càng nhiều ODA càng tốt nên thu hút bằng mọi giá, bất chấp mọi điều kiện mà phía viện trợ ODA đưa ra Họ quan tâm đến lượng ODA thu hút hơn là quan tâm đến hiệu quả việc sử dụng ODA
+ Về điều kiện viện trợ, mặc dù biết rằng mỗi nhà tài trợ khác nhau sẽ đưa ta
những ràng buộc viện trợ khác nhau nhưng một số tiêu chí khắt khe của các nhà tài trợ thuộc Ủy ban hỗ trợ phát triển (DAC) hiện nay (như yêu cầu cải cách quản trị tốt, lồng ghép công tác bảo vệ môi trường- xã hội phù hợp vào các dự án phát triển) đang gây tranh cãi giữa các học giả ủng hộ tiêu chí viện trợ của DAC và các học giả ủng hộ tiêu chí viện trợ thông thoáng của các nhà tài trợ mới nổi (Trung Quốc, Ấn Độ, Venezuela, Brazil, )
+ Về phân cấp quản lý trong sử dụng ODA: Có nghiên cứu cho rằng, cần phải
quản lý tập trung ở một đầu mối đối với nguồn vốn này, có nghiên cứu lại cho rằng cần phải phân cấp hoàn toàn cho các địa phương thì ODA mới sử dụng hiệu quả Vấn
đề này vẫn chưa có lời giải đáp cho đến hiện nay
- Những vấn đề nghiên cứu chưa được đề cập hoặc đề cập chưa sâu, gồm:
+ Thực tiễn QLNN đối với ODA: Một số công trình đã đề cập tới vấn đề này
nhưng nội dung đề cập chưa sâu, còn sơ sài và chưa đi vào những nội dung cụ thể của quản lý nhà nước Một số ít công trình nghiên cứu về thực tiễn QLNN đối với ODA ở các nước Châu Á, nhưng những nghiên cứu đó cũng chỉ dừng lại ở một nước riêng lẻ nên chưa thể đưa ra cái nhìn tổng quát và có thể so sánh vấn đề đó ở các quốc gia khác
Trang 32+ Ở Việt Nam, từ năm 2013, Diễn đàn đối tác phát triển Việt Nam (VDPF) đã chính thức thay thế Hội nghị nhóm tư vấn (CG) Việt Nam đã chuyển từ quốc gia
“nhận viện trợ” sang quốc gia “đối tác phát triển” do chúng ta đã trở thành nước có mức thu nhập trung bình thấp Điều đó cho thấy, từ năm 2014 trở đi, Việt Nam sẽ không nhận được nhiều viện trợ về tài chính như trước đây mà thay vào đó là các hỗ trợ về tư vấn chính sách, hỗ trợ kỹ thuật Do đó, việc sử dụng hiệu quả nguồn vốn ODA đã cam kết trước đây cũng như nguồn vốn ODA ít ỏi sẽ cam kết sắp tới trở thành vấn đề quan trọng và cần có sự điều chỉnh vĩ mô từ phía nhà nước Trong bối cảnh mới
ở Việt Nam như vậy thì hiện nay chưa có công trình nào nghiên cứu nào về công tác QLNN đối với ODA một cách toàn diện, hoặc đã có nhưng chỉ dừng lại ở từng lĩnh vực cụ thể Như vậy, vấn đề nghiên cứu của luận án này không trùng lặp với bất kỳ công trình nghiên cứu nào
Tóm lại, với tổng quan tình hình nghiên cứu như trên, luận án sẽ đi sâu giải
quyết những vấn đề nghiên cứu còn đang gây tranh cãi và những vấn đề chưa được đề cập hoặc đề cập chưa sâu, đó là:
- Làm rõ sự cần thiết của quản lý nhà nước đối với ODA ở các nước tiếp nhận
- Xây dựng các mô hình QLNN về ODA
- Phân tích, đánh giá thực trạng QLNN về ODA ở Malaysia, Philippines và Việt Nam, tìm ra những thành công và hạn chế của công tác này ở các nước
- Nghiên cứu so sánh, đánh giá những điểm tương đồng và khác biệt giữa Việt Nam và hai quốc gia Châu Á, từ đó rút ra bài học kinh nghiệm có thể vận dụng vào thực tiễn quản lý Việt Nam trong thời gian tới
Như vậy, tác giả luận án cho rằng, đây là một đề tài mới, có giá trị lý luận và thực tiễn cao Tác giả đã, đang và sẽ tiếp tục nghiên cứu để làm sáng tỏ những vấn đề
Trang 33
đã nêu và có thể đóng góp những ý kiến nhất định cho công tác QLNN đối với nguồn vốn ODA ở Việt Nam ngày càng hoàn thiện
1.3.2 Khung phân tích luận án
Dựa trên phần tổng quan tài liệu nghiên cứu và thực tiễn những vấn đề QLNN đối với ODA ở các nước trên thế giới và ở Việt Nam, cùng với sự nghiên cứu của cá nhân, tác giả luận án xây dựng khung phân tích riêng và được dùng làm khung phân tích chính cho các chương 2, chương 3 và chương 4 của luận án
Hình 1.1: Khung phân tích luận án
Quản lý nhà nước đối với ODA ở Việt
Nam
Quản lý nhà nước đối với ODA ở Philippines
Chiến lược, kế
hoạch thu hút,
sử dụng ODA
Mô hình QLNN đối với ODA
Giám sát, đánh giá việc sử dụng ODA
Thẩm định, phê duyệt dự
Những điểm tương đồng và khác biệt
Bài học kinh nghiệm rút ra
Vận dung bài học kinh nghiệm vào Việt Nam
Trang 34
TIỀU KẾT CHƯƠNG 1
Các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước đề cập về nhiều khía cạnh liên quan đến vốn ODA Tác giả luận án đã nhóm các công trình nghiên cứu thành hai phần là: Tình hình nghiên cứu trên thế giới và tình hình nghiên cứu trong nước Mỗi phần lại được chia thành các vấn đề:
- Nghiên cứu về ODA nói chung và quản lý nhà nước đối với ODA
- Nghiên cứu về quản lý nhà nước đối với ODA ở Malaysia và Philippines
- Nghiên cứu về quản lý nhà nước đối với ODA ở Việt Nam
Đánh giá về các công trinh nghiên cứu đã có, tác giả luận án thấy rằng có những vấn đề mà nhiều công trình đã đề cập khá chi tiết, cụ thể và đó là những tài liệu tham khảo để triển khai những nội dung trong luận án, như: khái niệm ODA, vai trò ODA, đặc điểm ODA,…
Một số công trình đề cập đến quá trình thu hút, sử dụng ODA ở Malaysia, Philippines và Việt Nam, và số ít đề cập đến công tác QLNN về ODA ở các quốc gia này Tuy nhiên, đề cập một cách chi tiết, đầy đủ những nội dung của công tác QLNN
về ODA ở cả 3 quốc gia này, rút ra một số bài học kinh nghiệm từ hai quốc gia Châu
Á và vận dụng vào thực tiễn quản lý Việt Nam thì chưa có công trình nào Như vậy, tác giả luận án cho rằng, đây là một đề tài mới, có giá trị lý luận và thực tiễn cao nhất
là trong bối cảnh hiệu quả sử dụng vốn ODA ở Việt Nam chưa cao
Trang 35
CHƯƠNG 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
ĐỐI VỚI VIỆN TRỢ PHÁT TRIỂN CHÍNH THỨC
2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI VIỆN TRỢ PHÁT TRIỂN CHÍNH THỨC
2.1.1 Khái niệm quản lý và quản lý nhà nước
2.1.1.1 Khái niệm quản lý
Quản lý là hoạt động ra đời từ xa xưa, khi bắt đầu có xã hội loài người, có lao động tập thể, có phân công và hợp tác Quản lý luôn đóng vai trò quan trọng đối với mọi tổ chức, đặc biệt trong giai đoạn hiện nay vì quản lý quyết định đến sự tồn tại và phát triển của mọi tổ chức Chưa bao giờ những người làm công tác quản lý đứng trước nhiều cơ hội và thách thức như trong những năm đầu thế kỷ XXI Cũng chưa bao giờ cách thức quản lý ảnh hưởng đến sự thành bại của các cộng đồng một cách to lớn, trực tiếp đến như vậy và cải tiến quản lý sao cho có hiệu quả trở thành nhiệm vụ quan trọng hơn bao giờ hết
Quản lý là chức năng vốn có của mọi tổ chức, mọi loại lao động Quản lý được phát sinh từ lao động, không tách rời với lao động và bản thân quản lý cũng là một loại
hoạt động lao động Khẳng định sự cần thiết của quản lý, C.Mác đã viết: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đến một sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ chế sản xuất Một nhạc sĩ độc tấu thì tự điều khiển lấy mình nhưng một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng” [40, tr.254]
Quản lý là sự tác động có chủ đích của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý một cách liên tục, có tổ chức, liên kết các thành viên trong tổ chức hành động nhằm đạt được mục tiêu với kết quả tốt nhất [46,tr.12] Theo đó, những yếu tố cơ bản của quản lý gồm: (i) Chủ thể quản lý: là người nắm giữ quyển lực và sử dụng quyền lực; (ii) Đối tượng quản lý: là người thực hiện (chịu sự tác động) quyết định quản lý; (iii) Mục tiêu quản lý là nhằm đạt kết quả tốt trong hoạt động của tổ chức; (iv) Môi trường quản lý luôn biến động vì chịu sự tác động của yếu tố kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội,…và bản thân đối tượng quản lý cũng có thể thay đổi
2.1.1.2 Khái niệm quản lý nhà nước
Là một phạm trù gắn liền với sự xuất hiện của Nhà nước, quản lý nhà nước (QLNN) ra đời với tính chất là loại hoạt động quản lý xã hội QLNN là nhân tố cơ bản
Trang 36- Thay mặt xã hội tiến hành các hoạt động đối ngoại với các Nhà nước và các
tổ chức trên thế giới Chỉ có Nhà nước mới thay mặt xã hội thực hiện các hoạt động ngoại giao với các tổ chức và các nhà nước khác trên thế giới, từ đó tạo điều kiện giao lưu, hợp tác về lĩnh vực kinh tế cũng như các lĩnh vực khác
- Cung cấp các hàng hóa, dịch vụ công cho xã hội (dịch vụ hành chính, cơ sở
hạ tầng kinh tế, xã hội, bảo vệ tài nguyên và môi trường sống, ) nhằm duy trì, đảm bảo sự phát triển của xã hội
- Tạo môi trường và hỗ trợ cho các hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội của cá nhân và cộng đồng phát triển; thực hiện dân chủ và công bằng xã hội
Xét về mặt chức năng, Nhà nước đảm nhận ba chức năng: chức năng lập pháp; chức năng hành pháp và chức năng tư pháp QLNN là một dạng quản lý xã hội đặc biệt, do đó có một số điểm khác biệt so với quản lý của các tổ chức khác, thể hiện:
Chủ thể quản lý của nhà nước là các cơ quan trong bộ máy nhà nước, cá nhân
trong bộ máy nhà nước được trao quyền, gồm: cơ quan lập pháp (Quốc hội và cơ cấu
tổ chức của Quốc hội), cơ quan hành pháp (hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước),
cơ quan tư pháp (Tòa án nhân dân và Viện Kiểm sát nhân dân)
Đối tượng quản lý của nhà nước là tất cả các cá nhân, tổ chức tồn tại và hoạt
động trong phạm vi lãnh thổ quốc gia, công dân làm việc bên ngoài quốc gia
Lĩnh vực quản lý: Nhà nước quản lý toàn diện trên tất cả các mặt của đời sống
xã hội, gồm: kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng, ngoại giao
QLNN mang tính quyền lực: Nhà Nước sử dụng pháp luật làm công cụ chủ yếu
để duy trì trật tự xã hội và thúc đẩy xã hội phát triển
Mục tiêu của QLNN là phục vụ nhân dân, duy trì sự ổn định và phát triển của
toàn xã hội
Như vậy, quản lý nhà nước, hiểu theo nghĩa rộng, là hoạt động tổ chức điều
hành của cả bộ máy nhà nước, nghĩa là bao hàm cả sự tác động, tổ chức của quyền lực
nhà nước trên các phương diện lập pháp, hành pháp và tư pháp Theo nghĩa hẹp, QLNN
là hoạt động chấp hành và điều hành của hệ thống cơ quan hành chính nhà nước đối
Trang 372.1.1.3 Quan điểm về vai trò của Nhà nước trong quản lý kinh tế
Cùng với sự phát triển của sản xuất hàng hóa và sự ra đời của nền kinh tế thị trường, xã hội loài người trải qua các thể chế kinh tế, vai trò của Nhà nước cũng được đánh giá ở những mức độ khác nhau Quan điểm về vai trò của Nhà nước trong quản
lý kinh tế cho đến nay vẫn còn nhiều tranh luận giữa một bên đề cao vai trò của thị trường với một bên đề cao vai trò của nhà nước Sở dĩ có sự tranh luận đó là do mỗi trường phái kinh tế đều có những cách luận giải vấn đề riêng, được quy định bởi phương pháp luận và bị tác động bởi điều kiện lịch sử cụ thể Trong lịch sử học thuyết kinh tế, đã tồn tại những quan điểm khác nhau khi nhìn nhận vai trò của nhà nước, đó là:
- Trường phái cổ điển
Trường phái này đề cao vai trò của “bàn tay vô hình”, và “Nhà nước không can thiệp” vào hoạt động kinh tế Tiêu biểu của trường phái này là Adam Smith, ông cho rằng thị trường có khả năng tự điều tiết mọi vấn đề Tuy nhiên, ông cũng không phủ nhận hoàn toàn vai trò của nhà nước Theo ông, đôi khi nhà nước vẫn cần thực hiện ba chức năng cơ bản là: bảo đảm môi trường hòa bình, không để xảy ra nội chiến, ngoại xâm; tạo ra môi trường cho phát triển kinh tế thông qua luật pháp và cung cấp hàng hóa công cộng [1]
- Trường phái Tân cổ điển
Trường phái này vẫn đề cao vai trò của thị trường trong sự điều tiết nền kinh
tế Các nhà kinh tế Tân cổ điển cho rằng cần coi trọng sở hữu tư nhân trong nền kinh
tế vì sở hữu tư nhân là nhân tố quan trọng giúp nền kinh tế luôn khôi phục được sự cân bằng chung Nhà nước muốn can thiệp vào nền kinh tế thì nhà nước phải hiểu được cơ chế vận hành của nó và tôn trọng những quy luật khách quan tồn tại trong nó Từ đó trường phái này khuyến nghị nhà nước nên can thiệp vào nền kinh tế trên các lĩnh vực sau: (1) Đảm bảo môi trường chính trị ổn định; (2) Sử dụng chính sách thuế khóa phù hợp và tạo dựng môi trường pháp luật ổn định; (3) Chi tiêu ngân sách quốc gia hợp lý cho những lĩnh vực phục vụ cho mục tiêu phát triển kinh tế như: đổi mới công nghệ, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực,…[26]
- Trường phái Keynes
Trang 38
Ngược lại với trường phái Cổ điển và Tân cổ điển, trường phái Keynes cho rằng nhà nước cần can thiệp trực tiếp vào nền kinh tế nếu muốn nền kinh tế tăng trưởng, thoát khỏi khủng hoảng Lý thuyết bao trùm của Keynes là những mất cân đối kinh tế
vĩ mô, suy thoái, thất nghiệp là do sự thiết hụt của tổng cầu Để khắc phục tình trạng thiếu hụt này, cơ chế thị trường không thể tự điều tiết mà cần phải có sự can thiệp của nhà nước để tăng cầu có hiệu quả, kích thích tiêu dùng, kích thích đầu tư và sản xuất Những chính sách mà nhà nước có thể sử dụng để can thiệp vào nền kinh tế là: Chính sách khuyến khích đầu tư, tiêu dùng; chính sách tài khóa (bao gồm công cụ thuế và chi tiêu chính phủ) Keynes coi trọng vấn đề chi ngân sách và cho rằng Chính phủ nên dành những khoản chi cho chương trình kinh tế công cộng vì những chương trình này
có thể làm tăng các hoạt động dịch vụ, dẫn đến tăng việc làm, tăng khả năng thanh toán và kích thích khu vực kinh tế tư nhân phát triển [26]
- Chủ nghĩa tự do mới
Vào đầu những năm 1970, khi học thuyết kinh tế của Keynes rơi vào khủng hoảng, bộc lộ sự bất lực của các chính sách kinh tế của Nhà nước tư sản dựa trên học thuyết của trường phái Keynes thì giới nghiên cứu kinh tế lại chứng kiến sự trỗi dậy của tư tưởng tự do kinh tế trong một số trường phái kinh tế ở Mỹ, Anh, Đức hay Áo nhưng có sửa đổi để thích ứng với tình hình mới Đó là chủ nghĩa tự do mới, với tư tưởng cơ bản là cơ chế thị trường có sự điều tiết của nhà nước ở mức độ nhất định (ủng
hộ tự do kinh doanh nhưng thừa nhận sự điều tiết nhất định của nhà nước với khẩu hiệu: “Tự do kinh doanh nhiều hơn, thị trường nhiều hơn, nhà nước can thiệp ít hơn”) Chủ nghĩa tự do mới được hình thành và phát triển dưới hình thức là các trường phái Trọng cung, Trọng tiền ở Mỹ, hay Kinh tế thị trường xã hội ở Đức, Thụy Điển,…
+ Phái Trọng cung coi sự can thiệp của nhà nước chỉ làm xấu đi tình hình của thị trường và phá vỡ sự cân bằng tự nhiên của thị trường Theo trường phái này, tiết kiệm là yêu cầu của mọi nền kinh tế Muốn phát triển kinh tế không phải ở chỗ kích thích cầu mà phải tăng năng suất lao động bằng con đường kích thích lao động, đầu tư
và tiết kiệm Không có tiết kiệm sẽ không có bất kì sự tăng trưởng nào Trường phái này cũng cho rằng tổng cung sẽ tạo ra sự ổn định và phát triển dài hạn của nền kinh tế, đồng thời những chính sách của Nhà nước chỉ có hiệu quả khi nhằm vào các mục tiêu
ổn định dài hạn
Tuy nhiên, một số đại biểu cho rằng nhà nước có thể điều tiết nền kinh tế nhưng phải theo những chuẩn mực nhất định, không nên điều chỉnh theo kiểu tùy hứng và không thiên về lợi ích của bản thân chính phủ Nhà nước nên có nhiệm vụ là đưa ra chính sách khuyến khích nâng cao khối lượng và hiệu quả sản xuất; tôn trọng tính chủ động của giới chủvà xem cạnh tranh là yếu tố cần thiết để phát triển kinh tế
Trang 39
+ Phái Trọng tiền đề cao vai trò của chính sách tiền tệ trong quản lý nền kinh
tế của Chính phủ và phủ nhận vai trò của chính sách tài khóa Theo trường phái này, mức cung tiền là nhân tố quyết định đến tăng sản lượng quốc gia và do đó ảnh hưởng đến việc làm, giá cả chung của nền kinh tế Mức cung tiền là do nhà nước cung ứng thông qua Ngân hàng Trung ương và việc cung nhiều hay ít sẽ dẫn đến lạm phát và suy thoái Phái trọng tiền cho rằng Nhà nước không nên can thiệp vào nền kinh tế, chỉ giới hạn ở điều chỉnh mức cung tiền tệ, điều tiết lưu thông tiền tệ để ngăn chặn lạm phát, còn lại là do thị trường tự quyết định Mức độ tự do kinh doanh và chế độ tư hữu
sẽ tác động tới sự hoạt động hiệu quả của thị trường
+ Kinh tế thị trường xã hội là nền kinh tế thị trường kích thích mạnh mẽ sáng kiến cá nhân và lợi ích toàn xã hội, đồng thời phòng tránh được các khuyết tật lớn của thị trường, chống lạm phát, giảm thất nghiệp, quan tâm thực hiện công bằng xã hội Các quyết đinh kinh tế và chính trị của nhà nước được hoạch định trên cơ sở chú ý đến những nhu cầu và nguyện vọng cá nhân Như vậy, mô hình này thừa nhận vai trò nhất định của nhà nước (để đảm bảo phối hợp sự tự do kinh tế với các quy tắc và chuẩn mực xã hội) với những quy tắc sau:
(i) Cần có chính phủ nhưng chỉ cần can thiệp khi cần thiết với mức độ hợp lý (ii) Tạo sự hài hòa giữa các chức năng của chính phủ với thị trường, can thiệp phải thích hợp với hệ thống thị trường, bảo đảm tương hợp với các quy luật thị trường [26]
Đánh giá quan điểm của các trường phái kinh tế về vai trò của nhà nước trong nền kinh tế thị trường
Cho đến hiện nay, mặc dù đã tồn tại nhiều dạng thức khác nhau của kinh tế thị trường nhưng trên thực tế chưa bao giờ tồn tại kiểu kinh tế thị trường hoàn toàn không
có nhà nước, thoát lý khỏi nhà nước như một số người theo chủ nghĩa tự do cực đoan vẫn thường cổ súy Nhà nước vẫn luôn là một bộ phận hữu cơ nằm trong hệ thống cấu trúc của kinh tế thị trường và sự tồn tại đó là một tất yếu khách quan Nhà nước vừa là một chủ thể sở hữu, vừa là một chủ thể quản lý trong nền kinh tế Sự khác biệt giữa các giai đoạn lịch sử cũng như ở các quốc gia chỉ ở chỗ tính chất của nhà nước ra sao, cách thức can thiệp, mức độ can thiệp, quản lý điều tiết và kết quả của sự can thiệp này đối với nền kinh tế là như thế nào Lịch sử cho thấy tất cả các trường phái kinh tế lớn đều khẳng định vai trò của nhà nước đối với nền kinh tế Tuy nhiên, cách tiếp cận
và quan điểm lý thuyết cụ thể của mỗi trường phái là khác nhau, do những nhân tố khác nhau quy định Những nhân tố đó có thể là do những biến cố lớn trong từng giai đoạn phát triển kinh tế loài người, do đặc điểm của kinh tế thị trường ở từng địa điểm
và thời điểm cụ thể, do sự khác nhau về lợi ích giai cấp đứng sau các quan điểm lý thuyết đó Khi nghiên cứu các quan niệm về vai trò của nhà nước trong nền kinh tế,
Trang 40
không có cách tiếp cận hoàn hảo có thể giải thích được mọi tình huống của nền kinh
tế nên nhà nước thúc đẩy hay kìm hãm sự phát triển kinh tế ở mỗi trường phái đều đặt trong những điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội nhất định
Sau khi khẳng định sự cần thiết phải có sự can thiệp của nhà nước thì vấn đề tiếp theo là làm thế nào để sự can thiệp đó đạt hiệu quả Nhà nước cần xác định những lĩnh vực can thiệp: Ổn định kinh tế vĩ mô thông qua chính sách tài chính và tiền tệ, củng cố an ninh quốc phòng, cung cấp hàng hoá công cộng, chống ô nhiễm môi trường, phát triển giáo dục tăng thu nhập và nâng cao phúc lợi xã hội, tạo dựng một bộ khung
xã hội dưới sự điều hành của luật pháp, định hướng cạnh tranh một cách có hiệu quả bằng cách giảm độc quyền, đồng thời, cũng cần xác định mức độ và thời điểm can thiệp Chỉ khi đó sự can thiệp của nhà nước mới không làm cản trở sự phát triển kinh
tế và là nhân tố quan trọng không thể thiếu trong công cuộc phát triển của mỗi quốc gia
2.1.1.4 Khái niệm quản lý nhà nước đối với viện trợ phát triển chính thức
QLNN đối với viện trợ phát triển chính thức là một trong nhiều nội dung của QLNN đối với lĩnh vực kinh tế của các nước trong đó có các nước tiếp nhận ODA QLNN đối với ODA rất quan trọng đối với sự phát triển kinh tế xã hội ở các nước tiếp nhận và là một dạng quản lý phức tạp vì có liên quan đến yếu tố nước ngoài
Hiện nay, theo tìm hiểu của tác giả thì chưa có một tài liệu chính thống nào đưa
ra khái niệm QLNN đối với ODA Các tài liệu chỉ dừng lại ở khái niệm QLNN về kinh
tế Theo đó, QLNN về kinh tế là sự tác động có tổ chức, bằng pháp quyền và thông qua một hệ thống các chính sách với các công cụ quản lý kinh tế lên nền kinh tế nhằm đạt được mục tiêu phát triển kinh tế đất nước đã đặt ra trên cơ sở sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực kinh tế trong và ngoài nước trong điều kiện mở cửa và hội nhập
kinh tế quốc tế [77, tr.16]
Trong phạm vi luận án này, theo tác giả, QLNN đối với ODA có thể hiểu như
sau: QLNN đối với viện trợ phát triển chính thức là sự tác động có tổ chức, bằng pháp quyền và thông qua một hệ thống các chính sách với các công cụ quản lý kinh tế vĩ mô của nhà nước lên đối tượng quản lý nhằm đảm bảo quá trình thu hút, sử dụng ODA đạt hiệu quả như mục tiêu đã đề ra trong một thời kỳ nhất định
Từ khái niệm trên, có thể rút ra một số nhận xét sau:
Thứ nhất, chủ thể quản lý nhà nước, đó là Chính phủ, các cơ quan thuộc Chính
phủ, các Bộ và cơ quan ngang Bộ, Ủy ban nhân dân các cấp, các cơ quan chuyên môn khác