Thông tin chính xác, đầy đủ về tình trạng sức khỏe là điều cần được làm trước hết.Hãy cùng nhau đặt câu hỏi để trả lời: “Liệu chúng ta có tin tưởng rằng hệ thống chỉ số, chỉbáo kinh tế,
Trang 1ĐỀ TÀI Nghiên cứu xây dựng hệ thống tiêu chí quản lý doanh nghiệp sau đăng ký
trên hồ sơ điện tử tại tỉnh Hưng Yên
CHUYÊN ĐỀ 2
BÁO CÁO TỔNG QUAN VỀ MÔ HÌNH
NGHIÊN CỨU, HỆ THỐNG CHỈ BÁO VỀ
TÌNH TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP
PGS TS Nguyễn Mạnh Quân ĐH Kinh tế Quốc dân
Hà Nội, tháng 10 năm 2013
Trang 2MỤC LỤC
1 Tại sao chúng ta phải cần có một hệ thống chỉ số, chỉ báo kinh tế? 3
2 Hệ thống kinh tế thị trường và sự phức tạp của hệ thống các mối quan hệ 4
3 Phương pháp điều tiết nền kinh tế của chính phủ thông qua doanh nghiệp 7
4 Gỡ rối cuộn dây liền đầu 11
5 Những nội dung chính của hệ thống chỉ số, chỉ báo về doanh nghiệp 13
6 Định hướng cho việc xây dựng bộ chỉ số về năng lực doanh nghiệp 19
7 Bộ chỉ số về năng lực doanh nghiệp phục vụ cho việc quản lý và trợ giúp doanh nghiệp phát triển 21
Kết luận 24
Trang 31 Tại sao chúng ta phải cần có một hệ thống chỉ số, chỉ báo kinh tế?
Trong mỗi quốc gia, hệ thống chỉ số, chỉ báo về kinh tế có ý nghĩa rất quan trọng đốivới nhiều đối tượng khác nhau Chúng cung cấp (i) cho các nhà phân tích những căn cứ
để nghiên cứu, lý giải về sự vận động của nền kinh tế; (ii) cho các nhà hoạch định chínhsách những bằng chứng về ảnh hưởng hay tác động của các chính sách đến các thànhphần kinh tế nói riêng, và đến nền kinh tế nói chung; (iii) cho các nhà quản lý nhữngthông tin cơ bản về hiện trạng và xu thế phát triển của nền một ngành hay của nền kinh tế,
để từ đó có biện pháp điều chỉnh hoạt động cho phù hợp với sự vận động của ngành vàcủa nền kinh tế Những chỉ số, chỉ báo như GDP, mức tăng trưởng kinh tế, chỉ số giá tiêudùng, kim ngạch xuất khẩu, mức thu ngân sách… không còn là những thuật ngữ chuyênngành, chúng đã trở nên quen thuộc đối với mọi người và tạo ra những cảm xúc nhất định
ở họ Không chỉ ở cấp độ quốc gia, hệ thống chỉ số, chỉ báo cũng có tầm quan trọngkhông kém do mối liên kết hữu cơ giữa doanh nghiệp và nền kinh tế Có thể ví hệ thốngcác chỉ số, chỉ báo giống như hệ thống thông tin về sức khỏe của nền kinh tế
Sự thất bại của một loạt tập đoàn, tổng công ty lớn (như VINASHIN, VINALINES)hay sự đóng băng của một số thị trường lớn (như bất động sản, nhà ở, tài chính) đều đượcthể hiện qua những dấu hiệu, biểu hiện có thể dễ dàng nhận diện, suy đoán từ trước Bấtcập thể hiện ở việc phát hiện muộn và chậm can thiệp Quá trình tái cơ cấu doanh nghiệpnhà nước (DNNN) cũng gặp những khó khăn nhất định, một trong những trở ngại quantrọng là việc đánh giá doanh nghiệp và giám sát, kiểm soát hoạt động của chúng Đối vớidoanh nghiệp có quy mô nhỏ và vừa (DNNVV) thuộc khu vực kinh tế tư nhân, đông về sốlượng, lớn về đóng góp (tính theo khu vực) Tuy nhiên, các biện pháp hỗ trợ của chínhphủ dường như chỉ gây ra những tác động rất hạn chế so với mục tiêu và mong muốn củachính phủ Một câu hỏi lớn phải đặt ra cho các nhà nghiên cứu, các nhà hoạch định chínhsách và các nhà quản lý doanh nghiệp là: “Để nâng cao hiệu lực của các biện pháp quản
lý, hỗ trợ doanh nghiệp phát triển, cần phải bắt đầu từ đâu?” Về nguyên tắc, theo chúngtôi, câu trả lời đương nhiên là: “Cần phải bắt đầu bằng việc hiểu đúng thực trạng củadoanh nghiệp và của nền kinh tế.” Việc trị bệnh chỉ có thể có kết quả nếu chẩn đoán đúng
Trang 4bệnh Thông tin chính xác, đầy đủ về tình trạng sức khỏe là điều cần được làm trước hết.Hãy cùng nhau đặt câu hỏi để trả lời: “Liệu chúng ta có tin tưởng rằng hệ thống chỉ số, chỉbáo kinh tế, kinh doanh hiện hành đang thực sự hữu hiệu trong việc cung cấp thông tincho việc ra quyết định kiểm soát đối với doanh nghiệp?” Theo quan điểm của cá nhân, tôicho rằng chúng ta còn có thể làm tốt hơn nữa rất nhiều Việc kiểm soát sẽ tốt hơn sẽkhông phải là ra quyết định kịp thời để khắc phục, sửa chữa một hậu quả không mongmuốn, mà cần phải có biện pháp can thiệp sớm, trước khi một quyết định hay hành động
có thể dẫn đến hậu quả đó được thực hiện Thực tế trên đặt ra một nhiệm vụ đầy thử thách về việc cần phải xây dựng một hệ thống thông tin kinh tế hiệu quả, sâu rộng, có tính cảnh báo sớm đối với doanh nghiệp và nền kinh tế nhằm cung cấp cho các nhà quản
lý doanh nghiệp, các nhà phân tích và hoạch định chính sách những thông tin hữu ích, đủ sớm để có thể ra quyết định và hành động một cách hiệu quả Không may, việc điều tiết
và tác động của chính phủ thông qua hệ thống luật pháp thường phức tạp và mất nhiềuthời gian, nên đáp ứng yêu cầu trên là một thách thức không chỉ về mặt thực tiễn mà cả vềmặt lý luận
2 Hệ thống kinh tế thị trường và sự phức tạp của hệ thống các mối quan hệ
Lý thuyết kinh tế học mô tả nguyên tắc hoạt động của kinh tế thị trường như
một cỗ máy gồm hai “bánh xe” khổng lồ là hộ gia đình và doanh nghiệp, vận hành bởi sáu “động cơ” khác nhau là những người hữu quan (stakeholders) - gồm khách
hàng, người lao động, nhà cung cấp, chủ đầu tư, cộng đồng và xã hội - được “đốt
cháy” bởi những thứ “nhiên liệu” là lợi ích và sự thoả mãn, khớp nối với nhau bằng hai “bánh răng” cơ chế là thị trường hàng hóa và thị trường yếu tố sản xuất,
và được “bôi trơn” bởi sự luận chuyển của dòng hàng hóa/yếu tố sản xuất và tái
chính Do trong hệ thống phức tạp này luôn tiềm ẩn mối nguy hiểm của sự xung đột
trong hệ thống và vận động không định hướng của toàn bộ hệ thống, dẫn đến tình
trạng phát triển không cân đối (công bằng), mất ổn định, lãng phí nguồn lực (việc làm, thất nghiệp), sử dụng tài nguyên không hiệu quả (tiến bộ, văn minh, dân chủ),
Trang 5chúng phải được kiểm soát và điều tiết bởi chính phủ thông qua sự can thiệp bằng chính sách Sơ đồ 1.
Về nguyên tắc, các chính phủ có thể can thiệp và điều tiết nền kinh tế thị
trường bằng các công cụ thuộc bốn nhóm ‘chính sách cội nguồn’ sau: (i) thuế và
trợ cấp – nhóm chính sách C1; (ii) hệ thống luật pháp với hai tính chất hướng dẫn
và điều chỉnh - nhóm chính sách C2 và C3, (iii) hệ thống các cơ quan, tổ chức của nhà nước hay do nhà nước lập ra hoặc hỗ trợ tham gia trực tiếp vào hệ thống thị trường như các đối tượng thuộc các khu vực khác – nhóm chính sách C4; và (iv)
dự trữ quốc gia về những yếu tố chiến lược như vàng, ngoại tệ tài nguyên chiến
lược – nhóm chính sách C5 Sự can thiệp của chính phủ vào cơ chế thị trường bằng các nhóm chính sách cội nguồn được mô tả như minh họa trên Sơ đồ 1, Bảng 1.
Chính phủ (C5)
Cung ứng Đối thủ
?
Sơ đồ 1: Nguyên lý vận hành của thị trường và sự điều tiết của chính phủ
H 2
Hãng Công ty
Hộ gia đình
Thị trường Yếu tố
Thị trường Hàng hoá
Lợi ích
Thoả mãn
$
Trang 6Bảng 1: Các nhóm công cụ ‘chính sách gốc’ để điều tiết nền kinh tế thị trường
Nhóm chính sách C1
Thuế và thợ cấp
Nhóm chính sách C2
& C3 Khung pháp lý
Nhóm chính sách C4 Kinh tế nhà nước
Nhóm chính sách C5
Dự trữ chiến lược
Sản xuất Tiêu dùng Cơ chế Luật
Kinh tếquốcdoanh
Hợp đồngchính phủ Bảo hiểm
Dự trữchiếnlượcThuế
Hạnchế canthiệp
Khung pháp
lý (luật,
hướng dẫn)
Mạnglưới phânphối
Hợp đồngtrực tiếp
Bảo hiểmnghĩa vụ
Dự trữquốc gia
Văn bảnpháp quy
Mua cânđối hay
bù giáMô
phỏngthịtrường
Đặc khu
Một hệ thống kinh tế nói chung, và hệ thống kinh tế thị trường nói riêng, bao gồmnhiều nhân tố - là những đối tượng/thành phần kinh tế khác nhau - liên kết với nhau thànhmột hệ thống hay mạng lưới rất phức tạp Sơ đồ 2 là cách mô tả mối quan hệ và sự vận
động bên trong hệ thống thông qua một sơ đồ hệ thống động đã được đơn giản hóa
Cơ chế của kinh tế thị trường vận hành trên cơ sở nguyên tắc sản xuất hàng hóa (2)
để nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của xã hội (1) Thông qua các hoạt động trao đổi giữa cung và cầu, kinh tế tăng trưởng (3) tạo tiền đề phát triển về KT-XH (4) cũng như cho các ngành kinh tế (5), nhờ đó việc làm được tạo ra (6), tiền lương và thu nhập (7) sẽ giúp cải thiện đời sống (8), kích thích tiêu dùng (1), thúc đẩy sản xuất (2)
và nâng cao nhận thức xã hội (9), tạo môi trường thuận lợi (10) cho tăng trưởng kinh
Trang 7bằng sản phẩm, hàng hóa (2) , mà còn qua việc tạo việc làm, thu nhập (6), đóng góp ngân sách (16) và góp phần tạo tiền đề cho sự phát triển KT-XH (4) nói chung Sự
khác biệt giữa doanh nghiệp nói chung và DNNN ở mục tiêu, trọng tâm đóng góp và cácchính sách can thiệp của chính phủ đối với mục tiêu và trong quá trình hoạt động củadoanh nghiệp
3 Phương pháp điều tiết nền kinh tế của chính phủ thông qua doanh nghiệp
Chính phủ có thể tiếp cận các đối tượng mục tiêu và tác động đến họ thông qua việcđiều tiết hoạt động của doanh nghiệp theo cách thức được trình bày trên các sơ đồ dướiđây, Sơ đồ 2 và Sơ đồ 4
Khả năng và biện pháp điều tiết
của chính phủ
Nhiệm vụ Mục tiêu
điều tiết
Nguồn lực Chính sách
Cơ chế
Tác động
N/lực Quản lý
và Điều hành Năng lực Tác nghiệp
P/pháp ra q/định
Hệ thống tiêu chí
Bộ máy h/chính
DNNN là đối tượng điều tiết
DNNN là phương tiện điều tiết
Kết quả thực thi Trách nhiệm XH của doanh nghiệp
Năng lực và biện pháp can thiệp của chính
phủ đối với doanh nghiệp
Trang 8Kiểm soát của chính phủ đối với DN và DNNN về mục tiêu, có thể được thực hiện
thông qua việc tuyên bố về đường lối phát triển kinh tế-xã hội và quan điểm quản lý
vĩ mô (11) của chính phủ Các cơ chế và chính sách (12) khác nhau được ban hành nhằm
cụ thể hóa chủ trương và đường lối phát triển, đồng thời với việc tiến hành những biện
pháp can thiệp, trực tiếp hoặc gián tiếp, thông qua các hoạt động của bộ máy hành chính (13), các hoạt động chi tiêu của chính phủ (14) từ nguồn ngân sách (15) để trợ giúp cho doanh nghiệp hoặc DNNN thực hiện các mục tiêu cụ thể do chính phủ yêu cầu (17), nhằm qua đó gây tác động điều tiết (16) đối với các khu vực sản xuất (2) và tiêu dùng (1) cũng như một mặt để nâng cao nhận thức xã hội (9), mặt khác tạo môi trường (10) thuận lợi cho việc phát triển KT-XH (4).
Với cách mô tả đơn giản hóa sự vận hành của hệ thống kinh tế thị trường như ở Sơ
đồ 3 đã có thể cho thấy sự phức tạp trong mối quan hệ tương hỗ giữa các nhân tố trong hệthống Ở mỗi điểm trong mối quan hệ này đều đầy ắp những thông tin, tư liệu Chúng hữuích cho một số mục đích và đối tượng, nhưng có thể lại gây nhiễu, loạn cho những đốitượng và mục đích khác Cách mô tả bằng mô hình hệ thống động như trên Sơ đồ 3, còncho thấy các mối liên hệ tạo thành một hệ thống khép kín, để đảm bảo sự vận động bêntrong hệ thống được duy trì ở tình trạng cân bằng và ổn định Để kiểm soát một cách hữuhiệu sự vận động của hệ thống, cần phải giải đáp một loạt vấn đề nảy sinh Liên quan đến
vấn đề chỉ số, chỉ báo, hai vấn đề sau đây là rất quan trọng: (1) Loại thông tin cần được tập hợp và được xử lý; và (2) Việc kiểm soát sự vận động cần được bắt đầu từ đâu? Trong
một cuộn dây liền đầu bị rối, gỡ rối phải bắt đầu từ đâu?
Từ những trình bày và phân tích trên, có thể cho nhận thấy rõ tầm quan trọng của
bộ chỉ số về doanh nghiệp trong việc hoạch định các biện pháp kiểm soát của chính phủđối với doanh nghiệp, và qua đó đối với các đối tượng mục tiêu cần tiếp cận cũng như đốivới toàn bộ nền kinh tế
Ý nghĩa và yêu cầu đối với bộ chỉ số về doanh nghiệp có thể được tóm tắt một cáchngắn gọn ở những điểm sau:
Trang 9Kinh tế tăng
trư ởng
Sản xuất phát triển Cung hàng hóa tăng 2
Tiền đề phát triển KT-XH 4
Kinh tế ngành và khu vực phát triển
5
Việc làm nhiều Tiền lư ơng cao
Môi tr ư ờng kinh tế
– xãưhội thuận lợi
10
Đ ư ờng lối phát triển và quản lý vĩ mô
11
Chính sách 12
Bộ máy hành chính C4) 13
19
Kếưhoạchư
Chiến lược
Thực hiện 20
Kếtưquảưhoạtư
độngưDNưưưưưưưưư
22 Kiểm soát 21
14
Chi tiêu của chính phủ (C1, C5)
Nguồn ngân sách (C1, C5)
15
NN
NN
DN 17
Sơ đồ 3: Hệ thống động kinh tế thị trường cú sự điều tiết của chớnh phủ qua DN và DNNN, [Nguyễn Mạnh Quõn]
(C2, C3)
Trang 10Khả năng can thiệp của chính phủ đối với hoạt doanh nghiệp
hoạt động trong nền kinh tế thị trư ờng
Đóng góp cho ngân sách
Phát triển sản xuất Cung hàng hóa
2
15 11
Tạo việc làm Tiền l ơng
Trang 11 Bộ chỉ số là một trong những nguồn tư liệu nền tảng cung cấp những thông tin cơbản về năng lực và tình trạng hoạt động của doanh nghiệp và khu vực sản xuất, làm
cơ sở để ra quyết định can thiệp hỗ trợ, điều tiết đối với doanh nghiệp và với nềnkinh tế;
(1) định hướng phát triển cho doanh nghiệp và các ngành kinh tế nói chung và mụctiêu/nhiệm vụ cho DNNN nói riêng, (2) phân bổ ngân sách/nguồn lực cần thiết choviệc thực hiện, (3) ban hành cơ chế/chính sách nhằm tạo thuận lợi cho doanhnghiệp để triển khai các hoạt động của mình và cho DNNN để thực thi mụctiêu/nhiệm vụ của mình;
mục tiêu kinh tế vĩ mô của chính phủ, hiệu lực của chính sách đối với doanhnghiệp, để đánh giá năng lực và kết quả thực hiện mục tiêu của DNNN
4 Gỡ rối cuộn dây liền đầu
Mặc dù là một hệ thống gồm các mối quan hệ khép kín, thực tế chúng ta có thể vàcần “bóc tách” các mối quan hệ thành những “phần tử” cơ bản Theo cách tiếp cận hệ
thống, các phần tư cơ bản này là các phần tử hệ thống - gồm một nhân tố với mối quan hệ đầu vào, đầu ra thể hiện bằng các mũi tên - liên kết lại với nhau, Sơ đồ 5 Đối với doanh
nghiệp, các yếu tố “đầu vào” bao gồm mục tiêu hoạt động, các yếu tố sản xuất, các tácnhân từ môi trường kinh doanh, được tuyển chọn, sử dụng và chuyển hóa qua một quátrình diễn ra bên trong nhân tố (doanh nghiệp) với sự trợ giúp của phương tiện kỹ thuật(công nghệ = thiết bị + cách thức tổ chức), để tạo nên những “đầu ra” khác nhau bao gồmkết quả hoạt động sản xuất kinh doanh (sản phẩm, hàng hóa), các mối quan hệ, liên kếtvới các doanh nghiệp khác hay thị trường tiêu dùng, tác động của hoạt động kinh doanhđến môi trường xung quanh Nếu thêm vào một vài nhân tố (doanh nghiệp) liên kết vớinhau, và thêm vào vài mũi tên thể hiện mối liên kết liên ngành, mạng lưới là chúng ta cóthể có được hình ảnh mô phỏng của một ngành và của cả nền kinh tế
Trang 12Sơ đồ 5: Phần tử hệ thống và các mối quan hệ của chúng trong hệ thống
Nếu tính đến yếu tố thời gian, giữa “đầu vào” và “đầu ra” có một khoảng cách choquá trình biến đổi Đây là một nhân tố rất quan trọng giúp chúng ta xác định “điểm đầu vàđiểm cuối của cuộn dây” Theo thời gian, có thể phân chia các thông tin theo chuỗi nhưsau: khởi đầu là các định hướng phát triển kinh tế (11) và mục tiêu phát triển KT-XH (12)được các doanh nghiệp đưa vào mục tiêu kinh doanh (18), các doanh nghiệp triển khaithành các mục tiêu hoạt động (19) để tác nghiệp (20) Các doanh nghiệp sản xuất nguyênliệu (khu vực I) trở thành người cung cấp nguồn lực cho các doanh nghiệp thuộc cácngành chế tạo (khu vực II) Thông tin từ các doanh nghiệp chế tạo lại được các doanhnghiệp thương mại, cung cấp dịch vụ (khu vực III) sử dụng làm cơ sở để xây dựng mụctiêu, kế hoạch kinh doanh và triển khai hoạt động Đến lượt mình, các doanh nghiệp trongcác ngành khác nhau liên kết với nhau để tạo ra sản phẩm hàng hóa và dịch vụ cung ứngcho khu vực tiêu dùng Cứ như vậy, “vòng tuần hoàn” này (trong bộ môn phân tích chínhsách gọi là vòng hồi ứng – feedback cycling) được lặp đi lặp lại trong một ngành và giữacác ngành để tạo nên sự vận động của nền kinh tế Từ thực tế nêu trên, xuất hiện một sốbất cập sau đây: (i) như vậy, phải mất một thời gian dài, chính phủ mới biết được liệu mộtchủ trương, chính sách có hiệu lực đến đâu, nếu không như mong muốn, có thể là quámuộn để có những biện pháp điều chỉnh sớm và lãng phí nguồn lực; (ii) mặt khác, do chỉ
số đo được là kết quả tổng hợp từ nhiều ngành, sẽ rất khó đánh giá tác động của chính
b)a)
Quan hệTác động
Mục tiêuYếu tốTác nhân
Trang 13sách đối với các khu vực kinh tế khác nhau và rất khó điều chỉnh trrong kỳ hoạch định
tiếp theo Câu hỏi đặt ra là: Cần tập hợp những thông tin gì, ở đâu để có đủ căn cứ cho việc hoạch định và để có thể can thiệp sớm? Chắc chắn sẽ không phải là các chỉ số tổng
hợp cuối cùng của nền kinh tế, mà phải bắt đầu càng sớm càng tốt trong quá trình vậnđộng của các ngành, ở các doanh nghiệp
Một vấn đề khác cũng rất cần được nghiên cứu là làm thế nào để có thể đánh giá tácđộng lan truyền hay hiệu lực của một chính sách khi ban hành (đầu vào) đối với mộtmạng lưới các doanh nghiệp sau một thời gian? Điều đó không chỉ đặt ra câu hỏi liênquan đến điểm đo, cách đo các chỉ số, chỉ báo (đầu ra) của mạng lưới; mà còn đề cập đếnmột vấn đề lâu nay chưa được nghiên cứu, đó là việc xây dựng một mô hình/phương pháp
có thể cho phép “đo lường phản ứng” của doanh nghiệp trước một quyết định, sử dụngnhư một mô hình “trắc nghiệm chính sách” (thử phản ứng) ở các doanh nghiệp, để thaythế cho việc lấy ý kiến doanh nghiệp một cách thiếu hệ thống như hiện nay Do phạm vicủa bài này tập trung vào hệ thống các chỉ số, chỉ báo, nên vấn đề trên sẽ được bàn đếnđến trong một dịp khác
5 Những nội dung chính của hệ thống chỉ số, chỉ báo về doanh nghiệp
Về khái niệm, có thể hiểu hệ thống các chỉ số, chỉ báo doanh nghiệp là hệ thống
những dấu hiệu, tín hiệu phản ánh hiện trạng hoạt động, kết quả hoạt động, cung cấpthông tin và dấu hiệu về hệ thống bên trong, tình trạng “sức khỏe” của doanh nghiệp vànăng lực hoạt động của doanh nghiệp Chúng thường bao gồm nhiều chỉ số khác nhau, vàgiữa những chỉ số, nhóm chỉ số có những mối liên hệ nhất định với nhau
Về tính chất, chúng có thể là những chỉ số, chỉ báo về kết quả (đầu ra) phản ánh kết quả hoạt động Chúng được gọi là các chỉ số kết quả (result indicators – RIs, hoặc key
result indicators - KRIs) Điển hình như các chỉ số tài chính, số liệu báo cáo về sản lượng,lao động, thu nhập, năng suất… Đây là các chỉ số được sử dụng rất phổ biến Tuy nhiên,
bởi không thể can thiệp để làm thay đổi một quá trình đã kết thúc Ngày nay, các chỉ số,
1XemKoontz,[24,trang543-563],vÒkiÓm tra lêng tríchaykiÓm tra vît tríc.
Trang 14chỉ báo phản ánh năng lực hoạt động của doanh nghiệp được đánh giá ngày càng cao và
được sử dụng ngày càng phổ biến kết hợp và thay thế cho các chỉ số kết quả Chỉ số năng lực hoạt động (performance indicators – PIs, hoặc key performance indicators – KPIs) thể
hiện những đặc điểm về quá trình và tác động của các nhân tố ảnh hưởng đến quá trìnhhoạt động tác nghiệp của doanh nghiệp được phản ánh thành những dấu hiệu, biểu hiện cụthể có thể xác minh, đo lường được, ví dụ như năng lực của hệ thống công nghệ, côngsuất, trình độ và chất lượng của lực lượng lao động, thời gian xử lý đơn hàng, hiệu xuấtcông tác, chỉ số thỏa mãn khách hàng… Các chỉ số này có thể sử dụng để đánh giá tìnhtrạng năng lực hoạt động của hệ thống công nghệ, năng lực hoàn thành công việc của bộmáy tổ chức của doanh nghiệp hay khả năng hoàn thành mục tiêu đã xác định Do chútrọng đến quá trình, các chỉ số (K)PIs thể hiện tính ưu việt ở chỗ nó cho phép dự đoántrước kết quả và vì thế tạo điều kiện thuận lợi cho việc can thiệp và điều chỉnh sớm
Giữa các chỉ số (K)RIs và các chỉ số (K)PIs có mối liên hệ nhân quả, trong đó(K)PIs là dấu hiệu phản ánh những diễn biến của quá trình và là dấu hiệu báo trước vềnhững (K)RIs sẽ và sẽ và có thể đạt được trong tương lai Nhờ sử dụng (K)PIs, ngườiquản lý có thể ra quyết định và hành động can thiệp/điều chỉnh kịp thời định hướng đạtđược các (K)RIs mong muốn Đó là lý do tại sao các chỉ số (K)PIs ngày càng được ưadùng
Do vai trò của doanh nghiệp đối với sự phát triển kinh tế - xã hội là rất lớn, trongnền kinh tế thị trường, các nhà nghiên cứu còn sử dụng hệ thống các chỉ số, chỉ báo đểphản ánh tác động của hoạt động của doanh nghiệp về mặt kinh tế - xã hội Mọi nỗ lựccủa chính phủ đề là nhằm mục đích phát triển kinh tế xã hội một cách cân đối, bền vữngđảm bảo công bằng, dân chủ, văn minh Tuy nhiên, không phải chính phủ đứng ra thựchiện tất cả các hoạt động này mà phải dựa vào các doanh nghiệp Nói cách khác, chínhdoanh nghiệp là nhân tố chính tạo nên sự phát triển, tăng trưởng, bền vững, công bằng,dân chủ, văn minh Chính vì vậy, một nhóm chỉ báo được sử dụng để phản ánh năng lực
và mức độ kết quả đóng góp đối với nền kinh tế và xã hội của doanh nghiệp – các chỉ số kinh tế vĩ mô.