Cấu tạo sơn văn của châu Á như vậy có tác dụng phân chia ảnh hưởng của các đại dương đối với lục địa: phần Bắc chịu ảnh hưởng của Bắc Băng Dương, phần Đông chịu ảnh hưởng của Thái Bình D
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
SƠN LA, NĂM 2014
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
HOÀNG THỊ TÙNG LÂM
TÌM HIỂU ĐỊA LÍ CHÂU Á ĐỂ DẠY HỌC
CHỦ ĐỀ ĐỊA LÍ LỚP 5
Chuyên ngành: Phương pháp
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Người hướng dẫn: TS Đỗ Thúy Mùi
SƠN LA, NĂM 2014
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Hoàn thành khóa luận này, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới giảng viên TS Đỗ Thúy Mùi đã tận tình giúp đỡ và trực tiếp hướng dẫn em trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Em cũng xin gửi lời cảm ơn tới các thầy cô giáo trong khoa Tiểu học - Mầm non, phòng Đào tạo, phòng Khảo thí, thư viện trường Đại học Tây Bắc đã tạo điều kiện thuận lợi để em thực hiện đề tài này
Em xin trân trọng cảm ơn các thầy cô giáo và các em học sinh trường Tiểu học Hoàng Văn Thọ - Thị xã Nghĩa Lộ - Yên Bái đã giúp đỡ em trong quá trình khảo sát thực tế và thực nghiệm tại trường
Xin chân thành cảm ơn các bạn sinh viên lớp K51 Đại học Giáo dục Tiểu học B đã quan tâm, động viên giúp đỡ tác giả trong quá trình nghiên cứu đề tài
Rất mong nhận được ý kiến đóng góp của quý thầy cô và các bạn sinh viên để đề tài được hoàn thiện
Em xin chân thành cảm ơn!
Sơn La, tháng 5 năm 2014
Sinh viên thực hiện
Hoàng Thị Tùng Lâm
Trang 4
TN
Đối chứng Giáo viên Học sinh Sách giáo khoa Thực nghiệm
Lược đồ tự nhiên châu Á
Biểu đồ so sánh kết quả học tập của 2 lớp TN và ĐC tại trường Tiểu học Hoàng Văn Thọ - Thị xã Nghĩa Lộ - Yên Bái
Biểu đồ so sánh kết quả học tập của 2 lớp TN và ĐC tại trường Tiểu học Hoàng Văn Thọ - Thị xã Nghĩa Lộ - Yên Bái
Biểu đồ so sánh kết quả học tập của 2 lớp TN và ĐC tại trường Tiểu học Hoàng Văn Thọ - Thị xã Nghĩa Lộ - Yên Bái
Kết quả kiểm tra của lớp TN và lớp ĐC
Kết quả kiểm tra của lớp TN và lớp ĐC
Kết quả kiểm tra của lớp TN và lớp ĐC
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Mục tiêu, nhiệm vụ, giới hạn phạm vi nghiên cứu của đề tài 2
2.1 Mục tiêu 2
2.2 Nhiệm vụ 2
2.3 Giới hạn phạm vi nghiên cứu 2
3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
4 Phương pháp nghiên cứu 3
4.1 Phương pháp thu thập thông tin 3
4.2 Phương pháp sử dụng bản đồ, lược đồ, biểu đồ, tranh ảnh 4
4.3 Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia 4
4.4 Phương pháp thực nghiệm 4
5 Đóng góp của đề tài 5
6 Cấu trúc của đề tài 5
CHƯƠNG 1: TÌM HIỂU NHỮNG KIẾN THỨC ĐỊA LÍ CHÂU Á LIÊN QUAN ĐẾN CHỦ ĐỀ ĐỊA LÍ LỚP 5 6
1.1 Vị trí địa lí và phạm vi lãnh thổ 6
1.1.1 Vị trí địa lí 6
1.1.2 Phạm vi lãnh thổ 6
1.2 Đặc điểm tự nhiên 8
1.2.1 Đặc điểm địa hình 8
1.2.2 Đặc điểm khí hậu 11
1.2.3 Đặc điểm về sông ngòi 19
1.2.4 Đặc điểm khoáng sản 20
1.2.5 Một số cảnh quan thiên nhiên, đồng bằng, dãy núi nổi bật ở châu Á 21
1.3 Đặc điểm dân cư 25
1.3.1 Dân cư và sự phân bố dân cư 25
1.3.2 Thành phần chủng tộc 26
Trang 61.4 Kinh tế châu Á 27
1.4.1 Đặc điểm kinh tế châu Á 27
1.5 Khu vực Đông Nam Á 31
1.6 Tìm hiểu về một số nước láng giềng của Việt Nam 33
1.6.1 Cam-pu-chia 33
1.6.2 Lào 34
1.6.3 Trung Quốc 36
CHƯƠNG 2: VẬN DỤNG NHỮNG KIẾN THỨC ĐỊA LÍ CHÂU Á
ĐỂ THIẾT KẾ MỘT SỐ GIÁO ÁN VÀO GIẢNG DẠY CHỦ ĐỀ ĐỊA LÍ LỚP 5 39
Bài 1: Châu Á 39
Bài 2: Châu Á (tiếp theo) 44
Bài 3: Các nước láng giềng của Việt Nam 49
CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM 53
3.1 Mục đích thực nghiệm 53
3.2 Nguyên tắc tiến hành thực nghiệm 53
3.3 Nhiệm vụ thực nghiệm 53
3.4 Tổ chức thực nghiệm 54
3.5 Nội dung thực nghiệm 54
3.6 Kiểm tra và đánh giá kết quả thực nghiệm 54
3.7 Tiến hành thực nghiệm 54
KẾT LUẬN 65
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 7
MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Trong hệ thống giáo dục quốc dân, bậc tiểu học đóng vai trò là tiền đề, nền tảng cho việc hình thành và phát triển tư duy, nhân cách cho học sinh (HS) Vì vậy, phải chú trọng chăm lo hình thành cho các em những tri thức ban đầu đúng đắn, vững chắc để làm cơ sở cho những bậc học cao hơn, góp phần phát triển đạo đức, trí tuệ, hình thành nhân cách con người xã hội mới
Cùng với hai môn Toán và Tiếng Việt, môn Tự nhiên và Xã hội được xem
là một môn học quan trọng trong việc cung cấp kiến thức sự hiểu biết về tự nhiên và xã hội cho các em Trong đó, chủ đề địa lí được giới thiệu với tư cách
là một phân môn riêng của bộ môn Tự nhiên - Xã hội trong chương trình lớp 4
và lớp 5 Chủ đề này cung cấp cho các em những kiến thức cơ bản, ban đầu về
tự nhiên - xã hội của Việt Nam cũng như các châu lục trên thế giới; phát triển ở
HS các năng lực tư duy, sáng tạo, óc quan sát và khả năng vận dụng những tri thức đã học vào thực tiễn cuộc sống, làm nền tảng để các em học tập tiếp môn Địa lí của những bậc học cao hơn
Có thể thấy nội dung địa lí châu Á trong chủ đề địa lí thế giới chiếm một phần quan trọng của địa lí tiểu học hiện nay với lượng kiến thức tương đối rộng
và phong phú Nhưng thời lượng của học phần chỉ có 3 tín chỉ cho tất cả các châu và địa lí Việt Nam nên chúng ta không thể có đủ thời gian để nghiên cứu
và đi sâu tìm hiểu các vấn đề được nói đến trong chương trình, đặc biệt với mảng kiến thức rộng như địa lí châu Á Bên cạnh đó, sách giáo khoa địa lí lớp 5 chỉ cung cấp một lượng kiến thức tương đối ít Vì vậy, để giảng dạy tốt nội dung này đối với giáo viên tiểu học là vô cùng khó khăn
Thực tế hiện nay nền giáo dục đang tiến hành đổi mới phương pháp dạy
và học theo hướng tích cực hóa hoạt động học tập nhằm khắc phục cách học thụ động trước đây, thay vào đó rèn luyện tư duy tích cực, chủ động, sáng tạo cho người học Việc dạy của người giáo viên (GV) không chỉ đơn giản là đem kiến thức sẵn có đến cho học trò mà việc dạy chính là việc tìm và khơi dạy trong lòng học trò những khả năng tiềm ẩn vốn có trong tâm hồn chúng, đúng như lời của
Trang 8Galile vẫn nói: “Chúng ta không thể dạy bảo cho ai bất cứ điều gì, chúng ta chỉ
có thể giúp họ phát hiện ra những gì còn tiềm ẩn trong họ” Người giáo viên
phải nắm chắc kiến thức, tổ chức tốt giờ học thì việc đổi mới phương pháp dạy học mới thành công và đạt hiệu quả như mong muốn Bởi vậy, việc tìm hiểu địa
lí thế giới nói chung và địa lí châu Á nói riêng để cung cấp những kiến thức sâu hơn nhằm phục vụ giảng dạy tốt hơn là việc làm cần thiết
Xuất phát từ những lí do trên chúng tôi xin lựa chọn và nghiên cứu đề tài:
“Tìm hiểu địa lí châu Á để dạy học chủ đề địa lí lớp 5”
2 Mục tiêu, nhiệm vụ, giới hạn phạm vi nghiên cứu của đề tài
2.1 Mục tiêu
Đề tài tổng hợp những vấn đề cơ bản nhất về địa lí châu Á có liên quan đến chủ đề địa lí lớp 5 Trên cơ sở đó vận dụng để dạy học phần địa lí châu Á lớp 5
2.2 Nhiệm vụ
Để đạt được mục tiêu trên, đề tài có nhiệm vụ là:
- Tổng hợp những kiến thức về địa lí châu Á như vị trí địa lí, đặc điểm tự nhiên, dân cư và hoạt động kinh tế của châu lục này
- Vận dụng những kiến thức đó, đề tài thiết kế một số giáo án và đưa ra các phương pháp để vận dụng những kiến thức đó vào giảng dạy phần địa lí lớp 5
2.3 Giới hạn phạm vi nghiên cứu
Do giới hạn về điều kiện và phạm vi nghiên cứu nên chúng tôi chỉ nghiên cứu những vấn đề địa lí châu Á có liên quan đến chương trình địa lí lớp 5 và vận dụng chúng vào giảng dạy phần địa lí châu Á trong chủ đề địa lí lớp 5, SGK hiện hành
Những số liệu, tư liệu nghiên cứu trong thời gian từ năm 1990 đến năm 2012 Địa bàn chúng tôi tiến hành thực nghiệm tại trường Tiểu học Hoàng Văn Thọ - Thị xã Nghĩa Lộ - Yên Bái
3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Nhu cầu hiểu biết và khám phá thế giới là nhu cầu rất lớn của con người
Trang 9Vì vậy, có rất nhiều các công trình nghiên cứu về địa lí châu Á Từ thời cổ đại đã có nhiều nhà thám hiểm nghiên cứu về địa lí châu Á tuy còn sơ khai và chủ yếu nghiên cứu về vấn đề địa lí tự nhiên của các châu lục Càng về sau này càng có nhiều nhà nghiên cứu và công trình nghiên cứu địa lí châu Á nên đối tượng nghiên cứu cũng được mở rộng hơn, cả về địa lí tự nhiên và địa lí kinh tế
Những năm gần đây, quan điểm và cách tiếp cận của khoa học địa lí đã có nhiều thay đổi Trong dự án đào tạo giáo viên trung học cơ sở, tác giả Nguyễn Phi Hạnh đã biên soạn lại một số vấn đề địa lí tự nhiên châu Á Cuốn tài liệu này giúp cho người nghiên cứu tiếp cận được quan điểm và kiến thức mới Tiến sĩ Ông Thị Đan Thanh trong bộ sách "Địa lí kinh tế thế giới" đã đề cập đến sự phát triển kinh tế của các châu lục Trong cuốn sách này tác giả đã đánh giá, phân tích nguồn lực phát triển kinh tế, sự phát triển kinh tế của các châu lục Gần đây
là công trình nghiên cứu của thạc sĩ Bùi Thị Hải Yến với cuốn "Địa lí châu Á, địa lí châu Âu" cũng đã giúp cho người nghiên cứu có thêm tư liệu cần thiết trong quá trình nghiên cứu, bổ sung thành tư liệu địa lí châu Á để dạy học địa lí lớp 5 sau này
4 Phương pháp nghiên cứu
4.1 Phương pháp thu thập thông tin
Hiện nay, có rất nhiều quyển sách viết về châu Á ở nhiều mặt khác nhau Vì vậy, người nghiên cứu phải có một lượng kiến thức nhất định và có tư duy lôgíc để lựa chọn được những tài liệu thực sự hữu ích phục vụ cho đề tài và phục vụ cho việc giảng dạy sau này Có thể thu thập thông tin ở các nguồn khác nhau như: sách giáo khoa, sách chuyên ngành, báo chí, internet, qua các phương tiện thông tin đại chúng… những thông tin thu được sẽ là tư liệu để giúp ta hiểu sâu sắc hơn về địa lí châu Á
Thu thập tài liệu, đọc và phân tích nội dung có liên quan một cách đầy đủ, chi tiết để tổng hợp thành tài liệu tham khảo, sau đó tiến hành chọn lọc và tổng hợp theo từng nội dung cụ thể
Hệ thống hóa, sắp xếp các tài liệu, thông tin thu được có liên quan đến nội dung nghiên cứu theo hệ thống cấu trúc khoa học Các nguồn tài liệu, thông tin
Trang 10thu được được chọn lọc theo từng nội dung, cung cấp kiến thức giúp ta hiểu hơn
về địa lí châu Á
4.2 Phương pháp sử dụng bản đồ, lược đồ, biểu đồ, tranh ảnh
Bản đồ, lược đồ, biểu đồ, tranh ảnh là nguồn tài liệu vô cùng phong phú và quan trọng trong việc khai thác thông tin về địa lí thế giới và các vấn đề về địa
lí châu Á nói riêng Đây là nguồn tài liệu quan trọng đối với sinh viên sư phạm, với giáo viên giảng dạy môn Địa lí và với những ai quan tâm đến vấn đề địa lí Thông qua bản đồ, lược đồ, biểu đồ, tranh ảnh ta có thể rút ra được những nội dung kiến thức cơ bản
Các bản đồ như: bản đồ địa lí thế giới, bản đồ khí hậu thế giới, bản đồ dân
cư thế giới… Các lược đồ như: lược đồ tự nhiên, lược đồ kinh tế, lược đồ dân cư… của châu Á Các tranh ảnh có liên quan như: tranh ảnh về con người, cảnh quan thiên nhiên, hoạt động kinh tế…
Thông qua nghiên cứu bản đồ, lược đồ, biểu đồ, tranh ảnh sẽ giúp người nghiên cứu tìm hiểu được những nội dung kiến thức về đặc điểm địa lí châu Á
Từ đó vận dụng vào trong giảng dạy để đạt hiệu quả cao hơn Trong phần thực nghiệm, những kết quả xử lí, tính toán trong khi kiểm tra được tác giả xây dựng thành các biểu đồ cột Các biểu đồ thể hiện được chính xác và mang tính trực quan hơn
4.3 Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia
Đề tài được thực nghiệm ở trường Tiểu học Hoàng Văn Thọ - Thị xã Nghĩa Lộ - Yên Bái, trước khi thực nghiệm, người nghiên cứu trao đổi với cô giáo Nguyễn Thị Bích Liên – Hiệu trưởng nhà trường về đặc điểm tâm lý, nhận thức của các em HS, những em HS học tốt, những em học không tốt để có thể chuẩn bị tâm lí vững vàng khi lên lớp
Người nghiên cứu xin ý kiến giáo viên chỉ đạo góp ý cho giáo án để phù hợp với đối tượng HS tại trường
4.4 Phương pháp thực nghiệm
Đây là phương pháp rất quan trọng trong quá trình thực hiện đề tài Để kiểm nghiệm các giáo án đã soạn xem có thực sự phù hợp, chúng tôi tiến hành
Trang 11thực nghiệm tại trường Tiểu học Hoàng Văn Thọ Trên cơ sở những kết quả thu được sẽ khẳng định kết quả của đề tài Phương pháp này được tiến hành qua việc kiểm tra đánh giá sau khi học và qua việc thăm dò qua phiếu điều tra
5 Đóng góp của đề tài
- Đề tài hoàn thành là tư liệu tham khảo cung cấp những kiến thức cơ bản nhất về địa lí châu Á có liên quan đến nội dung chủ đề địa lí lớp 5 - sách giáo khoa (SGK) hiện hành cho người nghiên cứu, cho sinh viên sư phạm tiểu học, giáo viên tiểu học
- Đề tài còn cung cấp cho sinh viên sư phạm phương pháp, cách vận dụng chúng vào giảng dạy ở trường tiểu học
6 Cấu trúc của đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận, đề tài gồm ba chương:
Chương 1: Tìm hiểu kiến thức địa lí châu Á có liên quan đến chủ đề địa lí lớp 5;
Chương 2: Vận dụng những kiến thức địa lí châu Á để thiết kế một số giáo án vào giảng dạy chủ đề địa lí lớp 5;
Chương 3: Thực nghiệm
Trang 12
CHƯƠNG 1: TÌM HIỂU NHỮNG KIẾN THỨC ĐỊA LÍ CHÂU Á LIÊN
vĩ tuyến 7°44' B Điểm cực Nam là mũi Piai phía nam bán đảo Malắcca, ở vĩ tuyến 1°16' B Từ Bắc xuống Nam của châu Á kéo dài hơn 76 vĩ tuyến, tức là khoảng 8500 km Điểm cực Tây của châu Á là mũi Baba trên bán đảo Tiểu Á thuộc Thổ Nhĩ Kì nằm trên kinh tuyến 26°10' Đ, và điểm cực Đông là mũi Điêgiơnép trên bán đảo Trucốt thuộc Nga ở kinh tuyến 169°40' Đ Nếu tính cả các đảo hoặc quần đảo thì điểm cực Bắc của châu Á lên tới tận 81°13' trên đảo Cômsômôlét thuộc Liên Bang Nga, còn điểm cực Nam xuống tới tận đảo Dana thuộc Inđônêsia Chiều rộng từ bờ Tây đến bờ Đông nơi lãnh thổ rộng nhất
là 9200 km
1.1.2 Phạm vi lãnh thổ
Về mặt giới hạn, châu Á kéo dài từ vùng cực bắc đến vùng Xích đạo, tiếp giáp với 2 châu lục và ba đại dương, châu Á nằm giữa 4 châu lục và 3 đại dương rộng lớn Các châu lục đó là châu Phi ở phía Tây Nam, châu Âu ở phía Tây Bắc, châu Úc ở phía Đông Nam và Bắc Mĩ thuộc châu Mĩ ở phía Đông Bắc Trong 4 châu trên thì châu Phi được nối liền với châu Á bởi eo đất Xuyê (đã bị cắt đứt bởi kênh đào Xuyê), còn các mặt Bắc, Đông
và Nam đều tiếp giáp với các đại dương, theo thứ tự là Bắc Băng Dương, Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương
Trang 13Phía Bắc tiếp giáp với Bắc Băng Dương Dọc theo bờ có các biển như Laptev, Chuckchi Hầu hết đều nằm trên thềm lục địa với độ sâu không quá
300 m Bắc Băng Dương nằm trên các vĩ độ cực và cận cực nên thời tiết quanh năm giá buốt, mặt biển bị bao phủ bởi một lớp băng rất dày, tựa như một sân trượt băng khổng lồ Điều kiện đó ảnh hưởng rất lớn đến sự hình thành khí hậu, cảnh quan tự nhiên cũng như đời sống và hoạt động kinh tế của con người ở phần phía Bắc châu lục
Phía Đông, châu Á giáp với Thái Bình Dương Dọc theo bờ Tây Thái Bình Dương, đáy biển có cấu trúc rất phức tạp, tạo thành nhiều biển, phân cách với đại dương bởi nhiều đảo, chuỗi đảo hình vòng cung Các biển quan trọng nhất là Bering, Ô Khốt, Nhật Bản, Hoàng Hải và biển Hoa Đông Các biển này phân cách với nhau và đại dương bởi các bán đảo Camsatca, Triều Tiên, các quần đảo Cômanđô - Aleut, Nhật Bản, cùng các đảo Xakhalin và Đài Loan Dọc theo bờ Đông các vòng cung đảo của Đông Á là các vực biển hẹp và rất sâu như Curin (10.549 m), Nhật Bản (9764 m), Marian (11.034 m), Riukiu (7507 m)
và Philipin (10.497 m) Tính chất phức tạp của bờ Tây Thái Bình Dương có liên quan chặt chẽ đến quá trình chuyển dịch, xô húc của các mảng Thái Bình Dương với mảng Á - Âu và các mảng khác
Phía Đông Nam châu Á, nơi tiếp giáp giữa Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương, có một hệ thống gồm các bán đảo, đảo và quần đảo, các biển và vịnh biển xen kẽ với nhau rất phức tạp, đó là khu vực Đông Nam Á Thuộc khu vực này gồm các bán đảo Trung Ấn và quần đảo Mã Lai Quần đảo Mã Lai rất rộng,
có số lượng đảo lớn nhất thế giới Trong số hơn 2 vạn hòn đảo lớn nhỏ có 6 đảo lớn nhất, đó là: Calimantan (trước đây gọi là Boónêô), Xumatơra, Giava, Xulavêdi, Luxôn và Minđanao Nằm giữa các đảo nói trên có nhiều biển lớn và quan trọng, trong đó, đáng chú ý nhất là biển Đông (tên quốc tế là biển Nam Trung Hoa), biển Giva, biển Sulu, biển Sulawesi, biển Banda Biển Đông là biển lớn nhất, cấu tạo của đáy biển khá phức tạp: vùng biển phía Đông đường kinh tuyến 1100
Đông nhìn chung là vùng biển sâu hơn 4000 m, đáy biển
Trang 14có nhiều đảo ngầm và đảo san hô Hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đều là những đảo san hô nằm trong vùng biển này
Phía Nam, châu Á tiếp giáp với Ấn Độ Dương Bờ biển ở đây bị chia cắt mạnh, tạo thành 3 bán đảo lớn là Trung Ấn, Inđôxtan (Ấn Độ) và Ả Rập Nằm giữa các bán đảo đó là các biển và vịnh biển lớn như biển Anđaman, vịnh Bengan, biển Arap và vịnh Pécxích
Phía Tây châu Á tiếp giáp với phần phía Đông Địa Trung Hải thuộc Đại Tây Dương Đây là con đường biển quốc tế nối liền Đại Tây Dương với Ấn Độ Dương nên có ý nghĩa hết sức quan trọng về mặt kinh tế và chính trị
Tóm lại, các biển và đại dương bao quanh châu Á không những làm ranh giới tự nhiên cho châu lục mà còn có ảnh hưởng rất lớn đối với điều kiện tự nhiên cũng như sự phát triển kinh tế - xã hội của các quốc gia hải đảo và ven bờ Đặc biệt, sự có mặt của Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương rộng lớn bên cạnh châu Á khổng lồ đã tạo nên sự tương phản mạnh mẽ giữa biển và đất liền, là một trong những nguyên nhân làm cho hoàn lưu gió mùa phát triển và phân bố rộng trên châu Á hơn bất kì một châu lục nào khác trên thế giới
1.2 Đặc điểm tự nhiên
1.2.1 Đặc điểm địa hình
Quá trình phát triển lâu dài của đại lục Á - Âu nói chung và châu Á nói riêng cùng với cấu trúc địa chất phức tạp làm cho địa hình của châu Á rất đa dạng và phức tạp Với 3/4 diện tích bề mặt châu lục là các núi, sơn nguyên và cao nguyên cao, chỉ có 1/4 diện tích là các đồng bằng thấp và bằng phẳng Nhìn chung, các miền đồng bằng, các sơn nguyên rộng và bằng phẳng được hình thành trên các vùng nền hoặc các nền bị lún xuống, được bao phủ trầm tích và
có chế độ kiến tạo tương đối yên tĩnh Các vùng núi được hình thành trong các đới uốn nếp và được nâng lên mạnh nhất vào giai đoạn cuối Tân sinh
Trang 15Hình 1.1 Lược đồ tự nhiên châu Á
Về cấu tạo bề mặt, địa hình châu Á có những đặc điểm chính sau:
Trên lãnh thổ châu Á có đầy đủ các dạng địa hình khác nhau: các núi và sơn nguyên cao, các cao nguyên và đồng bằng rộng lớn với nhiều nguồn gốc, kiểu loại khác nhau, các thung lũng rộng và bồn địa kín Tất cả các dạng địa hình đó nằm xen kẽ với nhau làm cho bề mặt địa hình châu lục bị chia cắt rất mạnh Tính chất chia cắt đó được thể hiện ở chỗ:
- Bên cạnh các đồng bằng thấp, rộng lớn và bằng phẳng có các hệ thống núi cao và đồ sộ như: các dãy Côpiết Đắc, Pamia, Thiên Sơn, nằm cạnh đồng bằng Trung Á Các dãy Mêcran, Xulâyman, Himalaya và sơn nguyên Đêcan nằm cạnh đồng bằng Ấn - Hằng; các dãy Aracan - Ioma, cao nguyên San - dãy Tênátxêrim và Trường Sơn kẹp lấy các đồng bằng Iarauđi, Mê Nam, Co Rạt và
Mê Công
- Trong các vùng núi, sơn nguyên và cao nguyên cao lại có các cao nguyên, bồn địa thấp nằm xen kẽ vào giữa làm cho tính chất chia cắt càng rõ nét hơn Điển hình như sơn nguyên Anatôni cao trung bình 2000m - 3000m, sơn nguyên Iran cao 800m - 1000m nằm giữa các dãy Enbuốc, Hinđu Cúc, Dagrốt, Xulâyman cao 2500m trở lên Đặc biệt ở vùng trung tâm của lục địa, giữa các dãy núi cao có rất nhiều bồn địa thấp và hẹp xen kẽ tạo nên kiểu địa hình "cấu trúc tổ ong" vô cùng độc đáo Ví dụ như bồn địa Tarim cao trung bình 800m
Trang 16nằm giữa Côn Luân và Thiên Sơn cao 500m - 700m, bồn địa Dungari cao 400m
- 600m nằm giữa các dãy Thiên Sơn và Antai cao 3000m - 5000m Đặc biệt, bồn địa Tuốc Phan là bồn địa hẹp nhất châu Á, có đáy thấp hơn mực nước biển 154m nằm kẹp giữa các nhánh núi phía đông của dãy Thiên Sơn
Các dãy núi của châu Á chạy theo nhiều hướng khác nhau trong đó hai hướng chính là Đông - Tây và Bắc - Nam
- Hướng Đông - Tây (hoặc gần Đông -Tây) bao gồm các dãy núi chạy dài
từ bán đảo Tiểu Á, sơn nguyên Iran đến Himalaya, các hệ thống núi của vùng Trung Á và Nội Á
- Hướng Bắc - Nam (hoặc gần Bắc - Nam) gồm các dãy núi dọc theo miền Đông Á, Đông Nam Á, Nam Á như Đông Gát, Tây Gát của Ấn Độ, Ural và Camsátca của Nga, Trường Sơn của Việt Nam
Sự phân bố các dạng địa hình không đồng đều Các hệ thống núi và sơn nguyên cao nhất đều tập trung ở vùng trung tâm lục địa tạo thành một vùng núi cao, đồ sộ và hiểm trở nhất trên thế giới Ở đây có khối núi Pamia cao hơn 7000m được coi là nóc nhà thế giới, từ đây tỏa ra ba cánh núi chính lớn gồm có:
- Cánh Đông Bắc gồm các hệ thống núi nối tiếp nhau: Thiên Sơn, Antai, Sayan cho đến đông bắc Xibia
- Cánh phía Tây gồm dãy Hindu Cúc và hệ thống các núi thuộc sơn nguyên Iran cho đến Tiểu Á và Nam Âu
- Cánh Đông Nam bao gồm các núi thuộc khối Tây Tạng, Himalaya và Đông Nam Á
Ba cánh núi này chia bề mặt châu Á thành ba phần khác nhau:
+ Phần Bắc và Tây Bắc với địa hình chủ yếu là đồng bằng, sơn nguyên thấp, rộng và tương đối bằng phẳng như Turan (Trung Á), Tây Xibêri và cao nguyên Trung Xibêri Đây là bộ phận được hình thành trên các nền Tiền Cambri
và Cổ Sinh, có địa hình thấp dần và mở rộng về phía Bắc
+ Phần Đông gồm các núi và sơn nguyên cao, các cao nguyên, núi trung bình, núi thấp xen với các đồng bằng nhỏ ven bờ Đây là bộ phận được hình thành trên vùng nền Trung Hoa, các đới uốn nếp Cổ Sinh, Trung Sinh Tất cả
Trang 17được nâng lên mạnh mẽ vào cuối đại Tân Sinh Đặc biệt, địa hình của phần phía Đông này có cấu tạo dạng bậc, thấp dần từ nội địa ra phía biển
+ Phần Nam và Tây Nam gồm các hệ thống núi uốn nếp trẻ, các sơn nguyên và các đồng bằng xen kẽ với nhau Địa hình ở đây bị chia cắt mạnh nhất
so với hai bộ phận trên
Cấu tạo sơn văn của châu Á như vậy có tác dụng phân chia ảnh hưởng của các đại dương đối với lục địa: phần Bắc chịu ảnh hưởng của Bắc Băng Dương, phần Đông chịu ảnh hưởng của Thái Bình Dương, phần Nam và Tây Nam chịu ảnh hưởng của Ấn Độ Dương và Địa Trung Hải Tác động của các đại dương có ảnh hưởng quan trọng đến sự hình thành khí hậu, cảnh quan tự nhiên và các hoạt động kinh tế - xã hội của con người
1.2.2 Đặc điểm khí hậu
Châu Á kéo dài từ Bắc Cực cho đến xích đạo nên lượng bức xạ Mặt Trời phân bố không đều, giảm dần từ Nam lên Bắc Ở các vĩ độ phía Nam, tổng lượng bức xạ hàng năm cao, thay đổi từ 120-180 kcal/cm², trong đó vùng Tây Nam Á đạt cao nhất, từ 180-220 kcal/cm² Ở các vĩ độ trung bình từ 100-120 kcal/cm², còn các vùng từ vòng cực trở lên phía Bắc thì không quá 80 kcal/cm² Lượng bức xạ phân bố không đồng đều là nguyên nhân chủ yếu làm cho điều kiện nhiệt nói riêng và khí hậu nói chung thay đổi từ Nam lên Bắc
Châu Á rộng, với dạng hình khối vĩ đại đã làm cho các vùng nội địa quanh năm chịu ảnh hưởng của khối khí lục địa khô, dễ bị sưởi nóng và hóa lạnh theo mùa Đó là điều kiện hình thành các trung tâm khí áp Mặt khác, điều kiện nhiệt và khí áp đó lại tương phản với các đại dương xung quanh theo mùa, làm cho gió mùa phát triển rộng khắp châu lục Có thể nói châu Á là châu lục duy nhất trên thế giới có đầy đủ các kiểu khí hậu gió mùa: gió mùa xích đạo, gió mùa nhiệt đới, cận nhiệt đới và ôn đới
Cấu tạo bề mặt lục địa bị chia cắt mạnh có ảnh hưởng đến sự phân bố nhiệt, lượng mưa và sự phân hóa khí hậu rất phức tạp
Trước hết, các mạch núi hướng Tây - Đông có tác dụng ngăn các khối khí lạnh từ phía Bắc xuống và các khối khí nóng ẩm từ phía Nam lên, do đó các
Trang 18vùng ở phía Nam mạch núi bao giờ cũng ấm hơn các vùng ở phía Bắc mạch núi trên cùng vĩ độ Ví dụ các vùng Địa Trung Hải, Trung Á, Nội Á tuy nằm trên cùng vĩ độ nhưng Địa Trung Hải nhờ có các dãy núi chắn ở phía Bắc và ảnh hưởng của biển nên mùa đông ấm, trong khi hai vùng sau không có núi chắn nên nhiệt độ trung bình thấp hơn rất nhiều Tương tự, các vùng Bắc Ấn Độ nằm trên cùng vĩ độ với Nam Trung Quốc và Bắc Việt Nam nhưng ở Bắc Ấn Độ nhờ dãy Himalaya chắn nên nhiệt độ trung bình về mùa đông bao giờ cũng cao hơn hai vùng nói trên
Ngoài ra, các bồn địa nằm giữa các vùng núi và sơn nguyên cao về mùa đông không khí bị hóa lạnh mạnh nên có nhiệt độ thấp hơn các vùng xung quanh Về mùa hạ, không khí trong bồn địa lại bị sưởi nóng nên lại có nhiệt độ cao hơn Các vùng núi cao ở Thiên Sơn, Tây Tạng, Hindu Cúc, Himalaya càng lên cao nhiệt độ càng giảm Đến độ cao 3000m - 4000m trở lên, nhiệt độ xuống còn 0°C và bắt đầu đới tuyết vĩnh viễn
Địa hình còn làm lượng mưa trên châu Á phân bố không đồng đều Các mạch núi hướng Đông - Tây hoặc Bắc - Nam có tác dụng chắn gió từ đại dương vào sâu trong lục địa Kết quả là các sườn đón gió mưa nhiều, còn các sườn khuất gió mưa ít Ví dụ, các vùng thuộc sườn Nam dãy Himalaya có lượng mưa trung bình năm từ 3000mm - 4000mm trong khi Tây Tạng nằm ở phía Bắc dãy núi thì mưa ít, không quá 300mm một năm
Các dòng biển cũng có ảnh hưởng quan trọng đến khí hậu các vùng tiếp cận Trong số các dòng chảy gần bờ, quan trọng nhất là dòng lạnh Curin-Camsata chảy từ phía Bắc xuống làm cho miền duyên hải Đông Bắc Á về mùa đông rất lạnh, mùa hè hơi lạnh, thời tiết âm u và thường có mưa cùng dòng nóng Curô-Sivô từ phía Nam dọc theo bờ Đông Bắc Philippin và Đông Nam Nhật Bản
Về mùa đông: Không khí vùng trung tâm, nhất là vùng Đông Bắc Xibia bị hóa lạnh mạnh Nhiệt độ trung bình tháng 1 các vùng Trung Á và Nội Á thay đổi
từ -10°C đến -40°C, còn ở vùng Đông Xibia xuống tới từ -40°C đến -50°C Do
sự hóa lạnh đó, trên lục địa hình thành một áp cao được gọi là áp cao Xibia Áp cao này có trị số trung bình nhiều năm đạt tới 1040 mb (hoặc 780 mm/Hg) Áp
Trang 19cao Xibia là một xoáy nghịch lớn nhất thế giới, không khí trong vùng áp cao lạnh và rất khô, tạo nên thời tiết trong sáng và yên tĩnh Vào giữa mùa đông, áp cao Xibia gần như bao phủ toàn bộ châu Á, còn ở phía Tây thu hẹp thành một dải chạy dọc vĩ tuyến 60° Bắc và nối liền với áp cao Axo Ở phía Bắc lục địa có gió Tây Nam thổi từ nội địa lên phía Bắc, gây nên thời tiết rất khô và lạnh Ở phía Đông, áp thấp Aleut cũng phát triển mạnh, bao phủ gần như toàn bộ Bắc Thái Bình Dương làm cho Đông Á về mùa này cũng có gió thổi từ lục địa ra biển theo hướng Tây hoặc Tây Bắc - Đông Nam Đây là gió mùa mùa đông khô
và rất lạnh, nhiệt độ thấp nhưng lượng tuyết rơi không đáng kể Phần phía Nam lục địa, trị số khí áp giảm dần từ Bắc xuống Nam và sau đó chuyển sang đới áp thấp xích đạo Tuy nhiên, trên các sơn nguyên Tây Tạng và Quý Châu vẫn tồn tại các áp cao địa phương, còn trên Thái Bình Dương có áp cao Haoai thường tác động đến Đông Nam Trung Quốc và bán đảo Trung Ấn
Do sự tương phản khí áp như vậy, toàn bộ phần Nam lục địa kể cả Tây Nam Á về mùa đông có gió Đông Bắc từ lục địa thổi xuống Tuy nhiên do ảnh hưởng của các dãy núi cao theo hướng Đông - Tây, gió Đông Bắc từ áp cao Xibia không thể xâm nhập tới bán đảo phía Nam được Bởi vậy, gió Đông Bắc ở khu vực này thực chất là gió mậu dịch Đông Bắc từ các áp cao cận nhiệt đới thổi
về xích đạo Gió mậu dịch mang theo khối khí nhiệt đới lục địa nên không có mưa, thời tiết ổn định, trong sáng và tương đối nóng Riêng khu vực Nam Trung Hoa và Đông Bắc bán đảo Trung Ấn, gió Đông Bắc xuất phát từ vùng Nội Á thổi xuống, còn phần Bắc bán đảo Inđôxtan lại có gió Tây Bắc từ Trung Á thổi xuống nên thời tiết nói chung khô và hơi lạnh
Như vậy, về mùa đông, trên toàn bộ châu Á đều có gió thổi từ lục địa ra biển Thời tiết khắp nơi khô và lạnh Nhiệt độ giảm dần từ Nam lên Bắc và phần lớn lãnh thổ dưới 0°C, chỉ có phần Hoa Nam, các bán đảo Trung Ấn, Ấn Độ, Arabia và Tiểu Á có nhiệt độ trên 0°C Các phần nội địa, nhất là Đông Xibia là nơi có nhiệt độ trung bình thấp nhất, từ -30°C trở xuống
Về mùa hạ: Không khí trong lục địa nóng dần lên, áp cao Xibia suy yếu dần rồi biến mất, còn ở phía Nam, trên sơn nguyên Iran hình thành một áp thấp,
Trang 20được gọi là áp thấp Iran (áp thấp Nam Á) Áp thấp Iran có trị số trung bình nhiều năm ở vùng trung tâm là 994 mb (hoặc 745,5 mm/Hg) Vào giữa mùa hạ,
áp thấp này cùng với áp thấp Bắc Phi và áp thấp Xích đạo phối hợp với nhau thành một đai áp thấp bao phủ phần lớn châu Á và gần như toàn bộ Bắc Phi Cũng trong thời gian này, ở phía Đông áp thấp Aleut biến mất và áp cao Haoai phát triển, chiếm toàn bộ phần Bắc Thái Bình Dương và lan sang phần bờ Đông
Á Ở bán cầu Nam, các khu áp cao Nam Phi, Nam Ấn Độ Dương và Úc cũng phát triển thành một đới áp cao liên tục Sự phân bố khí áp như vậy làm cho hoàn lưu không khí trên lục địa về mùa hạ khá phức tạp Ở vùng Bắc Á và Nội
Á có gió Bắc hoặc Đông Bắc Sự thống trị của gió thành phần Bắc ở khu vực nói trên dẫn tới kết quả là không khí cực và ôn đới khi xuống phía Nam bị nóng dần lên, độ ẩm giảm xuống nên mưa rất ít Về mùa hạ, các vùng Bắc Á có thời tiết
ẩm và mát, còn ở Trung Á và Nội Á thì trái lại, rất khô và nóng
Ở Nam Á, Đông Nam Á và Đông Á về mùa này có gió Tây Nam và Đông Nam thổi từ biển vào được gọi là gió mùa mùa hạ Ở Nam Á, Đông Nam Á có gió mùa mùa hạ mang theo khối khí xích đạo nóng ẩm từ Ấn Độ Dương tới, gây mưa lớn, nhất tại các sườn đón gió như Gát Tây ở Ấn Độ, Nam Himalaya, Tây Myanma, Tây Nam Campuchia Khối khí xích đạo có thể xâm nhập xa về phía Bắc cho tới dãy Tần Lĩnh Do ảnh hưởng của không khí xích đạo, tất cả khu vực nằm ở phía Nam frong nhiệt đới đều có thời tiết nóng, ẩm ướt và có mưa nhiều
Ở Đông Á, nơi có gió mùa Đông Nam cũng mang theo khối khí nhiệt đới và ôn đới hải dương từ Thái Bình Dương vào, cũng có mưa nhiều Tuy nhiên, do các dãy núi theo hướng Bắc - Nam nên gió mùa chỉ hạn chế trong một dải không rộng, dọc theo phía Đông lục địa Ngoài ra, ở các vùng duyên hải Nam Á, Đông Nam Á và Đông Á về mùa hạ thường chịu ảnh hưởng của áp thấp nhiệt đới và bão nhiệt đới Các áp thấp nhiệt đới và bão này thường được hình thành trong vịnh Bengan, vùng biển phía Đông Việt Nam hoặc phía Đông Philippin, sau đó
di chuyển sang phía Tây, đổ bộ vào Đông Nam Ấn Độ, Băng La Đét, một số vượt sang biển Ả Rập, đổ bộ sang bờ Tây Ấn Độ và có thể sang tận bán đảo Arabia Ở Đông Á, áp thấp nhiệt đới và bão thường đi qua Philippin đến bờ
Trang 21Đông Việt Nam, Đông Trung Quốc và có thể tới cả bán đảo Triều Tiên và Nhật Bản Chúng làm cho thời tiết nhiễu loạn mạnh, có gió to, mưa lớn Nhiều cơn bão gây tác hại lớn cho sản xuất nông nghiệp, các công trình xây dựng và đời sống nhân dân vùng biển
Có thể thấy, về mùa hạ, phần lớn lục địa chịu ảnh hưởng của gió từ biển thổi vào, có mưa phổ biến ở nhiều nơi Mặt khác về mùa này lục địa được sưởi nóng đến nhiệt độ cao Đường đẳng nhiệt 0°C vào tháng 7 chạy rất xa về phía Bắc của các đảo và quần đảo thuộc Bắc Băng Dương Đường đẳng nhiệt 4°C chạy men theo rìa phía Bắc lục địa, đi dần xuống phía Nam thì nhiệt độ cũng tăng dần lên
Khí hậu châu Á có thể chia thành 7 đới gồm: đới khí hậu cực, đới khí hậu cận cực, đới khí hậu ôn đới, đới khí hậu cận nhiệt đới, đới khí hậu nhiệt đới, đới khí hậu cận xích đạo và đới khí hậu xích đạo
- Đới khí hậu cực có các đảo, quần đảo và một dải hẹp dọc theo duyên hải phía Bắc lục địa Giới hạn phía Nam gần trùng với đường vĩ tuyến 71° Bắc Do
vị trí nằm trên những vĩ độ cao nên quanh năm thống trị khối khí cực khô và lạnh nên về mùa đông, ở đây có đêm địa cực kéo dài (từ 75° Bắc trở lên, đêm cực kéo dài hơn 98 ngày), nhiệt độ rất thấp Nhiệt độ trung bình tháng 1 xuống tới -34°C trên bán đảo Taymyr Về mùa đông thường có gió mạnh và bão tuyết, thời tiết rất giá buốt Về mùa hạ trái lại có ngày liên tục kéo dài (từ 75° Bắc trở lên, ngày liên tục có 102 ngày) song do cường độ bức xạ yếu nên nhiệt độ mùa
hạ ở đây vẫn thấp Nhiệt độ trung bình tháng ấm nhất vẫn không thể vượt quá 5°C Mùa hạ thường có gió Bắc, thời tiết lạnh, hay có sương mù hoặc mưa tuyết Lượng mưa trung bình năm 100 mm - 200 mm
- Đới khí hậu cận cực tạo thành một dải hẹp nằm ở phía Nam đới khí hậu cực Giới hạn của đới này gần trùng với vòng cực Bắc Trong đới này có sự thay đổi khối khí theo mùa: mùa đông là khối khí cực lục địa, còn mùa hạ là khối khí
ôn đới ấm và ẩm hơn Thời tiết giữa hai mùa phân biệt khá rõ rệt Mùa đông rất lạnh, nhất là các vùng nằm sâu trong lục địa do sự biến tính của gió thổi từ Đại Tây Dương Nhiệt độ trung bình tháng thay đổi từ -40°C đến -50°C ở vùng
Trang 22Trung và Đông Xibia Mùa hạ tương đối ấm, nhiệt độ trung bình tháng có thể vào khoảng 8 - 10°C Đới khí hậu cận cực có thể chia thành 3 kiểu khác nhau: Khí hậu cận cực hải dương ở phía Tây có mùa đông tương đối dịu, mùa hạ mát
và ẩm ướt; Khí hậu cận cực lục địa có mùa đông rất lạnh và biên độ nhiệt giữa hai mùa lớn nhất trên Trái Đất; Khí hậu cận cực hải dương phía Đông tương tự như ở phía Tây nhưng có mùa đông lạnh hơn và thường có gió Bắc hoặc Đông Bắc, còn mùa hạ có gió Đông Nam
- Đới khí hậu ôn đới chiếm một dải rộng nhất Đường ranh giới phía Nam của đới thay đổi trong khoảng 40° Bắc ở Trung Á đến 35° Bắc ở phía Triều Tiên, Nhật Bản Trên toàn đới, tuy quanh năm chịu ảnh hưởng của khối khí ôn đới nhưng khí hậu có thay đổi từ Tây sang Đông, vì vậy có thể chia ra làm 3 kiểu chính:
+ Kiểu khí hậu ôn đới lục địa hình thành trong vùng trung tâm lục địa bao gồm khu vực dãy Uran và Đại Hưng An Trong khu vực này, quanh năm thống trị khối khí ôn đới lục địa, mùa đông rất khô và lạnh, còn mùa hạ ấm và ẩm hơn phía Bắc, tương đối khô nóng ở phía Nam Nhiệt độ trung bình tháng 1 thay đổi
từ -4°C trên thảo nguyên Trung Á đến -50°C ở các vùng Xibia Còn tháng 7, nhiệt độ thay đổi từ 15°C ở phía Bắc đến 28°C ở phía Nam Mưa rơi chủ yếu vào mùa hạ nhưng lượng giảm dần theo hướng từ Bắc xuống Nam Một dải rộng nằm ở phía Nam khu vực này kéo dài từ Trung Á đến Mông Cổ là vùng khô hạn nhất, lượng mưa hàng năm không quá 250 mm
+ Kiểu khí hậu ôn đới gió mùa hình thành trong miền duyên hải phía Đông, gồm lưu vực sông Amur và đảo Sakhalin Về mùa đông, có gió Tây Bắc thổi từ lục địa ra khô và rất lạnh, còn về mùa hạ có gió Đông Nam từ biển thổi vào ấm và ẩm ướt Mưa rơi chủ yếu vào mùa hạ, chiếm 60% - 70% lượng mưa
cả năm Ngoài ra, về mùa hạ thỉnh thoảng còn có bão từ phía Đông Nam xâm nhập lên làm cho thời tiết nhiễu loạn mạnh Nhiệt độ trung bình tháng 1 từ -25°C ở phía Bắc đến -15°C ở phía Nam Nhiệt độ trung bình tháng 7 từ 15 - 20°C Lượng mưa trung bình năm từ 500mm - 700mm
Trang 23+ Kiểu khí hậu ôn đới hải dương chiếm phần Đông Bắc biển Ôkhốt, bán đảo Camsátca và quần đảo Curin Kiểu khí hậu này chịu ảnh hưởng mạnh từ biển, Hải lưu Curin-Camsátca lạnh và đặc biệt là hoạt động của khí xoáy trên biển Ôkhốt và biển Bering Về mùa đông ở đây chủ yếu có gió Bắc và Tây Bắc, còn mùa hạ có gió Nam và Đông Nam Điều kiện khí hậu ở đây có sự thay đổi
từ Bắc xuống Nam Về mùa hạ mát và ẩm, nhiệt độ trung bình tháng 7 10-18°C, mùa đông từ -10°C đến -20°C Lượng mưa trung bình năm từ 700mm - 900mm, lớp tuyết phủ về mùa đông dày hơn 100cm
- Đới khí hậu cận nhiệt đới chiếm một dải khá rộng, từ bờ Địa Trung Hải đến bờ Thái Bình Dương, có thể chia thành 4 kiểu chính như sau:
+ Kiểu khí hậu cận nhiệt Địa Trung Hải hình thành trong khu vực bán đảo Tiểu Á, sơn nguyên Armenia, các vùng thuộc Syria, Iraq Điểm nổi bật của kiểu khí hậu này là mùa hạ khô và nóng, thời tiết ổn định và trong sáng, còn mùa đông do ảnh hưởng của gió Tây và hoạt động của khí xoáy nên thời tiết hay thay đổi, mát dịu và mưa nhiều Nhiệt độ trung bình tháng 1: 4-12°C, tháng 7: 25-28°C Lượng mưa trung bình năm từ 500mm - 700mm
+ Kiểu khí hậu cận nhiệt lục địa hình thành trong các miền nội địa, bao gồm phần Nam các đồng bằng Trung Á, Nội Á và các vùng thuộc sơn nguyên Iran Ở đây về mùa hạ chịu ảnh hưởng của khối khí nhiệt đới lục địa khô và nóng, nhiệt độ trung bình tháng 7 lên tới 30°C, độ ẩm tương đối thấp và mưa rất hiếm Về mùa đông do hoạt động của khí xoáy trên frong ôn đới nên có mưa, nhiệt độ thấp Ở Tehran có năm nhiệt độ xuống thấp tới -20°C, còn ở Trung Á tới -30°C Nhiệt độ trung bình tháng 1 ở các khu vực này thường từ -1 đến 0°C Lượng mưa hàng năm không đáng kể, 100mm -300mm
+ Kiểu khí hậu cận nhiệt núi cao là một biến dạng đặc biệt của kiểu khí hậu cận nhiệt lục địa, hình thành trên các sơn nguyên và núi cao 3500m - 4000m trở lên, chủ yếu ở Pamir và Tây Tạng Khí hậu vẫn mang tính chất lục địa khá rõ rệt: mùa đông rất lạnh và khô, mùa hạ mát Biên độ nhiệt giữa các mùa lớn, thời tiết trong ngày luôn luôn thay đổi, nhất là ở Tây Tạng Lượng mưa trung bình
Trang 24hằng năm rất ít, vì thế các vùng núi và sơn nguyên cao phần lớn là hoang mạc núi cao
+ Kiểu khí hậu cận nhiệt gió mùa chiếm phần phía Đông lãnh thổ Trung Quốc, phía Nam bán đảo Triều Tiên và Nam Nhật Bản Đặc điểm của kiểu khí hậu này đối lập với kiểu cận nhiệt Địa Trung Hải Ở đây, mùa hạ có gió Đông Nam thổi từ biển vào, thời tiết nóng và mưa nhiều Lượng mưa mùa hạ chiếm tới 60% - 75% lượng mưa cả năm Về mùa đông có gió Tây Bắc từ lục địa thổi
ra, nói chung khô và lạnh, tuy nhiên còn nhờ hoạt động của khí xoáy nên thỉnh thoảng vẫn có mưa Lượng mưa trung bình năm 1000mm - 15000mm, đây là miền khí hậu ẩm ướt nhất của đới khí hậu cận nhiệt
- Đới khí hậu nhiệt đới không tạo thành một dải liên tục mà chỉ chiếm phần Tây Nam châu Á bao gồm bán đảo Ả Rập, phần Nam sơn nguyên Iran cho tới Tây Bắc Ấn Độ Trong các khu vực này quanh năm thống trị khối khí nhiệt đới lục địa và gió mậu dịch, vì thế mùa hạ rất khô và nóng còn mùa đông khô và hơi lạnh Lượng mưa hàng năm rất ít, trung bình không có 100 mm ở vùng đồng bằng và 300mm - 400mm ở miền núi Do không khí khô nên khả năng bốc hơi lớn gấp hàng chục lần khả năng mưa, gây nên tình trạng thiếu ẩm gay gắt Điều kiện khí hậu ở đây tương tự như Sahara ở châu Phi Nhiệt độ trung bình tháng 7 thay đổi từ 28°C đến 30°C, tháng 1 từ 12°C ở phía Bắc đến 20°C ở phía Nam Biên độ nhiệt giữa các mùa, ngày và đêm rất lớn
- Đới khí hậu cận xích đạo (hay gió mùa xích đạo) bao gồm khu vực Nam
Á (Ấn Độ, Băng La Đét, Bắc Xrilanka), bán đảo Trung Ấn, Nam Trung Quốc và quần đảo Philippin Như vậy, so với các châu lục khác thì ở châu Á, đới khí hậu này dịch lên những vĩ độ cao hơn, đồng thời ở phía Bắc, nó chuyển sang đới khí hậu cận nhiệt và mất hẳn đới khí hậu nhiệt đới Trong đới khí hậu cận xích đạo
về mùa hạ có gió mùa từ biển thổi vào, nóng, ẩm ướt và có mưa nhiều Ngoài ra, thường có bão xâm nhập làm cho thời tiết nhiễu loạn mạnh và có mưa lớn Do ảnh hưởng của địa hình nên sự phân bố mưa không đều: trên các sườn đón gió, mưa trung bình từ 2000mm - 4000mm hoặc hơn, còn trên đồng bằng, từ 1000mm - 2000mm Nói chung đây là nơi mưa nhiều nhất châu lục Về mùa đông có gió mùa
Trang 25Đông Bắc từ lục địa thổi ra, thời tiết nhìn chung khô ráo Tuy nhiên, như phần hoàn lưu khí quyển đã nói ở trên, về mùa này ở Bắc Ấn Độ, phía Bắc bán đảo Trung Ấn thời tiết tương đối lạnh và có mưa do ảnh hưởng của khí xoáy, chỉ có phần Nam các bán đảo này tương đối nóng, thời tiết khô và trong sáng
- Đới khí hậu xích đạo bao gồm phần Nam đảo Srilanca, phần Nam bán đảo Mã Lai và phần lớn quần đảo Indonesia Với vị trí nằm trên các đảo và bán đảo, biên độ nhiệt giữa các mùa thấp hơn và lượng mưa trung bình hàng năm cao hơn vùng xích đạo ở lục địa Phi Biên độ nhiệt hằng năm ở đây 1 - 2°C, còn lượng mưa trung bình đạt tới 2000mm - 4000 mm Riêng khu vực từ nửa Đông đảo Java trở về phía Đông thuộc đới khí hậu gió mùa xích đạo của bán cầu Nam nên đặc điểm khí hậu mang tính chất mùa rõ rệt
1.2.3 Đặc điểm về sông ngòi
Ở châu Á có nhiều hệ thống sông lớn vào bậc nhất thế giới, hàng năm các sông đổ ra biển một khối lượng nước khổng lồ Sự phát triển của các hệ thống sông lớn đó là do lục địa có kích thước rộng lớn, đồng thời các núi và sơn nguyên cao lại tập trung ở vùng trung tâm, có băng hà phát triển, là nơi bắt nguồn của nhiều con sông Các sông chảy qua các sơn nguyên và đồng bằng rộng, có khí hậu ẩm ướt nên thuận lợi cho việc hình thành các con sông lớn Tất
cả các con sông lớn như Hoàng Hà, Dương Tử, Hắc Long Giang, Mê Kông, Ấn, Hằng đều hình thành trong các điều kiện như vậy
Phụ thuộc vào điều kiện khí hậu, sự phân bố mạng lưới sông và chế độ sông trên lục địa không đều Ở các vùng có mưa nhiều thì mạng lưới sông ngòi phát triển, các sông có nhiều nước và đầy nước quanh năm Trái lại, ở các vùng khô hạn như Trung Á, Nội Á và bán đảo Ả Rập thì mang lưới sông rất thưa thớt, thậm chí có những nơi không có dòng chảy Ở châu Á, lưu vực nội lưu chiếm một diện tích rất rộng tới 18 triệu km², bằng khoảng 41,3% diện tích châu lục
Về chế độ sông phụ thuộc vào chế độ mưa và nguồn nước cung cấp có thể phân chia thành mấy kiểu chính sau:
- Sông chảy trong các miền khí hậu xích đạo và ôn đới hải dương có nguồn cung cấp nước chủ yếu do mưa Ở đây, lượng mưa phân bố đều quanh
Trang 26năm nên sông có nhiều nước và đầy nước thường xuyên
- Sông chảy trong các miền khí hậu gió mùa, có mưa chủ yếu vào mùa hạ nên nước sông lớn vào hạ - thu và cạn vào đông - xuân Sông Hồng tại miền Bắc Việt Nam thuộc kiểu chế độ này
- Sông chảy trong miền cận nhiệt Địa Trung Hải có mưa về mùa đông nên nước sông lớn vào mùa đông và khô cạn vào mùa hạ
- Sông chảy trong miền khí hậu cận cực, ôn đới lục địa, có nguồn cung cấp nước chủ yếu vào mùa xuân do tuyết tan và mưa vào xuân-hạ nên nước lớn vào cuối mùa xuân và đầu mùa hạ Về mùa đông, các sông đóng băng trong một thời gian dài
- Sông chảy trong miền khí hậu khô hạn, nguồn cung cấp nước chủ yếu do tuyết và băng tan từ núi cao nên có nước lớn vào cuối mùa xuân, đầu mùa hạ và lưu lượng giảm dần về hạ lưu
1.2.4 Đặc điểm khoáng sản
Khoáng sản của châu Á tuy chưa được phát hiện đầy đủ song rất phong phú và có số lượng lớn Các loại có trữ lượng đáng kể là dầu mỏ, than, sắt, các kim loại màu như đồng, chì, thiếc và bôxit Về nguồn gốc hình thành và sự phân
bố của chúng rất phức tạp nhưng nhìn chung trong mỗi đới kiến tạo tập trung một số loại khoáng sản chính Riêng các mỏ dầu và khí đốt thường phân bố trong các miền bị lún xuống, được bồi trầm tích dày thuộc các miền võng trên nền, trước núi hoặc các vùng thềm lục địa Sự phân bố các khoáng sản chính có thể phân biệt như sau:
- Các khu vực nền cổ là nơi tập trung nhiều sắt, mangan, bôxit, vàng và một số kim loại quý hiếm Ví dụ: các mỏ sắt lớn ở Ấn Độ, Đông Bắc Trung Quốc, Triều Tiên, Trung Xibia và vùng nền Nga Ở Ấn Độ ngoài sắt còn có mangan với hàm lượng cao và trữ lượng đứng đầu thế giới, vàng, kim cương; Ở Trung Quốc và Trung Xibia có nhiều vonfram, kim cương, vàng, bôxit
- Đới uốn nếp Cổ sinh có nhiều kim loại màu như đồng, chì, thiếc, kẽm Các loại này có nhiều ở Ka-dắc-xtan và vùng núi Nam Xibia
Trang 27- Đới uốn nếp Trung sinh có thiếc là kim khoáng quan trọng nhất Thiếc thường kèm theo vonfram hoặc chì, kẽm, vàng Các vùng có nhiều thiếc nhất là vùng núi Đông Siberi và vùng Đông Nam Á Thiếc ở Đông Nam Á tập trung trong một dải kéo dài từ cao nguyên Vân Quý qua bán đảo Trung Ấn đến các đảo Bangka và Billiton thuộc Indonesia Thiếc ở đây chiếm tới 70% trữ lượng thế giới Sản lượng khai thác thiếc của Trung Quốc, Indonesia và Malaysia đang đứng hàng hai, ba, tư thế giới sau Brasil
- Đới uốn nếp Tân sinh chưa được nghiên cứu đầy đủ song người ta thấy
có nhiều khoáng sản khác nhau như đồng, chì, kẽm, bôxit và sau đó là sắt, mangan và thủy ngân Ngoài ra, ở Tiểu Á và Iran còn có nhiều crôm và môlípđen
- Các khoáng sản năng lượng như than đá, dầu mỏ và khí đốt phân bố ở nhiều đới khác nhau, nhưng nhiều nhất vẫn là trong đới uốn nếp Cổ sinh và các miền võng trước núi thuộc đới uốn nếp Tân sinh và trên các nền cổ Các vùng than có trữ lượng lớn gọi là bồn địa than, có nhiều ở Trung Quốc, Ấn Độ, Mông
Cổ và Trung Xibia thuộc Nga Các mỏ dầu và khí đốt tập trung nhiều ở đồng bằng Tây Siberi, vùng Trung Á, đảo Sakhalin và Nhật Bản Ở Trung Quốc, dầu khí tập trung ở các vùng bồn địa Tarim, Xaidam, Dungari, Tứ Xuyên và cao nguyên Gobi Ở thềm lục địa phía Nam Biển Đông, ở Indonesia, Myanma và đồng bằng Ấn - Hằng, vùng đồng bằng Lưỡng Hà và ven vịnh Ba Tư là những
nơi có trữ lượng dầu thuộc hàng lớn nhất châu Á
1.2.5 Một số cảnh quan thiên nhiên, đồng bằng, dãy núi nổi bật ở châu Á
* Đồng bằng Tây Xibia
Đây là vùng đồng bằng bồi tụ thấp, rộng và bằng phẳng vào bậc nhất ở lục địa Á - Âu Đồng bằng này được hình thành trên nền uốn nếp Hecxini bị lún xuống và bị phủ trầm tích nằm ngang rất dày Với địa hình bằng phẳng lại chịu ảnh hưởng của gió Tây nên đây là xứ ẩm ướt và ẩm nhất vùng Bắc Á Trên đồng bằng, nhiệt độ và thời gian băng giá thay đổi từ Bắc xuống Nam Về mùa đông ở đây có lớp tuyết phủ ổn định và kéo dài 9 tháng ở phía Bắc, 6 tháng ở phía Nam Tây Xibia có nguồn nước ngầm và nước trên mặt rất phong phú Sông Ôbi cũng
Trang 28có phụ lưu lớn là Irotuso tạo thành một mạng lưới sông dày đặc Ngoài ra còn có sông Ienitxei chảy dọc theo rìa phía đông của đồng bằng
Do địa hình bằng phẳng, các đới cảnh quan tự nhiên thay đổi theo thứ tự
từ Bắc xuống Nam bao gồm các đới: đồng rêu, đồng rêu rừng, rừng lá kim, thảo nguyên và thảo nguyên rừng Trong các đới trên, đới rừng lá kim chiếm tới 60% diện tích toàn xứ
Đồng bằng Tây Xibia có nguồn tài nguyên vô cùng phong phú Phía Nam
có hàng chục triệu ha đất và đồng cỏ thuận lợi cho chăn nuôi, trồng trọt Phía Bắc còn có đồng rêu để chăn nuôi tuần lộc Ngoài ra, trong lòng đất rất giàu khí đốt, dầu mỏ, than bùn và nguồn nước ngầm
* Đồng bằng Sông Ấn –Sông Hằng
Đây là một trong những đồng bằng bồi tụ rộng nhất lục địa Á - Âu, kéo dài từ bờ biển Arap đến bờ vịnh Bengan dài hơn 3000km, còn chiều rộng từ 250m - 300m Bề mặt đồng bằng rất bằng phẳng và cao không quá 100m trên mực nước biển
Phần lớn đồng bằng sông Ấn thuộc lãnh thổ Pakixtan và nằm chủ yếu trong miền khí hậu nhiệt đới khô hạn Phần phía Bắc đồng bằng cho đến chỗ hợp lưu của các phụ lưu lớn có tên là đồng bằng Pungiap Ở đây, lượng mưa trung bình năm khoảng 400mm - 500mm, phát triển cảnh quan xavan cây bụi Ngày nay, nhờ có hệ thống tưới nước tốt vùng đã trở thành nơi có dân cư đông
và nông nghiệp phát triển Phần đồng bằng trung và hạ lưu sông Ấn có tên là Xinđơ Đồng bằng này có lượng muwa hàng năm không quá 200mm vì thế cảnh quan hoang mạc phát triển nên chỉ sử dụng để chăn nuôi gia súc
Đồng bằng sông Hằng nằm trong miền khí hậu gió mùa xích đạo Về mùa đông chịu ảnh hưởng của gió mùa tây bắc lạnh và khô, còn mùa hạ có gió mùa đông nam nóng và mưa nhiều Lượng mưa giảm dần từ đông sang tây Phần phía đông của đồng bằng gồm châu thổ Bengali và thung lũng Bramapura nóng và
ẩm ướt nhất, phát triển rừng nhiệt đới rậm rạp Càng đi sang phía tây rừng nhiệt đới chuyển dần sang rừng nhiệt đới gió mùa rồi chuyển đến cảnh quan xavan
Trang 29Ngày nay, toàn bộ đồng bằng được khai thác để trồng trọt Đây là vùng có dân
cư đông đúc và nông nghiệp phát triển nhất Ấn Độ
* Đồng bằng Hoa Bắc
Đây là một trong những đồng bằng lớn ở phía đông Trung Quốc Đồng bằng Hoa Bắc là một bộ phận nền bị sụt lún, sau đó được bồi trầm tích biển và phù sa của sông Hoàng Hà Đây là miền đồng bằng bồi tụ thấp và bằng phẳng, phía tây cao không quá 120m còn phía đông có những nơi rất thấp, đầm lầy phát triển rộng Nhờ có lượng phù sa rất lớn của Hoàng Hà bồi đắp nên đồng bằng Hoa Bắc ngày càng lấn dần ra biển với tốc độ khá nhanh có thể tới 290m trong một năm Lớp phù sa của đồng bằng có nguồn gốc hoàng thổ nên đất đai của đồng bằng rất màu mỡ Bởi vậy, đồng bằng Hoa Bắc trở thành vùng nông nghiệp rất trù phú
* Đồng bằng sông Mê Công
Đồng bằng sông Mê Công cùng với cao nguyên Corat được hình thành trên vùng lún thấp của địa khối Indonexia và miền võng Mê Công Thuộc bán đảo Trung Ấn Dãy Đăng Rếch là dãy phân cách cao nguyên Corat với đồng bằng sông Mê Công Đồng bằng chủ yếu nằm trong phạm vi lãnh thổ Campuchia và Việt Nam Đồng bằng có hình dạng như một cái đĩa lớn, được cấu tạo bởi các lớp trầm tích nằm ngang phù sa và sông Mê Công Phía Bắc, phía Đông và phía Tây đồng bằng có độ cao từ 300m - 400m, phần trung tâm thấp nhất tạo thành hồ Tonlesap (còn gọi là Biển Hồ) Vùng ven hồ và dọc theo thung lũng sông có nhiều đầm lầy rất rộng Từ Phnôm Pênh trở đi, sông Mê Công chảy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, tạo thành nhiều miền châu thổ thấp và bằng phẳng Đồng bằng là nơi có nền nông nghiệp lúa nước khá phát triển trong bán đảo Trung - Ấn
* Dãy Uran
Dãy Uran là giới hạn tự nhiên giữa châu Âu và châu Á đồng thời cũng là giới hạn phân bố của nhiều thành phần tự nhiên khác Dãy Uran không lớn nhưng lại nổi lên giữa hai đồng bằng lớn: đồng bằng Nga ở phía Tây và đồng bằng Tây Xibia ở phía đông Bởi vậy, nó trở thành một xứ tự nhiên riêng biệt
Trang 30Toàn bộ dãy núi tựa như một dải hẹp kéo dài theo hướng kinh tuyến từ bắc đến nam hơn 2000 km, bề rộng trung bình từ 40km – 60km Được hình thành trong chu kì tạo núi Hecxini và bị san bằng lâu dài, Uran là núi già với các đồi núi thấp và núi trung bình Rất ít các đỉnh núi vượt qua 1000m, đỉnh cao nhất cũng chưa đạt tới 1900m
Tuy nằm chủ yếu trong đới khí hậu ôn đới nhưng do núi kéo dài theo hướng kinh tuyến nên khí hậu và cảnh quan của Uran không những thay đổi theo chiều cao, hướng sườn mà còn theo vị trí từ bắc xuống nam rất phức tạp Một bộ phận nhỏ ở phía bắc Uran nằm trong đới khí hậu cận cực với cảnh quan đồng rêu và đồng rêu rừng Phần trung của Uran thuộc đới khí hậu ôn đới lạnh với rừng lá kim còn phần phía nam nằm trong miền khí hậu ôn đới ẩm nên có rừng lá rộng và rừng hỗn hợp thống trị Từ thấp lên cao có các đai rừng lá rộng, rừng hỗn hợp, rừng lá kim rồi đến đới cây bụi và sau đó là tới đới đồng rêu núi
* Dãy Himalaya
Dãy Himalaya nằm ở Nam Á Đây là hệ thống núi uốn nếp trẻ, cao và đồ
sộ nhất thế giới Himalaya được phân cách với sơn nguyên Tây Tạng bởi một thung lũng kiến tạo hẹp - thung lũng Bramaput
Hệ thống núi Himalaya được hình thành vào chu kì núi Tân sinh, được nâng lên cao và tạo thành một hệ thống núi cao với đỉnh núi Evoret là đỉnh cao nhất: 8848m Ngoài ra còn có 7 đỉnh núi khác cao hơn 8000m
Dãy Himalaya thực chất là một ranh giới khí hậu lớn của châu Á Các sườn núi phía nam thuộc khí hậu nóng ẩm với lượng mưa trung bình năm từ 1000mm - 3000mm, trong khi đó trên sườn bắc khí hậu lại khô và lạnh, lượng mưa hàng năm không quá 100mm
Các cảnh quan thiên nhiên của vùng núi Himalaya có sự thay đổi theo chiều cao và theo hướng sườn Trên các sườn phía nam từ thấp lên cao lần lượt
có các đai kế tiếp nhau, từ rừng nhiệt đới ẩm thường xanh, rừng cận nhiệt ẩm, rừng hỗn hợp, rừng lá kim đến đồng cỏ núi cao Từ độ cao 4500m trở lên bắt đầu có băng tuyết vĩnh viễn Trên các sườn phía bắc do khí hậu khô nên phát
Trang 31triển các loại cây bụi ưa hạn và các trảng cỏ ưa khô Trong rừng có giới động vật phong phú và có dự trữ gỗ khá lớn
* Dãy Thiên Sơn
Dãy Thiên Sơn là hệ thống núi lớn nằm ở trung tâm lục địa Á Âu Hệ thống Thiên Sơn gồm nhiều dãy song song với nhau theo hướng tây - đông kéo dài tới 2500 km Độ cao trung bình của toàn bộ hệ thống khoảng 4500m - 5000m, nhưng có nhiều đỉnh núi cao trên 7000m Đỉnh Pobeda là đỉnh cao nhất đạt 7439m Núi Thiên Sơn nằm hoàn toàn trong khí hậu ôn đới lục địa Các vùng chân núi và sườn núi thấp có khí hậu khô hạn Càng lên cao lượng mưa và độ ẩm càng tăng nhưng sự phân bố trên các sườn không giống nhau Các sườn phía bắc
và tây bắc, lượng mưa trung bình khoảng 800mm và mưa chủ yếu vào mùa đông, còn các sườn đông nam chỉ có 20mm - 300mm và chủ yếu vào mùa hạ Đến độ cao khoảng 3600m trở lên ở sườn đông nam bắt đầu đới tuyết vĩnh viễn Thiên Sơn là một trong những miền núi của lục địa Á - Âu có băng hà phát triển mạnh
Nguồn tài nguyên của Thiên Sơn khá phong phú Cho đến ngày nay, người
ta đã phát hiện được nhiều loại khoáng sản khác nhau Tuy nhiên, nguồn lợi lớn nhất của Thiên Sơn vẫn là rừng và đồng cỏ Các đồng cỏ ở đây có điều kiện cho phép phát triển chăn nuôi Trong các thung lũng, có thể trồng ngũ cốc và các loại cây ăn quả
1.3 Đặc điểm dân cƣ
1.3.1 Dân cư và sự phân bố dân cư
So với các châu lục khác, châu Á là nơi có dân cư đông và mật độ dân số cao nhất thế giới Dân số châu Á năm 2012 là 4,260 tỉ người (không tính phần dân cư thuộc liên bang Nga); mật độ trung bình hơn 127 người/km² Tuy nhiên
sự phân bố dân cư trên châu lục rất không đồng đều Có một số nước mật độ dân
cư rất cao như Nhật Bản: 337 người/km2, Ấn Độ: 325 người/km2, Bănglađet:
1019 người/km2, Singapore: 6785 người/km2 Trong khi đó nhiều vùng ở khu vực Trung Á, Nội Á, Tây Nam Á, Bắc Á dân cư vô cùng thưa thớt như Mông Cổ: 2 người/km2, Cadactan: 5 người/km2, Ả rập Xê út: 11 người/km2 Đặc biệt,
Trang 32ở nhiều vùng rộng lớn như Bắc Siberi, sơn nguyên Tây Tạng, bồn địa Tarim hầu như không có người ở
Về sự gia tăng dân số, đại bộ phận các nước châu Á có tỉ lệ gia tăng tự nhiên khá cao Theo số liệu thống kê năm 2005, tỉ lệ gia tăng dân số của châu Á
là 1,3%, trong khi đó ở một số nước thì tỉ lệ đó rất cao như Pakistan: 2,4%, Yemen: 3,3%, Palestin: 3,5%
Về trình độ đô thị hóa, nhìn chung không đều giữa các nước Nếu tính về
số lượng các đô thị lớn thì châu Á đứng đầu thế giới Có 15 thành phố trên 15 triệu dân và hơn 100 thành phố có số dân trên 1 triệu người, song tỉ lệ dân sống
ở đô thị ở châu Á chỉ mới đạt 50%
- Tiểu chủng tộc Mongôlôit phương Bắc gồm cư dân vùng Xibia và phần bắc vùng Nội Á, bao gồm người Xibia (người Exkimô, Êvencô, Iacut), người Mông Cổ, Mãn Châu, Nhật Bản, Triều Tiên và Bắc Trung Quốc Ngoài những đặc điểm của người Mongôlôit nói chung người Mongôlôit phương bắc còn có tầm vóc cao hơn và da màu sáng hơn
- Tiểu chủng tộc Mongôlôit phương Bắc gồm cư dân vùng Xibia và phần Bắc vùng Nội Á, bao gồm người Xibia (người Exkimô, Êvencô, Iacut), người Mông Cổ, Mãn Châu, Nhật Bản, Triều Tiên và Bắc Trung Quốc Ngoài những
Trang 33đặc điểm của người Mongôlôit nói chung, người Mongôlôit phương bắc còn có tầm vóc cao hơn và da màu sáng hơn
- Tiểu chủng tộc Mongôlôit phương nam gồm người Nam Trung Quốc và các nước Đông Nam Á Tiểu chủng tộc này được hình thành do sự hòa huyết giữa người Mongôlôit và người Ôxtralôit vì thế họ có da màu vàng sẫm, cánh mũi rộng, môi hơi dày, tóc làn sóng và hàm hơi vẩu
* Chủng tộc Ơrôpêôit
Chủng tộc này bao gồm toàn bộ các dân cư sống ở vùng Tây Nam Á, một
số ở bắc Ấn Độ, Trung Á và Nội Á Tất cả các cư dân của các vùng trên đây là một bộ phận của nhánh Ơrôpêôit Phương nam hay còn gọi là nhánh Ấn Độ - Địa Trung Hải Người Ơrôpêôit phương nam có đặc điểm da màu tối hơn, tóc và mắt đen hơn người Ôxtralôit nói chung, đầu dài và tầm vóc trung bình
* Chủng tộc Ôxtralôit
Chủng tộc này bao gồm một số cư dân sống ở nam Ấn Độ, Xrilanca và một số rải rác ở Malaixia và Inđônêxia Người Ôxtralôit chiếm một tỉ lệ không đáng kể trong số cư dân của toàn châu lục
Tổ chức sản xuất: hình thức tổ chức sản xuất chủ yếu là hộ nông dân, trang trại gia đình quy mô nhỏ
Về mức độ đầu tư trang bị và trình độ khoa học - công nghệ sản xuất nông nghiệp ở châu Á mới có một số nước và lãnh thổ đạt trình độ sản xuất nông nghiệp cao như Nhật Bản, Đài Loan, Hàn Quốc, Thái Lan, Ixraxen Phần lớn các nước còn lại có mức độ trang bị và trình độ công nghiệp hóa nông nghiệp thấp
Trang 34hơn so với các nước châu Âu và châu Mĩ Tuy nhiên, mấy thập kỉ gần đây mức
độ đầu tư và phát triển đã tăng khá nhanh
Bên cạnh đó, nông nghiệp châu Á còn nhiều khó khăn, thiên tai, đất ít, người đông, quá trình đô thị hóa đang diễn ra mạnh nên diện tích bình quân theo đầu người ngày càng thu hẹp, ruộng đất manh mún, nông dân nghèo, vốn tích lũy ít
Nhìn chung, ngành nông nghiệp châu Á chậm phát triển, Trồng trọt vẫn chiếm vị trí chủ yếu Trong trồng trọt cây lương thực chiếm tỉ lệ quan trọng, cây công nghiệp, cây lấy quả còn chiếm tỉ lệ thấp
Trong các cây lương thực của châu Á thì lúa nước đứng đầu về diện tích
và sản lượng Diện tích trồng lúa nước là 135,5 triệu ha, sản lượng 550 triệu tấn (2005) Lúa nước được trồng chủ yếu ở vùng phù sa màu mỡ Trung Quốc là quốc gia có sản lượng lúa gạo cao nhất ở châu Á (192 triệu tấn), tiếp theo là Ấn
Độ (174 triệu tấn), Việt Nam (39 triệu tấn), Thái Lan (32 triệu tấn)
Lúa mì là cây có diện tích trồng và sản lượng thứ hai sau lúa nước Diện tích reo trồng là 86 triệu ha, sản lượng đạt được là 220 triệu tấn Hai nước sản xuất lúa mì nhiều nhất là Trung Quốc (sản lượng đạt được hơn 100 triệu tấn) và
Cây công nghiệp ở châu Á có mô ̣t s ố loại tiêu biểu như cao su , cà phê, cọ dầu, chà là…
Cao su của châu Á chiếm hơn 90% diện tích và sản lượng của thế giới Cao su được trồng chủ yếu ở Thái Lan, Viê ̣t Nam, Malaysia, Ấn Độ, Inđônêxia
Cà phê của châu Á được tr ồng chủ yếu ở Việt Nam , Ấn Độ, Inđônêxia và chiếm khoảng 1/6 sản lượng cà phê của thế giới
Trang 35Cọ dầu cũng là một cây công nghiệp phát triển mạnh ở châu Á Cọ dầu
tâ ̣p trung ở Malayxia , Inđônêxia Sản lượng của châu Á chiếm hơ n 70% sản lượng nhân co ̣ dầu của thế giới
Chà là là một loại cây công nghiệp chủ yếu trồng ở các nước như Iran , Irac, Ảrâpxêut thuộc vùng Tây Á Sản lượng chà là châu Á chiếm 60% sản lượng toàn thế giới
Chè được trồng rất nhiều và là loa ̣i cây công nghiê ̣p nổi tiếng thế giới của châu Á, điển hình như các nước Ấn Đô ̣, Trung Quốc, Xirilanca
Ngoài các loại cây trên cây công nghiệp châu Á còn có các loại khác như cacao, hồ tiêu, dừ a, mía và một số loa ̣i cây ăn quả, rau
Cây lấy sợi chủ yếu là bông , đay, gai Sản lượng bông của châu Á chiếm 50% sản lượng bông của thế giới Trung Quốc, Ấn Độ, Udơbêkistan, là những nước sản suất nhiều bông Sản lượng đay chiếm 90% sản lượng toàn thế giới Đay được trồng nhiều nhất ở Ấn Đô ̣, Bangladet, Thái Lan
Ngành chăn nuôi của châu Á chưa phát triển mạnh Chăn nuôi chiếm hơn 20% giá trị GDP ngành nông nghiệp Đàn trâu, đàn bò của châu Á chiếm đến 40% số lượng trâu bò của thế giới Ấn Độ là nước có số lượng bò nhiều nhất châu Á , tiếp đến là Trung Quốc , Bangladet, Pakistan Cừu được nuôi nhiều ở Trung Quốc, Mông Cổ Số lượng dê của châu Á chiếm 60% số lượng dê thế giới nước nuôi nhiều nhất là Ấn Đô ̣ Đàn lợn của châu Á chiếm 56% đàn lợn của thế giới Trung Quốc là nước nuôi nhiều lợn nhất Ngoài ra, người dân châu Á còn chăn nuôi các loa ̣i gia cầm và gia súc khác
Sản lượng sữa của châu Á thấp, Ấn Độ là nước đứng đầu châu Á về sản lượng sữa Sản lượng sản phẩm chế biến từ sữa thấp Sản lượng mật ong nhiều Trung Quốc, Ấn Độ là những nước có sản lượng mật ong lớn ở châu Á
Ngành công nghiê ̣p là ngành được các nước châu Á ưu tiên phát triển, đă ̣c biê ̣t là ngành công nghiê ̣p hiê ̣n đa ̣i Tuy nhiên ngành công nghiê ̣p truyền thống cũng được chú trọng phát triển
Trang 36Công nghiệp truyền thống có các ngành tiêu biểu như côn g nghiê ̣p khai khoáng, công nghiê ̣p chế biến thuỷ sản , công nghiê ̣p dê ̣t may , công nghiê ̣p chế tạo máy…
Công nghiệp khai khoáng phát triển ở các nước giàu khoáng sản phục vu ̣ công nghiê ̣p chế biến và là mă ̣t hàng xuất khẩu
- Khai thác than: Trung Quốc đứ ng đầu thế giới về khai thác than với sản lượng là 1950 triê ̣u tấn, Ấn Độ: 405 triê ̣u tấn, Indonexia: 135 triê ̣u tấn
- Khai thác dầu: vùng Tây Á là vùng có sản lượng khai thác dầu lớn nhất Châu Á Sản lượng dầu của Irac : 75 triê ̣u tấn, Côoét: 125 triê ̣u tấn Nam Á và Trung Quốc cũng là những nước có sản lượng tương đối lớn
- Khai thác quạng sắt có nhiều nhất ở: Trung Quốc, Ấn Độ, Inđônêxia
- Khai thác Mangan: nướ c có sản lượng mangan nhiều nhất là Ấn Độ
- Khai thác kim loại màu: Châu Á là nơi nổi tiếng khai thác kim loa ̣i màu ,
đă ̣c biê ̣t là thiếc Nhiều hơn cả là ba nước ở Đông Nam Á : Malaysia, Inđônêxia, Thái Lan
Công nghiệp chế biến thuỷ hải sản phát triển vì ở châu Á có nhiều nước
có sản lượng đánh bắt cá đứng đầu thế giới như Nhật Bản , Trung Quốc , các nước ở vùng Nam Á và Đông Nam Á
Công nghiệp dê ̣t may là ngành ưu thế ở nhiề u nước đang phát triển vì thu hút lực lượng lao động lớn (Trung Quốc, Đông Nam Á, Ấn Độ)
Các ngành công nghiệp hiện đại đang được chú trọng đầu tư phát triển như công nghiê ̣p điê ̣n tử, công nghê ̣ thông tin, công nghiê ̣p hoá dầu
Công nghiệp điê ̣n tử : Ngành công nghiệp điện tử của châu Á đang phát triển ma ̣nh Hiê ̣n nay, Nhâ ̣t Bản là nước đứng đầu về ngành này
Công nghệ thông tin : Nhâ ̣t Bản , Trung Quốc , Ấn Độ là những nước cường quốc công nghê ̣ thôn g tin, bên ca ̣nh đó còn có các nước ASEAN , Hàn Quốc…
Công nghiệp hoá dầu : Nhâ ̣t Bản , Singapo là hai trung tâm hoá dầu nổi tiếng thế giới Ngoài ra, ngành này cũng rất phát triển ở Ấn Độ, Trung Quốc
Trang 37Nhiều sản phẩm đòi hỏi kỹ thuật cao như sản phẩm của ngành điện tử , tin học, hàng không vũ trụ cũng được sản xuất ở châu Á
1.5 Khu vực Đông Nam Á
Đông Nam Á là khu vực nằm ở phía đông nam của châu Á Về mă ̣t đi ̣a lý tự nhiên , Đông Nam Á là mô ̣ t đơn vi ̣ thống nhất gồm hai bô ̣ phâ ̣n : bán đảo Trung Ấn và quần đảo Mã Lai Diê ̣n tích đất đai chỉ rô ̣ng 4,7 triê ̣u km2
song phạm vi lãnh thổ của Đông Nam Á lại là khu vực bao gồm cả biển và đất liền trải ra trên một không gian rất rô ̣ng
- Khu vực lục địa (còn gọi là bán đảo Trung Ấn ): địa hình chủ yếu là núi, núi ở đây chạy theo hướng bắc - nam hoặc tây - đông nam, xen vào giữa là các đồng bằng hoặc thung lũng rộng thuận lợi cho phát triển nông nghiệp Khu vực này nằm c hủ yếu trong đới khí hậu gió mùa xích đạo Về mù a ha ̣ có thời tiết nóng ẩm và mưa nhiều , về mùa đông nói chung khô và tương đối nóng Riêng vùng đông bắc bán đảo về mùa đông chịu ảnh hưởng của gió mùa đông bắc và khối khí lục địa từ vùng Nội Á và Xibia tràn xuống nên có thời tiết lạnh Đặc biê ̣t do ̣c theo sườn đông của dãy Trường Sơn về mùa đông có mưa nhiều do gió mùa đông bắc đi qua biển Do ảnh hưởng của đi ̣a hình , lượng mưa phân bố không đều nên các cảnh quan cũng phân hoá thành nhiều kiểu khác nhau : rừng nhiê ̣t đới ẩm, rừng gió mùa , rừng xavan và xavan cây bu ̣i Mạng lưới sông của bán đảo cũng rất phát triển Phần lớn cá c sông chảy theo hướng Bắc - Nam (hướ ng đi ̣a hình ) Các sông lớn là sông Araoadi (2150km), Xaluxen (3200km),
Mê Nam (1200km), Mê Công (4500km), và sông Hồng Sông Mê Kông là con sông lớn và quan trọng nhất khu vực
Bán đảo Trung Ấn có nguồn tài nguyên phong phú , khí hâ ̣u nóng và ẩm, đất đỏ feralit và phù xa màu mỡ , nguồn nước, mạng lưới sông ngòi dày đặc là những điều kiê ̣n thuâ ̣n lợi cho sự phát triển mô ̣t nền nông nghiê ̣p nhiê ̣t đới vững chắc Trong rừng có nhiều gỗ quý có giá tri ̣ xây dựng và xuất khẩu Các sông có giá trị lớn về giao thông , tưới tiêu và có dự trữ lớn về thuỷ năng Ngoài ra, nơi đây còn có nguồn khoáng sản phong phú , quan trong nhất là dầu mỏ , thiếc, than đá, vàng, vônfram
Trang 38- Khu vực hải đảo (quần đảo Mã Lai ) là một trong những quần đảo lớn nhất thế giới nằm giữa lục địa Á - Âu và lục địa Úc, giữa Thái Bình Dương và
Ấn Độ Dương Địa hình là hệ thống núi theo hướng vòng cung lồi Khu vực này nằm trong hai đới khí hậu khác nha u: Toàn bộ Philippin nằm trong đới khí hậu gió mùa xích đạo của bán cầu bắc Về mùa ha ̣, ở đây không những chịu ảnh hưởng của gió mùa Tây Nam mà còn nằm trên đường đi của bão nhiê ̣t đới Phần lớn các đảo Inđônêxia và phía nam bán đảo Malacca nằm trong đới khí hâ ̣u xích
đa ̣o, chỉ có nửa phía đông đảo Giava và quần đảo Xơnđa Nhỏ nằm trong đới khí
hâ ̣u gió mùa xích đa ̣o của bán cầu nam
Quần đảo M ã Lai là sứ có điều kiện tự nhiên rất thuậ n lợi cho nông nghiê ̣p phát triển Đây là vùng trồng các loa ̣i cây công nghiê ̣p thuâ ̣n lợi bâ ̣c nhất trên thế giới Ở Philippin cũng như Inđônêxia còn có nguồn dự trữ gỗ rất lớn , trong đó có nhiều loa ̣i gỗ có giá tri ̣ lớn về xây dựng và xuất khẩu Trong lòng đất
có nhiều khoáng sản như thiếc, dầu mỏ, than đá, đồng và vàng ba ̣c
Đông Nam Á bao gồm 11 quốc gia: Viê ̣t Nam, Lào, Campuchia, Mianma, Inđônêxia, Malaysia,Thái Lan , Singapo, Brunay, Philippin và Đôn g Timo với tổng số dân đến năm 2012 là 608 triê ̣u người Dân số trẻ chiếm 50% tổng số dân Đây là nguồn lao đô ̣ng lớn song cũng là mô ̣t ha ̣n chế của Đông Nam Á vì thiếu lao đô ̣ng có trình đô ̣ cao Dân số tăng nhanh là mô ̣t vấn đề k inh tế xã hô ̣i ngiêm tro ̣ng mà các nước phải quan tâm
Dân cư phân bố không đồng đều , phần lớ n tâ ̣p trung trong những đồng bằng, hạ lưu các sông các thành phố và các vùng ven biển Trong vài thâ ̣p kỷ gần đây, các nước ASEAN đã đẩy ma ̣nh quá trình công nghiê ̣p hoá mang la ̣i sự thay đổi lớn cho bô ̣ mă ̣t đất nước , thay đổi thành phần nghề nghiê ̣p , xuất hiê ̣n nhiều thành phố, hải cảng, khu chế xuất, khu công nghiê ̣p và tỉ lê ̣ dân thành thi ̣ ngày càng tăng cao Singapo có số dân thành thi ̣ chiếm gần 100%
Đông Nam Á có nhiều phong tục , tâ ̣p quán, cách tổ chức xã hội của các nước rất gần nhau Tuy nhiên, ở mỗi nước lại có tín ngưỡng văn hoá , phong tu ̣c
tâ ̣p quán riêng ta ̣o nên sự đa da ̣ng trong văn hoá của cả khu vực
Trang 39Về kinh tế: Cơ cấu kinh tế của Đông Nam Á có sự thay đổi Công nghiê ̣p
và dịch vụ chiếm tỉ trọng lớn trong nền kinh tế , phát triển những ngành đòi hỏi
kĩ thuật cao Trong nông nghiê ̣p phát triển công nghiệp chế biến sản phẩm xuất khẩu Cơ cấu xuất nhâ ̣p khẩu cũng thay đổi , có nước đã xuất siêu và xuất các
mă ̣t hàng cao cấp Nông nghiê ̣p vẫn là ngành chủ yếu của nhiều quốc gia trong đó có mô ̣t số nước có bước phát triển cao theo hướng công nghiệp hoá như: Thái Lan, Malaysia Cây nông nghiệp chính của mô ̣t số nước là lúa nước , ngô, sắn với sản lượng cao và để xuất khẩu Bên ca ̣nh cây nông nghiê ̣p Đông Nam Á cũng là khu vực trồ ng và sản xuất chủ yếu mô ̣t số loa ̣i cây công nghiê ̣p của thế giới như: cao su, dầu co ̣, dừa, cà phê, hồ tiêu, ca cao, mía và một số hoa quả nhiê ̣t đới
1.6 Tìm hiểu về một số nước láng giềng của Việt Nam
1.6.1 Cam-pu-chia
Cam-pu-chia nằm ở Tây Nam bán đảo Đông Dương, phía Tây và Tây Bắc giáp Thái Lan (2.100 km), phía Đông giáp Việt Nam (1.137km), phía Đông Bắc giáp Lào (492 km), phía Nam giáp biển (400 km) Đất nước Cam-pu-chia có diện tích 181.035 km2
với số dân là 14,7 triệu người (năm 2008)
Địa hình Cam-pu-chia giống như một lòng chảo, xung quanh là núi và cao nguyên Càng đi sâu vào nội địa đất càng thấp, hồ Tônlêsáp (Biển Hồ) là nơi thấp nhất Núi và cao nguyên ở Campuchia không trùng điệp như ở Lào Ngọn núi cao nhất là Ô ran với chiều cao 1831m, sau đó đến dãy Tapơ 1563m thuộc dãy núi Graranh Cao nguyên cao nhất ở Campuchia cũng chỉ tới 500m Đáng chú ý là các cao nguyên ở vùng Đông Nam và Đông Bắc Cam-pu-chia có đất đai rất tốt, thuận lợi cho phát triển nông nghiệp, có những cánh rừng già, đồng cỏ và đồn điền cao su rất lớn
Cam-pu-chia có 2 con sông lớn là sông Mê Kông và sông Tônlêsáp Ngoài ra, còn có một hệ thống sông nhỏ ở miền duyên hải và nhiều phụ lưu của
2 con sông lớn Biển Hồ Tônlêsáp dài hơn 100km, chỗ sâu nhất là 12m và nông nhất là gần 1m Biển Hồ là một bể chứa tự nhiên, có tác dụng điều tiết nước rất quan trọng Về mùa mưa lũ, nước của cả sông Tônlêsáp và sông Mê Kông đều
Trang 40chảy ngược về phía Biển Hồ, tránh được cho nhân dân nhiều nạn lụt Đến mùa khô, nước Biển Hồ lại chảy xuôi ra Mê Kông Biển Hồ là nơi rất giàu tôm, cá
Khí hậu Cam-pu-chia chịu ảnh hưởng của gió mùa tây nam và chia làm hai mùa: mùa khô và mùa mưa Cam-pu-chia có khí hậu nóng ẩm, riêng vùng cao nguyên khí hậu quanh năm mát mẻ
* Ăng-co Vát
Ăng-co Vát được xây dựng vào đầu thế kỷ XII, quần thể di tích, lịch sử, văn hoá và tôn giáo của Cam-pu-chia ở phía tây bắc Biển Hồ, thuộc tỉnh Xiêm Riệp (Siem Reap), cách thủ đô PhnômPênh hơn 300km Ăng-co Vát là khu đền tháp đạo Hinđu thờ thần Visnu (Vishnu) do vua Xuryavacman II (Suryavarman II) cho xây dựng làm khu lăng tẩm Vào thế kỉ XIV - XV, khi đạo Phật được truyền bá rộng khắp ở Châu Á, nó trở thành một ngôi đền Phật giáo
Ăng-co Vát được các nhà thám hiểm Bồ Đào Nha phát hiện hồi cuối thế
kỷ XVI, đến năm 1860 mới được nhà sưu tầm thực vật người Pháp Hen-ri hut tìm thấy và ghi chép cẩn thận Cuối thế kỷ XIX, các nhà thám hiểm người Pháp mới đến Ăng-co Vát và năm 1907, người Thái lần đầu tiên tổ chức du lịch đến đây
Mou-Ăng-co Vát chiếm một diện tích rộng tới 200ha Đền cao 60m, chia làm 3 tầng: tầng dưới cùng có 266 gian buồng, tầng 2 có 132 gian buồng, tầng 3 có 40 gian buồng, bên trên có 5 ngọn tháp
Tháp trung tâm của Ăng-co Vát cao 213m Độ cao của tháp này cao hơn bất cứ một tháp chuông nhà thờ nào ở châu Âu được xây dựng cùng thời Bên dưới các tòa tháp lớn là các đường hành lang dài hun hút, mát lạnh với các khối phù điêu sống động làm cho đá như mềm ra và thấm đẫm linh hồn
1.6.2 Lào
Lào nằm trên bán đảo Đông Dương, trong vùng Đông Nam Á với diện tích 231.000km2, thủ đô hành chính là Viêng Chăn Lào là một quốc gia duy nhất ở Đông Nam Á không giáp với biển Lào giáp Trung Quốc ở phía bắc với đường biên giới dài 505 km; giáp Cam-pu-chia ở phía nam với đường biên giới dài 535 km; giáp với Việt Nam ở phía đông với đường biên giới dài 2069 km,