Để làm được điều này cần có sự quản lí chặt chẽ trong công tác đào tạo và trong việc quản lí HS, SV của nhà trường Quản lí tốt sẽ giúp cho HS, SV của nhà trường thực hiện tốt nhiệm vụ họ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
NGUYỄN VĂN AN
QUẢN LÍ HỌC SINH SINH VIÊN
Ở TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ CƠ ĐIỆN
VÀ XÂY DỰNG BẮC NINH TRONG BỐI CẢNH
HỘI NHẬP ASEAN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
HÀ NỘI, 2016
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
NGUYỄN VĂN AN
QUẢN LÍ HỌC SINH SINH VIÊN
Ở TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ CƠ ĐIỆN
VÀ XÂY DỰNG BẮC NINH TRONG BỐI CẢNH
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thiện luận văn, tác giả đã nhận được sự động viên, khuyến khích và sự giúp đỡ nhiệt tình của các cấp lãnh đạo, của các cô giáo, thầy giáo, bạn bè đồng nghiệp và gia đình
Với tình cảm chân thành, tác giả gửi lời cảm ơn sâu sắc đến:
- Tiến sĩ Trịnh Thị Hồng Hà, người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi
trong quá trình thực hiện luận văn
- Lãnh đạo Phòng sau đại học, các cô giáo, thầy giáo đã giảng dạy lớp Cao học Quản lí giáo dục K18-ĐHSP Hà Nội 2, các phòng chuyên môn của Trường ĐHSP Hà Nội 2 đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu
- Lãnh đạo, cán bộ quản lí, giáo viên quản lí lớp, giáo viên bộ môn và các em học sinh sinh viên Trường cao đẳng nghề Cơ điện và Xây dựng Bắc Ninh đã tạo điều kiện thuận lợi, nhiệt tình cộng tác, cung cấp thông tin, số liệu, góp ý cho tôi trong quá trình nghiên cứu thực tế để làm luận văn
Dù đã có nhiều cố gắng nhưng chắc chắn luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót Tác giả rất mong nhận được sự chỉ dẫn và những ý kiến đóng góp quý báu của các cô giáo, thầy giáo và các bạn đồng nghiệp
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 11 năm 2016
Tác giả
Nguyễn Văn An
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kì công trình nào khác
Hà Nội, tháng 11 năm 2016
Tác giả
Nguyễn Văn An
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 3
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 4
4 Giả thuyết khoa học 4
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 4
6 Giới hạn phạm vi nghiên cứu 4
7 Phương pháp nghiên cứu 5
Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÍ HỌC SINH, SINH VIÊN Ở TRƯỜNG ĐÀO TẠO NGHỀ 7
1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề 7
1.1.1 Các công trình nghiên cứu về công tác học sinh, sinh viên ở các trường cao đẳng, đại học, trường đào tạo nghề 7
1.1.2 Các công trình nghiên cứu về quản lí HS, SV ở các trường cao đẳng, đại học, trường đào tạo nghề 9
1.2 Một số khái niệm cơ bản 12
1.2.1 Quản lí và Quản lí giáo dục 12
1.2.2 Quản lí trường học 15
1.2.3 Quản lý học sinh, sinh viên 16
1.2.4 Trường đào tạo nghề 18
1.3 Bối cảnh hội nhập ASEAN và yêu cầu về nguồn nhân lực 20
1.4 Một số lí luận về quản lí HS, SV ở các trường đào tạo nghề 25
1.4.1 Đặc điểm của HS, SV ở các trường đào tạo nghề 25
1.4.2 Vị trí, vai trò của Quản lí HS, SV trong các trường đào tạo nghề 27 1.4.3 Nội dung quản lí HS, SV trong các trường đào tạo nghề 30
1.4.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lí HS, SV ở trường đào tạo nghề 35 Kết luận chương 1 39
Trang 6Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÍ HỌC SINH, SINH VIÊN Ở
TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ CƠ ĐIỆN VÀ XÂY DỰNG BẮC NINH 40
2.1 Khái quát về Trường Cao đẳng nghề cơ điện và xây dựng Bắc Ninh 40
2.1.1 Sơ lược quá trình hình thành và phát triển trường Cao đẳng nghề cơ điện và xây dựng Bắc Ninh 40
2.1.2 Sứ mệnh và cơ cấu tổ chức của trường Cao đẳng nghề cơ điện và xây dựng Bắc Ninh 42
2.1.3 Kết quả đào tạo tại trường Cao đẳng nghề cơ điện và xây dựng Bắc Ninh 45
2.2 Thực trạng quản lí HS, SV ở trường Cao đẳng nghề cơ điện và xây dựng Bắc Ninh 47
2.2.1 Thực trạng HS, SV ở trường Cao đẳng nghề cơ điện và xây dựng Bắc Ninh 47
2.2.2 Thực trạng quản lý HS, SV ở Trường Cao đẳng nghề cơ điện và xây dựng Bắc Ninh 50
2.2.3 Đánh giá chung về thực trạng quản lí HS, SV ở Trường Cao đẳng nghề cơ điện và xây dựng Bắc Ninh 67
Kết luận chương 2 70
Chương 3 BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HỌC SINH , SINH VIÊN Ở TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ CƠ ĐIỆN VÀ XÂY DỰNG BẮC NINH 71
TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP ASEAN 71
3.1 Các nguyên tắc xác định biện pháp 71
3.1.1 Nguyên tắc đảm bảo tính hệ thống 71
3.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính khoa học 71
3.1.3 Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn 72
3.1.4 Nguyên tắc đảm bảo tính kế thừa và phát triển 73
3.1.5 Nguyên tắc đảm bảo tính phù hợp 73
Trang 73.2 Một số biện pháp quản lí HS, SV ở trường Cao đẳng nghề cơ điện và
xây dựng Bắc Ninh 73
3.2.1 Hoàn thiện công tác tổ chức nhân sự và các văn bản trong quản lí HS, SV 73
3.2.2 Tăng cường tổ chức các hoạt động giáo dục kĩ năng sống cho HS, SV 76
3.2.3 Phối hợp chặt chẽ giữa Phòng công tác HS, SV với giáo viên trong quản lí HS, SV 80
3.2.4 Tăng cường phối hợp giữa các Khoa, Phòng, Đoàn thanh niên, Hội sinh viên nhà trường với các cơ quan, tổ chức XH khác trong quản lí HS, SV 82
3.2.5 Tổ chức tốt công tác thi đua khen thưởng, kỷ luật, đảm bảo quyền lợi, chính sách cho HS, SV 84
3.2.6 Xây dựng văn hóa nhà trường 87
3.3 Mối quan hệ giữa các biện pháp 90
3.4 Khảo nghiệm tính cần thiết và khả thi của các biện pháp 90
3.4.1 Mục đích, phạm vi, đối tượng khảo nghiệm 90
3.4.2 Kết quả khảo nghiệm 90
Kết luận chương 3 94
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 95
TÀI LIỆU THAM KHẢO 98 PHỤ LỤC
Trang 8NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
Trang 9DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Nhận thức về tầm quan trọng của hoạt động quản lí HS, SV 50 Bảng 2.2: Đánh giá của CBQL, GV về thực hiện công tác tổ chức hành chính
(đơn vị %) 53 Bảng 2.3: Đánh giá của HS, SV về thực hiện công tác tổ chức hành chính
(đơn vị %) 55
Bảng 2.4: Đánh giá của CBQL, Giáo viên về quản lí hoạt động học tập và rèn
luyện của HS, SV (đơn vị %) 57
Bảng 2.5: Đánh giá của HS - SV về quản lí hoạt động học tập và rèn luyện
của HS, SV (đơn vị %) 61
Bảng 2.6: Chất lượng cơ sở vật chất phục vụ thể dục - thể thao tại Trường
Cao đẳng nghề cơ điện và xây dựng Bắc Ninh (đơn vị %) 68
Bảng 3.1: Đánh giá của chuyên gia về tính cần thiết của các biện pháp 91 Bảng 3.2: Đánh giá của chuyên gia về tính khả thi của các biện pháp 92
Trang 10DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1: Thực trạng công tác Y tế tại Trường Trường Cao đẳng nghề cơ
điện và xây dựng Bắc Ninh 64 Biểu đồ 2.2: Đánh giá công tác đảm bảo an ninh chính trị tại Trường Cao
đẳng nghề cơ điện và xây dựng Bắc Ninh 66 Biểu đồ 3.1: So sánh các biện pháp theo tiêu chí rất cần thiết và rất khả thi 93 Biểu đồ 3.2: So sánh các biện pháp theo tiêu chí cần thiết và khả thi 94
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, quá trình phát triển kinh tế xã hội Việt Nam đang tạo ra những cơ hội phát triển, đồng thời cũng đặt ra những yêu cầu mới đối với đất nước ta, trong đó giáo dục là một trong những vấn đề cần được quan tâm để tạo ra nguồn nhân lực góp phần vào sự nghiệp phát triển đất nước Nguồn nhân lực đó phải là những con người có tri thức, có phẩm chất đạo đức, năng động, sáng tạo, tự lực, có năng lực hợp tác, năng lực hành động cũng như năng lực làm việc, năng lực giải quyết các vấn đề phức tạp nảy sinh trong công việc và trong cuộc sống Bởi vậy, trong nền giáo dục nước ta hiện nay yêu cầu khách quan đặt ra là phải đổi mới một cách thường xuyên về nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức dạy học, từ giáo dục bậc phổ thông cho tới các trường cao đẳng, đại học
Từ những năm đầu của thế kỷ XXI, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã liên tục có
những tư tưởng chỉ đạo: “Tích cực hoá hoạt động của người học", "dạy học
hướng vào hoạt động của người học", “dạy học lấy học sinh làm trung tâm”…
đều nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả của giáo dục, đào tạo ra những con người đáp ứng nhu cầu của đất nước trong xu thế hội nhập hiện nay
Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) đang trên đà hội nhập mạnh mẽ, hướng tới thành lập Cộng đồng chung, trong đó việc thành lập cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) là nội dung hội nhập quan trọng nhất AEC ra đời sẽ là một bước ngoặt đánh dấu sự hội nhập khu vực một cách toàn diện của các nền kinh tế Đông Nam Á và sẽ đặt ra nhiều cơ hội và thách thức đối với kinh tế Việt Nam
Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) là một trong ba trụ cột quan trọng của Cộng đồng ASEAN với mục tiêu tạo dựng một khu vực kinh tế ASEAN ổn
Trang 12định, thịnh vượng và cạnh tranh cao Việc lao động qua đào tạo được di chuyển tự do thông qua các thỏa thuận công nhận lẫn nhau (Mutual Recognition Arrangements - MRAs), gồm 8 nhóm ngành nghề sau: Dịch vụ
kỹ thuật, điều dưỡng, kiến trúc, khảo sát, y khoa, nha khoa, kế toán và du lịch Với việc hình thành cộng đồng ASEAN sẽ có nhiều cơ hội để giáo dục nghề nghiệp của Việt Nam phát triển trong việc hợp tác giữa các cơ sở giáo dục nghề nghiệp Tuy nhiên, Việt Nam cũng phải đương đầu với nhiều khó khăn, thách thức một trong những thách thức quan trọng đó là chất lượng nguồn nhân lực
Với mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn
minh”, Đảng ta luôn xác định: Nguồn lao động dồi dào, con người Việt Nam
có truyền thống yêu nước, cần cù, sáng tạo, có nền tảng văn hoá, giáo dục, có khả năng nắm bắt nhanh khoa học và công nghệ là nguồn lực quan trọng nhất
- nguồn năng lực nội sinh, là nhân tố quan trọng trong quá trình hội nhập ASEAN hiện nay
Theo quan niệm của Liên hợp quốc, phát triển nguồn nhân lực bao gồm giáo dục, đào tạo và sử dụng tiềm năng con người nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội và nâng cao chất lượng cuộc sống Yếu tố con người, vốn con người đã trở thành một yếu tố quan trọng trong tăng trưởng kinh tế Nhờ có nền tảng giáo dục và đào tạo, trong đó có đào tạo nghề, người lao động có thể nâng cao được kiến thức và kĩ năng nghề của mình, qua đó nâng cao năng suất lao động, góp phần phát triển kinh tế
Như vậy có thể thấy, giáo dục đào tạo nghề là một thành tố và là thành tố quan trọng nhất, có ý nghĩa quyết định phát triển nguồn nhân lực Muốn có nguồn nhân lực chất lượng cao, có khả năng cạnh tranh cao trên thị trường lao động, song song với các cơ chế chính sách sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực, cần phải tăng cường đầu tư nâng cao chất lượng giáo dục - đào tạo nói chung và đào tạo nghề nói riêng
Trang 13Trường Cao đẳng nghề cơ điện và xây dựng Bắc Ninh là một trường đào tạo nghề trực thuộc sự quản lí của Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn Chức năng chủ đạo là đào tạo nhân lực kỹ thuật trực tiếp trong sản xuất, dịch
vụ theo 3 cấp trình độ: Cao đẳng nghề, trung cấp nghề, sơ cấp nghề nhằm trang bị cho người học năng lực thực hành nghề tương xứng với trình độ đào tạo, có sức khoẻ, đạo đức, lương tâm nghề nghiệp, ý thức kỷ luật, tác phong công nghiệp, tạo điều kiện cho họ có khả năng tìm việc làm, tự tạo việc làm hoặc tiếp tục học lên trình độ cao hơn, đáp ứng yêu cầu thị trường lao động
Để đào tạo nhân lực có chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu của kinh tế thị trường và xu thế hội nhập, Trường Cao đẳng nghề cơ điện và xây dựng Bắc Ninh luôn chú trọng việc phát triển toàn diện cho đội ngũ HS, SV cả về chuyên môn và đạo đức Để làm được điều này cần có sự quản lí chặt chẽ trong công tác đào tạo và trong việc quản lí HS, SV của nhà trường
Quản lí tốt sẽ giúp cho HS, SV của nhà trường thực hiện tốt nhiệm vụ học tập, rèn luyện để sau khi ra trường là những người lao động có tay nghề chuyên môn cao, có trách nhiệm với sự phát triển của đất nước và có phẩm chất đạo đức tốt, , góp phần cho sự phát triển của đất nước đáp ứng yêu cầu hội nhập ASEAN
Với mong muốn ứng dụng những kiến thức quản lí đã học cũng như kinh nghiệm của bản thân, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo và hiệu quả quản
lí của nhà trường, tôi chọn đề tài: "Quản lí học sinh, sinh viên ở trường Cao
đẳng nghề Cơ điện và Xây dựng Bắc Ninh trong bối cảnh hội nhập ASEAN” làm đề tài luận văn chuyên ngành Quản lí giáo dục
2 Mục đích nghiên cứu
Đề xuất các biện pháp Quản lí HS, SV ở trường Cao đẳng nghề Cơ điện
và Xây dựng Bắc Ninh trong bối cảnh hội nhập ASEAN góp phần nâng cao chất lượng đào tạo của nhà trường trong giai đoạn hiện nay
Trang 143 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Hoạt động quản lí học sinh, sinh viên ở trường Cao đẳng nghề Cơ điện
và Xây dựng Bắc Ninh
Khách thể nghiên cứu
Công tác quản li học sinh, sinh viên ở trường Cao đẳng nghề Cơ điện
và Xây dựng Bắc Ninh
4 Giả thuyết khoa học
Nếu các biện pháp quản lí HS, SV ở Trường Cao đẳng nghề cơ điện và xây dựng Bắc Ninh phát huy được sự phối hợp giữa các phòng, khoa chức năng trong nhà trường cũng như phát huy được sự đóng góp của Đoàn thanh niên, Hội sinh viên và các tổ chức khác trong nhà trường thì các biện pháp này sẽ có tác động tích cực đến việc nâng cao hiệu quả quản lí HS, SV và góp phần vào nâng cao chất lượng đào tạo của nhà trường trong bối cảnh hội nhập ASEAN
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
Luận văn tập trung giải quyết một số nhiệm vụ sau:
- Xác định cơ sở lí luận về quản lí HS, SV ở trường Cao đẳng nghề trong bối cảnh hội nhập ASEAN
- Khảo sát, đánh giá thực trạng quản lí HS, SV ở trường Cao đẳng nghề
Cơ điện và Xây dựng Bắc Ninh
- Đề xuất các biện pháp Quản lí HS, SV ở trường Cao đẳng nghề cơ điện và xây dựng Bắc Ninh trong bối cảnh hội nhập ASEAN
- Đánh giá các biện pháp qua ý kiến chuyên gia
6 Giới hạn phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu
- Các biện pháp quản lí HS, SV trong luận văn là các biện pháp quản lí
ở cấp trường
Trang 15- Đề tài giới hạn đối tượng khảo sát: 100 CBQL và GV; 200 HS, SV
- Đề tài được thực hiện tại trường Cao đẳng nghề Cơ điện và Xây dựng Bắc Ninh
- Số liệu khảo sát thu thập từ năm học 2012-2013 đến 2014-2015
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lí luận
- Phương pháp phân tích, tổng hợp để khái quát các kết quả nghiên cứu liên quan đến đề tài về quản lí HS, SV trong các trường đại học, cao đẳng và trường nghề
- Phương pháp so sánh, hệ thống hoá để rút ra những lí luận cơ bản làm
cơ sở nghiên cứu đề tài
7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp khảo sát qua bảng hỏi để đánh giá thực trạng quản lí HS-SV của nhà trường
- Phương pháp chuyên gia để đánh giá kết quả nghiên cứu
- Phương pháp thống kê toán học để xử lí số liệu khảo sát
8 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục nội dung chính của đề tài gồm có 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận về quản lí học sinh, sinh viên ở các trường đào
tạo nghề
Trang 16Chương 2: Thưc trạng quản lí học sinh, sinh viên ở trường Cao đẳng
nghề Cơ điện và Xây dựng Bắc Ninh
Chương 3: Biện pháp quản lí học sinh, sinh viên ở trường Cao đẳng
nghề Cơ điện và Xây dựng Bắc Ninh trong bối cảnh hội nhập ASEAN
Trang 17Chương 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÍ HỌC SINH, SINH VIÊN
Ở TRƯỜNG ĐÀO TẠO NGHỀ
1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Các công trình nghiên cứu về công tác học sinh, sinh viên ở các trường cao đẳng, đại học, trường đào tạo nghề
Giáo dục & đào tạo là Quốc sách hàng đầu của Đảng và Nhà nước ta trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa Mục tiêu của đổi mới cơ bản và toàn diện Giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa - hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế là: Tạo chuyển biến căn bản, mạnh mẽ
về chất lượng hiệu quả giáo dục và đào tạo; đáp ứng ngày càng tốt hơn công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và nhu cầu học tập của nhân dân Giáo dục con người Việt Nam phát triển toàn diện và phát huy tốt nhất tiềm năng, khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân; yêu Tổ quốc, yêu đồng bào; sống tốt và làm việc hiệu quả Xây dựng nền giáo dục mở, thực học, thực nghiệp, dạy tốt, học tốt, quản lý tốt; có cơ cấu và phương thức giáo dục hợp lý, gắn với xây dựng
xã hội học tập;bảo đảm các điều kiện nâng cao chất lượng; chuẩn hóa, hiện đại hóa, dân chủ hóa; xã hội hóa và hội nhập quốc tế hệ thống giáo dục và đào tạo; giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa và bản sắc dân tộc Bậc giáo dục đại học có mục tiêu: tập trung đào tạo nhân lực trình độ cao, bồi dưỡng nhân tài, phát triển phẩm chất và năng lực tự học; tự làm giàu tri thức, sáng tạo của người học
Công tác học sinh sinh viên là công tác trọng tâm của các cơ sở giáo dục đào tạo Nội dung cơ bản của công tác HS, SV là giáo dục chính trị tư tưởng cho HS, SV, quản lí, trợ giúp sinh viên trong học tập và rèn luyện, cũng
Trang 18như tổ chức cho sinh viên tham gia các phong trào, các hoạt động xã hội, nhằm giúp cho HS, SV hoàn thành tốt các nhiệm vụ học tập và rèn luyện, góp phần đào tạo ra những cán bộ khoa học kỹ thuật, lao động kĩ thuật lành nghề đức đủ tài để tham gia vào công cuộc xây dựng đất nước
Thế hệ HS, SV là tương lai của đất nước, là nhân tố quan trọng đối với
sự phát triển và hội nhập kinh tế Chính vì vậy chủ để nghiên cứu về HS, SV luôn là những chủ đề mọi người chú ý và quan tâm
Hiện nay cũng đã có nhiều sách, bài viết với chủ đề liên quan tới HS,
SV như:
Đặng Vũ Hoạt - Hà Thị Đức Lý luận dạy học đại học, ĐHSP Hà Nội I,
1994
Lê Đức Ngọc Giáo dục đại học phương pháp dạy và học, Nxb Đại học
Quốc gia Hà Nội, 2005
Nguyễn Cảnh Toàn (2002), Bàn về giáo dục Việt Nam, NXB Lao Động
Hà Nội
Nguyễn Viết Sự (2005), Giáo dục nghề nghiệp những vấn đề và giải
pháp, NXB Giáo dục Hà Nội
Tổng cục dạy nghề (1985), Một số vấn đề về tổ chức và lãnh đạo quá
trình dạy học trong trường dạy nghề, NXB Công nhân kỹ thuật
Nguyễn Viết Sự (2005), Giáo dục nghề nghiệp những vấn đề và giải
pháp, NXB Giáo dục Hà Nội
Nguyễn Đức Trí (2007), “Quan niệm, đặc điểm của giáo dục nghề
nghiệp và vấn đề cơ cấu lao động trong mối quan hệ với cơ cấu giáo dục nghề nghiệp”, Tạp chí giáo dục
Nguyễn Minh Đường (2007), “Giáo dục nghề nghiệp trong bối cảnh Việt Nam là thành viên WTO - Cơ hội và thách thức” , Tạp chí khoa học giáo dục, Viện chiến lược và chương trình giáo dục - Bộ gíáo dục và đào tạo [11]
Trang 19Nguyễn Minh Đường, Phan Văn Kha (2006), Đào tạo nhân lực đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH trong điều kiện kinh tế thị trường, toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, NXB Đại Học Quốc Gia [12]
Các công trình nghiên cứu trên chủ yếu đi sâu vào các vấn đề lý luận chung về việc dạy học và quản lí HS, SV ở bậc Đại học, Cao đẳng, hoặc lĩnh vực dạy nghề
Ngoài ra, trong các tạp chí hoặc các nghiên cứu luận văn, luận án chủ
đề về HS, SV được nghiên cứu dưới nhiều khía cạnh khác nhau liên quan đến việc học tập, rèn luyện của HS, SV trong các nhà trường đại học, cao đẳng và dạy nghề; Ví dụ các công trình:
- Nguyễn Thanh Nga (2012), Ảnh hưởng tiêu cực của kinh tế thị trường
và việc giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên báo chí, Tạp chí Giáo dục, số 298, Tr.26-27;
- Dương Thị Kim Oanh (2013), Biểu hiện khó khăn trong hoạt động học tập của sinh viên, Tạp chí Giáo dục, số 306, Tr.19-21;
- Nguyễn Dục Quang (2012), Giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống cho HS_SV trong giai đoạn hiện nay, Tạp chí Giáo dục và Xã hội, số 18 (78), tháng 8
- Nguyễn Văn Hùng (1993), Những biện pháp nâng cao hiệu quả hoạt động tự học của học sinh trong dạy nghề, Luận văn thạc sĩ QLGD, Viện Phát triển giáo dục
1.1.2 Các công trình nghiên cứu về quản lí HS, SV ở các trường cao đẳng, đại học, trường đào tạo nghề
Công tác quản lí học sinh, sinh viên (HS, SV) là một mặt quan trọng trong quá trình thực hiện nhiệm vụ giáo dục, đào tạo của các nhà trường Quản lí tốt HS, SV sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình trang bị kiến thức,
kỹ năng chuyên môn, đồng thời còn tạo ra môi trường tốt cho việc rèn luyện
Trang 20phẩm chất đạo đức, nhân cách và tác phong, lối sống cho HS, SV Những năm qua, công tác này luôn được các Trường Đại học, Cao Đẳng, các trường dạy nghề đặc biệt quan tâm và đổi mới Do vậy đã có những đóng góp nhất định trong quá trình nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện của Nhà trường
Bên cạnh việc giáo dục chính trị tư tưởng, nâng cao ý thức trách nhiệm
và tính tự giác của sinh viên, thì công tác không thể thiếu là quản lí HS, SV Phần lớn HS, SV là những thanh niên vừa rời ghế trường phổ thông, trong độ tuổi có rất nhiều mong muốn khám phá, nhưng lại thiếu kinh nghiêm, dễ bị lôi kéo Để đảm bảo cho các em có môi trường học tập và rèn luyện an toàn, tránh được những tác động xấu của môi trường xung quanh trong điều kiện nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Việc quản lí HS, SV phải đảm bảo việc nắm bắt được một cách thường xuyên các hoạt động của HS,
SV trong thời gian HS, SV theo học tại trường để trợ giúp cho HS, SV trong học tập và rèn luyện cũng như kịp thời xử lý các vi phạm, giảm thiểu ảnh hưởng xấu đến cũng như nhà trường và xã hội
Các công trình nghiên cứu trên các tạp chí khoa học về quản lí HS, SV
ở trường cao đẳng, đại học và dạy nghề đề cập đến quản lí nhiều khía cạnh khác nhau của HS, SV Chẳng hạn các công trình nghiên cứu:
- Nguyễn Nho Huy (2016), Một số vấn đề về sử dụng mạng xã hội facebook trong công tác quản lí sinh viên, Tạp chí Khoa học Giáo dục Số 128, tr.57-59
- Bùi Thị Thúy Hằng và Dương Thị Thanh Hoa (2015), Ảnh hưởng từ cách thức quản lí của nhà trường tới động cơ học tập và ý đinh bỏ học trong sinh viên trường Nghề TC Khoa học giáo dục số 113, tr 18-21
- Nguyễn Thị Thu Hà (2014), Một số giải pháp quản lí giáo dục kĩ năng sống cho sinh viên các trường đại học, Tạp chí Giáo dục Số 334 tr 13-15, 21
Trang 21- Nguyễn Thị Hương Giang (2013), Một số biện pháp quản lí sinh viên ngoại trú ở Học viện Y-Dược học cổ truyền Việt Nam, Tạp chí Giáo dục số
308, tr.15-16, 19
- Đỗ Hữu Tuyết (2013), Nâng cao chất lượng công tác quản lí học sinh viên, đảm bảo an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trong các trường đại học, cao đẳng và trung cấp chuyên nghiệp, TC Giáo chức Việt Nam, số 69
- Phạm Huyền Trang (2012), Biện pháp quản lý sinh viên của phòng Công tác học sinh sinh viên tại Trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội, Luận văn thạc sĩ QLGD, Trường Đại học Giáo dục, H
- Nguyễn Thanh Bình (2012), Biện pháp quản lí sinh viên nội trú ở Trường Cao đẳng sư phạm Hòa Bình, Luận văn thạc sĩ quản lí giáo dục, Trường Đại học Giáo dục, H
- Khúc Văn Úy (2008), Quản lý công tác học sinh, sinh viên tại trường Đại học Lao động Xã hội (Cơ sở II - TP Hồ Chí Minh, Luận văn thạc sĩ QLGD, Viện KHGDVN, H
- Nguyễn Văn Lâm (2007), Quản lý hoạt động ngoài giờ lên lớp của học sinh, sinh viên ngoại trú Trường Cao đẳng Giao thông Vận tại Luận văn Thạc sỹ Quản lý Giáo dục, H
- Giang Thị Quỳnh Châu (2006), Biện pháp quản lý tăng cường hoạt
động tự học của sinh viên trường Cao đẳng Sư phạm Sơn La, Luận văn thạc sĩ QLGD, Viện CL&CTGD, H
Trang 22- Bạch Thanh Sơn (2006), Các biện pháp tăng cường quản lý công tác sinh viên, học sinh tại trường Đại học Dân lập Văn Lang, Luận văn thạc sĩ QLGD, Viện CL&CTGD, H
Các luận văn trên đã nghiên cứu một số cơ sở lí luận về quản lí công tác sinh viên ở trường đại học, cao đẳng và đề xuất một số giải pháp quản lí sinh viên trong từng trường cụ thể Những nghiên cứu về quản lí học sinh-sinh viên ở trường cao đẳng nghề còn rất ít Đặc biệt cho đến nay chưa thấy có luận văn nào nghiên cứu về quản lí HS, SV ở Trường Cao đẳng nghề Xây dựng và Cơ điện Bắc Ninh
1.2 Một số khái niệm cơ bản
1.2.1 Quản lí và Quản lí giáo dục
Khái niệm quản lí
C.Mác đã chỉ rõ: Bất cứ một lao động xã hội hay lao động chung nào
mà tiến hành trên một qui mô khá lớn đều yêu cầu phải có một sự chỉ đạo để điều hoà các hoạt động cá nhân Một nghệ sĩ độc tấu tự điều khiển lấy mình, nhưng một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng (C.Mác, Tư bản, quyển 1 tập
2 trang 28 -30 NXB Sự thật Hà nội 1993) Như vậy có thể nói rằng: Quản lí là
một hiện tượng xã hội, là yếu tố cấu thành của sự ttồn tại và phát triển của loài
người Quản lí là thuộc tính bất biến nội tại của mọi quá trình lao động xã hội
Khái niệm quản lí phản ánh một dạng lao động trí tuệ của con người có chức năng bảo đảm và khuyến khích những nỗ lực của những người khác để thực hiện thành công công việc nhất định Quản lí là công tác phối hợp có hiệu quả hoạt động của những người cộng sự khác cùng chung một tổ chức Hiện nay trên thế giới cũng như ở nước ta co rất nhiều khái niệm về quản lí khác nhau
Theo H.Koortz (người Mỹ): “Quản lí là một hoạt động thiết yếu nhằm đảm bảo sự phối hợp những lỗ lực cá nhân để đạt được mục đích của tổ chức,
Trang 23mục tiêu quản lí hình thành một môi trường trong đó con người có thể đạt được trong đó con người có thể đạt được mục đích của tổ chức với thời gian, tiền bạc và sự bất mãn của cá nhân”.[35]
Theo Thái Văn Thành: Quản lí là những tác động có định hướng, có kế hoạch của chủ thể quản lí đến đối tượng bị quản lí trong tổ chức để vận hành
tổ chức, nhằm đạt được mục đích nhất định[45]
Ngoài ra còn có nhiều quan niệm khác nhau về quản lý tuy nhiên nghĩa cũng tương tự như vậy Qua các quan niệm trên thì thấy khái niệm “quản lí” tuy có được diễn giải bằng các cách khác nhau nhưng đều có chung điểm chủ
yếu đó là quản lí là một quá trình tác động có mục đích hoặc một hoạt động
có tổ chức, có định hướng, có chủ thể và đối tượng v.v Tuy nhiên nói như
trên vẫn chưa rõ nội hàm của khái niệm bởi vì nhìn chung mọi hoạt động của con người đều có đặc điểm như vậy chứ không riêng “quản lí”
Khái niệm quản lí theo quan niệm của Đặng Thành Hưng: “Quản lí là
một dạng lao động đặc biệt nhằm gây ảnh hưởng, điều khiển, phối hợp lao động của người khác hoặc của nhiều người khác trong cùng tổ chức hoặc cùng công việc nhằm thay đổi hành vi và ý thức của họ, định hướng và tăng hiệu quả lao động của họ, để đạt mục tiêu của tổ chức hoặc lợi ích của công việc cùng sự thỏa mãn của những người tham gia” [28] phân biệt quản lí với
các dạng hoạt động khác
Theo cách hiểu này, bản chất của quản lí là gây ảnh hưởng chứ không trực tiếp sản xuất hay tạo ra sản phẩm, có mục tiêu và lợi ích là cái chung chứ không nhằm mục tiêu và lợi ích của riêng cá nhân nào, có tính hệ thống chứ
không phải quá trình hay hành động đơn lẻ Đó là sự vật có thực thể, cấu trúc
và chức năng phức tạp, năng động, vận hành dựa trên những nguồn lực tinh thần (lí luận, tư tưởng khoa học-công nghệ, chính trị, văn hóa, qui tắc đạo đức, v.v…) và vật chất rõ ràng (tiền vốn, hạ tầng kĩ thuật và thông tin, sức người, công cụ chính sách, bộ máy, cơ chế, thủ tục…)
Trang 24Khái niệm quản lí giáo dục
Trong nhiều tài liệu khái niệm quản lí giáo dục có nhiều cách hiểu khác nhau:
Phạm Minh Hạc quan niệm rằng: “Quản lí giáo dục là hệ thống tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lí nhằm làm cho hệ giáo dục vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học - giáo dục thế hệ trẻ, đưa giáo dục tới mục tiêu dự kiến tiến lên trạng thái mới về chất”[19]
Nguyễn Ngọc Quang cho rằng: QLGD là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch hợp qui luật của chủ thể quản lí nhằm làm cho hệ vận hành đường lối, nguyên lí giáo dục của Đảng, thực hiện các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam mà mục tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học - giáo dục thể hệ trẻ đưa giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trang thái mới về chất [41]
Các quan niệm trên chủ yếu là những quan điểm chính trị về QLGD và cũng chưa chỉ rõ bản chất của QLGD
Ngoài ra còn có một số quan điểm khác nữa tuy không hẳn là quan điểm chính trị những cũng chưa hản đã chỉ rõ bản chất của QLGD Chẳng hạn, Thái Văn Thành quan niệm: “QLGD có thể xác định là tác động của hệ thống có kế hoạch, có ý thức và hướng đích của chủ thể quản lí ở các cấp khác nhau đến các mắt xích hệ thống (từ Bộ đến trường) nhằm mục đích đảm bảo việc hình thành nhân cách cho thế hệ trẻ trên cơ sở nhận thức và vận dụng những qui luật chung của xã hội cũng như các qui luật của quá trình giáo dục,
sự phát triển thể lực và tâm lí trẻ em” [45] Nhưng chúng tôi hiểu QLGD thực chất là quản lí nhưng là quản lí trong lĩnh vực giáo dục, phân biệt với quản lí các lĩnh vực khác như quản lí kinh tế, quản lí văn hóa-xã hội, quản lí kinh doanh v.v
Trang 25Chúng tôi sử dụng định nghĩa khái niệm: “Quản lí giáo dục là dạng lao
động xã hội đặc biệt trong lĩnh vực giáo dục nhằm gây ảnh hưởng, điều khiển
hệ thống giáo dục và các thành tố của nó, định hướng và phối hợp lao động của những người tham gia công tác giáo dục để đạt được mục tiêu giáo dục
và mục tiêu phát triển giáo dục, dựa trên thể chế giáo dục và các nguồn lực giáo dục [30] Khái niệm này chỉ rõ bản chất QLGD chính là quản lí nhưng là
quản lí trong lĩnh vực giáo dục Có thể hiểu QLGD là dạng quản lí dành cho một lĩnh vực xã hội cụ thể là giáo dục Bản chất của QLGD cũng là quản lí chứ không có gì khác Những cái khác ở đây là mục tiêu, chủ thể, đối tượng, nguồn lực, công cụ và môi trường… và chỉ khác khi so sánh với quản lí lĩnh vực khác Các hoạt động QLGD là nhằm phối hợp, gây ảnh hưởng điều khiển các đối tượng trong giáo dục để đạt được các mục tiêu chung
Chúng tôi sử dụng định nghĩa khái niệm quản lí trường học như sau: đó
là quản lí giáo dục tại cấp cơ sở trong đó chủ thể quản lí là các cấp chinh quyền và chuyên môn trên trường, các nhà quản lí trong trường do hiệu trưởng đứng đầu, đối tượng quản lí chính là nhà trường như một tổ chức chuyên môn-nghiệp vụ, nguồn lực quản lí là con người, cơ sở vật chất-kĩ thuật, tài chính, đầu tư khoa học-công nghệ và thông tin bên trong trường và được huy động từ bên ngoài trường dựa vào luật, chính sách, cơ chế và chuẩn hiện có [30]
Trang 26Khái niệm này khẳng định không chỉ hiệu trưởng và bộ máy ở trường chịu trách nhiệm quản lí trường học, mà trên trường còn có những cấp quản lí khác, bất kể đó là trường học ở cấp học nào, ngành học nào
QLGD là QL hệ thống các trường học nằm trong phạm vi quyền hạn của cấp QL nhất định Đồng thời QL trường học chính là QLGD diễn ra tại cấp cơ sở Cho nên nội dung QLGD nói chung và nội dung QL trường học đều như nhau, chỉ khác nhau về qui mô mà thôi, bao gồm:
1 Quản lí tài chính giáo dục
2 Quản lí CSVC, hạ tầng kĩ thuật (tài sản vật chất)
3 Quản lí nhân sự (cán bộ, công chức, nhân viên, giáo viên, HS - tài nguyên con người)
4 Quản lí chuyên môn (chương trình, hoạt động giảng dạy, hoạt động học tập, phát triển nguồn nhân lực giảng dạy và QL các hoạt động nghiên cứu
và phát triển khác)
5 Quản lí môi trường (tự nhiên và văn hóa)
6 Quản lí các quan hệ GD của ngành GD với các thiết chế xã hội khác (Đoàn, Đội, Công đoàn, các hội nghề nghiệp, các hội chính trị - xã hội, gia đình HS, cộng đồng dân cư)
1.2.3 Quản lý học sinh, sinh viên
Công tác quản lý học sinh, sinh viên (HS, SV) là một mặt quan trọng trong quá trình thực hiện nhiệm vụ giáo dục, đào tạo của các Nhà trường Quản lý tốt HS, SV sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình trang bị kiến thức,
kỹ năng chuyên môn, đồng thời còn tạo ra môi trường tốt cho việc rèn luyện phẩm chất đạo đức, nhân cách và tác phong, lối sống cho HS, SV Giáo dục
và Đào tạo là quốc sách hàng đầu của Đảng và Nhà nước ta trong sự nghiệp xây dựng xã hội chủ nghĩa Mục tiêu của đổi mới cơ bản và toàn diện Giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa - hiện đại hóa trong điều
Trang 27kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế là: Tạo chuyển biến căn bản, mạnh mẽ về chất lượng hiệu quả giáo dục và đào tạo; đáp ứng ngày càng tốt hơn công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và nhu cầu học tập của nhân dân Giáo dục con người Việt Nam phát triển toàn diện
và phát huy tốt nhất tiềm năng, khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân; yêu Tổ quốc, yêu đồng bào; sống tốt và làm việc hiệu quả Xây dựng nền giáo dục
mở, thực học, thực nghiệp, dạy tốt, học tốt, quản lý tốt; có cơ cấu và phương thức giáo dục hợp lý, gắn với xây dựng xã hội học tập;bảo đảm các điều kiện nâng cao chất lượng; chuẩn hóa, hiện đại hóa, dân chủ hóa; xã hội hóa và hội nhập quốc tế hệ thống giáo dục và đào tạo; giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa và bản sắc dân tộc Bậc giáo dục đại học có mục tiêu: tập trung đào tạo nhân lực trình độ cao, bồi dưỡng nhân tài, phát triển phẩm chất và năng lực tự học; tự làm giàu tri thức, sáng tạo của người học
Quản lí học HS, SV là quá trình gây ảnh hưởng, điều khiển những người có trách nhiệm trong bộ máy quản lí HS, SV và phối hợp hoạt động của họ nhằm giúp cho HS, SV đạt được những mục tiêu giáo dục, rèn luyện theo tiêu chuẩn của nhà trường và xã hội Nội dung cơ bản của quản lí HS,
SV là thực hiện đầy đủ các chính sách của Nhà nước đối với HS, SV, tổ chức giáo dục chính trị tư tưởng cho HS, SV, đảm bảo an ninh an toàn cho HS, SV, quản lý sinh viên, trợ giúp sinh viên trong học tập và rèn luyện, cũng như tổ chức cho sinh viên tham gia các phong trào, các hoạt động xã hội, nhằm giúp cho sinh viên hoàn thành tốt các nhiệm vụ học tập và rèn luyện, góp phần đào tạo ra những cán bộ khoa học kỹ thuật, cán bộ quản lý, những giáo viên có đủ đức đủ tài để tham gia vào công cuộc xây dựng đất nước
Bên cạnh việc giáo dục chính trị tư tưởng, nâng cao ý thức trách nhiệm
và tính tự giác của sinh viên, thì công tác không thể thiếu là quản lý sinh viên Phần lớn sinh viên là những thanh niên vừa rời ghế trường phổ thông, trong
Trang 28độ tuổi có rất nhiều mong muốn khám phá, nhưng lại thiếu kinh nghiêm, dễ bị lôi kéo Để đảm bảo cho các em có môi trường học tập và rèn luyện an toàn, tránh được những tác động xấu của môi trường xung quanh trong điều kiện nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Việc quản lý sinh viên phải đảm bảo việc nắm bắt được một cách thường xuyên các hoạt động của sinh viên trong thời gian sinh viên theo học tại trường để trợ giúp cho sinh viên trong học tập và rèn luyện cũng như kịp thời xử lý các vi phạm, giảm thiểu ảnh hưởng xấu đến sinh viên cũng như nhà trường và xã hội Trong điều kiện hiện tại, do khu nội trú còn thiếu nên nhiều sinh viên còn phải ở trọ tại các nhà dân xung quang trường, vì vậy công tác quản lý sinh viên cũng phải
có những quy định và phương thức thực hiện khác nhau
1.2.4 Trường đào tạo nghề
Trường đào tạo nghề là cơ sở giáo dục nghề nghiệp, cung cấp cho người học các chương trình đào tạo nghề về kinh tế, kỹ thuật và dịch vụ,v.v… đồng thời nghiên cứu ứng dụng và triển khai các tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ vào hoạt động giảng dạy và đời sống; tham gia bồi dưỡng nghiệp
vụ sư phạm dạy nghề và bồi dưỡng kỹ năng nghề cho đội ngũ giảng viên, góp phần phát triển nguồn nhân lực phục vụ cho công cuộc phát triển đất nước trong bối cảnh hội nhập quốc tế
Theo Luật giáo dục nghề nghiệp (2014): “Mục tiêu chung của giáo dục nghề nghiệp là nhằm đào tạo nhân lực trực tiếp cho sản xuất, kinh doanh và dịch vụ, có năng lực hành nghề tương ứng với trình độ đào tạo; có đạo đức, sức khỏe; có trách nhiệm nghề nghiệp; có khả năng sáng tạo, thích ứng với môi trường làm việc trong bối cảnh hội nhập quốc tế; bảo đảm nâng cao năng suất, chất lượng lao động; tạo điều kiện cho người học sau khi hoàn thành khóa học có khả năng tìm việc làm, tự tạo việc làm hoặc học lên trình độ cao hơn” Mục tiêu đào tạo trình độ cao đẳng nghề là “để người học có năng lực
Trang 29thực hiện được các công việc của trình độ trung cấp và giải quyết được các công việc có tính phức tạp của chuyên ngành hoặc nghề; có khả năng sáng tạo, ứng dụng kỹ thuật, công nghệ hiện đại vào công việc, hướng dẫn và giám sát được người khác trong nhóm thực hiện công việc”
Để đào tạo người lao động có kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp ở các trình độ khác nhau, có đạo đức, lương tâm nghề nghiệp, có sức khoẻ nhằm tạo điều kiện cho người lao động có khả năng tìm được việc làm, tự tạo việc làm hoặc tiếp tục hoặc tập nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế, xã hội củng cố quốc phòng, an ninh thì các cơ sở giáo dục đóng vai trò rất quan trọng
Ngoài các cơ sở đào tạo Đại học, Cao đẳng nghề cũng góp phần không nhỏ trong việc tạo ra đội ngũ nhân lực chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu công việc trong xu thế hội nhập
Các trường Cao đẳng nghề nằm trong hệ thống các trường đào tạo trực thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo được ghi rõ trong Luật Giáo dục 2005 bao gồm:
- Trung cấp chuyên nghiệp được thực hiện từ ba đến bốn năm học đối với người có bằng tốt nghiệp trung học cơ sở, từ một đến hai năm học đối với người có bằng tốt nghiệp trung học phổ thông;
- Dạy nghề được thực hiện dưới một năm đối với đào tạo nghề trình độ
sơ cấp, từ một đến ba năm đối với đào tạo nghề trình độ trung cấp, trình độ cao đẳng
Mục tiêu tổng quát phát triển dạy nghề ở nước ta là đến năm 2020 dạy nghề đáp ứng nhu cầu về nhân lực kỹ thuật trực tiếp trong sản xuất, kinh doanh với trình độ cao, lành nghề, đủ về số lượng, đảm bảo chất lượng, đáp ứng yêu cầu về phẩm chất, nhân cách, năng lực nghề nghiệp và thể chất phục
vụ cho các ngành kinh tế, vùng kinh tế, đặc biệt là các ngành kinh tế mũi nhọn, vùng kinh tế trọng điểm và xuất khẩu lao động; mở rộng quy mô dạy
Trang 30nghề cho người lao động, phục vụ có hiệu quả cho chuyển dịch cơ cấu lao động nông nghiệp, nông thôn, tạo nhiều việc làm có thu nhập cao, cải thiện đời sống cho người lao động
Với mục tiêu quan trọng trên, Điều 34 Khoản 1 của Luật giáo dục
2005 quy định yêu cầu về nội dung giáo dục nghề nghiệp như sau: “Nội dung giáo dục nghề nghiệp phải tập trung đào tạo năng lực thực hành nghề nghiệp, coi trọng giáo dục đạo đức, rèn luyện sức khỏe, rèn luyện kỹ năng theo yêu cầu của từng nghề, nâng cao trình độ học vấn theo yêu cầu đào tạo” Điều này
có nghĩa là, nội dung đào tạo nghề bao gồm các kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp, đòi hỏi người học phải nắm vững Trên cơ sở đó hình thành thế giới quan và phẩm chất đạo đức nghề nghiệp để người học bước vào cuộc sống và lao động để thực hiện được mục đích giáo dục nghề nghiệp nói riêng
và thực hiện các nhiệm vụ dạy học nói chung
1.3 Bối cảnh hội nhập ASEAN và yêu cầu về nguồn nhân lực
Hội nhập kinh tế quốc tế thúc đẩy mạnh mẽ các hoạt động giao lưu văn hoá và tri thức quốc tế, tăng cường sự hiểu biết, tin cậy lẫn nhau và tình hữu nghị giữa các dân tộc Dưới ảnh hưởng đó, tri thức loài người, kết tinh cô đọng ở các phát minh, sáng chế khoa học, kỹ thuật, công nghệ được phổ biến rộng rãi toàn thế giới, tạo động lực cho sự bùng nổ trí tuệ nhân loại
Cũng như nhiều nước khác, tiến trình hội nhập quốc tế của nước ta tạo
ra cơ hội thuận lợi để chúng ta chia sẻ lợi ích do toàn cầu hoá đưa lại, đồng thời đóng góp thiết thực vào tiến trình phát triển hợp tác quốc tế trên nhiều lĩnh vực, dân chủ hoá các sinh hoạt quốc tế, tham gia đấu tranh thiết lập trật
tự kinh tế quốc tế công bằng hơn, hợp lý hơn
Sau khi gia nhập ASEAN, Việt Nam nỗ lực thực hiện đầy đủ mọi cam kết và trách nhiệm của một nước thành viên, chủ động đưa ra những sáng kiến nhằm thúc đẩy hợp tác khu vực, hoàn thành nhiều trọng trách trước Hiệp
Trang 31hội Việt Nam tiếp tục mở rộng quan hệ nhiều mặt, trên nhiều tầng nấc trong khuôn khổ đa phương và song phương, đóng góp thiết thực vào quá trình hợp tác liên kết ASEAN hướng tới mục tiêu xây dựng Cộng đồng ASEAN vào năm 2015 với ba trụ cột chính trị - an ninh, kinh tế và văn hóa - xã hội
Về khách quan, xu thế toàn cầu hoá và hội nhập ASEAN tạo điều kiện cho tất cả các nước tham gia vào đời sống quốc tế, bày tỏ chính kiến, bảo vệ lợi ích, tập hợp lực lượng nhằm thực hiện mục tiêu chiến lược của mình Quá trình hội nhập làm cho các nước ngày càng phụ thuộc lẫn nhau Đây là
cơ hội tích cực để có thể loại bỏ các biểu hiện của ý đồ thiết lập mối quan hệ một chiều chứa đựng sự áp đặt, chi phối của các cường quốc đối với đông đảo các quốc gia dân tộc khác trên thế giới, thúc đẩy sự hình thành một trật tự thế giới mới với cơ chế sinh hoạt quốc tế dân chủ, công bằng, bình đẳng hơn
Chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế trong bối cảnh toàn cầu hoá mở ra khả năng cho nước ta, nhất là khi đã là thành viên chính thức WTO, tham gia nhanh và hiệu quả vào hệ thống phân công lao động quốc tế, tận dụng mọi nguồn lực phục vụ mục tiêu phát triển Do vậy, chúng ta có cơ hội thuận lợi đẩy nhanh quá trình điều chỉnh cơ cấu kinh tế, chuyển dịch cơ cấu lao động và rút ngắn thời gian vật chất của công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Tiến trình hội nhập của nước ta hiện nay cũng như những năm tới không chỉ có thời cơ và thuận lợi, mà còn phải đối diện với nhiều thách thức lớn Do đó, chúng ta cũng cần luôn nhận thức rõ những thách thức mà nước ta phải đối mặt để từ đó tìm ra biện pháp khắc phục hữu hiệu nhất
Trước hết, thách thức lớn nhất và dễ nhận thấy nhất xuất phát từ chỗ
nước ta là một nước đang phát triển có trình độ kinh tế thấp, quản lý nhà nước còn nhiều yếu kém và bất cập, doanh nghiệp và đội ngũ doanh nhân còn nhỏ
bé, sức cạnh tranh của hàng hóa, dịch vụ nói riêng và của toàn bộ nền kinh tế
Trang 32nói chung còn nhiều hạn chế, hệ thống chính sách kinh tế, thương mại chưa hoàn chỉnh Cho nên, nước ta sẽ gặp khó khăn lớn trong cạnh tranh cả ở trong nước cả trên trường quốc tế, cạnh tranh sẽ diễn ra gay gắt hơn, với nhiều đối thủ hơn, trên bình diện sâu hơn, rộng hơn Ngoài ra, trong hội nhập kinh tế, nhiệm vụ phát triển khu vực kinh tế tư nhân cũng đòi hỏi phải giải quyết nhiều vấn đề về nhận thức, cơ chế, chính sách, Về cơ chế bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, nước ta còn nhiều khó khăn về nhãn hiệu thương mại, bản quyền tác giả, bảo vệ thiết kế công nghiệp và người dân chưa có thói quen tuân thủ quyền sở hữu trí tuệ
Thứ hai, trong quá trình hội nhập, cũng như các nước đang phát triển
khác, nước ta phải chịu sự ràng buộc của các quy tắc kinh tế, thương mại, tài chính - tiền tệ, đầu tư chủ yếu do các nước phát triển áp đặt; phải chịu sức
ép cạnh tranh bất bình đẳng và sự điều tiết vĩ mô bất hợp lý của các nước phát triển hàng đầu Dựa vào sức mạnh kinh tế và mức đóng góp vốn khống chế ở các thiết chế tài chính, tiền tệ và thương mại quốc tế, các nước này đặt ra Tự
do hoá thương mại và tự do hoá kinh tế, đáng lẽ phải là cái đích cần vươn tới, thì bị họ xác định như xuất phát điểm, như điều kiện tiên quyết đối với các nước đang phát triển trong tiến trình hội nhập quốc tế Trên thực tế, đây là hoạt động lũng đoạn của tư bản độc quyền quốc tế Trong hoàn cảnh này, sự cạnh tranh kinh tế quốc tế và sự điều tiết vĩ mô nền kinh tế thế giới vẫn tiếp tục trở nên bất bình đẳng và bất hợp lý mà dĩ nhiên phần bất lợi lớn thuộc về tuyệt đại đa số các nước đang phát triển trong đó có nước ta
Thứ ba, trên lĩnh vực xã hội, quá trình hội nhập quốc tế trong xu thế
toàn cầu hoá đặt ra một thách thức nan giải đối với nước ta trong việc thực hiện chủ trương tăng trưởng kinh tế đi đôi với xoá đói, giảm nghèo, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội Sở dĩ vậy là vì lợi ích của toàn cầu hoá được phân phối một cách không đồng đều, những nước có nền kinh tế phát triển
Trang 33thấp được hưởng lợi ít hơn Trong phạm vi mỗi quốc gia cũng vậy, một bộ phận dân cư được hưởng lợi ích ít hơn, thậm chí còn bị tác động tiêu cực của toàn cầu hoá; nguy cơ thất nghiệp và sự phân hoá giàu nghèo sẽ tăng lên mạnh mẽ Trong tình hình như đã nêu, cơ cấu xã hội có thể biến động phức tạp và khó lường, làm cho sự phân tầng, phân hoá xã hội cũng trở thành yếu
tố tiêu cực đối với bản thân sự phát triển của đất nước
Thứ tư, quá trình hội nhập quốc tế đặt ra những vấn đề mới về bảo vệ
an ninh quốc gia, giữ gìn bản sắc văn hoá và truyền thống tốt đẹp của dân tộc Trên lĩnh vực an ninh quốc gia, các nguy cơ đe doạ an ninh ngày càng phức tạp hơn, bên cạnh các hiểm hoạ mang tính truyền thống, đã xuất hiện các nguy cơ phi truyền thống (an ninh môi trường, dịch bệnh, khủng bố ); cục diện an ninh luôn thay đổi; công cụ, biện pháp, hình thức, cơ chế bảo đảm an ninh cũng cần phải đổi mới thường xuyên Vấn đề gắn an ninh, quốc phòng với kinh tế và an ninh, quốc phòng với đối ngoại trở thành nhiệm vụ vừa cơ bản vừa cấp bách hiện nay của nước ta Hội nhập quốc tế trong một thế giới toàn cầu hoá, tính tuỳ thuộc giữa các nước sẽ tăng lên Sự biến động trên thị trường, cũng như tình hình chính chính trị khu vực và thế giới sẽ tác động mạnh đến thị trường và đời sống chính trị trong nước Điều đó đòi hỏi chúng
ta phải có chính sách kinh tế vĩ mô đúng đắn, có năng lực dự báo và phân tích tình hình quốc tế, đồng thời cơ chế quản lý phải tạo cơ sở để nền kinh tế có khả năng phản ứng tích cực, hạn chế được ảnh hưởng tiêu cực trước những biến động trên thị trường thế giới, giữ vững an ninh kinh tế và ổn định chính trị- xã hội
Trên lĩnh vực văn hoá, quá trình hội nhập quốc tế đặt nước ta trước nguy cơ bị các giá trị ngoại lai (trong đó có lối sống thực dụng, chạy theo đồng tiền), nhất là các giá trị văn hoá phương Tây xâm nhập ồ ạt, làm tổn hại bản sắc văn hoá dân tộc Chưa bao giờ văn hoá nhân loại lại đứng trước một
Trang 34nghịch lý phức tạp như trong kỷ nguyên toàn cầu hoá hiện nay: vừa có khả năng giao lưu rộng mở, vừa có nguy cơ bị nghèo văn hoá rất nghiêm trọng
Thứ năm, trên lĩnh vực chính trị, tiến trình hội nhập quốc tế ở nước ta
cũng đang đối diện trước thách thức của một số nguy cơ đe doạ độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ, sự lựa chọn định hướng chính trị, vai trò của nhà nước Đã xuất hiện những mưu đồ lấy sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các nước để hạ thấp chủ quyền quốc gia; lấy một thị trường không biên giới để phủ nhận tính bất khả xâm phạm của toàn vẹn lãnh thổ quốc gia; lấy các thiết chế quốc tế làm mô hình siêu nhà nước đứng trên các nhà nước quốc gia, áp đặt các giá trị dân chủ và nhân quyền phương Tây trong quan hệ quốc
tế, đưa ra thuyết "nhân quyền cao hơn chủ quyền" Hội nhập quốc tế đối với nước ta rõ ràng không thể tách rời cuộc đấu tranh chống "diễn biến hoà
bình" của các thế lực chống đối trên nhiều lĩnh vực
Có thể nói, hội nhập quốc tế nói chung, hội nhập ASEAN nói riêng ở
nước ta là một quá trình với cơ hội và thách thức đan xen tồn tại dưới dạng tiềm năng và có thể chuyển hoá lẫn nhau Cơ hội và thách thức chỉ trở thành hiện thực trong những điều kiện cụ thể, mà ở đó vai trò của nhân tố chủ quan
có tính quyết định rất lớn, trước hết đó là hiệu quả hoạt động lãnh đạo của Đảng, sự điều hành quản lý của Nhà nước và tinh thần tự lực tự cường, đoàn kết của toàn dân tộc
Với những thuận lợi và thách thức trên Đảng và nhà nước ta luôn coi trọng việc đào tạo một đội ngũ nhân lực đáp ứng nhu cầu của xu thế hội nhập hiên nay
Đối với đào tạo nghề, để có thể đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao
có khả năng hội nhập ASEAN thì ngoài việc HS, SV cần có đầy đủ kiến thức
và kĩ năng nghề thì điều mà các cơ sở đào tạo cần quan tâm là làm sao trang bị cho HS, SV các kĩ năng cần thiết khác như kĩ năng giao tiếp, kĩ năng tư duy
Trang 35phê phán, kĩ năng thiết lập mối quan hệ, kĩ năng giải quyết vấn đề, kĩ năng hòa nhập hay nói cách khác là phải có đầy đủ kĩ năng sống để nắm bắt các cơ hội xuất khẩu lao động sang các thị trường khác trong khối ASEAN để có thu nhập cao hơn Bên cạnh đó đội ngũ nhân lực của Việt Nam cũng còn cần phải nâng cao chất lượng để cạnh tranh với lao động các nước ngay trên chính đất nước của mình vì khi hội nhập ASEAN thì lực lượng lao động các nước ASEAN sẽ tự do tìm kiếm việc làm tại Việt Nam
Các trường dạy nghề cần phải đổi mới chương trình đào tạo theo hướng tăng cường giáo dục kĩ năng sống cũng như giáo dục các kĩ năng cần thiết khác cho HS, SV ngoài việc trang bị những kiến thức chuyên môn và kĩ năng nghề chuyên biệt Bên cạnh đó các trường cũng cần phải xây dựng tốt văn hóa nhà trường làm cơ sở cho việc đào tạo nguồn lực lao động có tay nghề giỏi đồng thời có văn hóa để có cơ hội tốt tham gia vào thị trường lao động ASEAN
1.4 Một số lí luận về quản lí HS, SV ở các trường đào tạo nghề
1.4.1 Đặc điểm của HS, SV ở các trường đào tạo nghề
Mỗi một lứa tuổi khác nhau đều có những đặc điểm tâm lý nổi bật, chịu
sự chi phối của hoạt động chủ đạo Học sinh sinh viên là những người có hoạt động chủ đạo là học tập để tiếp thu kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp ở các trường cao đẳng, đại học Một trong những đặc điểm tâm lý quan trọng nhất ở lứa tuổi học sinh, sinh viên là sự phát triển tự ý thức Nhờ có tự ý thức phát triển, sinh viên có những hiểu biết, thái độ, có khả năng đánh giá bản thân để chủ động điều chỉnh sự phát triển bản thân theo hướng phù hợp với xu thế xã hội Chẳng hạn sinh viên đang học ở các trường cao đẳng, đại học sư phạm, họ nhận thức rõ ràng về những năng lực, phẩm chất của mình, mức độ phù hợp của những đặc điểm đó với yêu cầu của nghề nghiệp, qua đó họ sẽ xác định rõ ràng mục tiêu học tập, rèn luyện và thể hiện bằng hành động học tập hàng ngày trong giờ lên lớp, thực tập nghề hay nghiên cứu khoa học
Trang 36Nhờ khả năng tự đánh giá phát triển mà sinh viên có thể nhìn nhận, xem xét năng lực học tập của mình, kết quả học tập cao hay thấp phụ thuộc vào ý thức, thái độ, vào phương pháp học tập của họ Sinh viên là những trí thức tương lai, ở các em sớm nảy sinh nhu cầu, khát vọng thành đạt Học tập
ở Đại học, Cao đẳng là cơ hội tốt để được trải nghiệm bản thân, vì thế, sinh viên rất thích khám phá, tìm tòi cái mới, đồng thời, họ thích bộc lộ những thế mạnh của bản thân, thích học hỏi, trau dồi, trang bị vốn sống, hiểu biết cho mình, dám đối mặt với thử thách để khẳng định mình
Một đặc điểm tâm lý nổi bật nữa ở lứa tuổi này là tình cảm ổn định của sinh viên, trong đó phải đề cập đến tình cảm nghề nghiệp - một động lực giúp
họ học tập một cách chăm chỉ, sáng tạo, khi họ thực sự yêu thích và đam mê với nghề lựa chọn Sinh viên là lứa tuổi đạt đến độ phát triển sung mãn của đời người Họ là lớp người giàu nghị lực, giàu ước mơ và hoài bão Tuy nhiên, do quy luật phát triển không đồng đều về mặt tâm lý, do những điều kiện, hoàn cảnh sống và cách thức giáo dục khác nhau, không phải bất cứ sinh viên nào cũng được phát triển tối ưu, độ chín muồi trong suy nghĩ và hành động còn hạn chế Điều này phụ thuộc rất nhiều vào tính tích cực hoạt động của bản thân mỗi sinh viên Bên cạnh đó, sự quan tâm đúng mực của gia đình, phương pháp giáo dục phù hợp từ nhà trường sẽ góp phần phát huy ưu điểm
và khắc phục những hạn chế về mặt tâm lý của HS, SV
Bên cạnh những mặt tích cực trên đây, mặc dù là những người có trình
độ nhất định, sinh viên không tránh khỏi những hạn chế chung của lứa tuổi thanh niên Đó là sự thiếu chín chắn trong suy nghĩ, hành động, đặc biệt, trong việc tiếp thu, học hỏi những cái mới Ngày nay, trong xu thế mở cửa, hội nhập quốc tế, trong điều kiện phát triển công nghệ thông tin, nền văn hoá của chúng ta có nhiều điều kiện giao lưu, tiếp xúc với các nền văn hoá trên thế giới, kể cả văn hoá phương Đông và phương Tây Việc học tập, tiếp thu
Trang 37những tinh hoa, văn hoá của các nền văn hoá khác là cần thiết Tuy nhiên, do đặc điểm nhạy cảm, ham thích những điều mới lạ kết hợp với sự bồng bột, thiếu kinh nghiệm của thanh niên, do đó, sinh viên dễ dàng tiếp nhận cả những nét văn hoá không phù hợp với chuẩn mực xã hội, với truyền thống tốt đẹp của dân tộc và không có lợi cho bản thân họ
Lứa tuổi sinh viên có những nét tâm lý điển hình, đây là thế mạnh của
họ so với các lứa tuổi khác như: tự ý thức cao, có tình cảm nghề nghiệp, có năng lực và tình cảm trí tuệ phát triển (khao khát đi tìm cái mới, thích tìm tòi, khám phá), có nhu cầu, khát vọng thành đạt, nhiều mơ ước và thích trải nghiệm, dám đối mặt với thử thách Song, do hạn chế của kinh nghiệm sống, sinh viên cũng có hạn chế trong việc chọn lọc, tiếp thu cái mới Những yếu tố tâm lý này có tác động chi phối hoạt động học tập, rèn luyện và phấn đấu của sinh viên
1.4.2 Vị trí, vai trò của Quản lí HS, SV trong các trường đào tạo nghề
Dạy nghề trình độ cao đẳng nhằm trang bị cho người học nghề kiến thức chuyên môn và năng lực thực hành các công việc của một nghề, có khả năng làm việc độc lập và tổ chức làm việc theo nhóm; có khả năng sáng tạo, ứng dụng kỹ thuật, công nghệ vào công việc; giải quyết được các tình huống phức tạp trong thực tế; có đạo đức, lương tâm nghề nghiệp, ý thức kỷ luật, tác phong công nghiệp, có sức khoẻ,tạo điều kiện cho người học nghề sau khi tốt nghiệp có khả năng tìmviệc làm, tự tạo việc làm hoặc tiếp tục học lên trình độ cao hơn
Mục tiêu chung phát triển nguồn nhân lực là nâng cao kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp và phát triển toàn diện của con người Việt Nam về chính trị, trí tuệ, đạo đức, ý chí và thể lực; hình thành đội ngũ lao động có cơ cấu trình độ, ngành nghề và khu vực lãnh thổ đáp ứng yêu cầu phát triển KT -XH, bảo đảm an ninh, quốc phòng Đặc biệt chú trọng đến bộ phận nhân lực trình độ cao t rong các
Trang 38lĩnh vực quản lí, khoa học-công nghệ, GD - ĐT và các ngành kinh tế quốc dân, tạo được năng suất và đem lại giá trị gia tăng cao trong nền kinh tế quốc dân
Vì vậy, vai trò của giáo dục nghề nghiệp trong sự phát triển KT - XH là rất quan trọng Với mục tiêu dạy nghề trình độ cao đẳng trường CĐN có vai trò đào tạo lao động kỹ thuật trình độ cao, góp phần vào sự phát triển KT-XH của địa phương, vùng và cả nước
Quá trình dạy học trong đào tạo nghề có liên hệ chặt chẽ với quá trình lao động xã hội Đây là một vấn đề cơ bản trong đào tạo nghề nghiệp người giáo viên dạy thực hành phải nghiên cứu một cách nghiêm túc, bởi vì chính thông qua lao động thực tiễn đã rút ra để rồi xây dựng mục đích và nhiệm vụ của dạy học thực hành nghề
Trong đào tạo thực hành nghề tính chất của sự lĩnh hội nhận thức của học sinh đã từng bước chuyển biến từ hoạt động có tính chất học tập thuần tuý sang tính chất học tập lao động rồi đến tính chất lao động-học tập và cuối cùng trong giai đoạn thực tập ở vị trí người công nhân hoạt động của học sinh hầu như hoàn toàn mang tính chất lao động Trong đào tạo nghề, nguyên lý giáo dục: “Học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, nhà trường gắn liền với xã hội” thể hiện rất rõ nết, đồng thời cũng có điều kiện
khách quan thuận lợi để thực hiện một cách triệt để
Trong dạy học thực hành nghề lao động học tập có tính chất phân hoá cao do sự đa dạng phong phú của các yêu cầu đặc trưng của hàng trăm nghề đào tạo khác nhau của các loại hình và con đường đào tạo khác nhau
Yêu cầu của công tác quản lí là tổ chức và điều khiển để thực hiện đúng
và tốt các chương trình môn học để đảm bảo khối lượng và chất lượng kiến thức cho học sinh theo đúng với mục tiêu đào tạo, làm cho học sinh tích cực học tập, lao động biến kiến thức truyền thụ của thầy giáo thành kiến thức của mình, từ đó vận dụng vào thực tiễn
Trang 39Yêu cầu công tác quản lí là làm cho học sinh hăng hái tích cực trong lao động, học tập, phấn đấu đạt kết quả cao trong học tập đồng thời có khả năng vận dụng kiến thức đã học vào thực tế sản xuất Hiện nay, một số học sinh cũng như một số gia đình quá thiên về học để có bằng cấp mà bỏ qua mục tiêu học để biết, học để làm, học để chung sống, học để làm người để phát triển cho nên không có mục tiêu học tập rõ ràng, xảy ra hiện tượng học
tủ, học lệch, hiện tượng dạy học theo kiểu áp đặt, chủ yếu là để thi đỗ Chính
vì vậy trong quá trình dạy học đặc biệt là dạy thực hành rèn kỹ năng và năng lực hành nghề công tác quản lí rất quan trọng Nội dung quản lí bao gồm:
Xây dựng động cơ, thái độ đúng đắn cho học sinh, điều này rất quan trọng vì học sinh nghề với đối tượng đầu vào như hiện nay về trình độ văn hoá đại đa số là yếu do mới học hết trung học cơ sở hoặc do không thi đỗ vào các trường đại học, cao đẳng nên ngại học lý thuyết, cho lý thuyết không quan trọng, cứ rèn tay nghề giỏi không nhiều Cho nên trong công tác quản lí phải quán triệt với đội ngũ giáo viên để trong quá trình giảng dạy, giáo viên phải
có sự liên hệ chặt chẽ giữa lý luận với thực tiễn để học sinh hiểu được bản chất của vấn đề cần làm
Quản lí việc chấp hành chế độ quy định của học sinh, trong công tác quản lí phải quán triệt cho học sinh những quy định, quy chế về đào tạo như: quy chế tuyển sinh, quy chế kiểm tra, xết lên lớp, xết công nhận tốt nghiệp, các văn bản quy phạm pháp luật của nhà nước
Quản lí việc tự học của học sinh, đôn đốc giáo viên thực hiện nghiêm túc chế độ kiểm tra bài thường xuyên, định kỳ và kết thúc môn học
Hàng tháng và định kỳ phải nắm vững tình hình học tập, kết quả học tập và rèn luyện của học sinh
Như vậy, công tác quản lí HS, SV có vai trò vị trí rất quan trọng trong quá trình phát triển của các trường học, góp phần tích cực trong việc tạo ra các nguồn nhân lực cao đáp ứng nhu cầu hội nhập của đất nước
Trang 401.4.3 Nội dung quản lí HS, SV trong các trường đào tạo nghề
1.4.3.1 Công tác tổ chức - hành chính
Yêu cầu công tác tổ chức hành chính đặt ra là phải đề cao trách nhiệm trong xây dựng và hoàn thiện hệ thống các thể chế (các quy chế, quy định) nhằm tạo cơ sở pháp lý đầy đủ và bảo đảm cho tổ chức và hoạt động của nhà trường được thực hiện một cách chính quy, nề nếp và thống nhất trong đó có các công việc liên quan đến HS, SV Công tác hành chính được bắt đầu từ đơn giản hoá các thủ tục hành chính, trong quy trình xử lý, giải quyết, phải đảm bảo tính thống nhất, đồng bộ Các quy định, quy trình xử lý, giải quyết công việc vừa chặt chẽ, vừa thông thoáng, đơn giản, dễ hiểu, dễ nhớ, dễ thực hiện, bảo đảm và đáp ứng yêu cầu quản lý, chỉ đạo, điều hành công việc của lãnh đạo bộ và các hoạt động của nhà trường một cách thông suốt và đạt hiệu quả cao Công tác tổ chức -hành chính phải đảm bảo giải quyết tốt các vấn đề liên quan đến HS, SV trong nhà trường, chẳng hạn nội qui, qui chế học tập rèn luyện, nội quy kí túc xá, thực hiện các chế độ Nhà nước qui định đối với