1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

2013 CD 1 báo cáo tổng quan về tình hình phát triển KT XH và hoạt động của DN thuộc tỉnh hưng yên

48 400 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 48
Dung lượng 320,86 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thị trường bất động sản phát triển mạnh, thị trường khoa học - công nghệ đang hình thành và có bước phát triển nhất định.Hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng theo nguyên tắc và ch

Trang 1

SỞ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯ

ĐỀ TÀI Nghiên cứu xây dựng hệ thống tiêu chí quản lý doanh nghiệp sau đăng

ký trên hồ sơ điện tử tại tỉnh Hưng Yên

CHUYÊN ĐỀ 1

BÁO CÁO TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH

PHÁT TRIỂN KT-XH CỦA TỈNH HƯNG YÊN

TRONG THỜI GIAN QUA VÀ MỤC TIÊU ĐẾN NĂM 2020

Hà Nội, tháng 12 năm 2013

Trang 2

MỤC LỤC

CHƯƠNG 1 BỐI CẢNH CHUNG CỦA NỀN KINH TẾ 4

1.1 Doanh nghiệp Việt Nam qua 10 năm phát triển (2002-2012) 4

1.1.1 Xu hướng chuyển dịch 4

1.1.2 Hiệu quả hoạt động 5

1.2 Động thái của doanh nghiệp năm 2013 6

1.3 Triển vọng kinh tế Việt Nam năm 2014 9

1.3.1 Tốc độ tăng trưởng 9

1.3.2 Lạm phát 10

1.3.3 Môi trường kinh doanh 10

1.3.4 Sản xuất 10

1.3.5 Triển vọng 10

CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI VÀ HOẠT ĐỘNG DOANH NGHIỆP CỦA TỈNH HƯNG YÊN 12

2.1 Tình hình thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVII, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2011 - 2015 12

2.1.1 Về thực hiện các mục tiêu Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Tỉnh lần thứ XVII.12 2.1.2 Kết quả thực hiện một số nhiệm vụ chính về phát triển KT-XH và ba khâu đột phá chiến lược 13

2.2 Hạn chế, yếu kém, nguyên nhân và bài học kinh nghiệm 25

2.2.1 Những hạn chế yếu kém 25

2.2.2 Nguyên nhân của những hạn chế, yếu kém 26

2.2.3 Bài học kinh nghiệm 27

CHƯƠNG 3 MỤC TIÊU, PHƯƠNG HƯỚNG, NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI 5 NĂM 2016 – 2020 29

3.1 Quan điểm phát triển 29

3.2 Mục tiêu tổng quát 30

3.3 Các chỉ tiêu chủ yếu 30

3.3.1 Về phát triển kinh tế 30

Trang 3

3.3.2 Về phát triển xã hội, bảo vệ môi trường 30

3.4 Phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp phát triển 31

3.4.1 Về nông nghiệp và phát triển nông thôn 31

3.4.2 Về công nghiệp - xây dựng 31

3.4.3 Về thương mại và dịch vụ 32

3.4.4 Về phát triển kết cấu hạ tầng 33

3.4.5 Về quản lý tài chính, tiền tệ, tín dụng và ngân hàng 34

3.4.6 Về cơ chế chính sách 35

3.4.7 Các lĩnh vực văn hóa - xã hội 35

3.4.8 Phát triển khoa học - công nghệ và bảo vệ môi trường 37

3.4.9 An ninh, quốc phòng và trật tự xã hội 38

3.5 Các đề xuất, kiến nghị 38

Trang 4

1 CHƯƠNG 1

BỐI CẢNH CHUNG CỦA NỀN KINH TẾ

1.1. Doanh nghiệp Việt Nam qua 10 năm phát triển (2002-2012)

Tăng trưởng kinh tế là một trong những chỉ tiêu kinh tế vĩ mô cơ bản để đánh giá thành tựu phát triển của một quốc gia trong một thời kỳ nhất định Nền kinh tế Việt Nam sau 10 năm gia nhập WTO (2007 – 2016) mặc dù bị ảnh hưởng do tác động của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, khủng hoảng nợ công nhưng vẫn duy trì được chuỗi tăng trưởng kinh tế Trong 10 năm, nền kinh tế đạt tốc

độ tăng trưởng bình quân là 6,29% Là thành tựu hết sức quan trọng, nếu xét trong điều kiện rất khó khăn thiên tai, dịch bệnh, sự biến động giá cả thế giới và khủng hoảng kinh tế toàn cầu… (bảng 1) như hiện nay.

Cụ thể, nếu như năm 1995, GDP bình quân đầu người của Việt Nam đạt 289 USD thì đến năm

2015 con số này đã là 2.228 USD, dự kiến năm 2016 là 2.445 USD, cao gấp gần 8,5 lần so với năm

1995 Sau 10 năm gia nhập WTO, GDP bình quân đầu người đạt ở mức khả quan, bình quân là 1.600 USD đầu người, mức sống của người dân đã được cải thiện Cơ cấu kinh tế theo giá thực tế chuyển dịch theo hướng tích cực, phù hợp với yêu cầu của sự phát triển Tỷ lệ giữa kim ngạch xuất khẩu so với GDP của Việt Nam trong 10 năm qua tuy có suy giảm trong năm 2009 nhưng vẫn đạt ở mức khá cao, năm 2016 là 80,5%, thuộc loại cao so với tỷ lệ chung của thế giới, đứng thứ hạng khá cao so với các nước trong khu vực ASEAN.

Sản xuất nông nghiệp 10 năm qua mặc dù gặp nhiều khó khăn, thiên tai, dịch bệnh và đảm bảo sản xuất ổn định Năm 2015, sản lượng lúa đã đạt ở mức cao, khoảng 44,75 triệu tấn, năm 2016 dự kiến đạt 44,5 triệu tấn Sản lượng lương thực có hạt cả năm đạt 50,1 triệu tấn, năm 2016 dự kiến đạt 50 triệu tấn, tăng gần 10 triệu tấn so với năm 2007 Mức lương thực bình quân đầu người năm

2015 đạt 546,4 kg và xuất khẩu các sản phẩm từ khu vực nông nghiệp đạt mức cao trên 20,6 tỷ USD.

Trang 5

Khu vực sản xuất công nghiệp thường có tốc độ tăng trưởng cao nhất nhưng từ giai đoạn năm 2007-2011 chịu ảnh hưởng lớn của tăng giá đầu vào, lạm phát, suy thoái kinh tế thế giới, khủng hoảng nợ công… làm cho tăng trưởng chậm lại và hiệu quả đầu tư kinh doanh thấp Giai đoạn 2011-2015 sản xuất công nghiệp từng bước phục hồi; chỉ số phát triển công nghiệp 2015 tăng khoảng 10%; tỷ trọng công nghiệp chế biến, chế tạo trong cơ cấu công nghiệp tăng mạnh Cơ cấu trong nội bộ ngành Công nghiệp đã dần chuyển dịch theo hướng tích cực Công nghiệp khai khoáng giảm từ 37,1% năm 2011 xuống khoảng 33,1% năm 2015; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng từ 50,1% năm 2011 lên 51,5% năm 2015.

Khu vực dịch vụ có tốc độ tăng trưởng khá ổn định, trong 10 năm qua mặc dù hai năm 2008, 2009 còn gặp nhiều khó khăn do ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính toàn cầu nhưng vẫn đạt mức bình quân là 6,75%, cao hơn so với mức tăng trưởng bình quân chung của nền kinh tế Năm 2015, tốc độ tăng trưởng khu vực dịch vụ đạt khoảng 6,27% Doanh thu du lịch đạt mức cao khoảng 240 nghìn tỷ đồng năm 2015, dự kiến đạt 260 nghìn tỷ đồng năm 2016.

Du lịch quốc tế đạt tốc độ tăng trưởng khá cao, số lượng khách quốc tế đến Việt Nam năm 2015 đạt

9 triệu lượt so với 4,2 triệu năm 2007, khách nội địa dự kiến đạt 42 triệu năm 2016 Các sản phẩm dịch vụ ngày càng phát triển đa dạng với chất lượng được cải thiện hơn, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của nhân dân và có sức cạnh tranh trên thị trường Tuy vậy, trong lĩnh vực dịch vụ, cơ sở

hạ tầng yếu kém, nhất là cơ sở hạ tầng logitisc, chất lượng dịch vụ còn thấp vẫn là những khó khăn tồn tại lớn hiện nay.

Vốn đầu tư phát triển toàn xã hội có tốc độ tăng trưởng được duy trì và là nguồn lực quan trọng cho tăng trưởng kinh tế Tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội trên GDP của 10 năm (2007-2016) đạt tương ứng là 46,5%, 41,5%, 42,7%, 41,1%, 33,3%, 31,1%, 30,5%, 31,0%, 30,5% cho các năm

2007, 2008, 2009, 2010, 2011, 2012, 2013, 2014, 2015, đạt 31,0% theo kế hoạch năm 2016 Năm

2007, tổng vốn đầu tư chỉ đạt 532,1 nghìn tỷ đồng thì đến năm 2016 dự kiến đạt 1.588 nghìn tỷ đồng, bằng 31,0% GDP Vốn FDI trong 10 năm (2007-2016), thực hiện được khoảng 112,23 tỷ USD FDI thực hiện bình quân mỗi năm từ khi gia nhập WTO đạt là 11,22 tỷ USD (Bộ Công Thương, 2015).

Xuất, nhập khẩu 10 năm qua đạt được những kết quả vượt trội nhờ mở rộng thị trường Nổi bật, năm 2015, kim ngạch hàng hoá xuất khẩu đạt 162,4 tỷ USD, tăng gấp 3,3 lần so với năm 2007, tăng 8,1% so với năm 2014, trong đó khu vực FDI (không kể dầu thô) đạt 111,3 tỷ USD, tăng 18,5% Năm 2015 có 25 mặt hàng đạt kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD Giai đoạn 2011-2015 mức nhập siêu được cải thiện hơn và năm 2012 Việt Nam đã có thặng dư thương mại trên 700 triệu USD, năm

2014 là 2,337 tỷ USD và năm 2015 Việt Nam trở lại nhập siêu 3,17 tỷ USD, bằng 2% kim ngạch xuất khẩu (Đặng Thị Thúy Hồng, 2016) Nhập siêu giảm là một trong những tác nhân quan trọng giúp giảm áp lực tăng tỷ giá và cải thiện cán cân thanh toán quốc tế.

Về các mặt xã hội và bảo vệ môi trường, 10 năm qua trên các lĩnh vực giáo dục đào tạo, dân số, việc làm và giảm nghèo, y tế và chăm sóc sức khỏe nhân dân, bảo vệ môi trường và các hoạt động văn hóa xã hội khác đều đã đạt được nhiều kết quả, góp phần quan trọng vào việc phát triển bền vững, nâng cao từng bước đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân Việc thực hiện chính sách kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô bảo đảm an sinh xã hội của Đảng và Nhà nước đã giảm bớt khó khăn cho người dân, nhất là người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa, các đối tượng chính sách, góp phần xóa đói, giảm nghèo, giải quyết việc làm và giữ vững ổn định chính trị, xã hội.

Một số hạn chế và những vấn đề đặt ra

Trong giai đoạn 2007-2016, Việt Nam luôn duy trì được mức tăng trưởng khá cao, bình quân 6,29%/năm nhưng để đạt được mức tăng trưởng đó, tổng đầu tư cho phát triển luôn ở mức cao (30,0% - 46,5%), cao hơn nhiều so với các nước khác Điều này, chứng tỏ hiệu quả và chất lượng tăng trưởng của Việt Nam còn thấp so với các nước trong khu vực.

Trang 6

Bên cạnh đó, năng suất lao động Việt Nam còn thấp, đóng góp vào tăng trưởng còn hạn chế Năm

2011, năng suất lao động bình quân của Việt Nam theo giá thực tế mới đạt khoảng 2.400 USD/người, thấp hơn rất nhiều so với mức năng suất lao động năm 2005 của nhiều nước trong khu vực Cụ thể, con số tương ứng lần lượt là Indonesia 2.650 USD, Philipines 2.689 USD, Thái Lan 2.721 USD, Singapore 48.162 USD, Brunei 51.500 USD, Nhật Bản 70.237 USD, Trung Quốc 2.869USD, Malaysia 12.571USD, Hàn Quốc 33.237USD… Năm 2012 năng suất lao động xã hội (GDP/LĐ), giá hiện hành đạt 63,11 triệu đồng; năm 2013: 68,65 triệu, năm 2014: 74,66 triệu và năm

2015 đạt khoảng 83,81 triệu đồng, còn thấp hơn nhiều lần so với các nước trong khu vực.

Trong công nghiệp, ngành khai thác, gia công vẫn chiếm tỷ trọng lớn, việc sử dụng công nghệ tiên tiến, sản phẩm có hàm lượng công nghệ và chất xám cao còn rất thấp làm cho trong tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam đạt tỷ trọng giá trị gia tăng thấp.

Nông nghiệp tuy đạt được nhiều thành tựu nhưng tỷ lệ hàng nông sản qua chế biến còn thấp; đặc biệt nhiều loại giống cây trồng, vật nuôi còn phụ thuộc vào nhập khẩu đến 80% dẫn đến hạn chế sức cạnh tranh của hàng nông sản Việt Nam trên thị trường Việc đưa tiến bộ khoa học công nghệ vào sản xuất nông nghiệp còn chậm, chuỗi cung ứng sản phẩm nông nghiệp còn nhiều bất cập… Chuyển dịch cơ cấu kinh tế thời gian qua còn chậm, tỷ trọng các ngành nông, lâm, ngư nghiệp; công nghiệp - xây dựng và dịch vụ trong GDP năm 2015 của Việt Nam ước thực hiện tương ứng mới đạt 17,5%; 38,2% và 44,4% So sánh với nhiều nước trong khu vực thì cơ cấu kinh tế nước ta chuyển dịch còn chậm, nông, lâm và ngư nghiệp còn cao, khu vực dịch vụ kém phát triển, chiếm tỷ trọng còn quá khiêm tốn.

Sau 10 năm gia nhập WTO, mức thâm hụt thương mại Việt Nam tuy được cải thiện nhưng tỷ trọng của thâm hụt thương mại trên GDP và trên tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam vẫn còn cao Điều này chứng tỏ, các nước đã tận dụng tốt cơ hội trong hội nhập WTO để đưa hàng hóa vào Việt Nam ngày càng nhiều, trong khi Việt Nam lại chưa tận dụng tốt cơ hội từ WTO mang lại.

Tóm lại, sau 10 năm hội nhập WTO, nền kinh tế Việt Nam có những bước phát triển đáng ghi nhận Tuy nhiên, chất lượng tăng trưởng kinh tế trong giai đoạn này chưa được cải thiện nhiều, dẫn đến hiệu quả thấp, tăng trưởng kinh tế phát triển thiếu bền vững, nhiều vấn đề xã hội, môi trường chưa được giải quyết hiệu quả Vì vậy, cần phải có những cải cách đột phá, tập trung vào một số vấn đề sau:

Thứ nhất, tiếp tục cải cách hành chính triệt để, khắc phục những mặt trái của cơ chế “một cửa”, đổi

mới bộ máy hành chính nhà nước cương quyết và hiệu quả Tăng cường và nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra, kiểm soát thị trường, làm minh bạch, lành mạnh hóa môi trường kinh doanh.

Thứ hai, sớm xây dựng chiến lược phát triển các ngành dịch vụ cơ sở hạ tầng giai đoạn đến 2020

và tầm nhìn 2030, trong đó, vấn đề cốt lõi là tái cơ cấu các DN, các loại dịch vụ cơ sở hạ tầng theo hướng tập trung những dịch vụ có tiềm năng, lợi thế, các dịch vụ có giá trị gia tăng cao và phát triển logistics xanh, nhằm tận dụng hiệu quả các cơ hội mang lại từ hội nhập.

Thứ ba, nhanh chóng đầu tư phát triển hệ thống logistics của Việt Nam, bao gồm: Cơ sở hạ tầng

logistics, thể chế pháp luật về phát triển dịch vụ logistics, phát triển các DN cung ứng và sử dụng dịch vụ logistics… nhằm đẩy nhanh quá trình đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao hiệu quả, thúc đẩy các hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa.

Thứ tư, nâng mức đầu tư cho khoa học công nghệ (1-2% GDP) để Việt Nam sớm có những đột phá

về khoa học công nghệ, tạo ra những mặt hàng, những sản phẩm kỹ thuật cao trong các mặt hàng xuất khẩu chủ lực mang lại giá trị cao cho xuất khẩu của Việt Nam.

Thứ năm, cùng với việc đổi mới thế chế, hoàn thiện hệ thống chính sách nhằm phát triển các mặt

hàng xuất khẩu chủ lực, cần có các biện pháp để chuyển dần từ gia công sang sản xuất, xuất khẩu, giảm và tiến tới hạn chế mức thấp nhất xuất khẩu sản phẩm thô, khoáng sản; tăng xuất khẩu sản phẩm tinh chế, có hàm lượng khoa học - công nghệ cao, có giá trị gia tăng cao.

Trang 7

Trong dự thảo Văn kiện Đại hội XII, Đảng ta đánh giá: Đất nước ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội và tình trạng kém phát triển, trở thành nước đang phát triển có thu nhập trung bình, đang đẩy mạnh CNH, HĐH và hội nhập quốc

tế Kinh tế tăng trưởng khá, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa từng bước hình thành, phát triển.

Năm năm qua (2011 - 2015), bên cạnh những thời cơ, thuận lợi thì tình hình thế giới, khu vực cũng

có nhiều diễn biến rất phức tạp; kinh tế thế giới phục hồi chậm; khủng hoảng chính trị ở nhiều nơi, nhiều nước; cạnh tranh về nhiều mặt ngày càng quyết liệt giữa các nước lớn tại khu vực; diễn biến phức tạp trên Biển Đông, đã tác động bất lợi đến nước ta Trong bối cảnh đó, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đã nỗ lực phấn đấu thực hiện các nhiệm vụ và mục tiêu đề ra trong Nghị quyết Đại hội lần thứ XI của Đảng và đạt được những thành quả quan trọng.

Nền kinh tế vượt qua nhiều khó khăn, thách thức, quy mô và tiềm lực được nâng lên; kinh tế vĩ mô

cơ bản ổn định, lạm phát được kiểm soát; tăng trưởng kinh tế được duy trì ở mức hợp lý, từ năm

2013 dần phục hồi, năm sau cao hơn năm trước Đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh

tế và thực hiện ba đột phá chiến lược được tập trung thực hiện, bước đầu đạt kết quả tích cực Giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, văn hóa, xã hội, y tế có bước phát triển An sinh xã hội được quan tâm nhiều hơn và cơ bản được bảo đảm, đời sống của nhân dân tiếp tục được cải thiện Chính trị - xã hội ổn định; quốc phòng, an ninh được tăng cường; kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo

vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, giữ vững hòa bình, ổn định Quan hệ đối ngoại, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, hiệu quả Vị thế, uy tín quốc tế của nước ta tiếp tục được nâng cao Dân chủ xã hội chủ nghĩa và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc tiếp tục được phát huy Công tác xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị được chú trọng và đạt kết quả quan trọng

Tuy nhiên, đổi mới chưa đồng bộ và toàn diện Một số chỉ tiêu kinh tế - xã hội chưa đạt kế hoạch; nhiều chỉ tiêu, tiêu chí trong mục tiêu phấn đấu để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại chưa đạt được Nhiều hạn chế, yếu kém trong các lĩnh vực giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, văn hóa, xã hội, y tế chậm được khắc phục Đời sống của một bộ phận nhân dân, nhất là ở vùng sâu, vùng xa còn nhiều khó khăn Bốn nguy cơ mà Đảng ta chỉ ra vẫn còn tồn tại, có mặt diễn biến phức tạp Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên và tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí chưa bị đẩy lùi Một số mặt công tác xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị chuyển biến chậm

Cơ chế vận hành nền kinh tế

Tư tưởng, đường lối phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã từng bước được thể chế hoá thành pháp luật, cơ chế, chính sách Trong 30 năm đổi mới, Quốc hội nước ta đã 03 lần sửa đổi và ban hành Hiến pháp, sửa đổi và ban hành trên 150 bộ luật và luật; Ủy ban Thường vụ Quốc hội cũng ban hành trên 70 pháp lệnh, tạo cơ

sở pháp lý cho sự chuyển đổi và vận hành của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Các hình thức sở hữu, thành phần kinh tế và chế độ phân phối đã phát triển đa dạng, từng bước tuân thủ các quy luật của kinh tế thị trường phù hợp với điều kiện của đất nước Các chủ thể kinh tế được tự do kinh doanh và cạnh tranh lành mạnh theo quy định của pháp luật, ngày càng phát huy vai trò tích cực trong nền kinh tế quốc dân Kinh

tế nhà nước từng bước phát huy vai trò chủ đạo; hệ thống doanh nghiệp nhà nước được cơ cấu lại, cổ phần hoá và đang giảm mạnh về số lượng Kinh tế tập thể bước đầu được đổi mới, các hình thức hợp tác kiểu mới được hình thành phù hợp hơn với cơ chế thị trường Kinh tế tư nhân tăng nhanh về số lượng, từng bước nâng cao hiệu quả kinh doanh, giải quyết việc làm, đóng góp ngày càng lớn vào GDP Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài được khuyến khích phát triển, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) đã có những đóng góp quan trọng vào việc thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, giải quyết việc làm và xuất khẩu.

Trang 8

Các yếu tố thị trường và các loại thị trường đang hình thành, phát triển, cơ bản đã có sự liên thông, gắn kết thị trường trong nước với thị trường khu vực và quốc tế Thị trường hàng hóa, dịch vụ tăng về số lượng, chủng loại, chất lượng; đã có bước phát triển và hoàn thiện về quy mô, cơ cấu, kết cấu hạ tầng thương mại, dịch vụ, cơ chế quản lý, năng lực cạnh tranh Giá cả hầu hết các loại hàng hoá, dịch vụ đã vận hành theo giá thị trường, được xác định theo quan hệ cung cầu Thị trường lao động đã được hình thành với nguồn cung lao động khá dồi dào trên phạm vi cả nước, bước đầu đã tham gia thị trường quốc tế Thị trường tài chính - tiền tệ phát triển khá sôi động Thị trường bất động sản phát triển mạnh, thị trường khoa học - công nghệ đang hình thành và có bước phát triển nhất định.

Hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng theo nguyên tắc và chuẩn mực của thị trường thế giới; đã tiến hành nhiều cải cách thể chế theo hướng minh bạch, tự do hóa và có tính giải trình; gia nhập và tích cực xây dựng Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC); từng bước hoàn thiện thị trường đầy đủ theo quy định của WTO; chuẩn bị sẵn sàng đón nhận cơ chế vận hành của Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP); tham gia có hiệu quả các liên kết kinh tế khu vực và quốc tế trên nhiều cấp độ, nhất là trong xây dựng quan hệ đối tác hợp tác chiến lược về kinh tế và các Hiệp định Thương mại tự do (FTA) thế hệ mới với những tiêu chuẩn cao.

Đảng đã ban hành và lãnh đạo tổ chức thực hiện nhiều nghị quyết, chủ trương về kinh tế; kịp thời điều chỉnh những chủ trương, giải pháp phù hợp với sự thay đổi của tình hình, đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế, nâng cao chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh… Sự quản lý, điều hành của Nhà nước đối với kinh tế thị trường sát thực và hiệu quả hơn Việc sử dụng các công cụ quản lý kinh tế, điều tiết nền kinh tế vĩ mô có tiến bộ; phát huy dân chủ trong lĩnh vực kinh tế, thực hiện ngày càng tốt hơn vai trò làm chủ về kinh tế của nhân dân.

Sau 30 năm đổi mới, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã từng bước hình thành và phát triển; thể chế kinh tế được quan tâm xây dựng và từng bước hoàn thiện Thực lực của nền kinh tế tăng lên; kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định; lạm phát được kiểm soát; tăng trưởng kinh tế được duy trì hợp lý và được đánh giá là thuộc nhóm nước

có mức tăng trưởng khá cao trên thế giới.

Đại hội XI đã khẳng định, đất nước đã ra khỏi tình trạng kém phát triển, bước vào nhóm nước đang phát triển có thu nhập trung bình Môi trường đầu tư được cải thiện, đa dạng hóa được nhiều nguồn vốn đầu tư cho phát triển Đại hội XII đã đưa ra nhận định quan trọng: “Kinh tế tăng trưởng khá, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa từng bước hình thành, phát triển” Tuy nhiên, kinh tế chủ yếu phát triển theo chiều rộng, chậm chuyển sang phát triển theo chiều sâu; thiếu bền vững do nhiều nguyên nhân cần được làm rõ và tiếp tục khắc phục trong quá trình đổi mới trong thời gian tới với chất lượng cao hơn.

Thành tựu kinh tế - xã hội đạt được trong 30 năm qua

Về tăng trưởng kinh tế, trong suốt 30 năm qua, kinh tế Việt Nam đã đạt tốc độ tăng trưởng cao hơn hẳn thời kỳ trước đổi mới Sau giai đoạn đầu đổi mới (1986-1990) với mức tăng trưởng GDP bình quân hàng năm chỉ đạt 4,4%, nền kinh tế Việt Nam đã trải qua gần 20 năm với mức tăng trưởng rất ấn tượng.

Giai đoạn 1991-1995, GDP bình quân tăng 8,2%/năm, gấp đôi so với 5 năm trước đó; giai đoạn 5 năm tiếp theo 1996-2000, mặc dù cùng chịu tác động của khủng hoảng tài chính khu vực (1997-1999), GDP vẫn duy trì bình quân

Trang 9

tăng 7,6%/ năm; giai đoạn 2001-2005, GDP tăng bình quân 7,34%; giai đoạn 2006-2010, do suy giảm kinh tế thế giới, Việt Nam vẫn đạt tốc độ tăng trưởng GDP bình quân 6,32%/năm.

Trong các năm tiếp theo, do chịu tác động từ cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 và khủng hoảng nợ công năm 2010, tốc độ tăng trưởng GDP giai đoạn 2011-2015 của Việt Nam tuy đã chậm lại nhưng vẫn đạt 5,9%/năm, là mức cao của khu vực và thế giới Quy mô nền kinh tế tăng nhanh.

Năm 2003, sau 16 năm đổi mới, GDP bình quân đầu người ở Việt Nam mới chỉ đạt 471 USD/năm thì đến năm 2015, quy mô nền kinh tế đã đạt khoảng 204 tỷ USD, thu nhập bình quân đầu người đạt gần 2.300 USD.

Lực lượng sản xuất có nhiều tiến bộ cả về số lượng và chất lượng Chất lượng tăng trưởng có mặt được cải thiện, trình độ công nghệ sản xuất có bước được nâng lên Đóng góp của yếu tố năng suất tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng nếu ở giai đoạn 2001-2005 chỉ đạt 21,4%, giai đoạn 2006-2010 đạt 17,2% thì trong giai đoạn 2011-2015 đã đạt 28,94% Kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định, lạm phát được kiểm soát.

Những nỗ lực đổi mới trong 30 năm qua đã giúp cho môi trường đầu tư liên tục được cải thiện, nhờ đó đã thu hút ngày càng nhiều hơn vốn đầu tư cho phát triển.

Cơ cấu kinh tế của Việt Nam đã bước đầu chuyển dịch theo hướng hiện đại Cơ cấu ngành kinh tế chuyển dịch theo hướng giảm khu vực nông nghiệp, tăng khu vực dịch vụ và công nghiệp Cơ cấu thành phần kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng phát huy tiềm năng của các thành phần kinh tế và đan xen nhiều hình thức sở hữu.

Cơ cấu lao động có sự chuyển đổi tích cực gắn liền với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế Cơ cấu hàng hóa xuất khẩu có cải thiện đáng kể.

Kim ngạch xuất khẩu thường xuyên tăng với tốc độ hai con số, giai đoạn 2011-2015 tăng đến 18%/năm Xuất khẩu chuyển dịch theo hướng tăng dần tỷ trọng sản phẩm công nghiệp và giảm dần tỷ trọng sản phẩm nông nghiệp, giảm dần sản phẩm nguyên liệu thô Các vùng kinh tế trọng điểm được hình thành để làm động lực cho phát triển kinh tế vùng, miền và cả nước; phát triển các KKT, KCN tập trung nhằm thu hút vốn đầu tư phát triển, đồng thời hình thành các vùng chuyên môn hoá cây trồng, vật nuôi gắn với chế biến công nghiệp.

Các ngành, lĩnh vực của nền kinh tế đều có bước phát triển khá Ngành công nghiệp và xây dựng duy trì tốc độ tăng trưởng khá liên tục, tốc độ triển khai ứng dụng các thành tựu khoa học và công nghệ được cải thiện Sản phẩm công nghiệp phát triển ngày càng đa dạng và chất lượng, từng bước nâng cao khả năng cạnh tranh, bảo đảm cung cầu của nền kinh tế, giữ vững thị trường trong nước và mở rộng thị trường xuất khẩu; chú trọng đầu tư phát triển một

số ngành công nghiệp mới, công nghệ cao.

Khu vực nông nghiệp phát triển khá ổn định; CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn có sự chuyển biến quan trọng, từ lúc cả nuớc còn thiếu ăn nay đã trở thành nước xuất khẩu gạo với khối lượng lớn, đứng thứ hai thế giới, góp phần vào an ninh lương thực quốc tế; xuất khẩu cà phê, cao su, hạt điều, hạt tiêu, thủy sản với khối lượng lớn đứng thứ hạng cao trên thế giới.

Các ngành dịch vụ đã phát triển đa dạng hơn, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu của sản xuất và đời sống Ngành

du lịch, bưu chính viễn thông phát triển với tốc độ nhanh; các ngành dịch vụ tài chính, ngân hàng, tư vấn pháp lý có bước phát triển theo hướng tiến bộ, hiệu quả.

Việc khai thác, sử dụng tài nguyên quốc gia và bảo vệ môi trường gắn với yêu cầu phát triển bền vững đã được quan tâm và đem lại kết quả bước đầu Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội phát triển, đặc biệt là hạ tầng giao thông, điện, thông tin, viễn thông, thủy lợi, hạ tầng đô thị, giáo dục, y tế Việc ứng dụng khoa học công nghệ, đặc biệt là công nghệ cao, đã tạo những tiền đề để bước đầu chuyển sang xây dựng kinh tế tri thức.

Qua 30 năm đổi mới, đất nước cũng đã đạt được những thành tựu rất quan trọng về hoàn thiện thể chế, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Dưới sự lãnh đạo của Đảng, tư tưởng, đường lối phát triển kinh

tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã được thể chế hóa thành pháp luật, tạo hành lang pháp lý cho nền kinh

tế vận hành có hiệu quả Hiến pháp 2013 và hàng loạt bộ luật để thể chế hóa Hiến pháp 2013 cơ bản đã tạo cơ sở pháp lý hình thành và thúc đẩy việc hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Đó là khẳng định nguyên tắc nền kinh tế có chế độ đa sở hữu, đa thành phần, nhiều hình thức phân phối; khẳng định nguyên tắc phát triển đồng bộ các yếu tố thị trường và vận hành thông suốt các loại thị trường; khẳng định nguyên tắc Nhà nước quản lý nền kinh tế theo các nguyên tắc của cơ chế thị trường; khẳng định nguyên tắc đảm bảo thực hiện tiến

bộ và công bằng xã hội trong từng bước, từng chính sách phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường; khẳng định nguyên tắc mở cửa, hội nhập với kinh tế khu vực và thế giới.

Ba mươi năm đổi mới kinh tế cũng đã chứng kiến vai trò tích cực của các chủ thể kinh tế trong nền kinh tế quốc dân,

tự do kinh doanh và cạnh tranh theo quy định của pháp luật Kinh tế nhà nước dần phát huy tốt hơn vai trò chủ đạo;

hệ thống doanh nghiệp nhà nước từng bước được cơ cấu lại, cổ phần hóa theo Luật Doanh nghiệp và đang giảm mạnh về số lượng Kinh tế tập thể bước đầu được đổi mới, các hình thức hợp tác kiểu mới được hình thành phù hợp hơn với cơ chế thị trường Kinh tế tư nhân tăng nhanh về số lượng, từng bước nâng cao hiệu quả kinh doanh, giải quyết việc làm, đóng góp ngày càng lớn vào GDP Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài được khuyến khích phát triển,

Trang 10

các doanh nghiệp FDI đã có những đóng góp quan trọng vào việc thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, giải quyết việc làm và xuất khẩu.

Các tổ chức xã hội - nghề nghiệp không ngừng phát triển và ngày càng phát huy vai trò quan trọng của mình trong nền kinh tế Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đang tích cực được hoàn thiện, bộ máy quản lý nhà nước đã và đang được điều chỉnh theo hướng tinh giản, chức năng quản lý nhà nước về kinh tế cũng được nhận thức lại đúng đắn hơn, đổi mới cả trong nhận thức và thực hiện phù hợp hơn với cơ chế thị trường.

Qua 30 năm đổi mới, Việt Nam đã dần hình thành đầy đủ, đồng bộ các yếu tố thị trường và các loại thị trường, vận hành cơ bản thông suốt, gắn kết với thị trường khu vực và quốc tế Thị trường hàng hóa, dịch vụ đã có bước phát triển và hoàn thiện về quy mô, cơ cấu hàng hóa - thị trường trong và ngoài nước, kết cấu hạ tầng thương mại, dịch

vụ, cơ chế quản lý, mức độ cạnh tranh.

Thị trường tài chính, tiền tệ phát triển khá mạnh và sôi động Bên cạnh kênh huy động vốn từ ngân hàng, thị trường chứng khoán đã bước đầu hình thành, góp phần đa dạng hóa nguồn vốn đầu tư Đồng thời, hoạt động của thị trường bảo hiểm đã đóng góp tích cực vào việc ổn định sản xuất và đời sống dân cư, huy động vốn cho sự nghiệp CNH, HĐH đất nước.

Thị trường bất động sản đã có bước phát triển nhanh chóng Thị trường lao động đã được hình thành trên phạm vi

cả nước Thị trường khoa học - công nghệ đang hình thành và phát triển, số lượng và giá trị giao dịch công nghệ có bước tiến đáng kể trong những năm gần đây Thị trường một số loại dịch vụ công cơ bản, nhất là về y tế, giáo dục

có bước phát triển mới, huy động được các nguồn lực ngoài ngân sách nhà nước tham gia.

Qua 30 năm đổi mới, việc tăng trưởng kinh tế đã cơ bản gắn kết hài hòa với phát triển văn hóa, xây dựng con người, tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ tài nguyên và môi trường Tăng trưởng kinh tế đi đôi với bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước phát triển Từ chỗ Nhà nước bao cấp toàn bộ trong việc giải quyết việc làm

đã dần chuyển trọng tâm sang thiết lập cơ chế, chính sách để các thành phần kinh tế và người lao động đều tham gia tạo việc làm; từ chỗ không chấp nhận có sự phân hóa giàu - nghèo đã đi đến khuyến khích mọi người làm giàu hợp pháp đi đôi với tích cực xóa đói giảm nghèo An sinh xã hội cơ bản được đảm bảo; hệ thống an sinh xã hội và phúc lợi xã hội phát triển khá đồng bộ, đặc biệt là trong vấn đề giảm nghèo, giải quyết việc làm, phát triển hệ thống bảo hiểm xã hội, chính sách ưu đãi người có công với nước, trợ giúp xã hội, chính sách bảo hiểm y tế toàn dân tạo điều kiện để người dân được hưởng thụ nhiều hơn về văn hóa, y tế và giáo dục Trong bối cảnh nền kinh tế có nhiều khó khăn, Việt Nam đã tăng thêm ngân sách và huy động nguồn lực để thực hiện các chính sách xã hội; đồng thời hoàn thành trước thời hạn nhiều Mục tiêu phát triển thiên niên kỷ của Liên Hợp Quốc.

30 năm đổi mới cũng là một chặng đường hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng trên nhiều cấp độ, đa dạng về hình thức, theo nguyên tắc và chuẩn mực của thị trường toàn cầu Việt Nam đã thiết lập được nhiều quan hệ đối tác chiến lược về kinh tế Tích cực xây dựng Cộng đồng ASEAN 2015 và hoàn thiện thị trường trong nước đầy đủ hơn theo cam kết WTO Cho đến nay đã có 59 quốc gia công nhận nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế thị trường, trong

đó có các đối tác thương mại lớn của Việt Nam Việt Nam đã ký kết 10 FTA khu vực và song phương (gồm 6 FTA ký kết với tư cách là thành viên ASEAN; 4 FTA đàm phán với tư cách là một bên độc lập); vừa hoàn tất đàm phán hai FTA (Liên minh châu Âu và TPP); đang tích cực đàm phán 3 FTA khác Việc tham gia ký kết và đàm phán tham gia các FTA có tác động tích cực tới phát triển kinh tế, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, doanh nghiệp và sản phẩm, nhất là đến nay Việt Nam đã tham gia vào ba chuỗi giá trị có vai trò ngày càng quan trọng đối với nền kinh tế toàn cầu đó là chuỗi giá trị lương thực và an ninh lương thực; chuỗi giá trị năng lượng và an ninh năng lượng (dầu

mỏ, khí, than) và chuỗi giá trị hàng dệt may và da giầy.

Một số bài học kinh nghiệm

Đạt được những thành tựu nêu trên là nhờ có nhận thức đúng đắn, đổi mới tư duy lý luận của Đảng về tính tất yếu của phát triển kinh tế thị trường; quyết định chuyển từ kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; xác định phát triển kinh tế là nhiệm vụ trọng tâm, kiên trì lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện các quyết sách về kinh tế, được nhân dân đồng tình ủng hộ và tích cực tham gia thực hiện Sự quản lý, điều hành của Nhà nước đối với kinh tế thị trường sát thực và hiệu quả hơn Mở rộng, phát huy dân chủ trong lĩnh vực kinh tế, thực hiện ngày càng tốt vai trò làm chủ về kinh tế của nhân dân Vai trò lãnh đạo cũng như nội dung và phương thức lãnh đạo của Đảng đối với phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ngày càng rõ nét, theo đó đã xác định tiếp tục đổi mới tư duy kinh tế, nâng cao năng lực lãnh đạo kinh tế của các tổ chức đảng, tăng cường lãnh đạo

và kiểm tra về phát triển kinh tế.

Những hạn chế, yếu kém của nền kinh tế hiện tại là do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan Trong đó phải

kể đến là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta được xây dựng trong điều kiện chuyển đổi thể chế kinh tế với xuất phát điểm thấp, kinh tế đất nước còn nhiều khó khăn, thường xuyên chịu thiên tai, dịch bệnh; kinh tế thế giới có nhiều biến động bất thường, khủng hoảng kinh tế toàn cầu đã có những tác động tiêu cực

Trang 11

đến phát triển kinh tế của nước ta Tuy nhiên, những bài học quý giá cũng đã được rút ra sau 30 năm đổi mới trên lĩnh vực kinh tế:

Một là, trong quá trình đổi mới toàn diện đất nước, ngay từ đầu Đảng ta xác định lấy đổi mới kinh tế là trọng tâm.

Việc chủ động, sáng tạo trên cơ sở kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác-Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kế thừa và phát huy truyền thống dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, vận dụng kinh nghiệm quốc tế phù hợp với Việt Nam… đã thể hiện trước hết và trên hết ở lĩnh vực kinh tế, mà trọng điểm là xây dựng nền kinh tế thị trường vừa bảo đảm tính định hướng xã hội chủ nghĩa với những đặc trưng đặc điểm của Việt Nam, vừa tương thích với nền kinh tế thế giới đang trong quá trình toàn cầu hóa ngày càng rộng hơn, sâu hơn.

Hai là, quá trình đổi mới kinh tế, việc quán triệt quan điểm “dân là gốc”, thể hiện ở nội dung yêu cầu là phát huy vai

trò làm chủ, sức sáng tạo, tinh thần đoàn kết, dân chủ hóa, nhằm phát huy mọi nguồn lực của nhân dân phải được thể hiện trên các tiêu chí hiệu quả tổng hợp, kinh tế, văn hóa, xã hội, môi trường, quốc phòng, an ninh, đối ngoại… thông qua đa dạng hóa các hình thức sở hữu, thành phần kinh tế, loại hình sản xuất kinh doanh, phân phối và quản lý; dân chủ về kinh tế vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Ba là, đổi mới về kinh tế cũng phải toàn diện, đồng bộ, có bước đi phù hợp; tôn trọng quy luật khách quan, xuất

phát từ thực tiễn, bám sát thực tiễn, coi trọng tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, tập trung giải quyết kịp thời, hiệu quả những vấn đề do thực tiễn đặt ra, nhất là trong bối cảnh chuyển đổi thể chế kinh tế với nhiều tác động bất thường của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu đang ở giai đoạn bắt đầu phục hồi nhưng chưa vững chắc gây tác động tiêu cực đến nền kinh tế nước ta.

Bốn là, trên lĩnh vực kinh tế, cũng phải đặt lợi ích quốc gia - dân tộc lên trên hết; kiên định độc lập, tự chủ về kinh

tế, đồng thời chủ động và tích cực hội nhập quốc tế trên cơ sở bình đẳng, cùng có lợi; kết hợp phát huy sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trên lĩnh vực kinh tế, giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa trong nền kinh tế thị trường trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.

Năm là, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trên lĩnh vực kinh tế; xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ điều hành

vĩ mô nền kinh tế, đủ năng lực và phẩm chất, ngang tầm nhiệm vụ; nâng cao hiệu lực, hiệu quả điều hành nền kinh

tế của Nhà nước kết hợp với sự tham gia của cả hệ thống chính trị bảo đảm cho nền kinh tế nước nhà phát triển nhanh và bền vững.

Nhìn lại 30 năm qua, trong bối cảnh quốc tế và khu vực diễn biến phức tạp, khó lường; trong nước những thời cơ, thuận lợi, khó khăn, thách thức đan xen, chúng ta đã đạt được “những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử” cả trên lĩnh vực kinh tế cũng khẳng định đổi mới là sự lựa chọn chính xác và chứng minh đường lối đổi mới nói chung và đổi mới kinh tế nói riêng của Đảng ta là đúng đắn, khoa học, sáng tạo Sự vấp váp, hạn chế, thậm chí yếu kém trên con đường phát triển càng chứng tỏ đổi mới là một sự nghiệp khó khăn, lâu dài, phức tạp, đòi hỏi phải chủ động, kiên định và không ngừng sáng tạo, phải thường xuyên tổng kết thực tiễn, đúc rút những kinh nghiệm thành lý luận để điều chỉnh, hoàn thiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng “để sớm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại”, thực hiện mục tiêu: “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

Trong vòng 10 năm trở lại đây, doanh nghiệp Việt Nam đã có những bước pháttriển mạnh mẽ, từ con số gần 63 nghìn doanh nghiệp năm 2002, số lượng doanh nghiệpđang hoạt động hiện nay ở Việt Nam tính đến thời điểm ngày 1/4/2012 đã lên đến hơn312,6 nghìn doanh nghiệp Số lượng lao động trong khu vực doanh nghiệp đã tăng gấphơn 2,36 lần trong giai đoạn 2002-2011, từ 4,66 triệu lên 11 triệu với tốc độ tăng trưởngbình quân khoảng 10%/năm Tổng nguồn vốn của các doanh nghiệp trong nền kinh tế đãtăng hơn 10 lần, từ 1,4 triệu tỷ đồng năm 2002 lên 15,3 triệu tỷ đồng năm 2011, với tốc

độ tăng trưởng bình quân khoảng 30%/năm Tổng doanh thu của khu vực doanh nghiệp

Trang 12

đã tăng khoảng 8,8 lần, từ 1,2 triệu tỷ đồng năm 2002 lên 10,7 triệu tỷ đồng năm 2011.Tốc độ tăng trưởng doanh thu bình quân của toàn bộ khu vực doanh nghiệp đạt27,4%/năm, cao hơn tốc độ tăng trưởng bình quân về số lượng doanh nghiệp và về laođộng, tuy nhiên lại thấp hơn tốc độ tăng trưởng bình quân về tổng nguồn vốn Các doanhnghiệp Việt Nam đang dần nhỏ đi về quy mô lao động, từ 74 lao động năm 2002 xuốngcòn 34 lao động năm 2011, nhưng lại lớn dần về quy mô vốn, từ 23 tỷ đồng lên 47 tỷđồng

1.1.1. Xu hướng chuyển dịch

Doanh nghiệp Việt Nam đang chuyển dịch theo hướng các mô hình quản trị hiện đạihoạt động theo hình thức các công ty trách nhiệm hữu hạn và các công ty cổ phần, hailoại hình chiếm đến gần 80% tổng số doanh nghiệp ở Việt Nam Xét theo hình thức sởhữu, các doanh nghiệp khu vực ngoài nhà nước ngày các chiếm đa số về số lượng doanhnghiệp, hơn 96%, trong khi tỷ trọng các doanh nghiệp nhà nước ngày càng giảm, xuốngchỉ còn khoảng 1% Tuy nhiên, các doanh nghiệp nhà nước, mà đại diện là các tập đoàn,tổng công ty, vẫn chiếm tỷ trọng cao về lao động (14,4%) và nhất là nguồn vốn (33,5%)

Sự chuyển dịch doanh nghiệp cũng diễn ra khá rõ theo quy mô lao động trong giai đoạn2002-2011 Tỷ trọng của các doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ ngày càng tăng về cả sốlượng doanh nghiệp, số lượng lao động và nguồn vốn Đáng chú ý là Việt Nam đangthiếu hụt lực lượng doanh nghiệp có quy mô vừa khi mà loại hình này chỉ chiếm 2,1%trong tổng số doanh nghiệp cả nước và các doanh nghiệp này thường có xu hướng thuhẹp quy mô lao động, ít khi phát triển lên thành các doanh nghiệp có quy mô lớn về laođộng Xét theo ngành nghề sản xuất kinh doanh, giai đoạn 2002-2010 chứng kiến sự pháttriển ấn tượng về số lượng doanh nghiệp trong các ngành dịch vụ, đặc biệt là ngành kinhdoanh tài sản và dịch vụ tư vấn với tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 35,12%/năm Mộtđiểm đáng lưu ý nữa là tỷ trọng nguồn vốn đầu tư vào các ngành dịch vụ ngày càngnhiều, trong khi tỷ trọng vào các ngành nông lâm ngư nghiệp và công nghiệp ngày càng ít

đi

Trang 13

1.1.2. Hiệu quả hoạt động

Hiệu quả sử dụng lao động trong giai đoạn 2002-2011 không những không được cảithiện mà còn giảm đi Trong 3 khu vực doanh nghiệp, các doanh nghiệp ngoài nhà nước

có hiệu suất sử dụng lao động cao nhất, tiếp đến là các doanh nghiệp nhà nước Hiệu suất

sử dụng lao động trong các doanh nghiệp giảm, nhất là trong khu vực doanh nghiệp FDI,một phần là do tốc độ tăng khá nhanh của tiền lương nhưng chất lượng lao động vẫn chưatăng tương xứng Khả năng thanh toán của các doanh nghiệp trong giai đoạn 2002-2011cũng đang có nhiều dấu hiệu đáng báo động, khi mà chỉ số thanh toán hiện tại, chỉ sốthanh toán nhanh đều liên tục giảm trong giai đoạn 2002-2010 và khả năng thanh toáncác khoản vay ngân hàng liên tục xấu đi Khả năng thanh toán của các doanh nghiệp khuvực ngoài nhà nước luôn tốt nhất trong khi khả năng này kém nhất ở khu vực các doanhnghiệp nhà nước Hiệu quả sử dụng các nguồn vốn của doanh nghiệp ngày càng kém đi,các doanh nghiệp hoạt động ngày càng dựa nhiều vào nguồn vốn vay Một phát hiện nữatrong giai đoạn này là xu hướng hội tụ của 3 khu vực doanh nghiệp về các chỉ số phảnánh cơ cấu và hiệu quả sử dụng nguồn vốn trong doanh nghiệp, điều này cho thấy thịtrường đã dần cân bằng các chỉ số hoạt động của doanh nghiệp

1.2. Động thái của doanh nghiệp năm 2013

Kinh tế thế giới 2013 được hầu hết các tổ chức quốc tế và các chuyên gia kinh tếđồng khẳng định là rất khó khăn Do vậy, kinh tế Việt Nam năm 2013 sẽ không chỉ chịutác động từ chính khó khăn nội tại mà còn bởi sự biến động của nền kinh tế thế giới Dựđoán mức tăng trưởng kinh tế của Việt Nam năm 2013 sẽ ở trên mức 5,5% Mục tiêutổng quát của năm 2013 vẫn là tăng cường ổn định kinh tế vĩ mô, lạm phát thấp hơn, tăngtrưởng cao hơn năm 2012 Đẩy mạnh thực hiện 3 đột phá chiến lược gắn với tái cơ cấunền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng Các doanh nghiệp đều cảm nhận rằng tìnhhình sản xuất của họ năm 2013 chắc chắn sẽ vẫn khó khăn, dù mức khó khăn có thể íthơn năm 2012, do đó đa số các doanh nghiệp sẽ cố gắng duy trì quy mô sản xuất kinh

Trang 14

doanh hiện tại Các doanh nghiệp cũng sẽ tận dụng cơ hội tái cấu trúc nền kinh tế để tựtái cấu trúc doanh nghiệp mình.

Chỉ số động thái tổng hợp của tổng thể tình hình sản xuất kinh doanh thực thấy 6tháng đầu năm 2013 và dự cảm 6 tháng cuối năm 2013 cho thấy rằng tình hình sản xuấtkinh doanh của các doanh nghiệp đang có chiều hướng xấu đi Động thái này là tổng hợpcủa mức xấu đi thực thấy của 6 tháng đầu năm 2013 và mức xấu đi dự cảm cho năm 6

tháng cuối năm 2013 (Hình 1) Hầu hết các yếu tố thành phần của chỉ số động thái

(CSĐT) về tình hình sản xuất kinh doanh đều xấu hơn trong 6 tháng đầu năm 2013 so với

6 tháng cuối năm 2012 Nhiều yếu tố đều được dự cảm sẽ tốt lên vào 6 tháng cuối năm

2013 Đây có vẻ là một tín hiệu đáng mừng, tuy nhiên, nếu so sánh chỉ số động thái thựcthấy của 6 tháng đầu năm 2013 với chỉ số động thái dự cảm 6 tháng đầu năm 2013 (đượcđưa ra vào cuối năm 2012) thì dường như thông thường các doanh nghiệp luôn có dựcảm lạc quan hơn so với tình hình thực tế sẽ diễn ra

Hầu hết các yếu tố tác động đến tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệpđều có xu thế được cải thiện, điều này kéo theo xu thế tốt lên của tổng thể tình hình sảnxuất kinh doanh Một số điều kiện có xu thế được cải thiện, và được doanh nghiệp dựcảm khá chính xác, điển hình là các điều kiện tiếp cận thông tin thị trường và công nghệ,điều kiện hạ tầng giao thông, và điều kiện hạ tầng tiện ích Trong khảo sát tại thời điểmtháng 12/2012, các doanh nghiệp dự cảm các yếu tố trên sẽ được cải thiện vào năm 2013,

và thực tế 6 tháng đầu năm cho thấy các yếu tố này đã được cải thiện Doanh nghiệp cũng

dự đoán các yếu tố này sẽ tiếp tục được cải thiện trong 6 tháng cuối năm 2013

Hình 1: Tình hình SX-KD: CSĐT dự cảm 6 tháng đầu năm 2013, CSĐT thực thấy 6 tháng

đầu năm 2013 và CSĐT dự cảm 6 tháng cuối năm 2013

Đơn vị: Điểm

Trang 15

Tổng thể tình hình sx-kd Tổng doanh số Giá bán bình quân Lợi nhuận trên đơn vị sản phẩm Hiệu suất sử dụng máy móc Số lượng công nhân viên Năng suất lao động bình quân Lượng đơn đặt hàng -40

Nguồn: VCCI, Báo cáo động thái doanh nghiệp Việt Nam sáu tháng đầu năm 2013

Bên cạnh đó, một số yếu tố được doanh nghiệp dự cảm sẽ tốt lên trong năm 2013nhưng thực tế 6 tháng đầu năm cho thấy những yếu tố này vẫn chưa được cải thiện, ví dụ:yếu tố nhu cầu thị trường trong nước, nhu cầu thị trường quốc tế, tiếp cận vốn vay, và cấpđất giải phóng mặt bằng Đặc biệt, những yếu tố lạc quan về nhu cầu thị trường trong

nướctrong 6 thángđầu năm 2013 đã không được diễn ra như mong muốn, (Hình 2) Điều

này có thể một phần do sự chậm trễ trong triển khai các chính sách hỗ trợ, một phần do

kỳ vọng quá lớn ở các gói hỗ trợ doanh nghiệp so với tác động thực tế của chúng.Cảmnhận về tổng thể môi trường chính sách và điều hành vĩ mô cải thiện rất đáng kể vào 6

tháng đầu năm 2013, so với năm 2012, (Hình 3).

Hình 2: Các yếu tố tác động trực tiếp đến SX-KD: CSĐT dự cảm tại thời điểm 12/2012 về

năm 2013, CSĐT thực thấy năm 2012 và CSĐT dự cảm năm 2013

Đơn vị: Điểm

Trang 16

cận v

ốn vay

tin thị ườ , côn

g nghệ

Đi

kiện

hạ tầ

ng tiện h

Đi

kiện

hạ tầng

ao thg

Cấp đ

ất, giph

g mặt

ng m

ở r

g sx-30

Dự cảm tại thời điểm 12/2012 về năm 2013

Nguồn: VCCI, Báo cáo động thái doanh nghiệp Việt Nam sáu tháng đầu năm 2013

Hình 3: Các điều kiện sản xuất kinh doanh khác: CSĐT thực thấy năm 2012 và CSĐT thực

thấy 6 tháng đầu năm 2013

Đơn vị: Điểm

-5 0 5 10

15 10

Nguồn: VCCI, Báo cáo động thái doanh nghiệp Việt Nam sáu tháng đầu năm 2013

Bằng chứng thực tế cho thấy đã có sự cải thiện ở các chỉ số tổng thể môi trườngpháp lý và kinh tế vĩ mô Đây là kết quả tổng hợp từ sự cải thiện của từng yếu tố thànhphần như: chất lượng của các quy định pháp lý, hiệu lực thực thi chính sách, thủ tục hành

Trang 17

chính liên quan tới doanh nghiệp, sự cải thiện trong thái độ và ý thức trách nhiệm của các

bộ công quyền, sự ổn định của môi trường pháp lý và điều hành kinh tế Trong năm 2012,tổng thể môi trường pháp lý và điều hành kinh tế vĩ mô được các doanh nghiệp đánh giá

ở tình trạng khá xấu và không đồng đều (khi xét các chỉ số thành phần), tuy nhiên, trong

6 tháng đầu năm 2013, các doanh nghiệp đánh giá yếu tố này tốt lên rất nhiều Đáng chú

ý là, mức độ đồng đều trong cảm nhận khi đánh giá các yếu tố cấu thành nên tổng thể môitrường pháp lý và kinh tế vĩ mô Có thể nói, các chính sách này đang từng bước tạo chodoanh nghiệp một môi trường kinh doanh ổn định hơn, mặc dù có thể là vẫn đang còn ởmức độ chậm

1.3. Triển vọng kinh tế Việt Nam năm 2014

Năm 2013 là năm thứ 6, Việt Nam rơi vào trì trệ, tăng trưởng chậm chạp dưới tiềmnăng Đây cũng là giai đoạn bất ổn kinh tế vĩ mô kéo dài nhất, tính từ đầu thập niên 1990đến nay

1.3.2. Lạm phát

Trong 9 tháng đầu năm, lạm phát tiếp tục được kiềm chế nhờ thực hiện quyết liệt,kiên trì các biện pháp, chính sách kinh tế vĩ mô về tài chính, tiền tệ, đầu tư; có sự phốihợp liên ngành trong điều chỉnh giá một số mặt hàng nhà nước quản lý (điện, xăng dầu,giá dịch vụ y tế) theo lộ trình một cách linh hoạt với liều lượng hợp lý; và đảm bảo cân

Trang 18

đối cung cầu hàng hóa, dịch vụ… So với tháng 12-2012, chỉ số giá tiêu dùng tháng 9 tăng4,63% là mức tăng thấp nhất trong vòng 4 năm qua Trong 3 tháng cuối năm, chỉ số giátiêu dùng có thể tăng cao hơn so với tốc độ tăng những tháng đầu năm Tuy nhiên, trongbối cảnh tổng cầu vẫn còn yếu, năng lực sản xuất dồi dào, các chỉ số tăng trưởng tín dụng

ở mức thấp, dự báo chỉ số giá tiêu dùng tháng 12-2013 so với cùng kỳ năm trước sẽ đượckiềm chế ở mức tăng khoảng 7% (so với mức 8%)

1.3.3. Môi trường kinh doanh

Theo báo cáo mới nhất của Ngân hàng thế giới về môi trường kinh doanh 2014,Việt Nam đứng thứ 99 về xếp hạng môi trường kinh doanh trong tổng số 189 nền kinh tế.Đây là một vị trí không được cải thiện nhiều, mặc dù đã có những cải cách quan trong đểcải thiện nhưng vẫn cần làm nhiều hơn nữa để duy trì năng lực cạnh tranh, đặc biệt là ápdụng những thông lệ quốc tế tốt nhất trong các qui định về hoạt động doanh nghiệp

1.3.4. Sản xuất

Chỉ số PMI (chỉ số nhà quản lý mua hàng) của Ngân hàng HSBC chỉ ra rằng trong 9tháng đầu năm 2013, lĩnh vực sản xuất đang cho thấy sự co hẹp của mình khi có tới 5tháng điểm dưới 50 thể hiện sự suy giảm trong hoạt động lĩnh vực này, chỉ có 3 thángtrên 50 điểm thể hiện sự tích cực trong hoạt động sản xuất Điều này cho thấy sự khókhăn của các doanh nghiệp hoạt động lĩnh vực sản xuất và cũng phần nào nói lên sự khókhăn của kinh tế Việt Nam năm 2013

Trang 19

nền kinh tế Các vấn đề lớn như về nợ xấu, tái cấu trúc tập đoàn kinh tế, bội chi ngân sáchvẫn tiếp tục là trọng tâm các vấn đề khó khăn của nền kinh tế trong năm 2014.

Hình 4: Chỉ số PMI của HSBC đối với Việt Nam

Đơn vị: Điểm

Nguồn: Hội DNTVNI, Báo cáo thường niên Sao Vàng Đất Việt 2013 – Tóm tắt

Tuy nhiên, bức tranh chung của nền kinh tế năm 2014 vẫn sáng hơn 2 năm

2012-2013 Do đó, có thể dự báo trong năm 2014 tốc độ tăng GDP khoảng 5,5% và CPI tăngkhoảng 7%

Trang 20

2 CHƯƠNG 2

TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI VÀ HOẠT

ĐỘNG DOANH NGHIỆP CỦA TỈNH HƯNG YÊN

2.1 Tình hình thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh

lần thứ XVII, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2011 - 2015

Thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVII, Kế hoạch phát triển kinh

tế - xã hội 5 năm 2011 - 2015 trong bối cảnh tình hình thế giới và khu vực diễn biến phứctạp, khó lường; kinh tế thế giới tiếp tục trì trệ, phục hồi chậm; kinh tế vĩ mô thiếu ổnđịnh, chất lượng tăng trưởng, sức cạnh tranh của các ngành kinh tế của tỉnh thấp, khảnăng huy động nguồn lực hạn chế, kết cấu hạ tầng kỹ thuật chưa đồng bộ, tình hình thiêntai, dịch bệnh diễn biến phức tạp, Những yếu tố trên ảnh hưởng rất lớn tới kết quả thựchiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVII về phát triển kinh tế - xã hội

2.1.1 Về thực hiện các mục tiêu Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Tỉnh lần thứ

XVII

Ngay từ đầu nhiệm kỳ, Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng vàtriển khai tổ chức thực hiện đồng bộ 06 Chương trình của Tỉnh ủy và 08 Đề án của BanThường vụ Tỉnh ủy, đã xây dựng và phê duyệt 24 đề án quy hoạch ngành, chuyên ngành,lĩnh vực đến năm 2015, định hướng đến năm 2020; đây là những chủ trương, giải phápquan trọng để triển khai thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh

Trong thời gian qua mặc dù gặp nhiều khó khăn thách thức từ những diễn biến phứctạp khó lường của thị trường trong và ngoài nước, song với sự quyết tâm cao của toànĐảng, Chính quyền và nhân dân trong tỉnh, kinh tế tỉnh Hưng Yên vẫn duy trì tăngtrưởng khá so với mức bình quân chung của cả nước, bình quân giai đoạn 2011-2015 ướctăng 8,77%/năm (mục tiêu Đại hội 12,5%/ năm); trong đó nông nghiệp, thủy sản tăng2,5%/năm, công nghiệp-xây dựng tăng 9,67%/năm, dịch vụ tăng 10,98%/năm GRDPbình quân đầu người năm 2013 đạt 30,5 triệu đồng, dự kiến năm 2015 đạt khoảng 42triệu đồng Cơ cấu kinh tế nông nghiệp - công nghiệp, xây dựng - thương mại, dịch vụ có

Trang 21

sự chuyển dịch tích cực theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, năm 2010 đạt: 25% 44% - 31%, năm 2013 đạt 17,05% - 48,21% - 34,74%; dự kiến năm 2015 đạt 15,2% -48,7% - 36,1% (mục tiêu Đại hội 17,05%-50%-32,95%); tình hình thu hút đầu tư đạt kếtquả tích cực cả về số dự án và tổng số vốn đăng ký (giai đoạn 2011-2013) khoảng 16,3nghìn tỷ đồng và 741 triệu USD; thu ngân sách năm sau tăng cao hơn năm trước, thungân sách năm 2013 đạt 6.026 tỷ đồng; tổng kim ngạch xuất khẩu đạt 1,7 tỷ USD, dựkiến đến năm 2015 đạt 2,2 tỷ USD (Mục tiêu năm 2015 xuất khẩu đạt 1 tỷ USD, tăngbình quân 17%/năm); giá trị sản xuất nông nghiệp-thuỷ sản, công nghiệp và dịch vụ tăngtrưởng khá so với mức tăng chung của cả nước; lĩnh vực văn hoá-xã hội có nhiều chuyểnbiến tích cực, an sinh xã hội được quan tâm chăm lo, đời sống vật chất và tinh thần củanhân dân ngày càng được cải thiện; công tác quốc phòng, an ninh tiếp tục được tăngcường, đấu tranh phòng chống tội phạm, tệ nạn xã hội có sự chuyển biến tích cực.

-2.1.2 Kết quả thực hiện một số nhiệm vụ chính về phát triển KT-XH và ba

khâu đột phá chiến lược

2.1.2.1 Về kinh tế

Về sản xuất nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới

Sản xuất nông nghiệp: Nông nghiệp phát triển toàn diện theo hướng sản xuất hànghoá Cơ cấu kinh tế nông nghiệp chuyển dịch theo hướng tích cực, tỷ trọng cây lươngthực giảm dần; tăng tỷ trọng rau quả, cây công nghiệp và chăn nuôi, thủy sản (năm 2013,

cơ cấu: cây lương thực 21,72%, rau quả, cây ăn quả 27,71%, chăn nuôi, thuỷ sản 50,57%;

dự kiến đến 2015: 20% - 35% - 45%) Đã tích cực chuyển đổi cơ cấu thời vụ, giống câytrồng theo hướng tăng năng suất, chất lượng, hiệu quả; năm 2013, lúa chất lượng cao đạt61,5%, hàng năm cơ bản đáp ứng trên 70% nhu cầu giống lúa thuần tốt cho sản xuất lúacủa tỉnh Tổng diện tích gieo trồng hàng năm khoảng 108 nghìn ha; trong đó, lúa trên 81nghìn ha, năng suất lúa bình quân một vụ đạt gần 65 tạ/ha, sản lượng lương thực bìnhquân đạt 57,5 vạn tấn/năm (thóc 52,8 vạn tấn/năm) Sản lượng nhãn, vải đạt 45 nghìn tấn/năm; cam, chanh, quýt tăng 4,96%/năm, chuối tăng 6,86%/năm Tổng đàn gia súc, giacầm giai đoạn 2011-2013 đều tăng về quy mô và sản lượng xuất chuồng: đàn trâu tăng

Trang 22

1,1%/năm, đàn bò tăng 2,6%/năm, đàn lợn tăng 2,7%/năm, đàn gia cầm tăng 4,7%/năm.Sản lượng thịt hơi xuất chuồng tăng 3,4%/năm, sản lượng thuỷ sản tăng 13,5%/năm Giátrị sản xuất nông nghiệp, thủy sản bình quân giai đoạn 2011-2015 ước tăng 2,47%/năm(mục tiêu Đại hội tăng 4%/năm).

Xây dựng nông thôn mới: đến nay, toàn tỉnh có 145/145 xã hoàn thành quy hoạch,

đề án xây dựng nông thôn mới Bình quân cả tỉnh năm 2011 đạt 6,62 tiêu chí/xã, năm

2012 đạt 7,855 tiêu chí/xã, năm 2013 đạt 9,296 tiêu chí/xã; đến năm 2013, toàn tỉnh có 05

xã đạt từ 15 - 18 tiêu chí, có 46 xã đạt từ 10 -14 tiêu chí, có 93 xã đạt từ 5 - 9 tiêu chí.Trong 20 xã điểm, có 17 xã đạt 13-16 tiêu chí, 03 xã đạt 10-12 tiêu chí; mục tiêu, đếnnăm 2015 có 25% số xã (37 xã) đạt tiêu chí xây dựng nông thôn mới Trong 3 năm 2011-

2013, tổng nguồn vốn huy động xây dựng nông thôn mới (không bao gồm nguồn vốn tíndụng) ước đạt 5.222,5 tỷ đồng; trong đó, vốn ngân sách nhà nước 1.208 tỷ đồng, vốn lồngghép từ các chương trình, dự án 1.121,5 tỷ đồng, vốn huy động từ các doanh nghiệp162,6 tỷ đồng, vốn do nhân dân đóng góp và các khoản vốn huy động khác 383,4 tỷđồng, để đầu tư nâng cấp cơ sở hạ tầng, phát triển sản xuất, nâng cao đời sống người dân.Tỉnh đang triển khai hỗ trợ kinh phí cho các xã mua xi măng xây dựng đường giao thôngthôn, xóm, đường ra đồng, năm 2013, tỉnh đã hỗ trợ 60 tỷ đồng

Về lĩnh vực công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp

Giá trị sản xuất công nghiệp tăng khá, song còn thấp so với mục tiêu Đại hội đề ra,giá trị sản xuất công nghiệp bình quân năm 2011-2013 tăng 10,06%/năm, dự kiến năm2011-2015 tăng 9,84%/năm, (mục tiêu Đại hội 19%/năm) GTSX công nghiệp năm 2013(giá cố định 2010) 69.742 tỷ đồng Có 3/14 khu công nghiệp đi vào hoạt động; Khu côngnghiệp Thăng Long II được mở rộng và từng bước phát huy hiệu quả

Từ tháng 10/2010 đến năm 2013, tỉnh tiếp nhận thêm 323 dự án (237 dự án trongnước, 86 dự án nước ngoài) với tổng số vốn đăng ký 16,3 nghìn tỷ đồng và 741 triệuUSD, nâng tổng số dự án được cấp giấy chứng nhận đầu tư lên 1.092 dự án (trong nước

828 dự án, nước ngoài 264 dự án) với tổng vốn đầu tư đăng ký 67.241 tỷ đồng và 2,35 tỷUSD, tương đương 5,7 tỷ USD; dự kiến đến 2015, tổng số vốn đầu tư đăng ký đạt khoảng

Trang 23

6,5 tỷ USD (mục tiêu đến 2015 số dự án đầu tư vào địa bàn tỉnh có tổng vốn đăng ký 5 tỷUSD); có thêm 100 dự án đi vào hoạt động (đưa tổng số dự án hoạt động lên 675), vớitổng vốn đầu tư thực hiện gần 12 nghìn tỷ đồng, bằng 72% tổng vốn đăng ký đầu tư,đóng góp tích cực vào chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo việc làm thường xuyên cho gần 10vạn lao động, trong đó dự án đầu tư nước ngoài thu hút khoảng 3,6 vạn lao động trựctiếp, giá trị sản xuất công nghiệp đạt trên 60 nghìn tỷ đồng, đóng góp thêm cho ngân sáchmỗi năm khoảng trên 20% so với tổng thu ngân sách địa phương.

Về thương mại và dịch vụ

Thương mại, dịch vụ tăng trưởng khá, giá trị sản xuất các ngành dịch vụ giai đoạn2011-2015 ước bình quân tăng 11,09%/năm (mục tiêu Đại hội 16%/năm) Tổng mức bán

lẻ hàng hoá tăng bình quân giai đoạn 2011-2015 tăng 11,48%/năm Các ngành dịch vụ tàichính, ngân hàng, bảo hiểm, bưu chính viễn thông, vận tải hàng hoá, hành khách đượcphát triển, doanh thu tăng bình quân 18%/năm, 100% số xã có bưu cục hoặc điểm bưuđiện văn hoá đang hoạt động Du lịch bước đầu phát triển với sự tham gia của nhiềuthành phần kinh tế và sự liên kết với các địa phương lân cận, nhất là thủ đô Hà Nội; cơ sở

hạ tầng các khu du lịch được đầu tư nâng cấp

Xuất khẩu duy trì tốc độ tăng cao Năm 2013 kim ngạch xuất khẩu đạt 1,7 tỷ USD,

dự kiến năm 2015 đạt 2,2 tỷ USD (mục tiêu Đại hội đến năm 2015 đạt 1 tỷ USD, tăngbình quân 17%/năm) Giá trị xuất khẩu hàng nông sản và chế biến ngày càng tăng Cácdoanh nghiệp đã chủ động củng cố thị trường truyền thống và mở rộng thị trường mới;tích cực đổi mới công nghệ sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm hàng hoá và tăng sứccạnh tranh

Tài chính, tiền tệ

Thu, chi ngân sách: Trong giai đoạn vừa qua công tác thu ngân sách đứng trướcnhiều khó khăn, thách thức do ảnh hưởng của suy thoái kinh tế; nhiều doanh nghiệp giảithể, ngừng hoạt động; sản xuất, kinh doanh cầm chừng, lợi nhuận đạt thấp; Song nhờthực hiện tốt các giải pháp về điều hành chính sách tài khóa và thực hiện nghiêm túc chủtrương thắt chặt chi tiêu của Chính phủ, cải tiến công tác quản lý thuế, đơn giản hoá

Trang 24

nhiều thủ tục hành chính; thực hiện đồng bộ các giải pháp tăng thu, thu đúng, thu đủ, kịpthời vào ngân sách nhà nước và nuôi dưỡng nguồn thu nên tổng thu ngân sách trên địabàn tỉnh vẫn đảm bảo mục tiêu đề ra, cơ bản đáp ứng nhiệm vụ chi theo dự toán và cáckhoản chi phát sinh Tổng thu ngân sách trên địa bàn trong 3 năm 2011-2013 đạt 14.546

tỷ đồng, trong đó: Thu nội địa 11.097 tỷ đồng; thu thuế xuất, nhập khẩu 3.449 tỷ đồng.Năm 2013,thu ngân sách đạt 6.026 tỷ đồng, trong đó thu nội địa 4.243 tỷ đồng, dự kiếnđến năm 2015 tổng thu ngân sách đạt 6.500 tỷ đồng, trong đó thu nội địa 4.500 tỷ đồng,thu xuất nhập khẩu 2.000 tỷ đồng (Mục tiêu Đại hội năm 2015 thu ngân sách đạt 6.000 tỷđồng, trong đó thu nội địa 5.000 tỷ đồng)

Chi ngân sách bình quân đạt trên 5.000 tỷ đồng/năm bảo đảm đúng quy định Quản

lý và điều hành tài chính- ngân sách có nhiều tiến bộ, tăng cường phân cấp, tính tự chủ vànâng cao trách nhiệm quản lý ngân sách các cấp, các cơ quan, đơn vị; thực hiện có hiệuquả chế độ khoán biên chế và kinh phí ổn định cho các đơn vị hành chính, sự nghiệp.Công tác kiểm toán và thanh tra tài chính được tăng cường, đúng kế hoạch, nhất là sửdụng tài chính công; thực hành tiết kiệm, chống lãng phí đạt hiệu quả

Công tác quản lý tiền tệ, tín dụng, tỷ giá, thị trường ngoại tệ, hoạt động kinh doanhvàng được tăng cường Tổng nguồn vốn của các ngân hàng và quỹ tín dụng nhân dân trênđịa bàn tỉnh đến hết năm 2013 đạt 30.141 tỷ đồng, bình quân tăng 16,7%/năm Trong đó:vốn tự huy động 21.524 tỷ đồng, chiếm 71,4%; vốn vay 4.787 tỷ đồng, chiếm 15,9%; vốntài trợ uỷ thác 214 tỷ đồng, 0,7%; nguồn khác 3.596 tỷ đồng, chiếm 11,9% Dư nợ đốivới nền kinh tế đạt 25.307 tỷ đồng, bình quân tăng 14,4%/năm; trong đó: dự nợ Ngânhàng chính sách 1.817 tỷ đồng, chiếm 7,2%; dư nợ cho vay của hệ thống Quỹ tín dụngnhân dân cơ sở 1.576 tỷ đồng, chiếm 6,2% Nợ xấu của các Ngân hàng, Quỹ tín dụng 563

tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 2,2% trên tổng dư nợ

Về tài nguyên và môi trường

Công tác quản lý nhà nước về tài nguyên môi trường được tăng cường Hoàn thànhQuy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất 5 năm (2011-2015) củatỉnh, cấp huyện và 145 xã có quy hoạch xây dựng nông thôn mới Cấp giấy chứng nhận

Ngày đăng: 26/04/2017, 13:21

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 4: Chỉ số PMI của HSBC đối với Việt Nam - 2013 CD 1 báo cáo tổng quan về tình hình phát triển KT XH và hoạt động của DN thuộc tỉnh hưng yên
Hình 4 Chỉ số PMI của HSBC đối với Việt Nam (Trang 16)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w