Tính cấp thiết của đề tài Trong bối cảnh biến đổi khí hậu như hiện nay, các hệ sinh thái vùng ven biển Việt Nam nói chung, vùng ven biển Quảng Trị nói riêng, đang bị biến đổi cả về mặt
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC
VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
-
TRẦN THỊ HÂN
NGHIÊN CỨU ĐẶC TRƯNG CÁC HỆ SINH THÁI RỪNG
VEN BIỂN Ở TỈNH QUẢNG TRỊ;
ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP BẢO VỆ VÀ PHÁT TRIỂN
LUẬN ÁN TIẾN SĨ SINH HỌC
HÀ NỘI- 2017
Trang 2
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC
VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
-
TRẦN THỊ HÂN
NGHIÊN CỨU ĐẶC TRƯNG CÁC HỆ SINH THÁI RỪNG
VEN BIỂN Ở TỈNH QUẢNG TRỊ;
ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP BẢO VỆ VÀ PHÁT TRIỂN
LUẬN ÁN TIẾN SỸ SINH HỌC Chuyên ngành: SINH THÁI HỌC
Trang 3i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận án "Nghiên cứu đặc trưng các hệ sinh thái rừng ven biển ở tỉnh Quảng Trị, đề xuất các giải pháp bảo vệ và phát triển" là công
trình nghiên cứu của bản thân, dưới sự hướng dẫn của TS Đỗ Hữu Thư và PGS.TS Phạm Việt Cường Các số liệu trình bày trong luận án là trung thực Một số kết quả đã được công bố đồng tác giả, phần còn lại chưa được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về những số
liệu trong luận án này
Hà Nội, ngày tháng 3 năm 2017
Tác giả luận án
Trần Thị Hân
Trang 4ii
LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian học tập và thực hiện luận án, tôi đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ tận tình của các Thầy, các Cô, các cơ quan, đơn vị hữu quan, các đồng nghiệp, bạn bè và gia đình Tôi xin trân trọng bày tỏ lòng biết ơn chân thành nhất đến:
- Quý Thầy, Cô phòng Sinh thái thực vật, Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, đã tận tình giảng dạy
và truyền đạt những kiến thức quý báu cho tôi trong thời gian học tập và thực hiện luận án
- TS Đỗ Hữu Thư (Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật, Viện Hàn lâm
Khoa học và Công nghệ Việt Nam), người Thầy đã giành rất nhiều thời gian và tâm huyết hướng dẫn nghiên cứu và giúp tôi hoàn thành luận án
- PGS.TS Phạm Việt Cường (Viện trưởng Viện Nghiên cứu Khoa học Miền Trung) đã tận tình hướng dẫn và quan tâm tạo mọi điều kiện cho tôi hoàn thành luận án
- Các đồng nghiệp ở Trung tâm KHCN Quảng Trị, Viện Nghiên cứu Khoa học Miền Trung đã tận tình giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình
thực hiện luận án
- Lãnh đạo và cán bộ Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Quảng Trị, Chi
cục bảo vệ môi trường tỉnh Quảng Trị, các Hạt Kiểm lâm các huyện Vĩnh Linh; Gio Linh; Triệu Phong và Hải Lăng đã tham mưu và cung cấp cho tôi nhiều tài liệu quý giá phục vụ quá trình nghiên cứu
- Gia đình và bạn bè đã luôn luôn quan tâm và động viên Đây là động lực
lớn cho tôi trong quá trình học tập, cũng như trong lúc thực hiện luận án
Mặc dù tôi đã có nhiều cố gắng hoàn thiện luận án bằng tất cả sự nhiệt tình và năng lực của mình, tuy nhiên không thể tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được những đóng góp quý báu của Quý thầy cô và các bạn
Trân trọng
Hà Nội, ngày tháng năm 2017
Trần Thị Hân
Trang 5iii
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1.Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 2
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 KHÁI NIỆM VÀ ĐỊNH NGHĨA 3
1.2 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÙNG VEN BIỂN TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM 6
1.2.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu vùng ven biển trên thế giới 6
1.2.2 Tổng quan hình nghiên cứu vùng ven biển ở Việt Nam 9
1.3 TỔNG QUAN VỀ HST VÙNG CÁT VEN BIỂN MIỀN TRUNG VIỆT NAM 11
1.3.1 Vị trí HST 11
1.3.2 Qui mô HST 11
1.3.3 Diện tích HST 11
1.3.4 Tổng quan tình hình nghiên cứu vùng ven biển Miền Trung 12
1.4 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÙNG VEN BIỂN QUẢNG TRỊ 21
1.4.1 Các công trình nghiên cứu vùng ven biển tỉnh Quảng Trị 21
1.4.2 Các nhân tố phát sinh tính ĐDSH vùng cát ven biển Quảng Trị 25
CHƯƠNG 2.ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ XÃ HỘI VÙNG NGHIÊN CỨU 41
2.1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN 41
2.1.1 Vị trí địa lý, hành chính 41
2.1.3 Khí hậu, thủy văn 42
2.2 ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ - XÃ HỘI 45
2.2.1 Dân số, lao động và dân tộc 45
2.2.2 Đời sống và thu nhập của người dân 45
2.2.3 Cơ sở hạ tầng và hoạt động xã hội 46
CHƯƠNG 3.ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 47
3.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 47
3.2 PHẠM VI NGHIÊN CỨU 47
3.2.1 Phạm vi địa lý 47
3.2.2 Phạm vi khoa học 47
3.3 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 47
3.3.1 Nghiên cứu hiện trạng các HST tự nhiên 47
3.3.2 Nghiên cứu đặc trưng cơ bản của khu hệ thực vật trong các HST tự nhiên 47
Trang 6iv
3.3.3 Đánh giá vai trò và giá trị của các HST tự nhiên tại vùng nghiên cứu
47
3.3.4 Dự báo xu thế biến đổi của các HST tự nhiên khu vực nghiên cứu
48
3.3.5 Đề xuất các giải pháp nhằm bảo vệ, bảo tồn và phát triển các HST tự nhiên tại vùng nghiên cứu 48
3.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 48
3.4.1 Phương pháp kế thừa số liệu, tài liệu 48
3.4.2 Các phương pháp nghiên cứu ngoài thực địa 48
3.4.3 Các phương pháp nghiên cứu trong phòng thí nghiệm 52
3.4.4 Phương pháp thành lập bản đồ 54
3.4.5 Phương pháp tính chỉ số thực vật NDVI 54
3.4.6 Phương pháp phân loại thảm thực vật của Thái Văn Trừng 54
3.4.7 Phương pháp đánh giá tính ĐDSH 55
3.4.8 Phương pháp xử lý số liệu 55
CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 56
4.1 HIỆN TRẠNG CÁC HST TỰ NHIÊN VEN BIỂN TỈNH QUẢNG TRỊ 56
4.1.1 Nguồn gốc hình thành 56
4.1.2 Phân loại 62
4.1.3 Diện tích và phân bố 68
4.2 ĐẶC TRƯNG CƠ BẢN CỦA KHU HỆ THỰC VẬT TRONG CÁC HST TỰ NHIÊN VEN BIỂN TỈNH QUẢNG TRỊ 73
4.2.1 HST rừng kín thường xanh hình thành trên đất bazan 73
4.2.2 HST rừng trên cát (HST-RTC) 84
4.2.3 HST rừng đầm lầy ngập nước ngọt (HST-RNN) 95
4.2.4 HST rừng ngập nước mặn (HST-RNM) 100
4.3 ĐÁNH GIÁ VAI TRÒ VÀ GIÁ TRỊ CỦA CÁC HST TỰ NHIÊN VEN BIỂN TỈNH QUẢNG TRỊ 106
4.3.1 Vai trò và giá trị đối với kinh tế - xã hội - môi trường và phát triển khu vực 106
4.3.2 Vai trò và giá trị của các HST tự nhiên ven biển tỉnh Quảng Trị đối với khoa học và nghiên cứu khoa học 108
4.3.3 Vai trò và giá trị trong nghiên cứu bảo tồn các HST đặc thù và độc đáo 113
4.4 DỰ BÁO XU THẾ BIẾN ĐỔI CỦA CÁC HST TỰ NHIÊN VEN BIỂN TỈNH QUẢNG TRỊ 115
4.4.1 Xu thế biến đổi theo chiều hướng tiêu cực của các HST tự nhiên ven biển tỉnh Quảng Trị 115
4.4.2 Xu thế biến đổi theo chiều hướng tích cực của các HST tự nhiên ven biển tỉnh Quảng Trị 117
4.4.3 Xác định nguyên nhân suy giảm các HST tự nhiên ven biển tỉnh Quảng Trị 119
Trang 7v
TRIỂN CÁC HST TỰ NHIÊN VEN BIỂN TỈNH QUẢNG TRỊ 125
4.5.1 Đánh gía tác động của suy giảm HST tự nhiên ven biển tỉnh Quảng Trị 125
4.5.2 Một số giải pháp bảo tồn và phát triển các HST tự nhiên ven biển tỉnh Quảng Trị 126
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ .135
1 Kết luận 135
2 Kiến nghị 136
NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN 137
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN ……… 138
TÀI LIỆU THAM KHẢO………139
Phần Phụ lục 147
Trang 8vi
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BĐKH Biến đổi khí hậu
GIS Hệ thống thông tin địa lý (Global International Systems) GPS Hệ thống định vị toàn cầu (Global Positioning System) HST Hệ sinh thái
HST-RKTX Hệ sinh thái rừng kín thường xanh cây lá rộng trên đất bazan
HST-RNM Hệ sinh thái rừng ngập nước mặn
HST-RNN Hệ sinh thái rừng ngập nước ngọt
HST-TRC Hệ sinh thái rừng kín thường xanh cây lá cứng trên cát ven biển
IUCN Liên minh Bảo tồn thiên nhiên Quốc tế (International Union for Conservation of Nature and
Natural Resources) KTMT Kỹ thuật môi trường
KT-XH Kinh tế - xã hội
N-B-S Phố sinh học tiêu chuẩn/Phổ dạng sống tiêu chuẩn (Normal Biological Spectrum)
OTC Ô tiêu chuẩn
PDS Phổ Dạng Sống
Trang 9vii
PRA Đánh giá nhanh có sự tham gia của cộng đồng (Participatory Rapia Appraisal)
KTTV Khí tượng thủy văn
SP-RCC Chương trình Hỗ trợ ứng phó với biến đổi khí hậu (Support Program to Response to Climate Change)
TVC Thực vật chính
TVNM Thực vật ngập mặn
TVTG Thực vật tham gia
UBND Ủy ban nhân dân
UNEP Chương trình Môi trường Liên hiệp quốc (United Nations Environment Programme)
UNESCO Tổ chức Giáo dục và Văn hóa của Liên hiệp quốc (United Nations Educational Scientific and Cultural Organizaion)
Trang 10viii
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1 1: Các kiểu HST thuộc vùng ven biển Việt Nam [56] 10
Bảng 4.1: Phân loại thảm thực vật ven bờ tỉnh Quảng Trị và những đặc điểm chủ yếu 63
Bảng 4.2: Phân bố diện tích các HST rừng tự nhiên ven biển Quảng Trị năm 2015 theo số liệu điều tra tại các Hạt Kiểm lâm 4 huyện 68
Bảng 4.3: Biến động diện tích các HST rừng tự nhiên từ năm 2000 đến 2015 theo số liệu điều tra tại các Hạt Kiểm lâm 4 huyện 69
Bảng 4.4: Biến động diện tích lớp phủ thực vật vùng nghiên cứu qua phân tích chỉ số NDVI 70
Bảng 4.5: Sự phân bố các taxon ở HST-RKTX 75
Bảng 4.6: So sánh hệ thực vật HST-RKTX với hệ thực vật toàn tỉnh 75
Bảng 4.7: Đa dạng họ hệ thực vật bậc cao HST-RKTX 76
Bảng 4.8: Công thức tổ thành cây gỗ tại các điểm nghiên cứu HST-RKTX 77
Bảng 4.9: Mật độ thực vật rừng HST-RKTX tại các vị trí nghiên cứu 78
Bảng 4.10: Số lượng và tỷ lệ nhóm dạng sống chính của hệ thực vật hạt kín HST-RKTX 81
Bảng 4.11: So sánh PDS của HST-RKTX Quảng Trị và phổ sinh học tiêu chuẩn của Raunkiaer (1934) 83
Bảng 4.12: Sự phân bố các taxon ở HST-RTC 84
Bảng 4.13: Các họ có nhiều loài được ghi nhận tại HST-RTC 85
Bảng 4.14: Đa dạng chi ghi nhận tại HST-RTC 86
Bảng 4.15: Công thức tổ thành cây gỗ tại các điểm nghiên cứu HST-RTC 87
Bảng 4.16: Mật độ thực vật rừng HST-RTC tại các vị trí nghiên cứu 88
Bảng 4.17: Số lượng và tỷ lệ nhóm dạng sống chính của hệ thực vật hạt kín HST-RTC 90
Bảng 4.18: So sánh PDS của HST-RKTX và HST-RTC với PDS tiêu chuẩn 92
Bảng 4.19: Sự phân bố các taxon ở HST-RNN 95
Bảng 4.20: Đa dạng taxon họ và chi hệ thực vật HST-RNN 96
Bảng 4.21: Sự phân bố và xuất hiện của các loài tại 2 điểm nghiên cứu HST-RNN 96
Bảng 4.22 : Công thức tổ thành cây gỗ tại các điểm nghiên cứu HST-RNN 97
Bảng 4.23: Mật độ thực vật rừng HST-RNN tại các vị trí nghiên cứu 97
Bảng 4.24: So sánh đa dạng hệ thực vật HST-RNM Quảng Trị với các tỉnh lân cận 102
Bảng 4.25 Mật độ TVNM thân gỗ trong quần xã ở các điểm nghiên cứu 103
Bảng 4.26: Biến động diện tích RNM qua các thời kỳ 105
Bảng 4.27:Phân bố diện tích RNM ở tỉnh Quảng Trị 105
Bảng 4.28: Giá trị tài nguyên hệ thực vật ở các HST rừng tự nhiên ven biển Quảng Trị 109
Bảng 4.29 Danh sách các loài quý hiếm được ghi nhận ở vùng ven biển Quảng Trị 111
Bảng 4.30: Ma trận biến động diện tích Rú Lịnh từ 2005-2015 122
Bảng 4.31: Danh mục các loài cây gỗ bản địa ở vùng cát ven biển Quảng Trị đề nghị trồng bổ sung, phục hồi các rú 128
Bảng 4.32: Danh mục các loài cây bụi ở vùng cát ven biển Quảng Trị đề nghị trồng bổ sung, phục hồi các rú 130
Trang 11ix
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 3.1: Bản đồ các tuyến và điểm khảo sát 51
Hình 4.1: Bản đồ chỉ số NDVI năm 2000 71
Hình 4.2: Bản đồ chỉ số NDVI năm 2015 72
Hình 4.3: Biểu đồ so sánh tỷ lệ phân bố các taxon trong ngành Ngọc lan 76 Hình 4.4: Cây Garcinia fusca tại rú Lịnh 80
Hình 4.5: Dây leo ở rú Vĩnh Tú 80
Hình 4.6: Tầng cây bụi ở rú Đưng 80
Hình 4.7: Cây con tái sinh từ hạt ở rú Lịnh 80
Hình 4.8: Biểu đồ nhóm dạng sống chính của hệ thực vật HST-RKTX 83
Hình 4.9: Biểu đồ so sánh số lượng loài của 8 họ nhiều loài 85
Hình 4.10: Rêu ở rú Hải Ba 89
Hình 4.11: Cây ký sinh ở rú Đông Dương 89
Hình 4.12: Biểu đồ nhóm dạng sống chính của hệ thực vật HST-RTC 91
Hình 4.13: Sinh cảnh trằm Trà Lộc 98
Hình 4.14: Rừng tràm ở Nhĩ Thượng 98
Hình 4.15: Rừng bán ngập ở Nhĩ Thượng 99
Hình 4.16: Cây Bần chua 101
Hình 4.17: Cây Dừa nước 101
Hình 4.18: Cây Ghi Đông dương 112
Hình 4.19: Cây Dó bầu Aquilaria crassna ở rú Lịnh 112
Hình 4.20: Cây gỗ ở rú Gio Quang 114
Hình 4.21: Cây lan Ty trụ Zeuxine grandis ở rú Vĩnh Chấp 115
Hình 4.22: cây Dó bầu bị khai thác ở rú Lịnh 123
Hình 4.23: Khai thác gỗ củi ở rú Lịnh 124
Hình 4.24: Sinh cảnh HST-RNN 125
Hình 4.25: Sinh cảnh rú Gio Thành 127
Trang 12
1
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong bối cảnh biến đổi khí hậu như hiện nay, các hệ sinh thái vùng ven biển Việt Nam nói chung, vùng ven biển Quảng Trị nói riêng, đang bị biến đổi cả về mặt diện tích, phân bố, lẫn cấu trúc nội tại, do ảnh hưởng của các tác động của con người và các nhân tố tự nhiên (khí hậu, gió bão…)
Hệ sinh thái vùng ven biển được xem là một trong những hệ sinh thái kém ổn định và dễ bị tổn thương nhất, nhưng đồng thời đây cũng là hệ sinh thái có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ vùng đới bờ trước những hiểm họa của thiên tai và biến đổi khí hậu Nhận thức được ý nghĩa của các hệ sinh thái này, Quỹ Quốc tế về
Bảo vệ thiên nhiên WWF (2008) [52], đã xếp các hệ sinh thái rừng thường xanh
trên vùng đất thấp là 1 trong 12 hệ sinh thái nhạy cảm và có nguy cơ bị đe dọa
Cho đến nay, tại vùng ven biển tỉnh Quảng Trị đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về hệ thực vật và thảm thực vật Tuy chưa được, nghiên cứu, đánh giá một cách đầy đủ, nhưng những điều tra bước đầu cũng cho thấy vùng ven biển tỉnh Quảng Trị chứa đựng tài nguyên đa dạng sinh học hiếm có của hệ sinh thái vùng cát biển của vùng khí hậu khô nóng của Việt Nam
Tuy nhiên, hầu hết các công trình nghiên cứu vùng ven biển Quảng Trị chỉ tập trung ở một vài địa điểm mang tính nỗi bật như Rú Lịnh, trằm Trà Lộc Đặc biệt, chưa có công trình nào đánh giá một cách tổng thể vùng ven biển tỉnh Quảng Trị trên quan điểm sinh thái học
Với những đặc trưng và giá trị cả về mặt khoa học, kinh tế lẫn xã hội và môi trường, các hệ sinh thái tự nhiên ven biển ở Quảng Trị cần phải được nghiên cứu, gìn giữ, bảo tồn và phát triển
Vì vậy, với mong muốn góp phần cung cấp cơ sở khoa học cho việc bảo tồn, phát triển và khai thác sử dụng nhằm phục vụ đời sống nhân dân ở địa phương
và phát triển kinh tế-xã hội trong vùng, chúng tôi đã tiến hành đề tài luận án
“Nghiên cứu đặc trưng các hệ sinh thái rừng ven biển ở tỉnh Quảng Trị; đề xuất
các giải pháp bảo vệ và phát triển”
Trang 13- Đánh giá sự đa dạng, phân loại, hiện trạng, cấu trúc và sự biến động của các
trạng thái thảm thực vật tự nhiên tại vùng nghiên cứu theo thời gian
- Góp phần làm rõ những đặc điểm về phát sinh, phát triển, tính độc đáo của một số HST tự nhiên vùng ven biển tỉnh Quảng Trị
- Góp phần bổ sung vai trò và các giá trị của HST tự nhiên vùng nghiên cứu Đồng thời, đề xuất các giải pháp nhằm bảo vệ và phát triển các HST tự nhiên ven biển ở tỉnh Quảng Trị
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
3.1 Ý nghĩa khoa học
Kết quả nghiên cứu đã bổ sung các dẫn liệu về vị trí, phân loại và tính đặc trưng, đặc hữu, tính độc đáo khu hệ thực vật các HST tự nhiên ở vùng ven biển tỉnh Quảng Trị
Luận án cung cấp cơ sở khoa học cho việc bảo vệ, bảo tồn và phát triển các HST tự nhiên ven biển tỉnh Quảng Trị
3.2 Ý nghĩa thực tiễn
Từ các kết quả nghiên cứu được, đã dự báo 3 xu thế biến đổi theo chiều hướng tiêu cực và 2 xu thế biến đổi theo chiều hướng tích cực Qua đó, đề xuất đề
Trang 143
xuất được 4 nhóm giải pháp nhằm bảo vệ và phát triển và khai thác hợp lý các HST
tự nhiên vùng nghiên cứu
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
Hiện nay, trên thế giới cũng như ở Việt Nam, vùng ven biển và các HST tự nhiên vùng ven biển là một trong những đối tượng được các nhà khoa học, các nhà quản lý quan tâm nhiều do vai trò và tầm quan trọng đối với sự phát triển kinh tế -
xã hội, an ninh quốc phòng quốc gia, vùng và lãnh thổ Vì vậy, có thể nói việc nghiên cứu đối tượng này trong thực tiễn là một vấn đề khá phức tạp, đòi hỏi nhiều phương pháp khoa học cũng như tính thực tiễn để đánh giá đúng thực trạng khu vực nghiên cứu
1.1 KHÁI NIỆM VÀ ĐỊNH NGHĨA
Hệ sinh thái (HST) là một hệ thống hoàn chỉnh, tương đối ổn định, bao gồm quần xã sinh vật và sinh cảnh (khu vực sống) của quần xã, trong đó các sinh vật tác động qua lại với nhau và với các thành phần của sinh cảnh, tạo nên các chu trình sinh địa hóa (E.P Odum, 1983)[69]
HST rừng là HST mà thành phần nghiên cứu chủ yếu là các sinh vật rừng (các loài cây gỗ, cây bụi, thảm tươi, hệ động vật và vi sinh vật rừng) và môi trường vật lý của chúng (E.P Odum, 1983)[69]
Rừng ven biển, theo Nghị định 119/2016 của Chính phủ, ban hành ngày 23/8/2016, về một số chính sách phát triển rừng ven biển, bao gồm Rừng đặc dụng, Rừng phòng hộ và đất được quy hoạch để trồng rừng phòng hộ, rừng đặc dụng ở vùng ven biển và hải đảo
Vùng ven biển (hay còn gọi là đới bờ, dải ven bờ, dải ven biển, dải bờ biển…) là một thực thể tự nhiên hoàn chỉnh cấp hành tinh, có đặc trưng riêng về
nguồn gốc phát sinh, cấu trúc, cơ cấu tài nguyên và quá trình phát triển, tiến hóa
[10] Tuy vậy, cho đến nay chưa có sự thống nhất về vùng ven biển giữa các nhà khoa học, các quốc gia, vùng và lãnh thổ, do đó, có khá nhiều khái niệm và định
Trang 154
nghĩa vùng ven biển Các nhà khoa học và các nhà quản lý thường căn cứ vào mục
đích hoặc phạm vi quản lý để định nghĩa giới hạn vùng nghiên cứu của mình [75]
Theo “Từ điển bách khoa các thuật ngữ Địa lý tự nhiên” của nhà xuất bản
Tiến bộ, Maxcova 1980, vùng ven biển được định nghĩa như sau “Vùng ven biển là dải ranh giới giữa đất liền và biển, đặc trưng bởi sự có mặt phổ biến của các dạng địa hình bờ biển cổ và hiện đại Ở dạng đầy đủ hơn, bao gồm khái niệm miền duyên hải, là dải lục địa có các thềm biển cổ, dải bờ-nơi có các dạng bờ hiện đại, và ven
bờ biển hoặc là nơi có các dạng bờ cổ bị chìm ngập” [55] Trong thực tế, cách xác
định ranh giới vùng ven biển như trên không bao quát hết được những đối tượng nghiên cứu mà các nhà khoa học và các nhà quản lý quan tâm, nhất là trong các lĩnh vực khoa học Địa lý, Kinh tế-xã hội, Kinh tế học và Nhân khẩu học…
Theo Giáo sư Joe Baker, Viện Khoa học biển Autraulia : “Vùng ven biển là vùng đất-biển kéo dài từ giới hạn phía trên của lưu vực các con song, suối…chảy vào biển, tới giới hạn của lục địa” [55], [75] Như vậy, vùng ven biển có giới hạn
rất rộng và, đối với Việt Nam thì hầu như bao trùm toàn bộ lãnh thổ quốc gia Nếu vậy, việc xác định nội dung nghiên cứu, trọng điểm nghiên cứu và quy hoạch phát triển vùng ven biển sẽ có nhiều khó khăn, không cụ thể và không sát với thực tế
Phần lớn các nước ASEAN đều dựa vào nguồn lợi tài nguyên để xác định ranh giới tương đối của vùng ven biển Malaysia và Philippine xác định ranh giới tương đối của vùng ven biển là từ vùng nước sâu 50 mét trên biển đến nơi có HST nước lợ tồn tại (khoảng 10km) Còn Bangladesh lại xác định vùng ven biển từ đường đẳng sâu 100m đến vùng nước lợ ở các cửa sông lúc triều lên, vào sâu trong lục địa khoảng 12km [75],[55]
Ở Việt Nam, khái niệm về vùng ven biển cũng đã được đề cập đến từ rất lâu, trong một số công trình khoa học liên quan đến biển và ven biển
Theo đề tài “Đánh giá kinh tế tổng hợp tài nguyên biển Việt Nam phục vụ quy hoạch phát triển kinh tế đến năm 2005”, do Viện Kế hoạch dài hạn và phân bố LLSX thực hiện từ năm 1986-1990, các tác giả xác định “Vùng ven biển bao gồm dải đất liền ven biển tạm giới hạn bằng ranh giới hành chính của các huyện ven
Trang 165
biển và phần trên biển bao gồm toàn bộ vùng biển và thềm lục địa Việt Nam (trong
đó tập trung chủ yếu vào khu vực ven bờ, từ độ sâu 50m trở vào) [55]
Đề án “Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế biển, vùng ven biển và các hải đảo Việt Nam đến năm 2000", do Bộ Kế hoạch-Đầu tư thực hiện từ năm 1995-
1996, xác định phạm vi quy hoạch bao gồm toàn bộ vùng biển, thềm lục địa thuộc chủ quyền và quyền tài phán quốc gia của Việt Nam (rộng khoảng 1 triệu km2) cùng
các hải đảo nằm trên đó và vùng ven biển, là “khu vực chịu sự tác động trực tiếp giữa biển và lục địa, tạm lấy theo địa giới hành chính của tất cả các thành phố, các huyện thị giáp biển với diện tích là 6,4 triệu ha, chiếm 19,8% diện tích tự nhiên của
chiếm ¼ dân số cả nước…” [55] Cách xác định này giúp cho việc nghiên cứu về
kinh tế-xã hội và dân cư thuận lợi nhưng hạn chế các nghiên cứu về tài nguyên thiên nhiên và điều kiện tự nhiên vì các đối tượng này không bị ảnh hưởng bởi ranh giới hành chính
Năm 2004, trong Báo cáo tổng hợp kết quả nghiên cứu của đề tài “Cơ sở khoa học cho việc phát triển kinh tế-xã hội dải ven biển Việt Nam, đề xuất các mô hình phát triển cho một số khu vực trọng điểm do Viện Chiến lược phát triển-Bộ Kế hoạch-Đầu tư thực hiện, các tác giả đã sử dụng khái niệm của Nguyễn Chu Hồi
“Dải ven biển (hay còn gọi là đới bờ biển) là khu vực chuyển tiếp giữa lục địa và biển, giữa nước ngọt và nước mặn và giữa các HST khác nhau trong dải” [55],
[26]
Thái Văn Trừng (1978,1999) [69, 68], khi nghiên cứu thảm thực vật rừng Việt Nam trên quan điểm HST, đã đưa ra một số khái niệm gần gũi cộng đồng hơn như rú, trảng hay truông Nguyễn Hữu Tứ (2007) [72], cũng sử dụng các thuật ngữ này khi xây dựng hệ thống phân loại thảm thực vật tỉnh Quảng Trị Theo đó, Rú là vùng đất có rừng tự nhiên trên cát, Trảng là vùng đất có thảm tự nhiên, hình thành
Trang 176
các quần thể ưu thế là cây thân cỏ hay cây bụi thứ sinh và Truông là vùng đất có các quần thể cây bụi hay cây gỗ chiuj hạn trên cát chiếm ưu thế Ngoài ra, còn có thuật ngữ Trằm là vùng đất trũng chứa nước, thường chỉ hình thành trong vùng cát [tương đương với đầm (ở Miền Bắc) hay bàu (ở miền Nam)]
Trong luận án này, vùng ven biển được hiểu là khu vực giới hạn giữa đường sắt Bắc Nam và bờ biển tỉnh Quảng Trị Định nghĩa Rú, Trảng và Truông theo khái niệm của Thái Văn Trừng
1.2 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÙNG VEN BIỂN TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM
1.2.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu vùng ven biển trên thế giới
HST vùng cát ven biển được sự quan tâm đặc biệt của các nhà nghiên cứu Trong các mô hình nghiên cứu diễn thế, vùng cát là địa điểm nghiên cứu lý tưởng cho các nhà sinh thái học
Sau 10 năm nghiên cứu thảm thực vật ven biển tại Morro Bay, California, hai nhà nghiên cứu Wayne T Williams and Jo Anne Williams (1984) kết luận: Các HST ven biển, bãi biển và cồn cát vốn không ổn định [91] Thảm thực vật chịu tác động lớn của gió, hơi muối, sóng biển, đặc biệt là trong những trận bão, sự bùng nổ
số lượng động vật ăn cỏ, sự bồi lấp và cát bay Tác giả chỉ ra các khả năng chống chịu của thực vật dưới các yếu tố bất lợi của môi trường Ở những vùng bị cát lấp, đầu tiên các cây thân thảo sinh trưởng tốt, chiếm ưu thế, ở vùng ít bị cát lấp hơn, kín gió hơn sẽ dần xuất hiện thêm các cây họ Đậu [91]
Theo các tác giả H Olff, J Huisman and B F Van Tooren (1993) [82], khi nghiên cứu diễn thế sinh thái tại khu vực ven biển trên đảo Schiermonnikoog thuộc biển Wadden, Hà Lan Các tác giả đã chỉ ra sự thay đổi của thảm thực vật đã được nghiên cứu trong 18 năm bằng phương tiện của các tuyến nghiên cứu cùng một gradient địa hình từ đồng bằng ẩm đến cồn khô Trong khoảng thời gian khoảng 16 năm đầu, nitơ tổng số trong lớp hữu cơ của đất tăng từ 7 đến 50 g ở đất vùng đồng bằng và từ 1 đến 15 g ở đất cát Khi hàm lượng dinh dưỡng của đất tăng sẽ kéo theo
sự gia tăng của các loài có thân cao, tán rộng, dần dần hình thành các thảm thực vật
ổn định hơn Các tác giả cũng cho biết, sự khác biệt về độ mặn, lũ lụt và độ ẩm là
Trang 18cứu trường hợp loài Triplasis purpurea, họ Poaceae, cho thấy, cát không ảnh hưởng
nhiều đến sinh trưởng phát triển của cây nhưng muối thì ảnh hưởng rất lớn Nồng
độ muối càng cao thì cây phát triển càng kém Nghiên cứu được thực hiện ở đảo Staten, New York với hai thí nghiệm, một trong nhà kính và một ngoài thực địa Tác giả còn dẫn ra một loạt các công trình nghiên cứu liên quan của các tác giả như: Oost-ing, năm 1945; Boyce, năm 1954; Barbour, 1978; Cartica và Quinn, 1980; Sykes và Wilson, 1988; Hesp, 1991; van der Valk, 1974; Barbour, DeJong, và Pavlik, 1985; Sykes và Wilson, 1990; Maun, 1994
Catherine E Bach (2001) [79], khi nghiên cứu tác động lâu dài của côn trùng ăn cỏ và bồi đắp cát ở diễn thế đồi cát đã đưa ra nhận xét: Các nghiên cứu khác đã tìm thấy ảnh hưởng của côn trùng ăn cỏ đối với diễn thế thực vật trong thời gian mà côn trùng ăn thực vật nở rộ Tuy nhiên, theo tác giả, có ít nghiên cứu theo dõi diễn thế thực vật sau thời gian bùng phát côn trùng hại và sự tác động của ấu trùng lên cấu trúc thảm thực vật trong một đồng cỏ bán khô cằn, mặc dù sự tác động này là thường xuyên
Cát bồi tụ có tác động mạnh hơn rất nhiều so với côn trùng gây hại thực vật trong ảnh hưởng đến thành phần cộng đồng thực vật và những thay đổi trong sự phong phú của thực vật, trong đó đồng ý với ý kiến các yếu tố vật lý quan trọng hơn yếu tố sinh học trong diễn thế nguyên sinh Cát bồi tụ có tác dụng rất mạnh mẽ trên tất cả các khía cạnh phản ứng của cộng đồng thực vật Những thay đổi trong sự phong phú của tất cả các loại thực vật liên quan đến bồi tụ cát qua các giai đoạn
Thành phần tỷ lệ của quần xã thực vật cũng bị ảnh hưởng bởi mức độ bồi tụ cát Khi mức cát bên trên cao 15 cm, hầu hết các ô tiêu chuẩn nghiên cứu đã tăng tỷ
lệ cây hai lá mầm, nhưng tỷ lệ cây một lá mầm giảm Tỷ lệ phần trăm cây một lá mầm giảm bởi cho rằng cây một lá mầm tăng với một tốc độ nhanh hơn trong suốt
Trang 198
nghiên cứu so với sự phong phú của cây hai lá mầm Tuy nhiên, sự tăng trưởng chung trong tỷ lệ cây hai lá mầm qua nghiên cứu rõ ràng chỉ xảy ra ở những vùng đất với các cấp cao nhất của sự bồi tụ cát, cây một lá mầm tăng với tốc độ lớn hơn nhiều so với cây hai lá mầm ở những vùng đất cát bồi tụ thấp [79]
Có ít nhất hai cách giải thích cho sự gia tăng tỷ lệ cây hai lá mầm trong khu vực với bồi đắp cát cao Đầu tiên, một số các loài hai lá mầm hàng năm, và sự bổ sung hạt giống một cách dày đặc của hệ thực vật xung quanh (Payne Maun 1984) Thứ hai, hơn một nửa trong số các loài hai lá mầm không sinh sản vô tính, trong khi một lá mầm đa số sinh sản vô tính, có lẽ tuyển dụng cây giống là quan trọng hơn so với dòng vô tính loài (Erikkson 1989) Như vậy, ít nhất là một số các cây hai lá mầm được đáp ứng nhanh chóng về giống cơ sở nảy mầm và cây giống, trái ngược với phản ứng chậm hơn bởi nhân giống vô tính của các cá thể bị vùi lấp (như có lẽ
xảy ra gần như tất cả các cây một lá mầm) Sykes và Wilson (1990) [79]
Cát bồi tụ cũng giảm độ phong phú loài trong nghiên cứu, nhưng ở các mức
độ khác nhau tùy vào độ bồi tụ của cát Đối với loài mà không có khả năng mọc lại sau khi bị vùi lấp, nếu lớp cát vùi lấp cao hơn chiều cao của cây cao nhất, sau đó là các loài có lẽ đã bị mất trong một ô nghiên cứu cụ thể Cát bồi tụ mạnh mẽ ảnh hưởng đến cá thể loài thực vật, và thay đổi trong sự phong phú vẫn tiếp tục để đáp ứng cát bồi tụ trong nhiều năm sau [79]
Báo cáo của Nick Page and Patrick Lilley (2011) [85] đã xác định được 9 mối đe dọa với các loài và sinh thái cộng đồng có nguy cơ trong các HST vùng cát ven biển, và cung cấp một bảng xếp hạng mức độ nghiêm trọng của tác nhân dựa vào đánh giá chuyên môn Các mối đe dọa đó là:
1/ Xâm lấn thực vật
2/ Phát triển ven biển
3/ Sự gián đoạn để vận chuyển bùn cát
4/ Xói lở bờ biển
5/ Biến đổi khí hậu
6/ Giải trí
Trang 20Năm 1982 Watson [90] đã lập ra một bảng phân loại thủy triều liên quan đến
sự phân vùng của các loài cây ngập mặn ở phía Tây Malaysia, cho đến nay nhiều nhà khoa học vẫn sử dụng để nghiên cứu sự phân bố các loài thuộc các khu vực khác nhau trên thế giới [32]
1.2.2 Tổng quan hình nghiên cứu vùng ven biển ở Việt Nam
Bờ biển Việt Nam trãi dài từ Bắc chí Nam nên diện tích đất cát ven biển rất lớn, 502.045 ha, chiếm 1.4% tổng diện tích tự nhiên toàn quốc, là vùng đất đang bị
sa mạc hoá do điều kiện khí hậu cực kỳ khắc nghiệt, nạn cát bay, cát trôi xảy ra thường xuyên gây khó khăn cho phát triển kinh tế - xã hội Chính vì vậy, việc cải tạo và sử dụng vùng cát được đặt ra từ rất sớm [55], [26]
Vùng biển và thềm lục địa của Việt Nam rộng gần gấp ba lần diện tích đất liền và là một trong những khu vực giàu tài nguyên, với các tiềm năng lớn về hải sản, dầu khí, năng lượng sạch và du lịch, v.v Theo một số công trình nghiên cứu đã công bố, vùng biển Việt Nam có trữ lượng nguồn lợi từ các loài động vật ước tính khoảng 32,5 tỷ tấn; trong đó, các loài cá chiếm tới 86% Những năm gần đây, sản lượng khai thác hải sản thường xuyên đạt trên 2 triệu tấn/năm Điều đáng nói là, vùng biển Việt Nam quanh năm có cá đẻ và thường phân theo đàn, hình thành các bãi cá lớn, cả ở gần bờ và xa bờ với trên 2.000 loài cá; trong đó, nhiều loài có giá trị kinh tế cao [73]
Tài nguyên sinh vật và giá trị sinh thái của vùng ven biển của Việt Nam rất
có ý nghĩa toàn cầu, cả về mặt lợi ích kinh tế lẫn nghiên cứu khoa học
Trong 30 VQG của Việt Nam có đến còn 12 VQG ở dải ven biển bao gồm: Xuân Thuỷ (Nam Định), Cúc Phương (Ninh Bình), Bến En (Thanh Hoá), Pù Mát (Nghệ An), Vũ Quang (Hà Tĩnh), Phong Nha - Kẻ Bàng (Quảng Bình), Bạch Mã
Trang 2110
(Thừa Thiên - Huế), Phước Bình, Núi Chúa (Ninh Thuận), U Minh Thượng, Phú Quốc (Kiên Giang), U Minh Hạ và Cà Mau (Cà Mau) Trong số các VQG trên thì VQG Phong Nha - Kẻ Bàng còn được công nhận là di sản thiên nhiên thế giới Cho đến năm 2011, ở Việt Nam đã được công nhận 08 khu dự trữ sinh quyển, trong đó
có tới 06 khu dự trữ sinh quyển nằm ở dải ven biển Đó là : rừng ngập mặn Cần Giờ (2000), quần đảo Cát Bà (2004), vùng ven biển đồng bằng sông Hồng (2004), vùng biển đảo Kiên Giang (2006), Cù Lao Chàm (2009), và VQG Cà Mau (2009) [73] Ngoài ra, còn có 29 Khu BTTN trong tổng số 69 Khu BTTN trên toàn quốc và 12/45 Khu bảo vệ cảnh quan [73], [26], [75]
Theo các kết quả nghiên cứu từ năm 2002 đến nay, vùng ven biển có 12 kiểu HST khác nhau, phân bố ở các vị trí khác nhau [56]
Thảm thực vật rừng ngập mặn ở huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh ở vùng triều cao có các quần xã Vạng hôi và các cây bụi; vùng triều trung có Trang, Đước, vẹt…vùng triều thấp chủ yếu là quần thể Sú
Bảng 1.1: Các kiểu HST thuộc vùng ven biển Việt Nam [56]
Phan Nguyên Hồng (1991) [24], khi nghiên cứu HST rừng ngập mặn Việt Nam đã lập được danh lục thành phần loài gồm 75 loài thuộc 2 nhóm: cây ngập mặn điển hình và cây ngập mặn gia nhập Tác giả chia hình thái thảm thực vật rừng ngập mặn Việt Nam thành 7 dạng sống cơ bản: cây gỗ (G), cây bụi (B), cây thân thảo (T), dây leo (L), cây gỗ thấp hoặc dạng cây bụi (G/B), ký sinh (K), bì sinh (B)
Trang 2211
Nguyễn Thế Hưng ((2003) [27], khi nghiên cứu đặc điểm và xu hướng phục hồi rừng của thảm thực vật cây bụi ở huyện Hoành Bồ, thị xã Cẩm Phả (Quảng Ninh) đã chú trọng xây dựng dạng sống thực vật trong các trạng thái thảm thực vật Kết quả cho thấy nhóm cây chồi trên đất có 196 loài chiếm 60,49% tổng số loài của toàn hệ thực vật; nhóm cây chồi sát đất có 26 loài chiếm 8,02%; nhóm cây chồi nửa ẩn có 43 loài chiếm 13,27%; nhóm cây chồi ẩn có 24 loài chiếm 7,47%; nhóm cây 1 năm có 35 loài chiếm 10,80%
1.3 TỔNG QUAN VỀ HST VÙNG CÁT VEN BIỂN MIỀN TRUNG VIỆT NAM
1.3.1 Vị trí HST
Hệ sinh thái vùng cát ven biển miền Trung nằm trên địa phận 11 tỉnh từ Quảng Bình đến Bình Thuận với chiều dài khoảng 600km, bắt đầu từ vĩ tuyến 10 đến vĩ tuyến 18 độ vĩ Bắc
1.3.2 Qui mô HST
Hệ sinh thái vùng cát miền Trung là những vùng đất cát đan xen với các vùng đất, cửa sông, vũng, vịnh, đầm, phá, tạo ra những vùng bãi ngang biệt lập Là một hệ sinh thái nhạy cảm, chịu nhiều tác động của thiên nhiên như bão, gió lốc, nước biển dâng, cát di động, cát bay, cát chảy, lũ lụt, hạn hán v.v [76]
Trang 2312
dụng hợp lý các giải cát ven biển miền Trung từ Quảng Bình đến Bình Thuận, Trần Văn Ý và cộng sự (2005) nêu ra con số là 337.768ha [26]
Như vậy, tuỳ theo mục đích nghiên cứu mà các tác giả đã nêu ra những con
số diện tích vùng cát khác nhau Trong số đó, chúng tôi cho rằng với diện tích 533.000 ha được Phan Liêu đưa ra là hợp lý vì đây là số liệu bao gồm không chỉ vùng cát mà cả vùng đất cát khác đã được người dân khai thác và sử dụng qua nhiều thế hệ từ trước đến nay
1.3.4 Tổng quan tình hình nghiên cứu vùng ven biển Miền Trung
Các công trình nghiên cứu về thực vật vùng cát ở miền Trung đến nay còn rất ít, nghiên cứu có hệ thống đầu tiên là công trình của Bary J.P, Lê Công Kiệt và Nguyễn Văn Thụy (1961) [29],giới thiệu về thảm thực vật ở vùng cát ven biển Cam Ranh, Nha Trang Trong đó, các tác giả đã phân chia đất cát ở đây thành 3 vùng với thảm thực vật tương ứng đó là vùng đất cát cố định, vùng cát di động và vùng cát
ẩm Từ đó, tác giả xây dựng bản đồ phân bố của các quần hệ hệ thực vật và vẽ lát cắt sinh thái cho thấy sự thay đổi cấu trúc của thảm thực vật từ mép biển vào nội địa (từ Đông sang Tây) trên vùng cát ở vịnh Cam Ranh
Tạp chí “Khảo cứu niên san khoa học đại học đường-Viện Đại học Sài gòn”
là nơi đăng tải nhiều công bố nghiên cứu về vùng ven biển Nam Trung Bộ Ngoài công trình của Nguyễn Văn Thụy và Lê Công Kiệt năm 1961, tạp chí này còn công
bố các công trình nghiên cứu về thảm thực vật trên đất xám bạc màu ở vịnh Cam
Ranh “La vegetation spammophile de la presquíle de Cam Ranh” của Lê Công Kiệt
vào năm 1962 [29] Trong bài viết “Góp phần vào sự khảo sát thực vật cảnh các đồi
cát của bán đảo Quy Nhơn” Phùng Trung Ngân và Lê Công Kiệt đã công bố danh
lục thực vật cảnh ở các đồi cát của bán đảo Quy Nhơn
Trong nhiều năm, các công trình chủ yếu nghiên cứu ở các khu vực nhạy cảm như các Vườn quốc gia, các Khu bảo tồn thiên nhiên, hoặc các khu vực được
dự kiến đưa vào các chương trình, dự án phát triển kinh tế-xã hội, cần có sự nghiên cứu về động thực vật trước khi trình phê duyệt thực hiện Các nội dung nghiên cứu chủ yếu là hệ thực vật, hệ động vật, các kiểu thảm thực vật, các động thực vật quý hiếm, có nguy cơ tuyệt chủng
Trang 2413
v Hệ thực vật
Cho đến nay có rất ít công trình nào nghiên cứu về hệ thực vật vùng cát ven biển miền Trung và phạm vi nghiên cứu hầu như chỉ giới hạn trong các VQG, Khu BTNT Có thể nêu lên một số dẫn liệu nghiên cứu hệ thực vật và thảm thực vật trong khu vực như sau:
Nghiên cứu của Trần Ngũ Phương (1970) [51], đã mô tả khu rừng Gụ mật
(Sindora siamensis) trên đất bazan, phù sa cổ ở rú Lịnh (Quảng Trị) và cho rằng
thảm thực vật ở rú Lịnh thuộc kiểu phụ thổ nhưỡng của đai rừng nhiệt đới mưa mùa
lá rộng thường xanh với độ cao dưới 200-300m
Thảm thực vật ở đèo Hải Vân ưu thế bởi các loài Dung Symplocos longifolia
và Dẻ Lithocarpus nebulorum Tuy nhiên, phần lớn diện tích trên đèo là rừng trồng, phổ biến là keo lá tràm Acacia auriculiformis, keo tai tượng A mangium và thông Pinus sp [32], [44]
Vùng cát huyện Phong Điền (tỉnh Thừa Thiên-Huế) đã xác định được 320 loài (Phan Thị Thúy Hằng, Nguyễn Nghĩa Thìn, 2009) [20], [21]
Vườn quốc gia Núi Chúa (tỉnh Ninh Thuận) có thảm thực vật nguyên sinh là rừng thường xanh, rừng nửa rụng lá và rụng lá Phần lớn rừng tự nhiên ở khu vực này đã bị phá hủy trong những năm đầu của thập kỷ 90 do khai thác quá mức Hiện nay, kiểu rừng nguyên sinh còn lại duy nhất là rừng thường xanh phân bố ở phía bắc VQG ở độ cao trên 800 m so với mặt biển Rừng thứ sinh thường phân bố ở các đai thấp hơn Phần phía nam của VQG, ở độ cao từ 150 - 800 m là các trảng cây bụi ưu thế bởi các loài cây có gai nhọn Kiểu sinh cảnh này chỉ thấy ở những vùng có khí hậu khô và nóng Đây là kiểu sinh cảnh có rất ít đại diện trong hệ thống các khu bảo
vệ cảnh quan hiện có của Việt Nam [29]
Khu BTTN Kalon-Sông Mao (Bình Thuận) có các kiểu thảm thực vật chính
là rừng thường xanh, rừng nửa rụng lá, và rừng rụng lá Rừng thường xanh được ưu thế bởi các loài thuộc họ Fabaceae, Fagaceae, Dipterocarpaceae và Sapindaceae
Rừng nửa rụng lá có ở các đai thấp, ưu thế bởi các loài Lagerstroemia calyculata, Cratoxylon sp và Peltophorum pterocarpum Các loài cây thuộc họ dầu chiếm ưu
Trang 2514
thế là Dipterocarpus tuberculatus, D obtusifolius và D intricatus Các kiểu rừng thứ sinh trong khu bảo tồn được ưu thế bởi các loài Imperata cylindrica, Saccharum sp., Spondias sp., Cratoxylon sp., Aporusa sp., Lagerstroemia calyculata và Phyllanthus emblica Có nhiều loài có giá trị kinh tế như Sao Shorea cochinchinensis, Gõ đỏ Afzelia xylocarpa, Trắc Dalbergia cochinchinesis, Giáng hương D sp., Pterocarpus macrocarpus và Vên vên Anisoptera cochinchinensis
Khu BTTN Núi Ông (tỉnh Bình Thuận) với diện tích 23.194 ha đã ghi nhận
332 loài thực vật bậc cao có mạch, trong đó có một số loài đang bị đe dọa trên toàn
cầu như Gõ đỏ Afzelia xylocarpa, Trắc bà rịa Dalbergia bariensis[62]
v Thảm thực vật
Vai trò thảm thực vật trên vùng cát rất quan trọng đối với việc bảo vệ môi trường và ổn định vùng cát Do đất cát có thành phần cơ giới nhẹ, kết cấu kém, nghèo dinh dưỡng thoát nước nhanh Đất hầu như chỉ đủ nước cho thảm thực vật vào thời kỳ mưa Sau mưa đất chuyển sang trạng thái khô hạn Hơn nữa ở miền Trung có những thời khô nóng kéo dài làm cho tính chất khô hạn của đất cát càng thêm khắc nghiệt Mùa khô ở vùng Bắc Trung Bộ khoảng 1-3 tháng nhưng ở Nam Trung Bộ kéo dài đến 7-8 tháng Do vậy, trên đất cát tồn tại kiểu rừng gồm chủ yếu cây có bộ lá cứng và dai, hệ rễ phát triển sâu để thích nghi với chế độ khô hạn Cây thường có hình dáng của cây bụi hơn là cây gỗ Khi bị khai thác rừng chuyển sang trạng thái thảm cây bụi và thảm cỏ thích nghi với khô hạn Do lửa cháy hầu như thường xuyên, cát bề mặt di động theo gió, lớp đất mặt có mùn hình thành rất chậm rừng rất khó phục hồi nên trạng thái cây bụi và cỏ khá bền vững
Thảm thực vật trên cạn:
Trang 2615
- Rừng trên các đụn cát: Rừng nguyên sinh gồm có kiểu rừng kín thường
xanh Cấu trúc rừng đơn giản gồm chủ yếu là các loài cây gỗ nhỏ và trung bình Chiều cao trung bình 8-10m, độ che phủ 0,8-1,0 Thành phần loài ưu thế trên nền cát trắng ở Hải Lăng - Quảng Trị các loài thuộc chi Castanopsis, Lythocarpus họ Dẻ (Fagaceae) Trên vùng cát pha, cát trắng ở Thăng Bình, Bình Dương, Quảng Nam,
Thuận An là Xay hẹp (Rapanea kinearis); ở Nha Trang là các loài Miliusa bangoinsis, Taxotrophis illicifolia, Phylanthus emblica, Breynia bauouinii, Breinia coreacea Sauropus villous, Fluggea virosa, Grewia hirsuta, Derris brevipes, Dallbergia discolor, Cappais beneolens, Zyziphus oenoplia, Jusminum sp., Diospyros bangoiensis, Paranium annamense, Sterospermum annmense, Odina wodier Trên đất cát có tầng kết von Fe, Mn có các loài Gardenia obtusifolius, Zyziphus oeplia, Combretum decidum, Buchanaria siamensis Ở bán đảo Cam
Ranh, theo nghiên cứu của Bary, Lê Công Kiệt và Phạm Hoàng Hộ còn có rừng kín
với các loài cây như: Táu mật (Vatica tonkinensis), Sao (Hopea sp., shorea sp.), Chai (Shorea vulgaris), Kơnia (Irvingia oliveri), Mù u (Callophyllum sainoensis), Trâm (Eugenia rubicundra), Cám (Parinarrium annamense) [62]
- Thảm cây bụi: Thảm cây bụi phân bố rộng và chiếm diện tích lớn Trên
đụn cát ở Nam Trung Bộ, cây bụi có chiều cao 2-4m, thưa, gồm những cây có lá nhỏ, chất lá cứng dai, có nhiều loài rụng lá vào mùa khô Những loài thường gặp:
Dé (Breynia bauudonii, B coriaceae), Trâm nhuộm (Eugenia tinctoria), Tiểu sim (Rhodamnia trinervia), Thập tự hoa nhỏ (Decaspermum paniculatum), Mai (Ochna pruinosa), Sóng rắng (Albizia milletia), Ma dương (Xantolis maritima), Bằng Lăng (Lagestomia sp.), các loài thuộc chi Phyllanthus, Desmodium, Randia Trên cồn
cát sát biển, ở phía sườn hướng ra biển ưu thế là các loài cây có gai như Đa tử nam
bộ (Pleispermum annmense), Da tử biển (Limnocitrus littorale) Ở Cam Ranh là Bóm (Scolopia buxfolia), Tiểu sim (Rhodamnia triinerva), Dành dành (Dodonea viscosa) Ở Quảng Bình có các thảm cây bụi cao 5-8m với thành phần chính là Xay hẹp (Rappanea linearis), Sếu (Celtis sp.), Sim (Rhodomyrtus tomentosa), Trâm
(Syzyphus sp.), Bồ cu vẽ (Breynia fructicosa.) [62]
- Thảm cỏ: Từ Quảng Bình đến Ninh Thuận có thảm cỏ cao 0,1-0,2m phân
bố thành các mảng hình thành trên các đụn cát bị mất rừng hay thảm cây bụi do
Trang 2716
hoạt động khai thác Thành phần gồm chủ yếu là các loài thuộc chi Cyperus, Fimbrritylis, Bulbotylis thuộc họ Cói (Cyperaceae), Eriachne, Eragrotis, Chrysopogon, Germainia (họ Cỏ Poaceae) Nơi gần bãi triều có thảm cỏ cao 1-3m
với đặc trưng là quần xã cỏ Chông (Spinifex littoreus) Trên cát có tầng mỏng nằm trên tầng kết von (ở Ba Ngoài ) có quần xã cỏ Dị thảo (Heteropogon contortus), Thông thiên (Aparagus cochinchinensis) mọc cùng với các loài cây bụi thuộc chi
Gardenia, Zyziphus, Combretum, Buchnania Trên đất bằng phẳng ở Vĩnh Hảo là
thảm cỏ thấp với thành phần ưu thế là Thiên nhẫn ấn độ (Perostí indica), Keo chuỗi (Cathormian umbellatum), Keo trắng (Acacia leucaphloea), Xương cá (Euphorbia tirucale) [62]
Thảm thực vật ngập nước:
- Thảm thực vật ngập nước ngọt: Nơi bằng phẳng, trũng ngập, ẩm lầy nước
ngập nông nhưng có thể cạn một thời gian vào mùa khô là thảm cỏ cao 0,5-1m với
độ che phủ 70-80% Thành phần gồm Cỏ năm (Eleocharis dulcis, E acutangula, E congesta), cỏ Lác (Cyperus cephalotes, C pilosus), Sậy (Phragmitex karka), cỏ Gừng (Panicum repens), Rau mương (Ludwidgia adcendens, L epilobioides), Trạch tả (Sagittaria guyanensis), các loài thuộc chi Polygonum Nơi nước ngập sâu
có các loài thuỷ sinh sống nổi như Thuỷ nữ nhỏ (Nymphoides hydrophyllaceum), lá Sắn (Hydrocharis dubia), Súng trắng (Nymphaea pubescens), Súng chỉ (Nymphaea tetragona), Súng lam (Nymphaea nouchali), Rau cần trôi (Ceratopterris thalictoides), Rau mác (Monochria elata); các loài sống chìm có Thuỷ thảo (Hyđrilla verticillata), Át tiên (Ottelia alismoides), Rau bát (Ottelia lanceolata), Chân thuỷ (Blyxa japonica), Lá hẹ (Blyxa aubertii), Giang thảo nhăn (Potamogeton crispus), Thuỷ kiều (Naias malasiana, N indica, N minor), Rong đuôi chồn (Ceratophyllum demersum); cây trôi nổi có Bèo lục bình (Eichlonia crassipes), Bèo dâu (Azolla pinnata), Bèo ong tai chuột (Salvinia cucullata), Bèo ong (Savania natans) [71], [62].
- Rừng ngập nước mặn: Ở khu vực bắc đèo Hải Vân rừng mọc thành các
mảng nhỏ, gồm những cây cao 4-8m, đường kính 5-10m, độ che phủ thấp (0,4-0,5) Tuỳ theo mức độ mặn mà thành phần loài thay đổi Những loài thường gặp là Bần
Trang 2817
chua (Sonneratia caseolarris), Sú (Aegyceras corniculatum), Cọc vàng (Lumnitzea racemosa), Đước vòi (Rhizophora stylosa), Vẹt dù (Bruguiera gymnorrthiza), Trang (Kandelia candel), Chọ (Myoporum bontoides), Vạng hôi (Clerodendron
inerme), Dứa dại (Pandanus sp.), Giá (Excoecaria agallocha) [71], [12], [31]
Ở khu vực nam đèo Hải Vân rừng gồm cây cao 5-10m, đường kính 5-15cm,
độ che phủ thưa Thường gặp các quần xã sau:
+ Đưng (Rhizophora mucronata) + Xu ổi (Xylocarpus grantatum) + Vẹt dù (Bruguiera gymnorrhiza) + Vẹt khang (Bruguiera sexangulata) trên đất ngập trung
bình
+ Mắm quăn (Avicennia lanata) + Mắm lưỡi đòng (Avicennia oficinalis) +
Dà vôi (Creriospe tagal) + Cóc kèn (Derris trifoliata) trên đất ngập nước nông
+ Giá (Excoecaria agallocha) + Vạng hôi (Clerodendron inerme) + Hếp (Scaevola taccada) + Cui (Herritierra littoral) + Chà là biển (Phoenix padulosa) ở
nơi đất cao
+ Dừa nước (Nypa fruticans) + Đước (Rhizophora apiculata) + Cọc vàng ((Lumnitzea racemosa) + Bần trắng (Sonneratia alba) + Đa chịu mặn (Ficus sp.)
trên đất ngập nước lợ [50], [25]
- Thảm cỏ, cây bụi trên bãi cát biển và các bãi đá ven biển:
Các bãi cát ngập triều khá phổ biến ở các cung lõm của bờ biển Trên bãi
triều thường gặp các loài Muống biển (Impomoea pesvcaparae); trên phần cao có Quan âm biển (Vitex ovata), Dừa cạn (Vinca rosea), Cỏ chông (Spinifex littoreus)
Trên các cung lồi của bờ biển chỉ có các bãi đá có một số loài cây bụi chịu gió, chịu
mặn: Hếp (Sceavola taccada), Phong ba (Messerschmidtia argentea), Dứa dại
(Pandanus sp.), Mướp sát (Cerbera manghas), Rút dế (Camsjera rhoedii) [71]
- Các quần xã thuỷ sinh ở đầm phá nước mặn:
Các đầm phá phổ biến ở ven biển Trung Bộ như Lăng Cô, Thị Nại, Cù Mông, Ô Loan, Nha Phú, Thuỷ Triều Ven bờ đầm, phá có các cây của rừng ngập
mặn như Mắm biến (Avicennia apiculata), Mám quan (Avicennia lanata), Đước (Rhizophora apiculata), Sú (Aegiceras corniculatum), Vẹt (Bruguie gymnorrhiza),
Trang 29đường (Limnocitrus littorale) + Sống rắn (Albizia corniculata ).
Dự án 661 tiến hành trồng rừng phòng hộ ở tỉnh Quảng Bình, tính trung bình mỗi năm trồng được 115 ha rừng phòng hộ chắn cát ven biển Ngoài ra, còn các dự
án khác như dự án ARCD (Dự án bảo tồn phát triển tài nguyên nông nghiệp Quảng Bình – hợp phần cố định cát) thực hiện trong giai đoạn 1998-2001 Các dự án sử dụng cây phi lao, cây keo lai là chủ yếu, và trồng thử nghiệm một số diện tích Điều ghép Nhìn chung, cơ cấu cây trồng còn rất nghèo nàn [54]
v Hệ động vật
Tương tự như hệ thực vật, cho đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu về
hệ động vật của HST vùng cát Chỉ có những nghiên cứu ở các khu bảo tồn và vườn Quốc gia thuộc khu vực miền Trung Tuy nhiên, số liệu vẫn còn rất hạn chế
Khu BTTN Kalon-Sông Mao (Bình Thuận) đã ghi nhận rằng trước năm 1986
có các các loài thú lớn như voi Elephas maximus và Bò tót Bos gaurus xuất hiện với
mật độ cao trong vùng Theo người dân Bò tót vẫn còn có ở đây trong các năm 1988
- 1989 nhưng từ 1992 thì không còn loài này nữa Các loài động vật hiện có thể vẫn
còn tồn tại trong vùng có Mang lớn Megamuntiacus vuquangensis, Mang Muntiacus muntjak, Nai Cervus unicolor, Vượn má hung Hylobates gabriellae, Voọc vá Pygathrix nemaeus (có thể là loài phụ Voọc vá chân đen P n nigripes), Voọc bạc Trachypithecus cristatus, Khỉ mặt đỏ Macaca arctoides, Báo gấm Pardofelis nebulosa, Gấu ngựa Ursus thibetanus, Gấu chó U malayanus và Sói đỏ Cuon alpinus Theo thông tin phỏng vấn trong thời gian khảo sát nhanh thì một số loài chim quan trọng đối với bảo tồn như Công Pavo muticus, Gà lôi hông tía L diardi, Hồng hoàng Buceros bicornis cũng được ghi nhận trong vùng [62].
Trang 3019
Theo Phạm Nhật (1994) [86], VQG Núi Chúa có các loài chim và thú có tầm
quan trọng bảo tồn Quốc tế như Voọc vá chân đen Pygathrix nemaeus nigripes, Cu
li nhỏ Nycticebus pygmaeus, Gấu ngựa Ursus thibetanus, Gấu chó U malayanus và Mang lớn Muntiacus vuquangensis và Gà lôi hông tía Lophura diardi Hiện nay,
chưa có công bố nghiên cứu nào về sự tồn tại cũng cũng như số lượng các loài này
Ở khu BTTN Núi Ông có 52 loài thú, 96 loài chim, 21 loài bò sát, 7 loài ếch nhái và 22 loài cá đã được ghi nhận Trong đó, có nhiều loài bị đe dọa tuyệt chủng
trên toàn cầu như Voọc vá chân đen Pygathrix nemaeus nigripes và Vượn đen má hung Hylobates gabriellae (Anon 1992) Tuy nhiên, tình trạng của các loài này tại
hiện nay cần phải xác định rõ [62]
Về lĩnh vực phân loại và sinh thái của thực vật vùng cát, Đỗ Xuân Cẩm là người có nhiều công trình nghiên cứu đặc biệt là tại các vùng cát ở tỉnh Thừa Thiên Huế Năm 2001, khi nghiên cứu ở huyện Phong Điền và Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế ông đã ghi nhận được 257 loài thực vật thuộc 195 chi và 95 họ khác nhau Tác giả còn kết luận hai huyện này có ít nhất 6 kiểu HST khác nhau, trong mỗi kiểu đó thành phần chủng loại thực vật thể hiện tính đặc thù khá rõ nét [6]
Năm 2007, Phan Thúy Hằng, thực hiện đề tài “Đánh giá hiện trạng thảm thực vật ở vùng cát huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế” đã bổ sung 136 loài
thực vật và cho thấy cấu trúc thảm thực vật tự nhiên vùng cát huyện Phong Điền gồm có 10 kiểu khác nhau, phân bố trên các vùng cát di động, cát cố định và cát ẩm Tác giả còn đánh giá đa dạng về mặt tài nguyên và vấn đề bảo tồn, phát triển bền vững thảm thực vật vùng cát [20]
Trong quá trình nghiên cứu, Đỗ Xuân Cẩm cho rằng, rú cát tự nhiên ở các vùng cát nội đồng Thừa Thiên Huế là sinh cảnh bị thoái hóa cần được phục hồi và bảo tồn [5] Theo ông, rú cát có vai trò sinh thái quan trọng đối với vùng cát nội đồng, rú cát tạo điều kiện cho nhiều loài cây trồng dễ sinh trưởng và phát triển, làm cho tiểu khí hậu ô hòa, ẩm độ bề mặt tăng đáng kể, mức độ xói mòn đất giảm, nạn cát bay, cát chuồi được ngăn chặn
Một số giải pháp được Đỗ Xuân Cẩm đề xuất nhằm phục hồi và phát triển bền vững HST vùng cát nội đồng thuộc tỉnh Thừa Thiên Huế là giải pháp phục hồi
Trang 3120
mở rộng rú cát có sự tham gia của cộng đồng, giải pháp trồng rừng hỗn loài mô phỏng tự nhiên có sự tham gia của cộng đồng, giải pháp bảo tồn đa dạng sinh học, giải pháp quản lí bảo vệ có sự tham gia của cộng đồng [7]
Đỗ Xuân Cẩm (2004) [5], phân chia rú cát nội đồng Thừa Thiên Huế thành 3 dạng chính đi kèm với các quần xã thực vật điển hình như sau:
Rú khô hạn: Dạng rú này thường gặp ở các đồi cát cao, quanh năm khô
Dưới những rú này tầng đá kè xuất hiện sâu (> 3m) Ở dạng rú này tồn tại ba hội đoàn (quần hợp) thực vật (association végétale - plant association) - Hội đoàn Dẻ lá
bóng (Lithocarpetum polystachyi) - Hội đoàn Cà ổi (Dẻ gai Ấn Độ) (Castanopsetum indicae) - Hội đoàn Xăng mã (Carallietum integerrimae)
Rú bán khô hạn: thuộc loại hình rú này có một hội đoàn thực vật chính là Rõi mật (Garcinietum ferreae)
Rú ẩm: loại hình này thường được gặp ở các vùng đất ven trằm, bàu Đất đai
ở đây thường ẩm ướt, kể cả mùa nắng hạn, ẩm độ đất trong rú cũng không quá kiệt, vào mùa mưa đôi nơi còn có cả thời kì ngập nước Hội đoàn thực vật đại diện cho
loại hình rú này là Trai nước (Fagraeetum fragantis)
Về thảm thực vật chỉ thị cho vùng đất cát nội đồng Phong Điền, Đỗ Xuân Cẩm cho rằng có 9 hội đoàn, đó là hội đoàn chỉ thị khô hạn toàn phần, hội đoàn chỉ thị bán khô hạn, hội đoàn chỉ thị đất chua ẩm nhiều tháng trong năm, hội đoàn chỉ thị đất chua úng quanh năm, các hội đoàn chỉ thị đất ẩm có thời kì ngập nước, hội đoàn chỉ thị đất ngập nước có mực nước cạn, các hội đoàn chỉ thị đất ngập nước sâu, hội đoàn chỉ thị đất canh tác, hội đoàn rú cát[6]
Sự thích nghi của thực vật với điều kiện vùng cát khắc nghiệt cũng được nghiên cứu Nguyễn Khoa Lân, Lê Văn Đức (2008), nghiên cứu sự thích nghi đa dạng của thực vật vùng rú cát nội đồng ở Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế [30]
Tác giả Thiều Lê Phong Lan nghiên cứu thảm thực vật khô hạn ven biển huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận đưa ra kết luận: Hệ thực vật ven biển tỉnh Ninh Thuận chịu ảnh hưởng mạnh mẻ của điều kiện khí hậu khắc nghiệt, đất đai khô cằn, thiếu nước nên các loài thực vật có hình thái thích nghi đặc biệt như thân có vỏ dày,
Trang 3221
có nhiều u nhỏ, có gai…lá có gai cứng, dày, láng, lá biến thành gai chỉ có những loài ưa sáng, chịu hạn thuộc các họ Rubiaceae, Anacardiaceae, Capparaceae, Euphorbiaceae, Flacourtiaceae, Verbenaceae, Rutaceae mới phát triển [29]
1.4 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÙNG VEN BIỂN QUẢNG TRỊ
1.4.1 Các công trình nghiên cứu vùng ven biển tỉnh Quảng Trị
Từ 1990- 1995, với đề tài “Chống cát bay, cát lấp, cải tạo môi sinh vùng cát Quảng Trị” tiến sỹ Hoàng Phước đã nghiên cứu thành công, xây dựng ô sinh thái
trên vùng cát để chế ngự nạn cát bay, cát lở ở Quảng Trị Nhờ đó, 2.000 ha cát trắng
ở Quảng Trị đã bắt đầu được sử dụng cho trồng trọt [49]
Năm 2000, Trung tâm điều tra qui hoạch thiết kế Nông – Lâm tỉnh Quảng Trị tiến hành dự án: “Bảo tồn khu rừng Văn hóa – Môi trường rú Lịnh, huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị” Kết quả điều tra đã công bố danh lục thực vật có khoảng 200 loài, trong đó có 192 loài đã xác định được, thuộc 70 họ, gồm 186 loài hạt kín Trong đó các họ có số loài nhiều nhất là họ Thầu dầu (Euphorbiaceae) có 23 loài,
họ Cà phê (Rubiaceae) 10 loài và họ Long não (Lauraceae) 8 loài [67]
Năm 2005, Trần Đình Lý và nnk [36] đã trình bày hiện trạng thảm thực vật trên vùng cát hai tỉnh Quảng Bình và Quảng Trị gồm các quần hệ rừng kín, lớp quần hệ rừng thưa, lớp quần hệ cây bụi và lớp quần hệ cỏ Lớp quần hệ rừng kín
ngoài rừng trồng còn có các rú có thành phần cây gỗ chủ yếu là: Mù u (Callophyum inophyllum), Tran (Gluta megalocarpa), Cừa (Garania sp.), Dẻ gai (Castanopsis ceratacantha), Dẻ trơn (Lythocarpus obovatifoliu), Trâm bù gỗ (Syzygium bracteatum), Bứa cát (Garcinia scheferi) Lớp quần hệ rừng thưa là rừng trồng Phi
lao, Bạch đàn Lớp quần thệ cây bụi trên vùng cát khô hạn thường gặp các loài Mồ
ca (Buchanaria reticulata), Sơn mảnh (Gluta gracilis), Sừng trâu (Tabernaemontana bufallina), Bồ cu vẽ (Bridelia monoica) Trên vùng cát ẩm thường gặp các loài Mua (Melastoma normale), Dành dành (Gardenia angustifolia),
Vọt, Nắp ấm Lớp quần hệ cỏ gồm nhiều loài cỏ thuộc họ Cói (Cyperaceae), họ
Cỏ Poaceae và nhiều họ khác, như Cỏ dùi trống (Eriocaulon annamense), Củ éo (Aneilemen versicola), An điền sắc (Heduotis capitelata)
Trang 3322
Nguyễn Trường Khoa (2002) [28], trong luận án tiến sĩ “Đặc điểm môi trường và tài nguyên đất ngập nước, biện pháp quản lý khai thác và bảo vệ môi trường đất ngập nước các cửa sông tỉnh Quảng Trị” đã kiểm kê được đất ngập
nước (ĐNN) ở Quảng Trị có diện tích 481.339.800 m2, với 8 loại khác nhau, phân
bố dọc theo phía đông sát biển, ở vùng đồng bằng cửa sông của 2 sông chính là sông Thạch Hãn và sông Bến Hải Tài nguyên sinh vật khu vực ĐNN cửa sông Bến Hải có 393 loài thực vật Các loài TVNM có số lượng tương đối nhiều, đã xác định được 20 loài trong số 28 loài TVNM thuộc vùng III Tài nguyên sinh vật cửa sông Thạch Hãn có 403 loài thực vật Có 22 loài TVNM so với 28 loài ở vùng III, trong
đó có loài Dừa nước (Nypa Fruitcans) là loài ngập mặn mà trước đây vẫn cho rằng
chúng có giới hạn phân bố thấp thuộc vùng phân bố từ phía nam đèo Hải Vân [28]
Bằng phương pháp viễn thám và GIS, Nguyễn Trường Khoa và cộng sự cũng đã chứng tỏ quá trình phát triển kinh tế-xã hội có ảnh hưởng rõ nét đến ĐNN cửa sông Quảng Trị Ảnh hưởng này thể hiện rõ nhất ở vùng ĐNN sông Cánh Hòm Trong 10 năm, từ 1989 – 1999 đã khai thác 480 ha trong số 1.120 ha đất hoang hóa và rừng ngập mặn để canh tác lúa nước Quá trình ngọt hóa đã làm thay đổi hoàn toàn chất lượng nước của sông Cánh Hòm, dẫn đến các loài sinh vật ưa lợ-mặn không thể tồn tại trong khu vực Diện tích rừng ngập mặn ở đây nay chỉ còn lại dấu vết (tồn tại dưới dạng các đám cây bụi nhỏ ven bờ) Rừng ngập mặn tự nhiên tương đối tập trung trong vùng nghiên cứu chỉ còn sót lại ở 4 điểm, diện tích hẹp nhất là 4,0 ha Tuy nhiên số loài và số lượng cá thể cũng đang bị suy giảm nhiều Diện tích một số kiểu ĐNN khác cũng có sự biến động mạnh mẽ Vùng bãi bồi ven sông, cửa sông giảm 154,54 ha, diện tích đất cát khô giảm 1.739 ha, diện tích ĐNN khác giảm gần
700 ha [28]
Năm 2009, Nguyễn Hữu Tứ và Vũ Anh Tài [72] kế thừa các công trình đã
có, cùng với các tư liệu khảo sát của bản thân trong những năm 1995-2007, đã hệ thống lại và mô tả thảm thực vật ven bờ các tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên Huế gồm 32 đơn vị, được chia thành 2 nhóm chính là thảm thực vật tự nhiên
và thảm thực vật trồng Thảm thực vật tự nhiên chia theo các vành đai nhiệt đới và á nhiệt đới Ở vành đai nhiệt đới (<800m ở Quảng Bình và <900m ở Thừa Thiên - Huế), trên đất địa đới (tầng dày, thoát nước tốt) có các đơn vị từ 1 đến 5 Trên đất
Trang 3423
phi địa đới (tầng mỏng, thoát nước nhanh) có các đơn vị từ 6 đến 10 Trên đất nội địa đới ngập nước ngọt ở vùng đồng bằng, ven sông suối với nền đáy phù sa hiện đại ngập định kỳ có các đơn vị từ 11 đến 14, trên than bùn và cát ẩm khá đặc sắc là các đơn vị từ 15 đến 19 Thảm thực vật ngập mặn có các đơn vị từ 20 đến 24 Thảm thực vật trên vành đai nhiệt đới gồm các kiểu từ 25 đến 27 Còn lại là các đơn vị
hệ thực vật Quảng Trị còn có 48 loài chỉ phân bố ở Quảng Trị và một vài điểm ở nước ngoài Về ý nghĩa khoa học: nếu như thảm thực vật Quảng Trị không được bảo tồn thì các loài này sẽ bị biến mất đi trong hệ thực vật Việt Nam Cũng theo tác
giả Đỗ Hữu Thư, các loài Gụ mật Sindora siamensis, Trầm hương Aquilaria crassna đã được bảo tồn tốt và có thể gây trồng trên đất bazan ở Rú Lịnh
Trần Thị Hân và Phạm Quỳnh Mai (2013) [15] ghi nhận 3 loài thực vật bắt mồi độc đáo, chỉ gặp ở HST đất cát ven biển Quảng Trị, Quảng Bình Đó là cây
Gọng vó Drosera indica – ưa ẩm thường gặp ở những nơi bằng phẳng tích nước khi
có mưa, cỏ Tỹ gà D bunami – ưa khô, có khi mọc cả trên những đồi trọc xói mòn mạnh, trơ sỏi đá, và cây Nắp ấm Nepenthes annamensis – mọc nhiều dọc các khe
nước trong hệ thống các cồn cát trắng vùng Quảng Trạch và Lệ Thủy (Quảng Bình), Gio Linh, Triệu Phong (Quảng Trị)…Các tác giả cũng nhận định vùng đất cát Quảng Trị là một vùng sinh thái tương đối nghèo về đa dạng sinh vật và có nhiều hạn chế đối với canh tác nông lâm nghiệp và đời sống của con người Đất cát biển
là loại đất xấu, có phản ứng ít chua, nghèo chất hữu cơ, nghèo đạm và các chất dinh dưỡng khác
Trang 3524
Hoàng Xuân Thảo và Ngô Thị Diễm My (2014) [58], công bố danh lục gồm
200 loài thực vật hạt kín thuộc 46 bộ, 72 họ và 142 chi ở xã Hải Dương, huyện Hải
Lăng Trong đó, có 2 loài có tên trong Sách Đỏ Việt Nam (Sindora tokinnensis, Viscum indochinensis) và 1 loài mới (Hoya hanhiae) vừa được Phạm Văn Thế và
cộng sự (2014) [86] xác định là loài mới cho khoa học Đặc biệt, có 4 loài (Salacia reticulata; Nymphoides montana; Pseuderanthemum polyanthum; Hoya kerrii) chưa
có trong Thực vật chí của Việt Nam và 22 loài chưa định được tên khoa học
Trần Thị Hân và nnk (2015) [17], nghiên cứu tính đa dạng thực vật ở vùng cát ven biển tỉnh Quảng Trị đã ghi nhận được 486 loài thuộc 296 chi trong 106 họ Trong đó họ đa dạng loài nhất là họ Cói (Cyperaceae) gồm 32 loài, chiếm 6,58 %, chi đa dạng loài nhất là chi Hedyotis gồm 11 loài, chiếm 2,26 %
Hoàng Xuân Thảo (2015) [58] nghiên cứu thành phần loài, sự phân bố và biến động về thành phần loài thực vật có hoa theo mùa tại vùng đất cát ngập nước ở
xã Hải Dương Các kết quả cho thấy thành phần loài thực vật ở đây tương đối phong phú, có 56 loài thuộc 40 chi, 28 họ và 17 bộ, chúng phân bố không đồng đều theo sự biến động của mực nước Trong 56 loài phân bố ở đây, có 33 loài hiện diện trong cả mừa mưa lẫn mùa khô, 6 loài chỉ xuất hiện vào mùa mưa và 17 loài chỉ xuất hiện vào mùa khô
Hồ Ngọc Đức (2012) [14] nghiên cứu hiện trạng và đề xuất giải pháp quản lý RNM ở một số vùng cửa sông, tỉnh Quảng Trị [8]; nghiên cứu của Lê Tân Phú (2013) [130] về RNM ở xã Triệu Phước: Điều tra hiện trạng và trồng thử nghiệm một số loài TVNM ở xã Triệu Phước, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị Năm
2009, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Quảng Trị [131] đã nghiên cứu và triển khai dự án trồng cây chắn sóng đê Bắc Phước từ km 5+410 ÷ km 6+400 và đê Hữu Thạch Hãn từ km 0 ÷ km 4+300 huyện Triệu Phong
Trần Thị Hân, Đỗ Xuân Cẩm và Nguyễn Trường Khoa (2015) [18], nghiên cứu cây thân gỗ ở vùng cát Quảng Trị và đề xuất danh lục gồm 34 cây gỗ và 34 cây bụi có thân gỗ có thể đưa vào trồng rừng phòng hộ ven biển, bằng phương pháp nhân giống nhân tạo hoặc tái sinh tự nhiên bằng chồi hoặc hạt
Trang 3625
Trần Thị Hân và nnk (2013-2015) [19], [16], thử nghiệm xây dựng các mô hình canh tác phù hợp với tình hình ô nhiễm môi trường do nuôi trồng thủy sản và phù hợp bối cảnh biến đổi khí hậu (BĐKH) như mô hình trồng xen Rong sụn
(Kappaphycus alvarezii) trong hồ nuôi tôm tại Gio Linh, mô hình di thực cây Quinoa (Chenepodium quinoa) tại Vĩnh Linh
Nhìn chung, các nghiên cứu vùng cát ven biển Quảng Trị từ trước đến nay chỉ mang tính chuyên biệt để làm cơ sở phục vụ cho các mục tiêu cụ thể như xây dựng các khu bảo tồn, khu bảo vệ cảnh quan hoặc phục hồi các sinh cảnh cho phát triển kinh tế - xã hội Nghiên cứu về HST tự nhiên cũng mới chỉ là xây dựng dẫn liệu ban đầu, tập trung vào những đối tượng nhạy cảm như vùng cửa sông, HST đất ngập nước hoặc nghiên cứu ở mức tổng quát về thảm thực vật trong đó có những nội dung liên quan đến HST tự nhiên như số lượng loài thực vật ngập mặn, thực vật vùng cát, các tiềm năng phục hồi Nghiên cứu các giải pháp phòng ngừa ứng phó với biến đổi khí hậu Chưa có một nghiên cứu nào chuyên sâu và có hệ thống về nguồn gốc phát sinh, sự đa dạng, độc đáp các HST tự nhiên ở vùng ven biển Quảng Trị
1.4.2 Các nhân tố phát sinh tính ĐDSH vùng cát ven biển Quảng Trị
Quảng Trị nói chung và vùng ven biển Quảng Trị nói riêng, là vùng lãnh thổ
có tính ĐDSH cao, mang nhiều yếu tố đặc thù, đặc hữu và độc đáo do những nhân
tố phát sinh tính ĐDSH có nhiều nét đặc trưng riêng Trong những nhân tố này thì nhân tố địa lý, địa hình; khí hậu-thuỷ văn-thuỷ triều; đá mẹ-thổ nhưỡng; khu hệ thực vật và tác động của con người là những nhân tố có tầm quan trọng đặc biệt [62], [71]
1.4.2.1 Nhân tố địa lý - địa hình
Tỉnh Quảng Trị nằm trên khu vực sườn Đông của dãy Trường Sơn tiếp giáp với biển Nhìn tổng quát, địa hình Quảng Trị như một mái nhà nghiêng dần từ Tây sang Đông, với một viền mép hơi bằng gồm đồng bằng và bãi cát, đụn cát ở vùng thấp ven biển
Trang 3726
Dải đồng bằng hẹp, phân bố ở hạ lưu các sông, được hình thành bởi phù sa các sông Thạch Hãn, Bến Hải, độ cao dưới 10m Cũng như các khu vực ở miền Trung, đồng bằng bị xen kẹp giữa vùng đồi núi ở phía Tây và vùng cát ở phía Đông Các đoạn sông trong đồng bằng đều chạy song song với bờ biển trước khi nhập với dòng chính (có hướng vuông góc với bờ biển) Do địa hình bằng, thoát nước chậm, sông thường gây lụt và tạo nên nhiều vùng trũng tích nước quanh năm trên đồng bằng
Trừ khu vực Mũi Lài, nơi đá bazan ăn lan ra biển, bờ biển Quảng Trị hầu hết
có các địa hình cát bao bọc Tại khu vực ven biển phía Bắc (thuộc huyện Vĩnh Linh), chỉ có các đụn cát ven biển cao 20-30m, rộng 1-1,5km Tại phía Nam, các bãi cát, đụn cát ven biển, ngăn cách đồng bằng phù sa và biển, kéo dài từ Cửa Tùng đến phía Nam tỉnh, rộng khoảng 3-5km, cao dưới 20m Địa hình cát đôi chỗ ăn sâu vào nội địa (cát nội đồng) tới 10km Cát di động phân bố ở ven biển và một vài điểm trong nội đồng như Vĩnh Trung, tạo nên đồi cát 71m, ở Gio Thành, Gio Mỹ 28-31m Địa hình vùng cát về cơ bản là phẳng, thấp Do nguồn nước sông cung cấp và địa hình bằng, nước ngầm trong vùng cát khá lớn Theo số liệu của đoàn địa chất
708, trữ lượng khai thác nước ngọt khoảng 1000m3/km2/ngày Với những năm có
3-4 tháng hạn (1993, 1998) mực nước ngầm vào cuối mùa khô vẫn còn tồn tại ở độ sâu 50-130cm [62]
Vùng cát ven biển tỉnh Quảng Trị có độ cao không lớn, xen kẽ với các đồng bằng tạo thành một bậc thềm trữ nước Khác với các vùng cát của tỉnh Quảng Bình, Quảng Nam tuy có một khí hậu tương tự nhưng luôn luôn khô hạn, đất cát ở Quảng Trị có mức độ ẩm cao hơn nhiều, vì gần mực nước ngầm Nhiều chỗ tạo thành các vùng trũng ngập nước theo mùa và đôi chỗ tạo thành các đầm lầy Các đụn cát di động hình thành do gió tuy diện tích không lớn nhưng điển hình với độ cao lớn Chúng nằm trong nội đồng cách xa biển Trong khi ở các vùng lãnh thổ ven biển khác, đụn cát thường phân bố sát biển
Thảm thực vật trên cát, trong các đầm lầy ven biển còn được bảo tồn khá tốt
ở Quảng Trị, đặc trưng cho quá trình tác động phối hợp sông-biển và sự tác động
Trang 38và đồng bằng người ta có thể tìm thấy các dải cây đặc trưng cho vùng ngập nước ngọt như các loài cây trong chi Lộc vừng Barringtonia Đặc biệt, cây Tràm
Melaleuca leucadendra với khả năng chịu hạn tốt, còn lấn tới vùng đồi và các đụn
cát không ngập nước
Địa hình có vai trò nhất định trong việc hình thành các khu vực rừng ngập mặn Bờ biển của Quảng Trị chỉ có một đảo nhỏ che chắn ở khoảng cách khá xa bờ (đảo Cồn Cỏ), nên sóng tác động gần như trực tiếp lên bờ, hạn chế sự phát triển thực vật ngập mặn Rừng ngập mặn ở tỉnh Quảng Trị chỉ phát triển dọc sông, nơi
khuất sóng với các đám nhỏ[71]
1.4.2.2 Nhân tố khí hậu-thuỷ văn-thuỷ triều
Sinh khí hậu là yếu tố chủ đạo quyết định diện mạo, cấu trúc của thảm thực vật Tính chất của sinh khí hậu được đặc trưng bởi các yếu tố nhiệt, ẩm Trên lãnh thổ tỉnh Quảng Trị có hai loại sinh khí hậu chính: nhiệt đới mưa ẩm ở vùng thấp có
độ cao địa hình dưới 800m; á nhiệt đới mưa ẩm ở các nơi có độ cao trên 800m trở lên trừ một vài đỉnh núi Các đỉnh núi ở độ cao trên 1500m có điều kiện thời tiết đặc
biệt: luôn lạnh và mưa ẩm [22]
Sinh khí hậu nhiệt đới mưa ẩm được đặc trưng bởi nhiệt độ tương đối cao, có mùa đông ngắn, lượng mưa từ vừa đến nhiều, mùa khô ngắn, không khắc nghiệt Theo số liệu về khí tượng và các tài liệu đã công bố có thể khái quát đặc điểm của sinh khí hậu như sau:
- Chế độ nhiệt: nhiệt độ trung bình (t0C) năm >200C; mùa đông kéo dài 1
tháng (tháng I) ở vùng thấp, nhưng không có tháng lạnh (t0C < 180C), kéo dài 5 tháng ở vùng cao 800m (từ tháng XI- III), có 3-4 tháng lạnh; nhiệt độ tháng lạnh
Trang 39Chi tiết hơn, chế độ sinh khí hậu vùng ven biển có thể phân chia nhỏ theo lãnh thổ:
- Khu vực Cửa Việt, ven biển thuộc Vĩnh Linh có lượng mưa vừa (1500 - 2500mm), không có mùa lạnh, nhiệt độ tháng thấp nhất trên 200C, mùa khô ngắn dưới 2 tháng, xảy ra muộn (Tháng III, IV)
- Đại đa số diện tích phần trung du của tỉnh với độ cao dưới 300m, khu vực
Rú Lịnh, khu vực đồng bằng phía Nam mưa nhiều (>2500mm), có mùa đông không lạnh, không có tháng lạnh, mùa khô ngắn dưới 2 tháng (tháng II, III) Riêng khu vực phía Nam tỉnh hầu như không có tháng khô
Trong sinh khí hậu nhiệt đới mưa ẩm, trên đất địa đới sâu dày, thoát nước tốt
có kiểu thảm thực vật đặc trưng là rừng kín cây lá rộng thường xanh nhiệt đới ẩm Tính chất nhiệt đới không điển hình (biên độ nhiệt độ năm lớn, mùa lạnh còn khá dài ở vùng cao) cũng thể hiện rõ trong cấu trúc của rừng này Mùa lạnh đã tạo nên
sự pha trộn thành phần loài của các khu hệ thực vật đặc trưng cho vùng nóng ẩm ở
phía Nam và các khu hệ thực vật đặc trưng cho vùng lạnh ẩm ở phía Bắc [13]
Loài Gụ mật Sindora siamensis tạo thành một khu rừng khá thuần loài trên đất bazan đỏ ở Rú Lịnh Các loại cây thuộc họ Dầu Dipterocarpaceae đặc trưng cho
kiểu phụ miền thân thuộc khu hệ thực vật vùng nóng ẩm Malaixia – Indonexia cũng
có mặt trong khu vực nhưng ít khi lập thành quần xã thuần loài Loài Dầu rái
Dipterocarpus alatus trước đây có mặt trong rừng ở Rú Lịnh với kích thước lớn Loài Táu duyên hải Vatica mangachapoi subrp obtusifolia, gỗ nhỏ 8m, tạo thành
ưu hợp trên cát trắng ở Hải Lăng Trong họ này còn có các loài Dầu cát
Dipterocarpus costatus, Dầu cà luân D hasseltii, Sao đen Hopea odorata nhưng
không thấy tài liệu nào nói đến sự tạo thành ưu hợp của chúng Loài Kiền kiền phú
Trang 4029
quốc Hopea pierrei mọc ưu thế ở Tây Thừa Thiên Huế và có ở Lệ Thủy (Quảng
Bình) nhưng lại không có mặt ở Quảng Trị [38], [36]
Có thể thấy ảnh hưởng của khí hậu đến cả thảm thực vật trên đất phi địa đới Trên đất cát của Nam Quảng Trị - Bắc Thừa Thiên – Huế, tồn tại kiểu rú kín cây lá
cứng với ưu thế của loài Táu duyên hải Vatica mangachapoi subrp obtusifolia đặc
trưng cho khu vực nóng ẩm và các loài Dẻ đặc trưng cho vùng núi mát ẩm như Kha
thụ sừng nai Castanopsis ceratacantha, Dẻ núi dinh Lithocarpus dinhensis, Dẻ cát Lithocarpus sabulicolus… Các cây Dẻ ít dần về phía Nam của khu vực này và cây Táu duyên hải, Sơn quả to Gluta megalocarpa không thấy ở phía Bắc Quảng Trị
[71], [68]
Mùa khô tuy ngắn nhưng cũng tạo điều kiện cho một số loài đặc trưng cho các khu vực khô nóng, thường rụng lá, xâm nhập vào thành phần loài của rừng ở khu vực Lao Bảo, nơi có mùa khô rõ nét hơn cả ở tỉnh Quảng Trị Một số loài thuộc
họ Bàng Combretaceae như Bàng hôi Termilania bellirica, Chò nhai Anogeissus acuminata, Trâm bầu lông Combretum pilosum; một số loài thuộc họ Cỏ roi ngựa Verbenaceae như Lõi thọ Gmelina arborea; họ Gạo Bombaceae như Gạo Bombax malabaricum; họ Săng lẻ Lythraceae với một số loài Săng lẻ Lagerstroemia spp
Đây cũng chính là các loài mà Thái Văn Trừng cho là đại diện của luồng di cư từ khu vực khô nóng Ấn Độ - Miến Điện xâm nhập vào Việt Nam trong kỷ Đệ Tam [69]
Trong sinh khí hậu á nhiệt đới mưa ẩm, trên đất địa đới, tồn tại rừng kín cây
lá rộng thường xanh với các loài cây đặc trưng cho khí hậu á nhiệt đới xen lẫn một
số cây ngành Hạt trần từ khu vực lạnh Hymalaya di cư tới
Ngoài ra còn có thể thấy ảnh hưởng gián tiếp của khí hậu đến các quần thể trên vùng cát khi lượng mưa lớn kết hợp với địa hình bằng đã tạo ra các quần thể đặc trưng cho khu vực được trình bày trong phần đá mẹ - thổ nhưỡng
Các ảnh hưởng của bão (khoảng 1,2 trận/năm) hay gió mạnh trong khi bão biểu hiện ở mức độ hạn chế chiều cao, thành phần loài trong các quần hệ ven biển hay đỉnh núi cao [22]