Mơ ước một cuộc sống tốt đẹp hơn, một xã hội công bằng, ấm no, hạnh phúc đã xuất hiện vào thời sơ kỳ của chế độ chiếm hữu nô lệ. Những tư tưởng mang tính chất XHCN đã có một quá trình phát sinh, phát triển lâu dài mang những nội dung, khuynh hướng khác nhau,
Trang 1Tài liệu thi cao cấp lý luận chính trị gồm: CNXHKH; KTCT; Môn XHH; Môn KHQLY; Môn QHQTE; Môn TG – Tín ngưỡng; Môn triết, môn tư tưởng Hồ Chí Minh
MÔN CNXHKH
Câu 1: Chủ nghĩa xã hội không tưởng và chủ nghĩa xã hội khoa học:
- Sự khác nhau và giống nhau giữa CNXH KT và CNXH KH
- Vị trí lịch sử của CNXH KT- tiền thân của CNXH KH
- Tiền đề khách quan và chủ quan để CNXH KT thành KH
- Những biểu hiện sức sống của CNXH KH
Mơ ước một cuộc sống tốt đẹp hơn, một xã hội công bằng, ấm no, hạnh phúc đã xuất hiện vào thời sơ kỳ của chế độ chiếm hữu nô lệ Những tư tưởng mang tính chất XHCN đã có một quá trình phát sinh, phát triển lâu dài mang những nội dung, khuynh hướng khác nhau, do những điều kiện lịch sử cụ thể của mỗi thời
kỳ khác nhau qui định Lần đầu tiên, những ước mơ về một đời sống ấm no bình đẳng giữa người và người xuất hiện vào thời sơ kỳ của chế độ chiếm hữu nô lệ Những ước mơ ấy của quần chúng nghèo khổ vừa là sự phản kháng tiêu cực đối với xã hội bất công đương thời vừa là hoài vọng về cuộc sống thời nguyên thuỷ Như vậy, tư tưởng XHCN không phải mãi đến thời Mác- Ăngghen mới có, mà nó
đã bắt nguồn từ rất xa xưa trong lịch sử Khái niệm CNXH dùng để chỉ khát vọng (nguyện vọng nhu cầu) của những người bị bóc lột, bất bình đẳng muốn đấu tranh xoá bỏ điều đó để xây dựng một xã hội mới không còn bóc lột và bất bình đẳng trong quan hệ xã hội
Sự giống nhau và khác nhau giữa CNXH KT và CNXH KH:
Khác nhau: -CNXH KT là ước mơ, là khát vọng của loài người về 1 xh tốt đẹp, nhưng ước mơ đó chưa được luận chứng trên những cơ sở, quy luật vận động khác quan của lịch sử cho nên họ không tin và họ chưa có cương lĩnh, con đường, biện pháp thực hiện ước mơ đó; CNXH KH là ước mơ, là khát vọng của loài người về một xh tốt đẹp nhưng ước mơ đó được luận chứng trên cơ sở khoa học (trên cơ sở duy vật biện chứng) do đó họ tin và có cương lĩnh, con đường và biện pháp thực hiện
Giống nhau: nó là sản phẩm của quan hệ giai cấp và đầu tranh giai cấp; nó mang trong mình tính chiến đầu: như khắc phục những hạn chế bởi hoàn cảnh lịch sử, vượt qua hoàn cảnh của chính mình để mơ hoặc thực hiện về một xã hội tốt đẹp ở tương lai; Phần lớn những đại biểu tiêu biểu của CNXH KH và KT đều
có thành phần xuất thân từ những tầng lớp, giai cấp bị bóc lột; Các nhà CNXH
KH và KT mang trên mình tinh thần nhân đạo vì con người, vì một xã hội tốt đẹp
Vị trí lịch sử của CNXH KT tiền thân của CNXH KH
Lịch sử tư tưởng XHCN không tưởng phát triển từ dạng chưa thành văn (dưới dạng văn học dân gian, truyền thuyết huyền thoại thời cổ đại) sang dạng thành văn nhưng nhuốm màu sắc tôn giáo (dưới dạng các giáo lý tôn giáo thời trung cổ)
Trang 2và hình thành nên một hệ thống lý thuyết, tuy chưa hoàn chỉnh, và xuất hiện các nhà đại biểu của tư tưởng XHCN không tưởng trong thời kỳ cận đại, với đại biểu văn chương XHCN tiểu biểu như Morơ-TK16, Campanenla-TK 17; lý luận XHCN như: Mêliê, Mably, Babớp- TK18 Có thể khái quát, CNXH không tưởng
là một hệ thống lý thuyết lý giải phong trào đấu tranh xóa bỏ áp bức bất bình đẳng song chưa mang tính khoa học
đã phê phán, lên án chế độ CN tư bản chủ nghĩa một cách sâu sắc, đòi xóa bỏ nó
để thiết lập một chế độ công hữu đi đến xóa bỏ áp bức bóc lột Họ phần nào nói nên tiếng nói của những người lao động, bênh vực họ trước tình trạng bất công và
áp bức Các Nhà CNXH Không tưởng đã phê miêu tả xã hội như hiện tượng
“Cừu ăn thịt người”, “bệnh dịch nguy hiểm”, “xã hội lộn ngược”, “xã hội vô chính phủ công nghiệp” Theo các ông XH TB cần phải được loại bỏ và thay thế bằng XH khác Các CNXH KT đã nêu nên nhiều luận điểm có giá trị, nhiều dự đoán tài tình về sự phát triển của xã hội mà sau này chủ nghĩa Mác đã chứng minh là đúng CNXH không tưởng cùng với tư tưởng và những hoạt động của mình đã góp phần thức tỉnh tinh thần đấu tranh của quần cúng lao khổ và thúc đẩy lịch sử đi lên Có thể khẳng định, giá trị lịch sử hàng đầu của CNXH không tưởng chủ yếu là của CNXH không tưởng phê phán đầu thế kỷ 19, như Mác - Angels đã thừa nhận, đó là những tiền đề tư tưởng của chủ nghĩa xã hội hiện đại
- Họ đứng trên quan điểm duy tâm để cải tạo xã hội
Lênin khẳng đinh: “CNXH KT không thể vạch ra được một lối thoát thật sự
Trang 3phát hiện ra được những quy luật phát triển của chế độ TBCN và cũng không tìm thấy lực lượng XH có khả năng trở thành người sáng tạo XH mới”.
Tiền đề khác quan và chủ quan để CNXH KT thành KH
CNXH KH và các phạm trù, nguyên lý của nó ra đời, một mặt, phản ánh những hiện thực chính trị xã hội diễn biến trong quá trình giai cấp công nhân thực hiện sứ mệnh lịch sử của mình, mặt khác, nó là sự kế thừa, phát triển những tinh hoa nhân loại, đặc biệt là những giá trị của CNXH không tưởng, ngay trong quá trình giai cấp công nhân thực hiện sứ mệnh lịch sử đó Quá trình hình thành của CNXH KH hay quá trình chuyển biến của CNXH từ không tưởng đến khoa học gắn liền với những điều kiện khách quan và chủ quan, mà trước hết phải kể đến những điều kiện, tiền đề về kinh tế-xã hội và tư tưởng văn hóa
Về kinh tế-xã hội, vào những năm 40 của thế kỷ 19, phương thức sản xuất và
trao đổi TBCN châu Âu phát triển mạnh gắn liền với tiến bộ của công nghiệp cơ khí và đạt đến mức phát triển đầy đủ, chín muồi, mang tính quốc tế hóa và xã hội hóa Giai cấp tư bản và giai cấp công nhân tăng nhanh về số lượng, trở thành hai giai cấp cơ bản trong xã hội, vừa nương tựa vào nhau cùng tồn tại, vừa có mâu thuẫn đối kháng với nhau về lợi ích Giai cấp công nhân đã trải qua nhiều bước phát triển và cuộc đấu tranh của họ chống giai cấp tư sản bắt đầu ngay từ khi họ mới ra đời, đi từ trình độ tự phát đến trình độ tự giác Họ đã trưởng thành và trở thành một lực lượng đủ sức thay thế giai cấp tư sản đã lỗi thời về mặt lịch sử Phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân ngày một lớn mạnh mang tính quốc
tế và trở thành những sự kiện chính trị hàng đầu ở các nước tư bản phát triển Những cuộc nổi dậy sôi nổi của công nhân thành phố Lyông (Pháp) năm 1831, công nhân đức tại Xilêdi năm 1845, và đặc biệt là phong trào Hiến chương của những người lao động ở Anh đã xuất hiện những nhu cầu thay đổi phương thức sản xuất TBCN bằng một PTSX mới tiến bộ hơn Những sự kiện lịch sử trên cho thấy mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất mang tính chất xã hội và quan hệ sản xuất dựa trên chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất đã được thể hiện trên bề nổi xã hội thành mâu thuẫn không thể điều hòa giữa giai cấp tư sản bóc lột thống trị và giai cấp những người làm thuê bị bóc lột Tình hình thực tế lịch sử đó báo hiệu rằng xã hội không thể sống yên ổn dưới sự thống trị của giai cấp tư sản, rằng bản thân giai cấp tư sản là không thể tương dung với
sự tồn tại của một xã hội đang đòi hỏi cần có sự công bằng và bình đẳng giữa người với người
Đây là những điều kiện, tiền đề kinh tế xã hội khách quan cho sự ra đời của chủ nghĩa xã hội khoa học, hay nói một cách khác đây là những cơ sở kinh tế xã hội cho sự chuyển biến của CNXH từ không tưởng thành khoa học Đây là tiền
đề vật chất để Mác-Anghen tắm mình vào đó (thông qua thực tế) phát hiện ra sứ mệnh lịch sử của gc CN, thông qua đây để bổ sung hình thành và hoàn thiện CN Mác; CNXH KH đã thay thế cho các trào lưu XHCN KT đã tỏ ra lỗi thời, không
có khả năng đáp ứng những yêu cầu chính trị cấp bách của giai cấp công nhân.Các cơ sở kinh tế và cơ cấu xã hội TBCN là mảnh đất hiện thực cho CNXH
KH hình thành, song sự chuyển biến của CNXH từ KT đến KH còn cần có những tiền đề cần thiết khác
Trang 4Về tư tưởng-văn hóa Vào đầu thế kỷ 19, những thành tựu to lớn trong khoa
học tự nhiên (đặc biệt là, Định luật bảo toàn và chuyển hóa năng lượng, Học thuyết về tế bào và Thuyết tiến hóa của Đác uyn) đã có tác động trực tiếp vào sự quá trình chinh phục tự nhiên, phát triển sản xuất và tiến bộ xã hội Đồng thời trong lĩnh vực khoa học XH, thời kỳ này cũng chứng kiến sự hình thành những thành quả khoa học có ý nghĩa lịch sử như nền triết học cổ điển Đức (Hêghen, Phoiơbách), nền kinh tế chính trị học cổ điển Anh (Adam Smith và David Recardo) và các học thuyết XHCN KT phê phán tiêu biểu là Hăngriddow, Xanh Ximông, Saclơ Phuriêvà Robert Owen Nhìn chung những cống hiến của các nhà
tư tưởng tiêu biểu nói trên trong triết học, kinh tế học, CNXH KH đã góp phần quí báu vào kho tàng lịch sử tư tưởng của nhân loại Ngoài những hạn chế, khiếm khuyết do điều kiện khách quan không thể tránh khỏi của lịch sử, những di sản trí tuệ của họ có ý nghĩa vô cùng to lớn, và được những người sáng lập ra chủ nghĩa Mác xem đó là những điều kiện khách quan mang tính tiền đề tư tưởng cho học thuyết của mình Chính Angels đã thừa nhận, Xanh Ximông, Saclơ Phuriê và Robert Owen thuộc về những trí tuệ vĩ đại nhất, và chính họ đã tiên đoán được một cách thiên tài vô số những chân lý mà ngày nay chúng ta đang chứng minh tính đúng đắn của chúng một cách khoa học
Tuy các tiền đề về tư tưởng -văn hóa và cơ sở kinh tế, cấu trúc xã hội có thuận lợi đến mấy, có tác động ảnh hưởng lớn đến đâu thì sự hình thành của CNXH KH hay sự chuyển biến của CNXH từ KT thành KH cũng không bao giờ xảy ra nếu không có những thiên tài vĩ đại của lịch sử như C.Mác, Ph Ăngghen và V.I Lênin Có thể khẳng định mà không nghi ngờ gì là, C Mác, Ph Ăngghen và V.I.Lênin là những người sáng lập và phát triển CNXH KH
Có thể nói, sự ra đời của CNXH KH là kết quả của quá trình hoạt động lý luận gắn liền với hoạt động thực tiễn của C Mác và Ph Ăngghen từ buổi đầu những năm 40 của thế kỷ 19 C Mác đã vận dụng và phát triển thành công những quan điểm duy vật và phương pháp biện chứng từ nền triết học cổ Hy Lạp đến nền triết học cổ điển đức; nhờ vậy đã phát hiện ra các quy luật vận động của lịch sử, trước hết là quy luật về sự chuyển biến của các hình thái kinh tế xã hội và sự kế tiếp nhau giữa các hình thái này
Sự ra đời của Tuyên ngôn ĐCS với sự bắt đầu từ luận điểm “từ khi xã hội phân chia thành giai cấp, lịch sử tất cả các XH tồn tại từ trước đến nay chỉ là lịch sử đấu tranh giai cấp,” sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân đã được phát
hiện và thừa nhận Đó là sứ mệnh tự giải phóng mình và giải phóng cho toàn xã hội thoát khỏi tình trạng phân chia thành giai cấp, áp bức, bóc lột giai cấp và đấu tranh giai cấp thông qua cuộc cách mạng xã hội (CMVS) Tuyên ngôn ĐCS được thừa nhận là cương lĩnh chính trị đầu tiên của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế Kể từ đây CNXH không còn bị xem là một phát hiện ngẫu nhiên của một khối óc “kiệt xuất”, nhiệm vụ của nó cũng không phải “nặn” ra từ đầu óc một chế
độ “toàn mỹ” mà là ở chỗ phải nghiên cứu quá trình kinh tế, lịch sử đã sản sinh ra giai cấp tư sản và công nhân cũng như mâu thuẫn không thể điều hòa giữa hai giai cấp này Với tư cách là một hệ thống lý luận khoa học, CNXH KH không phải chỉ có nhiệm vụ dự kiến những mục tiêu lý tưởng mà còn là ở chỗ tạo ra
Trang 5được những điều kiện vật chất và tinh thần cần thiết để giai cấp công nhân có thể hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình
Sức sống của CNXH KH qua những thách thức mới:
CN M-L nói chung, CNXH KH nói riêng đã và đang vào một thời kỳ thử thách nghiêm trọng Trên phạm vì quốc tế đã diễn ra nhiều chiến dịch tấn công của các thế lực chống cộng vào lĩch vực này
Song CNXH KH mang sức sống của quy luật lịch sử, đã và sẽ không có thế lực phản động nào có thể tiêu diệt được Sự sụp đổ của một số nước XHCN do mạng nhiều khuyết tật trái với bản chất CNXH KH đã bị những kẻ cơ hội và phản bội trọng nước cùng với kẻ thù chống cộng bên ngoài rắp tâm phá hoạn Sự sụp đổ của Liên Xô và các nước Đông Âu không chứng minh cho sự kết thúc của CNXH
mà chẳng qua đây chỉ là sự sụp đổ của một mô hình XHCN chứ không phải là sự sụp đổ của CNXH, của CN M-LN
Hơn một thế kỷ qua, tuy gặp những không ít khó khăn, thậm chí là sai lầm, thất bại, nhưng trước sau xu hướng này vẫn thể hiện sức sống mãnh liệt của nó Lý tưởng về một XH không có người bóc lột người, một XH mà “sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người” vẫn là ngọn cờ lý tưởng của hàng triệu con người đang phấn đấu xây dựng 1 cuộc sống công bằng, dân chủ, văn minh
Trước những thử thách lớn hiện nay, những người Cộng sản chân chính đã thể hiện rõ tinh thần kiên trì lý tưởng cao đẹp của mình Ở nhiều nước mặc dù gặp những khó khăn, các ĐCS đã và đang từ trong thực tiễn tìm cho mình những phương pháp, biện pháp đấu tranh mới, những con đường đi lên CNXH phù hợp với điều kiện đặc thù của nước mình Nhiều ĐCS đã gặp nhau để trao đổi học hỏi
và đoàn kết kiên định theo lý tưởng CSCN
Sự tồn tại hiển nhiên của CN M-LN, của CNXH KH đến mức chính Richard Nixơn trong cuốn “chớp lấy thời cơ” (1991) cũng thừa nhận rằng “CN Mác còn sức sống ở trong nhiều trường đại học ở Mỹ”
Thành công của những quốc gia châu Á kiên định đi theo con đường phát triển XHCN và biết lựa chọ những yếu tố tích cực nhất của quá khứ để áp dụng vào hiện tại cũng là chứng minh đầy sức thuyết phục về công năng không có gì phá
vỡ nổi của CNXH Đâu phải vô cớ mà mới đây Venezuela, lần đầu tiên trong hơn
20 năm qua, đã thành lập 1 chính phủ với dự định xây dựng CNXH, và các nước Nam Mỹ đã tuyên bố đi theo con đường XHCN
Các nước XHCN hiện nay đang tiếp tục học tập những kinh nghiệm lịch sử thịnh suy, thành bại của các nước XHCN Liên Xô và Đông Âu trước đây, khắc phục những thiếu sót của mô hình cũ, trong cải cách, mở của tìm tòi CNXH mang màu sắc của đất nước mình và đã đạt được những thành tựu nổi bật
Về lý luận CNXH KH không xuất hiện trên mảnh đất hoang Sức sống của CNXH KH trước hết bắt nguồn từ chỗ, trong quá trình tạo lập và trưởng thành nó
đã kế thừa những tinh hoa mà những người con ưu tú của nhân loại ấp ủ hàng nhiều thế kỷ, trong đó bao gồm cả thời kỳ phát triển TBCN CNXH KH lấy giải phóng con người làm mục đích chính của mình, nhưng xem đó là sự kế tiếp quá
Trang 6trình mà trước đây nhân loại đã từng giải quyết trên con đường chính của sự tiến hoá Để giải phóng con người thì điều quan trọng là phải khơi dậy nơi họ sức mạnh của chủ thể tự giác để chính họ thực hiện yêu cầu thông qua hoạt động cải tạo XH cũ thành XH mới.
Ở VN, mọi thắng lợi CM của nhân dân ta từ trước đến nay đều là thắng lợi của
CN M-LN, của CNXH KH được vận dụng đúng đắng vào cảnh cụ thể của nước
ta, thông qua quá trình lãnh đạo sáng tạo của Đảng ta- Đảng Mác xít- lêninnít do
CT HCM sáng lập và rèn luyện Đảng ta được thành lập vào đầu năm 1930, không chỉ là sản phẩm của sự kết hợp CN M-LN với phong trào công nhân mà còn là sự kết hợp với phong trào yêu nước ở nước ta Đảng ta vừa mang bản chất giai cấp của gc cn, vừa mang tính chất nhân dân rộng rãi và tính dân tộc sâu sắc Trong suốt quá trình cm VN những thắng lợi của cách mạng đó là sự vận dụng sáng tạo CN M-LN và TT HCM vào cm VN luôn dương cao ngọn cơ độc lập dân tộc gắn liền với CNXH
Kế thừa, vận dụng và phát triển sáng tạo di sản kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin về chủ nghĩa xã hội vào điều kiện cụ thể ở Việt Nam, khi trả lời câu hỏi:
“Chủ nghĩa xã hội là gì?”, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, nếu nói một cách vắn tắt, mộc mạc, thì chủ nghĩa xã hội trước hết nhằm làm cho nhân dân thoát khỏi nạn bần cùng, làm cho mọi người có công ăn việc làm, được ấm no và có cuộc sống hạnh phúc Nói cách khác, mục tiêu của chủ nghĩa xã hội là giải phóng nhân dân khỏi nghèo nàn, lạc hậu; là một xã hội không có chế độ người bóc lột người, mọi người được hưởng quyền bình đẳng – nghĩa là ai cũng phải lao động Ai làm nhiều thì hưởng nhiều, làm ít thì hưởng ít, có sức lao động mà không làm thì không được ăn”
Trong quá trình hình thành và phát triển cũng có lúc Đảng ta sai lầm đó là kéo dài quá trình tập trung quan liêu bao cấp Nguyên nhân chính là do bệnh giáo điều, tư tưởng chủ quan, nóng vội duy ý chí, khiến cho lực lượng sản xuất phát triển chậm lại, đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn Đại hội VI Đảng năm
1986 đã mở ra những phương hướng tháo gỡ những khó khăn để ổn định chính trị, kinh tế, xh Nhờ đó nước ta phát triển ổn định về chính trị, tăng trưởng về kinh tế, xã hội được cải thiện
Thực tiễn qua 20 năm đổi mới cho thấy, Ðảng ta đã nhận thức đúng hơn và bổ sung, phát triển chủ nghĩa M-LN trên một loạt các vấn đề (chẳng hạn vấn đề mục tiêu CNXH, vấn đề sở hữu tư liệu sản xuất, vấn đề phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN, vấn đề xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của dân do dân và vì dân, ) Nhờ đó tư duy luận của Ðảng ngày càng sâu sắc hơn, nhận thức đúng đắn hơn thực chất những tư tưởng của các nhà kinh điển M-LN, đồng thời
có sự vận dụng phát triển phù hợp hơn với thực tiễn Việt Nam
Tại ĐH X nhìn lại 20 năm đổi mới, với sự nỗ lực phấn đấu của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, công cuộc đổi mới ở nước ta đã đạt những thành tựu to lớn và có
ý nghĩa lịch sử:
Một là, đất nước đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, có sự thay đổi cơ
bản và toàn diện
Trang 7Hai là, kinh tế tăng trưởng khá nhanh, sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại
hoá, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được đẩy mạnh
Ba là, đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt.
Bốn là, hệ thống chính trị và khối đại đoàn kết toàn dân tộc được củng cố và
tăng cường
Năm là, chính trị - xã hội ổn định.
Sáu là, quốc phòng và an ninh được giữ vững.
Bảy là, vị thế nước ta trên trường quốc tế không ngừng được nâng cao.
Tám là, sức mạnh tổng hợp của quốc gia đã tăng lên rất nhiều, tạo ra thế và
lực mới cho đất nước tiếp tục đi lên với triển vọng tốt đẹp
Những thành tựu đó chứng tỏ đường lối đổi mới của Đảng ta là đúng đắn, sáng tạo, phù hợp thực tiễn Việt Nam Nhận thức về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ngày càng sáng tỏ hơn; hệ thống quan điểm lý luận
về công cuộc đổi mới, về xã hội xã hội chủ nghĩa và con đường đi lên chủ nghĩa
xã hội ở Việt Nam đã hình thành trên những nét cơ bản
Đồng thời Đại hội cũng xác định: Xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng là một xã hội dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao, dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại
và quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất; có nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người được giải phóng khỏi áp bức, bất công, có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tương trợ và giúp đỡ nhau cùng tiến bộ; có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản; có quan hệ hữu nghị
và hợp tác với nhân dân các nước trên thế giới
Từ thực tiễn 20 năm đổi mới, Đảng và Nhà nước ta đã tổng kết và rút ra 5 bài học sau:
Một là, Trong quá trình đổi mới, phải kiên trì mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH trên nền tảng CN M-LC và tư tưởng HCM
Hai là, đổi mới toàn diện, đồng bộ, kế thừa, có bước đi, hình thức và cách làm phù hợp
Ba là, đổi mới phải vì lợi ích của nhân dân, dựa vào nhân dân, phát huy vai trò chủ động, sáng tạo của nhân dân, xuất phát từ thực tiễn, nhạy bén vói cái mới.Bốn là, phát huy cao độ nội lực, đồng thời ra sức tranh thủ ngoại lực, kết hợp sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại trong điều kiện mới
Năm là, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, không ngừng đổi mới hệ thống chính trị, xây dựng và từng bước hoàn thiện nên dân chủ XHCN, đảm bảo quyền thuộc về nhân dân
Trang 8Những bài học đó là sự kết tinh của nhiều nguyên lý cơ bản của CNXH KH gắn với những thu hoạch trong thực tiễn cm trong nước cũng như trên thế giới nhằm phục vụ thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc VN XHCN.
Nắm vững CN M-LN, CNXH KH, chúng ta nhận thức về con đường phát triển của xã hội đúng quy luật thì việc chuyển biến xh đi lên CNXH là một tất yếu không thể tránh được Đó là một tất yếu của lịch sử Từ đó chúng ta tin tưởng vào con đường mà Đảng và Bác đã lựa chọn, chúng ta chung sức, chung lòng phấn đấu trên mọi lĩnh vực nhằm thực hiện mục tiêu xây dựng và bảo vệ tổ quốc
VN XHCN, "dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ, văn minh"
Tóm tắt
CNXH KT và KH
Sự giống và khác nhau:
Khác nhau: - CNXH KT là ước mơ, là khát vọng của loài người về 1 xh tốt
đẹp, nhưng chưa được luận chứng trên những cơ sở, quy luật vận động khác quan của lịch sử cho nên họ không tin và họ chưa có cương lĩnh, con đường, biện pháp thực hiện ước mơ đó; còn CNXH KH được luận chứng trên cơ sở khoa học và có cương lĩnh, con đường và biện pháp thực hiện
Giống nhau: nó là sản phẩm củab quan hệ giai câp và đầu tranh giai cấp; nó
mang trong mình tính chiến đầu Phần lớn những đại biều tiêu biểu của CNXH
KH và KT đề có thành phần xuất thân từ những tầng lớp, giai cấp bị bóc lột; Các nhà CNXH KH và KT mang trên mình tinh thần nhân đạo vì con người, vì một
đã nêu nên nhiều luận điểm có giá trị, nhiều dự đoán tài tình về sự phát triển của
xã hội mà sau này chủ nghĩa Mác đã chứng minh là đúng góp phần thức tỉnh tinh thần đấu tranh của quần cúng lao khổ
Những hạn chế:
Họ mơ ước đến một xã hội tương lại nhưng chưa chỉ ra được con đường để đạt được xã hội tương lai đó; Phê phán xã hội đương thời gây ra áp bức bất công nhưng chưa khám phá ra bản chất quy luận vận động của nó Chưa chỉ ra được lực lượng xã hội để thực hiện con đường đi đến xh tốt đẹp hơn; Họ chưa đặt mình vào vị trí người đại diện cho giai cấp công nhân và quần chúng lao động để đấu tranh giải phóng họ mà đứng trên lập trường của giai cấp trên (Quy tộc, TS) Không gắn học thuyêt của mình vào phong trào đấu tranh của quần chúng; Họ đứng trên quan điểm duy tâm để cải tạo xã hội
Trang 9Về kinh tế-xã hội: Những năm 40 của thế kỷ 19 chủ nghĩa tư bản châu Âu
phát triển mạnh cả về kinh tế lẫn chính trị sự phát triển của PTSX TBCN dẫn đến sự ra đời của gc cn (là lực lượng lớn) có sự đoàn kết và ý thức tính chất kỷ luật cao gc cn ngày một trưởng thành và mâi thuẫn ngày càng sâu sắ Hàng loạt các cuộc khởi nghĩa của giai cấp công nhân chống lại giai cấp tư sản đã nổ ra, ví
dụ như, cuộc khởi nghĩa của công nhân ở Lyon - Pháp(1831-1834); của công nhân dệt Xiledi(Đức); và đặc biệt là phong trào Hiến chương (Anh 1838-1843) thực tế đòi hỏi phải xây dựng một hệ thống lý luận khoa học và cách mạng để soi đường cho phong trào
về tư tưởng-văn hóa Vào đầu thế kỷ 19, những thành tựu to lớn trong khoa
học tự nhiên (Học thuyết về tế bào và Thuyết tiến hóa của Đác uyn…) đã có tác động trực tiếp vào sự quá trình chinh phục tự nhiên, phát triển sản xuất và tiến bộ
xã hội khoa học XH, thời kỳ này cũng chứng kiến sự hình thành những thành quả khoa học có ý nghĩa lịch sử như nền triết học cổ điển Đức (Hêghen, Phoiơbách), nền kinh tế chính trị học cổ điển Anh (Adam Smith và David Recardo)… Những thành tựu này cung cấp sơ sở KH cho Mac-Anghen kế thừa, tiếp tục đấu tranh phê phán những luận điểm sai trái và cùng với tài năng của mình bổ sung hoàn thiện học thuyết Mác
Chủ nghĩa xã hội khoa học vạch ra con đường đi lên chủ nghĩa xã hội phải bằng con đường cách mạng Lực lượng làm cách mạng để giải phóng xã hội đó chính là giai cấp công nhân - con đẻ của nền đại công nghiệp dưới chủ nghĩa tư bản Chủ nghĩa xã hội khoa học đã tìm ra được bản chất bóc lột của chủ nghĩa tư bản, thực chất của giá trị thặng dư mà nhà tư bản chiếm đoạt để từ đó giáo dục giai cấp công nhân, hướng phong trào công nhân đấu tranh từ tự phát sang tự giác
Những biểu hiện về sức sống:
- CNXH KH đang đứng trước thử thách to lớn Song nó mang một sức sống của quy luật lịch sử, đã và sẽ không thể tiêu diệt được
- Sự sụp đổ của một số nước XHCN như Liên Xô và các nước Đông Âu chỉ là
sự sụp đổ của một mô hình XHCN chứ không phải là sự sụp đổ của CNXH, của
Thành công của những quốc gia châu Á kiên định đi theo con đường phát triển XHCN; mới đây Venezuela, đã thành lập 1 chính phủ với dự định xây dựng CNXH, và các nước Nam Mỹ đã tuyên bố đi theo con đường XHCN
Các nước XHCN hiện nay đang tiếp tục học tập những kinh nghiệm lịch sử thịnh suy, thành bại của các nước XHCN Liên Xô và Đông Âu trước đây, khắc
Trang 10phục những thiếu sót của mô hình cũ, trong cải cách, mở của tìm tòi CNXH mang màu sắc của đất nước mình và đã đạt được những thành tựu nổi bật.
-Ở VN, mọi thắng lợi CM là thắng lợi của CN M-LN, của CNXH KH được vận dụng đúng đắng vào cảnh cụ thể của nước ta Trong quá trình hình thành và phát triển cũng có lúc Đảng ta sai (bao cấp) Đại hội VI Đảng năm 1986 đổi mới Qua 20 năm đổi mới (1986- 2006), tại ĐH đại biểu toàn quốc lần thứ X, Đảng ta
Năm là, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, không ngừng đổi mới hệ thống chính trị, xây dựng và từng bước hoàn thiện nên dân chủ XHCN, đảm bảo quyền thuộc về nhân dân
Trang 11Câu 2: Cơ cấu xã hội- giai cấp:
- Vị trí, vai trò của các giai- tầng xh (gc công nhân, nông dân và đội ngũ trí thức) trong cơ cấu xh-giai cấp ở nước ta (Chú ý việc so sánh phân tích…).
- Thực trạng của các giai - tầng xh ở nước ta.
- Quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước đối với các giai - tầng xh.
Trong tiến trình cách mạng các giai tầng trong xh là lực lượng quan trọng tham gia vào công cuộc giải phóng dân tộc, xây dựng đất nước Mỗi giai cấp, tầng lớp có những đặc điểm, vị trí, vai trò khác nhau đóng góp vào tiến trình cách mạng Nhằm phân tích thấy rõ được những đặc điểm trên giúp cho Đảng, Nhà nước có những quan điểm, chính sách và giải pháp để phát huy những ưu điểm khắc phục hạn chế xây dựng khối liên minh giai cấp vững mạnh, xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc vững chắc góp phần thực hiện thắng lợi công cuộc CNH-HĐH nước nhà
Giai cấp nông dân: Là giai cấp của những người LĐ SXVC nông nghiệp,
lâm nghiệp, ngư nghiêp…, trực tiếp sử dụng (canh tác) một TLSX cơ bản và đặc thù, gắn liền với thiên nhiên là đất, rừng, biển để SX ra nông sản
Nông dân vốn có PTSX phân tán, kỹ thuật lạc hậu, năng xuất LĐ thấp Họ
là những người tư hữu nhỏ (họ vừa là người lao động, vừa là người tư hữu), do
đó giai cấp nông dân khác với bản chất của các giai cấp bóc lột Bời vì, nông dân
tư hữu nhỏ nên không thể dựa trên tư hữu nhỏ đó để bóc lột các giai cấp và tầng lớp xã hội khác Giai cấp nông dân không có hệ tư tưởng riêng, mà tư tưởng của
họ phụ thuộc vào hệ tư tưởng của giai cấp thống trị xã hội Vì vậy, khi chưa giác ngộ cm do gccn lãnh đạo thì nông dân dễ dao động về tư tưởng, dễ bị ngộ nhận
về chính trị và manh động trong các cuộc đấu tranh tự phát Giai cấp nông dân không có sự cấu kết chặt chẽ cả về kinh tế lẫn về tư tưởng và tổ chức
Gcnd là LLSX và lực lượng chính trị xh đông đảo nhất trong những nước nông nghiệp Khi được giác ngộ, nông dân có khả năng trở thành lực lượng cách mạng to lớn nhất trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và cách mạng XHCN
Trong chế độ phong kiến, nông dân là lực lượng sản xuất chính và cũng là giai cấp cơ bản bị áp bức trong xã hội Vốn là những người sản xuất nhỏ và bị hạn chế trong tầm nhìn hẹp của làng xã, họ thường bị thụ động trước các vấn đề
xã hội và trước các cuộc cách mạng xã hội Là lực lượng sản xuất cơ bản của xã hội, song trước sau họ vẫn không thay đổi được phương thức sản xuất, năng lực sản xuất, không có khả năng đưa ra một phương thức sản xuất và một hình mẫu
xã hội tiến bộ hơn
Với những đặc điểm trên, giai cấp nông dân không có khả năng tự giải phóng mình khỏi các chế độ tư hữu, áp bức, bóc lột, họ càng không thể trở thành giai cấp lãnh đạo cách mạng mà chỉ có thể liên minh với giai cấp công nhân, tầng lớp trí thức và các giai tầng xã hội khác, cùng giai cấp công nhân thực hiện cuộc cách mạng giải phóng mình và giải phóng dân tộc, do gccn lãnh đạo
Trang 12Tri thức:
(Theo V.I.Lênin, trí thức là một tầng lớp xã hội đặc biệt, tầng lớp ấy không chỉ bao hàm các nhà trước tác, những người có học vấn và nói chung là lao động trí óc)
Trí thức gồm những người lao động trí óc phức tạp và sáng tạo, có trình độ học vấn đủ để am hiểu và họat động chuyên sâu trong lĩnh vực lao động của mình Trí thức có phương thức lao động đặc thù, chủ yếu là lao động trí tuệ cá nhân Do vậy họ phải thường xuyên thể hiện và nâng cao khả năng tư duy khoa học độc lập
Trí thức trực tiếp họat động chủ yếu trong các lĩnh vực nghiên cứu, giảng dạy, ứng dụng các khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật, khoa học XH và nhân văn, văn học nghệ thuật, lãnh đạo và quản lý Sản phẩm lao động trực tiếp nhất của trí thức là những giá trị lý luận, lý thuyết khoa học; những giá trị tinh thần Những giá trị đó tuy không quyết định nhất đối với tồn tại xã hội, song lại quyết định đến năng suất lao động, chất lượng SX, tốc độ tăng trưởng và PT của XH trên cả đời sống vật chất lẫn đời sống tinh thần Ngày nay, khoa học và công nghệ ngày càng trở thành LLSX trực tiếp của xã hội nên vai trò của trí thức ngày càng quan trọng.Trí thức không có hệ tư tưởng riêng, chủ yếu vì không có phương thức SX riêng và địa vị kinh tế-XH độc lập có nghĩa là nó không đại biểu cho một PTSX độc lập, không phải là một lực lượng kinh tế, chính trị độc lập trước các giai cấp
và tầng lớp XH khác Trí thức từ thời chiếm hữu nô lệ cách đây hàng ngàn năm cho đến nay vai trò và tư tưởng của họ đều phụ thuộc vào hệ tư tưởng giai cấp thống trị XH
Nhưng trên thực tế lịch sử, dù không có hệ tư tưởng riêng, trí thức ở chế độ
XH nào cũng giúp giai cấp thống trị khái quát về lý luận để hình thành hệ tư tưởng của giai cấp thống trị XH Khi XH có giai cấp, có dân tộc thì trí thức bao giờ cũng là trí thức của giai cấp, của dân tộc xác định Có như vậy, trí thức mới thể hiện được vai trò lịch sử, vai trò XH của mình Trong XH, trí thức chỉ là một tầng lớp XH đặc biệt và không thuần nhất.Trí thức chưa bao giờ và không bao giờ tồn tại với tư cách một giai cấp
Vai trò của trí thức là rất quan trọng ở mọi chế độ XH, mọi thời đại Trong sự nghiệp XD xã hội mới, vaitrò của trí thức ngày càng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, đặc biệt là vai trò trang bị tri thức văn hóa, khoa học , nâng cao dân trí.Trí thức không có lợi ích đối kháng trực tiếp với giai cấp tư sản Dưới chế độ TBCN, trí thức cũng là người làm thuê và bị bóc lột, nhưng lại là tầng lớp làm thuê đặc biệt, được giai cấp tư sản đào tạo, sử dụng và có một bộ phận được chế
độ tư bản ưu đãi Trí thức không phải là tầng lớp XH có tinh thần CM triệt để như GCCN trong cuộc đấu tranh chống GCTS Tựu trung lại là trong các chế độ
tư hữu, đại đa số trí thức là những người bị áp bức bóc lột (tuy mức độ và hình thức bóc lột không hà khắc và nặng nề như GCCN và GCND bị áp bức bóc lột)
Vì vậy, trí thức gắn bó với nhân dân, với dân tộc, luôn đấu tranh cho một XH hòa bình, dân chủ, bình đẳng và tiến bộ Khi được sự lãnh đạo của GCCN, trí thức có
Trang 13Nhưng, trí thức không thể tự giải phóng mình khỏi các chế độ tư hữu, áp bức, bóc lột; càng không thể trở thành lực lượng độc lập để lãnh đạo CM dân tộc dân chủ nhân dân và CMXHCN Thực tế lịch sử cho thấy chưa bao giờ có một tầng lớp trí thức nào có thể thay thế một giai cấp để lãnh đạo một cuộc cách mạng XH nhằm thay thế chế độ này bằng một chế độ XH khác.)
Giai cấp công nhân: Xét về nguồn gốc ra đời, gccnlà con đẻ của nền đại
công nghiệp sinh ra và phát triển theo đà phát triển của kỹ thuật và công nghệ và chỉ trở thành giai cấp ổn đinh khi SX đại CN đã thay tế về cơ bản nền SX thủ công
Dưới chế độ TBCN, gc cn là gc những người LĐ làm thuê cho nhà TB, là gc hoàn toàn không có TLSX, phải bán sức LĐ cho nhà TB để kiếm sốn Vì vậy trong SX họ là gc bị phụ thuộc và trong phân phối là gc bị bóc lột giá trị thặng dư
do đó gc cn đối lập trực tiếp về lợi ích với gc TS
Trong xã hội TB gccn đại diện cho LLSX sẽ không ngừng phát triển dẫn tới mâu thuẫn với QHSX TBCN dựa trên chiếm hữu tư nhân về TLSX, dẫn tới tạo ra mâu thuẫn cơ bản trong xã hội TB: QHSX lỗi thời- đại diện cho gcTS với LLSX mới - đại diện cho gccn Theo quy luật thì gcnn sẽ đại diện cho LLSX mới xoá bỏ QHSX lỗi thời (gcTS) mở đường cho LLSX phát triển
Gccn là gc đại diện cho LLSX tiến tiến, do vậy gccn là gc duy nhất có khả năng sáng tạo ra PTSX mới tiến bộ hơn Đồng thời là gc đối lập trực tiếp với gcTS, gccn là gc đại biểu cho lợi ích của toàn bộ các gc và người LĐ trong xh, do đó họ trở thành lãnh tụ tự nhiên của quần chúng LĐ trong cuộc đấu tanh chống gcTS và xây dựng xh mới
Thực vậy từ địa vị KT, Xh của mình đã tạo cho gccn trở thành gc tiên tiến nhất,
có khả năng vạch đường lối đúng đắn phát triển xh tốt hơn, kiên quyết loại bỏ gcTS bóc lột, còn gcnd và tàng lớp trí thức chỉ tiên tiến khi nào họ đi theo gccn làm cm
GCCN có hệ tư tưởng riêng của gc mình đó là CN M-LN phản ánh sứ mệnh lịch
sử của gccn, đồng thời hệ tư tưởng đó dẫn dắt quá trình gccn thực hiện sứ mệnh lịch sử của minh nhằm giải phóng xh, giải phóng con người gccn có Đảng tiền phong của mình ĐCS
GCCN là gc có tinh thần cm triệt để Vì họ sống dưới chế độ TBCB gccn bị tước hết TLSX và bị áp bức bóc lột nặng nề Muốn giải phóng họ phải lật đổ ách thống trị của gcTS, xoá bỏ CNTB và mọi nguồn gốc sinh ra chế độ người bóc lột người gccn có ý thức tổ chức kỷ luật cao do điều kiện SX và KHKT đã tôi luyện họ, họ
Trang 14được thử thách qua các cuộc đấu tranh muốn giành chiến thắng họ phải có tổ chức chặt chẽ, tinh thần đoàn kết, kỷ luật cao gccn ở các nước TB đều có địa vi
KT, XH giống nhau nên có cùng mục tiêu chung là đấu tranh xoá bỏ chế bộ áp bức bóc lột của TBCN xây dựng chế độ mới XHCN, muốn thăng lợi họ phải đoàn kệt lại vì vậy họ có bản chất quốc tế
Tóm lại gccn, gcnd và tầng lớp trí thức đều là lực lượng LĐ SX, lực lượng
CT-XH với những đặc điểm và vai trò xác định cm dtdc cũng như cm CT-XHCN không thể thành công ở những nước nông nghiệp nếu ba lực lượng này tách rời nhau, không được tổ chức lại, dưới sự lãnh đạo đúng đắn của gccn thông qua ĐCS
Thực trạng các giai tầng trong XH
Tầng lớp trí thức: đến nay nước ta có 1.150 tổ chức nghiên cứu khoa học
và PT công nghệ; 140 trường đại học và cao đẳng; 1,8 triệu người có trình độ đại học và cao đẳng trở lên; trên 03 vạn người trình độ trên đại học (1,4 ts và 1,6 ths); 6.600 giáo sư và phó giáo sư; Sự đóng góp của trí thức trong tiến trình cam mạng
VN trên tất cả các lĩnh vực của xh: Ktế, chính trị, quân sự, khoa học… Bộ phận trí thức VN đã được hội đồng KH quốc tế đánh giá có nhiều đề tài KH cao có tính ứng dụng thực tế Trong những lần cọ sát mang tính chất trí tuệ thế hệ trẻ VN có những biểu hiện thông minh (thông qua các cuộc thi quốc tế)
Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, những thành tựu của CM từ khi có Đảng là sự nghiệp tòan dân nhưng trí thức góp phần hết sức quan trọng Mặt mạnh cơ bản của trí thức nước ta là phát triển nhanh chóng về số lượng, giàu lòng yêu nước, gắn bó với Đảng, với nhân dân, có tâm huyết phục vụ tổ quốc, phục vụ nhân dân, có tâm huyết, có lòng say mê và hòai bão trong khoa học Một bộ phận trí thức có nhiều sáng tạo, có nhiều công trình nghiên cứu có giá trị, có nhiều đóng góp quan trọng phục vụ đất nước, dân tộc trên nhiều lĩnh vực và ngày nay đang giữ những trọng trách, cương vị quan trọng góp phần tạo nên diện mạo Việt Nam ngày nay Trí thức nước ta có tiềm năng trí tuệ to lớn, có khả năng nhanh chóng tiếp cận trịnh độ KHCN tiên tiến và văn hóa thế giới
Tuy nhiên, đội ngũ trí thức VN còn những hạn chế: Đội ngũ trí thức ít, đào tạo không đồng bộ giữa các ngành nghề, lĩnh vực; có rất nhiều ngành nghề, lĩnh vực chưa có đào tạo sau đại học Thiếu tầm nhìn và giải pháp chiến lược, chưa có quy họach, nặng sự vụ Phân bố không đồng đều, chủ yếu ở các thành phố lớn và các
cơ quan TW là 92,9%, trong đó Hà Nội 63,8%, HCM Cty 19,35% và ĐP 7,1% Đào tạo và sử dụng không hợp lý,mất cân đối
Một bộ phận trí thức có kiến thức giỏi nhưng kỹ năng thực hành, năng lực sáng tạo yếu kém Nguyên nhân do đầu tư cho giáo dục còn thấp, nội dung đào tạo chậm đổi mới, cơ chế chính sách kém, một bộ phận không có tài năng
Một bộ phận trí thức có trình độ giác ngộ chính trị, giác ngộ XHCN yếu, thờ ơ, bàng quang với chính trị, thách thức với chính trị
Giai cấp công nhân:Qua hơn 20 năm đổi mới, cùng với quá trình CNH-HĐH
đất nước, gccn nước ta đã tăng nhanh về số lượng, chất lượng được nâng lên, đang tiếp tục phát huy vai trò là giai cấp lãnh đạo cách mạng thông qua đội tiền
Trang 15chủ nghĩa xã hội, lực lượng đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, hội nhập kinh tế quốc tế; có nhiều cố gắng để phát huy vai trò là lực lượng nòng cốt trong liên minh gccn với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng Trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc, gccn đã đóng góp trực tiếp to lớn vào quá trình phát triển của đất nước, cùng với các giai cấp, tầng lớp và thành phần xã hội khác, gccn nước ta là cơ sở chính trị - xã hội vững chắc của Đảng và Nhà nước
Tuy nhiên, sự phát triển của gccn chưa đáp ứng được yêu cầu về số lượng, cơ cấu
và trình độ học vấn, chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập kinh tế quốc tế; thiếu nghiêm trọng các chuyên gia kỹ thuật, cán bộ quản lý giỏi, công nhân lành nghề; tác phong công nghiệp và kỷ luật lao động còn nhiều hạn chế; đa phần công nhân từ nông dân, chưa được đào tạo cơ bản và có hệ thống Một bộ phận công nhân chậm thích nghi với cơ chế thị trường Địa vị chính trị của gccn chưa thể hiện đầy đủ Gccn còn hạn chế về phát huy vai trò nòng cốt trong liên minh gccnvới giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng Giác ngộ giai cấp và bản lĩnh chính trị của công nhân không đồng đều; sự hiểu biết về chính sách, pháp luật còn nhiều hạn chế Tỉ lệ đảng viên và cán bộ lãnh đạo xuất thân từ công nhân còn thấp Một bộ phận công nhân chưa thiết tha phấn đấu vào Đảng và tham gia hoạt động trong các tổ chức chính trị - xã hội Nhìn tổng quát, lợi ích một bộ phận công nhân được hưởng chưa tương xứng với những thành tựu của công cuộc đổi mới và nhưng đóng góp của chính mình; việc làm, đời sống vật chất và tinh thần của công nhân đang có nhiều khó khăn, bức xúc, đặc biệt là ở bộ phận công nhân lao động giản đơn tại các doanh nghiệp của tư nhân và doanh nghiệp có vốn đầu
tư nước ngoài
Quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước đối với các giai tầng xh:
Đối với giai cấp công nhân:
1- Kiên định quan điểm giai cấp công nhân là giai cấp lãnh đạo cách mạng thông qua đội tiền phong là Đảng Cộng sản Việt Nam; giai cấp đại diện cho phương thức sản xuất tiên tiến; giai cấp tiên phong trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa
xã hội, lực lượng đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước; lực lượng nòng cốt trong liên minh dưới sự lãnh đạo của Đảng Sự lớn mạnh của giai cấp công nhân là một điều kiện tiên quyết bảo đảm thành công của công cuộc đổi mới, công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
2- Xây dựng giai cấp công nhân lớn mạnh phải gắn kết hữu cơ với xây dựng, phát huy sức mạnh của liên minh giai cấp của tất cả các giai cấp, các tầng lớp xã hội trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc - động lực chủ yếu của sự phát triển đất nước, đồng thời tăng cường quan hệ đoàn kết, hợp tác quốc tế với giai cấp công nhân trên toàn thế giới
3- Chiến lược xây dựng giai cấp công nhân lớn mạnh phải gắn kết chặt chẽ với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, hội nhập kinh tế quốc tế Đảm bảo hài hoà lợi ích giữa công nhân, người sử dụng lao động, Nhà nước và toàn xã hội; không ngừng nâng cao đời sống vật
Trang 16chất, tinh thần của công nhân, quan tâm giải quyết kịp thời những vấn đề bức xúc, cấp bách của giai cấp công nhân.
4- Đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ mọi mặt cho công nhân, không ngừng trí thức hoá giai cấp công nhân là một nhiệm vụ chiến lược có lập trường giai cấp và bản lĩnh chính trị vững vàng
5- Xây dựng giai cấp công nhân lớn mạnh là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, của toàn xã hội; trong đó, sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước có vai trò quyết định, công đoàn có vai trò quan trọng trực tiếp trong chăm lo xây dựng giai cấp công nhân Xây dựng giai cấp công nhân lớn mạnh phải gắn liền với xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, xây dựng tổ chức công đoàn, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh và các tổ chức chính trị - xã hội khác trong giai cấp công nhân vững mạnh
Giải pháp:
1- Tiếp tục nghiên cứu, tổng kết thực tiễn, phát triển lý luận về giai cấp công nhân trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế
2- Đẩy mạnh và nâng cao chất lượng đào tạo nghề, từng bước trí thức hoá giai cấp công
3- Quan tâm bồi dưỡng, nâng cao trình độ chính trị, ý thức giai cấp, tinh thần dân tộc cho giai cho công nhân, bảo quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của công nhân; chăm lo đời sống vật chất, tinh thần
4- Bổ sung, sửa đổi, xây dựng và thực hiện nghiêm hệ thống chính sách, pháp luật để đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của công nhân; chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho công nhân
5 Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, phát huy vai trò của tổ chức công đoàn và các tổ chức chính trị - xã hội khác trong xây dựng giai cấp công nhân
Đối với đội ngũ trí thức:
Quan điểm:
1- Trí thức Việt Nam là lực lượng lao động sáng tạo đặc biệt quan trọng trong tiến trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế, xây dựng kinh tế tri thức, phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc Xây dựng đội ngũ trí thức vững mạnh là trực tiếp nâng tầm trí tuệ của dân tộc, sức mạnh của đất nước, nâng cao năng lực lãnh đạo của Ðảng và chất lượng hoạt động của hệ thống chính trị Ðầu tư xây dựng đội ngũ trí thức là đầu tư cho phát triển bền vững
2- Xây dựng đội ngũ trí thức là trách nhiệm chung của toàn xã hội, của cả hệ thống chính trị, trong đó trách nhiệm của Ðảng và Nhà nước giữ vai trò quyết định Trí thức có vinh dự và bổn phận trước Tổ quốc và dân tộc, không ngừng phấn đấu nâng cao phẩm chất chính trị, đạo đức, năng lực chuyên môn, đóng góp nhiều nhất cho sự phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc
Trang 173- Thực hành dân chủ, tôn trọng và phát huy tự do tư tưởng trong hoạt động nghiên cứu, sáng tạo của trí thức vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Tạo môi trường và điều kiện thuận lợi cho hoạt động nghề nghiệp của trí thức Trọng dụng trí thức trên cơ sở đánh giá đúng phẩm chất, năng lực và kết quả cống hiến; có chính sách đặc biệt đối với nhân tài của đất nước.
Giải pháp:
1- Hoàn thiện môi trường và điều kiện thuận lợi cho hoạt động của trí thức
2- Thực hiện chính sách trọng dụng, đãi ngộ và tôn vinh trí thức
3- Tạo chuyển biến căn bản trong đào tạo, bồi dưỡng trí thức
4- Ðề cao trách nhiệm của trí thức, củng cố và nâng cao chất lượng hoạt động các hội của trí thức
5- Nâng cao chất lượng công tác lãnh đạo của Ðảng đối với đội ngũ trí thức
Liên hệ Quảng Nam:
Quảng Nam là tỉnh ven biển miền Trung Việt Nam, nằm trong vùng kinh tế trọng điểm miền Trung, Diện tích tự nhiên hơn 10,408 ngàn km2 , với dân số gần 1,5 triệu người
Tri thức: Chương trình hành động số 23-Ctr/TU ngày 31/10/2008 về việc
thực hiện nghị quyết Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng, khóa X “Về xây dựng đội ngũ trí thức trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”
Đến nay, toàn tỉnh có trên 17.600 người có trình độ từ cao đẳng, đại học trở lên, tăng 258% so với năm 1997, chiếm 4,09% lực lượng lao động toàn tỉnh; trong đó,
có 418 người có trình độ sau đại học, chiếm tỷ lệ 2,37% tổng số cán bộ có trình
độ cao đẳng trở lên.Đội ngũ trí thức ở Quảng Nam đã có nhiều đóng góp trong việc phát triển KT-XH, đảm bảo an ninh-quốc phòng Trí thức trong lĩnh vực khoa học và công nghệ (KH&CN) đã tham gia các chương trình, đề tài, dự án nghiên cứu khoa học các cấp Những kết quả nghiên cứu đã góp phần tích cực giải quyết vấn đề cân đối lương thực; đổi mới, tiếp thu và ứng dụng các công nghệ mới như công nghệ sinh học, công nghệ thông tin, năng lượng mới; bảo vệ tài nguyên, môi trường; bảo tồn và phát triển văn hóa; phát triển giáo dục-đào tạo (GD-ĐT), chăm sóc sức khỏe nhân dân
Hạn chế: Cơ cấu đội ngũ trí thức còn mang tính tự phát, chưa có quy hoạch, đào tạo, sử dụng đội ngũ trí thức phù hợp; đội ngũ cán bộ sau đại học thuộc các ngành kinh tế, kỹ thuật rất ít; số lượng trí thức có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cao, chuyên gia đầu ngành ít Một bộ phận trí thức còn thụ động; điều kiện và môi trường làm việc còn nhiều hạn chế, nên tụt hậu so với trình độ tiên tiến trong nước
Hoạt động sáng tạo của đội ngũ trí thức chưa trở thành phong trào mạnh
mẽ, sâu, rộng, chưa gắn bó mật thiết với quá trình ra quyết định của các cấp, các ngành, với sản xuất, kinh doanh và đời sống Nhiều sản phẩm nghiên cứu KH&CN chậm và chưa được áp dụng vào sản xuất và đời sống Chưa tạo được
Trang 18những tác phẩm VH-NT có giá trị xứng tầm với truyền thống và yêu cầu phát triển của tỉnh.
Đối với gccn: Tỉnh ủy Quảng Nam có Chương trình hành động số
17-CTr/TU ngày 28/4/2008 về việc thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá X) về tiếp tục xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Tính đến năm 2008, số lượng công nhân trên địa bàn tỉnh có trên 22.000 người (chiếm 27,73%) tổng số lao động toàn tỉnh Ngoài những đặc điểm chung của giai cấp công nhân Việt Nam có đặc điểm riêng, đó là: Hầu hết xuất thân từ nông dân, có ý thức xây dựng và gắn bó với quê hương Đa số có ý thức vươn lên trong nghề nghiệp, tiếp thu nhanh các tiến bộ kỹ thuật Trình độ văn hoá hầu hết
đã qua THCS, THPT và đã được đào tạo nghề
Tuy nhiên, sự phát triển của giai cấp công nhân vẫn chưa đáp ứng yêu cầu
sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập kinh tế quốc tế: Thiếu các chuyên gia, công nhân lành nghề; cơ cấu ngành nghề còn bất hợp lý, chưa có nhiều công nhân làm việc trong các ngành nghề kỹ thuật cao; tuy được đào tạo nghề nhưng chưa thật cơ bản, tác phong công nghiệp và kỷ luật lao động còn hạn chế; một số, chưa thật sự gắn bó với doanh nghiệp; giác ngộ giai cấp, bản lĩnh chính trị, sự hiểu biết về chính sách, pháp luật không đồng đều
Đời sống, điều kiện lao động của đại bộ phận công nhân trên địa bàn tỉnh vẫn còn khó khăn Thu nhập của công nhân còn thấp so với mặt bằng chung của
cả nước
Giai cấp nông dân: Trong quá trình phát triển nhanh về công nghiệp-dịch
vụ và quá trình đô thị hoá, cơ cấu dân số thành thị và nông thôn của tỉnh đã thay đổi, đên năm 2008 lao động trong khu vực nông nghiệp chiếm còn khoảng 68% tổng số lao động trong toàn tỉnh (năm 2001 chiếm 81%); bình quân đất sản xuất nông nghiệp/nhân khẩu 540m2
- Tóm tắt:
Giai cấp nông dân: Là giai cấp của những người LĐ SXVC nông nghiệp,
lâm nghiệp, ngư nghiêp…, trực tiếp sử dụng (canh tác) một TLSX cơ bản và đặc thù, gắn liền với thiên nhiên là đất, rừng, biển để SX ra nông sản
Nông dân vốn có PTSX phân tán, kỹ thuật lạc hậu, năng xuất LĐ thấp; Giai cấp nông dân không có hệ tư tưởng riêng, mà tư tưởng của họ phụ thuộc vào hệ tư tưởng của giai cấp thống trị xã hội
Gcnd là LLSX và lực lượng chính trị xh đông đảo nhất trong những nước nông nghiệp Khi được giác ngộ, nông dân có khả năng trở thành lực lượng cách mạng
to lớn nhất trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và cách mạng XHCN.Với những đặc điểm trên, giai cấp nông dân không có khả năng tự giải phóng mình
khỏi các chế độ tư hữu, áp bức, bóc lột, họ càng không thể trở thành giai cấp lãnh đạo cách mạng
Trang 19(Theo V.I.Lênin, trí thức là một tầng lớp xã hội đặc biệt, tầng lớp ấy không chỉ bao hàm các nhà trước tác, những người có học vấn và nói chung là lao động trí óc; Trí thức gồm những người lao động trí óc phức tạp và sáng tạo;Trí thức không có hệ tư tưởng riêng, chủ yếu vì không có phương thức SX riêng ; Nhưng trên thực tế lịch sử, dù không có hệ tư tưởng riêng, trí thức ở chế độ XH nào cũng giúp giai cấp thống trị khái quát về lý luận để hình thành hệ tư tưởng của giai cấp thống trị XH
Vai trò của trí thức là rất quan trọng ở mọi chế độ XH, mọi thời đại Trong sự nghiệp XD xã hội mới, vaitrò của trí thức ngày càng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, đặc biệt là vai trò trang bị tri thức văn hóa, khoa học , nâng cao dân trí Trí thức không có lợi ích đối kháng trực tiếp với giai cấp tư sản Trí thức không thể tự giải phóng mình khỏi các chế độ tư hữu, áp bức, bóc lột; càng không thể trở thành lực lượng độc lập để lãnh đạo CM dân tộc dân chủ nhân dân và CMXHCN
Trang 20Câu 3: Những nhiệm vụ của cách mạng nước ta hiện nay:
-Tính tất yếu của thời kỳ quá độ
-Những đặc trưng của thời kỳ quá độ
-Những nội dung (nhiệm vụ) của thời kỳ quá độ lên CNXH
Thời kỳ quá độ là thời kỳ phức tạp lâu dài, thời kỳ cải biến xã hội từ xã hội này thành xã hội khác; là thời kỳ tiếp tục cuộc đấu tranh giai cấp trong điều kiện mới với những nội dung và hình thức mới (cái cũ vẫn còn nhưng xuất hiện những cái mới) Thời kỳ quá độ là thời kỳ tiếp tục cuộc đấu tranh giữa cái cũ và cái mới: cái
cũ đã bị đánh bại nhưng chưa bị tiêu diệt hoàn toàn với cái mới đã nảy sinh nhưng vẫn còn non yếu Độ dài của thời kỳ quá độ kéo dài không định lượng được, nên định tính thời kỳ quá độ bắt đầu từ khi thiết lập chuyên chính vô sản và kết thúc khi xây dựng xong cơ sở kinh tế xã hội (QHSX) và cơ sở vật chất kỹ thuật (LLSX) Khi phân tích những mâu thuẩn cơ bản của CNTB và những đặc trưng của XH cộng sản chủ nghĩa Mác đã chỉ ra rằng: từ XH TBCN lên XH cộng sản chủ nghĩa là cả một thời kỳ lịch sử lâu dài từ khi giai cấp công nhân giành được chính quyền đến khi giai cấp công nhân xây dựng thành công chủ nghĩa cộng sản Theo đó, thời kỳ quá độ được coi là thời kỳ quá độ từ XH TBCN lên
XH cộng sản chủ nghĩa, từ XH còn khác biệt, kể cả sự đối kháng giai cấp, lên XH không còn sự khác biệt giai cấp Đây là thời kỳ phức tạp, lâu dài, thời kỳ cải biến CMXH từ thời kỳ này sang thời kỳ khác
Tính tất yếu của thời kỳ quá độ lên CNXH:
Các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác-Lênin quan niệm việc xây dựng hình thức kinh
tế xã hội cộng sản chủ nghĩa là một việc làm lâu dài và phải trải qua hai giai đoạn: giai đoạn thấp là chủ nghĩa xã hội và giai đoạn cao là chủ nghĩa cộng sản Trong quá trình lịch sử đó, theo các ông phải có một giai đoạn đặc biệt hay còn gọi là thời kỳ quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội Thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là thời kỳ cải biến cách mạng sâu sắc, toàn diện và lâu dài trên các lĩnh vực đời sống xã hội, tạo ra những tiền đề vật chất, tinh thần cần thiết cho
xã hội mới, trong đó những nguyên tắc căn bản của xã hội xã hội chủ nghĩa được thực hiện Quá độ lên chủ nghĩa xã hội là một tất yếu lịch sử đối với tất cả các nước đi lên chủ nghĩa xã hội, vì chủ nghĩa xã hội không thể tự phát ra trong lòng CNTB, mà CNTB chỉ tạo tiền đề vật chất cho sự ra đời của chủ nghĩa xã hội Chủ nghĩa xã hội cũng không nảy sinh ngay sau khi giai cấp công nhân giành chính quyền mà là kết quả của quá trình đấu tranh, cải tạo và xây dựng lâu dài của nhân dân lao động dưới sự lãnh đạo của giai cấp công nhân
Quá độ lên chủ nghĩa xã hội là một tất yếu lịch sử đối với tất cả các nước đi lên chủ nghĩa xã hội, vì chủ nghĩa xã hội không thể tự phát ra trong lòng CNTB, mà CNTB chỉ tạo tiền đề vật chất cho sự ra đời của chủ nghĩa xã hội Tính tất yếu khách quan của thời kỳ quá độ được quy định bởi chỗ: với điểm xuất phát về kinh
Trang 21lao động trở thành chủ thể cầm quyền, trong XH đó còn chưa có đủ những tiền đề vật chất, văn hóa, tinh thần cần thiết để thực hiện những chuẩn mực của XH XHCN mà chúng ta xây dựng Đặc trưng cơ bản của XH XHCN mà Mác, Ăngghen và Lênin xây dựng đó là: cơ sở vật chất của CNXH là nền đại công nghiệp cơ khí; CNXH xóa bỏ chế độ tư hữu TBCN, thiết lập chế độ công hữu về TLSX; CNXH tạo ra cách tổ chức lao động và kỹ thuật lao động mới; CNXH thực hiện nguyên tắc phân phối theo lao động; nhà nước trong CNXH là nhà nước kiểu mới, thể hiện sâu sắc bản chất giai cấp công nhân, đại biểu cho lợi ích, quyền lực và ý chí của nhân dân lao động; CNXH giải phóng con người khỏi áp bức, bóc lột, thực hiện sự bình đẳng XH, tạo điều kiện cho con người phát triển toàn diện Muốn đạt được những đặc trưng đó, phải trải qua quá trình tổ chức, xây dựng để từng bước cải tạo các quan hệ KT-XH tư bản và tiền tư bản, phát triển LLSX và thay đổi tương ứng trên lĩnh vực QHSX, phát triển một cơ cấu XH tiến bộ, đời sống văn hóa tinh thần lành mạnh phù hợp với nhu cầu giải phóng con người Trong lĩnh vực kinh tế, toàn bộ sự phát triển của sản xuất và các quan
hệ vật chất tinh thần khác phải áp dụng theo nguyên tắc phân phối theo lao động
Đặc điểm của thời kỳ quá độ:
Đặc điểm nổi bậc của thời kỳ quá độ lên CNXH là sự tồn tại đan xen những nhân tố của xã hội mới và những tàn tích của xã hội cũ trên tất cả các lĩnh vực
của đời sống xã hội Về chính trị, nhà nước của giai cấp công nhân được thiết lập,
củng cố và không ngừng hoàn thiện nhằm thực hiện dân chủ cho nhân dân, bảo
vệ thành quả cách mạng, đập tan những âm mưu của các thế lực phản động Về kinh tế, sự phát triển chưa đồng đều của LLSX trong thơi kỳ này quy định tính tất
yếu khách quan trong sự tồn tại nhiều thành phần kinh tế, trong đó có thành phần kinh tế đối lập, bên cạnh các thành phần kinh tế nhà nước và tập thể còn có các thành phần kinh tế khác với nhiều hình thức sở hữu khác nhau về tư liệu sản xuất,
trong đó kinh tế nhà nước, sở hữu nhà nước đóng vai trò chủ đạo Về xã hội, gắn
liền với các thành phần kinh tế là cơ cấu xã hội có nhiều giai cấp và giai tầng khác nhau,có sự đối lập- đối kháng nhất định, có những lợi ích chung và những
lợi ích khác nhau Về văn hoá tinh thần, còn tồn tại nhiều loại tư tưởng, văn hóa
tinh thần khác nhau, đối lập nhau Bên cạnh hệ tư tưởng của giai cấp công nhân, nền văn hoá mới XHCN đang được hình thành và phát triển còn những tàn dư của nền văn hoá cũ lạc hậu Theo Lênin thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là thời kỳ tiếp tục đấu tranh giai cấp với những nội dung, hình thức mới trên các lĩnh vực của xã hội để tổ chức và xây dựng thành công xã hội mới-xã hội xã hội chủ nghĩa
Những đặc điểm cơ bản của thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam:
Đối với Việt Nam, hơn 78 năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân ta đã hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ để đưa đất nước từng bước quá độ lên CNXH Hướng đi đó đã được khẳng định ngay từ luận cương cách mạng tư sản dân quyền năm 1930, và giờ đây được khẳng định trong cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH đã được đại hội lần thứ VII, VIII, IX, X của Đảng Việc quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta đã không ít có những quan điểm khác nhau, xác định mình đang ở đâu, đã tới đâu, từ đó có chiến lược, sách lược phù hợp là hết sức cần thiết
Trang 22Sau thắng lợi trong cuộc kháng chiến chống Pháp năm 1954, đất nước ta tạm thời chia cắt làm hai miền Theo yêu cầu lúc bấy giờ miền Nam tiến hành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân còn miền Bắc bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội Sau khi thống nhất đất nước cả dân tộc bắt tay vào công cuộc xây dựng đất nước và gặt hái được nhiều thành công trên tất cả các lĩnh vực Tuy nhiên, cũng có lúc Đảng ta gặp sai lầm khuyết điểm như chủ quan, duy ý chí trong quá trình kéo dài thời kỳ tập trung quan liêu bao cấp Nhưng Đảng ra đã nhận thức được vấn đề và tiến hành công cuộc đổi mới kể từ Đại hội VI của Đảng.
Đặc điểm lớn nhất và chủ yếu trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là nước ta quá độ lên CNXH từ một nước thuộc địa nữa phong kiến, nền kinh tế phổ biến là sản xuất nhỏ, nông nghiệp lạc hậu, kinh tế bị chiến tranh tàn phá nặng nề, chúng ta đã phải trải qua hàng ngàn năm sống dưới chế độ phong kiến, gần trăm năm sống dưới chế độ thực dân và hơn 30 năm nhân dân ta tiến hành cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc vì vậy có rất nhiều khó khăn trong công cuộc xây dựng xã hội mới Nhưng chúng ta có đảng Cộng Sản Việt Nam có đường lối sáng tạo có bản lĩnh chính trị vững vàng nhạy bén Chúng ta có nhà nước của nhân dân lao động với những cơ sở vật chất kỹ thuật ban đầu Nhân dân
ta vốn có tinh thần yêu nước yêu chủ nghĩa xã hội, lao động cần cù sáng tạo
Thực chất của thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam là tạo ra sự biến đổi về chất trên tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội Đây là sự nghiệp khó khăn lâu dài phức tạp với nhiều chặng đường, nhiều hình thức tổ chức KT-XH có tính chất quá độ Trong các lĩnh vực của đời sống xã hội diễn ra có sự đan xen và đấu tranh giữa cái mới và cái cũ Thực chất thời kỳ quá độ ở Việt Nam là thời kỳ quá độ đặc biệt của đặc biệt Việc bỏ qua chế độ TBCN là sự lựa chọn có tính lịch sử phù hợp với nguyện vọng của quần chúng nhân nhân lao động Đảng ta đã xác định, con đường đi lên của nước ta là quá độ lên CNXH bỏ qua chế độ TBCN,
mà thực chất là bỏ qua việc xác lập vị trí thống trị của QHSX và kiến trúc thượng tầng TBCN nhưng tiếp thu, kế thừa những thành tựu mà nhân loại đã đạt được dưới chế độ TBCN, đặc biệt về khoa học và công nghệ để phát triển nhanh LLSX, xây dựng nền kinh tế hiện đại Nội dung của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa
xã hội ở Việt Nam là đẩy mạnh công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước tiến tới xây dựng xã hội công bằng dân chủ văn minh Động lực của quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là đại đoàn kết toàn dân tộc dựa trên nền tảng giai cấp công nhân, nông dân, tầng lớp trí thức với sự lãnh đạo của đảng, kết hợp hài hoà 3 lợi ích cá nhân, tập thể, xã hội nhằm phát huy tiềm năng của đất nước và nguồn lực của toàn xã hội
Những nội dung cơ bản thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam gồm 4 lĩnh
vực đó là: chính trị, kinh tế, văn hóa – tư tưởng và về xã hội
Về chính trị: ĐCSVN ở vị trí lãnh đạo trung tâm Đảng lãnh đạo XH bằng
cương lĩnh, đường lối chính sách thông qua đội ngũ đảng viên và các tổ chức của Đảng, thông qua nhà nước và các tổ chức quần chúng Các chủ trương, đường lối của Đảng phải bao quát hết tất cả các lĩnh vực của đời sống XH Tất cả các chủ
Trang 23không ôm đồm, sa vào công việc sự vụ mà phải luôn luôn nắm bắt kịp thời và đúng những “mắt xích” quan trọng, Đảng không bao biện, làm thay Nhà nước Đảng chỉ làm cái chung, còn cái cụ thể, cái riêng để nhà nước và các ngành làm.Đảng lãnh đạo nhà nước với tư cách là một công cụ, công cụ này có 2 chức năng đó là: bạo lực trấn áp và tổ chức xây dựng nhằm cải tạo XH cũ và xây dựng
XH mới Chức năng bạo lực trấn áp được thể hiện từ khi có nhà nước đến nay nhằm chống ngoại xâm, sẵn sàng tiến hành các cuộc kháng chiến bảo vệ Tổ quốc
VN XHCN; trấn áp mọi sự phản kháng của các giai cấp bóc lột và âm mưu phá hoại của bọn phản cách mạng để giữ vững chính quốc, bảo vệ thành quả cách mạng, giữ vững an ninh chính trị và trật tự an toàn XH, tạo điều kiện hòa bình, ổn định cho công cuộc xây dựng CNXH Đồng thời bạo lực để chống nội xâm, tức là chống “giặc trong lòng”, đó là những tệ nạn tham nhũng, buôn lậu và những tiêu cực từ trong XH Chức năng tổ chức xây dựng được thể hiện ở việc phải xây dựng và hoàn thiện cho được 1 nhà nước pháp quyền XHCN thực sự dân chủ, đó
là nhà nước của dân, do dân và vì dân, lấy liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức làm nền tảng do ĐCS lãnh đạo Trong nhà nước pháp quyền, nhân dân là chủ thể của mọi quyền lực và các quyền lực mà nhà nước có được đều do nhân dân ủy thác
ĐCSVN phải độc quyền lãnh đạo, tức là không đa nguyên chính trị, không đa đảng đối lập, 1 đảng cầm quyền làm thế nào để có dân chủ Chúng ta cần chú ý 3 vấn đề: không phải nước tư bản nào cũng đa nguyên; không phải hễ có đa nguyên
là có dân chủ và đa nguyên không nhất thiết phải có ĐCS Theo các chuyên gia
về thể chế chính trị của LHQ công bố khi điều tra 129 nước trên thế giới, trong
23 nước theo chế độ 1 đảng thì có 19 nước ổn định, 4 nước tương đối ổn định; 26 nước thuộc khu vực phát triển theo chế độ đa đảng thì có 11 nước ổn định, 2 nước tương đối ổn định và 13 nước là không ổn định Từ đó, chúng ta thấy rằng tính dân chủ như thế nào sẽ quyết định sự ổn định chính trị của đất nước đó chứ không phải vấn đề là bao nhiều Đảng lãnh đạo Đối với nước ta, mục tiêu là ổn định chính trị để làm bạn với các nước trên thế giới Độc quyền lãnh đạo của Đảng là độc quyền của 1 giai cấp
Về kinh tế:Chúng ta phát triển mạnh mẽ LLSX, thực hiện CNH đất nước theo
hướng hiện đại gắn liền với phát triển 1 nền nông nghiệp toàn diện và con đường
để thực hiện đó là xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN Kinh tế thị trường là thành quả của sự phát triển của nhân loại và nó đạt được đỉnh cao trong điều kiện của CNTB; đã là KTTT thì phải thừa nhận nhiều thành phần kinh tế, chấp nhận cạnh tranh, quy luật giá thị trường để điều tiết nền sản xuất hàng hóa; từng bước thiết lập QHSX XHCN từ thấp đến cao phù hợp với trình độ phát triển của LLSX; định hướng XHCN là nói lên vai trò của nhân tố chủ quan để xác định mục tiêu, đích hướng tới đó là dân giàu, nước mạnh, XH công bằng, dân chủ, văn minh, tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với tiến bộ và công bằng XH
Từng bước xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của CNXH Đảng ta xác định CNH, HĐH là nhiệm vụ trọng tâm của thời kỳ quá độ, phấn đấu đến năm 2020 Việt Nam trở thành nước công nghiệp hiện đại Vì vậy, phải xây dựng đội ngũ cán bộ, công nhân kỹ thuật và xác định nhân tố con người luôn ở vị trí trung tâm trong toàn bộ chiến lược phát triển KT-XH Đảng ta xác định: Giáo dục đào tạo
Trang 24là quốc sách hàng đầu để tạo ra trí tuệ cho sự nghiệp CNH, HĐH, xem nguồn nhân lực là yếu tố quan trọng hàng đầu trong các nhân tố cấu thành nên nội lực của đất nước.
Về văn hóa – tư tưởng: Đây là nhiệm vụ rất quan trọng Khi chưa có nhà nước,
Đảng ta đã quan tâm đến sự nghiệp này, biểu hiện là Đề cương văn hóa năm 1945 của Đảng và trên cơ sở đó, trong nhiều văn kiện, nghị quyết, nhiều đại hội, Đảng
ta xác định được nhiều quan điểm về văn hóa tư tưởng: Văn hóa là nền tảng tinh thần của XH, là mục tiêu, động lực của phát triển KT-XH Bác đã từng nói: Văn hoá soi đường cho quốc dân đi
Chúng ta phải tiến hành CM XHCN trên lĩnh vực tư tưởng và văn hóa, làm cho thế giới quan Mác – Lênin và tư tưởng HCM giữ vị trí chủ đạo trong đời sống tinh thần của XH Vì vậy, phải luôn kiên định lập trường CN Mác – Lênin và tư tưởng HCM trong quá trình xây dựng CNXH; chúng ta phải chứng minh cho được sức sống của CN M-LN và tư tưởng HCM; đồng thời phải đổi mới nội dung, phương thức tuyên truyền giáo dục CN Mác – Lênin và tư tưởng HCM để
từ đó chuyển lý trí thành tình cảm, chuyển tư tưởng thành hành động
Phải xây dựng 1 nền văn hóa VN tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc đó là nền văn hóa phảicó 1 hệ tư tưởng làm chuẩn, định chuẩn cho những giá trị đó là chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh; phải biết tiếp thu tinh hoa văn hóa của nhân loại và phải biết vận dụng những giá trị văn hóa đó vào điều kiện cụ thể của Việt Nam
Về XH: giải quyết việc làm, chăm lo xóa đói giảm nghèo, khắc phục dần sự
khác biệt các tầng lớp XH, giữa các dân tộc và giữa các vùng của đất nước Xây dựng 1 xã hội thật sự công bằng, bình đẳng Từng bước khắc phục sự chênh lệch
về các mặt và trình độ giữa các vùng, các dân tộc; khắc phục sự chênh lệch giữa tính chất lao động và mức độ thu nhập
Nắm vững CN M-LN và TT HCM, nhận thức đúng đắn về thời kỳ quá độ lên CNXH, cùng với sự nỗ lực phấn đấu của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân chúng
ta vững bước xây dựng CNXH Trong quá trình xây dựng đất nước chúng ta phải
có những bước đi thích hợp, vận dụng đúng đắn, sáng tạo CN M-LN và TT HCM vào từng thời kỳ cách mạng cụ thể Luôn tổng kết thực tiến, xây dựng, bổ sung thêm lý luận để làm cơ sở tiếp tục công cuộc đổi mới của đất nước; phát huy các tiềm lực trong nước cũng như những tiềm nước bên ngoài, tranh thủ thời cơ, vượt qua thách thức đưa đất nước phát triển vững mạnh, xây dựng thành công XHCN với mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ, văn minh
Liên hệ:
Thực hiện sự nghiệp CNH-HĐH đất nước, trong những năm qua nhằm xây dựng tỉnh nhà thành tỉnh công nghiệp trước năm 2020, Đảng bộ, quân, dân Quảng Nam đã tích cực phấn đấu trên tất cả các mặt và đã đạt được những kết quá đáng kích lệ: Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân năm 2006 và 2007 đạt 13,9%/năm,
và 6 tháng đầu năm 2008 tăng 12,57% Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực: Tỷ trọng ngành công nghiệp và dịch vụ trong GDP từ 69% (năm 2005)
Trang 25tăng lên 74,9% (năm 2008); tỷ trọng ngành nông nghiệp từ 31% (năm 2005) giảm xuống còn 25,1% (năm 2008);
Toàn tỉnh đã quy hoạch 157 cụm công nghiệp, trong đó 30 cụm đang triển khai;
đã khôi phục và xây dựng 61 làng nghề truyền thống với 7000 hộ sản xuất Số hộ
và các cơ sở sản xuất trong các làng nghề tăng bình quân 10-12%/năm;
Công tác xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị trong nửa nhiệm kỳ qua
đã tập trung củng cố, xây dựng tổ chức đảng, hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng, phát huy vai trò hạt nhân chính trị lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị ở địa phương, cơ quan, đơn vị
Hệ thống HĐND và UBND các cấp tiếp tục củng cố, đổi mới và nâng cao năng lực điều hành; thực hiện phân cấp quản lý, tăng cường trách nhiệm của người đứng đầu, thủ trưởng các đơn vị, địa phương trong công tác điều hành và quản lý; cải cách hành chính được tiếp tục thực hiện theo tinh thần Nghị quyết
Hội nghị lần thứ 5, BCH Trung ương Đảng khoá X "về đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của bộ máy nhà nước" thực hiện sắp
xếp, hợp nhất các sở, ban, ngành của tỉnh và bộ máy cấp huyện theo Nghị định 13/CP và Nghị định 14/CP của Chính phủ
Công tác văn hoá, giáo dục: Đa dạng hoá các hoạt động thông tin - truyền thông, báo chí đã phục vụ tốt công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, phổ biến pháp luật, đáp ứng nhu cầu thông tin của nhân dân Hoạt động văn hóa đã hướng vào
việc bảo tồn và phát triển văn hoá, xây dựng đời sống văn hoá ở cơ sở; Công tác đào tạo nguồn nhân lực được tập trung triển khai Hiện nay, trên địa bàn tỉnh có 2 trường đại học, 5 trường cao đẳng, 3 trường trung học chuyên nghiệp và 40 cơ sở dạy nghề đang hoạt động góp phần tích cực trong công tác đào tạo, nâng cao chất
lượng nguồn nhân lực tại địa phương; Công tác xoá đói giảm nghèo đã đạt được
những kết quả tích cực; tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 26,6% năm 2006 xuống 22% năm 2008
Tóm tắt: Tính tất yếu của TKQĐ:
Quá độ lên chủ nghĩa xã hội là một tất yếu lịch sử đối với tất cả các nước đi lên chủ nghĩa xã hội, vì chủ nghĩa xã hội không thể tự phát ra trong lòng CNTB, mà CNTB chỉ tạo tiền đề vật chất cho sự ra đời của chủ nghĩa xã hội.Quá độ lên chủ nghĩa xã hội là một tất yếu lịch sử đối với tất cả các nước đi lên chủ nghĩa xã hội,
vì chủ nghĩa xã hội không thể tự phát ra trong lòng CNTB, mà CNTB chỉ tạo tiền
đề vật chất cho sự ra đời của chủ nghĩa xã hội
Khi xây dựng CNXH thì các nước có điểm xuất phát về kinh tế, xã hội của xh tiền TB và TB, do đó xh chưa có đủ những tiền đề vật chất, văn hoá và tinh thần cần thiết để thực hiện chuẩn mực của xh XHCN Do đó phải trải qua 1 quá trình cải tạo các quan hệ kinh tế- xh phát triển LLSX và thay đổi tương ứng trên lĩnh vực SX, phát triển một cơ cấu xh tiến bộ, đời sống vh tinh thần lành mạnh phù hợp với nhu cầu giải phóng con người
Đặc trưng của TKQĐ nước ta hiện nay:
Trang 26Về chính trị, nhà nước của giai cấp công nhân được thiết lập, củng cố và không
ngừng hoàn thiện nhằm thực hiện dân chủ cho nhân dân, bảo vệ thành quả cách
mạng, đập tan những âm mưu của các thế lực phản động Về kinh tế, sự phát triển
chưa đồng đều của LLSX trong thơi kỳ này quy định tính tất yếu khách quan trong sự tồn tại nhiều thành phần kinh tế, trong đó có thành phần kinh tế đối
lậpVề xã hội, gắn liền với các thành phần kinh tế là cơ cấu xã hội có nhiều giai
cấp và giai tầng khác nhau,có sự đối lập- đối kháng nhất định, có những lợi ích
chung và những lợi ích khác nhau Về văn hoá tinh thần, còn tồn tại nhiều loại tư
tưởng, văn hóa tinh thần khác nhau, đối lập nhau Bên cạnh hệ tư tưởng của giai cấp công nhân, nền văn hoá mới XHCN đang được hình thành và phát triển còn những tàn dự của nền văn hoá cũ lạc hậu
- Được khẳng định tại cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH tại đại hội lần thứ VII, VIII, IX, X của Đảng
- Điểm lớn nhất và chủ yếu trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là nước ta quá độ lên CNXH từ một nước thuộc địa nữa phong kiến, nền kinh tế phổ biến là sản xuất nhỏ, nông ngiệp lạc hậu, kinh tế bị chiến tranh tàn phá nặng nề, bỏ qua chế độ TBCN là sự lựa chọn có tính lịch sử phù hợp với nguyện vọng của quần chúng nhân nhân lao động Đảng ta đã xác định, con đường đi lên của nước ta là quá độ lên CNXH bỏ qua chế độ TBCN, mà thực chất là bỏ qua việc xác lập vị trí thống trị của QHSX và kiến trúc thượng tầng TBCN nhưng tiếp thu, kế thừa những thành tựu mà nhân loại đã đạt được dưới chế độ TBCN
Nội dung của thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam hiện nay là gì?
Về chính trị: - Đảng lãnh đạo xh bằng cương lĩnh, đường lối chính trị và thông
qua đội ngũ đảng viên; Đảng phải độc tôn, độc quyền lãnh đạo; tiếp tục tiến hành đổi mới vai trò lãnh đạo của Đảng; Xây dựng nhà nước với tư cách là công cụ của đảng để lãnh đạo xây dưng và bảo vệ đất nước, vững mạnh về kinh tế, ổn định về chính trị, hùng mạnh về quốc phòng để sẵn sàng chống giặc ngoại xâm và nội xâm Nhà nước của dân, do dân và vì dân
Về kinh tế: Thực hiện công cuộc CNH-HĐH đất nước đây là nhiệm vụ trọng
tâm của TKQĐ, xây dựng LLSX mới, xây dựng csvc kỹ thuật cho CNH-HĐH phấn đấu đến năm 2020 thành nước CN theo hướng hiện đại; Thực hiện nền KTTT định hướng XHCN, thừa nhận nhiều thành phân kinh tế, chấp nhận quy luật cạnh tranh; Đảm bảo tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với tiến bộ công bằng xh
Về văn hoá, tư tưởng: Làm cho CN M-LN, tư tưởng HCM giữ vai trò chủ đạo
trong đời sống tinh thần của xh; đổi mới nd, phương pháp giáo dục tư tưởng; Xây dụng nền văn hoá tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại và vận dụng vào VN
Về xh: Từng bước khắc phục sự chênh lệch giữa các mặt, giữa các vùng, giữa các dân tộc; Thực hiện công bằng xh
Trang 27Câu 4: Những vấn đê xã hội:
- Nguồn lực con người trong mối tương quan với các nguồn lực khác
- Thực trạng nguồn lực con người hiện nay ở nước ta
- Gia đình có vai trò gì trong việc xây dựng nguồn lực con người
Các nhà sáng lập CNXH KH đã đặt con người ở vị trí trung tâm của xã hội tương lai này: con người là chủ thể để xây dựng xã hội, đồng thời con người là sản phẩm chủ yếu của quá trình phát triển xã hội Con người cải tạo xã hội tạo ra
xã hội nhiều của cải vật chất đáp ứng được nhu cầu cuộc sống của con người, những điều kiện này tạo thuận lợi cho con người phát triển năng lực và ngày càng
có nhiều đóng góp cho sự tiến bộ của xã hội Do vậy để phát huy được nhân tố con người cần phải nghiên cứu những quy luật phát triển và sự tác động của môi trường, xã hội đến con người để từ đó phát huy hết được những tiềm năng, năng lực của họ
Nguồn lực con người đó là tổng thể nhữngtiềm năng, năng lực và khả
năng của mỗi cá nhân, của mỗi cộng đồng người và toàn xã hội, đang và sẽ tạo
ra sức mạnh cho quá trình phát triển, được thể hiện qua hàng loạt các yếu tố như trình độ học vấn, chuyên môn, kỹ năng lao động; văn hoá lao động, kỷ luật lạo động; mức sống, sức khoẻ; tư tưởng tình cảm, tính cách trong đó, ba yếu tố quan trọng nhất là: trí tuệ, thể lực và nhân cách.
Nguồn lực con người trong mối tương quan với các nguồn lực khác:
Chủ nghĩa Mác-Lênin đã khẳng định rằng, con người không chỉ là sản phẩm mà còn là chủ thể của mọi quá trình lịch sử; con người là yếu tố quan trọng nhất cấu thành nên lực lượng sản xuất mà lịch sử loài người phát triển được, suy cho cùng, là do lực lượng sản xuất không ngừng phát triển, học thuyết Mác-Lênin
nhấn mạnh: con người không chỉ tác động vào tự nhiên mà còn biết cải tạo tự nhiên và bắt tự nhiên phục vụ mình Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội phải có những con người XHCN…
Để phát triển, mỗi cộng đồng, mỗi địa phương, mỗi quốc gia đề rất cần nhiều nguồn nhân lực khác nhau (Vốn, tài nguyên thiên nhiên, công nghệ, con người…) Mỗi nhân tố có vai trò riêng nhưng hội nhấp các nhân tố này sẽ tạo thành một sức mạnh chung, sức mạnh tổng hợp nhưng không phải là một phép cộng đơn thuần Nhưng để thấy được vài trò và tâm quan trọng của nguồn lực con người chúng ta phải đặt nó vào trong mối quan hệ với các nguồn lực này Khi
so sánh với các nguồn lực khác thì nguồn lực con người là nguồn lực quan trọng khác Bởi vì, con người là nguồn lực duy nhất biết tác động vào các nguồn lực khác để phát huy, khơi dậy nguồn lực này; đồng thời con người gắn kết chúng lại với nhau để tạo thành sức mạnh chung cho sự phát triển của xã hội Nếu chỉ có một mình nguồn lực con người thì chẳng có ý nghĩa, vai trò gì, nhưng nếu không
có nguồn lực con người thì các nguồn lực khác sẽ không được phát huy, nó chỉ ở dạng tiềm năng và không có ý nghĩa cho sự phát triển
Mặt khác, các nhân tố khác khai thác nhiều sẽ cạn kiệt, nhưng nhân tố con người, đặc biệt là nhân tố trí truệ của con người càng được khai thác thì càng sản
Trang 28sinh và không ngừng phát triển Trí tuệ con người là vô tận, bởi vì, con người có khả năng lao động sáng tạo; bộ não của con người chứa khoảng 14 tỷ nơron thần kinh, trong đó chỉ có 2% số nơron thần kinh được sử dụng trong suốt cuộc đời,
do đó người nào càng học tập, rèn luyện, càng tham gia nhiều lĩnh vực hoạt động thì trí óc càng phát triển
Trong thời đại kinh tế tri thức sự cạnh tranh của các địa phương, các quốc gia không chỉ đơn thuần về kinh tế mà đang nghiêng về trí tuệ về hàm lượng chất xám Người ta dự báo đến năm 2010 tỷ lệ lao động chân tay trong sản phẩm chỉ còn 1/10 Trí tuệ hoá lao động đang trở thành xu thế phổ biến của nhân loại, trí tuệ con người đang là một trong những lợi thế so sánh quan trọng cho tiến trình phát triển của mỗi địa phương, mỗi quốc gia
Do đó chúng ta phải tạo môi trường xã hội để con người sống tự do hạnh phúc, có điều kiện thuận lợi nhất để hoạt động sáng tạo, thì tính năng động của nhân tố con người sẽ được thể hiện ở mức tối đa Ngược lại, con người và nguồn lực con người sẽ tự mòn mỏi, mất mát, tự nảy sinh trong đó những yếu tố kìm hãm
Về thực trạng nguồn nhân lực, hiện nay VN:
Về số lượng có khoảng 84 triệu dân, trong đó, dân số thành thị chiếm khoảng 27%, dân số nông thôn chiếm 73%; nam giới chiếm khoảng 49,2%, nữ giới chiếm 50,8%, số người trên 65 tuổi chiếm khoảng 10%, trong 15-65 tuổi chiếm 61%, dưới 15 tuổi chiếm 29%;
Về chất lượng: Bình quân thu nhập đầu người khoảng 823$ năm 2008, sức mua tương đương 3.000$/người, tuổi thọ bình quân 71,5 tuổi, tỷ lệ biết đọc, biết viết của người lớn ở mức trên 92,9%;chỉ số HDI năm 2007 là 102/177 quốc gia; tỷ lệ dân số ngheo là 6-7% (theo tiêu chĩ cũ và 20-22% theo tiêu chí mơi); chỉ số phát triển giới GDI 89/174 quốc gia; lao động qua đào tạo đạt 27%
Với tổng dân số và cơ cấu nêu trên, nhân tố con người VN có những thế mạnh như sau: Dân số đông tạo ra lực lượng lao động dồi dào, giá thành lao động
sẽ rẽ và tạo ra lợi thế về nguồn lao động so với các nước trong khu vực hiện nay;
cơ cấu dân cư trẻ, tập trung chủ yếu trong độ tuổi lao động và dưới độ tuổi lao động; con người VN có truyền thống yêu nước, đoàn kết, gắn bó; có tinh thần tự tôn dân tộc, tinh thần nhân ái; thông minh, chịu khó, khả năng nắm bắt các kỹ năng lao động đặc biệt là kỹ năng sử dụng công nghệ hiện đại tương đối cao; … Đây là những giá trị của con người VN đã, đang và sẽ tạo nên sức mạnh phi thường trong quá trình phát triển đất nước
Tuy nhiên, chât lượng lao động còn thấp, thể lực yếu: TB cao 1.47m, nặng
3,4kg (Thái Lan: 1.49m, 40,3kg Nhật bản: 1.64m, 53,3kg); số lao động qua đào tạo còn hạn chế, trình độ chuyên môn kỹ thuật yếu (năm 2007: LĐ kg có chuyên môn kỹ thuật chiếm 72,5%, có CMKT 27,5% trong khi các nước phát triển tỷ lệ này là 60-70%); mất cân đối về cơ cấu đào tạo (hợp lý: ĐHCĐ 1, THCN 4, CNKT 10, trong khi đó nước ta là: 1 - 0.82 - 2,97 ); tỷ lệ thất nghiệp còn cao (năm 2007: 4,9%); tỷ lệ dân số nghèo còn cao; cuộc sống vật chất của nhân dân
Trang 29trong các ngành, vùng, địa phương; chỉ số phát triển con người so với các quốc còn thấp; bên cạnh đó con người VN thường có tính cục bộ địa phương, nghen nghét đố kỵ, văn hóa lao động, tác phong, kỷ luật lao động công nghiệp còn rất hạn chế Tư tưởng tâm lý tiểu nông nặng nề, coi trọng danh vị, ngôi thứ, trọng tình hơn lý; trọng lệ hơn luật; trọng kinh nghiệm hơn cơ sở khoa học; óc gia trưởng, tính bảo thủ, đố kỵ, tùy tiện, hẹp hòi, níu kéo… đã và đang còn là những cản trở lớn trên con đường phát triển con người…
Gia đình có vai trò gì trong việc xây dựng nguồn nhân lực:
Gia đình là một cộng đồng người đặc biệt được hình thành, phát triển và củng cố bởi hai mối quan hệ cơ bản là quan hệ hôn nhân và quan hệ huyết thống Các thành viên trong gia đình có chung những giá trị vật chất và tinh thần; quyền lợi, nghĩa vụ và trách nhiệm về tài sản cũng như người thân mà mục tiêu cao nhất
là phát triển kinh tế, nuôi dưỡng các thành viên và xây dựng gia đình bền chặt
Chủ nghĩa Mác cho răng: hằng ngày tái tạo ra đời sống của bản thân mình, con người còn tạo ra những người khác, sinh sôi, nảy nở, đó là quan hệ vợ chồng, giữa cha mẹ và con cái, đó là gia đình
Gia đình có một vị trí rất quan trọng trong xã hội, nó là nơi con người được sinh ra, được nuôi dưỡng, được giáo dục và trưởng thành Do đó gia đình có vai trò quan trọng trong quá trình phát triển, xây dựng nguồn lực con người Để thấy hết được vai trò của gia đình trong việc xây dựng nguồn nhân lực ta phải tìm hiểu
vị trí, vai trò, chức năng của gia đình
Gia đình là tế bào của xã hội có vai trò rất lớn đối với sự tồn tại và phát triển xã hội Với việc sản suất ra những tư liệu tiêu dùng, tư liệu SX và tái SX ra con người, gia đình như một tế bào tự nhiên, là một đơn vị cơ sở để tạo nên "cơ thể" - xã hội Gia đình là tế bào của xã hội tế bào khoẻ mạnh sẽ làm cho xh khoẻ mạnh và ngược lại (gia đình và xã hội có mqh mật thiết với nhau) Chủ tich HCM
đã nói: Nhiều gia đình cộng lại thành xã hội, xã hội tốt thì gia đình tốt, gia đình tốt thì xã hội mới tốt Hạt nhân của xã hội là gia đình Chính vì muốn xây dựng CNXH mà phải chú ý hạt nhân cho tốt
Gia đình là tổ ấm thân yêu đem lại hạnh phúc cho mỗi con người, gia đình
là nới cá nhân được bao bọc về vật chất và tinh thần, được chăm sóc yêu thương chí sẻ những tình cảm đặc biệt, được giáo dục về tâm hồn, trẻ em có điều kiện được an toàn khôn lớn, người già có nơi nương tựa, người lao động được phục hồi sức lao động và thoải mái về tinh thần
Chức năng đặc thứ nhất của gia đình đó là chức năng tái sản xuất ra con người Chức năng này vừa đáp ứng nhu cầu tâm sinh lý tự nhiên của con người, đồng thời gióp quan trọng vào quá trình tham phát triển nguồn lực con người cho
xã hội, đáp ứng nhu cầu tồn tại và phát triển của xã hội, nó quyết định đến một độ dân cư, chất lượng, số lượng dân cư của mỗi quốc gia Số lượng nguồn nhân lực được quyết định với mỗi gia đình trong xã hội, vì vậy đòi hỏi mỗi quốc gia, mỗi địa phương phải có chương trình kế hoạch cụ thể cho việc sinh đẻ Nhiều quốc gia châu Âu hiện nay dân số già, các cặp vợ chồng không muốn sinh con cái (tái sản xuất ra con người) do đó dẫn tới thiều hụt nguồn nhân lực phục vụ cho quá
Trang 30trinh phát triển đất nước Để khắc phục điều này nhiều nước có nhiều cơ chế khuyến khích sinh đẻ như tặng nhà, tặng xe ôtô cho những cặp vợ chồng có từ 2 con trở lên bên cạnh đó do thiếu hụt nguồn lao động họ phải thực hiện nhập khẩu lao động Nhưng nhiều nước thì quá đông dân số, mật độ dân số dầy, cho nên có chính sách kế hoạch hoá sinh đẻ mỗi cặp vợ chồng chỉ có 1 hoặc 2 con để cân bằng xh chống dư thừa nguồn nhân lực, có điều kiện cơ sở vật chất và tinh thần để chăm sóc, giáo dục Theo các nhà khoa học thì: con người phát triển theo cấp số nhân, kinh tế phát triển theo cấp số cộng, vì vậy phải sinh đẻ có kế hoạch,
có điều kiện vật chất, y tế, giáo dục để chăm sóc con người, tránh tình trạng trọng nam kinh nữ dẫn tới mất cân bằng giới tính
Gia đình có chức năng kinh tế Mỗi thành viên trong gia đình tham gia vào hoạt động kinh tế ở những mức độ và hình thức khác nhau nhằm mục đích tăng thu nhập, làm giàu chính đáng tạo điều kiện vật chất để thúc đầy các chức năng khác của gia đình, góp phần phát triển đất nước Khi các gia đình có điều kiện kinh tế thì đây là tiên đề vật chất để góp phần tạo ra thế hệ con người có ích cho
xã hộ, nâng cao được chất lượng nguồn nhân lực Khi có điều kiện kinh tế thì các gia đình có điều kiện chăm sóc sức khoẻ cho con cái, đáp ứng những nhu cầu vật chất cho con cái ngay từ khi còn trong bụng mẹ lên nguồn nhân lực có thể lực khoẻ mạnh Khi có điều kiện kinh tế các gia đình có điều kiện giáo dục, phát triển nhân cách của con em minh
Chức năng giáo dục của gia đinh Sinh con cai, nuôi dưỡng, dạy dỗ là những hoạt động không thể tác rời nhau trong gia đình Cha mẹ có nghĩa vụ thương yêu, nuôi dững, giáo dục con cái, chăm sóc việc học tập và sự phát triển lành mạnh của con cái cả về thể chất lẫn tinh thần Chức năng giáo dục của gia đình là rất quan trọng và có nội dung rộng lớn Nội dung giáo dục gia đình chính
là những yếu tố của vấn đề văn hoá gia đình và văn hoá cộng đồng nhằm tạo lập
và phát triển nhân cách của con người, như: đạo đức, lối sống, ứng xử, tri thức lao động và khoa học… Giáo dục gia đinh được thực hiện từ lúc mới sinh ra, gia đình dạy cho trẻ định hình lên nhân cách, phẩm chất của trẻ thông quá những lời
ru của mẹ, tình yêu thương của cha mẹ, bằng những tấm gương sống và việc làm Đến khi con người trưởng thành thì gia đình vẫn lài nới con người được giáo dục, dạy dỗ để thực hiện những hành vi đúng với chuẩn của xã hội Trong quá tình xây dựng XHCN, chức năng giáo dục của gia đình thực sự góp phần lớn lao vào việc đào tạo thế hệ trẻ, xây dựng con người mới, duy trì và phát triển đạo đức, văn hoá dân tộc Do đó cần phải có sự kết hợp chặt chẽ giữa giáo dục gia đình và giáo dục xã hội để xây dựng nguồn nhân lực có chất lượng cho xã hội, nhằm hướng đến mục tiêu nâng cao dân trí, đào tạo nhân tài, bồi dưỡng nhân tâm cho đát nước
Chức năng tiêu dùng của gia đinh: Gia đình hướng vào mua sắm nhứng sản phẩm phục vụ đời sống vật chất và tinh thần Chức năng này thường phụ thuộc nhiều vào thu nhập của gia đình góp chung từ kết quả lao động của mỗi thành viên Khi thực hiện chức năng tiêu dùng nhằm tái tạo và phát triển sức lao động, cũng như trí lực và thể lực nói chung của mỗi thành viên trong gia đinh
Trang 31Trên lĩnh vực KT: Phải xác lập địa vị làm chủ của người lao động trong sản
xuất, từng bước thay đổi tính chất l.động-từ lao động làm thuê trở thành lao động làm chủ, từ lao động rời rạc, manh mún thành lao động liên kết, hợp tác
từ lao động tự cấp tự túc thành SX hàng hoá, từ lao động hàng hoá giản đơn sang lao động có văn hoá, có trình độ cao
Cải thiện điều kiện sống, điều kiện làm việc cho người lao động, nhằm trước mắt là đáp ứng tốt hơn nhu cầu ăn, ở, học hành, chữa bệnh, đi lại cho người
LĐ,
Phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN để tạo công ăn việc làm, kích thích mọi người làm việc cho chính mình và cho XH Thông qua cơ chế thị trường, giúp con người thay đổi những quan niệm, thói quen, tập quán, tư duy cũ đã từng gắn liền với nền sx tự cấp tự túc; tạo điều kiện cho sự thể hiện năng lực, tài năng của con người
Phải xác lập cho người lao động quan niệm đúng đắn về KTTT, xây dựng pháp luật, tăng cường pháp chế nhằm đảm bảo KTTT phát triển mạnh đúng định hướng phục vụ con người, phục vụ tiến bộ XH
Trên lĩnh vực chính trị: Phải tiếp tục dân chủ hoá XH nhằm nâng cao tính tích
cực chính trị của đông đảo nhân dân, tạo điều kiện để nhân dân tham gia quản
lý Nhà nước, quản lý XH Tạo môi trường dân chủ để khuyến khích và thoả mãn nhu cầu sáng tạo của con người, để con người phát triển nhân cách, giải phóng con người về tư tưởng tình cảm
Dân chủ hoá để đổi mới các quan hệ XH, nhằm khắc phục sự trì trệ, bảo thủ trong tư duy, ý thức, cơ chế XH, vứt bỏ những lực cản trong mỗi cá nhân.Giáo dục cho co người ý thức đối với dân chủ, rèn luyện năng lực thực hiện dân chủ, bảo vệ và phát triển những giá trị dân chủ
Đồng thời dân chủ hoá phải có định hướng, phải tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, hiệu lực quản lý của Nhà nước; tăng cường giáo dục pháp luật cho công dân; đấu tranh chống mọi âm mưu và hành động lợi dụng chiêu bài dân chủ để chống phá cách mạng
Trên lĩnh vực XH: Tạo điều kiện để con người sống hoà nhập trong môi
trường XH ổn định Một mặt cần giải phóng con người khỏi các quan hệ cũ kĩ lỗi thời, mặt khác xây dựng hệ thống chuẩn mực những quan hệ XH mới tốt đẹp, phổ cập và duy trì qua hệ thống pháp chế và dư luận Xh để làm cho những chuẩn mực đó thành nếp sống trong nhân dân
Thông qua việc hoạch định và thực hiện hệ thống chính sách xã hội mà phát huy tính tích cực của từng con người, của từng cơ cấu tổ chức, của mỗi cộng đồng Lên án và đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân đồng thời tôn trọng cá nhân, tạo điều kiện cho cá nhân phát triển
Trên lĩnh vực giáo dục:Phải cải cách có hiệu hiệu quả giáo dục: trước hết là
đổi mới nội dung giáo dục, củng cố hệ thống giáo dục, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo, cải tiến phương pháp dạy và học có vậy mới nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài cho CNH, HĐH
Trang 32Tập trung nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, giáo dục đức-trí-thể-mỹ, coi trọng giáo dục truyền thống, giáo dục pháp luật trong trường học, chăm lo giáo dục mầm non.
Trân trọng, sử dụng, ưu đãi những người có tài năng, những chuyên gia giỏi, những trí thức
Trên lĩnh vực văn hoá nghệ thuật: Văn hoá-nghệ thuật không chỉ phản ánh
trung thực cuộc sống mà còn phải phát hiện, cổ vũ những nhân tố mới, những điển hình mới, tích cực tham gia chống tiêu cực, lạc hậu, tham gia giải quyết những vấn đề bức thiết của cuộc sống
Văn học- nghệ thuật phải góp phần xây dựng những tình cảm tốt đẹp, tác động sâu sắc vào việc đổi mới nếp nghĩ, lối sống, phong cách làm việc của con người, đem lại những tác phẩm có giá trị đích thực, có giá trị thẩm mỹ cao, có tác dụng tích cực góp phần xây dựng con người trong thời kì quá độ lên CNXH
Liên hệ: Quảng Nam là tỉnh ven biển miền Trung Việt Nam, nằm trong
vùng kinh tế trọng điểm miền Trung, Diện tích tự nhiên hơn 10,408 ngàn
km2 , với dân số gần 1,5 triệu người, dân số trong độ tuổi lao động khoảng 879,7 ngàn người chiếm 60% dân số Nhưng phần đông lao động của Quảng Nam chưa qua đào tao Nhăm phát triển nguồn lực con người phục vụ cho quá trình CNH-HĐH tỉnh nhà trước năm 2020 Đảng bộ, quân, dân Quảng Nam đã
có những chương trinh cụ thể nhằm phát triển con người
Công tác dân số và kế hoạch hóa gia đình: Trong những năm qua công tác
này được quan tâm thường xuyên nhằm giảm tỷ lệ sinh, mức giảm sinh bình quân 0,4‰/năm (tính từ năm 2005 đến nay) Tốc độ tăng dân số năm 2008 là 1,1% Cuộc vận động xây dựng gia đình văn hoá, thôn, bản, làng văn hoá được đông đảo người dân tích cực hưởng ứng
Công tác xoá đói giảm nghèo được thực hiện với các chương trình cho vay vốn hỗ trợ những hộ nông dân nghèo phát triển sản xuất, thực hiện chương trình 132, 134 nhằm cải thiện cơ sở vật chất tạo điều kiện cho đồng bao dân
tộc Công tác này đã đạt được những kết quả tích cực; tỷ lệ hộ nghèo giảm từ
26,6% năm 2006 xuống 22% năm 2008; giải quyết việc làm cho lao động có bước tiến đáng kể hiện tại tổng số lao động làm việc trong nền kinh tế đạt gần
774 ngàn người
Giáo dục và đào tạo có những chuyển biến tích cực Tỷ lệ phổ cập THCS
năm 2008 đạt 86,5% (năm 2005 là 56,3%); số xã, phường có trung tâm học tập cộng đồng đạt 56%; có trường THCS đạt 87%.Công tác đào tạo nguồn nhân lực được tập trung triển khai Hiện nay, trên địa bàn tỉnh có 2 trường đại học, 5 trường cao đẳng, 3 trường trung học chuyên nghiệp và 40 cơ sở dạy nghề đang hoạt động góp phần tích cực trong công tác đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực tại địa phương Ước đến cuối năm 2008 tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt
29,5%, tăng 7,7% so với năm 2006 (Nghị quyết đề ra đến 2010 là 40%) và qua
đào tạo nghề đạt khoảng 22%
Trang 33Nguồn lực con người: là tổng thể sức dự trữ những tiềm năng, năng lực thể
hiện sức mạnh của con người trong việc cải tạo tự nhiên và xh và nó được biểu hiện thông qua các yếu tố cơ bản là số lượng và chất lượng dân số
Nguồn lực con người trong mối tương quan với các nguồn lực khác:
- Con người là yếu tố quan trọng nhất cấu thành nên LLSX
- Để phát triển xh cân nhiều nguồn lực (Vốn, tài nguyên thiên nhiên, KHCN, con người ) nhưng nguồn lực con người là nguồn lực quan trọng nhất Nếu kg có con người thì các nguồn lực kia chỉ ở dạng tiềm năng
- Các nguồn lực khác khi khai thác thì sẽ cạn kiện, nhưng nguồn lực con người càng khai thác thì càng sản sinh và phát triển Khả năng sáng tạo và trí tuệ con người là vô tân
Về thực trạng nguồn nhân lực, hiện nay VN:
Dân số khoảng 84 triệu dân, nam 49,2%, nữ 50,8%, số người trên 65 tuổi khoảng 10%, trong 15-65 tuổi chiếm 61%, dưới 15 tuổi chiếm 29%; Bình quân thu nhập khoảng 823$ năm 2008, tuổi thọ 71,5 tuổi, tỷ lệ biết đọc, biết viết của người lớn ở mức trên 92,9%;chỉ số HDI năm 2007 là 102/177 quốc gia; tỷ lệ dân
số ngheo là 6-7% (theo tiêu chĩ cũ và 20-22% theo tiêu chí mơi); chỉ số phát triển giới GDI 89/174 quốc gia; lao động qua đào tạo đạt 27%.Dân số đông tạo ra lực lượng lao động dồi dào, giá thành lao động sẽ rẽ; cơ cấu dân cư trẻ, tập trung chủ yếu trong độ tuổi lao động và dưới độ tuổi lao động; con người VN có truyền thống yêu nước, đoàn kết, gắn bó; thông minh, chịu khó,…
Tuy nhiên, chât lượng lao động còn thấp, thể lực yếu, số lao động qua đào
tạo còn hạn chế, trình độ chuyên môn kỹ thuật yếu mất cân đối về cơ cấu đào tạo; tỷ lệ thất nghiệp còn cao (năm 2007: 4,9%); tỷ lệ dân số nghèo còn cao; cuộc sống vật chất của nhân dân còn thấp (GDP) điều đó dẫn tới tình trạng là vừa
"thừa" vừa "thiếu" nhân lực trong các ngành, vùng, địa phương; chỉ số phát triển con người so với các quốc còn thấp; tác phong, kỷ luật lao động công nghiệp còn rất hạn chế
Gia đình có vai trò gì trong việc xây dựng nguồn lực con người.
Chủ nghĩa Mác cho răng: hằng ngày tái tạo ra đời sống của bản thân mình, con người còn tạo ra những người khác, sinh sôi, nảy nở, đó là quan hệ vợ chồng, giữa cha mẹ và con cái, đó là gia đình
- Gia đình là nơi con người được sinh ra, được nuôi dưỡng, được giáo dục
và trưởng thành; là tế bào của xã hội có vai trò rất lớn đối với sự tồn tại và phát triển xã hội
Chức năng đặc thứ nhất của gia đình đó là chức năng tái sản xuất ra con người; phát triển nguồn lực con người cho xã hội, đáp ứng nhu cầu tồn tại và phát triển của xã hội, nó quyết định đến một độ dân cư, chất lượng, số lượng
Gia đình có chức năng kinh tế: hoạt động kinh tế; tăng thu nhập, làm giàu chính đáng; tạo điều kiện vật chất để thúc đầy các chức năng khác của gia đình, góp phần phát triển đất nước; tạotiên đề vật chất để góp phần tạo ra thế hệ con
Trang 34người có ích cho xã hộ, nâng cao được chất lượng nguồn nhân lực (điệu kiện chăm lo, giáo dục: thể lực, trí lực, nhân cách, đạo đức).
Chức năng giáo dục của gia đình: góp phần lớn lao vào việc đào tạo thế hệ trẻ, xây dựng con người mới, duy trì và phát triển đạo đức, văn hoá dân tộc.Xây dựng nguồn nhân lực có chất lượng cho xã hội, nhằm hướng đến mục tiêu nâng cao dân trí, đào tạo nhân tài, bồi dưỡng nhân tâm cho đất nước
Giải pháp phát huy nhân tố con người
Trên lĩnh vực KT: đổi mới chât lượng LĐ, chuyển LĐ làm thuê thành LĐ làm
chủ, hợp tác LĐ SX hàng hóa; Cải thiện điều kiện sống, điều kiện làm việc cho người lao động,
Phát triển nền KTTT định hướng XHCN để tạo công ăn việc làm, kích thích mọi người làm việc cho chính mình và cho XH tạo điều kiện cho sự thể hiện năng lực, tài năng của con người
Trên lĩnh vực chính trị: Phải tiếp tục dân chủ hoá XH, tạo điều kiện để nhân
dân tham gia quản lý Nhà nước, quản lý XH Tạo môi trường sáng tạo của con người,
Trên lĩnh vực XH: Tạo điều kiện để con người sống hoà nhập trong môi
trường XH ổn định chống chủ nghĩa cá nhân đồng thời tôn trọng cá nhân, tạo điều kiện cho cá nhân phát triển
Trên lĩnh vực giáo dục:Phải cải cách có hiệu hiệu quả giáo dục, nâng cao dân
trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài cho CNH, HĐH
Văn hoá nghệ thuật: phát hiện, cổ vũ nhân tố, điển hình mới, tích cực tham
gia chống tiêu cực, lạc hậu; có tác phẩm có giá trị đích thực, tác dụng xây dựng con người trong TKQĐ lên CNXH
MÔN XÃ HỘI HỌC
Câu 1: Từ lý luận về đối tượng, chức năng của xã hội học và thực tiễn công tác đồng chí hãy làm rõ luận điểm: Xã hội học phải thất sự là công cụ của Đảng, Nhà nước, của các cấp, các ngành trong việc quản lý và phát triển xã hội?
Nghiên cứu xã hội trên cơ sở khoa học là một yêu cầu thường xuyên đối với tất cả các chính đảng theo chủ nghĩa Mác - Lênin, trong quá trình lãnh đạo cách mạng Điều đó rất dễ hiểu, vì rằng, đảng của giai cấp công nhân luôn luôn kết hợp trong bản chất của mình tính cách mạng triệt để và tính khoa học vững chắc Đảng ta đã nhận thức và coi trọng việc nghiên cứu xã hội khi vạch ra đường lối
Trang 35triển của lực lượng sản xuất, đời sống vật chất và tinh thần cách mạng, quốc phòng an ninh vững chắc, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” Xã hội học có trách nhiệm góp phần triển khai với tư cách là một bộ môn khoa học xã hội.
Chủ nghĩa xã hội khoa học đưa lại sự hiểu biết về những quy luật đặc thù của sự phát triển xã hội từ CNTB lên CNXH, mà giai đoạn đầu là bước quá độ theo định hướng XHCN Nhưng như thế vẫn chưa đủ, còn hiểu biết về những hình thức biểu hiện cụ thể và những cơ chế tác động của các quy luật xã hội chung trong các lĩnh vực khác của đời sống xã hội mà sự hiểu biết này là do xã hội học ứng dụng đem lại
Dựa vào lý luận xã hội của chủ nghĩa Mác - Lênin để xác định đối tượng nghiên cứu xã hội học, trước hết cần phân biệt nghiên cứu xã hội và nghiên cứu
xã hội học Sự phân biệt đó có tầm quan trọng hàng đầu trong việc xác định đối tượng nghiên cứu XHH Nghiên cứu xã hội là khái niệm riêng, nghiên cứu xã hội học chỉ là một dạng đặc thù của nghiên cứu xã hội
Vậy thì dựa vào đâu để xác định đối tượng nghiên cứu XHH? Để trả lời câu hỏi này trước hết chúng ta phải dựa vào quan niệm của chủ nghĩa Mác - Lênin về đối tượng của XHH mácxít Vì trong phạm vi bài làm có hạn, không thể nêu cụ thể được mà có thể nói tóm lược là các hiện tượng và quá trình xã hội có nhiều loại xã hội khác nhau nằm trong mối quan hệ mật thiết của chúng Phát hiện những hiện tượng và quá trình xã hội do một khoa học xã hội nghiên cứu trên cơ
sở lý luận chung về xã hội - chủ nghĩa duy vật lịch sử
Đặc trưng của đối tượng nghiên cứu xã hội học J.Szczepansk nêu rõ ràng:
“Nói chung đối tượng nghiên cứu xã hội học là những hiện tượng và quá trình của các hình thức khác nhau của các cộng đồng con người Những hiện tượng và quá trình diễn ra trong các cộng đồng đó, nảy sinh từ tác động qua lại của người
ta, những lực lượng liên kết và phá hoại các cộng đồng đó, những thay đổi và những sự cải tạo diễn ra trong đó”.
Đặc trưng chủ yếu của các quy luật XHH là tính hệ thống, tính tổng hợp của chúng Chính tính hệ thống, tính tổng hợp ấy của các quy luật XHH cho phép phân biệt chúng với những quy luật không phải XHH
Không dựa vào đối tượng của XHH và những quy luật XHH, thì không thể nào xác định được đối tượng nghiên cứu XHH Song dừng lại ở đó cũng chưa đủ Bởi vì XHH mácxit là một cơ cấu gồm nhiều cấp độ khác nhau, mỗi cấp độ đòi hỏi những sự nghiên cứu XHH riêng, mặc dầu giữa các cấp độ đó có sự liên quan chặt chẽ với nhau
Ở đây lại còn phải phân biệt hai khái niệm khác nhau khách thể nghiên cứu
và đối tượng nghiên cứu Khách thể nghiên cứu xã hội học cụ thể là hoạt động của những con người có một vị trí xã hội nhất định và là những điều kiện trong
đó hoạt động có được thực hiện; còn đối tượng nghiên cứu là khía cạnh quan trọng nhất của khách thể về mặt lý luận cũng như thực tiễn Cũng một khách thể
xã hội học có thể có một vài đối tượng khác nhau, mà mỗi đối tượng được quyết định bởi việc nó phản ánh khía cạnh nào đó của khách thể và phản ánh với mục
Trang 36đích nào, chủ yếu là bởi việc đối tượng đó được lựa chọn để giải quyết những vấn
đề xã hội nào
Để xác định vị trí của XHH cần phải chỉ ra được phân ranh giữa XHH nói chung, làm nổi bật lên mặt XH trong thực tại xã hội (các khách thể của mọi khoa học xã hội ) cũng như giới hạn nghiên cứu, khu biệt sự nghiên cứu chỉ ở một xã hội làm cho nó không “nhập cục”, không lẫn lộn với địa hạt của các khoa học khác, XHH là sự cần thiết đầu tiên
Từ những luận giải trên, XHH nghiên cứu mặt xã hội dưới những hình thức biểu hiện như sau:
Một là, những hình thức và mức độ biểu hiện của các hiện tượng xã hội, các
quá trình xã hội (bao gồm cả các hành vi, hành động, khuôn mẫu, tác phong, các chuẩn mực, giá trị phong tục tập quán, thiết chế xã hội có bao nhiêu hình thức biểu hiện của thực tại thì có bấy nhiêu vấn đề xã hội học hướng vào nghiên cứu.Tuy nhiên, như đã trình bày trên, điều khác biệt giữa XHH và nhiều bộ môn khoa học xã hội khác còn ở chỗ, nó không chỉ đi vào nhận diện các hình thức biểu hiện của các hiện tượng xã hội, quá trình xã hội mà còn đo lường mức độ của các hiện tượng đó Đúng như Tony Birton, điểm khác biệt quan trọng nhất của XHH so với cách mạng khoa học xã hội khác không chỉ ở chỗ nghiên cứu cái
gì mà còn nghiên cứu như thế nào và bằng phương pháp nào
Hai là, XHH nghiên cứu những nguyên nhân, động cơ của những hoạt động
xã hội, những biến đổi xã hội
Tức là ngoài việc đi sâu nghiên cứu về nhận diện hình thức, đo lường mức
độ biểu hiện của các hiện tượng và quá trình xã hội, XHH còn đi vào nghiên cứu
và tìm hiểu những nguyên nhân, động cơ của những hành động xã hội, những biến động xã hội Nó cắt nghĩa và trả lời rõ hơn các câu hỏi vì sao mà trong xã hội xảy ra: có người giàu có, thành đạt, có người nghèo khổ; có người vi phạm pháp luật, mại dâm
Trong quá trình trả lời các câu hỏi này, XHH cố gắng chỉ ra trật tự tác động của các nhóm nguyên nhân, những động cơ của họat động xã hội, những biến động xã hội, từ đó có thể rút ra những kiến nghị xác đáng về các giải pháp nhằm tác động vào xã hội theo chiều hướng tích cực, hiệu quả
Ba là, chỉ ra đặc trưng xu hướng của những quá trình xã hội, từ đó đưa ra
các dự báo xã hội: Trên cơ sở nhận diện đúng đắn thực trạng xã hội, XHH còn có khả năng vạch ra những đặc trưng xu hướng, những triển vọng phát triển xa hơn
nữa của những sự vật, hiện tượng, quá trình Chẳng hạn việc chỉ ra những dự báo
xã hội về thất nghiệp, về sự gia tăng nhân khẩu, sự mở rộng thu hẹp khoảng cách phân hóa giàu nghèo, sự gia tăng tệ nạn xã hội, dân số Nó cũng có thể đưa ra những dự báo về sự thành đạt hay thất bại của một số doanh nghiệp, những dự báo này thật có ý nghĩa đối với quá trình quản lý và kiểm soát xã hội.
Bốn là, chỉ ra những vấn đề mang tính quy luật của thực tại xã hội và hành
vi của quần chúng: khác với đối tượng nghiên cứu triết học xã hội, những bộ môn khoa học xã hội, XHH chỉ hướng vào nghiên cứu những vấn đề mang tính quy
Trang 37nằm “gọn” hay nằm “trọn vẹn” trong một lĩnh vực nào đó của thực tại, mà nó nằm ở “đường tròn nhỏ đồng tâm với đường tròn lớn” nơi có sự giao thoa của rất nhiều lĩnh vực khác của thực tại.
Tóm lại, XHH là một khoa học nghiên cứu “mặt” XH của thực tại xã hội nói chung trong mối quan hệ qua lại phức tạp giữa con người và xã hội
Điểm đáng lưu ý là ở chỗ trong khi hướng vào nghiên cứu “mặt” xã hội của thực tại xã hội trên tất cả các cấp độ: cá nhân, nhóm, cộng đồng, tổ chức xã hội XHH luôn chú ý đến phương pháp tiếp cận chỉnh thể - hệ thống, xem xét và khảo cứu một cách toàn diện các yếu tố, các mối quan hệ, những khía cạnh về mặt cấu trúc, thiết chế, hệ thống các giá trị, chuẩn mực cũng như xu hướng vận động, biến đổi của các hoạt động xã hội và các quá trình xã hội
Vậy trong giai đoạn đổi mới của đất nước, đối tượng nghiên cứu XHH là những vấn đề gì? Trước hết, cần phải nhắc lại rằng ở nước ta, công việc nghiên cứu xã hội đã được tiến hành từ lâu và đem lại những kết quả đáng kể nhưng vì
xã hội học là môn khoa học còn mới mẻ mà chúng ta chỉ mới làm quen ở dưới dạng lý luận chung của nó, nên công việc nghiên cứu XHH chỉ mới ở trong thời
kỳ đầu tiên của nó Nhưng nếu nhìn vào những yêu cầu của xã hội nước ta hiện nay, nếu nhìn vào những nhiệm vụ to lớn mà Đảng và nhà nước ta đặt ra thì phải coi trọng công việc nghiên cứu XHH là một công việc cấp bách hiện nay
Vậy thì việc nghiên cứu XHH cụ thể ở nước ta phải được tiến hành theo những lúc nào, đó là:
1 Trước hết đó là những vấn đề có liên quan với những đặc điểm xã hội khi cách mạng nước ta bước sang giai đoạn mới Việc nghiên cứu xã hội học phải có hướng vào việc phát hiện những đặc điểm xã hội thể hiện tính chất cách mạng ấy Phân tích đầy đủ mục tiêu của CNH,HĐH ấy là hết sức cần thiết, bởi vì không làm như thế, không thể có một quan niệm đầy đủ về con đường đi lên CNXH, không thể hiểu một cách sâu sắc về lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất Hơn nữa tính chất CNH, HĐH còn thể hiện ở các thể chế xã hội và tâm lý xã hội, mà những lĩnh vực này như đã biết, đều là những đối tượng nghiên cứu quan trọng của XHH
2 Cách mạng XHH ở nước ta là một quá trình biến đổi cách mạng toàn diện, liên tục vô cùng sâu sắc và triệt để Có thể nói, XHH ở nước ta, trong giai đoạn hiện nay phải lấy những vấn đề có liên quan với công cuộc CNH,HĐH XHCN làm phương hướng trung tâm cho các công trình nghiên cứu
3 Một phương hướng nghiên cứu hết sức quan trọng gắn liền với phương hướng vừa nói trên là nghiên cứu sự hình thành và phát triển của các quan hệ XH XHCN Khi nói tới quan hệ xã hội, trước hết phải nói tới quan hệ sản xuất Nhưng quan hệ xã hội còn bao gồm những mối quan hệ khác và tất cả những mối quan hệ ấy đều phải trải những biến đổi to lớn trong quá trình cách mạng XHCN Vậy thì XHH cần nghiên cứu những mặt quan hệ xã hội khác như quan hệ giữa thành thị và nông thôn, giữa lao động chân tay và trí óc Ảnh hưởng của những quan hệ xã hội đối với các lĩnh vực khác của đời sống xã hội
Trang 384 Sự hình thành con người mới và sự phát triển toàn diện của nó là một trong những phương hướng chủ yếu của việc nghiên cứu XHH Con người trong những quan hệ của mình với hiện thực chung quanh, trong sự phát triển đa dạng của mình bao giờ cũng là trung tâm chú ý của XHH mácxít Nghiên cứu sự hình thành và phát triển con người mới trên cơ sở phát triển các quan hệ XH XHCN.
5 Cách mạng XHCN ở nước ta là một quá trình có tổ chức, có kế hoạch, có lãnh đạo đi tới thiết lập chế độ XHCN phù hợp với những quy luật phát triển khách quan của sự phát triển xã hội Do đó, nội dung những phương hướng nghiên cứu xã hội học chủ yếu là nghiên cứu và giải quyết các vấn đề có liên quan đến việc quản lý xã hội một cách khoa học Quản lý xã hội là quản lý sự phát triển của xã hội trong tính tổng hợp của nó Xác định đúng mối quan hệ qua lại giữa các lĩnh vực xã hội kinh tế, xã hội chính trị và văn hoá tư tưởng trong từng thời điểm lịch sử, phát hiện đúng những mâu thuẫn của sự phát triển xã hội trong mỗi giai đoạn lịch sử cụ thể là yêu cầu đầu tiên của việc quản lý xã hội một cách khoa học Do đó, cũng là yêu cầu đầu tiên của việc nghiên cứu xã hội học cụ thể
Ngoài ra, những phương hướng quản lý xã hội như thông tin xã hội, dự báo
xã hội, quy định những vấn đề xã hội quan trọng, tổ chức thực hiện và kiểm tra việc thực hiện đều là những quyết định cần được chú ý đúng mức
Trong lãnh đạo, quản lý việc vận dụng XHH, đặc biệt là giai đoạn hiện nay trong lãnh đạo và quản lý là rất quan trọng Bởi vì nói đến quản lý là nói đến việc nhận thức và tác động tới hành vi nhằm thực hiện được mục tiêu đã xác định Nhà quản lý, lãnh đạo có thể tính toán hoặc phán đoán được khá chính xác mức
độ đầu tư sức lực và kỹ năng, thao tác cần thiết để sản xuất ra một sản phẩm nhất định Đồng thời có thể dựa vào các quy luật hành vi để tác động, khuyến khích và
điều chỉnh hành vi của người khác theo hướng cần thiết Cũng từ lý thuyết về “sự lựa chọn hợp lý” nhà quản lý có thể thăm dò, tìm hiểu ý thức của dư luận xã hội
để từ đó mà có những phương hướng tác động liên doanh, liên kết, điều chỉnh cơ cấu, mẫu mã, kiểu dáng cho phù hợp với người tiêu dùng cũng như nhu cầu của đối tác
Từ việc nghiên cứu XHH trong lãnh đạo, quản lý có thể nhận biết và phát hiện nguyên nhân, động cơ hành động của các cá nhân, nhóm tập thể Trên cơ sở chỉ ra được các nguyên nhân, phương hướng còn có thể chỉ ra được trật tự, tầm quan trọng của các nguyên nhân đã chi phối đến hành động của con người, cũng
từ đây mà có cơ sở khoa học để đưa ra những quyết định quản lý thích hợp
- Có thể vận dụng XHH trong việc tìm hiểu và đánh giá xem bằng con đường nào thông qua những môi trường cụ thể nào, sự tương tác cá nhân và nhóm xã hội như thế nào mà một người hay 1 tổ chức xã hội nào đó lại hình thành 1 số năng lực hay tính cách nhất định nào đó Thông qua đó, nhà quản lý có thể tổ chức tạo ra những môi trường xã hội phù hợp với sự phát triển nhân cách
và năng lực thuận lợi cho con người
- Trong lãnh đạo quản lý có thể vận dụng một số học thuyết của XHH để tiến hành sắp xếp, tổ chức 1 xã hội hướng tới sự cân bằng có trật tự và sự phát
Trang 39cầu, trên cơ sở đó mà thiết lập hay đổi mới các thiết chế xã hội (chính trị, kinh tế, pháp luật, văn hoá, gia đình, giáo dục thể thao, y tế v.v ) sao cho những thiết chế nào giúp cho xã hội (những cá nhân, đoàn thể, tổ chức xã hội) thực hiện hay
“thoả mãn” những nhu cầu chính đáng một cách hợp lý và trật tự nhất
- Có thể vận dụng các học thuyết trong XHH để xem xét một cách toàn diện một sự vật, hiện tượng hay 1 quá trình xã hội nào đó Luôn biết nhìn nhận cũng như giải quyết 1 vấn đề nào đó mang tính đồng bộ, hệ thống, vị trí, chức năng, các mối quan hệ qua lại giữa các bộ phận bên trong cũng như với các hệ thống bên ngoài, từ đó cùng ra những quyết định quản lý chính xác, khoa học, luôn tạo
ra sự cân bằng và phát triển bền vững cho cả hệ thống
- Trong lãnh đạo quản lý có thể vận dụng một số thuyết về XHH để cắt nghĩa 1 cách sáng tỏ sự vận hành, phát triển thật sự của 1 xã hội nhất định , hiểu được cấu trúc cơ bản của xã hội cũng nh con đường vận dụng những giải páp hữu hiệu nhằm thúc đẩy hay định hướng cho xã hội có một sự phát triển đúng đắn phù hợp với quy luật, với xu hướng của tiến bộ xã hội
Trên đây chỉ là những nét đại thể, khái quát về khả năng vận dụng các lý thuyết, các phương pháp tiếp cận xã hội học trong quản lý xã hội Chúng ta có thể vận dụng được nhiều hơn nếu đi sâu vào nghiên cứu và tìm hiểu bộ môn khoa học này Tất nhiên trong quá trình nghiên cứu và vận dụng đòi hỏi phải có sự thận trọng nghiêm túc linh hoạt và sự sáng tạo cần thiết Ngoài ra, trong hoạt động chính trị và công tác đảng, xã hội học có vai trò đặc biệt quan trọng trong hoạt động chính trị, trong công tác tổ chức xã hội và công tác đảng Xã hội học nước ta đã bước đầu giúp Đảng và Nhà nước thăm dò và tìm hiểu uy tín cán bộ, khảo sát và thẩm định kết quả của một số đường lối, chính sách, nhận diện thực trạng và xu hướng biến đổi của cơ cấu xã hội - dân số, cơ cấu xã hội - dân tộc, cơ cấu xã hội - lãnh thổ
Những cuộc nghiên cứu này đang được xúc tiến một cách tích cực và đang từng bước trình lên Đảng, Nhà nước những dự báo, đề xuất, kiến nghị nhằm quản
lý nhà nước và các quá trình xã hội một cách có hiệu quả
Ngoài những vấn đề trên, nhiều công trình khảo sát xã hội ở nông thôn, thành thị, những vấn đề định hướng giá trị và xu hướng chuyển đổi lao động nghề nghiệp của trí thức, thanh niên, học sinh, vấn đề an ninh tuổi già, tệ nạn xã hội,
cờ bạc những vấn đề giáo dục, y tế, dân số, những hiện tượng phân hoá, phân tầng trong các giai cấp xã hội trong các tầng lớp xã hội Kết quả của những khảo sát này đã mang lại cho công tác quản lý những đóng góp có giá trị, góp phần ổn định và phát triển xã hội
Trong công tác Đảng, xã hội học cũng bước đầu có những đóng góp đáng kể cho công tác lãnh đạo của các cấp uỷ Trong lĩnh vực này, xã hội học thường tập trung nghiên cứu những vấn đề sau:
- Thăm dò và tìm hiểu uy tín cán bộ, đặc biệt là người đứng đầu tổ chức Đảng
Trang 40- Nghiên cứu vai trò và sự tác động của các chỉ thị, nghị quyết, các đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng đến các quá trình xã hội nói chung, các tầng lớp và các nhóm xã hội dân cư nói riêng.
- Nghiên cứu hiệu quả của công tác tuyên truyền của Đảng đến các đoàn thể quần chúng
- Nghiên cứu ảnh hưởng của các điều luật đến các nhóm xã hội dân cư
- Nghiên cứu cơ cấu xã hội trong Đảng
- Nghiên cứu vai trò và hiệu quả của công tác cán bộ trong Đảng, hiệu quả của công tác sinh hoạt Đảng
- Nghiên cứu các mô hình lãnh đạo của Đảng trong các tổ chức xã hội, phương pháp và cách thức để tuyển chọn cán bộ, cũng như lựa chọn người đứng đầu các tổ chức Đảng
- Nghiên cứu mối quan hệ giữa Đảng, nhà nước và quần chúng, sự phối hợp hành động quản lý, giữa vai trò của Đảng và Nhà nước đối với các quá trình xã hội, đặc biệt là vai trò lãnh đạo của Đảng trong các lĩnh vực kinh tế - chính trị - quân sự - trật tự an ninh quốc phòng
- Trong thời gian tới, xã hội học cũng cần phải mạnh dạn giúp Đảng nghiên cứu và khảo sát mối quan hệ giữa Đảng với các tổ chức chính trị, giữa Đảng và tôn giáo, giữa Đảng Cộng sản và các đảng, đoàn khác trên thế giới, từ đó đề xuất các đối sách cho phù hợp
Tóm lại, trong những năm gần đây, xã hội học đã được Đảng, Nhà nước ta ngày một quan tâm và tạo đièu kiện thuận lợi cho sự phát triển
Cuộc sống và những nhu cầu của sự phát triển xã hội đã đặt ra một cách khách quan cho XHH và quản lý xã hội những lợi ích chung và những mục tiêu
xã hội chung Chính những điểm chung có tính bản chất và tự nhiên này đã gắn kết các nhà XHH và các nhà quản lý vào những mối quan hệ và sự hợp tác ngày một chặt chẽ, gắn bó và có hiệu quả
Câu 2 Đồng chí hãy nêu rõ và phân tích bản chất của quá trình xã hội hoá cá nhân?
Trước đây, khái niệm xã hội hoá được sử dụng gần như được đồng nhất với khái niệm giáo dục .Hiện nay khái niệm xã hội hoá được hiểu theo hai nghĩa Một là ,xã hội hoá (XH) là sự tham gia rộng rãi của xã hội (các cá nhân ,nhóm ,tổ chức ,cộng đồng …) vào một số hoạt động mà trước đó chỉ được một đơn vị ,bộ phận hay trong một ngành chức năng nhất định thực hiện Hai là, xã hội hoá cá nhân khái niệm này được dùng để chỉ quá trình chuyển biến từ con người trở thành sinh vật trở thành con người xã hội
Có nhiều định nghĩa khác nhau về xã hội hoá nhưng tất cả các định nghĩa đều dường như có đặc điểm chung đó là ;xã hội hoá trước hết là quá trình tương tác giữa con người với con người ,con người