Còn quản lý chuỗi cung ứng là việc quản lý cả một hệ thống bao gồm phát triển sản phẩm, sản xuất, mua bán, tồn kho, phân phối và cáchoạt động hậu cần.. Trong hoạt động quản trị nguồn cun
Trang 1SỞ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯ
ĐỀ TÀI Nghiên cứu xây dựng hệ thống tiêu chí quản lý doanh nghiệp sau đăng
ký trên hồ sơ điện tử tại tỉnh Hưng Yên
CHUYÊN ĐỀ 15
XÂY DỰNG HỆ THỐNG CHỈ TIÊU QUẢN LÝ
CHUỖI CUNG ỨNG VÀ PHÁT TRIỂN
MẠNG LƯỚI
PGS TS Nguyễn Mạnh Quân ĐH Kinh tế Quốc dân
Hà Nội, tháng 10 năm 2013
Trang 2MỤC LỤC
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ CHUỖI CUNG ỨNG 3
1.1 Quản lý chuỗi cung ứng là gì? 3
1.2 Bản chất của SCM 3
1.3 Nguồn gốc của SCM 4
1.4 Vai trò của SCM đối với hoạt động kinh doanh 5
1.5 Cấu trúc của SCM 7
1.6 Các thành phần cơ bản của SCM 7
CHƯƠNG 2 XÂY DỰNG HỆ THỐNG CHỈ SỐ VỀ QUẢN LÝ CHUỖI CUNG ỨNG.10 2.1 Chuỗi cung ứng định hướng chi phí thấp, hiệu quả cao 10
2.2 Chuỗi cung ứng định hướng đa-mục tiêu 11
2.2.1 Các mục tiêu, chỉ tiêu, chỉ báo của chuỗi cung ứng hiện đại 11
2.2.2 Phối hợp các mục tiêu của chuỗi cung ứng 12
2.3 Nhân tố ảnh hưởng đến sự thành công của chuỗi cung ứng 17
2.3.1 Có nhiều cách để đạt tới mục tiêu 17
2.3.2 Khả năng thích nghi: chìa khóa để thành công 18
2.3.3 Con người là nhân tố then chốt 19
CHƯƠNG 3 TRIỂN KHAI HỆ THỐNG SCM CHO DOANH NGHIỆP 21
3.1 Triển khai SCM 21
3.2 Một số tồn tại gây trở ngại cho việc phát triển chuỗi giá trị ở Việt Nam 22
3.3 Sử dụng hiệu quả Chuỗi cung ứng 24
Trang 31 CHƯƠNG 1.
TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ CHUỖI CUNG ỨNG
1.1 Quản lý chuỗi cung ứng là gì?
Thuật ngữ Quản lý Chuỗi Cung ứng (Supply Chain Management - SCM) vẫn cònkhá mới mẻ đối với phần lớn các doanh nghiệp, mặc dù nó đang trở thành “mốt thờithượng” trong các hoạt động kinh doanh hiện đại Người ta bàn về việc thiết lập cácgiải pháp SCM, mạng lưới SCM, các bộ phần mềm SCM, nhưng vẫn băn khoăn tựhỏi: Thực chất SCM là gì ? Ứng dụng SCM ra sao?
Cho đến nay, nhiều người vẫn nhầm tưởng quản lý chuỗi cung ứng và quản lýlogistics là một nên dùng hai thuật ngữ này thay thế cho nhau Thật ra, quản lý logistichay quản lý hậu cần chỉ liên quan đến công việc quản lý về mặt kho bãi, vận chuyển,giao nhận và phân phối hàng hóa Còn quản lý chuỗi cung ứng là việc quản lý cả một
hệ thống bao gồm phát triển sản phẩm, sản xuất, mua bán, tồn kho, phân phối và cáchoạt động hậu cần Nói cách khác, hậu cần chỉ là một thành tố của chuỗi cung ứng.SCM là sự phối kết hợp nhiều thủ pháp nghệ thuật và khoa học nhằm cải thiệncách thức các doanh nghiệp tìm kiếm những nguồn nguyên liệu thô cấu thành sảnphẩm/dịch vụ, sau đó sản xuất ra sản phẩm/dịch vụ đó và phân phối tới các kháchhàng Điều quan trọng đối với bất kỳ giải pháp SCM nào, dù sản xuất hàng hóa haydịch vụ, chính là việc làm thế nào để hiểu được sức mạnh của các nguồn tài nguyên vàmối tương quan giữa chúng trong toàn bộ dây chuyền cung ứng sản xuất
Về cơ bản, SCM sẽ cung cấp giải pháp cho toàn bộ các hoạt động đầu vào củadoanh nghiệp, từ việc đặt mua hàng của nhà cung cấp, cho đến các giải pháp tồn kho
an toàn của doanh nghiệp Trong hoạt động quản trị nguồn cung ứng, SCM cung cấpnhững giải pháp mà theo đó, các nhà cung cấp và doanh nghiệp sản xuất sẽ làm việctrong môi trường cộng tác, giúp cho các bên nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh vàphân phối sản phẩm/dịch vụ tới khách hàng SCM tích hợp hệ thống cung ứng mởrộng và phát triển một môi trường sản xuất kinh doanh thực sự, cho phép doanhnghiệp của bạn giao dịch trực tiếp với khách hàng và nhà cung cấp ở cả hai phươngdiện mua bán và chia sẻ thông tin
1.2 Bản chất của SCM
Trang 4Hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp phát triển thành một hệ thống liênkết dây chuyền từ đơn giản đến phức tạp Một doanh nghiệp sản xuất sẽ nằmtrong “mô hình đơn giản” , khi họ chỉ mua nguyên vật liệu từ một nhà cung cấp, sau đó
tự làm ra sản phẩm của mình rồi bán hàng trực tiếp cho người sử dụng Ở đây, bạn chỉphải xử lý việc mua nguyên vật liệu rồi sản xuất ra sản phẩm bằng một hoạt động vàtại một địa điểm duy nhất (single-site)
Chuyển sang mô hình phức tạp, doanh nghiệp sẽ mua nguyên vật liệu từ các nhàcung cấp (đây cũng chính là thành phẩm của đơn vị này), từ các nhà phân phối và từcác nhà máy “chị em” (có điểm tương đồng với nhà sản xuất) Ngoài việc tự sản xuất
ra sản phẩm, doanh nghiệp còn đón nhận nhiều nguồn cung cấp bổ trợ cho quá trìnhsản xuất từ các nhà thầu phụ và đối tác sản xuất theo hợp đồng Trong mô hình phứctạp này, hệ thống SCM phải xử lý việc mua sản phẩm trực tiếp hoặc mua qua trunggian, làm ra sản phẩm và đưa sản phẩm đến các nhà máy “chị em” để tiếp tục sản xuất
ra sản phẩm hoàn thiện Các doanh nghiệp sản xuất phức tạp sẽ bán và vận chuyển sảnphẩm trực tiếp đến khách hàng hoặc thông qua nhiều kênh bán hàng khác, chẳng hạnnhư các nhà bán lẻ, các nhà phân phối và các nhà sản xuất thiết bị gốc (OEMs) Hoạtđộng này bao quát nhiều địa điểm (multiple-site) với sản phẩm, hàng hóa tại các trungtâm phân phối được bổ sung từ các nhà máy sản xuất Đơn đặt hàng có thể đượcchuyển từ các địa điểm xác định, đòi hỏi doanh nghiệp phải có tầm nhìn về danh mụcsản phẩm/dịch vụ đang có trong toàn bộ hệ thống phân phối Các sản phẩm có thể tiếptục được phân bổ ra thị trường từ địa điểm nhà cung cấp và nhà thầu phụ Sự phát triểntrong hệ thống quản lý dây chuyền cung ứng đã tạo ra các yêu cầu mới cho các quytrình áp dụng SCM Chẳng hạn, một hệ thống SCM xử lý những sản phẩm được đặt tạicác địa điểm của khách hàng và nguyên vật liệu của nhà cung cấp lại nằm tại doanhnghiệp sản xuất
1.3 Nguồn gốc của SCM
SCM là một giai đoạn phát triển của lĩnh vực hậu cần (logistics) Từ logisticstrong tiếng Anh được chuyển sang tiếng Việt với nhiều nghĩa khác nhau như hậu cần,kho vận, dịch vụ cung ứng Tuy nhiên, tất cả các tên gọi đó chưa phản ánh đầy đủ vàchính xác bản chất của logistics Ban đầu, logistics được sử dụng như một từ chuyênmôn trong quân đội, được hiểu với nghĩa là công tác hậu cần Đến cuối thế kỷ 20,Logistics được ghi nhận như là một chức năng kinh doanh chủ yếu, mang lại thành
Trang 5công cho các doanh nghiệp cả trong khu vực sản xuất lẫn trong khu vực dịch vụ Uỷban kinh tế và xã hội châu Á Thái Bình Dương (Economic and Social Commission forAsia and the Pacific - ESCAP) ghi nhận Logistics đã phát triển qua 3 giai đoạn:
Giai đoạn 1: Phân phối (Distribution)
Đó là quản lý một cách có hệ thống các hoạt động liên quan với nhau nhằm đảmbảo cung cấp sản phẩm, hàng hoá cho khách hàng một cách hiệu quả nhất Giai đoạnnày bao gồm các hoạt động nghiệp vụ sau:
o Vận tải,
o Phân phối,
o Bảo quản hàng hoá,
o Quản lý kho bãi,
o Bao bì, nhãn mác, đóng gói
Giai đoạn 2: Hệ thống Logistics
Giai đoạn này có sự phối kết hợp công tác quản lý của cả hai mặt trên vào cùngmột hệ thống có tên là Cung ứng vật tư và Phân phối sản phẩm
Giai đoạn 3: Quản trị dây chuyền cung ứng (SCM)
Theo ESCAP thì đây là khái niệm mang tính chiến lược về quản trị chuỗi quan
hệ từ nhà cung cấp nguyên liệu – đơn vị sản xuất - đến người tiêu dùng Khái niệmSCM chú trọng việc phát triển các mối quan hệ với đối tác, kết hợp chặt chẽ giữa nhàsản xuất với nhà cung cấp, người tiêu dùng và các bên liên quan như các doanh nghiệpvận tải, kho bãi, giao nhận và các doanh nghiệp công nghệ thông tin
1.4 Vai trò của SCM đối với hoạt động kinh doanh
Đối với các doanh nghiệp, SCM có vai trò rất to lớn, bởi SCM giải quyết cả đầu
ra lẫn đầu vào của doanh nghiệp một cách hiệu quả Nhờ có thể thay đổi các nguồnnguyên vật liệu đầu vào hoặc tối ưu hoá quá trình luân chuyển nguyên vật liệu, hànghoá, dịch vụ mà SCM có thể giúp tiết kiệm chi phí, tăng khả năng cạnh tranh chodoanh nghiệp
Trang 6Có không ít doanh nghiệp đã gặt hái thành công lớn nhờ biết soạn thảo chiếnlược và giải pháp SCM thích hợp, ngược lại, có nhiều doanh nghiệp gặp khó khăn, thấtbại do đưa ra các quyết định sai lầm như chọn sai nguồn cung cấp nguyên vật liệu,chọn sai vị trí kho bãi, tính toán lượng dự trữ không phù hợp, tổ chức vận chuyển rắcrối, chồng chéo
Ngoài ra, SCM còn hỗ trợ đắc lực cho hoạt động tiếp thị, đặc biệt là tiếp thị hỗnhợp (4P: Product, Price, Promotion, Place) Chính SCM đóng vai trò then chốt trongviệc đưa sản phẩm đến đúng nơi cần đến và vào đúng thời điểm thích hợp Mục tiêulớn nhất của SCM là cung cấp sản phẩm/dịch vụ cho khách hàng với tổng chi phí nhỏnhất
Điểm đáng lưu ý là các chuyên gia kinh tế đã nhìn nhận rằng hệ thống SCM hứahẹn từng bước nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất của doanh nghiệp và tạo điềukiện cho chiến lược thương mại điện tử phát triển Đây chính là chìa khoá thành côngcho phương thức kinh doanh “doanh nghiệp với doanh nghiệp” (Business to Business -B2B) Tuy nhiên, như không ít các nhà phân tích kinh doanh đã cảnh báo, chiếc chìakhoá này chỉ thực sự phục vụ cho việc nhận biết các chiến lược dựa trên hệ thống sảnxuất, khi chúng tạo ra một trong những mối liên kết trọng yếu nhất trong dây chuyềncung ứng
Trong một doanh nghiệp sản xuất luôn tồn tại ba yếu tố chính của dây chuyềncung ứng: thứ nhất là các bước khởi đầu và chuẩn bị cho quá trình sản xuất, hướng tớinhững thông tin tập trung vào khách hàng và yêu cầu của họ; thứ hai là bản thân chứcnăng sản xuất, tập trung vào những phương tiện, thiết bị, nhân lực, nguyên vật liệu vàchính quá trình sản xuất; thứ ba là tập trung vào sản phẩm cuối cùng, phân phối và mộtlần nữa hướng tới những thông tin tập trung vào khách hàng và yêu cầu của họ
Trong dây chuyên cung ứng ba nhân tố này, SCM sẽ điều phối khả năng sản xuất
có giới hạn và thực hiện việc lên kế hoạch sản xuất - những công việc đòi hỏi tính dữliệu chính xác về hoạt động tại các nhà máy, nhằm làm cho kế hoạch sản xuất đạt hiệuquả cao nhất Khu vực nhà máy sản xuất trong doanh nghiệp của bạn phải là một môitrường năng động, trong đó sự vật được chuyển hoá liên tục, đồng thời thông tin cầnđược cập nhật và phổ biến tới tất cả các cấp quản lý doanh nghiệp để cùng đưa raquyết định nhanh chóng và chính xác SCM cung cấp khả năng trực quan hoá đối với
Trang 7các dữ liệu liên quan đến sản xuất và khép kín dây chuyền cung cấp, tạo điều kiện choviệc tối ưu hoá sản xuất đúng lúc bằng các hệ thống sắp xếp và lên kế hoạch Nó cũngmang lại hiệu quả tối đa cho việc dự trù số lượng nguyên vật liệu, quản lý nguồn tàinguyên, lập kế hoạch đầu tư và sắp xếp hoạt động sản xuất của doanh nghiệp
Một tác dụng khác của việc ứng dụng giải pháp SCM là phân tích dữ liệu thuthập được và lưu trữ hồ sơ với chi phí thấp Hoạt động này nhằm phục vụ cho nhữngmục đích liên quan đến hoạt động sản xuất (như dữ liệu về thông tin sản phẩm, dữ liệu
về nhu cầu thị trường…) để đáp ứng đòi hỏi của khách hàng Có thể nói, SCM là nềntảng của một chương trình cải tiến và quản lý chất lượng - Bạn không thể cải tiến đượcnhững gì bạn không thể nhìn thấy
1.5 Cấu trúc của SCM
Một dây chuyền cung ứng sản xuất bao gồm tối thiểu ba yếu tố: nhà cung cấp,bản thân đơn vị sản xuất và khách hàng
Nhà cung cấp: là các doanh nghiệp bán sản phẩm, dịch vụ là nguyên liệu
đầu vào cần thiết cho quá trình sản xuất, kinh doanh Thông thường, nhàcung cấp được hiểu là đơn vị cung cấp nguyên liệu trực tiếp như vật liệuthô, các chi tiết của sản phẩm, bán thành phẩm Các doanh nghiệp cung
cấp dịch vụ cho sản xuất, kinh doanh được gọi là nhà cung cấp dịch vụ
Đơn vị sản xuất: là nơi sử dụng nguyên liệu, dịch vụ đầu vào và áp dụng
các quá trình sản xuất để tạo ra sản phẩm cuối cùng Các nghiệp vụ vềquản lý sản xuất được sử dụng tối đa tại đây nhằm tăng hiệu quả, nâng caochất lượng sản phẩm, tạo nên sự thông suốt của dây chuyền cung ứng
Khách hàng: là người sử dụng sản phẩm của đơn vị sản xuất
1.6 Các thành phần cơ bản của SCM
Dây chuyền cung ứng được cấu tạo từ 5 thành phần cơ bản Các thành phần này
là các nhóm chức năng khác nhau và cùng nằm trong dây chuyền cung ứng: (i) Sảnxuất (Làm gì, như thế nào, khi nào); (ii) Vận chuyển (Khi nào, vận chuyển như thếnào); (iii) Tồn kho (Chi phí sản xuất và lưu trữ); (iv) Định vị (Nơi nào tốt nhất để làmcái gì); và (v) Thông tin (Cơ sở để ra quyết định)
Trang 8 Sản xuất: Sản xuất là khả năng của dây chuyền cung ứng tạo ra và lưu trữ
sản phẩm Phân xưởng, nhà kho là cơ sở vật chất, trang thiết bị chủ yếucủa thành phần này Trong quá trình sản xuất, các nhà quản trị thườngphải đối mặt với vấn đề cân bằng giữa khả năng đáp ứng nhu cầu củakhách hàng và hiệu quả sản xuất của doanh nghiệp
Vận chuyển: Đây là bộ phận đảm nhiệm công việc vận chuyển nguyên vật
liệu, cũng như sản phẩm giữa các nơi trong dây chuyền cung ứng Ở đây,
sự cân bằng giữa khả năng đáp ứng nhu cầu và hiệu quả công việc đượcbiểu thị trong việc lựa chọn phương thức vận chuyển Thông thường có 6phương thức vận chuyển cơ bản
o Đường biển: giá thành rẻ, thời gian vận chuyển dài và bị giới hạn vềđịa điểm giao nhận
o Đường sắt: giá thành rẻ, thời gian trung bình, bị giới hạn về địa điểmgiao nhận
o Đường bộ: nhanh, thuận tiện
o Đường hàng không: nhanh, giá thành cao
o Dạng điện tử: giá thành rẻ, nhanh, bị giới hạn về loại hàng hoá vậnchuyển (chỉ dành cho dữ liệu, âm thanh, hình ảnh…)
o Đường ống: tương đối hiệu quả nhưng bị giới hạn loại hàng hoá (khihàng hóa là chất lỏng, chất khí )
Tồn kho: Tồn kho là việc hàng hoá được sản xuất ra tiêu thụ như thế nào.
Chính yếu tố tồn kho sẽ quyết định doanh thu và lợi nhuận của doanhnghiệp bạn Nếu tồn kho ít tức là sản phẩm của bạn được sản xuất ra baonhiêu sẽ tiêu thụ hết bấy nhiêu, từ đó chứng tỏ hiệu quả sản xuất củadoanh nghiệp bạn ở mức cao và lợi nhuận đạt mức tối đa
Định vị: Bạn tìm kiếm các nguồn nguyên vật liệu sản xuất ở đâu? Nơi nào
là địa điểm tiêu thụ tốt nhất? Đây chính là những yếu tố quyết định sựthành công của dây chuyền cung ứng Định vị tốt sẽ giúp quy trình sảnxuất được tiến hành một cách nhanh chóng và hiệu quả hơn
Thông tin: Thông tin chính là “nguồn dinh dưỡng” cho hệ thống SCM của
bạn Nếu thông tin chuẩn xác, hệ thống SCM sẽ đem lại những kết quảchuẩn xác Ngược lại, nếu thông tin không đúng, hệ thống SCM sẽ không
Trang 9thể phát huy tác dụng Bạn cần khai thác thông tin từ nhiều nguồn khácnhau và cố gắng thu thập nhiều nhất lượng thông tin cần thiết
Trang 10từ đó gia tăng doanh thu và lợi nhuận Chính nhờ quản lý chuỗi cung ứng hiệu quả màWal-Mart mới có thể trở thành doanh nghiệp hàng đầu thế giới trong lĩnh vực bán lẻ.Khi nền kinh tế suy giảm, khả năng điều chỉnh và thay đổi qui mô của các hoạtđộng trong chuỗi cung ứng cũng như việc tiết kiệm chi phí có ý nghĩa rất quan trọng.Quản lý và tiết kiệm chi phí hiệu quả sẽ góp phần làm giảm giá thành sản phẩm, từ đólàm tăng sức cạnh tranh cho doanh nghiệp Trách nhiệm của chuyên viên quản lýchuỗi cung ứng cũng vì thế mà trở nên nặng nề hơn Tuy chi phí là yếu tố tối quantrọng trong việc xây dựng một chuỗi cung ứng hiệu quả nhưng mức độ đáp ứng nhucầu khách hàng về thời gian, số lượng và chất lượng vẫn là yếu tố quan trọng nhất.Chính vì thế, muốn quản lý chi phí trong chuỗi cung ứng hiệu quả, đầu tiên chuyênviên quản lý chuỗi cung ứng cần xác định rõ đâu là chi phí nên tiếp tục duy trì, đâu làchi phí cần giảm và đâu là chi phí phải cắt Kế tiếp, họ cần thực hiện các biện phápmạnh mẽ và cương quyết nhằm cắt (hoặc giảm) những chi phí cần thiết thông qua việccải tiến qui trình để giảm thiểu những khâu thừa và điều phối hoạt động của chuỗicung ứng hợp lý hơn Chẳng hạn, họ có thể áp dụng chính sách tồn kho an toàn (safetystock) để duy trì tồn kho ở mức hợp lý mà không phải hy sinh chất lượng dịch vụ Bêncạnh đó, chuyên viên quản lý chuỗi cung ứng cũng cần tăng cường khả năng lập kếhoạch và dự báo để phản ứng kịp thời với các biến động cũng như nâng cao chất lượng
hệ thống thông tin của chuỗi để giúp các bộ phận phối hợp ăn ý với nhau hơn
Chuỗi cung ứng truyền thống được thiết kế và vận hành thích hợp có thể manglại cho khách hàng của mình 3 lợi ích cơ bản sau: chi phí thấp, giao hàng nhanh vàchất lượng đảm bảo Nhưng các nhà quản lý doanh nghiệp đang ngày càng thấy rằng
Trang 11những lợi thế này vẫn chưa đủ trong bối cảnh môi trường kinh doanh hiện nay Sựxuất hiện của những quan điểm mới về chuỗi cung ứng có thể biến chuỗi cung ứng trởthành công cụ để phát triển lợi thế cạnh tranh bền vững bằng cách mang đến nhiều kếtquả kinh doanh khác nhau Trong khi chuỗi cung ứng cũ bị rời rác và vận hành đểgiảm chi phí, chuỗi cung ứng mới sẽ tích hợp và vận hành theo hướng làm gia tăng giátrị Nói đơn giản, chuỗi cung ứng nên được thiết kế và quản lý để mang đến nhiều kếtquả cụ thể Chuỗi cung ứng cần hướng tới việc đạt được những mục tiêu khác nhau,như chi phí thấp, khả năng đáp ứng nhanh, an toàn, bền vững, linh hoạt và sáng tạo.
2.2 Chuỗi cung ứng định hướng đa-mục tiêu
2.2.1 Các mục tiêu, chỉ tiêu, chỉ báo của chuỗi cung ứng hiện đại
Chuỗi cung ứng trong tương lai cần hướng tới việc thỏa mãn 6 mục tiêu sau đây
về nhu cầu của khách hàng: (i) giải quyết hiệu quả bài toán chi phí, (ii) khả năng đápứng tốt, (iii) đảm bảo an toàn, (iv) vận hành ổn định, (v) linh hoạt, năng động, mềmdẻo, và (iv) khả đổi mới cao
Chi phí: giảm giá (ban đầu) và chi phí (chủ yếu) là 2 mục tiêu quan trọng nhất
Mục tiêu “chi phí” được hiểu là sự kết hợp giữa chi phí về tài chính (thước đo quantrọng nhất) và giao hàng, chất lượng (thước đo thứ cấp) Hay có thể hiểu chi phí làđiều kiện tối cần, còn chất lượng sẽ là điều kiện đủ
Khả năng đáp ứng nhanh: là khả năng thay đổi nhanh chóng sản lượng, hoặc
địa điểm khi điều kiện thị trường thay đổi Thông thường, yếu tố này sẽ dẫn tới chiphí cao hơn
An toàn: là mục tiêu mà chỉ mới được chú ý gần đây Sự an toàn đảm bảo rằng
sản phẩm của chuỗi cung ứng không được nhiễm độc nếu không chúng sẽ không antoàn
Tính bền vững: khác với an toàn vì nó bao gồm yếu tố “xanh” – trách nhiệm với
môi trường – chuỗi cung ứng giảm chất thải, giảm ô nhiễm và đóng góp tích cực vàocác quy trình sản xuất, sản phẩm thân thiện môi trường Việc giảm khi CO2 là một vídụ
Sự đành hồi: bảo đảm chuỗi cung ứng có thể phục hồi nhanh chóng với mức chi
phí tối ưu từ những vấn đề xảy ra bởi thiên tai (như động đất), yếu tố xã hội (đìnhcông), bệnh truyền nhiễm (cúm H1N1), khủng hoảng kinh tế (sự phá sản của những
Trang 12mắt xích quan trọng trong chuỗi cung ứng) hoặc các lỗi kỹ thuật (khủng hoảng phầnmềm.
Sáng tạo: Trong những năm gần đây, nhiều doanh nghiệp đang ngày càng phụ
thuộc vào chuỗi cung ứng của họ để cải tiến sản phẩm hoặc quy trình trong những sảnphẩm cũ Những nhiệm vụ sáng tạo chủ yếu của một tổ chức thường được tiến hànhkhông chỉ trong doanh nghiệp nhưng đồng thời cũng ở sự hợp tác với các đối tác chuỗicung ứng
Một khi kết quả mong muốn đã được xác định, chúng sẽ được sử dụng nhữngnhững tiêu chí cơ bản để xác định các đặc điểm của chuỗi cung ứng, Bảng 1 Trongkhi một vài đặc điểm cần phải được thể hiện ở một mắt xích nào đó của chuỗi cungứng được coi là rất quan trọng, chúng lại có thể không được coi là cần thiết phải thểhiện ở các khâu khác hay tất cả từng khâu trong chuỗi cung ứng Việc tạo ra và pháthuy những đặc điểm này đúng chỗ là một yếu tố mang tính quyết định, đặc biệt khichuỗi cung ứng bao gồm nhiều doanh nghiệp
2.2.2 Phối hợp các mục tiêu của chuỗi cung ứng
Một vài nhà nghiên cứu và quản lý có thể xem 6 yêu cầu cơ bản của chuỗi cungứng là đối chọi nhau Nhưng thực tế, chuỗi cung ứng hiệu quả có thể đạt được 6 yêucầu này đồng thời ở mức độ nào đó Mục tiêu phấn đấu là đạt đạt được đồng thời cả 6yêu cầu sẽ giúp chuỗi cung ứng của doanh nghiệp khác biệt so với đối thủ: sự thỏamãn đồng thời của nhiều yếu tố kết hợp có thể hấp dẫn khách hàng và vì thế họ sẵn
sàng trả chi phí tương xứng Đương nhiên, khi chuỗi cung ứng hướng tới đồng thời
nhiều mục tiêu, nó thường không nổi bật về một phương diện nào đó, như những chuỗicung ứng tập trung, thay vào đó là sự đồng đều Không khác biệt cũng là một dạngkhác biệt trên thị trường, khi có nhiều doành nghiệp chú trọng đến việc tạo ra sự khácbiệt bằng sự độc đáo
Các doanh nghiệp thường xây dựng chuỗi cung ứng hoạt động đạt mức độ đồngđều ở nhiều hay tất cả các chỉ tiêu có thể thất bại trọng việc tạo ra sự vượt trội về mộtkết quả nào đó Vấn đề ở cách tiếp cận này là doanh nghiệp có thể bị rơi vào tình trạng
“thường thường bậc trung” và khiến chuỗi trở thành một đối thủ “kém cạnh” Sự lựachọn quả là khó khăn khi đòi hỏi doanh nghiệp phải rất coi trọng lợi ích của các doanh
nghiệp trong chuỗi Sự linh hoạt có được bằng việc phối hợp cho phép doanh nghiệp