1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Bài giảng 5 bước và 12 nguyen lý TCHST trong QLTNTN

67 360 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 67
Dung lượng 167,75 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

sinh thái, sinh học bảo tồn, và quy hoạch môi trường và duy trì một trọng tâm rõ ràng về việc quản lý các tác động của con người trong hệ sinh thái.Đối với một số ngành, pháp luật liên b

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI

KHOA MÔI TRƯỜNG

TẬP BÀI GIẢNG

TIẾP CẬN HỆ SINH THÁI TRONG QUẢN LÝ

TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN

(The Ecosystem Approach in Natural Resource Management)

TS LÊ VĂN HƯNG

Hà Nội, 2015

Trang 2

2011

(4) Sustainable Forest management snd The Ecological Approuch: Two Concepts, One Goal Mette Loyche Wilke, Peter Holmgren and Froglan Castanela Forest Resources Development Service, 2003

2 Tài liệu đọc thêm:

(5) Lê Huy Bá (chủ biên), Vũ Chí Hiếu, Võ Đình Long (2002), Tài nguyên môi

trường và phát triển bền vững, Nhà xuất bản Khoa học Kỹ thuật.

(6) Hứa Chiến Thắng (2008) Quản lý tổng hợp đới bờ, hướng tới phát triển bền

vững ở Việt Nam, Hội thảo Xây dựng quản lý biển đới bờ

(7) Nguyễn Xuân Cự, Đỗ Đình Sâm (2003), Giáo trình tài nguyên rừng, NXB

Đại học Quốc gia Hà Nội

(8) Luật đa dạng sinh học, 2008 Quốc hội nước CHXCHCN Việt Nam…

(9) Nguyễn Phương Loan (2005), Giáo trình tài nguyên nước, NXB Đại học

Quốc gia Hà Nội

Trang 3

Nội dung LT

Chương 1 Tổng quan về tiếp cận hệ sinh thái trong quản lý tài

Khái niệm chung

1.1 Tiếp cận hệ sinh thái và Quản lý tài nguyên thiên nhiên 4

1.1.1. Khái niệm Tiếp cận hệ sinh thái

1.1.2. 5 bước trong tiếp cận hệ sinh thái trong quản lý tài nguyên thiên

nhiên

1.1.3. Các yêu cầu

1,02,01,0

2.2 Quản lý các hệ sinh thái và Quản lý tổng hợp đất ngập nước

- Quản lý các hệ sinh thái đất ngập nước

- Áp dụng cách tiếp cận sinh thái trong quản lý tài nguyên nước

3,01,51,53,01,02,0

Chương 3 Cách tiếp cận hệ sinh thái trong quản lý tài nguyên đất 6,5

3.1 Giới thiệu

- Khái niệm về Cách tiếp cận hệ sinh thái và quản lý tổng hợp đất

- Giới thiệu về hệ sinh thái và cách tiếp cận sinh thái trong quản lý tài

nguyên đất(nông, lâm, thủy)

3.2 Quản lý các hệ sinh thái và Quản lý tổng hợp đất

- Quản lý các hệ sinh thái đất (nông , lâm, thủy)

- Áp dụng cách tiếp cận sinh thái trong quản lý tài nguyên đất (nông,

lâm, thủy)

21.01.04,522,5

Chương 4 Cách tiếp cận hệ sinh thái trong quản lý tài nguyên sinh 8,0

Trang 4

vật, đa dạng sinh học và hệ sinh thái rừng

4.1 Khái niệm tiếp cận hệ sinh thái quản lý TNSV, đa dạng sinh học 4,0

4.1.1 Tiếp cận hệ sinh thái trong quản lý TNSV

4.1.2 Tiếp cận hệ sinh thái trong quản lý Đa dạng sinh học

4.1.3 Tiếp cận hệ sinh thái trong quản lý Đa dạng sinh học và phát triển

bền vững

1,01,51,5

4.2 Khái niệm tiếp cận hệ sinh thái trong quản lý rừng bền vững 4,0

4.2.1 Vai trò của đa dạng sinh học và phát triển rừng

4.2.2 Nguyên tắc tiếp cận HST và phát triển rừng

4.2.3 Áp dụng tiếp cận HST và phát triển rừng

Thảo luận

1,01,51,5

Trang 5

GIỚI THIỆU

Tiếp cận hệ sinh thái là một chiến lược để quản lý tổng hợp đất, nước và các tài nguyên sống nhằm tăng cường bảo vệ và sử dụng bền vững theo hướng công bằng Nó là khung cơ bản cho hành động của Hiệp định về Đa dạng sinh học (CBD) và bao gồm 12 nguyên lý (trang 2) Khi xem xét làm thế nào để có thể thực hiện tốt nhất tiếp cận hệ sinh thái, đã có một vài nỗ lực để xếp hạng các nguyên lý theo mức độ quan trọng hoặc theo chủ đề

Trong khi những nỗ lực này khá thú vị về mặt khái niệm, vẫn có những khoảng trống đó là sự trợ giúp về mặt thực tiễn trong việc áp dụng lĩnh vực tiếp cận hệ sinh thái Ủy ban IUCN về Quản lý hệ sinh thái (CEM) đã xây dựng tài liệu này nhằm lấp đầy khoảng trống này

Chúng tôi đã tập hợp nhiều Các nguyên lý Tiếp cận Hệ sinh thái thành một tiếp cận chung để thúc đẩy những thảo luận, lập kế hoạch và hành động từng bước Đương nhiên, ta không thể giải quyết từng khía cạnh của một hệ sinh thái một cách đơn lẻ cho dài hạn và những khía cạnh này có thể được xem xét giải quyết sớm trong những nội dung mô tả dưới đây và sẽ được kiểm tra thường xuyên Tuy nhiên, tiếp cận này nâng cao khả năng chủ động bởi vì nó khuyến khích cả nhà nghiên cứu và các cán bộ thực địa tập trung vào một nhóm vấn đề tại một thời điểm

Trong cách tiếp cận này, hệ sinh thái, các cư dân của nó, những thách thức,

cơ hội hiện hữu có thể dần thấy và quản lý được thành trọng tâm

Lịch sử và phát triển của quản lý hệ sinh thái dựa trên

Hệ sinh thái dựa trên quản lý có rễ trong tư tưởng của các nhà bảo tồn đầu như Aldo Leopold, và trong cách tiếp cận hệ sinh thái và phương pháp tiếp cận tổng quát đã được phát triển trong sinh thái học, nhân chủng học và các môn học khác trong những năm 1960 và 1970 dựa trên hệ thống Những phát triển khoa học và triết học đã giúp để thông báo cho các phương pháp quản lý tài nguyên trong khu vực, bioregional, và tích hợp, chẳng hạn như quản lý lưu vực sông và quản lý tổng hợp vùng ven biển, tất cả đều đưa vào khuôn khổ cho quản lý hệ sinh thái dựa trên từ đó đã xuất hiện Quản lý hệ sinh thái dựa trên xây dựng dựa trên những phương pháp trước đó trong khi kết hợp các yếu tố của khoa học hệ

Trang 6

sinh thái, sinh học bảo tồn, và quy hoạch môi trường và duy trì một trọng tâm rõ ràng về việc quản lý các tác động của con người trong hệ sinh thái.

Đối với một số ngành, pháp luật liên bang và nhà nước đã chỉ đạo quản lý

để kết hợp phương pháp tiếp cận hệ sinh thái vào việc ra quyết định Năm 1996, Luật Thủy sản Bền vững (SFA), Quốc hội thông qua và có chữ ký của Tổng thống Clinton, bắt buộc rằng động thái quản lý nghề cá đối với việc sử dụng các phương pháp hệ sinh thái, bao gồm, đặc biệt, kết hợp tốt hơn các thông tin về môi trường sống cá Pháp luật này đã gieo hạt giống cho quản lý nghề cá dựa vào hệ sinh thái (EBFM) ở Mỹ - một cách tiếp cận theo hướng quản lý trên cơ

sở hệ sinh thái (EBM), nhưng đó là tập trung vào một lĩnh vực duy nhất của hoạt động con người EBFM xây dựng dựa trên thực tiễn hiện nay như việc xem xét môi trường và khí hậu, chế độ, môi trường sống thiết yếu cá, tác động không đánh bắt cá trên nguồn hải sản, quản lý đánh bắt khi bị đe dọa tới các loài nguy cấp, và như vậy sự không chắc chắn và rủi ro được tính đến trong các quyết định quản lý, trong khi kết hợp các yếu tố trên thành một khuôn khổ pháp lý mới Gần đây, Ủy ban Đại dương Pew và Uỷ ban Hoa Kỳ về chính sách đại dương kết luận rằng một sự kết hợp của các hoạt động của con người trên đất, dọc theo bờ biển, và trong các đại dương dù vô tình nhưng đang ảnh hưởng nghiêm trọng đến hệ sinh thái biển và đe dọa khả năng của các hệ sinh thái đại dương để cung cấp cho con người những lợi ích mong đợi từ các đại dương Cần một sự tích hợp, phương pháp tiếp cận toàn diện hơn, tiếp cận hệ sinh thái dựa trên nguyên tắc phát triển bền vững, thích ứng và quản lý có sự tham gia của người dân, cộng đồng và áp dụng khoa học tiên tiến

Trang 7

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ TCHST TRONG QLTNTN

Một số khái niệm cơ bản.

Hệ sinh thái là gì?

Hệ sinh thái là một đơn vị cấu trúc và chức năng của sinh quyển, gồm: các quần xã thực vật, các quần xã động vật, các quần xã vi sinh vật, thổ nhưỡng (đất) và các yếu tố khí hậu Các thành phần này liên hệ với nhau thông qua các chu trình vật chất và năng lượng

Cách tiếp cận hệ sinh thái là gì?

Các phương pháp tiếp cận hệ sinh thái là một "chiến lược quản lý tổng hợp đất, nước và các nguồn tài nguyên tái sinh nhằm tăng cường bảo tồn và sử dụng đất bền vững trong thực tế một cách công bằng”

Cách tiếp cận này rõ ràng làm cho sự liên kết giữa các dịch vụ sẽ hỗ trợ cho cuộc sống và con người hạnh phúc và bảo tồn tài nguyên thiên nhiên của trái đất

Chính phủ Welsh và quản lý tài nguyên thiên nhiên “Duy trì một lối sống Xanh Wales” của Chính phủ Welsh, được công bố vào tháng Giêng 2012 đề xuất một phương pháp tiếp cận hệ sinh thái để quản lý tài nguyên thiên nhiên ở xứ Wales để đáp ứng mục tiêu đầy thách thức của việc đảm bảo “hệ sinh thái mền dẻo, hiệu quả, khỏe mà quản lý bền vững và cung cấp cho toàn xã hội, hỗ trợ việc làm và phúc lợi” Cách tiếp cận này cho phép cho một sự thống nhất quản

lý tài nguyên thiên nhiên từ xem xét các bộ phận riêng lẻ để xem xét môi trường tổng thể Nó cho phép một phạm vi rộng lớn hơn nhiều để quản lý sử dụng đất

và ra quyết định vượt ra ngoài môi trường tự nhiên và bao gồm các yếu tố xã hội, văn hóa và kinh tế tích hợp cùng dịch vụ hệ sinh thái

12 Nguyên lý của Tiếp cận hệ sinh thái

1 Những mục tiêu của quản lý đất, nước và môi trường sống là một vấn đề của sự lựa chọn xã hội

2 Quản lý nên được phân cấp đến cấp quản lý phù hợp nhất và thấp nhất

Trang 8

3 Các nhà quản lý hệ sinh thái nên xem xét những ảnh hưởng (thực tế hoặc tiềm năng) của các hoạt động họ thực hiện tới những hệ sinh thái lân cận và các

hệ sinh thái khác

4 Nhận thức rõ những lợi ích có thể đạt được từ quản lý, đó là sự cần thiết thường xuyên để hiểu được và quản lý hệ sinh thái trong một bối cảnh kinh tế Mỗi một chương trình quản lý hệ sinh thái như thế này nên bao gồm:

(i) Giảm những khiếm khuyết của thị trường làm ảnh hưởng tiêu cực đến

6 Hệ sinh thái nên được quản lý trong phạm vi chức năng của nó

7 Tiếp cận hệ sinh thái nên được thực hiện ở một phạm vi không gian và thời gian phù hợp

8 Nhận ra được sự khác nhau phạm vi không gian và những tác động trễ

do đặc thù của một hệ sinh thái, mục tiêu của quản lý hệ sinh thái nên được thiết lập cho dài hạn

9 Quản lý phải nhận ra sự thay đổi là không thể tránh khỏi

10 Tiếp cận hệ sinh thái nên tìm kiếm sự cân bằng thích hợp và sự hòa nhập của việc bảo tồn và sử dụng đa dạng sinh học

11 Tiếp cận hệ sinh thái nên xem xét tất cả các dạng của thông tin có liên quan, bao gồm những kiến thức khoa học và bản địa và địa phương, sự đổi mới

Trang 9

- Bước A Xác định các nhóm có liên quan chính, xác định khu vực hệ sinh thái

và phát triển mối quan hệ giữa các bên và hệ sinh thái

- Bước B Phác họa cấu trúc và chức năng của hệ sinh thái và thiết lập cơ chế để

quản lý và giám sát nó

- Bước C Xác định tầm quan trọng của các vấn đề kinh tế sẽ có ảnh hưởng đến

hệ sinh thái và các cư dân trong hệ sinh thái

- Bước D Xác định những tác động có thể xảy ra của hệ sinh thái này tới các hệ

sinh thái lân cận

- Bước E Xây dựng các mục tiêu dài hạn, và các giải pháp linh hoạt để đạt được

những mục tiêu này

TIẾN HÀNH CÁC BƯỚC

Bước A Xác định các nhóm có liên quan chính và khu vực hệ sinh thái

- Bước A bao gồm những vấn đề khó khăn nhất:

Xác định các nhóm có liên quan chính;

Xác định khu vực sinh thái, và

Phát triển mối quan hệ giữa chúng

Việc xác định đồng thời khu vực hệ sinh thái và các nhóm liên quan là những người sẽ hỗ trợ sự lựa chọn và quản lý khu vực đó là rất quan trọng Dù bắt đầu với việc xác định khu vực hay xác định các nhóm có liên quan thì cũng

sẽ tốn thời gian và công sức để đạt được một công việc khả thi

Chúng ta bắt đầu với các vấn đề về các bên có liên quan Với nhiều nỗ lực trước đây về quản lý sự đa dạng sinh học đã cố gắng gắn các bên liên quan vào một khu vực đã được lựa chọn mà không xem xét đến những hàm ý rộng hơn về tiếp cận sinh thái, nhấn mạnh vào sự lựa chọn của xã hội

Nguyên lý liên quan đến Bước A

1 Mục tiêu của quản lý đất, nước, và các tài nguyên sống là một vấn đề của sự lựa chọn xã hội

7 Tiếp cận hệ sinh thái nên được thực hiện ở một phạm vi không gian và thời gian phù hợp

11 Tiếp cận hệ sinh thái nên xem xét tất cả các dạng của thông tin có liên quan, bao gồm thông tin khoa học, thông tin bản xứ và kiến thức, sự đổi mới và thực tiễn của địa phương

12 Tiếp cận sinh thái nên thu hút sự tham gia của tất cả thành phần có liên quan của một xã hội và những kiến thức khoa học

Bước A: Nghiên cứu điển hình, xác định các bên liên quan Bocas del Toro

Archipelago, Panama

Trang 10

Nguồn tài nguyên chính được quản lý ở khu vực này là hệ sinh thái biển Các bên có liên quan – ngư dân, phụ nữ và các cư dân địa phương - đã thương lượng về quyền quản lý các dãy san hô và khu vực đánh bắt thông qua việc thiết lập các ban thủy sản địa phương (COLOCOPES) Với sự trợ giúp của 2 tổ chức phi chính phủ (NGOs) là thành viên của IUCN:

Fundación Promar và Tổ chức Bảo tồn thiên nhiên(TNC), các ban thủy sản

đã xây dựng đề xuất về các quy định cho việc quản lý đánh bắt thông qua Bocas del Toro Archipelago

Các nhóm COLOCOPES đã xác định 7 khu bảo tồn nguồn lợi thủy sản cộng đồng bao gồm cả vùng cấm đánh bắt (để cho sinh sản) và các nguồn thủy sản có chất lượng cao (ở đó việc khai thác cần được quy định chặt chẽ hơn) Các nhóm COLOCOPES cũng đã tạo ra được các hiệp hội đánh bắt vùng, khu vực đảo (ADEPESCO) để khuyến khích vị trí đàm phán của họ đối với các tổ chức thể chế khác có quyền lực hơn

Các ban ngành địa phương của chính phủ chịu trách nhiệm kiểm soát các nguồn lợi thủy sản và các khu vực bảo tồn không ngừng tăng cường sự hỗ trợ cho ý tưởng bảo tồn quản lý thủy sản cộng đồng Hiện nay, các cuộc họp giữa ADEPESCO và chính quyền địa phương diễn ra thường xuyên để giám sát và đối phó với các vấn đề phát sinh

Xác định các bên liên quan

Cả Nguyên lý 1vàNguyên lý 12nhấn mạnh đến sự tham gia của xã hội vào

sự lựa chọn hệ sinh thái và các mục tiêu quản lý, và ở một phạm vi của các kỹ năng cần thiết

Nguyên lý không đề ra tiêu chuẩn nào để lựa chọn một phần của xã hội, và kiến thức của nó đối với các phần khác mặc dù điều này sẽ cần thiết trong thực tiễn Điều này đòi hỏi một sự phân tích các bên liên quan

Phân tích các bên liên quan

Xác định các bên liên quan chính với sự quan tâm vào hệ thống sinh thái đã

Trang 11

Là những người gần như phụ thuộc vào tài nguyên, mà họ thường đóng vai trò tích cực trong quản lý nguồn tài nguyên đó và họ phải được xem là nhóm liên quan chính.

Bên liên quan thứ hai và thứ ba

Là những bên mà tiếng nói của họ có trọng lựơng, có thể được đánh giá là bên liên quan thứ hai và thứ ba bao gồm cán bộ chính quyền địa phương và những người sống gần nguồn tài nguyên nhưng không quá phụ thuộc vào nó (thứ hai); và các cán bộ cấp quốc gia và các tổ chức bảo tồn quốc tế (thứ ba)

Bước A: Nghiên cứu điển hình, xác định các bên liên quan (tiếp theo)

Tổ chức quản lý khu bảo tồn hưởng ứng ADEPESCO như là một sự hỗ trợ quan trọng cho Công viên hải duơng quốc gia Isla Bastimentos, trong khi đó các

cơ quan quản lý tài nguyên biển rất quan tâm đến áp lực ngày càng lớn lên, nguồn lợi thủy sản của địa phương và sẵn sàng xem xét những đề xuất xây dựng

để giải quyết áp lực này Fundación Promar và TNC, cùng với các cơ quan quản

lý quốc gia chịu trách nhiệm quản lý tài nguyên biển đang thử nghiệm xem liệu một quy định luật mới về biển có là sự mở cửa phù hợp cho việc bảo tồn nguồn lực thủy sản của cộng đồng Cơ quan quản lý các khu vực bảo tồn quốc gia quan tâm đến tiếp cận này nhưng một điều băn khoăn là việc phát triển du lịch nhanh chóng ở quần đảo Bocas del Toro Archipelago có thể cần có sự bảo vệ nghiêm ngặt hơn các điều khoản quy định của các khu bảo tồn nguồn lực thủy sản cộng đồng Về ý tưởng, các kế hoạch của họ sẽ hỗ trợ và bảo vệ cả các bên liên quan địa phương và nguồn lực thủy sản của họ Tất cả những nhà quản lý hệ sinh thái – hỗ trợ một phần và cạnh tranh một một phần, hoạt động ở các cấp khác nhau – đang học cách làm việc cùng nhau để giải quyết áp lực ngày càng ra tăng lên hệ sinh thái.Trong trung hạn, các vấn đề quản lý khả năng thích ứng có thể khuyến khích một bước để bao gồm những tác động của các khu vực vùng cao lân cận các nguồn lợi biển bởi vì ngư dân ngày càng nhận thức được những tác động của các dòng phù sa từ lục địa và các hòn đảo đến hệ sinh thái biển

Đánh giá năng lực quản lý và cam kết của các bên liên quan về lĩnh vực hệ sinh thái Thiết lập diễn đàn các bên có liên quan để họ gặp mặt thường xuyên Các bên liên quan chính có thể không có nhiều kinh nghiệm để phát biểu trong

Trang 12

những sự kiện như thế này và có thể cần sự giúp đỡ trong thảo luận các vấn đề

và chuẩn bị các bài trình bày cho diễn đàn chính

Phân tích khu vực Độ rộng của khu vực sinh thái sẽ được lựa chọn thế nào

và sử dụng tiêu chuẩn nào để lựa chọn? Một kích thước và phạm vi thích hợp(Nguyên lý 7)phải thoả mãn các tiêu chí sau đây:

Đáp ứng được những tiêu chuẩn về khoa học (Nguyên lý 11và Nguyên lý 12);

Phải phù hợp với năng lực quản lý, kiến thức và kinh nghiệm hiện tại (Nguyên lý 11);

Xem xét đến những giới hạn về hành chính, luật pháp và văn hóa, là nơi có thể đơn giản hóa thông tin liên lạc với các thể chế hiện hữu (Nguyên lý 11);

Nắm bắt được rằng các ý tưởng dài hạn có thể hạn chế bởi những cái thường được xem là đơn vị quản lý hiệu quả trong ngắn hạn

Drylands in Niger-Nigeria

Sahel nằm ở vùng biên phía Nam của vùng Sahara, có khả năng về chăn nuôi và sản xuất nông nghiệp Sahel là một ví dụ điển hình về cách xác định vùng hệ sinh thái trong cách nhìn của những người khai thác tài nguyên thường xuyên và gắn bó nhất

Do vùng đất khô hạn như thế này rất rộng và rất hỗn tạp, và có nhiều điều cần biết về nó Các vùng đất khô hạn đòi hỏi các cư dân phải rất linh hoạt, tìm cách thích nghi và sáng tạo do lượng mưa khác nhau theo mùa và theo chu kỳ dài Ở vùng biên giới Niger-Nigeria, những người chăn nuôi gia súc phải di chuyển vật nuôi của họ vài trăm km từ phía Bắc lên phía Nam hàng năm, theo mùa mưa và có cỏ cho gia súc

Các nông dân cư trú tại chỗ trồng hoa màu dọc theo đường dốc Nam – Bắc nơi có lượng mưa tăng dần nhưng thưa thớt và không đều Những vùng đất khô hạn cũng tồn tại ngay cùng với những khu vực có lượng mưa cao hơn ở xa, do

sự dịch chuyển những nông dân thiếu việc làm sang các vùng khô hạn hơn nhưng cũng tạo cơ hội nhập cư lao động và thị trường cho các cư dân vùng đất khô hạn này

Người dân - và việc khai thác cảnh quan và sự đa dạng sinh học là trung tâm của quản lý hệ sinh thái Bảo tồn, sản xuất và tính bền vững đều phụ thuộc vào những quyết định của các nhà chức trách địa phương, đa số những người

Trang 13

nông dân sản xuất nhỏ hoặc những người chăn nuôi gia súc Những quyết định này tuân theo những kỹ thuật mới.

Chấp nhận rằng những phần thiết yếu của các khu vực hệ sinh thái được lựa chọn ban đầu sẽ không phải là trách nhiệm của các cá nhân hay các nhóm

cụ thể, sau đó những đường biên giới có thể được suy xét lại

Xây dựng mối quan hệ logic giữa các bên liên quan và khu vực

Khi đã xác định rõ ràng những ai là các bên liên quan và ai có mối quan tâm nhất đến quản lý khu vực nào trong hệ sinh thái, sau đó ta có thể xác định cả danh giới hệ sinh thái và các cá nhân, các nhóm hoặc tổ chức có liên quan, họ là những người có thể bảo vệ, quản lý và ra quyết định với những giới hạn này, cho một thời gian từ trung hạn đến dài hạn

Kết quả sẽ là một bức khảm của các khu vực, được quản lý bỏi các bên liên quan khác nhau, ở các cấp độ khác nhau trong phạm vi tổng thể hệ sinh thái.Trong khi các chuyên gia bảo tồn sẽ duy trì các tầm nhìn dài hạn, thực tiễn của việc điều phối và quản lý sẽ cần được xây dựng từ dưới lên, thông qua diễn đàn các bên liên quan, chứ không phải do chỉ định từ trên xuống

Hoặc các hình thức quản lý, sự khuyến khích về kinh tế, sự thương lượng

về cạnh tranh hoặc xung đột và thế mạnh của trách nhiệm tập thể

Hệ sinh thái không có mục tiêu, sự áp đặt về lãnh thổ ở trong vùng này, một vùng mà hệ thống kênh rạch bề mặt hầu như không có và sự bồi đắp là một khái niệm chỉ có một ít giá trị Hơn nữa, các nhóm sử dụng tài nguyên (nhóm liên quan) xác định hệ sinh thái cho riêng họ bởi vì chúng liên quan đến sinh kế và những mối quan tâm về kinh tế của họ Điều này được các nông dân địa phương, những người khai thác gỗ, những người chăn thả gia súc và những người làm thuốc hiểu rõ ở một cấp độ và những người chăn nuôi gia súc từ vùng khác đến lại hiểu ở một cấp độ khác và chính phủ, các tổ chức quốc tế hiểu ở một cấp độ khác nữa

Chính vì vậy hệ sinh thái được xác định bởi các mối quan tâm kinh tế của những người sử dụng tài nguyên vì đó là giá trị của sự đa dạng sinh học Hệ sinh thái khác nhau về kích thước, khác nhau giữa các nhóm sử dụng tài nguyên này

so với các nhóm khác Điều này tạo ra sự cạnh tranh quyết liệt cho những tài nguyên nhất định ở khu vực này và trong những mùa vụ nhất định, nhưng là sự

Trang 14

bổ trợ hữu ích ở những thời điểm khác và ở một địa điểm khác Khung thể chế cho quản lý việc tiếp cận, hưởng lợi từ các nguồn tài nguyên thiên nhiên là không thể tách rời từ ngay hệ sinh thái đó Những hệ sinh thái này đã được thay đổi từ nhiều thiên niên kỷ do việc khai thác, và chúng có thể tiếp tục được thay đổi không chỉ do việc khai thác và mùa mà còn xu hướng dài hạn hơn như sự xâm lấn của sản xuất nông nghiệp và sự thâm canh sử dụng đất.

Bước B Cấu trúc, chức năng và quản lý hệ sinh thái

Bước B liên quan đến việc phác họa cấu trúc và chức năng hệ sinh thái, thiết lập những cơ chế quản lý và giám sát nó

Cấu trúc và chức năng hệ sinh thái

Làm thế nào chúng ta có thể xác định được những đặc tính của cấu trúc và chức năng một hệ sinh thái, là những yếu tố cần thiết để cung cấp những sản phẩm và dịch vụ hệ sinh thái? Làm thế nào chúng ta có thể nói một hệ sinh thái

bị đe doạ bở việc sử dụng và khai thác quá mức (Nguyên lý 5 và Nguyên lý 6)? Cách hiệu quả nhất trước mắt thu hút các nhà khoa học và các cư dân địa phương làm việc cùng nhau tại văn phòng cũng như tại ngay hệ sinh thái Kiến thức của mỗi nhóm thường khác nhau và bổ trợ cho nhau

Những nguyên lý liên quan đến Bước B

2 Quản lý nên được phân cấp đến cấp quản lý thấp nhất phù hợp

5 Việc bảo tồn cấu trúc và chức năng hệ sinh thái, để duy trì dịch vụ hệ sinh thái nên được xem như là một một mục tiêu ưu tiên của tiếp cận hệ sinh thái

6 Hệ sinh thái nên được quản lý trong phạm vi những giới hạn chức năng của nó

10 Tiếp cận hệ sinh thái nên tìm kiếm sự cân bằng phù hợp, và tổng hợp của việc bảo tồn và sử dụng đa dạng sinh học

Bước B: Nghiên cứu điển hình, quản lý cấu trúc và chức năng hệ sinh thái Tỉnh Papua, Indonesia

Papua là khu bảo tồn lớn nhất của Indonesia với khu rừng nguyên sinh Diện tích rừng của khu vực này chiếm đến xấp xỉ 24% của tổng diện tích rừng của Indonesia và rất giàu về sự đa dạng sinh học

Gần đây, những cộng đồng lâm nghiệp và các cán bộ chính phủ dã tìm ra những phương cách để xem xét những mối quan tâm chung của họ - bảo vệ môi trường, quản lý rừng bền vững và sinh kế bền vững - từ phương hướng của tiếp

Trang 15

cận hệ sinh thái Họ được hỗ trợ bởi các tổ chức phi chính phủ địa phương và một chương trình lâm nghiệp nhiều bên do Chính phủ Anh tài trợ Chương trình được thực hiện cả ở khu vực rừng vùng đất thấp và rừng vùng đất cao.

Những đàm phán đã được thực hiện với sự tham gia và đồng ý của các bên, việc sử dụng đất đai hiệu quả về mặt môi trường đã được bắt đầu với những quyết định của người dân địa phương để lập bản đồ cả những đường biên giới của các nhóm dân tộc và các loại tài nguyên thiên nhiên và khu vực sử dụng Những bản đồ các nhóm sắc tộc này, khi so sánh với những bản đồ phân loại đất của Phòng Lâm nghiệp, ngay lập tức đã bộc lộ những sự khác biệt, đòi hỏi có các giải pháp xử lý nhanh chóng

Ở những vùng đất thấp, là nơi lý tưởng cho việc thiết kế cho rừng sản xuất

và bảo tồn, một điều rõ ràng là cấu trúc và chức năng hệ sinh thái được định giá bởi giá trị sử dụng của các nhóm dân tộc cao hơn Chính phủ đã làm

Ở những vùng đất cao mà các bộ tộc có, hơn nữa đất sản xuất nông nghiệp, Một bộ 7 công cụ như làvẽ bản đồ, ground-truthing, lược đồ mặt cắt, đánh giá tài nguyên có sự tham gia (PRA), cùng với các bài tập về giám sát để đo lường

sự thay đổi so với các hoạt động cơ sở, xây dựng kiến thức hai chiều và niềm tin cùng một thời điểm

Sự cân đối giữa việc bảo tồn và sử dụng đa dạng sinh học sẽ đạt được thông qua việc ra những quyết định có sự tham gia của các bên và thông qua sự thống nhất về việc ai nên quản lý những phần nào của hệ sinh thái(Nguyên lý 10) cho những mục đích gì

Một điều rất quan trọng là phải hiểu rằng kiến thức lúc đầu không đầy đủ là không thể tránh khỏi nhưng nó sẽ được bổ sung dần theo thời gian nếu những phương pháp có sự nhất trí cao được thiết lập ngay từ ban đầu Tiếp cận hệ sinh thái đòi hỏi chủ nghĩa thực tế: thường thì ta chỉ giải quyết những cái có thể không phải là những cái lý tưởng về mặt lý thuyết

Quản lý hệ sinh thái

Áp dụng Nguyên lý 2liên quan đến việc triển khai các hoạt động càng nhanh càng tốt với các bên liên quan địa phương Cần phải chấp nhận rằng thậm chí nếu khái niệm về quyền sở hữu và trách nhiệm của địa phương khác với các quan điểm “chính thống”, thì những khái niệm này vẫn phải được tôn trọng - và

Trang 16

xem xét - nếu những nhóm liên quan chính cam kết với việc quản lý hợp tác dài hạn Phân loại rừng theo vùng, với các hình thức sử dụng, quản lý và bảo vệ khác nhau được áp dụng cho từng vùng Phòng Lâm nghiệp đã phân loại toàn bộ khu vực, hàng nghìn km2 thành một công viên quốc gia.

Bốn khu vực hệ sinh thái được lựa chọn năm 2004, với sự giúp đỡ của các bản đồ bộ tộc và bản đồ lâm nghiệp Các cán bộ lâm nghiệp ở đó khoảng một tuần với những người dân địa phương ở mỗi khu vực và tham dự cùng họ vào công việc các bài tập trọng tâm về rừng được thiết kế chuyên biệt trong các đợt đánh giá nhanh nông thôn (PRA) Những người dân địa phương có cơ hội giải thích về cấu trúc và chức năng hệ sinh thái theo quan điểm của riêng họ và phân tích những vấn đề Họ mô tả sự đóng góp của rừng trong hơn 40 năm qua,và dẫn cán bộ lâm nghiệp đi theo các đường cắt ngang các khu rừng và đất nông nghiệp, giải thích những quy định và kỹ thuật về quản lý Trong họ có cơ hội phân tích những nguồn sinh kế (cả tiền mặt và trợ cấp) họ có được từ hệ sinh thái và xác định những cảnh quan khuynh hướng xã hội quan trọng Họ cũng xác định các vấn đề và những giải pháp có thể để chỉ ra những vấn đề gì họ cảm thấy

tự giải quyết được và những vấn đề gì cần có sự giúp đỡ từ bên ngoài để giải quyết

Những đánh giá nhanh nông thôn(PRAs) xem xét thế mạnh của những kỹ năng quản lý đất của người dân địa phương và các tổ chức ra quyết định, tạo ra

cơ hội cho việc thương lượng quyền sử dụng đất Mặc dù mỗi bên có sự e dè khi làm việc với các bên khác, những bài thực hành cùng nhau mở ra những dòng trao đổi thông tin và xây dựng sự tin tưởng, tôn trọng và thấu hiểu Các kế hoạch cho việc quản lý rừng được thiết kế cùng nhau để chọn lọc ra tiếp cận tốt tổng hợp tốt hơn cho việc bảo tồn, đang được thực hiện

Cũng sẽ cần thiết phải chấp nhận rằng một vài, cũng có thể nhiều phần của

hệ sinh thái có thể hiệu quả hơn nếu là đất sở hữu riêng

Chấp nhận thực tế này sẽ làm rõ hơn những nội dung sau:

Những vùng nào hoặc khía cạnh nào của hệ sinh thái mà người dân địa phương muốn quản lý;

Những vùng nào hoặc khía cạnh nào mà người dân địa phương muốn sự giúp đỡ và hỗ trợ; và

Trang 17

Những vùng nào hoặc khía cạnh nào người dân muốn những người khác quản lý

Quản lý ở “cấp thấp nhất và phù hợp nhất” (Nguyên lý 2)thường có nghĩa

là quản lý nhiều cấp khác nhau (từng nông dân, các nhóm cộng đồng, huyện, quốc gia và thậm chí quốc tế) ở các phần khác nhau của hệ sinh thái Bức ghép tổng hợp về quản lý sẽ được tiến triển Bức ghép này cần được giám sát theo thời gian, trong điều kiện ngày càng hiểu hơn về các vấn đề liên quan đến cấu trúc, chức năng hệ sinh thái và sức khỏe

Sử dụng diễn đàn các bên tham gia đã được phát triển ở bước A(trang 8),

và kinh nghiệm của các thành viên của diễn đàn, sẽ đưa ra các chủ đề cho thảo luận và xác định rõ khu vực Điều này có thể bao gồm việc xác định những khu vực trong hệ sinh thái mà quản lý còn yếu nhưng nhu cầu cho bảo vệ hệ sinh thái thì mạnh; hoặc những khu vực có sự liên kết yếu kém Diễn đàn cũng có thể xác định và xem xét bất kỳ vấn đề điều phối quản lý nào cấp bách

Quản lý ở cấp thấp và phù hợp nhất ở Tanzania

Trong nhiều hệ sinh thái, có sự xung đột giữa các chế độ quản lý tài nguyên

sở hữu chung (điều này không được nhận ra bởi chính phủ) và quản lý chính quyền (không quan trong đến các hoạt động bảo tồn được thực hiện bởi người dân địa phương)

Tanzania giải quyết vấn đề này bằng cách hòa trộn cả hai; đó là kinh nghiệm quan trọng cho việc xây dựng một mô hình quản lý phân cấp Từ năm

1974, quyền sở hữu và kiểm soát đất nông nghiệp và những vùng gần với đất sở hữu chung đã được trao cho từng người dân thôn bản; năm 1996, các khu bảo tồn rừng cấp thôn bản cũng đã được quản lý ở cấp thôn bản Trong phạm vi địa giới của thôn, các quyết định về sử dụng đất được thực hiện bởi hội đồng thôn, với sự đại diện của các hộ trong thôn

Ban sử dụng đất của thôn dự báo trước kế hoạch sử dụng đất của thôn, bổ nhiệm cán bộ kiểm tra để theo dõi thường xuyên việc thực hiện Mỗi thôn phải chịu trách nhiệm trước cấp huyện theo luật pháp về những vấn đề như bảo vệ đất dốc Những vấn đề quản lý đất trong thôn được xem xét bởi cấp huyện

Một vài vùng đất được giữ lại làm tài sản cấp quốc gia hoặc các khu bảo tồn cấp huyện và cấp khu vực Tuy nhiên, mối quan hệ cơ bản giữa thôn và

Trang 18

huyện kết hợp tốt nhất tài nguyên sở hữu chung và quản lý đất của chính phủ Từng thôn chịu trách nhiệm cho khu vực trực tiếp của mình và có thể hành động nếu các vấn để bắt đầu cấp bách Cùng thời điểm đó, những tiềm năng về thể chế cho các hành động rộng hơn ở ngay đó (xem bước D)

Bước C: Những vấn đề kinh tế

Việc xác định các vấn đề kinh tế có ảnh hưởng đến hệ sinh thái và cư dân

hệ sinh thái là rất quan trọng Những vấn đề kinh tế nào sẽ điều tiết sự lựa chọn quản lý trong hệ sinh thái?

Khuyến khích và không khuyến khích Điểm i và ii của Nguyên lý 4tập trung vào việc giảm những tác động của thị trường có ảnh hưởng tiêu cực đến sự

đa dạng sinh học và việc tạo ra sự khuyến khích cho việc bảo vệ và sử dụng khôn ngoan sự đang dang sinh học Cả hai nhiệm vụ này yêu cầu những phân tích sâu sắc ở ngay những giai đoạn sớm của quản lý hệ sinh thái

Ví dụ, những khuyến khích mang tính tiêu cực, hoặc trợ cấp nào khiến người dân khai thác tài nguyên một cách không bền vững?

Nguyên lý áp dụng trong Bước C

Nhận thức rõ những lợi ích có thể đạt được từ quản lý, đó là sự cần thiết thường xuyên để hiểu được và quản lý hệ sinh thái trong một bối cảnh kinh tế Mỗi một chương trình quản lý hệ sinh thái như thế này nên bao gồm:

i) Giảm những can thiệp của thị trường làm ảnh hưởng tiêu cực đến sự đa dạng sinh học;

ii) Khuyến khích để thúc đẩy việc sử dụng bền vững và bảo tồn sự đa dạng sinh học và

iii) Nội tại hóa chi phí và lợi ích của một hệ sinh thái đối ở một mức độ khả thi nhất

Bước C: Nghiên cứu điển hình, những vấn đề kinh tế

Lưu vực sông Mêkông

Các nước ở vùng hạ lưu sông Mêkông, Campuchia, Lào, Thái Lan, và Việt Nam, đã thành lập Ủy ban sông Mêkông (MRC) để bảo vệ sự đa dạng sinh học của sông Mê Kông để đảm bảo nguồn tài nguyên cho sinh kế của người dân địa phương và người nghèo Dự án đa dạng sinh học và vùng ngập nước sông Mê Kông (MWBP ) do IUCNs thực hiện đã phối hợp với Ủy ban sông Mê Kông, và phát huy được khái niệm về “dòng môi trường” — chế độ nước cần được đảm bảo để duy trì hệ sinh thái và những lợi ích của nó ở những nơi có sự cạnh tranh

Trang 19

về sử dụng nước và những nơi dòng nước bị điều chỉnh Ủy ban sông Mê Kông đàm phán với những việc sử dụng nước này và đang xây dựng bản kế hoạch lưu vực và đưa ra dòng môi trường yêu cầu.

Tác động chính của thị trường có ảnh hưởng đến cả sự đa dạng hóa sinh học đó là việc đánh giá qúa mức giá trị của những công trình đập ngăn nước và

kế hoạch thủy lợi và đánh giá thấp giá trị sử dụng kinh tế của nước sông Người nghèo sống dựa vào sông chủ yếu nhờ hệ thực vật và những nguồn lợi thủy sản của sông; đối với sự dồi dào này, một tỷ lệ nhất định của lượng nước phải được chảy tự do và một cách tự nhiên vào các đầm lầy và nhánh sông, và luôn đảm bảo nguồn nước mặt Thực tế thì nhu cầu của người dân rất phù hợp với chế độ phân bổ nước, tôn trọng khái niệm dòng chảy môi trường và làm lợi cho sự đang dạng sinh học Giảm sự ảnh hưởng xấu của thị trường và tăng cường những khuyến khích để thúc đẩy bảo tồn sự đang dạng sinh học và khai thác bền vững liên quan đến việc cải thiện cả kiến thức và những thiện chí về mặt chính trị Dự

án MWBP, thông qua những hỗ trợ gần đây của nó đối với những Một số vấn đề

có thể mang tính địa phương như việc những cán bộ địa phương bắt ép phải hối

lộ để khai thác tài nguyên từ hệ sinh thái Một số vấn đề có thể được chỉ ra là không phù hợp hoặc không theo luật quốc gia Trong trường hợp nghiên cứu điển hình của Mekong, việc sử dụng nước không bền vững về mặt môi trường bị điều tiết do sự quan tâm nhiều đến nhu cầu sử dụng nước của người giàu hơn người nghèo

Những khích lệ mang tính tích cực dẫn đến việc sử dụng nước tốt hơn bao gồm kiến thức tốt hơn và hiểu biết hơn, và có tiếng nói có trọng lượng hơn hơn trong việc ra quyết định cấp quốc gia và cấp vùng Cũng rất quan trọng nếu ta hiểu và có thể lượng hóa những lợi ích về kinh tế, sẽ dẫn đến việc quản lý hệ sinh thái tốt hơn

Những phân tích kinh tế như thế này sẽ là một hoạt động tiếp diễn Nhiều thực tế kinh tế chỉ trở lên rõ ràng từng bước Thị trường - và sự méo mó của thị trường - thay đổi liên tục và biến động, tạo ra mức độ thay đổi không ngừng của các những khuyến khích tiêu cực và tích cực cho việc phá vỡ hoặc bảo vệ sự đa dạng sinh học

Trang 20

Nội tại hóa chi phí và lợi ích trong một hệ sinh thái (Nguyên lý 4:Mục iii)

là điểm cốt lõi của những vấn đề mới mẻ của tiếp cận hệ sinh thái Thách thức

đó là cần tránh việc tập trung những lợi ích trong một hệ sinh thái hoặc trong một tiểu hệ sinh thái trong khi đánh chi phí sang một đối tượng khác Một điều sống còn nữa là làm việc với,chứ không chống lại,những khía cạnh cốt yếu của nền kinh tế địa phương

Thậm chí tốt hơn nếu phải đối mặt với những thách thức về chính trị, hệ thống phải được thiết lập đúng chỗ để những người chăm sóc hệ sinh thái có quyền kiểm soát những lợi ích mà hệ sinh thái đó mang lại và những người gây

ra những chí phí về môi trường phải trả cho việc làm của họ

Hỗ trợ của các nghiên cứu người dân bản xứ (Thai Baan) ở một nhánh của sông Mekong ở Thái Lan, đã làm sáng tỏ về khía cạnh mà các thống kê thủy sản trên đất liền của khu vực đã đánh giá thấp tầm quan trọng kinh tế của việc sử dụng nước của người nghèo cho các nguồn lợi thỷ sản Hiến pháp mới của Thái Lan làm cho người dân địa phương có ảnh hưởng nhiều hơn vào quản lý và phát triển các nguồn tài nguyên thiên nhiên, và có quyền lực hơn để vượt qua những xung đột do đặc điểm của sự phát triển quy mô rộng Những đầu tư vào dòng môi trường có thể được điều chỉnh bởi những lợi ích rõ ràng cho người nghèo.Trong một hệ sinh thái rộng như Mekong, nội tại hóa chi phí và lơi ích là một vấn đề rất phức tạp Lưu vực sông phải được xem xét như là một chuỗi của các tiểu hệ thống, ảnh hưởng bởi cả việc xem xét về chính trị và tự nhiên Sự điều tiết quá mức lượng nước vào các hồ đập, và kế hoạch thuỷ lợi gây lên những ngoại ứng không mong đợi ở hạ lưu, làm nguy hại tới sự da dạng và phong phú của các tài nguyên ở đây Nhu cầu của hạ lưu phải giúp cho việc định hình cách quản lý và sử dụng tài nguyên ở thượng lưu, và nhu cầu về nước của người nghèo phải được ưu tiên hàng đầu “Dòng môi trường” phải được xác định dựa trên những vấn đề cơ bản về kiến thức tốt nhất có thể có được tại thời điểm đó và thường xuyên được điều chỉnh

Để có những tác động về kinh tế, Những nghiên cứu kiểu Thai Baan nên tập trung vào việc xây dựng sự liên kết của các bên liên quan ở địa phương để

Trang 21

trao đổi những kết quả và and hạn chế những thay đổi không mong đợi từ thượng nguồn Chính phủ nên đúc rút kinh nghiệm về những kiến thức sâu rộng của cán bộ và cộng đồng địa phương và xay dựng cách quản lý nước độc quyền hơn Các cơ quan trong chính phủ nên giải quyết các xung đột một cách táo bạo, đúc rút kinh nghiệm quốc tế về các hiệp đinh quốc tế ưu tiên tiếp cận hệ sinh thái và lấy lợi thế của những cơ hội cho những thay đổi tích cực như chúng đã xảy ra.

Bước D: Quản lý thích ứng về không gian

Quản lý thích ứng theo không gian liên quan đến những tác động có thể của

hệ sinh thái với những vùng hệ sinh thái lân cận Những thay đổi trong quản lý của một hệ sinh thái có thể làm ảnh hưởng đến những hệ sinh thái lân cận , mặc

dù đã có những nỗ lực để nội tại hóa chi phí và lợi ích (Nguyên lý 4: Điểm iii).Một vài tác động không thể biết trước chắc chắn sẽ xảy ra Ví dụ một số hoạt động nhất định về chăn nuôi và sản xuất nông nghiệp không được cho phép trong hệ sinh thái này thì nó sẽ diễn ra nhiều hơn ở hệ sinh thái khác

Rõ ràng quản lý là phải thích ứng Những quản lý tốt hơn trong môt hệ sinh thái thường đem lại quản lý tốt hơn ở những hệ sinh thái lân cận trong một thời gian nhất định

Nguyên lý liên quan đến Bước D

3 Các nhà quản lý hệ sinh thái nên xem xét những ảnh hưởng (thực tế hoặc tiềm năng) của các hoạt động họ thực hiện ở các hệ sinh thái lân cận và các

hệ sinh thái khác

7 Tiếp cận hệ sinh thái nên được thực hiện ở một phạm vi không gian và thời gian phù hợp

Nhân diện mô hình ở Tanzania

Ở huyện Babati, sườn núi Rift Valley, khi được trồng rừng có độ dốc nghiêng về phía đồng bằng phía dưới Một trụ sở của

thiên chúa giáo và một bệnh viện được xây dựng ở đó từ những năm 1920,

đã thu hút nông dân đến sống ở vùng này và vào

những năm 1970, việc xây dựng nhà cửa ở đây đã hình thành nên khu vực dân cư mới dọc theo chân của vách núi Cây cối

trên sườn núi bị cắt để xây dựng nhà cửa và làm củi đun, thậm chí gia súc được chăn thả vùng này

Trang 22

Vào những năm 1990, sườn núi trở lên rất nghèo về hệ sinh thái Các dòng suối không còn chảy quanh năm và có ít phù sa hơn trước đây, nở đất diễn ra thường xuyên Các lối đi bộ trên sườn núi bị lún sâu và nguy hiểm Trưởng thôn Bermi đã ban hành lệnh cấm người dân trong thôn của ông chăn thả gia súc năm

1994, và phạt nếu phát hiện gia súc ở đó Ông cũng cấm việc thu lượm củi và đề xuất việc trồng cây rộng khắp theo sườn dốc

Hai thôn lân cận sau đó cũng cấm chăn thả gia súc trên địa bàn của họ Hệ thực vật phục hồi nhanh chóng đã khuyến khích nhiều thôn khác nữa thiết lập các khu vực cấm chăn thả Vào năm 2001, các dòng suối đã bắt đầu chảy quanh năm và đất ít bị sạt lở hơn Các loài động vật hoang dã bắt đầu sinh sản và phát triển trở lại trên vùng dốc Các thôn hiện nay thậm chí xem xét giải quyết các vấn đề rộng hơn Các vấn để này bao gồm việc yêu cầu các gia đình ở vùng đồi ngừng việc chăn thả gia súc ở sườn núi và yêu cầu bệnh viện của thiên chúa giáo ngừng ngay việc cắt hai xe tải gỗ mỗi tuần làm củi đun và xem xét các nguồn nhiên liệu khác như biogas

Thực sự thì những thay đổi trong một hệ sinh thái có thể từng bước làm cho

họ nhận thấy bởi vì các cư dân thuộc hệ sinh thái lân cận thích nghi dần với những tác động không biết trước do những thay đổi trong quản lý hệ sinh thái của họ

Cũng như vậy, trong một vài trường hợp, sự thay đổi có tính chất bắt buộc theo hướng ngược chiều làm cho thu nhỏ hệ sinh thái Những thay đổi do tác động từ bên ngoài (khi một vài hoạt động được tài trợ kinh phí hoặc yếu tố kinh

tế khác) có thể có nghĩa chỉ một phần của hệ sinh thái nguyên thủy lớn hơn đã được quản lý thành công

Thu hẹp mô hình, vùng biên giới Niger-Nigeria

Khoảng hơn 30 năm trước, các cư dân của hệ sinh thái Maradi Department

ở Niger, gần biên giới Nigeria đã thích nghi với việc lượng mưa thưa thớt và dân

số ngày càng tăng Một phần đất của thôn được trồng hoa hồng từ những diện tích rừng và đồng cỏ trước đây, nông dân đã phải chịu sự thiếu về phân chuồng

và các sản phẩm phụ của cây trồng cần thiết để duy trì độ phì của đất

Trang 23

Một vài nông dân đã bắt đầu khai hoang về phía Bắc để có những vùng cỏ độc quyền.

Sự suy giảm về các tài nguyên sở hữu chung đã dẫn đến những thay đổi trong quản lý hệ sinh thái Nhìn chung, các cư dân ở vùng này ngày càng sở hữu

ít đất hơn mặc dù việc thâm canh ngày càng tăng

Các hộ nông dân đã thích nghi với những thay đổi bằng việc duy trì sản xuất

Tăng mật độ cây trồng trên đơn vị diện tích - chủ yếu thôngqua quản lý và bảo vệ sự tái sinh của tự nhiên - và tư nhân hóa những vùng đất bạc màu (khi còn là tài sản chung) để chăn thả gia súc và lấy củi, và tăng sự nhập cư lao động

Ở phía Nam của huyện, họ giới thiệu các giống cây trồng mới và hàng loạt các giải pháp bảo tồn độ phì của đất mới

Ở phía Bắc, nông dân mở rộng các diện tích cây trồng, và đưa những vùng đất không có khả năng canh tác trước đây vào sử dụng Họ cũng thay đổi phương pháp chăn thả gia súc gia cầm: một số vật nuôi được nhốt cố định trong trang trại trong khi các vật nuôi khác được chăn thả ở hầu hết các thời gian trong năm

Bước E Quản lý sự thích ứng theo thời gian

Lập kế hoạch cho quản lý thích nghi liên quan đến những mục tiêu dài hạn

và nhiều biện pháp linh hoạt để đạt được mục tiêu đó

Những nguyên lý liên quan đến bước cuối cùng này là (Nguyên lý 7, Nguyên lý 8, Nguyên lý 9) đều nhấn mạnh một điều là trong khi phải xác đinh được mục tiêu dài hạn, chắ chắn một điều rằng những vấn đề không thể biết trước sẽ điều chỉnh những mục tiêu này hoặc cho ta biết những biện pháp mới

để đạt được mục tiêu

Để giải quyết được những thách thức này, những mục tiêu dài hạn - và các công cụ quản lý được sử dụng để đạt được mục tiêu - phải được thường xuyên kiểm tra.Một cách quản lý thích ứng hiệu quả đòi hỏi phải có những phương pháp giám sát xuất sắc để phát hiện ra những vấn đề sớm

Chương trình lâm nghiệp đa bên ở tỉnh Papua, Indonesia

Trang 24

Ở Papua, mục tiêu của chính quyền là lập kế hoạch cho cả việc bảo tồn và sản xuất ở những khu rừng của Papua thông qua hàng loạt cách phân loại đất linh hoạt (xem Nghiên cứu điển hình ở bước

B) Người dân địa phương cũng nhằm mục tiêu vừa bảo tồn vừa sản xuất, nhưng ở một sắc thái khác, theo cách thích hợp và bổ trợ trong khực mà họ coi

là hệ sinh thái của chính họ Sáng kiến về chương trình lâm nghiệp đa bên (MFP) đã cho thấy một ví dụ điển hình về quản lý thích ứng trong hành động bằng việc tạo ra những minh chứng cụ thể của các phương pháp cải thiện hệ sinh thái, và thông qua thử nghiệm những tiếp cận mới đối với bảo tồn và quản lý rừng bền vững trên cơ sở kết hợp kỹ năng và quan điểm của nhiều bên khác nhau

MFP đã tạo ra hoặc tăng cường tổ chức cộng đồng đàm phán với thế giới bên ngoài Các tổ chức bộ tộc đã nhận ra cái họ cần để hợp tác hiệu quả hơn với các bên khác là hình thành những Hiệp hội các bộ tộc Những tổ chức này được tăng cường qua khó khăn thách thức khi xây dựng bản đồ khu vực của nhiều bộ tộc và những nghị quyết về về tranh cãi mốc giới Các quy định bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và một hệ thống xử phạt đã phát triển sau đó điều phối giữa các bộ tộc Sách tham khảo

Cả hiệp hội các bộ tộc vùng đất thấp và vùng cao đã được khuyến khích trong việc tạo ra và phát huy quyền lực của các tổ chức đại diện đề xuất mối quan tâm của họ lên chính quyền cấp tỉnh và địa phương

Trang 25

MFP làm việc cùng với các tổ chức xã hội, các tổ chức phi chính phủ, chính quyền cấp tỉnh và chính quyền địa phương trong việc giải quyết những vấn đề hệ sinh thái mới và trong việc tìm kiếm giải pháp cho họ Những hình thức tổ chức mới này rõ ràng đã thể hiện mối quan hệ qua lại lẫn nhau, bởi nó xuất phát từ các bộ tộc sẽ giải quyết những thách thức về quản lý thích khi nó phát sinh Quản lý thích ứng là công việc của cả các tổ chức và những khu vực

hệ sinh thái có liên quan đến những tổ chức này Lãnh thổ của những bộ tộc nhỏ được liên kết với lãnh thổ của các bộ tộc, và những quy định chung được xây dựng để giải quyết những thách thức từ bên ngoài

Tương tự, những khái niệm của chính phủ về phân loại đất và trách nhiệm

tổ chức phải được thích ứng theo thời gian để có thể thực hiện ở các cấp thấp hơn và cấp bách hơn, ở những nơi cần thiết phải có sự thỏa hiệp về đất đai

Cuối cùng, MFP đã làm tăng khả năng của sự thay đổi chính sách trong việc hỗ trợ để có sự quản lý hệ sinh thái tốt hơn thông qua việc khuyến khích các chính sách sử dụng đất hiệu quả hơn, hiểu sâu hơn về nhu cầu tồn sinh kế,

và sự tin tưởng cao hơn vào năng lực quản lý kỹ thuật của người dân địa phương

và có sự tiếp cận từ dưới lên nhiều hơn

Kết luận

Hội nghị của các bên về Bảo tồn và Đa dạng sinh học hỗ trợ việc áp dụng

và thực hiện tiếp cận hệ sinh thái, và hoan nghênh những hướng dẫn bổ sung cho hiệu quả này (Quyết định VII/1 1) Tài liệu này gợi ý một cách tiếp cận thực

tế để thực hiện Tiếp cận hệ sinh thái, sử dụng phương pháp 5 bước đã được xây dựng ở trên Sử dụng phương pháp này, Ủy ban IUCN’s về quản lý môi trường đang thực hiện một số nghiên cứu điển hình ở nhiều cảnh quan khác nhau, do chính phủ Hà Lan tài trợ Một số nghiên cứu đã được sử dụng ở đây để minh họa việc áp dụng Những nguyên lý tiếp cận hệ sinh thái

Ba vấn đề nêu ra đã chứng tỏ tầm quan trọng Thứ nhất, do sự sở hữu đất

và tổ chức thể chế khác nhau tồn tại trong cùng một hệ sinh thái, chúng ta phải học cách quản lý như thế nào khi chúng ta không có quyền kiểm soát lên tất cả, phải đàm phán giữa người sử dụng đất và các tác nhân khác

Trang 26

Thứ hai, chúng ta cần học cách nhân diện thông qua các cách quản lý thích ứng, và việc tăng cường sự liên kết thường được làm tốt hơn ở những hệ sinh thái nhỏ hơn so với các hệ sinh thái lớn hơn được quan tâm bởi các tổ chức bảo tồn

Một vài những nghiên cứu điển hình này đã phác họa những gợi ý về việc nhân diện mô hình là phương pháp tốt nhất cho bảo vệ rừng bởi việc đầu tiên là đảm bảo có sự rõ ràng về những quyền về quản quản lý, ra quyết định và lựa chọn cấp cơ sở Chỉ khi những tổ chức mới có thể được thiết lập (hoặc những tổ chức cũ đã đưa ra nhiệm vụ rõ ràng hơn) thì năng lực địa phương có thể can thiệp vào vào các cấp độ khác để giải quyết những vấn đề rộng hơn

Thứ ba, sự hiểu biết của chúng ta về cấu trúc, chức năng và quản lý hệ sinh thái, và những hành động cần thiết, sẽ tăng nhanh chóng thông qua việc trao quyền cho mối quan hệ nhiều bên mà chúng ta đã xây dựng và hỗ trợ Chỉ khi có

sự thực hiện các cam kết dài hạn của chính những người chăm sóc hệ sinh thái chúng ta sẽ có đủ những tiềm năng của 12 Nguyên lý hệ sinh thái để bảo vệ sự

đa dạng sinh học một cách công bằng hơn và bền vững hơn

Trang 27

Chương 2: Tổng quan về Áp dụng Tiếp cận Hệ sinh thái vào các khu

đất ngập nước tại Việt Nam

Gill Shepherd - Ủy ban Quản lý Hệ sinh thái IUCN

2.1 Giới thiệu

Các tài liệu hội thảo trong báo cáo này đều có mục đích là áp dụng Tiếp cận

Hệ sinh thái (EA) đối với các khu đất ngập nước và rừng tại Việt Nam Cách tiếp cận này được áp dụng để kiếm tra những vấn đề và tiến độ quản lý các điểm dự

án có liên quan Báo cáo này xuất phát từ hai hội thảo có liên quan đến nhau và những phân tích trong các tài liệu được sử dụng sẽ hình thành nên những thảo luận ban đầu về thay đổi chính sách đối với khu đất ngập nước ở Việt Nam Thảo luận ban đầu được tiến hành tại hội thảo thứ nhất giữa những người thực hiện, các nhà quản lý, các nhà khoa học và các chuyên gia Những phát hiện được tổng hợp và làm cơ sở cho Hội thảo thứ hai - ở cấp cao hơn cho những người ra quyết định và hoạch định chính sách

2.2 Tiếp cận hệ sinh thái: điểm gì mới trong cách tiếp cận này?

Tiếp cận Hệ sinh thái (EA) trong quản lý là một cách tiếp cận mới trong quản lý cảnh quan đất liền và cảnh quan biển ở một bối cảnh rộng hơn Cách tiếp cận truyền thống “vùng lõi và vùng đệm” đối với quản lý khu bảo tồn tỏ ra không hiệu quả, và mục đích là “các vùng có mức độ da dạng sinh học cao” không nên quản lý tách biệt khỏi khu vực xung quanh, mà nên tạo ra một phần tương tác với việc sử dụng đất xung quanh đó Sự cô lập này đã diễn ra một phần bởi lẽ cảnh quan kinh tế và xã hội đã không được cân nhắc đến trong quản

lý các khu bảo tồn Và một lý do khác là thiếu sự hợp tác giữa các đơn vị quản

lý khu bảo tồn với các đơn vị quản lý các khu vực còn lại của toàn bộ cảnh quan Tiếp cận Hệ sinh thái (EA), do Công ước về Đa dạng Sinh học (CBD) khởi xướng, đã liệt kê 12 Nguyên tắc Hướng dẫn cần phải nhớ khi thực hiện cách tiếp cận này Các nguyên tắc thoạt nghe có vẻ khó hiểu, nhưng thông điệp chung thì rất đơn giản, và có thể được tổng hợp thành một vài điểm

2.2.1 Các hệ sinh thái không phải là biệt lập

Chúng đan chéo, gắn kết và tương tác với nhau Cách tiếp cận này đòi hỏi chúng ta công nhận rằng bất kỳ hệ sinh thái cụ thể nào cũng bị ảnh hưởng rất nhiều bởi (các) hệ sinh thái xung quanh chúng và tất cả các vùng đất/nước/biển

Trang 28

đều nằm trong một hệ sinh thái này hoặc hệ sinh thái khác Các hệ sinh thái không phải là những hòn đảo đa dạng sinh học trong một cảnh quan chỉ được coi

là thứ cấp, mà là sự ghép nối của những loại đất và kiểu sử dụng đất khác nhau trong một tổng thể

2.2.2 Sẽ không bao giờ là đủ nếu chỉ tính đến các khu bảo tồn

Khi lên kế hoạch bảo tồn, những vùng lân cận khác cần phải được tính đến – không chỉ các vùng đệm Mối liên hệ bền vững qua lại giữa con người và đa dạng sinh học chỉ có thể phát triển trong một khu vực hệ sinh thái rộng hơn và Tiếp cận Hệ sinh thái khuyến khích tầm nhìn rộng hơn, và khai thác các mối liên kết

2.2.3 Con người là một phần của hệ sinh thái

Tiếp cận Hệ sinh thái đánh giá cao vai trò tích cực của con người để tiến tới quản lý hệ sinh thái bền vững Trong hầu hết các kịch bản, người nghèo hàng ngày phải chịu trách nhiệm với các quyết định mà tất cả những quyết định đó quyết định tính bền vững của những vùng rộng lớn trên thế giới Vì thế, phải luôn xem xét vấn đề con người và sinh kế của họ cùng các biện pháp bảo tồn

2.2.4 Quản lý thích ứng là cần thiết

Không bao giờ có đầy đủ thông tin để phục vụ quản lý hiệu quả một khu vực, và quản lý luôn cần phải thích ứng giống như chúng ta cần phải học Hệ sinh thái luôn vận động không ngừng trong không gian và thời gian và chúng nắm giữ nhiều kịch bản tương lai không chắc chắn Vì thế, quản lý cần phải linh hoạt, ngay cả khi mục tiêu lâu dài của sự phục hồi cần được giữ vững

2.2.5 Các cở sở quản lý cũng sẽ thích ứng

Trong một môi trường vừa làm vừa rút kinh nghiệm, các thể chế cũ xây dựng những liên kết và năng lực mới, và các thể chế mới được đưa vào hoạt động Tiếp cận Hệ sinh thái hàm ý tính linh hoạt, vừa học vừa làm và phát triển Đây là cách khác so với quản lý tổng hợp trước đây, mà theo đó nỗ lực để đạt được sự tổng hợp ngay từ quá trình ban đầu

2.3 Cách tiếp cận hệ sinh thái: những thách thức

2.3.1 Các bên liên quan và quy mô

Các cơ hội thay đổi cách đất sử dụng ở địa phương thường hạn chế so với các khu vực địa lý rộng hơn Để có kết quả bền vững hơn cần xây dựng cách tiếp cận, tạo điều kiện cho quá trình ra quyết định đối với các dịch vụ hệ sinh

Trang 29

thái và hệ sinh thái kinh tế ở các cấp độ cảnh quan rộng hơn Tuy nhiên, ở các cấp độ này sự tham gia của các bên liên quan trong quá trình ra quyết định trở nên phức tạp hơn và chi phí giao dịch do đó cũng tăng theo Cách tốt nhất để mở rộng quy mô là đảm bảo có được sự rõ ràng về quyền của cấp địa phương đối với công tác quản lý, ra quyết định và lựa chọn Sẽ cần có thêm các thể chế mới (hoặc giao các nhiệm vụ mới cho các thể chế hiện có) để địa phương có thể làm việc với các cấp khác để giải quyết các vấn đề ở quy mô rộng hơn

2.3.2 Vấn đề quản lý và các thể chế để làm tốt công tác quản lý

Tất cả các ví dụ đều cho thấy để tăng cường hay phát triển đúng các thể chế cần thiết thì các mục tiêu quản lý phải xuất phát từ việc trao đổi giữa các bên liên quan về nhận thức, và phải được sự nhất trí của họ Cần phải xác định ra những nhiệm vụ sẽ được giao cho các đơn vị hành chính cấp dưới hoặc các cấp thực thi một cách tốt nhất, và những nhiệm vụ mà cần sự tác động của các cấp cao hơn để có hiệu lực, trước hết là dựa theo từng trường hợp cụ thể, và thông qua cách quản lý thích ứng

2.3.3 Tính kinh tế trong hệ sinh thái

Một điều rất quan trọng chúng ta cần phải hiểu là hệ sinh thái vật chất nằm trong “hệ sinh thái” kinh tế xã hội Những người sống trong hệ sinh thái phải tạo thu nhập bằng tiền mặt và phi tiền mặt từ những thành tố của hệ sinh thái, và mọi nỗ lực cần phải được tiến hành để họ có thể tạo thu nhập một cách có hiệu quả hơn Nếu người dân địa phương tham gia nhiều hơn vào thiết kế và thực hiện việc quản lý sự cân bằng giữa bảo tồn và sinh kế thì kết quả có được sẽ bền vững và công bằng hơn

2.4 Kinh nghiệm từ các bài học về khu bảo tồn

Báo cáo tổng hợp trình bày tại hội thảo (và được kèm trong báo cáo này)cho thấy nhiều nỗ lực trong thập kỷ qua và trước đó đã thay đổi những giả định mà dựa vào đó để quản lý rừng

Trang 30

Trọng tâm chính của các hoạt động quản lý rừng là tìm cách phối hợp các bên liên quan ở tầm cao hơn nữa khi quản lý các khu bảo tồn rừng, đặc biệt là Rừng Đặc Dụng (SUFs) Để đạt được điều đó, chúng ta đã tìm kiếm cách tiếp cận tổng hợp, đã có nhiều cam kết nâng cao sinh kế ở các khu Rừng Đặc Dụng, nhiều cách tham gia làm việc của người dân địa phương và giáo dục môi trường

đã được tiến hành rộng rãi

Những dự án lâm nghiệp, thông thường được nước ngoài tài trợ, thường có những cơ hội để các ý tưởng mới được thử nghiệm, và những hạn chế pháp lý sẽ tạm bỏ qua Trong số tất cả những nỗ lực này, một số những thay đổi chính sách nhỏ đã được tiến hành tại một hoặc hai điểm dự án và có nhiều những kinh nghiệm thực địa rộng và chắc chắn chưa được chuyển hóa thành những thay đổi chính sách Các điểm dự án của khu rừng đặc dụng được báo cáo

ở đây đã thu được nhiều kinh nghiệm trong làm việc với cộng đồng và trong việc nắm bắt được một số động lực kinh tế trong sinh kế của họ Một số những bài học được chúng tôi tóm lược dưới đây

2.4.1 Tiếp cận tổng hợp

Tất cả các điểm dự án hiện đang áp dụng phương pháp giám sát, thông

tin-kế hoạch-quyết định để nâng cao quản lý một cách có hệ thống đối với Rừng Đặc Dụng Họ đã tiến hành rất nhiều hoạt động đào tạo cho cán bộ khu bảo tồn

và cán bộ chính quyền địa phương về cách thức làm việc hiệu quả với cộng đồng địa phương, và xác định rõ vai trò không chỉ giữa chính phủ và cộng đồng địa phương, mà còn giữa các cơ quan chính phủ khác nhau

Vườn Quốc gia Cúc Phương và Khu Dự trữ Thiên nhiên Pù Lương đã thích ứng bằng việc thiết lập các thể chế mới: đó là xây dựng một diễn đàn liên tỉnh và

cơ chế điều phối vì hai khu này có vị trí gần nhau

Khu Dự trữ Thiên nhiên Phong Điền đã có một mạng lưới các Nhóm Hỗ trợ Thực địa tại tất cả các xã ở vùng đệm Trường hợp này cho thấy thành công quản lý tài nguyên thiên nhiên được dựa trên hỗ trợ và quan tâm của chính quyền địa phương (quận, xã và làng), và dựa trên dự tham gia trực tiếp và tích cực của cộng đồng trong mọi quá trình thực hiện dự án từ lập kế hoạch hoạt động, thực hiện, giám sát và đánh giá Các hoạt động đào tạo và tham quan trao

Trang 31

đổi đã nâng cao kiến thức, hiểu biết, và kỹ năng quản lý của các Nhóm Hỗ trợ Thực địa, các cán bộ chính quyền địa phương và cán bộ Khu Dự trữ Thiên nhiên Phong Điền Trong trường hợp này, cán bộ hiện có đã được đào tạo những kỹ năng mới Các Vườn quốc gia Yok Đôn, Ba Bể và Na Hang, đã xây dựng chiến lược bảo tồn cấp cảnh quan cao hơn

để nâng cao hiệu quả bảo tồn và tính linh hoạt Lựa chọn cách tiếp cận cảnh quan, ba khu Rừng Đặc Dụng đã xây dựng một chiến lược bảo tồn chung coi đây là một công cụ gắn kết kế hoạch sử dụng tài nguyên với đầu tư và ngân sách định kỳ Những điểm thực địa này cho thấy xây dựng mối liên kết cao

hơn và khuyến khích những thể chế mới hoặc cải tiến sẽ tạo kết quả tốt hơn

2.4.2 Chịu trách nhiệm nâng cao sinh kế và làm việc thông qua tiếp cận

có tham gia

Mối liên kết giữa lợi ích phát triển và yêu cầu bảo tồn đã được xây dựng ở tất cả các cấp trong các hoạt động của 7 khu bảo tồn Trong phạm vi cảnh quan chung, các khu Rừng Đặc Dụng đã cho thấy các cộng đồng địa phương có thể xây dựng và chịu trách nhiệm thực hiện chiến lược quản lý đất của riêng họ trong đó có lồng ghép kế hoạch bảo tồn và mục tiêu phát triển Cải thiện điều kiện kinh tế của các hộ gia đình đang được tiến hành bằng các phương thức nông nghiệp nhằm tăng cường và đa dạng sản xuất nông nghiệp bằng việc đưa vào các giống cây trồng năng suất cao hơn, chăn nuôi gia súc, nuôi cá, trồng cây, v.v Tuy nhiên, có ý kiến phê phán rằng trong một số lĩnh vực có quá ít hộ gia đình và xã được nhận những lợi ích này Cách tiếp cận của vườn quốc gia Ba Bể, Yok Đôn và Na Hang có lẽ sẽ có hiệu quả hơn Cần đào tạo con người, xây dựng các điểm trình diễn, và tiến hành thêm các công việc để nhận thức cộng đồng được nâng cao hơn Du lịch cộng đồng tại Phong Điền đã được thử nghiệm Trong tương lai, ở vườn quốc gia Ba Bể và Na Hang, mọi người cũng quan tâm tới lâm sản ngoài gỗ nông nghiệp, dược phẩm, và làm vườn có giá trị cao,

mà sẽ nhắm vào mảng thị trường giá cao Tuy nhiên, các nghiên cứu nông nghiệp và marketing cho đến thời điểm này vẫn chưa được tiến hành trong trường hợp này

Trang 32

Những cán bộ trẻ/cán bộ kiểm lâm tại tất cả các khu bảo tồn đã được huy động để tham gia tích cực vào quá trình lập và thực hiện dự án, cũng như phát triển năng lực của họ trong bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển cộng đồng.Một số khu bảo tồn đã kêu gọi sự giúp đỡ của cơ quan phát triển cộng đồng bên ngoài ví dụ như (Trường đại học Nông Lâm Huế, Trung tâm Khuyến nông

và Sở Du lịch) trong khi những khu bảo tồn khác như Phong Điền làm việc và hợp tác chặt chẽ giữa cộng đồng địa phương, kiểm lâm và các đối tác liên quan khác Những cộng đồng này tham gia vào quá trình lập kế hoạch, và do đó họ đem tri thức bản địa và kinh nghiệm địa phương vào lập kế hoạch phát triển và bảo tồn Các cộng đồng hưởng lợi từ các khu rừng nằm trong sự quản lý của họ, chủ yếu thông qua thu nhập từ các hoạt động du lịch dựa trên cộng đồng

Các Vườn quốc gia Ba Bể, Na Hang và Yok Đôn đã đưa cộng đồng địa phương vào tham gia với tư cách đối tác trong xây dựng các khu bảo tồn mới, đồng quản lý cũng như xây dựng chiến lược sử dụng bền vững trong các khu vực mà trước đây chỉ được hoàn toàn bảo vệ

Ở Na Hang, lập kế hoạch sử dụng tài nguyên có sự tham gia của cộng đồng

sẽ góp phần xử lý vấn đề ranh giới của các khu dự trữ thiên nhiên với sự đồng thuận của cấp quản lý và cộng đồng địa phương

Ranh giới giữa những vùng đất chung cũng được tạo ra thông qua quá trình tham gia của cộng đồng, điều này nhằm mục đích hạn chế sự mở rộng và tác động tiêu cực của những ngôi làng không nằm trong khu dự trữ Như vậy sẽ đảm bảo việc sử dụng tài nguyên rừng được bền vững, và gắn các hộ gia đình vào chương trình bảo tồn có sự tham gia của cộng đồng

Ở Ba Bể, Hợp tác xã Quản lý Hồ được thiết lập, là một cơ chế hợp tác giữa

cơ quan quản lý khu bảo tồn và sáu xã sống quanh hồ Ba Bể Kết quả là, các hoạt động bất lợi cho bảo tồn bao gồm đánh cá bằng điện và dung thuốc nổ đã bị xoá bỏ và nằm dưới sự kiểm soát của dân quân địa phương Theo thỏa thuận quản lý hợp tác, dự kiến hợp tác xã cũng chịu trách nhiệm quản lý và giám sát việc thu hút du lịch của hồ, và sẽ thu 1% trong tổng số doanh thu du lịch để thực hiện công việc này

Trang 33

Yok Đôn đang thử nghiệm triển khai đồng quản lý nguồn tài nguyên nước ngọt một phần để bù đắp lại việc cấm săn bắt tại một số khu vực quan trọng trong khu bảo tồn Những làng nằm dải dọc bên sông Srepok đã được công nhận quyền và duy nhất được tiếp cận với nguồn nước được sản xuất trong khu bảo tồn Để đổi lại, các hộ gia đình sẽ hỗ trợ các nhà quản lý khu bảo tồn ngăn chặn những ngư dân đánh cá thương mại đến từ các đô thị.

Nâng cao năng lực là điều rất quan trọng, không chỉ nâng cao năng lực các bên liên quan tham gia vào quản lý khu bảo tồn mà còn nâng cao năng lực cán

bộ bảo tồn để làm việc với các cộng đồng một cách hiệu quả Nhiều chương trình giáo dục và đào tạo đã được xây dựng để đáp ứng nhu cầu của những người làm việc trực tiếp về bảo tồn thiên nhiên cũng như hỗ trợ nhân sự và các nhà lập chính sách Cần nâng cao những kỹ năng cần có để xây dựng dự án trong các vùng đệm và các vùng khác gần khu bảo tồn trong việc sử dụng bền vững tài nguyên khu bảo tồn và khôi phục các hoạt động nhằm đạt được cả mục đích phát triển bền vững và bảo tồn

2.4.3 Những chính sách và thách thức chính để quản lý thích ứng thành công ở cấp địa phương

Cộng đồng tham gia quản lý trong khu bảo tồn vẫn là vấn đề cần giải quyết

về mặt pháp lý Tuy nhiên, việc sửa đổi luật đang được tiến hành và cách lập kế hoạch Rừng Đặc Dụng và sự tham gia ở điểm hiện trường sẽ cung cấp kinh nghiệm hữu ích để các khu bảo tồn khác áp dụng

Rõ ràng là ở những vùng xa xôi, còn thiếu những động lực để quản lý các khu bảo tồn; chi phí thì cao còn lợi ích thì vẫn hạn chế Cần nghiên cứu hơn nữa tại những khu vực này

Tuy nhiên, việc giao rừng tự nhiên đến cộng đồng là một thay đổi chính sách rất tích cực Việc này diễn ra để đáp ứng yêu cầu từ cộng đồng xã Phong Điền Việc tăng cường năng lực quản lý rừng tự nhiên cho cộng đồng đã giúp quản lý rừng bền vững thông qua đào tạo, điêu tra tài nguyên rừng, bảo vệ và quản lý rừng ở thôn bản, phục hồi và làm giàu rừng, chuyển giao công nghệ về vườn ươm và rừng trồng

Ngày đăng: 26/04/2017, 08:29

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w