1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Nghiên cứu đa dạng sinh học và phương hướng bảo tồn cây dược liệu tại VQG Pù Mát trên địa bàn huyện Con Cuông, Nghệ An

88 417 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 88
Dung lượng 5,26 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đây là một bài báo cáo thực tập giáo trình gần giống như một bản khóa luận tốt nghiệp. Đề tài về nghiên cứu đa dạng sinh học và phương hướng bảo tồn cây dược liệu tại VQG Pù Mát trên địa bàn huyện Con Cuông, Nghệ an.

Trang 1

PHẦN A: MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Việt Nam được xem là một trong những nước thuộc Đông Nam Á giàu về đadạng sinh học và được xếp thứ 16 trong số các quốc gia có đa dạng sinh học caonhất trên Thế giới Do sự khác biệt lớn về khí hậu, từ vùng gần xích đạo tới giápvùng cận nhiệt đới, cùng với sự đa dạng về địa hình, đã tạo nên tính đa dạngsinh học cao ở Việt Nam

Cho đến nay, nước ta đã thống kê được 10.500 loài thực vật bậc cao có mạchthuộc hơn 2.257 chi, 305 họ (chiếm 4% tổng số loài, 15% tổng số chi, 57% tổng

số họ thực vật trên Thế giới)

Không chỉ đóng vai trò to lớn trong chu trình tuần hoàn vật chất của tự nhiên,thảm thực vật còn có tầm quan trọng đặc biệt đối với đời sống của con người.Một mặt, nó bảo vệ con người tránh được các thiên tai xảy ra như: lũ lụt, bãogió, bảo vệ đất khỏi bị rửa trôi, điều hòa khí hậu và chế độ nước….Mặt khác, nó

là nguồn tài nguyên cung cấp lương thực, thực phẩm; làm nguyên liệu cho cácngành công nghiệp (gỗ, giấy, dệt…); là thức ăn cho động vật nói chung; đặc biệt

là nguồn dược liệu quý giá đối với việc chăm sóc và bảo vệ sức khỏe của conngười

Theo kết quả điều tra của Viện dược liệu (2006), ở Việt Nam có 3.948 loài thựcvật bậc cao, bậc thấp và nấm lớn được dùng làm thuốc, chiếm khoảng 30% sốloài đã biết Nếu so với khoảng 20.000 loài cây làm thuốc đã biết trên Thế giới

(IUCN, 1992), thì số loài cây thuốc ở Việt Nam chiếm khoảng 19% Chứng tỏ,

thành phần các loài cây thuốc ở nước ta cũng rất đa dạng và phong phú Chúngphân bố tập trung chủ yếu ở các trung tâm đa dạng sinh vật, trong đó có VườnQuốc Gia Pù Mát - trung tâm của khu dự trữ sinh quyển miền Tây Nghệ An vớidiện tích rừng tự nhiên rộng lớn, được các nhà khoa học trong và ngoài nướcđánh giá là một trong những khu rừng đặc dụng có giá trị đa dạng sinh học cao

Trang 2

của vùng Bắc Trung Bộ cũng như của Việt Nam Không chỉ vậy, tháng 11 năm

2007, Vườn Quốc gia Pù Mát đã được UNESCO công nhận là khu dự trữ sinhquyển Thế giới

Nơi đây có thảm thực vật hết sức đa dạng và phong phú, bao gồm những cây ởđồng ruộng, đồi núi trọc, đồi núi đá vôi, savan, thảm thực vật tái sinh, rừngnguyên sinh, rừng hỗn giao Đến thời điểm hiện tại các nhà khoa học đã điều trathu mẫu được 2.494 loài thực vật bậc cao có mạch trong tổng số gần 3000 loàitheo ước đoán Trong đó, đã thông kê được 197 loài thực vật dùng làm thuốc(chiếm 15,2% tổng số loài) thuộc 83 họ thực vật khác Tuy nhiên, nguồn tàinguyên quý giá này đang ngày càng bị cạn kiệt, thậm chí một số loài cây có giátrị cao, quý hiếm có nguy cơ bị tuyệt chủng do thói quen khai thác và sử dụngnguồn cây thuốc nam sẵn có từ rừng tự nhiên của người dân địa phương

Trên địa bàn huyện Con Cuông, VQG Pù Mát là nơi sinh sống chủ yếu củangười dân tộc Thái Chiếm số ít là dân tộc Kinh (chủ yếu sống ở thị trấn ConCuông) và tộc người Đan Lai Đời sống của người dân nơi đây còn gặp nhiềukhó khăn nên việc sử dụng các sản phẩm từ rừng làm thuốc để chữa bệnh nhưmột truyền thống Mỗi dân tộc lại có một phong tục, tập quán và kiến thức bảnđịa về sử dụng cây thuốc khác nhau Có nhiều bài thuốc với kinh nghiệm hay,đơn giản mà hiệu quả trong việc chữa bệnh Vì vậy, việc ghi nhận và giữ gìnvốn kiến thức quý báu trong việc sử dụng cây thuốc, bài thuốc của cộng đồngdân tộc là rất cần thiết Đồng thời, cần có các hoạt động bảo tồn nguồn tàinguyên cây dược liệu do chính người dân sống gần rừng thực hiện nhằm sửdụng bền vững nguồn tài nguyên cây thuốc trong tương lai

Xuất phát từ điều kiện thực tiễn trên được sự đồng ý của Ban Giám Hiệu nhàtrường, Ban chủ nhiệm khoa Môi trường, Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam,

nhóm nghiên cứu đã tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu đa dạng sinh học

và phương hướng bảo tồn tài nguyên cây dược liệu tại VQG Pù Mát trên địa bàn huyện Con Cuông, Nghệ An”

Trang 3

2 Mục đích và mục tiêu của đề tài

a Mục đích

Đánh giá hiện trạng đa dạng sinh học cây dược liệu bản địa, sinh kế người dân từ

đó đề xuất một số phương hướng bảo tồn và phát triển cây dược liệu tại Vườnquốc gia Pù Mát trên địa bàn huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An

b Mục tiêu

- Đánh giá đa dạng sinh học của tài nguyên cây dược liệu

- Sự tham gia của người dân trong việc nhận diện, nhận thức về cây dược liệu

- Nghiên cứu một số vấn đề làm cơ sở cho việc nâng cao hoạt động bảo tồn câydược liệu tại Vườn

3 Yêu cầu của đề tài

- Phản ánh đúng hiện trạng đa dạng sinh học cây dược liệu tại Vườn quốc gia Pùmát trên địa bàn huyện Con cuông, tỉnh Nghệ An

- Số liệu thu thập được phản ánh trung thực, khách quan

- Kết quả nghiên cứu đạt được mục đích đề ra

- Những giải pháp, kiến nghị đưa ra phải có tính khả thi, phù hợp với điều kiện thựctế

4 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài

Là cơ sở tham khảo cho việc đưa ra các chính sách bảo tồn của Vườn quốc gia

Trang 4

PHẦN B: NỘI DUNG

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1 Cơ sở lí luận

1.1 Khái niệm đa dạng sinh học

Định nghĩa do Quỹ Bảo vệ Thiên nhiên Quốc tế (WWF) 1989 quan niệm: “Đa dạngsinh học là sự phồn thịnh của sự sống trên trái đất, là hàng triệu loài thực vật, độngvật và vi sinh vật, là những gen chứa đựng trong các loài và là những hệ sinh thái

vô cùng phức tạp cùng tồn tại trong môi trường” Do vậy, ĐDSH bao gồm 3 cấpđộ: đa dạng gen, đa dạng loài và đa dạng HST Đa dạng loài bao gồm toàn bộ cácloài sinh vật sống trên trái đất, từ vi khuẩn đến các loài động, thực vật và các loàinấm Ở mức độ vi mô hơn, đa dạng sinh học bao gồm cả sự khác biệt về gen giữacác loài, khác biệt về gen giữa các quần thể sống cách ly về địa lý cũng như sựkhác biệt giữa các cá thể cùng chung sống trong một quần thể Đa dạng sinh họccòn bao gồm cả sự khác biệt giữa các quần xã mà trong đó các loài sinh sống, cácHST nơi mà các loài cũng như các quần xã sinh vật tồn tại và cả sự khác biệt củacác mối tương tác giữa chúng với nhau

Theo Công ước ĐDSH: “ĐDSH là sự phong phú của mọi cơ thể sống có từ tất cảcác nguồn trong các HST trên cạn, ở biển và các HST dưới nước khác, và mọi tổhợp sinh thái mà chúng tạo nên; ĐDSH bao gồm sự đa dạng trong loài (đa dạng ditruyền hay còn gọi là đa dạng gen), giữa các loài (đa dạng loài), và các HST (đadạng HST)

Theo luật Đa dạng sinh học( 2008) : Đa dạng sinh học là sự phong phú về gen, loàisinh vật và hệ sinh thái trong tự nhiên

Trang 5

1.2 Khái niệm về bảo tồn đa dạng sinh học

Bảo tồn đa dạng sinh học là việc bảo vệ sự phong phú của các hệ sinh thái tự nhiênquan trọng, đặc thù hoặc đại diện, bảo vệ môi trường sống tự nhiên thường xuyênhoặc theo mùa của loài hoang dã, cảnh quan môi trường, nét đẹp độc đáo của tựnhiên; nuôi, trồng, chăm sóc loài thuộc danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưutiên bảo vệ; lưu giữ và bảo quản lâu dài các mẫu vật di truyền ( Luật đa dạng sinhhọc 2008)

1.3 Khái niệm về kiến thức bản địa

Theo tác giả Hoàng Xuân Tý (1998) kiến thức bản địa (indigenose knowledge) còn được gọi là kiến thức truyền thống (traditional knowledge) hay kiến thức địa phương (local knowledge) là hệ thống kiến thức của dân tộc bản địa hoặc của một

cộng đồng tại một khu vực cụ thể nào đó Nó tồn tại và phát triển trong những hoàncảnh nhất định với sự đóng góp của mọi thành viên trong cộng đồng ở một vùngđịa lí xác định

Những năm gần đây kiến thức bản địa đã được các nhà nghiên cứu trong và ngoàinước quan tâm và đã đề cập trong các công trình nghiên cứu với những tên gọikhác nhau như tri thức bản địa, tri thức dân gian, văn hóa truyền thống, kiến thứcđịa phương, tri thức tộc người

Theo ngân hàng thế giới (World bank) định nghĩa: tri thức bản địa là tri thức địaphương, là nền tảng cơ sở cho việc thiết lập các quyết định liên quan đến địaphương trên mọi lĩnh vực của cuộc sống đương đại bao gồm quản lí tài nguyên,dinh dưỡng, y tế, giáo dục và trong các hoạt động xã hội và cộng đồng Tri thứcbản địa còn cung cấp các chiến lược nhằm giải quyết các vấn đề đặt ra cho cộngđồng dân cư địa phương

Trang 6

Tác giả Louise Grenier định nghĩa: kiến thức bản địa là vốn kiến thức duy nhấttruyền thống và của một địa phương, tồn tại và phát triển dưới các điều kiện cụ thểcủa những người dân bản địa trong một khu vực địa lý nhất định Sự phát triển củacác hệ thống kiến thức bản địa trong tất cả các khía cạnh của cuộc sống, kể cả việcquản lí môi trường của tự nhiên, từ lâu đã là vấn đề sống còn đối với những conngười sáng tạo ra chúng Các hệ thống kiến thức bản địa cũng có tính động, kiếnthức mới liên tục được bổ sung Các hệ thống này luôn đổi mới trong lòng nó vàcũng sẽ tiếp nhận, sử dụng và thích nghi với kiến thức bên ngoài nhằm phù hợp vớiđiều kiện của địa phương.

Tác giả Nguyễn Duy Thiệu cho rằng: tri thức dân gian là một phức hệ những kinhnghiệm được truyền từ đời này sang đời khác Nó cũng được hình thành trong thếứng xử của giữa hoạt động của con người với môi trường tự nhiên để kiếm sống.Tri thức dân gian cũng chỉ tồn tại trong từng điều kiện mô trường cụ thể Bởi thế nócũng thường được gọi là tri thức bản địa hay cụ thể hơn là tri thức của người dân

bản địa (knowledge of indigenous)

Các khái niệm kiến thức bản địa, tri thức bản địa và tri thức dân gian ở trên đôikhi thường được đổi lẫn cho nhau trong các bài nghiên cứu Quan tham khảo cácquan điểm này, nhóm nghiên cứu đồng nhất với quan điểm của Ngô Đức Thịnh chorằng : kiến thức bản địa là toàn bộ những hiểu biết của con người về tự nhiên, xãhội và bản thân, hình thành và tích lũy qua quá trình lịch sử lâu dài của cộng đồng,thông qua trải nghiệm trong suốt quá trình sản xuất, quan hệ xã hội và thích ứngmôi trường Nó tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau và truyền từ đời này sangđời khác bằng trí nhớ và bằng thực hành xã hội

Trang 7

1.4 Khái niệm về sinh kế

Theo cục phát triển quốc tế (DFID) sinh kế bao gồm 3 thành tố chính: nguồn lực vàkhả năng con người có được, chiến lược sinh kế và kết quả sinh kế Có quan niệmcho rằng sinh kế không chỉ đơn thuần là vấn đề kiếm sống, kiếm miếng ăn và nơi ở,

mà nó còn đề cập đến vấn đề tiếp cận các quyền sở hữu, thông tin, kĩ năng, các mốiquan hệ (Wallmann, 1984).Sinh kế cũng được xem như là “sự tập hợp các nguồnlực và khả năng mà con người có được kết hợp với những quyết định và hoạt động

mà họ thực thi nhằm để sống cũng như để đạt được các mục tiêu và ước nguyệncủa họ” Về cơ bản các hoạt động sinh kế là do mỗi cá nhân hay hộ gia đình tựquyết định dựa vào năng lực và khả năng của họ và đồng thời chịu tác động của cácthể chế chính sách và các mối quan hệ xã hội và mỗi cá nhân và hộ gia đình tự thiếtlập trong cộng đồng

Khái niệm sinh kế bền vững

Khái niệm sinh kế bền vững lần đầu tiên được đưa ra trong báo cáo Brundland(1987) tại hội nghị thế giới vì môi trường và phát triển Một sinh kế được cho làbền vững khi con người có thể đối phó và khắc phục được những áp lực và cú sốc,đồng thời có thể duy trì và nâng cao khả năng và tài sản ở cả hiện tại và trongtương lai mà không gây tổn hại đến cơ sở các nguồn tài nguyên thiên nhiên

Khái niệm về chiến lược sinh kế

Chiến lược sinh kế dùng để chỉ phạm vi và sự kết hợp những lựa chọn và quyếtđịnh mà người dân đưa ra trong việc sử dụng, quản lí các nguồn vốn và tài sản sinh

kế nhằm tăng thu nhập và nâng cao đời sống cũng như để đạt được mục tiêunguyện vọng của họ

Trang 8

2 Cơ sở pháp lý

- Luật đa dạng sinh học 2008

- Quyết định 04/2015/ QĐUBND tỉnh Nghệ An

3 Tổng quan về tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước

3.1 Nghiên cứu đa dạng sinh học, tài nguyên cây dược liệu và việc bảo tồn tài nguyên cây dược liệu trên thế giới.

3.1.1 Đa dạng sinh học trên thế giới.

Các loài thực vật và động vật tạo nên sự kỳ diệu trong thế giới hoang dã, chúng cóvai trò cụ thể, đóng góp thiết yếu cho cuộc sống con người như cung cấp lươngthực, thuốc men, ô-xy, nước và cân bằng hệ sinh thái Trên thế giới có khoảng1.400.000 loài sinh vật đã được nhận biết và gọi tên trong đó có hơn 300.000 loàithực vật, hơn 1.000.000 loài động vật Tuy nhiên nhiều loài đang bị suy giảm mộtcách nhanh chóng, thậm chí có một số loài đang ở ngưỡng cửa của sự diệt vong mànguyên nhân chủ yếu là do môi trường sống bị phá hủy, do săn bắn quá mức và do

sự tấn công một cách dữ dội của các loài nhập cư cũng như sự cạnh tranh của cácloài khác Ngoài 47.677 loài nằm trong danh sách Ðỏ, hiện nay có 17.291 loài đang

bị đe dọa, trong đó 21% là động vật có vú, 30% động vật lưỡng cư, 70% thực vật

và 35% loài không xương sống

Nhiều tổ chức quốc tế đã ra đời để bảo tồn và phát triển đa dạng sinh vật trên phạm

vi toàn thế giới như Hiệp hội quốc tế về bảo tồn thiên nhiên IUCN, chương trìnhmôi trường liên hợp quốc UNEP, Quỹ quốc tế về bảo vệ thiên nhiên WWF…Cáccông ước về đa dạng sinh học cũng ra đời như: công ước đa dạng sinh học ( thôngqua tại Nairobi ngày 22/5/1992) ; công ước Ramsar về các vùng đất ngập nước và

Trang 9

công ước về buôn bán quốc tế các loài động thực vật hoang dã đang bị nguy cấp(CITES).

3.1.2 Tài nguyên cây dược liệu trên thế giới

Trên thế giới, tính đến năm 2014 số loài thực vật được sử dụng vào mục đích chữabệnh lên đến khoảng 35.000 – 70.000 loài Trong đó ước tính Trung Quốc có trên10.000 loài, Ấn Độ có khoảng 7.500 – 8.000 loài, Indonesia có khoảng 7.500,Malaysia có khoảng 2.000 loài Nepan có hơn 700 loài, Srilanka có khoảng 550 –

700 loài, Hàn Quốc có khoảng 1.000 loài thực vật có thể được sử dụng trong y họctruyền thống Người Neanderthal cổ ở Irap từ 60.000 năm trước đã biết sử dụngmột số cây cỏ mà ngày nay vẫn thấy sử dụng trong y học cổ truyền Người Ai Cập

cổ đại đã ghi chép được 800 bài thuốc và trên 700 cây thuốc trong thời gian 3.600năm trước, người Trung Quốc cổ đại đã ghi chép trong bộ “ Thần nông Bản thảo”

365 vị thuốc và loài cây thuốc ( 5.000 năm trước) Theo WHO thì mức độ sử dụngcây thuốc càng ngày càng cao, ở các quốc gia đang phát triển có tới 80% dân số sửdụng thuốc dân tộc Trung Quốc là nước đông dân nhất thế giới và có nền y họcdân tộc phát triển, nên trong số cây thuốc đã biết hiện nay có tới 80% số loài được

sử dụng theo kinh nghiệm cổ truyền của các dân tộc Hàng năm, nước này tiêu thụhết 0,7 – 1,0 triệu tấn dược liệu, sản phẩm thuốc y học dân tộc đạt giá trị hơn 1,4 tỷUSD vào năm 1986 Tổng giá trị về thuốc có nguồn gốc thực vật trên thị trường Âu

- Mỹ và Nhật Bản vào năm 1985 là hơn 43 tỷ USD Tại các nước có nền côngnghiệp phát triển, từ năm 1976 - 1980 đã tăng từ 335 triệu USD lên 551 triệu USD.Nhật Bản, năm 1979 nhập 21.000 tấn, đến năm 1980 tăng lên 22.640 tấn dược liệu,tương đương 50 triệu USD Điều này chứng tỏ đối với các nước công nghiệp pháttriển việc sử dụng cây thuốc phục vụ cho nền y học cổ truyền cũng phát triển mạnh

Trang 10

3.1.3 Hoạt động bảo tồn cây dược liệu trên thế giới

Trên phạm vi toàn thế giới, các nước đã có nhiều nổ lực và hành động chung nhằmbảo tồn đa dạng sinh học nói chung cũng như cây dược liệu nói riêng Năm 1993,

tổ chức Y tế thế giới WHO đã phối hợp với Hiệp hội Bảo tồn thế giới (IUCN) vàQuỹ “Thiên nhiên toàn thế giới” (WWF) xuất bản cuốn tài liệu “ Hướng dẫn bảotồn cây thuốc” (Guidelines on The Conservation of Medicinal Plants) để các quốcgia vận dụng vào điều kiện riêng của mình triển khai công tác bảo tồn cây thuốc.Năm 2003, Tổ chức Y tế thế giới đã xuất bản cuốn sách “Hướng dẫn của tổ chức Y

tế thế giới về thực hành tốt nuôi trồng và thu hái dược liệu” Ngày 19 -11- 2011,hơn 60 chuyên gia quốc tế về cây thuốc đã gặp nhau trong tại Toyama - Nhật Bản

để thống nhất hướng dẫn về bảo tồn cây thuốc

3.2 Nghiên cứu đa dạng sinh học, tài nguyên cây dược liệu và việc bảo tồn tài nguyên cây dược liệu ở Việt Nam.

3.2.1 Đa dạng sinh học ở Việt Nam

Việt Nam được biết đến như một trung tâm đa dạng sinh học của thế giới với các

hệ sinh thái tự nhiên phong phú đa dạng và mang những nét đặc trưng của vùngbán đảo nhiệt đới Do sự khác biệt lớn về khí hậu, từ vùng gần xích đạo tới giápvùng cận nhiệt đới, cùng với sự đa dạng về địa hình đã tạo nên tính đa dạng sinhhọc ở Việt Nam Là nơi sinh sống và phát triển của nhiều loài hoang dã đặc hữu, cógiá trị

Việt Nam hiện đứng thứ 16 trên thế giới về tính đa dạng sinh học, trong đó có 10%

số loài thú, chim và cá của thế giới tìm thấy ở Việt Nam Hơn 40% số loài thực vậtđặc hữu không tìm thấy ở nơi nào khác tại Việt Nam Hiện nay, có hơn 21 nghìnloài thực vật, gần 16 nghìn loài động vật, 3 nghìn loài vi sinh vật và nấm tập trung

Trang 11

chủ yếu tại một số khu vực có ĐDSH cao như Dãy núi Hoàng Liên Sơn, TâyNguyên, vùng Đông Nam Bộ….

Tuy nhiên, Việt Nam cũng như các nước khác trên thế giới, nhiều loài trong hệ sinhthái đang phải đối mặt với nguy cơ đe dọa tới sự tồn tại của chúng Theo Sách ĐỏViệt Nam năm 2007, có 882 loài thực vật, động vật hoang dã quý hiếm, có giá trịkinh tế cao đang bị đe dọa ở các mức độ khác nhau, tăng 161 loài so với lần xuấtbản sách đỏ trước đây (1992-1996) Ðáng lo ngại, hiện có 9 loài động vật (tê giáchai sừng, bò xám, heo vòi, cầy rái cá, cá chép gốc, cá chình nhật, cá lợ thân thấp,hươu sao, cá sấu hoa cà) và hai loài “lan hài” được xem là đã tuyệt chủng ngoài tựnhiên Điển hình như Tê giác Java ở Vườn Quốc gia Cát Tiên là 1 trong 2 quầnthể tê giác còn sót lại trên Trái Đất bị xác nhận là tuyệt chủng vào năm 2010 Suythoái đa dạng sinh học dẫn đến mất cân bằng sinh thái, ảnh hưởng trực tiếp đến môitrường sống của con người, đe dọa sự phát triển bền vững của đất nước

Việt Nam với tính ĐDSH cao đã được công nhận là một trong các quốc gia cầnđược ưu tiên bảo tồn toàn cầu Việt Nam đã tham gia công ước ĐDSH từ năm

1994 Năm 1995 kế hoạch đầu tiên về đa dạng sinh học đã được phê duyệt và hànhđộng Chính phủ đã ban hành nhiều luật lệ và chính sách nhằm bảo vệ thiên nhiên

và môi trường như Luật Đa dang sinh học (2008), Luật bảo vệ môi trường, Nghịđịnh quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của luật đa dạng sinh học(số 65/2010/NĐ-CP)… Với sự phối hợp chặt chẽ giữa các nhà khoa học, nhà quản

lý, trong những năm qua nước ta đã xây dựng và thành lập các vườn quốc gia, khubảo tồn thiên nhiên, bảo tồn loài và sinh cảnh…, nhằm mục đích bảo tồn đa dạngsinh học của Việt Nam

3.2.2 Tài nguyên cây dược ở Việt Nam

Trang 12

Nằm trong vành đai khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng và ẩm, Việt Nam có nguồn tàinguyên thực vật phong phú và đa dạng Trong số các loài thực vật hiện có ở ViệtNam có khoảng 12.000 loài đã và đang được sử dụng làm thuốc Tính đến năm

1952 các nhà thực vật học Pháp công bố trên toàn Đông dương có 1.350 loài câythuốc thuộc 160 họ thực vật khác nhau, năm 1996 Võ Văn Chi đã công bố có 3.200loài thực vật được sử dụng làm thuốc Đến năm 2005, theo Viện Dược liệu, có3.948 loài thuộc 307 họ của 9 ngành và nhóm của thực vật bậc cao, thực vật bậcthấp và nấm Năm 2012 , Võ Văn Chi đã công bố cuốn sách “Từ điển cây thuốcViệt Nam” với gần 4.700 loài thực vật làm thuốc

Trong tổng số các loài cây thuốc đã biết ở Việt Nam hiện nay, phần lớn được sửdụng theo kinh nghiệm trong từng cộng đồng dân tộc Vốn kinh nghiệm quý báunày đã góp phần tạo dựng nên nền Y học cổ truyền dân tộc với bề dày lịch sử hàngngàn năm Tuy nhiên, những kinh nghiệm quý báu đó đang dần bị mai một, đồngthời nguồn tài nguyên cây thuốc đang giảm sút nghiêm trọng, nhiều loài đang đứngtrước nguy cơ tuyệt chủng

Các nghiên cứu ở Việt Nam tiêu biểu như ở thế kỷ XVIII, Hải Thượng Lãn Ông LêHữu Trác đã kế thừa dược học của Tuệ Tĩnh cho vào “Lĩnh Nam bản thảo” gồm

496 vị thuốc nam của “ Nam dược thần hiệu” và phát hiện thêm 300 vị thuốc Tácphẩm “ Cây thuốc Việt Nam” (năm 1995) của thầy thuốc ưu tú Lê Trần Đức đã mô

tả hơn 830 loài cây thuốc Đỗ Tất Lợi khi nghiên cứu cây thuốc và vị thuốc đã công

bố 793 loài thuộc 164 họ và sách “ Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam” đãđược xuất bản năm 2004

3.2.3 Hoạt động bảo tồn cây dược liệu ở Việt Nam.

Đứng trước thực trạng tài nguyên cây thuốc đang bị suy giảm, chính phủ đã nhậnthức được tầm quan trọng của công tác bảo tồn, đã ban hành các chính sách và luật

Trang 13

pháp liên quan đến tài nguyên cây thuốc như Sắc lệnh bảo vệ rừng (năm 1972),chiến lược bảo tồn (năm 1985) và luật Đa dạng sinh học (năm 2008) Các nghịđịnh liên quan đến bảo tồn cây thuốc như quyết định về việc ban hành quy chếquản lý khai thác, kinh doanh và sử dụng nguồn tài nguyên cây thuốc trên địa bàntỉnh Bắc Kạn (Số: 435/2010/QĐ-UBND)… Ngày 22/5 hằng năm Việt Nam cũnghưởng ứng ngày Quốc tế Đa dạng sinh học Năm 2015, tại Công viên Bách Thảo(Hà Nội), tổng cục Môi trường (Bộ TN&MT) đã tổ chức Lễ mít tinh kỷ niệm

“Ngày quốc tế đa dạng sinh học” Tiếp nối lễ mít tinh là Tọa đàm bàn tròn với chủ

đề Liên kết bảo tồn ĐDSH vì sự phát triển bền vững và hoạt động triển lãm hìnhảnh cây di sản, phát hành chuyên san về ĐDSH; trưng bày các tài liệu, ấn phẩmtruyền thông về ĐDSH

Việt Nam đã thành lập rừng cấm Cúc Phương từ năm 1962 và chính thức thành lậpVườn quốc gia Cúc Phương vào năm 1966 Đến nay một hệ thống bao gồm 31vườn quốc gia đã được ra đời để bảo tồn đa dạng sinh học

Các dự án bảo tồn cây thuốc như dự án tại Vườn Quốc gia Ba Vì (do Australia tàitrợ) đã góp phần giúp cho các cộng đồng địa phương bảo vệ, quản lý vững chắcmột số loài thảo dược truyền thống, dự án “Bảo tồn nguồn gen cây thuốc Nam” tại

xã Bình Dương (Vĩnh Tường, Vĩnh Phúc) được tiến hành năm 1999 do Quỹ Môitrường toàn cầu tài trợ, đã hoàn thành sau 2 năm Gần đây là Viện Nghiên cứu vàPhát triển vùng đã phối hợp với Vườn quốc gia Pù Mát để bảo tồn cây dược liệuquý huyết rồng lào, sau hai năm nghiên cứu thực nghiệm, đến tháng 4/2015, nhómnghiên cứu đã thực hiện nhân giống thành công

4 Tổng quan về khu vực nghiên cứu

4.1 Vị trí địa lí

Trang 14

VQG Pù Mát nằm ở phía Tây Nam tỉnh Nghệ An, cách thành phố Vinh khoảng 120

km đường bộ, thuộc 3 huyện Anh Sơn, Con Cuông, Tương Dương

+ Phía Đông giáp các xã Phúc Sơn, Hội Sơn (huyện Anh Sơn)

Bản đồ 1 Vị trí địa lí Vườn quốc gia Pù Mát

Trang 15

4.2 Địa hình, địa mạo

VQG Pù Mát thuộc vùng núi cao, có địa hình hiểm trở, bị chia cắt mạnh bởi hệthống sông suối dày đặc, dộ dốc lớn Độ cao biến động từ 200-1.841m, trong đó90% diện tích có độ cao <1000 m Khu vực cao nhất là các đỉnh dông giáp biêngiới nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào, Pù Mát là đỉnh cao nhất (1.841m) Từ

hệ dông chính này hình thành các dải dông phụ chạy theo hướng Tây Bắc - ĐôngNam và các thung lũng, tạo nên 4 hệ thống suối chính: Khe Thơi, Khe Bu, KheChoăng, Khe Khặng Các khe suối này ở thượng nguồn có nhiều thác nước lớn.Các dải dông phụ có độ dốc lớn, độ cao trung bình từ 800m - 1500m, địa hình hiểmtrở Riêng thung lũng Khe Khặng và Khe Thơi có địa hình tương đối bằng, đây làvùng trước đây và hiện nay còn một bộ phận người dân tộc Đan Lai sinh sống

4.3 Khí hậu, thủy văn

- Khí hậu

Do địa hình của dãy Trường Sơn ảnh hưởng mạnh đến hoàn lưu khí quyển, đã tạonên sự khác biệt lớn trong phân hoá khí hậu khu vực Theo tài liệu quan trắc nhiềunăm của các trạm khí tượng Con Cuông, Tương Dương cho thấy:

- Chế độ gió: VQG Pù Mát nằm trong vùng có khí hậu nhiệt đới gió mùa, chịu ảnhhưởng của 02 loại gió chính đó là gió mùa Đông Bắc (mùa Đông) và gió mùa TâyNam (mùa Hè)

- Chế độ nhiệt: Nhiệt độ trung bình năm 23 - 240C, tổng nhiệt năng từ 8.500 8.7000C

Chế độ mưa ẩm:

Trang 16

+ Lượng mưa từ 1.268,3 mm (ở Tương Dương) đến 1.790 mm (ở Anh Sơn), sựchênh lệch lượng mưa đã tạo nên các tiểu vùng khí hậu rõ rệt: vùng khô ở phía TâyBắc và vùng mưa nhiều ở phía Nam Lượng mưa tập trung từ tháng 5 đến tháng 10,chiếm 90 % lượng mưa cả năm Mùa khô kéo dài từ tháng 12 đến tháng 2 năm sau,thường có mưa phùn do ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc.

+ Độ ẩm không khí bình quân 81 - 86%, mùa mưa ẩm có thể lên 91% nhưng vàomùa hanh khô hoặc ảnh hưởng của gió Lào, độ ẩm có ngày xuống dưới 30%

- Thủy văn:

VQG Pù Mát có 4 hệ suối chính là Khe Thơi, Khe Choang, Khe Khặng đều nằmtrong VQG Pù Mát, chảy theo hướng Tây Nam- Đông Bắc và đổ vào Sông Cả Bèmảng có thể đi lại trên một số đoạn thuộc các khe này Riêng Khe Choang và KheKhặng có thể dùng thuyền máy ngược dòng ở phần hạ lưu Đây chính là điều kiện

về giao thông để người dân địa phương đi sâu vào VQG khai phá đất đai và khaithác lâm sản

4.4 Địa chất, thổ nhưỡng

- Đất đai:

VQG Pù Mát nằm trên dãy Trường Sơn Bắc, quá trình kiến tạo địa chất được hìnhthành qua các kỷ Palezoi, Đề vôn, Các bon, Pecmi, Tri at đến Mioxen cho tớingày nay

- Thổ nhưỡng:

Qua kết quả khảo sát thực địa và bản đồ thổ nhưỡng, VQG Pù Mát có các nhómloại đất chính sau:

Trang 17

- Nhóm đất Feralit - mùn trên núi màu đỏ vàng phát triển trên đá trầm tích và biến

chất có kết cấu hạt mịn (FHs): Đất có thành phần cơ giới thịt trung bình, phân bốnhiều ở phía Nam và phía Đông Nam VQG

- Nhóm đất Feralit - mùn trên núi màu vàng nhạt hay vàng xám phát triển trên đá

trầm tích và biến chất có kết cấu hạt thô (FHq): Đất có thành phần cơ giới thịt nhẹ hoặc trung bình, phân bố nhiều ở phía Tây và Tây Nam VQG

- Nhóm đất Feralit đỏ vàng phát triển trên đá sét (Fs): Phân bố chủ yếu ở trung

tâm và phía đông VQG, đất có thành phần cơ giới nặng đến trung bình

- Nhóm đất Feralit vàng nhạt phát triển trên đá trầm tích và biến chất có kết cấu

hạt thô (Fq): Phân bố chủ yếu ở trung tâm và phía Tây Bắc VQG, đất có thànhphần cơ giới nhẹ đến trung bình, trong đất nhiều đá lẫn, tầng đất trung bình

- Nhóm đất Feralit phát triển trên đá vôi (Fv): Phân bố chủ yếu phía Đông Bắc

VQG, đất có thành phần cơ giới nặng, tầng đất dày, màu đỏ vàng hay nâu đỏ

* Nhóm đất dốc tụ và đất phù sa sông suối (D; P): Phân bố ven các sông suối, nhiềunhất là ở thung lũng Khe Khặng, Khe Choang, Khe Thơi Đất có màu nâu xám,thành phần cơ giới trung bình, tơi xốp

Trang 18

Tổng diện tích đất lâm nghiệp là: 94.804,4 ha.

+ Phân khu BVNN: 79.791,3 ha

+ Phân khu PHST: 10.097,0 ha

+ Phân khu DVHC: 4.916,1ha

Trang 19

Bảng 1: Diện tích các loại đất loại rừng phân theo đơn vị hành chính

(Đơn vị:ha)

cộng

Xã Phúc

Sơn

Châu Khê

Chi Khê Lục Dạ

Môn Sơn

Tam Quang Tổng diện

tích 94.804,4 2.244,7 30.910,8 134,6 3.330,8 34.151,4 24.032,1

I DT có rừng 92.789,6 2.244,7 30.910,8 61,6 3.326,3 33.174,0 23.072,2 1

Rừng tự

nhiên 92.681,0 2.244,7 30.910,8 15,4 3.326,3 33.111,6 23.072,2 1.1 Rừng gỗ 87.730,4 2.028,1 29.987,3 15,4 3.139,2 32.313,2 20.247,2

- Rừng giàu 24.043,8 884,7 10.657,6 786,3 9.309,0 2.406,2 -

Rừng trung

bình 28.405,3 651,1 9.912,1 861,5 9.455,2 7.525,4

- Rừng nghèo 30.562,0 375,9 8.357,0 809,3 11.286,1 9.733,7 -

Trang 20

Pù Mát được chia làm các kiểu rừng chính như sau:

+ Rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới 46,5%

+ Rừng kín thường xanh hỗn giao cây lá rộng, lá kim mưa ẩm á nhiệt đới chiếm29%

+ Rừng phục hồi sau khai thác và sau nương rẫy 21%

+ Kiểu phụ rừng lùn đỉnh núi 1,7%

+ Trảng cỏ cây bụi, cây gỗ rải rác 1,4%

+ Đất canh tác nông nghiệp và nương rẫy 0,4%

b Hệ Thực vật rừng

Tổng hợp kết quả các đợt điều tra từ trước đến nay cho thấy hệ thực vật Pù Mát có

số lượng loài tương đối phong phú Bước đầu ghi nhận được VQG Pù Mát có 2.494loài thuộc 931 chi và 202 họ của 6 ngành thực vật bậc cao (Xem danh lục thực vật)

Trang 21

(Fokinea hodginsii), sa mộc quế phong (Cunninghamia konishiii), giáng hương quả

to (Pterocarpus macrocarpus), gụ lau (Sindora tonkinensis), lát hoa (Chukrasia tabularis)… Nhóm gỗ tứ thiết như đinh (Markhamia Stipulata), sến mật (Madhuca pasquieri) dùng làm ván sàn, bệ máy, tàu thuyền Nhiều loài cây cung cấp gỗ xây

dựng, làm đồ gia dụng rất tốt như các loài trong họ Ngọc Lan, họ Xoan, họ Dẻ và

Trang 22

đặc biệt là họ Dầu Các nhóm công dụng khác như cung cấp vật liệu điêu khắc, làmđệm, sản xuất các văn phòng phẩm cũng có nhiều loại.

+ Nhóm cây thuốc: Đã thống kê được 197 loài thực vật dùng làm thuốc (chiếm15,2% tổng số loài) thuộc 83 họ thực vật khác Các họ có nhiều loài cây thuốc là:

Họ Cà phê (Rubiaceae): 17 loài; họ Cúc (Asteraceae): 13 loài, họ Thầu dầu (Euphorbiaceae): 10 ceae): 7 loài.

Tuy số lượng họ có nhiều loài lớn nhưng trữ lượng của các loài lại không cao Một

số loài có triển vọng là chân chim (Scheffera octophylla), hà thủ ô trắng (Streptocaulon griffithii), thường sơn (Dichroa febrifuga), củ mài (Dioscorea persimilis), thổ phục linh (Smilax glabra), thiên niên kiện (Homamena occulta).

Một số loài câu thuốc rất quý nhưng tiếc rằng hiện rất hiếm như hoàng nàn

(Strychnos wallichii), hoàng đằng (Fibraurea recsa), ba kích (Morinda officinalis), bình vôi (Stephania rottunda),…

+ Nhóm cây cảnh: Có 74 loài chiếm 5,4% tổng số loài trong vùng, phần lớn cácloài thuộc dạng thân thảo hoặc cây bụi Cùng với sự phát triển kinh tế là nhu cầu vềcây cảnh để trang trí nội thất, đường sá, công viên ngày càng cao Vì vậy, việc quản

lý bảo vệ nguồn cây cảnh này, nhất là các loài phong lan (Orchdaceae), cau dừa (Areacaceae), tuế (Cycadaceae) càng cần được quan tâm.

+ Nhóm cây làm thực phẩm: Kết quả thống kê cho thấy, nhóm cây thực phẩm cókhoảng 118 loài thuộc 57 họ, chiếm 9,1% trong tổng số loài, trong đó có nhiều loài

cho quả, hạt, rau ăn rất ngon như Cà ổi Bắc Giang (Castanopsis boisii), Đại hái (Hodgsonia macrocarpa), Bứa (Garcinia spp.), Vả (Ficus auricularia), Củ mài (Dioscorea spp.), Rau sắng (Melientha suavis), Rau bò khai (Erythropalum scandens), các loài măng tre nứa Tuy thành phần loài cây thực phẩm khá phong

Trang 23

phú nhưng hiện chúng đang phải đối mặt với áp lực khai thác quá mức của cộngđồng dân địa phương Ngoài ra, thực vật Vườn quốc gia Pù Mát còn cung cấp nhiềunguyên liệu khác như song mây, lá nón, lá cọ, sợi, tre, dầu nhựa… để làm hàng giadụng và xuất khẩu.

vậy về lĩnh vực bảo tồn loài, Pù Mát chẳng những là một khu tầm cỡ quốc gia màcòn có giá trị cho cả Lào và Đông Dương

Bảng 3: Danh mục động vật ở Vườn quốc gia Pù Mát

Trang 24

4.6 Đặc điểm dân số, kinh tế, xã hội

4.6.1 Dân số, dân tộc và lao động

Dân số:

Dân số có 96.132 người, 24.541 hộ Mật độ trung bình của huyện Anh Sơn là 154người/km2; huyện Con Cuông là 33 người/km2; huyện Tương Dương là 21người/km2 Mật độ trung bình là: 41 người/km2, mật độ cao nhất là xã Đỉnh Sơnhuyện Anh Sơn (mật độ là 498 người/km2) và thấp nhất xã Tam Hợp huyện TươngDương (mật độ là 8 người/km2)

Bảng 4: Dân số và mật độ dân số của 17 xã vùng đệm

Trang 25

khẩu Tỷ lệ (%)

Mật độ (người/km 2 )

Trang 26

Bảng 5: Thành phần các dân tộc sinh sống trong và quanh VQG Pù Mát

TT Tên dân tộc Số hộ Tỷ lệ (%) Số khẩu Tỷ lệ (%)

Trang 27

Tổng số lao động là 39.406 người, trong đó lao động nam 19.387 người và laođộng nữ là 20.028 người Lao động trong khu vực chủ yếu làm nông nghiệp(Chiếm trên 91,9%), còn lại là các ngành nghề khác như: Thương mại, dịch vụ,giáo viên, y tế, cán bộ viên chức làm việc tại các xã trong vùng Trong tổng 17 xãvùng đệm, qua điều tra có 114 bản thuộc vùng đệm với tổng số 24.541 hộ, và96.132 khẩu, 39.406 lao động, trong đó huyện Con Cuông có 64 bản thuộc 7 xã với10.167 hộ, 41.222 khẩu và 17.480 lao động; huyện Anh Sơn có 28 bản thuộc 5 xãvới 10.048 hộ, 37.265 khẩu và 16.418 lao động; huyện Tương Dương có 22 bảnthuộc 4 xã với 4.326 hộ, 17.645 khẩu và 5.508 lao động

4.6.2 Đặc điểm phân bố và đời sống dân cư

a, Đặc điểm phân bố dân cư

Sự phân bố dân cư ở vùng đệm mang đậm nét đặc thù của một các xã miền núi vớinhiều dân tộc sinh sống và phân bố rất không đều giữa các vùng, các khu vực Mật độdân số thường tập trung cao ở vùng thấp, cao nhất là ở xã Đỉnh Sơn huyện Anh Sơn là

498 người/km2, ngược lại ở các vùng cao dân cư rất thưa thớt, điển hình là xã Tam Hợphuyện Tương Dương mật độ dân số chỉ có 8 người/km2 Người Thái và người Kinhthường tập trung ở những nơi ven các thung lũng gần suối nước, có đất canh tácnông nghiệp, ven đường giao thông, có trình độ canh tác và nhận thức xã hội.Người H’mông sống tập trung từng bản ở trên các triền núi Người Đan Lai thìsống ở các vùng rừng, núi sâu

b, Đời sống dân cư

Nhìn chung tình hình sản xuất, đời sống, thu nhập đang còn thấp Tỷ lệ hộ nghèo còncao từ 40 - 44%

Trang 28

Thu nhập bình quân đầu người trên địa bàn các xã vùng đệm còn ở mức thấp chỉ đạt

7-12 triệu đồng/người/năm

4.6.3 Văn hóa - xã hội

Những năm qua, do thực hiện tốt chương trình phổ cập giáo dục tiểu học và xoá mùchữ, trình độ dân trí không ngừng được cải thiện Tuy nhiên, do phần lớn dân cưtrong vùng đệm là người dân tộc, lại sống rải rác ở các vùng cao, vùng sâu, vùng

xa, còn nhiều tập tục lạc hậu, điều kiện đầu tư cho giáo dục khó khăn nên trình độdân trí và học vấn của dân cư nhìn chung thấp, các hủ tục mê tín dị đoan còn nặng

nề, bản sắc văn hóa chưa được phát huy, nạn tảo hôn vẫn còn sảy ra, trình độ dântrí thấp, người dân chưa đủ kiến thức để tiếp thu khoa học kỹ thuật, chuyển giaocông nghệ vào sản xuất

4.6.4 Thực trạng các ngành kinh tế chủ yếu:

Tập quán sinh hoạt giữa các bản làng có sự khác biệt, mỗi dân tộc mang đậm bảnsắc của dân tộc mình, như dân tộc Thái có tập tục sinh hoạt khác với dân tộc ĐanLai, dân tộc Mông…

Tập quán canh tác còn lạc hậu, công cụ lao động còn đơn điệu, thủ công giữa cácdân tộc còn có sự khác biệt, người Thái tập trung canh tác chủ yếu là khai hoanglúa nước, kết hợp chăn nuôi gia súc, gia cầm và thu hái lâm sản… người Mông chủyếu làm nương rẫy và thu hái lâm sản Người Đan Lai chủ yếu thu hái lâm sản vàsăn bắn

a, Tình hình tái sản xuất nông nghiệp

Do đặc thù của các xã vùng đệm VQG chủ yếu là người đồng bào dân tộc thiểu số,nên sản xuất chủ yếu là làm nông nghiệp với hai ngành chính là trồng trọt và chăn

Trang 29

nuôi Ngoài ra nhân dân thu hái lâm sản phụ, săn bắt chim thú, nhận khoán bảo vệrừng của các đơn vị lâm nghiệp để có việc làm tăng thêm thu nhập kinh tế hộ

* Trồng trọt:

Sản xuất nông nghiệp là ngành kinh tế chủ đạo của các xã vùng đệm Tuy vậy, diệntích đất nông nghiệp rất ít (2,5% diện tích tự nhiên) và phân bố không đều Các xãvùng đệm huyện Anh Sơn có 11%, Con Cuông 2%, Tương Dương 0,5% diện tích

tự nhiên là đất nông nghiệp Năng suất cây trồng nhìn chung thấp Loài cây trồngđơn điệu Cây trồng chính gồm: lúa nước, lúa nương, ngô, khoai, sắn Ngoài ra, cáccây khác không đáng kể như rau, đậu, vừng, lạc, mía Thu nhập từ sản xuất nôngnghiệp còn rất thấp Đến nay, vẫn còn khoảng 23% số hộ thiếu lương thực trongnhững tháng giáp hạt Canh tác theo tập quán đốt rừng làm rẫy vẫn còn tồn tại tronghoạt động sản xuất nông nghiệp của dân cư dân tộc thiểu số ở đây

Canh tác chủ yếu mang tính quảng canh, năng suất cây trồng vật nuôi còn thấp,năng suất trung bình đạt khoảng 4,7 - 5,2 tấn/ha đối với lúa nước, lúa nương 1,1tấn/ha, ngô đạt 1,9 tấn/ha, sắn 6,2 tấn/ha Tổng sản lượng cây trồng chính năm

2012 đạt 25.584 tấn, (trong đó lúa đạt 10.729,5 tấn) bình quân lương thực trên đầungười đạt 289,4 kg/người/năm, (trong đó thóc đạt 175,6 kg/người/năm) Sự thiếuhụt về lương thực (gạo) chủ yếu trông vào các hoạt động chăn nuôi, sản xuất lâmnghiệp (cây Keo) và khai thác trái phép những lâm sản phụ trong VQG Pù Mát

* Chăn nuôi:

Nhờ có lợi thế về đất đai rộng nên đàn trâu, bò, dê khá phát triển Hình thức chănnuôi phần lớn là thả rông ở các bãi cỏ hoặc bìa rừng Hiện tượng trâu bò vào VQGvẫn khá phổ biến ở các bản Cò Phạt, Khe Cồn, Bản Búng xã Môn Sơn; Tân Hương,Tùng Hương, Liên Hương, xã Tam Quang và các xã giáp ranh Các loài gia súc, gia

Trang 30

cầm được nuôi trong vùng là trâu, bò, dê, lợn, ngan, vịt, gà và chủ yếu là các loàigiống địa phương, tuy chất lượng ngon nhưng năng suất, sản lượng thịt không cao,bình quân hộ gia đình nuôi các loại gia súc từ 3-4 con/hộ

Tổng số đàn gia súc, gia cầm như sau: Trâu 9.432 con, bò 12.747 con, dê 5.166 con,đàn lợn 22.667 con và gia cầm, thủy cầm 172.838 con

b, Sản xuất lâm nghiệp

* Trồng rừng

Công tác trồng rừng trên địa bàn được thực hiện nhiều năm nay Những năm gần đâyđược sự đầu tư của các dự án 661, dự án trồng rừng sản xuất , diện tích rừng trồngđược nâng lên rõ rệt Đến nay, toàn vùng đã có trên 25.486,68 ha rừng trồng, gồm cácloài cây Keo, Mét, Xoan ta Nhìn chung chất lượng rừng trồng thấp, trữ lượng rừngkhông cao, một số diện tích chưa đảm bảo mật độ Đối với rừng phòng hộ, cơ cấu loàicây chưa đáp ứng mục tiêu phục hồi sinh thái ở vùng đệm Đối với rừng sản xuất, hiệuquả kinh tế từ rừng chưa cao chính sách đầu tư vốn, giải quyết đầu ra chưa hấp dẫnngười trồng rừng

* Giao đất giao rừng:

Công tác giao đất giao rừng theo Nghị định 02/NĐ-CP, Nghị định 163/NĐ-CP đượctiến hành nhiều năm nay Phần lớn diện tích đất đã có chủ do vậy rừng được bảo vệ,khoanh nuôi, trồng rừng, xây dựng trang trại ngày một nhiều hơn Tuy nhiên, công tácgiao đất giao rừng tồn tại một số bất cập, ranh giới giao đất không rõ ràng, vẫn còntranh chấp đất đai, sử dụng không đúng quy hoạch và mục đích trên đất được giao

* Khai thác và chế biến lâm sản:

Trang 31

+ Riêng khai thác rừng tự nhiên chỉ có 2 công ty lâm nghiệp được cấp phép khaithác hàng năm nhưng khối lượng bình quân khoảng 1.000m3/năm/công ty.

+ Hiện nay diện tích rừng khai thác chủ yếu là rừng Keo, hàng năm khai thác trongkhu vực khoảng 600 - 1.100 ha rừng trồng Keo

+ Chế biến: Trên địa bàn hiện có các cơ sở chế biến gỗ của các công ty lâm nghiệp với quy

mô nhỏ, ngoài ra còn một số tổ mộc tại gia Sản phẩm gồm gỗ xẻ, ván sàn, cốt pha, đồ mộcgia dụng

4.6.5 Cơ sở hạ tầng

a, Giao thông

Trên địa bàn VQG Pù Mát có các tuyến giao thông nối với các xã vùng đệm đãđược đầu tư xây dựng và nâng cấp sửa chữa trong những năm qua, cơ bản giảiquyết được tình trạng giao thông, song chất lượng các tuyến đường do xây dựng đãlâu nên đã xuống cấp Trong vùng có các tuyến đường chính như: Tuyến Quốc lộ 7

là tuyến giao thông huyết mạch thông thương từ Quốc lộ 1A sang nước Cộng hoàdân chủ nhân Lào, đi qua vùng đệm VQG Pù Mát trên địa bàn các huyện Anh Sơn,Con Cuông, Tương Dương là điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế vùng Tuyếnđường đã rải nhựa, mặt đường 4,5 m, cầu cống đã được bê tông cố định, hiện tuyếnđường này đang được đầu tư nâng cấp

b, Thuỷ lợi

Hệ thống thủy lợi các xã trong vùng đệm hiện tại đang được củng cố để đảm bảotưới tiêu cho toàn bộ diện tích lúa nước của các xã vùng đệm, tại các bản đều cókhe, suối chảy qua; người dân sử dụng nguồn nước này đưa vào các kênh dẫn Mộtphần tưới tiêu cho đồng ruộng, một phần dùng cho sinh hoạt hàng ngày Một số hồ

Trang 32

đập đáng kể như Hồ Đông Quan, hồ Khe Chung, Hồ Khe Mậy, trạm bơm Đò Rồng,Thạch Sơn, đập Phà Lài

c, Nước sạch

Trong những năm gần đây, hệ thống nước sạch đã được phát triển nhằm phục vụtốt hơn cho đời sống nhân dân trong vùng Tuy nhiên, tỉ lệ dân cư dùng nước sạchtrong vùng còn thấp, nguyên nhân chính là do dân cư phân bố rải rác Hiện tại,phần lớn các hộ gia đình trong vùng dùng nguồn nước tự chảy từ các khe suối làmnước sinh hoạt Các công trình cung cấp nước sinh hoạt ở các xã được sự hỗ trợ củanhà nước (chương trình 135), các dự án và một phần đóng góp của nhân dân trongvùng hiện tại đã bị xuống cấp Các công trình nước tự chảy hợp vệ sinh, các côngtrình này đã bị xuống cấp, hiệu quả sử dụng rất thấp, về mùa khô phần lớn các thônthường bị thiếu nước sinh hoạt

d, Hệ thống điện

Hiện nay các xã trong vùng đệm của VQG Pù Mát chủ yếu đã được dùng điện lướinhưng do một số trạm biến áp hiện nay đã quá tải do nhu cầu dùng điện ngày mộttăng và hệ thống đường dây, cột điện dân tự dựng lâu ngày đã xuống cấp hư hỏng,nhưng chưa được ngành điện khắc phục sửa chữa, gây nên tình trạng mất an toàn

và thất thoát điện

e, Giáo dục

Là các xã miền núi nhưng lĩnh vực giáo dục đào tạo ở vùng đệm nhìn chung khá khảquan, đặc biệt là giáo dục phổ cập Tình trạng nhà học tạm bợ, tranh tre, nứa lá đã cơbản được xóa bỏ Tuy nhiên, học vấn của người lao động còn thấp, tình trạng mùchữ, học sinh bỏ học vẫn tồn tại ở một bộ phận dân cư, đặc biệt ở 3 bản người ĐanLai trong vùng nghiêm ngặt VQG Khoảng cách về trình độ học vấn giữa nam và nữ

Trang 33

cũng chênh lệch lớn Cơ sở vật chất giáo dục mặc dầu chính quyền đã có nhiều cốgắng nhưng vẫn còn nhiều khó khăn, đội ngũ giáo viên thiếu, một số có trình độchuyên môn chưa đáp ứng được yêu cầu.

f, Y tế

Các xã vùng đệm có mạng lưới y tế tương đối phát triển Mỗi huyện đều có bệnhviện huyện và trung tâm y tế, một số xã có phòng khám đa khoa (Môn Sơn, TamThái ), mỗi xã đều có trạm xá với đội ngũ từ 1 - 2 y sỹ, 1- 2 y tá

CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu

- Tài nguyên cây thuốc tại VQG Pù Mát trên địa bàn huyện Con Cuông, tỉnh NghệAn

- Người dân khu vực nghiên cứu ( thầy lang, người dân, thương lái, nhà quản lý,…)

Trang 34

2.2.1 Địa điểm nghiên cứu

- VQG Pù Mát trên địa bàn huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An

Cụ thể:

- Rừng Khe Kèm

- Bản Cò Phạt, xã Môn Sơn, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An

- Bản Yên Hòa, xã Lục Dạ, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An

2.2.2 Thời gian nghiên cứu

Thời gian: từ ngày 22/04/2016 đến ngày 15/05/2016

2.3 Nội dung nghiên cứu

2.3.1 Đánh giá hiện trạng ĐDSH tài nguyên cây thuốc tại vùng lõi của VQG

Pù Mát

a, Điều tra, khảo sát đa dạng loài đối với cây thuốc tại Rừng Khe Kèm

- Điều tra số lượng, thành phần loài cây được sử dụng làm thuốc

- Lấy mẫu và phân loại tài nguyên cây thuốc trong phòng thí nghiệm

- Xác định tên địa phương, tên phổ thông, tên khoa học của các loài cây thuốc

b, Điều tra, khảo sát đa dạng loài đối với cây thuốc được trồng tại các hộ gia đình của hai bản Cò Phạt (thuộc xã Môn Sơn) và Yên Hòa (thuộc xã Lục Dạ)

- Điều tra số lượng, thành phần loài cây được trồng để sử dụng làm thuốc

- Lấy mẫu và phân loại tài nguyên cây thuốc trong phòng thí nghiệm

Trang 35

- Xác định tên địa phương, tên phổ thông, tên khoa học của các loài cây thuốc đượctrồng

c, Điều tra tình hình khai thác và sử dụng nguồn tài nguyên cây thuốc tại các hộ gia đình

- Tình hình khai thác

- Mức độ sử dụng

2.3.2 Kiến thức bản địa về cây thuốc của người dân địa phương

- Điều tra kiến thức bản địa về sử dụng, canh tác và gây trồng các loài cây thuốc

- Mối quan hệ giữa kiến thức bản địa và mức độ sử dụng cây thuốc của người dân

- Công dụng và cách chế biến của một số loài cây được sử dụng làm thuốc

2.3.3 Đánh giá tác động qua lại giữa đa dạng sinh học cây dược liệu và sinh kế người dân

- Các hoạt động kinh tế của người dân địa phương

- Các hoạt động thu mua cây dược liệu

- Điều tra nguồn thu nhập từ cây dược liệu của từng hộ gia đình

- Đánh giá mức độ phụ thuộc vào tài nguyên cây dược liệu của người dân địaphương, qua đó xem xét ảnh hưởng đến đa dạng sinh học tài nguyên cây dược liệu

2.3.4 Phương hướng bảo tồn đa dạng sinh học nguồn tài nguyên cây thuốc tại VQG Pù Mát

- Tình hình nghiên cứu và bảo tồn cây dược liệu tại Vườn quốc gia Pù Mát

Trang 36

- Các mối đe dọa đến tài nguyên cây dược liệu

- Đánh giá công tác bảo tồn cây dược liệu của người dân địa phương

- Đề xuất các biện pháp định hướng về bảo tồn và phát triển cây dược liệu tại Vườnquốc gia Pù Mát

2.4 Phương pháp nghiên cứu

2.4.1 Thu thập tài liệu thứ cấp

- Thu thập số liệu từ các tài liệu đã được công bố, các bài báo cáo tổng kết củaphòng ban chuyên ngành thuộc vườn quốc gia Pù Mát

- Thu thập số liệu tại trạm kiểm lâm: bản Yên Hòa( xã Lục Dạ), bản Cò Phạt (xãMôn Sơn)

2.4.2 Thu thập số liệu sơ cấp

a, Khảo sát thực địa

- Nhóm thực tập khảo sát tại các địa điểm : rừng khe Kèm, bản Cò Phạt, bản YênHòa để xem xét các đặc điểm về ĐKTN-KT-XH,…

b, Phương pháp lập ô tiêu chuẩn, quan sát

- Lập 5 ô tiêu chuẩn với vị trí ngẫu nhiên, kích thước ô tiêu chuẩn lấy là: 30m ×30m

- Sau khi khoanh vùng ô tiêu chuẩn, điều tra số lượng, thành phần và tần suất xuấthiện của loài

- Đưa ra các bảng thông tin số loài và tần suất xuất hiện

Trang 37

c, Phương pháp định tên khoa học

Các loài cây quý hiếm được xác định theo Sách Đỏ Việt Nam (2007); Danh lục đỏIUCN (2001)…ngoài ra còn dựa vào tra cứu trên Internet…

d, Phương pháp lập tuyến điều tra, quan sát

- Nhóm thực tập đi theo thầy lang dựa vào đường mà người dân vẫn hay lên rừng

để thu hái cây dược liệu

- Ghi chú được loài bắt gặp tại các vị trí khác nhau với các độ cao khác nhau

e, Phương pháp điều tra phỏng vấn

- Dựa theo cấu trúc phiếu điều tra đã lập, mỗi nhóm sẽ đi hỏi các hộ để lấy thôngtin mang tính khách quan nhất về: hiện trạng, kiến thức bản địa, bảo tồn cây dượcliệu vv

- Số phiếu ˃ 30/bản

f, Phương pháp làm tiêu bản

- Là cách lấy mẫu tươi ngoài thực địa về xử lý ép, sấy khô,cố định hình: làm tư liệu

bổ sung cho kết quả trình bày bài

g, Phương pháp hỏi ý kiến chuyên gia

- Có sự tham vấn từ: TS Nguyễn Văn Sinh và Phó phòng khoa học Nguyễn MạnhHùng

2.4.3 Phương pháp xử lý số liệu

a Phương pháp thống kê, tổng hợp

Trang 38

b Phương pháp sử dụng phần mềm excel

- Lập bảng code cho những thông tin thu được

- Đưa ra các bảng biểu, đồ thị, phiếu, hình ảnh đã được xử lý và sắp xếp theo thứ tự

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN3.1 Hiện trạng đa dạng sinh học

3.1.1 Dựa vào kết quả lập ô tiêu chuẩn

- Lập 5 ô tiêu chuẩn ngẫu nhiên theo độ cao

 Ô tiêu chuẩn 1 (ngày 23 tháng 4 năm 2016): Mang tính khảo sát, điều tra sơ

bộ nhận diện một vài loài cơ bản mà người dân bản địa biết

Trang 39

Bảng 6: Thông tin các loài xuất hiện trong ô tiêu chuẩn 1

STT

Tên cây (Tên Tiếng Việt)

Tên cây

1 Cây khoai nưa Amorphophallus konjac

Chữa đờm; đầy bụng, ăn uống không tiêu; đau nhức, tức ngực, khó thở

2 Cây lá khôi Ardisia silvestris

Chữa bệnh viêm dạ dày, viêm tá tràng cấp và mạn tính

3

Cây thạch xương

bồ

Asorus gramineus Soland

Chữa bệnh ho đờm, thần kinh suy nhược, nhạt mũi, phong tê thấp

4 Cây bục bạc Mallotus paniculatus Chữa các vết thương dập, tấy

5 Cây chặc chìu Tetrecera scandens (L)

Thuốc thông tiểu; chữa phù thận;phù do gan; chữa sốt; thuốc bổ, thuốc tầy máu

6 Cây thổ phục linh Smilax labra Roxb Chữa đau xương, đau khớp

7 Cây thiên niên kiện Hmalomena occulta

Chữa đau nhức xương khớp, một

số bệnh nhiễm trùng, dị ứng

8 Cây củ nâu Dioscorea cirrhosa

Chữa tiêu chảy, đi kiết lị; chữa bịthương gãy xương, liệt nửa người, cầm máu, mụn nhọt

9 Lá dứa thơm

Pandanus amaryllifolius

Chữa bệnh yếu dây thần kinh, thấp khớp, trị gàu

10

Cây ngũ da bì chân

chim Schefflera heptaphylla

Chữa tiêu chảy, đi kiết lị; chữa bịthương gãy xương, liệt nửa người, cầm máu, mụn nhọt

11 Cây dong giềng Canna eduilis

Chữa viêm gan vàng da, huyết lậu, ho ra máu, khí hư, kinh nguyệt không đều, ung nhọt

Trang 40

 Ô tiêu chuẩn 2 (ngày 24 tháng 4 năm 2016)

* Bảng thông tin các loài xuất hiện trong ô tiêu chuẩn 2 (Bảng 2 phụ lục B)

Bảng 7: Đánh giá về tần suất xuất hiện từng loài trong ô tiêu chuẩn số 2

STT Loài cây Tổng số Phần trăm

(%)

Tần suất xuất hiện

Ngày đăng: 26/04/2017, 15:07

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Diện tích các loại đất loại rừng phân theo đơn vị hành chính - Nghiên cứu đa dạng sinh học và phương hướng bảo tồn cây dược liệu tại VQG Pù Mát trên địa bàn huyện Con Cuông, Nghệ An
Bảng 1 Diện tích các loại đất loại rừng phân theo đơn vị hành chính (Trang 19)
Bảng 2: Các taxon thực vật có mạch ở VQG Pù Mát - Nghiên cứu đa dạng sinh học và phương hướng bảo tồn cây dược liệu tại VQG Pù Mát trên địa bàn huyện Con Cuông, Nghệ An
Bảng 2 Các taxon thực vật có mạch ở VQG Pù Mát (Trang 21)
Bảng 3: Danh mục động vật ở Vườn quốc gia Pù Mát - Nghiên cứu đa dạng sinh học và phương hướng bảo tồn cây dược liệu tại VQG Pù Mát trên địa bàn huyện Con Cuông, Nghệ An
Bảng 3 Danh mục động vật ở Vườn quốc gia Pù Mát (Trang 23)
Bảng 4: Dân số và mật độ dân số của 17 xã vùng đệm - Nghiên cứu đa dạng sinh học và phương hướng bảo tồn cây dược liệu tại VQG Pù Mát trên địa bàn huyện Con Cuông, Nghệ An
Bảng 4 Dân số và mật độ dân số của 17 xã vùng đệm (Trang 25)
Bảng 5: Thành phần các dân tộc sinh sống trong và quanh VQG Pù Mát - Nghiên cứu đa dạng sinh học và phương hướng bảo tồn cây dược liệu tại VQG Pù Mát trên địa bàn huyện Con Cuông, Nghệ An
Bảng 5 Thành phần các dân tộc sinh sống trong và quanh VQG Pù Mát (Trang 26)
Bảng 6: Thông tin các loài xuất hiện trong ô tiêu chuẩn 1 - Nghiên cứu đa dạng sinh học và phương hướng bảo tồn cây dược liệu tại VQG Pù Mát trên địa bàn huyện Con Cuông, Nghệ An
Bảng 6 Thông tin các loài xuất hiện trong ô tiêu chuẩn 1 (Trang 39)
Bảng 7: Đánh giá về tần suất xuất hiện từng loài trong ô tiêu chuẩn số 2 - Nghiên cứu đa dạng sinh học và phương hướng bảo tồn cây dược liệu tại VQG Pù Mát trên địa bàn huyện Con Cuông, Nghệ An
Bảng 7 Đánh giá về tần suất xuất hiện từng loài trong ô tiêu chuẩn số 2 (Trang 42)
Bảng 8: Đánh giá về tần suất xuất hiện từng loài trong ô tiêu chuẩn số 3 - Nghiên cứu đa dạng sinh học và phương hướng bảo tồn cây dược liệu tại VQG Pù Mát trên địa bàn huyện Con Cuông, Nghệ An
Bảng 8 Đánh giá về tần suất xuất hiện từng loài trong ô tiêu chuẩn số 3 (Trang 46)
Bảng 10: Đánh giá tần suất xuất hiện của từng loài trong ô tiêu chuẩn 5 - Nghiên cứu đa dạng sinh học và phương hướng bảo tồn cây dược liệu tại VQG Pù Mát trên địa bàn huyện Con Cuông, Nghệ An
Bảng 10 Đánh giá tần suất xuất hiện của từng loài trong ô tiêu chuẩn 5 (Trang 49)
Bảng 11: Tổng hợp các loài xuất hiện trong 5 ô tiêu chuẩn - Nghiên cứu đa dạng sinh học và phương hướng bảo tồn cây dược liệu tại VQG Pù Mát trên địa bàn huyện Con Cuông, Nghệ An
Bảng 11 Tổng hợp các loài xuất hiện trong 5 ô tiêu chuẩn (Trang 50)
Bảng 12: Số loài cây dược liệu người dân nhận biết được ở hai bản Cò - Nghiên cứu đa dạng sinh học và phương hướng bảo tồn cây dược liệu tại VQG Pù Mát trên địa bàn huyện Con Cuông, Nghệ An
Bảng 12 Số loài cây dược liệu người dân nhận biết được ở hai bản Cò (Trang 56)
Bảng 13: Danh sách các loài cây được người dân nhận biết nhiều nhất ở - Nghiên cứu đa dạng sinh học và phương hướng bảo tồn cây dược liệu tại VQG Pù Mát trên địa bàn huyện Con Cuông, Nghệ An
Bảng 13 Danh sách các loài cây được người dân nhận biết nhiều nhất ở (Trang 56)
Bảng 14: Danh sách các loài cây được người dân  nhận biết  nhiều nhất ở bản - Nghiên cứu đa dạng sinh học và phương hướng bảo tồn cây dược liệu tại VQG Pù Mát trên địa bàn huyện Con Cuông, Nghệ An
Bảng 14 Danh sách các loài cây được người dân nhận biết nhiều nhất ở bản (Trang 57)
Hình ảnh trẻ em tại một hộ trong bản Cò Phạt - Nghiên cứu đa dạng sinh học và phương hướng bảo tồn cây dược liệu tại VQG Pù Mát trên địa bàn huyện Con Cuông, Nghệ An
nh ảnh trẻ em tại một hộ trong bản Cò Phạt (Trang 65)
Bảng 17: Các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của cây dược liệu - Nghiên cứu đa dạng sinh học và phương hướng bảo tồn cây dược liệu tại VQG Pù Mát trên địa bàn huyện Con Cuông, Nghệ An
Bảng 17 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của cây dược liệu (Trang 77)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w