1. Trang chủ
  2. » Kinh Doanh - Tiếp Thị

BẢN CHẤT, CHỨC NĂNG VÀ Ý NGHĨA CỦA KIỂM TOÁN

20 309 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 1,34 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, ở đây chúng ta xem xét trong mối quan hệ với việc hình thành và phát triển của kiểm toán thì quản lý được hiểu như sau: Quản lý là một quá trình định hướng và tổ chức thực hiệ

Trang 1

BÀI 1 BẢN CHẤT, CHỨC NĂNG VÀ Ý NGHĨA CỦA KIỂM TOÁN

Hướng dẫn học

Để học tốt bài này,sinh viên cần tham khảo các phương pháp học sau:

 Học đúng lịch trình của môn học theo tuần, làm các bài luyện tập đầy đủ và tham gia thảo luận trên diễn đàn

 Đọc tài liệu:

Giáo trình Lý thuyết kiểm toán – NXB Tài chính – GS.TS Nguyễn Quang Quynh và PGS.TS Nguyễn Thị Phương Hoa

 Sinh viên làm việc theo nhóm và trao đổi với giảng viên trực tiếp tại lớp học hoặc qua email

 Tham khảo các thông tin từ trang Web môn học

Nội dung

Bài học này giới thiệu các vấn đề về kiểm tra, kiểm soát trong quản lý; bản chất của kiểm toán; chức năng của kiểm toán; và ý nghĩa của kiểm toán trong quản lý

Mục tiêu

 Giúp sinh viên hiểu được vai trò của kiểm tra, kiểm soát trong hoạt động quản lý và những yếu tố nào của quản lý có tác động đến hoạt động kiểm tra kiểm soát

 Giúp sinh viên nhận thức được bản chất của kiểm toán thông qua việc tìm hiểu các quan điểm khác nhau về kiểm toán

 Giúp sinh viên nắm bắt được các chức năng cơ bản của kiểm toán

 Giúp sinh viên thấy rõ được ý nghĩa của kiểm toán đối với các đối tượng sử dụng thông tin tài chính của đơn vị cũng như đối với các nhà quản lý trong đơn vị

Trang 2

T ình huống dẫn nhập

Điều gì đã xảy ra đối với hoạt động quản lý tại Công ty Spakling?

Công ty Spakling là một công ty chuyên sản xuất sản phẩm nhựa với đặc điểm sản phẩm rất đa dạng và doanh thu lớn Công ty có ba nhà máy sản xuất nằm ở hai thành phố lớn Mỗi nhà máy của công ty có hàng nghìn công nhân viên với trình độ tay nghề khá đồng đều Cuối năm, báo cáo của ban quản trị cho thấy mức cổ tức chia cho các cổ đông không ngừng tăng lên so với các năm trước Tuy nhiên, trong năm tài chính 2013 doanh thu dự kiến không đạt được ở mức 1.250

tỷ VNĐ như đã đề ra Tỷ lệ cổ tức giảm 0,05% so với năm trước Nhiều vấn đề nảy sinh giữa người lao động và nhà quản lý về đãi ngộ, đánh giá chất lượng lao động, thời gian lao động, bảo

hộ lao động,… tại các nhà máy dẫn tới khiếu nại lên ban Giám đốc công ty

1 Giả sử cổ đông có ý kiến cho rằng báo cáo tài chính năm nay có nhiều vấn

đề nghi vấn Theo bạn hoạt động kiểm tra, kiểm soát nào nên được duy trì để

đảm bảo niềm tin của những nhà đầu tư vào Công ty? Giải thích tại sao?

2 Với quy mô và những vấn đề phát sinh phức tạp như vậy, theo bạn Công ty nên tạo ra những mắt xích kiểm tra, kiểm soát cụ thể thế nào để đạt được mục tiêu quản lý, mục tiêu kinh doanh?

Trang 3

1.1 Kiểm tra, kiểm soát trong quản lý

1.1.1.1 Khái niệm về quản lý

Có nhiều quan điểm khác nhau về quản lý Tuy

nhiên, ở đây chúng ta xem xét trong mối quan hệ

với việc hình thành và phát triển của kiểm toán thì

quản lý được hiểu như sau:

Quản lý là một quá trình định hướng và tổ chức thực

hiện các hướng đã định trên cơ sở những nguồn lực

xác định nhằm đạt được hiệu quả cao nhất

Ví dụ: Trong một doanh nghiệp sản xuất Trên cơ

sở các nguồn lực đã có và sẽ có như các nguồn lực về nguyên vật liệu, máy móc thiết

bị, lao động… sẽ định hướng sản xuất loại hình sản phẩm nào đó, đưa ra đường lối (còn gọi là chiến lược) hoạt động  hình thành nên các chính sách và xác định các mục tiêu, kế hoạch cụ thể Khi đó, doanh nghiệp sẽ phải xác định được mình sản xuất cái gì, sản xuất cho ai và sản xuất như thế nào  đưa ra các chỉ thị cụ thể về điều hành Sau đó mới tiến hành hoạt động sản xuất theo các hướng đã định để đạt được hiệu quả cao nhất

Hiệu quả cao nhất có nghĩa là thu được kết quả nhiều nhất với chi phí bỏ ra là ít nhất

1.1.1.2 Các giai đoạn của quản lý

Quản lý bao gồm 2 giai đoạn: giai đoạn định hướng và giai đoạn tổ chức thực hiện các hướng đã định

 Thứ nhất, giai đoạn định hướng

Đây là một giai đoạn rất quan trọng, đòi hỏi người định hướng phải có óc xét đoán tổng quát,… hội tụ các yếu tố của một nhà quản lý Người ta thường ví: “Một người lo bằng cả kho người làm” để nói nên tầm quan trọng của việc định hướng Định hướng có tốt thì khi thực hiện mới đạt được hiệu quả cao nhất

Trong giai đoạn này, cần tiến hành các bước công việc sau:

o Tiến hành dự báo các nguồn lực (nguồn lực về vốn, lao động, tài nguyên) Phải biết được rằng khả năng mình có đến đâu, vốn tự có bao nhiêu và có thể huy động từ nguồn vốn vay thế nào, lao động thì phải dự báo cả số lượng và chất lượng (tay nghề kỹ thuật) Rồi dự báo cả nguồn nguyên vật liệu có thể cung ứng cho quá trình sản xuất của doanh nghiệp, đặc biệt là trong thời kỳ hiện nay khi mà tài nguyên thiên nhiên đang rất khan hiếm và cạn kiệt dần thì việc dự báo nguồn tài nguyên có thể đáp ứng cho doanh nghiệp là việc cần thiết để định hướng quá trình sản xuất, kinh doanh

o Sau khi đã xác định được các nguồn lực thì tiến hành đề ra các mục tiêu cần và

có thể đạt tới, xây dựng các chương trình, kế hoạch…

Trong giai đoạn này, cần kiểm tra các thông tin về nguồn lực, về xây dựng các mục tiêu, chương trình, kế hoạch nhằm đảm bảo có khả năng thực hiện được

Trang 4

Ví dụ: Một công ty sản xuất dự báo cần 1.000 tấn nguyên vật liệu để sản xuất Thì trong giai đoạn định hướng, cần kiểm tra lại thông tin dùng để dự báo có chính xác hay không Thông tin dùng để dự báo có thể là thông tin về thị trường tiêu thụ, về việc kết hợp với các nguồn lực khác như: năng lực máy móc thiết bị, nguồn nhân lực… sử dụng để dự báo ở đây có sát với thực tế hay không Vì nếu không dự báo chính xác có thể dẫn đến các tình trạng:

 Thứ nhất, dự trữ quá nhiều sẽ gây dư thừa, ứ đọng vốn và lợi nhuận sẽ không cao

 Thứ hai, dự trữ quá ít sẽ ảnh hưởng đến sản xuất, gây gián đoạn sản xuất dẫn tới việc lãng phí các nguồn lực khác

Ngoài ra, khi xây dựng mục tiêu (Ví dụ, xác định mục tiêu năm nay phải đạt được lợi nhuận là 1 tỷ đồng), cần kiểm tra lại xem nó

có phù hợp với nguồn lực của doanh nghiệp mình hay không…

 Thứ hai, giai đoạn tổ chức thực hiện

Phối hợp các nguồn lực theo các phương án tối ưu nhằm hoàn thành các mục tiêu

đã đề ra

Trong giai đoạn này, cần kiểm tra quá trình và kết quả thực hiện để qua đó điều chỉnh lại các định mức, xây dựng lại các mục tiêu, các chương trình, kế hoạch… Trong giai đoạn tổ chức thực hiện này, từng hành vi sẽ được thực thi và cũng cần

có sự phối hợp với nhau Đồng thời với quá trình thực thi các hành vi là quá trình kiểm tra, đánh giá và điều chỉnh các hành vi cho phù hợp hơn và đạt hiệu quả cao hơn

Ví dụ: Một Công ty chế biến hải sản của Việt Nam chuyên sản xuất cá basa để xuất khẩu sang Mỹ Đầu năm, Công ty đã đặt kế hoạch xuất khẩu sang Mỹ 1.000 tấn hàng Tuy nhiên, trong năm, do có sự kiện bất thường xảy ra, đó là Việt Nam

bị kiện bán phá giá trên thị trường Mỹ Vì thế, Công ty phải điều chỉnh kế hoạch sản xuất và điều chỉnh chiến lược xuất khẩu sang thị trường khác như thị trường Châu Âu

Như vậy, kiểm tra, kiểm soát không phải là một giai đoạn hay một pha của quản lý mà

nó được thực hiện ở tất cả các giai đoạn của quá trình này Do đó, cần quan niệm rằng kiểm tra, kiểm soát là một chức năng của quản lý

Kiểm tra, kiểm soát là một chức năng của quản lý, ở đâu có quản lý thì ở đó có kiểm tra, kiểm soát Tuy nhiên, chức năng này được thể hiện rất khác nhau tùy thuộc vào cơ chế kinh tế và cấp quản lý, vào loại hình hoạt động cụ thể, vào truyền thống văn hóa

và những điều kiện kinh tế xã hội khác của mỗi nơi trong từng thời kỳ lịch sử cụ thể

Trang 5

1.1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến kiểm tra, kiểm soát

Sơ đồ: Các yếu tố ảnh hưởng tới kiểm tra, kiểm soát trong quản lý

1.1.2.1 Cấp quản lý

 Cấp quản lý vĩ mô (cấp nhà nước)

Nhà nước là người quản lý và cũng là người thực hiện kiểm tra, kiểm soát dưới hai hình thức: kiểm tra trực tiếp và kiểm tra gián tiếp

o Kiểm tra trực tiếp: Nhà nước với tư cách là chủ sở hữu sẽ tiến hành kiểm tra các mục tiêu, chương trình, kế hoạch, kiểm tra các nguồn lực, kiểm tra quá trình và kết quả thực thực hiện các mục tiêu của các đơn vị, kiểm tra tính trung thực của các thông tin và tính pháp lý của việc thực hiện các nghiệp vụ… Với tư cách chủ sở hữu thì Nhà nước sẽ tiến hành kiểm tra đối với vốn, tài sản thuộc sở hữu của nhà nước như đối với các xí nghiệp công, đơn vị sử dụng ngân sách nhà nước khi nhà nước giao cho các đơn vị này thực hiện các mục tiêu, chương trình kinh tế – xã hội…

Kiểm tra trực tiếp thường gắn với các kết luận làm rõ các vụ việc được kiểm tra, các quyết định điều chỉnh, xử lý gắn với kết luận kiểm tra thì được gọi là thanh tra

o Kiểm tra gián tiếp: Nhà nước sử dụng kết quả kiểm tra của các chuyên gia hoặc các tổ chức kiểm tra độc lập để thực hiện điều tiết vĩ mô nền kinh tế qua các chính sách

Ví dụ: Nhà nước sử dụng kết quả kiểm tra của:

 Cơ quan thuế: Hàng năm, các doanh nghiệp phải nộp Báo cáo tài chính cho

cơ quan Thuế

 Cơ quan chuyên ngành: Cụ thể là đội ngũ thanh tra chuyên ngành (thanh tra tài chính, thanh tra xây dựng, thanh tra khoa học và môi trường,…)

 Kiểm toán độc lập: Các doanh nghiệp thuê cơ quan kiểm toán độc lập thực hiện kiểm toán báo cáo tài chính

Nhà nước có thể sử dụng kết quả kiểm tra của các cơ quan này để có được những quyết định đúng đắn trong việc ban hành các chính sách quản lý vĩ mô của mình

Trang 6

 Cấp quản lý vi mô (cấp đơn vị cơ sở)

Hoạt động kiểm tra, kiểm soát diễn ra tại các đơn vị cơ sở Các đơn vị này vừa chịu sự kiểm tra, kiểm soát của các cơ quan kiểm tra, kiểm soát cấp trên gọi là ngoại kiểm Bên cạnh đó, các đơn vị này cũng phải tiến hành các hoạt động kiểm tra, kiểm soát trong đơn vị để thực hiện quản trị nội bộ của doanh nghiệp

Như vậy chúng ta thấy kiểm tra, kiểm soát trong đơn vị có 2 trường hợp:

o Trường hợp kiểm tra của các tổ chức, chuyên gia bên ngoài được gọi là ngoại kiểm (external audit)

o Trường hợp các đơn vị tự kiểm tra các hoạt động của mình được gọi là nội kiểm (internal audit)

1.1.2.2 Loại hình sở hữu

 Sở hữu nhà nước là các đơn vị, tổ chức, cá nhân

có sử dụng vốn và kinh phí từ ngân sách nhà nước (Chẳng hạn như doanh nghiệp nhà nước, các cơ quan hành chính sự nghiệp, bệnh viện, trường học, quốc phòng – an ninh, các tổ chức kinh tế – chính trị – xã hội,…) Đối tượng này chịu sự kiểm tra, kiểm soát của cơ quan chuyên môn của nhà nước

 Sở hữu tư nhân là sở hữu của các đơn vị, tổ chức, cá nhân tự sử dụng nguồn vốn riêng để hoạt động (như công ty TNHH, công ty Liên doanh, công ty 100% vốn đầu tư nước ngoài, công ty cổ phần, công ty tư nhân, công ty hợp danh,…), những đối tượng này chịu sự kiểm tra, kiểm soát về tài chính theo quy định của pháp luật Đây là các đơn vị có thể được kiểm tra, kiểm soát về mặt tài chính bởi các cơ quan kiểm toán độc lập Chỉ có một số loại hình doanh nghiệp (ví dụ như doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài) bắt buộc phải được kiểm toán bởi một công ty kiểm toán độc lập, còn lại không bắt buộc phải thực hiện kiểm toán mà tùy thuộc vào tính tự nguyện của các đơn vị

1.1.2.3 Loại hình hoạt động

Xét về loại hình hoạt động, có nhiều loại cụ thể khác nhau Theo mục tiêu của các hoạt động có thể quy về hai loại hoạt động cơ bản: hoạt động kinh doanh và hoạt động

sự nghiệp

 Hoạt động kinh doanh: Lợi nhuận được coi là mục tiêu và là thước đo chất lượng hoạt động Do đó, kiểm tra cần hướng tới hiệu quả của vốn, của lao động, của tài nguyên

Mục tiêu của họ là tối đa hóa lợi nhuận, sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực,

vì thế kiểm tra kiểm soát cũng hướng tới việc sử dụng tối đa các nguồn lực này Ngay trong bản thân hoạt động kinh doanh cũng rất đa dạng: sản xuất công nghiệp, sản xuất nông nghiệp, xây lắp, vận tải, du lịch… Những hoạt động này tuy đều hướng tới mục tiêu lợi nhuận song lại khác nhau về lĩnh vực tạo ra lợi nhuận, về cơ cấu các nguồn sử dụng, về qui trình tạo ra sản phẩm, dịch vụ và từ đó khác nhau

Trang 7

về cơ cấu chi phí, thu nhập… Do vậy, nội dung và phương pháp cụ thể của kiểm tra, đặc biệt là kiểm tra nghiệp vụ kinh doanh cũng có sự khác biệt đáng kể

 Hoạt động sự nghiệp có mục tiêu chủ yếu là thực hiện tốt nhiệm vụ cụ thể về xã hội, về quản lý trên cơ sở tiết kiệm kinh phí cho việc thực hiện nhiệm vụ đó Trong trường hợp này, kiểm tra thường xem xét hiệu năng của quản lý thay cho hiệu quả trong kinh doanh

1.1.2.4 Truyền thống văn hóa và điều kiện kinh tế – xã hội

Truyền thống văn hóa và điều kiện kinh tế – xã hội

như: trình độ kinh tế và dân trí, trình độ quản lý,

tính kỷ cương và truyền thống luật pháp khác nhau

sẽ ảnh hưởng đến cách thức và hoạt động kiểm tra

Nếu trình độ kinh tế, dân trí và trình độ quản lý thấp

thì khả năng chứa đựng sai phạm là lớn, vì thế cách

thức kiểm tra cũng phải thích hợp, đi vào chi tiết

nhiều hơn

Tính kỷ cương và truyền thống luật pháp cũng tương tự Ở quốc gia nào có tính kỷ cương cao, luật pháp nghiêm khắc và người dân có ý thức chấp hành pháp luật cao thì khả năng xảy ra sai phạm cũng ít hơn

Từ tất cả những điều trình bày trên, có thể đi đến những kết luận chủ yếu sau:

 Một là, kiểm tra gắn liền với quản lý, đồng thời gắn liền với mọi hoạt động Ở đâu

có quản lý thì ở đó có kiểm tra

 Hai là, hoạt động về kiểm tra, kiểm soát được thực hiện khác nhau đối với các đơn

vị tùy thuộc vào nguồn ngân sách, quan hệ pháp lý và truyền thống văn hóa, điều kiện kinh tế – xã hội của từng nước

 Ba là, kiểm tra, kiểm soát có quá trình phát triển theo nhu cầu quản lý Quy mô của quản lý càng lớn thì tổ chức kiểm tra, kiểm soát phải càng khoa học Tính chất của hoạt động quản lý càng phức tạp thì tổ chức kiểm tra, kiểm soát càng phải chặt chẽ hơn

Trang 8

Thuật ngữ "kiểm toán" thực sự mới xuất hiện và được sử dụng ở nước ta từ hơn một chục năm cuối thế kỷ XX Trong quá trình đó, cách hiểu và cách dùng khái niệm này chưa được thống nhất Có thể khái quát các cách hiểu về kiểm toán theo 3 loại quan niệm chính như sau:

 Quan điểm 1: Quan điểm đồng nhất giữa kiểm toán và kiểm tra kế toán – quan

điểm truyền thống về kiểm toán

Kiểm toán được đồng nghĩa với kiểm tra kế toán, một chức năng của bản thân kế toán, một thuộc tính cố hữu của kế toán Nội dung của hoạt động này là rà soát các thông tin từ chứng từ kế toán đến tổng hợp cân đối kế toán

Đây là quan điểm mang tính truyền thống trong điều kiện kiểm tra chưa phát triển

và trong cơ chế kế hoạch hóa tập trung Trong cơ chế này, Nhà nước vừa là chủ sở hữu, vừa thực hiện lãnh đạo trực tiếp nền kinh tế Do đó, chức năng kiểm tra của Nhà nước được thực hiện trực tiếp với mọi thực thể kinh tế – xã hội thông qua nhiều khâu kể cả kiểm tra kế hoạch, kiểm tra thực hiện kế hoạch, xét duyệt hoàn thành kế hoạch, kể cả kiểm tra tài chính thường xuyên qua "Giám sát viên của Nhà nước đặt tại xí nghiệp" là kế toán trưởng, đến việc xét duyệt quyết toán và kể cả thanh tra các vụ việc cụ thể

Từ khi chuyển đổi cơ chế kinh tế, với chủ trương đa phương hóa đầu tư, đa dạng hóa các thành phần kinh tế, Nhà nước không còn là chủ sở hữu duy nhất Từ đó sự can thiệp trực tiếp của Nhà nước bằng kế hoạch, bằng kiểm tra trực tiếp không thể thực hiện với các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh, kể cả với các nhà đầu

tư nước ngoài, thậm chí với các doanh nghiệp nhà nước Cách thức can thiệp của Nhà nước cũng không thể như cũ được nữa

Mặt khác, các nhà đầu tư, khách hàng, người lao động cũng cần có niềm tin vào tài liệu kế toán trong khi họ không có đủ đội ngũ chuyên gia kế toán đông đảo như Nhà nước Đồng thời những nhà kinh doanh trong cơ chế thị trường cũng cần biết và tránh rủi ro thường có Như vậy, người quan tâm đến thông tin kế toán không chỉ có Nhà nước mà còn có tất cả các nhà đầu tư, những nhà quản lý, những khách hàng và người lao động… Vì vậy, công tác kiểm tra cần được thực hiện rộng rãi, đa dạng song thật khoa học, khách quan, trung thực, đủ sức

thuyết phục và tạo niềm tin cho mọi người quan tâm Trong điều kiện đó, việc tách

kiểm toán khỏi những hoạt động kế toán và hình thành khoa học kiểm toán độc lập

là một xu hướng phát triển tất yếu của lịch sử

 Quan điểm 2: Quan điểm về kiểm toán theo thời điểm phát sinh

Theo quan điểm này, kiểm toán được hiểu theo đúng thời cuộc của nó đó là phát sinh cùng thời với cơ chế thị trường Theo quan điểm này, người ta thường trích dẫn các định nghĩa của Anh, Mỹ, Pháp

o Theo quan điểm của Anh: “Kiểm toán là sự kiểm tra độc lập và là sự bày tỏ ý kiến về những bản khai tài chính của một xí nghiệp do một kiểm toán viên

Trang 9

được bổ nhiệm để thực hiện những công việc đó theo đúng với bất cứ nghĩa vụ pháp định có liên quan”

o Theo quan điểm của các chuyên gia Hoa Kỳ: “Kiểm toán là một quá trình mà qua đó một người độc lập có nghiệp vụ tập hợp và đánh giá rõ ràng về thông tin có thể lượng hóa có liên quan đến một thực thể kinh tế riêng biệt nhằm mục đích xác định và báo cáo mức độ phù hợp giữa thông tin có thể lượng hóa và những tiêu chuẩn đã được thiết lập”

o Tương tự như vậy, theo quan điểm của Pháp: “Kiểm toán là việc nghiên cứu và kiểm tra các tài khoản niên độ của một tổ chức do một người độc lập, đủ danh nghĩa gọi là một kiểm toán viên tiến hành để khẳng định rằng những tài khoản

đó phản ánh đúng đắn tình hình tài chính thực tế, không che dấu sự gian lận và chúng được trình bày theo mẫu chính thức của luật định”

Các định nghĩa nêu trên tuy có khác nhau về từ ngữ với ý nghĩa cụ thể xác định song chung quy đều bao hàm vào khái niệm kiểm toán như sau:

Kiểm toán là hoạt động xác minh và bày tỏ ý kiến về các bảng khai tài chính của các thực thể kinh tế do các kiểm toán viên độc lập tiến hành dựa trên hệ thống pháp lý đang có hiệu lực

Các yếu tố cơ bản:

o Chức năng của kiểm toán là chức năng xác minh và bày tỏ ý kiến

o Đối tượng của kiểm toán: Các bảng khai tài chính

Bảng khai tài chính bao gồm 2 bộ phận:

 Báo cáo tài chính: gồm Bảng cân đối kế toán, Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, Báo cáo lưu chuyển tiền tệ và Thuyết minh Báo cáo tài chính

 Các bảng khai khác theo luật định: như Báo cáo quyết toán công trình xây dựng cơ bản, Bảng kê khai tài sản khi cổ phần hóa, Bảng kê khai tài sản của công ty bị phá sản,…

o Khách thể kiểm toán được xác định là thực thể kinh tế hoặc một tổ chức Như một công ty, một đơn vị, một chủ sở hữu…

o Chủ thể tiến hành kiểm toán là những kiểm toán viên độc lập, có nghiệp vụ Tiêu chuẩn để trở thành kiểm toán viên độc lập:

 Về trình độ chuyên môn nghiệp vụ phải

có chứng chỉ kế toán viên công chứng (CPA – Certificate public accountant)

 Về pháp lý phải đăng ký hành nghề tại

Bộ Tư pháp Riêng ở Việt nam, phải đăng ký hành nghề tại Bộ Tài chính

 Về phẩm chất đạo đức: trung thực, liêm khiết, tuyệt đối giữ bí mật thông tin về khách hàng, đảm bảo tính thận trọng nghề nghiệp thích đáng

 Về tính độc lập:

- Độc lập về quan hệ xã hội: Không có quan hệ vợ – chồng, cha mẹ, anh chị em ruột thịt với những người lãnh đạo của đơn vị được kiểm toán

Trang 10

- Độc lập về quan hệ kinh tế: Không cho vay, không đi vay, mua cổ phiếu, trái phiếu, ký kết hợp đồng gia công, tiêu thụ hàng hóa… với khách thể kiểm toán

- Độc lập trong việc thu thập và đánh giá bằng chứng kiểm toán: Trong quá trình thu thập và đánh giá bằng chứng kiểm toán, kiểm toán viên cần giữ một thái độ độc lập, không bị các thế lực bên ngoài chi phối

o Cơ sở pháp lý tiến hành kiểm toán: Chuẩn mực hay các tiêu chuẩn chung Trên cơ sở phân tích, tìm hiểu về kiểm toán theo quan điểm thứ hai này chúng ta thấy, kiểm toán ở đây nghiêng về kiểm toán tài chính Quan điểm này đồng nhất kiểm toán với kiểm toán tài chính Tuy nhiên, kiểm toán ở đây không phải chỉ có kiểm toán tài chính mà kiểm toán đã thâm nhập và nhiều lĩnh vực khác nhau như hiệu quả của hoạt động kinh tế, hiệu năng của quản lý xã hội, hiệu lực của hệ thống pháp lý trong từng loại hoạt động… Do đó, theo quan điểm hiện đại, kiểm toán sẽ được hiểu với ý nghĩa đầy đủ nhất

 Quan điểm 3: Quan điểm hiện đại về kiểm toán

Kiểm toán bao gồm 4 lĩnh vực chủ yếu:

o Kiểm toán về thông tin (information audit) là hướng vào việc đánh giá tính trung thực và hợp pháp của các tài liệu, thông tin

Ví dụ: Một hóa đơn phản ánh một nghiệp vụ mua hàng với trị giá là 150 triệu thì kiểm toán viên sẽ hướng vào việc xác minh số tiền 150 triệu ở đây là có chính xác hay không Xem xét thông tin về nghiệp vụ kinh tế phát sinh như vậy

đã chính xác hay chưa

o Kiểm toán quy tắc (kiểm toán tuân thủ – Regularity audit) hướng vào việc đánh giá tình hình thực hiện các chế độ, thể lệ, luật pháp của đơn vị kiểm tra trong quá trình hoạt động

Ví dụ: Luật Thuế Thu nhập doanh nghiệp quy định: Chi phí lãi vay doanh nghiệp được tính vào chi phí hợp lý theo lãi suất thực tế khi ký hợp đồng vay nhưng tối đa không được quá 1,3 lần mức lãi suất cho vay của ngân hàng thương mại tại thời điểm vay

Nghĩa là, nếu tại thời điểm vay, mức lãi suất của ngân hàng thương mại là 1%/tháng, nhưng doanh nghiệp lại đi vay tổ chức bên ngoài với mức lãi suất là 1,5%/tháng

 doanh nghiệp chỉ được tính vào chi phí 1,3%/tháng, phần 0,2%/tháng vượt thì phải trừ khỏi lợi nhuận sau thuế khi tính chi phí hợp lệ để nộp thuế TNDN (nếu trong năm, doanh nghiệp lỗ thì phần vượt quá này treo trên TK3388 để trừ vào lợi nhuận sau thuế của năm sau – nếu có lãi) Mặc dù xét về mặt kế toán: 1,5%/tháng mức lãi suất đều được coi là chi phí kế toán Tuy nhiên, xét trên góc độ thuế thì chỉ có 1,3%/tháng là hợp lệ  khi xem xét tính tuân thủ đối với việc hạch toán chi phí lãi vay này tức là kiểm toán viên xem xét xem đơn vị đã hạch toán đúng như Luật thuế TNDN quy định hay chưa

Ngày đăng: 25/04/2017, 23:03

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng khai tài chính bao gồm 2 bộ phận: - BẢN CHẤT, CHỨC NĂNG VÀ Ý NGHĨA CỦA KIỂM TOÁN
Bảng khai tài chính bao gồm 2 bộ phận: (Trang 9)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w