Hiện nay, trường Đại học Kiến Trúc Hà Nội đã triển khai hình thứchọc này được 7 năm nhưng chất lượng, mức độ hiểu biết của các bạn sinhviên trong trường về kiến thức thông tin đến đâu th
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN, ĐHQGHN
KHOA THÔNG TIN – THƯ VIỆN
================
ĐỖ THỊ THANH
THỰC TRẠNG KIẾN THỨC THÔNG TIN CỦA SINH VIÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KIẾN TRÚC HÀ NỘI
TÓM TẮT KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH THÔNG TIN THƯ VIỆN
Hệ đào tạo: Chính quy Khóa học: QH - 2011 - X
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN, ĐHQGHN
KHOA THÔNG TIN – THƯ VIỆN
================
ĐỖ THỊ THANH
THỰC TRẠNG KIẾN THỨC THÔNG TIN CỦA SINH VIÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KIẾN TRÚC HÀ NỘI
TÓM TẮT KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH THÔNG TIN THƯ VIỆN
Hệ đào tạo: Chính quy Khóa học: QH - 2011 - XGIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN: ThS TRẦN HỮU HUỲNH
HÀ NỘI - 2015
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo –ThS.GVC Trần Hữu Huỳnh, người đã tận tình chỉ bảo và trực tiếp hướngdẫn tôi trong quá trình thực hiện khóa luận này
Tôi xin chân thành chân thành cảm ơn Ban giám đốc và các cán bộlàm việc tại Trung tâm Thông tin Thư viện Trường Đại học Kiến Trúc HàNội đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi hoàn thành khóa luận này
Mặc dù đã có nhiều cố gắng song do thời gian có hạn, trình độ chuyênmôn cũng như kinh nghiệm còn hạn chế nên khóa luận không tránh khỏinhững sai sót Vì vậy, tôi rất mong nhận được sự đóng góp của thầy cô vàcác bạn để khóa luận được hoàn chỉnh hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng năm
Sinh viên
Đỗ Thị Thanh
Trang 4Mục lục
MỞ ĐẦU 2
1.Tính cấp thiết của đề tài 2
2 Mục đích nghiên cứu 3
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
4 Tình hình nghiên cứu của đề tài 4
5 Phương pháp nghiên cứu 6
6 Bố cục của khóa luận 6
CHƯƠNG 1 8
TỔNG QUAN VỀ KIẾN THỨC THÔNG TIN VÀ TRUNG TÂM THÔNG TIN-THƯ VIỆN ĐẠI HỌC KIẾN TRÚC HÀ NỘI 8
1.1.Những vấn đề chung về kiến thức thông tin 8
1.1.1.Khái niệm 8
1.1.2 Nội dung 11
1.1.3 Vai trò 14
1.1.3 Nội dung 17
1.2 Khái quát về Trung tâm Thông tin -Thư viện trường Đại học Kiến Trúc Hà Nội 21
CHƯƠNG 2 26
THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KIẾN THỨC THÔNG TIN CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC KIẾN TRÚC HÀ NỘI 26
2.1 Tầm quan trọng của kiến thức thông tin trong giáo dục đại học giai đoạn hiện nay 26
2.2 Phân tích hiện trạng kiến thức thông tin của sinh viên trường Đại học Kiến Trúc Hà Nội 30
2.2.1 Kỹ năng nhận dạng nhu cầu tin 32
2.2.2 Kỹ năng tìm kiếm thông tin 33
2.2.3 Kỹ năng đánh giá thông tin 34
2.2.4 Kỹ năng sử dụng và trao đổi thông tin 35
2.3 Đánh giá chung 37
2.3.1 Ưu, nhược điểm 37
2.3.2 Những thuận lợi và khó khăn quá trình triển khai kiến thức thông tin 38
CHƯƠNG 3 41
MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO KIẾN THỨC THÔNG TIN CHO SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC KIẾN TRÚC HÀ NỘI 41
3.1 Khẳng định vai trò của Trung tâm thông tin - thư viện trong việc dạy và học kiến thức thông tin trong nhà trường 41
3.2 Triển khai tập huấn kiến thức thông tin cho sinh viên 45
3.2.1 Tập huấn đầu năm tại Trung tâm 45
3.2.2 Lồng ghép vào chương trình giảng dạy 46
3.3 Ứng dụng facebook vào việc hỗ trợ đào tạo kiến thức thông tin 47
3.4 Về phía lãnh đạo nhà trường 48
KẾT LUẬN 50
Trang 5MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài.
Trước hết, chúng ta ai cũng thấy rõ tác động to lớn của sự bùng nổthông tin trong thời đại ngày nay và có thể phổ biến thông tin qua nhiều kênhkhác nhau, đặc biệt là Internet Có một thực tế là ngày nay bất kỳ cá nhân, tổchức nào cũng có thể đưa các ý tưởng về thông tin của mình lên Internet,chưa kể đến các nguồn thông tin đa phương tiện, các tài liệu dưới dạng giấyhàng ngày tăng theo cấp số nhân và tất yếu dẫn đến tính phức tạp, phong phúcủa nguồn tin Vấn đề đặt ra: làm sao kiểm soát được lượng thông tin khổng
lồ đang ngày càng gia tăng chóng mặt, kiểm soát được tính chính xác và độchân thực của thông tin? Đồng thời xu thế liên ngành trong các lĩnh vựckhoa học xuất hiện đã khiến con người gặp không ít khó khăn trong việc giảiquyết nhu cầu thông tin của chính họ Họ cần có một công cụ để tiếp cận vàlàm chủ thế giới thông tin một cách hiệu quả Một so sánh thú vị giữa việctìm kiếm thông tin với việc soi đèn tìm đồ trong một kho vừa rộng vừa tối
mà lại không biết chính xác cái mình cần ở chỗ nào Ánh sáng của đèn chỉ cóthể chiếu sáng một phạm vi rất nhỏ ở xung quanh ta Cũng giống như đa sốchúng ta ngày nay tìm kiếm thông tin theo bản năng là chính mà không có kỹnăng tìm tin nên kết quả ra nhiều, nhưng thường không phù hợp với thôngtin mình cần
Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, thông tin đóng vai trò chủ đạo,vừa là nguồn tài nguyên chính vừa là hàng hóa chính vừa là nguồn lực chínhcủa mỗi quốc gia, cơ quan/ tổ chức hay hẹp hơn là từng cá nhân Ai có thôngtin là có tất cả
Trang 6Kiến thức thông tin rất cần cho mỗi người nhưng nó còn đặc biệt quantrọng đối với sinh viên Trong bối cảnh nước ta đang đổi mới nền giáo dục,các trường cao đẳng đại học đều bắt buộc phải chuyển sang học tín chỉ từnăm 2008 - với phương châm lấy người học làm trung tâm, buộc người họcphải năng động hơn, tự chủ hơn, sáng tạo hơn Sinh viên sẽ vừa là người tiếpnhận kiến thức vừa là người chủ động tạo ra kiến thức Như vậy sinh viênphải nắm chắc kiến thức thông tin- là công cụ giúp người học có thể chủđộng trong việc tìm và tiếp nhận thông tin một cách có chọn lọc và hiệu quả.
Những thách thức trên khiến cho nhu cầu về kiến thức thông tin trởnên cấp thiết, đặc biệt hữu ích cho con người trong việc tự điều chỉnh bảnthân và năng lực tư duy sao cho phù hợp với hoàn cảnh mới, giúp con người
tự mình cập nhật và tiếp nhận tri thức mới một cách dễ dàng và chủ động
Hiện nay, trường Đại học Kiến Trúc Hà Nội đã triển khai hình thứchọc này được 7 năm nhưng chất lượng, mức độ hiểu biết của các bạn sinhviên trong trường về kiến thức thông tin đến đâu thì vẫn chưa có một đề tàinào nghiên cứu và đánh giá Trong thời gian thực tập tại Trung tâm Thôngtin -Thư viện (trường Đại học Kiến Trúc Hà Nội), được thấy các bạn sinhviên thường hỏi cán bộ thư viện về cách sử dụng thư viện, mượn sách, tra
cứu tài liệu… Từ đó, tôi đã quyết định lựa chọn đề tài: “Thực trạng kiến
thức thông tin của sinh viên trường Đại học Kiến Trúc Hà Nội” làm đề tài
khóa luận tốt nghiệp của mình, mong rằng có thể tìm thực trạng và đưa ragiải pháp mang tính khả thi cho thực trạng trên
2 Mục đích nghiên cứu.
Đề tài được triển khai nghiên cứu với mục đích: trên cơ sở khảo sát,đánh giá thực trạng về kiến thức thông tin của sinh viên trường Đại học Kiếntrúc Hà Nội, đưa ra các giải pháp phù hợp để phát triển kiến thức thông tin
Trang 7cho sinh viên trường Đại học Kiến trúc Hà Nội nói riêng và các trường đạihọc khác tham khảo nói chung.
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
Đối tượng nghiên cứu: về kiến thức thông tin của sinh viên tại
trường Đại học Kiến trúc Hà Nội
Phạm vi nghiên cứu: nghiên cứu kiến thức thông tin của sinh viên
trường Đại học Kiến trúc Hà Nội trong giai đoạn hiện nay
4 Tình hình nghiên cứu của đề tài.
Thuật ngữ “ Information Literacy” (kiến thức thông tin) xuất hiện lầnđầu tiên vào năm 1974 và được phát biểu bởi Paul G Zurkowski, tại Ủy banQuốc gia về Khoa học Thông tin và Thư viện Zurkowski đã sử dụng thuậtngữ này để mô tả những hiểu biết về các kỹ năng, kỹ thuật thông tin nhằm sửdụng thông tin một cách thuần thục như những nguồn lực cơ bản để giảiquyết những vấn đề mà con người gặp phải
Ở Việt Nam, thuật ngữ “ Information Literacy” được dùng ngày càngphổ biến trong các trường đại học, viện nghiên cứu, các cơ quan thông tin -thư viện và được dịch ra tiếng Việt theo nhiều cách khác nhau như “kiếnthức thông tin”, “kỹ năng thông tin”, “hiểu biết thông tin”…Bên cạnh tranhluận về khái niệm, bàn luận vai trò và sự cấp thiết đào tạo kiến thức thông tincũng được nhiều tác giả đề cập như: “Vài suy nghĩ về vấn đề trang bị kiếnthức thông tin cho sinh viên trong các trường đại học Việt Nam” (NguyễnVăn Hành), “Đẩy mạnh công tác nghiên cứu và đào tạo kiến thức thông tin ởViệt Nam” (Lê Văn Viết), “ Vai trò của kiến thức thông tin đối với cán bộnghiên cứu khoa học (Nghiêm Xuân Huy, tạp chí Thư viện Việt Nam, số 3/2010)…
Trang 8Hiện nay, vấn đề này đã được các học giả trong nước nghiên cứu khánhiều như: Nghiêm Xuân Huy, Trần Mạnh Tuấn, Dương Thúy Hương…Trong đó, Nghiêm Xuân Huy là người có nhiều công trình nghiên cứu nhất
và hiện nay bắt đầu dạy những lớp kiến thức thông tin đầu tiên cho cán bộgiảng viên ĐH Quốc gia Hà Nội Đặc biệt là khoa Thông tin- thư viện trường
ĐH KHXH&NV đã tổ chức thành công một hội thảo quốc tế về kiến thứcthông tin (2006) Đây là hội thảo đầu tiên bàn sâu về kiến thức thông tin vàgiúp nó truyền bá vào Việt Nam nhanh chóng hơn
Về mặt lý luận, Hội thảo quốc tế về Kiến thức thông tin được tổ chứctại trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – ĐHQGHN đã thu hútđược nhiều học giả trong và ngoài nước quan tâm Tại hội thảo, nhiều thamluận được công bố như: "Các yếu tố ảnh hưởng đến giáo dục Kiến thứcthông tin trong các nước đang phát triển ở châu Á" của GS.Gary E Gorman;
"Hiểu biết thông tin: tình hình và một số đề xuất" của ThS Cao Minh Kiểm;
"Kiến thức thông tin trong thư viện đại học" của bà R Begum đến từMalaixia Các tham luận đều nêu bật vai trò và tầm quan trọng của Kiến thứcthông tin trong thời đại ngày nay và sự cần thiết phải đẩy mạnh đào tạo Kiếnthức thông tin trong các trường đại học Hơn nữa, gần đây một số tác giả đãcông bố những nghiên cứu cá nhân của mình trên các tạp chí chuyên ngành.Năm 2009, với bài báo “Vai trò của thư viện trong việc phổ biến Kiến thứcthông tin” đăng trên Tạp chí Thư viện Việt Nam, tác giả Trương Đại Lượngphân tích một số định nghĩa về Kiến thức thông tin, nêu bật vai trò của thưviện trong việc giúp người dùng tin vượt qua thách thức của hiện tượng bùng
nổ thông tin toàn cầu
Tiếp đó, năm 2010 tác giả Nghiêm Xuân Huy và Huỳnh Thị TrúcPhương đã công bố nghiên cứu về Kiến thức thông tin trên Tạp chí Thư viện
Trang 9Việt Nam Tác giả Nghiên Xuân Huy phân tích đặc thù công việc của cán bộnghiên cứu trong mối tương quan với năng lực thông tin và qua đó chỉ ra vaitrò của năng lực thông tin đối với cán bộ nghiên cứu Tác giả Huỳnh ThịTrúc Phương giới thiệu hoạt động đào tạo kĩ năng thông tin tại Trung tâmhọc liệu thuộc Đại học Cần Thơ Tác giả cho biết về khung chương trình đàotạo Kiến thức thông tin và hình thức triển khai chương trình đào tạo Kiếnthức thông tin của Trung tâm học liệu – Đại học Cần Thơ.
Về thực tiễn, hiện nay đã có một số thư viện đại học quan tâm xâydựng và triển khai trương trình bồi dưỡng Kiến thức thông tin cho sinh viênbài bản Trong đó phải kể đến Trung tâm Học liệu thuộc Đại học Cần Thơ,Trung tâm Học liệu Huế, Thư viện trường Đại học Khoa học Tự nhiên TP
Hồ Chí Minh, Trung tâm thông tin - thư viện Đại học Hà Nội, Trung tâmthông tin - thư viện Đại học Quốc gia Hà Nội, Theo hướng nghiên cứu của
đề tài thì đã có một số công trình mang tính ứng dụng, điều tra thực tế như:luận văn “ Phát triển kiến thức thông tin cho sinh viên trường ĐH Hà Nội,2010” của tác giả Nguyễn Thị Ngà hay đề tài “Phát triển kiến thức thông tincho sinh viên trường ĐH Hà Nội, 2011” của tác giả Nguyễn Ngọc Sơn Hai
đề tài này đều nêu bật được vai trò, nội dung, tiêu chuẩn kiến thức thông tincho sinh viên, trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp
Về đơn vị khảo sát Trung tâm Thông tin thư viện trường ĐH KiếnTrúc Hà Nội có ít công trình nghiên cứu về kiến thức thông tin, chưa có đềtài nào, chỉ có một số khóa luận, khóa luận làm về phát triển vốn tài liệu, ứngdụng công nghệ thông tin…
5 Phương pháp nghiên cứu.
Khóa luận đã sử dụng các phương pháp sau: Điều tra bằng bảng hỏi;Quan sát thực tế; Thống kê số liệu; Phân tích – tổng hợp tài liệu
Trang 106 Bố cục của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phầnphụ lục, nội dung chính của khóa luận chia làm ba chương:
Chương 1: Tổng quan về kiến thức thông tinvà trung tâm thông tin-thư viện Đại học Kiến Trúc Hà Nội.
Chương 2: Thực trạng phát triển kiến thức thông tin của sinh viên Trường Đại học Kiến Trúc Hà Nội.
Chương 3: Các giải pháp phát triển kiến thức thông tin cho sinh viên Trường Đại học Kiến Trúc Hà Nội.
Trang 11CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ KIẾN THỨC THÔNG TIN VÀ TRUNG TÂM THÔNG TIN-THƯ VIỆN ĐẠI HỌC KIẾN TRÚC HÀ NỘI.
1.1.Những vấn đề chung về kiến thức thông tin.
1.1.1.Khái niệm.
Thuật ngữ kiến thức thông tin, tiếng Anh là Information Literacy, xuấthiện lần đầu tiên vào năm 1974 và được phát biểu bởi Paul G Zurkowski,tại Ủy ban Quốc gia về Khoa học Thông tin và Thư viện Zurkowski đã sửdụng thuật ngữ để mô tả những hiểu biết về các kỹ năng, kỹ thuật thông tinnhằm sử dụng thông tin một cách thuần thục như những nguồn lực cơ bản
để giải quyết những vấn đề mà con người gặp phải
Năm 1989, Hiệp hội các Thư viện Đại học và Thư viện Nghiên cứu
Mỹ đưa ra một cái nhìn khác hơn về khái niệm này Họ cho rằng kiến thứcthông tin là “Nhận biết được thời điểm cần thông tin và có thể định vị, thẩmđịnh và sử dụng thông tin cần thiết một cách hiệu quả”.Cheek và các tác giảkhác đã trích dẫn ý tưởng của Mckie với sự khẳng định “ kiến thức thôngtin là khả năng nhận biết nhu cầu thông tin, tìm kiếm, tổ chức, thẩm định và
sử dụng thông tin trong việc ra quyết định một cách hiệu quả cũng như ápdụng những kỹ năng này vào việc tự học suốt đời” [14].
Trang 12Theo Hiệp hội các thư viện chuyên ngành và các trường đại học Hoa
Kỳ (ACRL, 1989), người có kiến thức thông tin là người “đã học được cáchthức để học Họ biết cách học bởi họ nắm được phương thức tổ chức trithức, tìm kiếm thông tin và sử dụng thông tin, do đó những người khác cóthể học tập được từ họ Họ là những người được đã chuẩn bị cho khả nănghọc tập suốt đời, bởi lẽ họ luôn tìm được thông tin cần thiết cho bất kỳnhiệm vụ hoặc quyết định nào một cách chủ động” [14]
Kiến thức thông tin là một thuật ngữ, khái niệm mới đối với nhiềungười làm công tác thư viện - thông tin ở Việt Nam và chính thức được biếtđến vào năm 2000 trong một bài báo của tác giả Nguyễn Hoàng Sơn công
bố Có thể đây là bài báo đầu tiên chính thức đưa khái niệm này vào từvựng ngành thư viện - thông tin nước ta
Cho đến nay, khái niệm Information Literacy được hiểu và dịch ratiếng Việt rất khác nhau Nhiều người dịch là kiến thức thông tin, có ngườilại đánh đồng nó với kỹ năng thông tin Chẳng hạn, trong bài tham luận
“Những tiêu chuẩn kiến thức thông tin trong giáo dục đại học Mỹ và cácchương trình đào tạo kỹ năng thông tin cho sinh viên tại Trung tâm thôngtin - thư viện - ĐHQGHN” của TS.Nguyễn Huy Chương và CN.NguyễnThanh Lý không thấy nêu định nghĩa về khái niệm kiến thức thông tin (mặc
dù có từ viết tắt Kiến thức thông tin) mà chỉ có khái niệm về “Kỹ năngthông tin là tập hợp các yêu cầu về khả năng nhận biết thông tin cần thiết,xác định, đánh giá và sử dụng một cách hiệu quả các thông tin cần thiết”.Nếu đem những khả năng này so sánh với những khả năng của nhữngngười có kiến thức thông tin được trình bày trong các tài liệu thì khá tươngđồng Có người lại sử dụng nguyên bản tiếng Anh của từ này để trình bàycác bài báo bằng tiếng Việt Trong những cuộc trao đổi cá nhân giữa tác giả
Trang 13với ông Nguyễn Hữu Viêm, một người có nhiều công trình nghiên cứu vềthư viện học, ông Viêm cho rằng, thuật ngữ Information Literacy nên dịch
là “xóa mù thông tin” vì Literacy cũng có một nghĩa là xóa mù Bản thântác giả bài viết này cũng rất muốn mở rộng khái niệm này ra thành “kiếnthức thông tin - thư viện” vì những nội dung cơ bản của Kiến thức thông tin
mà chúng tôi sẽ trình bày ở phần dưới cũng là kiến thức thư viện - thư mụctrước kia Mặc dù có nhiều cách hiểu khác nhau như vậy nhưngInformation Literacy được hiểu và dịch thành kiến thức thông tin là hợp lýhơn cả [20]
Như vậy có thể coi kiến thức thông tin là tổng hòa về sự hiểu biết và
kỹ năng của bạn liên quan đến cách tìm kiếm, sử dụng, đánh giá thông tin/nguồn tin mà mình cần tìm để giải quyết bài tập, nâng cao hiểu biết hay đưa
ra quyết định
Kiến thức thông tin là một phạm trù luôn thay đổi, chịu sự tác độngcủa nhiều yếu tố xã hội phức tạp, mà trước hết là vào nhu cầu, quy mô,trình độ ứng dụng các thành tựu khoa học, kỹ thuật vào các quá trình thôngtin-thư viện; vào sự hình thành, phát triển và phương thức hoạt động, vậnhành của các nguồn/HTTT, vào cách thức mà thông tin được sử dụng phục
vụ các mục tiêu, lợi ích phát triển… Hoạt động thông tin càng phát triển thìtrình độ kiến thức thông tin của con người trong xã hội càng được nâng cao
sẽ là những chỉ số quan trọng phản ánh mức độ thông tin được sử dụngtrong mỗi xã hội, phản ánh sự bình đẳng của việc khai thác, sử dụng thôngtin đối với mỗi thành viên trong xã hội Việc phân tích ý nghĩa và mối quan
hệ của kiến thức thông tin đối với sự phát triển kinh tế-xã hội mỗi cộngđồng, quốc gia sẽ giúp đánh giá được vai trò của thông tin, xây dựng vàtriển khai chính sách khuyến khích sử dụng thông tin trong xã hội [17]
Trang 14Cần hiểu rõ rằng kiến thức thông tin không chỉ đơn thuần là những
kỹ năng cần thiết để tìm kiếm thông tin (xác định nhu cầu thông tin, xâydựng các biểu thức tìm tin, lựa chọn và xác minh nguồn tin), bao gồmnhững kiến thức về các thể chế xã hội và các quyền lợi do pháp luật quyđịnh giúp người dùng tin có thể thẩm định thông tin, tổng hợp và sử dụngthông tin một cách hiệu quả
1.1.2 Nội dung.
Theo như bài viết của tác giả Lê Văn Viết đăng trên tạp chí thông tin
tư liệu số 3/2008: [20]
Trong nhiều công trình nghiên cứu của các nhà khoa học Việt Nam
đã nêu nội dung của Kiến thức thông tin mà chủ yếu dựa theo quan điểmcủa Viện Kiến thức thông tin của Oxtralia và New Zealand, của Hiệp hộicác thư viện đại học và nghiên cứu Hoa Kỳ,…Những trình bày xác định nộidung khái niệm Kiến thức thông tin gồm những thành phần sau:
- Nắm bắt nhu cầu và yêu cầu tin của người dùng: là yêu cầu đầu tiên
và cốt yếu của công tác thông tin - thư viện, các thư viện, cơ quan thông tinphải thường xuyên tiến hành nghiên cứu nhu cầu tin của một nhóm đốitượng và cá nhân Cá nhân người sử dụng thông tin, có thể tự xác địnhđược nhu cầu, yêu cầu tin của mình trong từng giai đoạn, thậm chí từngthời khắc
- Xác định, định vị thông tin: từ yêu cầu tin cụ thể của người dùng,xác định xem những tài liệu nào, hiện đang lưu giữ ở đâu (trong nước vànước ngoài có thể thỏa mãn được (các) yêu cầu đó Muốn làm việc đó là sửdụng các công cụ tìm tin của thư viện, của cơ quan thông tin là sử dụngInternet,…
Trang 15- Đánh giá thông tin: người cung cấp và người sử dụng thông tin
sẽ đánh giá mức độ phù hợp của những thông tin nhận được, đọc được vớiyêu cầu lúc đầu Đánh giá giá trị nếu kèm theo những nhận xét khách quan
về tính khoa học, thực tiễn của các thông tin được cung cấp
- Tổ chức thông tin: chọn lọc và tổ chức thông tin theo mục đích sửdụng của mỗi người Đối với cơ quan thông tin - thư viện – đó là chuyên
đề, mục lục chuyên đề, tổng quan,… Đối với cá nhân người sử dụng – đó làcác bài tóm tắt, các đoạn trích, các bài tổng luận, bài báo, bài nghiên cứu,
…
- Sáng tạo thông tin: người sử dụng phải tiến hành so sánh, đối chiếu,phê phán các thông tin vừa nhận được với các tri thức, thông tin, lý luận,học thuyết,… đã có để đưa ra những thông tin mới, hình thành tri thức mới
và ở mức cao hơn - lý luận, học thuyết mới
- Sử dụng có hiệu quả thông tin: vận dụng những thông tin nhậnđược cùng với những thông tin mới do mình tạo ra để giải quyết những vấn
đề thực tiễn của mỗi cá nhân, tập thể, cộng đồng, xã hội Đây là điều kiện
để thẩm định các thông tin, tri thức mới nhận được hay mới sáng tạo nên
- Truyền thông tin tới các địa chỉ cần thiết: những thông tin nhậnđược cũng như tạo ra đã hoặc chưa qua kiểm chứng đến những cá nhân, tổchức có nhu cầu để từ đó nhân rộng ra trong xã hội
Căn cứ nội dung của Kiến thức thông tin nêu trên, có thể khẳng địnhrằng, tuy Kiến thức thông tin là một thuật ngữ mới nhưng nội hàm lại rấtquen thuộc Bởi vì, phần lớn nội dung của khái niệm này trùng hợp với kháiniệm trước đó đã sử dụng rộng rãi trong tài liệu nghiệp vụ thư viện củanước ta và quốc tế: kiến thức thư viện - thư mục Điều này đã được tác giảNguyễn Hoàng Sơn nhắc đến trong bài viết của mình: vào cuối thập niên
Trang 161980, các nhà thư viện ở các trường học đã chuyển khái niệm kiến thức thưviện thành Kiến thức thông tin Tất nhiên, khái niệm này càng ngày càngphong phú hơn do được bổ sung các nội dung mới, dễ thao tác trong giảngdạy và thực hành, Kiến thức thông tin được chia ra làm 2 lĩnh vực: hiểu biết(kiến thức, lý luận) và thực hành (kỹ năng)
- Những nhu cầu và yêu cầu tin của mỗi người, mỗi cộng đồng, tậpthể;
- Vốn tài liệu /thông tin, các dịch vụ, sản phẩm thư viện - thông tincủa từng thư viện và ngành thư viện-thông tin trong cả nước;
- Bộ máy tra cứu-tìm tin truyền thống và hiện đại;
- Các công cụ, chiến lược tìm và các phương pháp tìm tin;
- Tin học, Internet, web, tuy nhiên chỉ ở mức kiến thức về lưu trữ,tìm và khai thác tin trên mạng;
- Pháp luật thư viện, luật bản quyền
Trang 17- Các phương pháp làm việc với vật mang tin khác nhau, kỹ thuậtđọc để thu nhận thông tin.
- Nghiên cứu và đánh giá thông tin thông qua công tác xử lý, đánhgiá, tổng hợp và phân tích tin Truyền đạt, phổ biến thông tin
- Tạo lập các sản phẩm thông tin, thư viện như: lập bản thư mục, giớithiệu sách, biên soạn bài tóm tắt, các bài tổng luận,…
* Về mặt cấu trúc:
Sự tương đồng thú vị giữa kiến thức thông tin và kiến thức, kỹ năng
mà người cán bộ nghiên cứu cần phải có khi tiến hành công việc nghiêncứu Nếu như kiến thức thông tin là một tổng hòa của các khối tri thức và
kỹ năng liên quan đến việc xác định nhu cầu thông tin, định vị, thẩm định,
tổ chức, sử dụng nguồn tin thì quy trình nghiên cứu cũng phải trải quanhững bước: dữ liệu, sau đó là thông tin đóng vai trò đặc biệt quan trọng.Người làm nghiên cứu cần có kỹ năng và kiến thức liên quan đến việc khaithác, phân tích và tổng hợp các nguồn thông tin để giải quyết các vấn đềnghiên cứu của mình Hiệu quả nghiên cứu chịu ảnh hưởng rất lớn bởi khảnăng xác định vấn đề cần nghiên cứu, cũng như cách thức tương tác với thếgiới thông tin của nhà nghiên cứu Nói cách khác, nếu như được trang
bị kiến thức thông tin, nhà nghiên cứu sẽ chủ động và tích cực hơn tronghoạt động của mình
1.1.3 Vai trò.
Sự bùng nổ thông tin trên toàn cầu, nhu cầu học tập độc lập và học tậpsuốt đời, sự xuất hiện của nền kinh tế tri thức chính là những nhân tố quantrọng giúp khẳng định tầm quan trọng đặc biệt của kiến thức thông tin:
Theo như tác giả Nghiêm Xuân Huy, trong bài Vai trò của kiến thứcthông tin với cán bộ nghiên cứu khoa học có đưa ra 3 vai trò chính là:
Trang 18 Làm chủ nguồn thông tin/sử dụng nguồn thông tin hiệu quả.
Nâng cao đạo đức nghề nghiệp.
Tăng cường hiệu quả trong nghiên cứu.
Tuy là vai trò đối với cán bộ nghiên cứu nhưng nó cũng đúng nếu như
áp vào các đối tượng khác:
Thứ nhất là làm chủ nguồn thông tin/sử dụng nguồn thông tin hiệu quả Kiến thức thông tin chính là chìa khóa để người dùng tin nói chung và
các nhà nghiên cứu nói riêng làm chủ được kho tàng tri thức của nhân loại
Sự bùng nổ thông tin hiện nay đã khiến cho thế giới thông tin trở nên phứctạp và hỗn loạn Làm thế nào để tìm ĐÚNG, tìm ĐỦ những thông tin màmình cần, đồng thời sử dụng HIỆU QUẢ nếu như chúng ta có sự hiểu biếtsâu sắc về thế giới thông tin là vấn đề mà hầu hết bất cứ người dùng tin nàocũng gặp phải Muốn vậy, người dùng tin phải biết / nắm vững lĩnh vực mìnhquan tâm và có khả năng trình bày các nội dung cụ thể Tức là người dùngtin phải xác định được vấn đề mình thực sự quan tâm cũng như có thể diễnđạt chúng bằng các thuật ngữ tìm kiếm Và họ cần có một công cụ để khaithác và sử dụng thông tin một cách hiệu quả nhất, đó chính là kiến thứcthông tin Có tri thức trong lĩnh vực mình nghiên cứu là một lợi thế/ là tiền
đề để có thể tìm tin nhanh chóng và chính xác Còn kiến thức thông tin sẽ bổtrợ các kỹ năng cần thiết để có thể tìm kiếm / làm chủ thông tin một cáchđúng, đủ và hiệu quả
Nâng cao đạo đức nghiên cứu/đạo đức nghề nghiệp.Đây là vấn đề đã
được đề cập khá nhiều trên các phương tiện truyền thông nhưng vẫn là mộtvấn nạn khá phổ biến trong các hoạt động liên quan đến chất xám, đặc biệt làlĩnh vực nghiên cứu khoa học Nguyên nhân chính là do sự thiếu hiểu biết vềcách thức tổ chức thông tin trong hoạt động nghiên cứu Chỉ riêng việc đưa
Trang 19tham chiếu về nguồn tài liệu tham khảo trong công trình nghiên cứu có nhiềuvấn đề, hoặc là nhà nghiên cứu không có thông tin đầy đủ về các nguồn tàiliệu trích dẫn, hoặc là họ không biết tổ chức danh mục tài liệu theo quy định.Hơn ai hết, những người có kiến thức thông tin phải chứng tỏ việc sử dụngthông tin hợp pháp luật, hợp đạo đức của mình Vì kiến thức thông tin giúpngười dùng tin có kỹ năng trong việc trích dẫn tài liệu, cũng như kiến thứccần thiết về quyền tác giả / bản quyền Từ đó giúp họ có cái nhìn đúng đắnhơn về sao chép, trích dẫn, lấy ý tưởng của người khác vào bài tập/ nghiêncứu của mình và tôn trọng tác giả Nói cách khác, kiến thức này giúp cho họ
có một thái độ nghiên cứu nghiêm túc, giúp họ tránh được những vi phạmliên quan đến đạo đức nghề nghiệp nghiên cứu Đó cũng chính là cơ sở đểchúng ta tính tới vấn đề hội nhập và hợp tác bình đẳng với bạn bè quốc tếtrên mặt trận nghiên cứu khoa học
Tăng cường hiệu quả trong nghiên cứu khoa học Thực trạng có khá
nhiều công trình và đề tài nghiên cứu các cấp tính khả rất thấp? Có phải là donội dung nghiên cứu lỗi thời giáo điều không sát thực tế? Có phải do dữ liệuphục vụ nghiên cứu không toàn diện và cập nhật? Có phải do phương phápnghiên cứu thiếu tính khoa học?
Trước hết: nguyên nhân chính dẫn tới điều này là do nhà nghiên cứu đãkhông có sự chuẩn bị chu đáo về mặt thông tin khi bắt tay vào nghiên cứu.Thông tin không đầy đủ hoặc sai lệch chắc chắn sẽ dẫn tới những quyết địnhphiến diện hoặc sai lệch trong nghiên cứu và phát triển ứng dụng Do đó, kỹnăng khai thác, thẩm định và tổng hợp thông tin đóng vai trò quyết định.Điều này chứng tỏ tầm quan trọng của kiến thức thông tin đối với một côngđoạn đặc biệt quan trọng của quy trình nghiên cứu: xác định vấn đề và mụctiêu nghiên cứu
Trang 20Thứ hai: dữ liệu phục vụ nghiên cứu không toàn diện và cập nhật Khi
mà luận chứng, luận cứ nghiên cứu chỉ dựa trên những nguồn tin không đầy
đủ, lỗi thời hoặc một chiều, chắc chắn kết quả nghiên cứu sẽ ảnh hưởngnghiêm trọng Kiến thức thông tin giúp nhà nghiên cứu giải quyết được điềunày thông qua những chiến lược tìm kiếm thông tin hợp lý, cách thức sửdụng các công cụ tìm kiếm thông tin một cách linh hoạt, các phương phápthẩm định thông tin khách quan và khoa học, cũng như khả năng tổ chứcthông tin chặt chẽ Nguồn thông tin đầy đủ, đa chiều, và có chất lượng sẽgiúp nhà nghiên cứu đưa ra những luận cứ khoa học có tính khách quan vàkhả thi rất cao
Thứ ba: phương pháp nghiên cứu thiếu tính khoa học thể hiện từ việclựa chọn đề tài, xây dựng chiến lược nghiên cứu, thu thập, xử lý, tổng hợpthông tin và đưa ra những đề xuất, cải tiến dựa trên chính những thông tin
đó Bất kỳ một sai lầm nào trong số những bước chính như trên đều dẫn tớinhững kết quả nghiên cứu không như ý muốn Người có kiến thức thông tin
là người đã “học được cách thức học”- nắm được phương pháp nghiên cứu
Rõ ràng, cả ba nguyên nhân cơ bản và phổ biến trên đều xuất phát từ mộtnguồn gốc: cách thức tiếp cận và giải quyết bài toán về thông tin Hiểnnhiên, kiến thức thông tin chính là mẫu số chung cho các lời giải của bàitoán đó
Ngoài các nhà nghiên cứu, hiện nay phong trào nghiên cứu khoa học ởcác trường đại học cũng được triển khai rất mạnh Điều này làm việc nghiêncứu không còn bó buộc với các nhà khoa học mà còn lan rộng trong cộngđồng sinh viên Thực tế cho thấy có nhiều bài nghiên cứu khoa học của sinhviên rất có giá trị thực tiễn và được đánh giá cao bởi hội đồng chuyên môn.Nhưng cũng có một bộ phận không nhỏ, sinh viên làm nghiên cứu khoa học
Trang 21vẫn còn lung túng, không biết phải bắt đầu như thế nào, tìm tài liệu, đánh giáthông tin, xây dựng đề cương nghiên cứu…? Việc có kiến thức thông tin sẽrất có ích cho sinh viên trong việc nâng cao hiệu quả học tập và nghiên cứu.
1.1.3 Nội dung
Theo như T.S Lê Văn Viết chia sẻ trong bài đẩy mạnh công tác nghiêncứu và phổ biến kiến thức thông tin ở Việt Nam, đăng trên tạp chí Thông tin– Tư liệu, số 3/2008, [20]:
Trong nhiều công trình nghiên cứu của các nhà khoa học Việt Nam đãnêu nội dung của Kiến thức thông tin mà chủ yếu dựa theo quan điểmcủa Viện Kiến thức thông tin của Oxtralia và New Zealand, của Hiệp hội cácthư viện đại học và nghiên cứu Hoa Kỳ,…Những trình bày xác định nộidung khái niệm Kiến thức thông tin gồm những thành phần sau:
- Nắm bắt nhu cầu và yêu cầu tin của người dùng: là yêu cầu đầu tiên
và cốt yếu của công tác thông tin - thư viện, các thư viện, cơ quan thông tinphải thường xuyên tiến hành nghiên cứu nhu cầu tin của một nhóm đối tượng
và cá nhân Cá nhân người sử dụng thông tin, có thể tự xác định được nhucầu, yêu cầu tin của mình trong từng giai đoạn, thậm chí từng thời khắc
- Xác định, định vị thông tin: từ yêu cầu tin cụ thể của người dùng, xácđịnh xem những tài liệu nào, hiện đang lưu giữ ở đâu (trong nước và nướcngoài có thể thỏa mãn được (các) yêu cầu đó Muốn làm việc đó là sử dụngcác công cụ tìm tin của thư viện, của cơ quan thông tin là sử dụng Internet,…
- Đánh giá thông tin: người cung cấp và người sử dụng thông tin
sẽ đánh giá mức độ phù hợp của những thông tin nhận được, đọc được vớiyêu cầu lúc đầu Đánh giá giá trị nếu kèm theo những nhận xét khách quan
về tính khoa học, thực tiễn của các thông tin được cung cấp
Trang 22- Tổ chức thông tin: chọn lọc và tổ chức thông tin theo mục đích sửdụng của mỗi người Đối với cơ quan thông tin - thư viện – đó là chuyên đề,mục lục chuyên đề, tổng quan, … Đối với cá nhân người sử dụng – đó là cácbài tóm tắt, các đoạn trích, các bài tổng luận, bài báo, bài nghiên cứu, …
- Sáng tạo thông tin: người sử dụng phải tiến hành so sánh, đối chiếu,phê phán các thông tin vừa nhận được với các tri thức, thông tin, lý luận,học thuyết,… đã có để đưa ra những thông tin mới, hình thành tri thức mới
và ở mức cao hơn - lý luận, học thuyết mới
- Sử dụng có hiệu quả thông tin: vận dụng những thông tin nhận đượccùng với những thông tin mới do mình tạo ra để giải quyết những vấn đềthực tiễn của mỗi cá nhân, tập thể, cộng đồng, xã hội Đây là điều kiện đểthẩm định các thông tin, tri thức mới nhận được hay mới sáng tạo nên
- Truyền thông tin tới các địa chỉ cần thiết: những thông tin nhận đượccũng như tạo ra đã hoặc chưa qua kiểm chứng đến những cá nhân, tổ chức cónhu cầu để từ đó nhân rộng ra trong xã hội
Căn cứ nội dung của Kiến thức thông tin nêu trên, có thể khẳng địnhrằng, tuy Kiến thức thông tin là một thuật ngữ mới nhưng nội hàm lại rấtquen thuộc Bởi vì, phần lớn nội dung của khái niệm này trùng hợp với kháiniệm trước đó đã sử dụng rộng rãi trong tài liệu nghiệp vụ thư viện của nước
ta và quốc tế: kiến thức thư viện - thư mục Điều này đã được tác giả NguyễnHoàng Sơn đề cập trong bài viết của mình: vào cuối thập niên 1980, các nhàthư viện ở các trường học đã chuyển khái niệm kiến thức thư viện thành kiếnthức thông tin Tất nhiên, khái niệm này càng ngày càng phong phú hơn dođược bổ sung các nội dung mới, dễ thao tác trong giảng dạy và thực hành,Kiến thức thông tin được chia ra làm 2 lĩnh vực: hiểu biết (kiến thức, lý luận)
và thực hành (kỹ năng)
Trang 23- Những nhu cầu và yêu cầu tin của mỗi người, mỗi cộng đồng, tậpthể;
- Vốn tài liệu /thông tin, các dịch vụ, sản phẩm thư viện - thông tin củatừng thư viện và ngành thư viện-thông tin trong cả nước;
- Bộ máy tra cứu-tìm tin truyền thống và hiện đại;
- Các công cụ, chiến lược tìm và các phương pháp tìm tin;
- Tin học, Internet, web, tuy nhiên chỉ ở mức kiến thức về lưu trữ, tìm
và khai thác tin trên mạng;
- Pháp luật thư viện, luật bản quyền
* Về kỹ năng:
- Nghiên cứu nhu cầu tin của toàn xã hội, của tập thể, nhóm người, củatừng cá nhân
- Biết định hướng trong các bộ máy tra cứu-tìm tin của các thư viện và
cơ quan thông tin trong và ngoài nước, tìm kiếm thông tin bằng phương pháptruyền thống và hiện đại
- Các phương pháp làm việc với vật mang tin khác nhau, kỹ thuật đọc
để thu nhận thông tin
- Nghiên cứu và đánh giá thông tin thông qua công tác xử lý, đánh giá,tổng hợp và phân tích tin Truyền đạt, phổ biến thông tin
Trang 24- Tạo lập các sản phẩm thông tin, thư viện như: lập bản thư mục, giớithiệu sách, biên soạn bài tóm tắt, các bài tổng luận,…
* Về mặt cấu trúc:
Sự tương đồng thú vị giữa kiến thức thông tin và kiến thức, kỹ năng
mà người cán bộ nghiên cứu cần phải có khi tiến hành công việc nghiên cứu.Nếu như kiến thức thông tin là một tổng hòa của các khối tri thức và kỹ năngliên quan đến việc xác định nhu cầu thông tin, định vị, thẩm định, tổ chức, sửdụng nguồn tin thì quy trình nghiên cứu cũng phải trải qua những bước: dữliệu, sau đó là thông tin đóng vai trò đặc biệt quan trọng Người làm nghiêncứu cần có kỹ năng và kiến thức liên quan đến việc khai thác, phân tích vàtổng hợp các nguồn thông tin để giải quyết các vấn đề nghiên cứu của mình.Hiệu quả nghiên cứu chịu ảnh hưởng rất lớn bởi khả năng xác định vấn đềcần nghiên cứu, cũng như cách thức tương tác với thế giới thông tin của nhànghiên cứu Nói cách khác, nếu như được trang bị kiến thức thông tin, nhànghiên cứu sẽ chủ động và tích cực hơn trong hoạt động của mình
1.2 Khái quát về Trung tâm Thông tin -Thư viện trường Đại học Kiến Trúc Hà Nội.
1.2.1 Lịch sử hình thành và phát triển.
Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội được thành lập theo quyết định số181/CP ngày 17 tháng 9 năm 1969 của Hội đồng Chính phủ Trường thuộc
Bộ Xây dựng, chịu sự quản lý Nhà nước về chuyên môn của Bộ Giáo dục
và Đào tạo và sự quản lý hành chính của Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội
Trường hiện có 26 đơn vị trực thuộc, trong đó có 11 đơn vị thuộc khốiđào tạo, 7 đơn vị thuộc khối quản lý, 5 đơn vị thuộc khối khoa học côngnghệ và thông tin, 03 đơn vị thuộc khối sản xuất dịch vụ và chuyển giaocông nghệ xây dựng Nhà trường có trên 900 cán bộ viên chức, người lao
Trang 25động hợp đồng, trong đó có 418 cán bộ giảng dạy, 2 Giáo sư, 22 Phó Giáo
sư, 17 Nhà giáo ưu tú, 77 tiến sỹ, 284 thạc sỹ Hội sinh viên Trường có gần6.000 hội viên trực thuộc Hội sinh viên thành phố Hà Nội; Tổng số sinh viênthường xuyên là 11.000, gồm cả hệ chính quy và hệ vừa làm vừa học Sốsinh viên cao học gần 700, số nghiên cứu sinh là 65
Trung tâm Thông tin - Thư viện thuộc Trường Đại học Kiến trúc Hànội được thành lập theo quyết định số 43/QĐ-BXD ra ngày 08 tháng 01 năm
2001 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng Trung tâm có 15 cán bộ thuộc các chuyênngành tin học, ngoại ngữ, thông tin - thư viện Địa chỉ: Tầng 12 - 13, nhà H,trường Đại học Kiến trúc Hà Nội Km10, đường Nguyễn Trãi, Thanh Xuân,
- Thu thập, xử lý, lưu trữ, quản lý, sử dụng các tài liệu, tin tức hoạtđộng về đào tạo, nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ… để phục
vụ các nhiệm vụ của trường Lập CSDL, xây dựng, quản lý, tổ chức pháttriển thông tin trên Website, tham gia vào công tác xây dựng phát triển cổng
Trang 26thông tin điện tử của trường đáp ứng nhu cầu khai thác thông tin trên mạng,phục vụ công tác đào tạo, nghiên cứu, quản lý điều hành công việc của nhàtrường.
- Xây dựng và thực hiện các dự án, đề tài về thông tin thư viện, CSDL
do trường giao Phát triển mối quan hệ hợp tác với các trường, cơ sở nghiêncứu trong và ngoài nước về công tác thông tin tư liệu, tư liệu theo địnhhướng phát triển của trường Quản lý cán bộ viên chức, người lao động hợpđồng thuộc Trung tâm theo phân cấp Hiệu trưởng; quản lý, sử dụng cơ sở vậtchất, trang thiết bị, vật tư được nhà trường giao để thực hiện nhiệm vụ Chủtrì phối hợp, tham gia với các đơn vị liên quan để thực hiện các nhiệm vụkhác theo sự phân công của trường
1.2.2 Đặc điểm người dùng tin và nhu cầu tin của Trung tâm.
* Người dùng tin.
Trường Đại học Kiến Trúc Hà Nội là một trong những cơ sở đào tạonguồn lực về xây dựng, kiến trúc cho đất nước Chính vì vậy hoạt độnggiảng dạy, học tập, nghiên cứu là hoạt động chủ đạo đóng vai trò quan trọngtrong trường Cùng với yêu cầu đổi mới nội dung và phương pháp giảng dạyđòi hỏi người học phải chủ động hơn, sáng tạo hơn trong quá trình tiếp cậnvới thông tin, tri thức, khuyến khích người học tìm hiểu nhiều tài liệu suynghĩ, nghiên cứu và sáng tạo đưa ra được những phương thức, cách thức giảiquyết
Người dùng tin tại Trung tâm Thông tin – Thư viện Đại học Kiến Trúc
Hà Nội là toàn bộ cán bộ công nhân viên, giảng viên, cán bộ nghiên cứukhoa học, nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên các hệ đào tạo chínhquy, từ xa, tại chức, chuyên tu trong trường Qua khảo sát thực tế hoạt động
Trang 27của Trung tâm Thông tin – Thư viện Đại học Kiến Trúc Hà Nội tôi chia đốitượng người dùng tin thành 3 nhóm chính sau:
+ Sinh viên.
Đại học Kiến Trúc Hà Nội có số lượng sinh viên tương đối lớn: tổng
số sinh viên thường xuyên là 11.000, gồm cả hệ chính quy và hệ vừa làmvừa học; số sinh viên cao học gần 700, số nghiên cứu sinh là 65 Trong tất cảcác nhóm bạn đọc sinh viên chiếm tỷ lệ khoảng 70% gồm sinh viên cáckhóa, các khoa, các hệ dào tạo: Chính quy, tại chức, từ xa…trong đó chủ yếu
là sinh viên hệ chính quy
Sinh viên thường có thời gian không ổn định, hoàn toàn phụ thuộc vàochương trình học do Trường quy định, ngoài ra phải tham gia thêm các hoạtđộng ngoại khóa khác Sinh viên chưa có điều kiện tiếp cận với những nguồnthông tin mang tính chất tổng hợp, mặt khác trình độ ngoại ngữ còn hạn chếnên khó khăn trong việc tìm kiếm thông tin nhất là đối với những nguồn tinngoại văn
+ Cán bộ giảng dạy, nghiên cứu.
Đội ngũ cán bộ nghiên cứu, giảng dạy là lực lượng quyết định quátrình đào tạo và nghiên cứu trong Trường Họ vừa là người sử dụng thôngtin, đồng thời họ cũng là người tái tạo ra thông tin Họ là những người cótrình độ học vấn cao, quỹ thời gian tương đối ổn định để thu thập thông tin,chọn lọc thông tin trực tiếp phục vụ cho công việc nghiên cứu và giảng dạycủa mình
Đây là những người dùng tin hiểu rõ được nguồn tin và loại thông tinnào mà họ cần và có khả năng tự mình xử lý thông tin đó để tạo ra nhữngthông tin mới, đồng thời khai thác thông tin thông qua các công cụ tra cứutìm kiếm được nguồn thông tin cần thiết Đây là đối tượng dùng tin có trình
Trang 28độ tin học và ngoại ngữ để tìm kiếm thông tin, đọc, nghiên cứu các tài liệuchuyên ngành để phục vụ cho công tác nghiên cứu và giảng dạy
+ Học viên cao học, nghiên cứu sinh.
Đây là đối tượng bạn đọc có trình độ học vấn, trình độ ngoại ngữ, học
là những giảng viên đại học, cán bộ quản lý giáo dục…Với quỹ thời giantương đối ổn định, phải hoàn thành đề tài nghiên cứu trong thời gian nhấtđịnh, nên các học viên cao học luôn là những bạn đọc tích cực của Trungtâm
* Nhu cầu tin.
Đối tượng dùng tin tại Trung tâm có đặc điểm nhu cầu tin:
- Nhóm người dùng tin là sinh viên:
Trong quá trình học tập, 3 năm đầu tiên sinh viên được trang bị nhữngkiến thức cơ bản nên nhu cầu tin chủ yếu của đối tượng này chủ yếu là sáchgiáo trình về các môn học như: Tâm lý, Triết học, Lịch sử Đảng, Pháp luật…
và những thông tin mang tính chất cơ bản, tổng hợp
Quá trình 2 năm cuối khóa sinh viên được trang bị những kiến thứcchuyên ngành khi đó nhu cầu tin của đối tượng này chủ yếu là các tài liệumang tính chất chuyên ngành và nhu cầu về tài liệu tham khảo nhằm phục vụcho công việc học tập của mình
- Nhóm người dùng tin là cán bộ giảng dạy, nghiên cứu.
Do đặc thù về công việc nên nhu cầu tin của họ rất đa dạng, phức tạpnhưng có trọng điểm, họ có nhu cầu lớn đối với các sách tham khảo, đặc biệt
là tài liệu sách tham khảo nước ngoài Đây là tài liệu quan trọng giúp họ biênsoạn giáo trình, chuẩn bị bài giảng hay tìm kiếm nguồn thông tin từ các tàiliệu để thực hiện các đề tài nghiên cứu khoa học
Trang 29Nhu cầu tin của họ là tài liệu tại các phòng mượn, phòng đọc, ngoài
ra các tài liệu như: Từ điển, sổ tay, sách tra cứu…Bên cạnh đó có thể lànhững tài liệu phi ấn phẩm: Băng hình, Băng tiếng, Đĩa CD-ROM, CSDLhay các tài liệu tham khảo có giá trị với họ
- Người dùng tin là học viên cao học, nghiên cứu sinh.
Nhóm bạn đọc là các thành viên cao học, nghiên cứu sinh là lực lượngthường xuyên sử dụng Thư viện phục vụ học tập, nhiên cứu Với đối tượngnày tài liệu học sử dụng rất đa dạng: Sách tham khảo, tài liệu ngoại văn, báo,tạp chí, và nhiều nhất là các đề tài nghiên cứu khoa học, luận án tiến sĩ, luậnvăn thạc sĩ Có thể nói nhóm bạn đọc là học viên cao học và nghiên cứu sinh
là đối tượng có nhu càu về tài liệu thông tin đa dạng có trọng điểm và mụcđích rõ ràng
THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KIẾN THỨC THÔNG TIN CỦA SINH
VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC KIẾN TRÚC HÀ NỘI.
2.1 Tầm quan trọng của kiến thức thông tin trong giáo dục đại học giai đoạn hiện nay.
Triển khai kiến thức thông tin trong các trường đại học hiện nay đã vàđang được quan tâm, nhưng cũng gặp không ít khó khăn như: ảnh hưởng của
Trang 30các chính sách giáo dục với mục tiêu giáo dục của trường và của sinh viênđối với việc phát triển kiến thức thông tin; các khía cạnh liên quan đến việctích hợp kiến thức thông tin vào khung chương trình đào tạo của nhà trường.Đóng vai trò quan trọng đến các yêu cầu, nội dung và chiến lược triển khaichương trình kiến thức thông tin Nói cách khác, những người quản lý, cán
bộ thông tin - thư viện và cán bộ giảng dạy của nhà trường cần hiểu rõ kháiniệm và vai trò của kiến thức thông tin đối với bản thân và đối với sinh viên,học viên đang theo học ở nhà trường Sự đồng thuận này cần phải được phảnánh bằng những chính sách thông tin hợp lý và các chiến lược triển khai phùhợp trong việc tích hợp kiến thức thông tin vào chương trình đào tạo
Hiện nay sinh viên đang được học tập trong một môi trường rộng mở
và linh hoạt, nơi mà các kiến thức và kỹ năng xử lý, sử dụng thông tin đượcxem như nhân tố quan trọng hàng đầu Rader (1996) nhận xét: Giáo dục đạihọc cần phải được đổi mới thông qua các hình thức học tập mới để giúp sinhviên trở nên tích cực và chủ động hơn trong kỷ nguyên thông tin Đồng thờikhẳng định:
- Quá trình học tập nên hướng vào vấn đề “tương tác” và “tích hợp”,hơn là bị động và manh mún
- Học tập nên dựa trên các nguồn thông tin về thế giới thực
- Trong học tập phải dựa trên cơ sở “cộng tác”
- Phối hợp sử dụng công nghệ truyền thống và truyền thông hiện đại
trong học tập
Nhìn chung, sinh viên học viên giữ lại những gì họ nghe được trên lớptham gia tích cực vào quá trình học tập, áp dụng tri thức mới để giải quyếtcác vấn đề cụ thể Giáo viên xây dựng những kinh nghiệm học tập tích cựccho sinh viên để đám bảo mục tiêu đào tạo là tích cực và hữu ích Chính vì
Trang 31vậy, phương pháp giáo dục cần phải được nâng cấp và đổi mới nhằm đưasinh viên trở thành trung tâm của quá trình dạy và học Eskola (1998), gọiđây là “activating teaching” (giảng dạy tích cực), sinh viên phải là người tiếpnhận tri thức, xử lý và tạo ra tri thức một cách chủ động.
Điều này tất yếu dẫn tới tính cấp thiết của kiến thức thông tin trongviệc cung cấp cho sinh viên khả năng học tập suốt đời và xu thế tích hợpkiến thức thông tin Vì vậy, các cơ quan thông tin và thư viện cần xác địnhđặc điểm kiến thức thông tin của sinh viên, những nhu cầu thông tin về diệnbao phủ nội dung, tính xác thực, độ chính xác, tính cập nhật của nguồn tin
Chính vì vậy các trường cao đẳng, đại học những người quản lý, cán
bộ thông tin - thư viện và cán bộ giảng dạy của nhà trường phải nắm rõ nhucầu và hành vi thông tin của sinh viên trước khi triển khai chương trình kiếnthức thông tin Bruce (1997) cho rằng khái niệm kiến thức thông tin và cáchthức sử dụng thông tin hiệu quả (cách thức học tập) nên phổ biến rộng rãi đểsinh viên có thể hiểu một cách rõ ràng và toàn diện
Chương trình kiến thức thông tin nên được tích hợp vào khungchương trình đào tạo dựa trên yêu cầu của nhà trường về đầu ra đối với sinhviên chuẩn bị tốt nghiệp được trang bị kiến thức thông tin Do vậy hai tháchthức đối với các trường đại học:
- Cung cấp quyền truy cập đến một số lượng lớn nguồn tin và hệ thốngthông tin cho giảng viên và sinh viên
- Cung cấp cho sinh viên và giáo viên cơ hội học tập, nghiên cưu khoahọc để có thể sử dụng thông tin hiệu quả
Như chúng ta đã biết, sự phát triển mạnh mẽ từ nền kinh tế tri thức và
xã hội thông tin và những đòi hỏi mới của thị trường lao động, cũng như sựphát triển nhanh chóng của khoa học công nghệ đã ảnh hưởng sâu sắc đến
Trang 32chính sách giáo dục Có thể thấy được điều này thông qua chính sách giáodục của các trường đại học, mà cụ thể là mục tiêu giáo dục đối với sinh viêncác trường đại học và cao đẳng Điều này dẫn đến những thay đổi tích cựctrong phương pháp dạy và học đó là đào tạo theo tín chỉ- việc dạy và họcđang được đổi mới thông qua việc lấy sinh viên làm trung tâm trong công tácgiáo dục đào tạo, nhằm tận dụng tối đa nguồn thông tin sẵn có và công nghệthông tin – viễn thông Đồng thời cung cấp cho sinh viên khả năng học tậpđộc lập và hiệu quả trong suốt cả cuộc đời họ đang được xem như là mộttrong những mục tiêu của các trường đại học Hướng dẫn người học lối tưduy tích cực và giúp đỡ họ xây dựng quy trình nắm bắt phương pháp học tập,các đơn vị đào tạo cung cấp cơ sở nền tảng phát triển liên tục trong suốt sựnghiệp của sinh viên và giúp họ phát huy vai trò của mình với tư cách lànhững công dân và thành viên cộng đồng được trang bị thông tin đầy đủ.
Có thể khẳng định kiến thức thông tin cần được phản ánh trong chínhsách giáo dục của các trường đại học, cao đẳng và cho phép các trường triểnkhai chương trình kiến thức thông tin chủ động, đồng thời duy trì liên tục vàhiệu quả Do đó, tính hiệu quả của kiến thức thông tin phải được đầu tưtrong việc lập kế hoạch triển khai có tính hệ thống, nguồn nhân lực và tài lựchợp lý, sự đồng lòng nhất trí của tất cả những người tham gia quá trình giáodục Chương trình kiến thức thông tin thông qua nhu cầu về kiến thức thôngtin của sinh viên sau đó được thiết kế, triển khai và thẩm định sau khi quátrình thực hiện
Muốn thực hiện đào tạo kiến thức thông tin hợp lý, các nhà quảnlý/phát triển giáo dục, các cán bộ thông tin- thư viện và các giảng viên cầnphải hợp tác với nhau chặt chẽ Cán bộ thư viện và giảng viên đóng vai trò là