Vì vậy, đề tài nghiên cứu: “Thực trạng cung cấp dịch vụ trị liệu tâm lý tại bệnh viện tâm thần tuyến tỉnh” góp phần cung cấp thêm thông tin đầu vào cho xây dựng các chính sách, chiến lư
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ HỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
-oOo -
NGUYỄN THỊ MAI HIÊN
THỰC TRẠNG CUNG CẤP DỊCH VỤ TRỊ LIỆU TÂM LÝ TẠI BỆNH VIỆN TÂM THẦN TUYẾN TỈNH
CỦA VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SỸ TÂM LÝ HỌC
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ HỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
-oOo -
NGUYỄN THỊ MAI HIÊN
THỰC TRẠNG CUNG CẤP DỊCH VỤ TRỊ LIỆU TÂM LÝ TẠI BỆNH VIỆN TÂM THẦN TUYẾN TỈNH
CỦA VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SỸ TÂM LÝ HỌC
Chuyên ngành: TÂM LÝ HỌC LÂM SÀNG TRẺ EM VÀ VỊ THÀNH NIÊN
Mã số: THÍ ĐIỂM
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Bahr Weiss
PGS.TS Đặng Hoàng Minh
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu, phòng Đào tạo Sau Đại học, các thầy, cô giáo giảng dạy chương trình tâm lý học lâm sàng trẻ em và vị thành niên, Trường Đại học Giáo dục, Đại học Quốc gia Hà Nội đã tạo điều kiện và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu tại trường
Tôi xin gửi lời biết ơn đến PGS.TS Bahr Weiss, PGS.TS Đặng Hoàng Minh đã định hướng và hỗ trợ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn, từ việc xây dựng đề cương nghiên cứu, xây dựng bộ câu hỏi, cách thức phân tích, tổ chức dữ liệu nghiên cứu và viết đề tài luận văn
Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới TS Trần Văn Công, giảng viên chương trình cao học tâm lý lâm sàng trẻ em và vị thành niên đã tận tình chỉ bảo tôi cách thức phân tích kết quả nghiên cứu thực địa, cách thức tìm và phân tích tài liệu có sẵn
Xin trân trọng cảm ơn BS Trương Lê Vân Ngọc, cán bộ phụ trách sức khỏe tâm thần, Cục Quản lý Khám Chữa Bệnh, Bộ Y Tế, và lãnh đạo, cán bộ
y tế tại 41 bệnh viện tâm thần trong cả nước đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình xây dựng kế hoạch, công cụ nghiên cứu và thu thập số liệu
Tôi xin cảm ơn Ths.Trần Anh Toàn, phụ trách đào tạo cao học, Trường Đại Học Giáo dục, đã hỗ trợ, giúp đỡ tận tình để tôi hoàn thành các thủ tục bảo vệ luận văn đúng thời gian và đáp ứng đúng yêu cầu
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến gia đình, bạn bè, đồng nghiệp vì đã luôn bên tôi, động viên, tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cho tôi trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu hoàn thành luận văn
Hà Nội, ngày 01 tháng 12 năm 2016
Tác giả
Nguyễn Thị Mai Hiên
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn tốt nghiệp Thạc sĩ “Thực trạng cung cấp dịch vụ trị liệu tâm lý tại bệnh viện tâm thần tuyến tỉnh của Việt Nam” là
công trình nghiên cứu của cá nhân tôi Các số liệu trong luận văn là số liệu trung thực và chƣa đƣợc ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Hà Nội, ngày 01 tháng 12 năm 2016
Nguyễn Thị Mai Hiên
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
LỜI CAM ĐOAN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT v
DANH MỤC BẢNG vii
DANH MỤC BIỂU ĐỒ viii
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 9
1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 9
1.1.1 Nghiên cứu về hệ thống chăm sóc sức khỏe tâm thần 9
1.1.2 Nghiên cứu về trị liệu tâm lý 20
1.2 Một số vấn đề về lý luận 39
1.2.1 Trị liệu tâm lý và cung cấp dịch vụ trị liệu tâm lý 39
1.2.2 Rối loạn tâm thần, chăm sóc sức khỏe tâm thần 43
CHƯƠNG 2 : TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 45
2.1 Phương pháp nghiên cứu 45
2.1.1 Mẫu nghiên cứu 45
2.1.2 Địa bàn nghiên cứu 46
2.1.3 Phương pháp nghiên cứu 51
2.2 Tiến trình và tổ chức nghiên cứu 55
2.2.1 Giai đoạn nghiên cứu lý luận 55
2.2.2 Giai đoạn khảo sát thực trạng 55
2.2.3 Giai đoạn nhập liệu, phân tích kết quả và viết báo cáo 57
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 58
3.1 Mô tả chung dịch vụ trị liệu tâm lý triển khai tại BVTT tuyến tỉnh 58 3.1.1 Triển khai dịch vụ trị liệu tâm lý tại BVTT tỉnh 58
3.1.2 Đặc điểm tuổi, giới, trình độ chuyên môn của nhân viên TLTL 59
3.1.3 Thời gian tham gia trị liệu tâm lý 61
3.1.4 Đào tạo về trị liệu tâm lý 61
Trang 63.1.5 Nguồn chi trả dịch vụ trị liệu tâm lý 62
3.1.6 Tỷ lệ bệnh nhân được trị liệu tâm lý 63
3.2 Đặc điểm cụ thể về cung cấp trị liệu tâm lý tại BVTT tuyến tỉnh 63
3.2.1 Các loại dịch vụ trị liệu tâm lý cụ thể được cung cấp 63
3.2.2 Cách tiếp cận trị liệu tâm lý sử dụng tại bệnh viện tâm thần tỉnh 67
3.2.3 Mục tiêu trị liệu tâm lý 69
3.2.4 Thời gian trị liệu tâm lý 70
3.2.5 Rối loạn tâm thần được trị liệu tâm lý 74
3.2.6 Địa điểm trị liệu tâm lý 76
3.2.7 Sử dụng quy trình/hướng dẫn trị liệu tâm lý 77
3.3 Đánh giá của lãnh đạo và nhân viên về dịch vụ trị liệu tâm lý 78
3.3.1 Đánh giá về chất lượng trị liệu tâm lý 78
3.3.2 Đánh giá về ích lợi/hiệu quả trị liệu tâm lý 79
3.3.4 Mức độ tự tin trong trị liệu tâm lý 83
3.3.5 Mức độ hài lòng về khả năng trị liệu tâm lý của bản thân 84
3.3.6 Mức độ coi trọng trị liệu tâm lý của bệnh viện 85
3.3.7 Những rào cản, khó khăn trong trị liệu tâm lý 86
3.3.8 Đề xuất để triển khai dịch vụ trị liệu tâm lý hiệu quả 88
3.4 Nhu cầu phát triển/tăng cường trị liệu tâm lý 90
3.4.1 Nhu cầu phát triển trị liệu tâm lý nói chung 90
3.4.2 Nhu cầu dịch vụ TLTL cụ thể trong thời gian tới 91
3.4.3 Nhu cầu về cách tiếp cận trị liệu tâm lý 94
3.4.4 Nhu cầu về nguồn nhân lực tham gia trị liệu tâm lý 96
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ……… …109
TÀI LIỆU THAM KHẢO 113
PHỤ LỤC 124
Trang 7Bệnh nhân tâm thần Bệnh viện đa khoa Bệnh viện tâm thần
Bộ Y Tế Cognitive Behavioral Therapy – Liệu pháp nhận thức hành vi Civil Societal Organization – Tổ chức dân sự xã hội
Chăm sóc sức khỏe tâm thần Công tác xã hội
Cộng tác viên Disability adjusted life years – Số năm sống điều chỉnh theo mức độ khuyết tật
Evidence based Practice – Thực hành dựa trên bằng chứng International Codes of Diseases – Bảng phân loại mã bệnh quốc
tế (của Tổ chức Y tế Thế giới) Diagnostic and Statistical Manual of Mental Disorders Version
5 - Sổ tay Chẩn đoán và Thống kê các Rối loạn tâm thần phiên bản lần thứ 5 (của Hiệp hội Tâm thần học Hoa Kỳ
Global burden of diseases – Gánh nặng bệnh tật toàn cầu Non-Government Organization – Tổ chức phi chính phủ Nhân viên y tế thôn bản
Phục hồi chức năng
Trang 8Sở Y Tế Trị liệu tâm lý Years lived with disability – Số năm sống tàn tật World Health Organization – Tổ chức Y tế Thế giới
Trang 9DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Số giường bệnh tâm thần phân theo khu vực địa lý 47
Bảng 2.2 Loại hình nguồn nhân lực trong BVTT tuyến tỉnh 48
Bảng 2.3 Hoạt động khám chữa bệnh tại BVTT tuyến tỉnh 49
Bảng 2.4 Các dạng rối loạn tâm thần tại BVTT tuyến tỉnh 50
Bảng 3.1 Đặc điểm về tuổi và giới của người cung cấp dịch vụ TLTL 59
Bảng 3.2 Nguồn chi trả dịch vụ trị liệu tâm lý 62
Bảng 3.3 Các dịch vụ TLTL cụ thể cung cấp tại BVTT tuyến tỉnh 63
Bảng 3.4 Số lượng bệnh nhân sử dụng dịch vụ TLTL cụ thể 66
Bảng 3.5 Mục tiêu trị liệu tâm lý của người thực hiện trị liệu 69
Bảng 3.6 Số buổi trị liệu tâm lý cho một bệnh nhân 70
Bảng 3.7 Thời gian cho một buổi trị liệu tâm lý 71
Bảng 3.8 Các dạng RLTT được TLTL 74
Bảng 3.9 Ý kiến đánh giá về chất lượng dịch vụ TLTL 78
Bảng 3.10 Ý kiến về ích lợi trị liệu tâm lý 79
Bảng 3.11 Ý kiến về ích lợi trị liệu tâm lý đối với các RLTT khác nhau 81
Bảng 3.12 Nhu cầu TLTL của nhân viên chưa triển khai trị liệu 91
Bảng 3.13 Nhu cầu về dịch vụ TLTL cụ thể của nhân viên chưa TLTL.… 92
Bảng 3.14 Nhu cầu về dịch vụ TLTL cụ thể của nhân viên đã TLTL… 93
Bảng 3.15 Nhu cầu về tiếp cận TLTL cụ thể của nhân viên chưa TLTL 95
Bảng 3.16 Nhu cầu về tiếp cận TLTL cụ thể của nhân viên đã TLTL 95
Bảng 3.17 Nhu cầu về nguồn nhân lực của nhân viên chưa TLTL 97
Bảng 3.18 Nhu cầu về nguồn nhân lực của nhân viên đã TLTL 98
Trang 10DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1 Số lượng BVTT có triển khai dịch vụ trị liệu tâm lý 58
Biểu đồ 3.2 Số lượng cán bộ y tế có triển khai dịch vụ trị liệu tâm lý 59
Biểu đồ 3.3 Đặc điểm trình độ chuyên môn của người cung cấp TLTL 60
Biểu đồ 3.4 Thời gian tham gia TLTL của người cung cấp dịch vụ TLTL 61
Biểu đồ 3.5 Đào tạo trị liệu tâm lý trong vòng 5 năm nay 61
Biểu đồ 3.6 Tỷ lệ bệnh nhân được TLTL so với tổng số bệnh nhân điều trị 63 Biểu đồ 3.7 Cách tiếp cận trị liệu tâm lý được nhân viên sử dụng 67
Biểu đồ 3.8 Số lượng bệnh nhân sử dụng các cách tiếp cận trị liệu tâm lý 68
Biểu đồ 3.9 Tần suất trị liệu tâm lý cho bệnh nhân 73
Biểu đồ 3.10 Ý kiến của nhân viên về địa điểm trị liệu tâm lý 76
Biểu đồ 3.11 Sử dụng quy trình/hướng dẫn trị liệu tâm lý 77
Biểu đồ 3.12 Mức độ yêu thích áp dụng trị liệu tâm lý 82
Biểu đồ 3.13 Mức độ tự tin trong trị liệu tâm lý 83
Biểu đồ 3.14 Mức độ hài lòng về khả năng trị liệu tâm lý của bản thân 84
Biểu đồ 3.15 Mức độ coi trọng trị liệu tâm lý của bệnh viện 85
Biểu đồ 3.16 Nhu cầu TLTL của bệnh viện chưa triển khai TLTL 90
Biểu đồ 3.17 Nhu cầu dịch vụ TLTL cụ thể của bệnh viện chưa TLTL 91
Biểu đồ 3.18 Nhu cầu dịch vụ TLTL cụ thể của bệnh viện đã TLTL 92
Biểu đồ 3.19 Nhu cầu về cách tiếp cận TLTL của BV chưa TLTL 94
Biểu đồ 3.20 Nhu cầu về cách tiếp cận TLLT của BV đã TLTL 94
Biểu đồ 3.21 Nhu cầu về nguồn nhân lực TLTL của BV chưa TLTL 96
Biểu đồ 3.22 Nhu cầu về nguồn nhân lực TLTL của BV đã TLTL 97
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong những thập niên gần đây, cùng với thay đổi về môi trường sống, phát triển kinh tế xã hội, thay đổi về cơ cấu dân số, cấu trúc xã hội và lối sống, mô hình bệnh tật cũng thay đổi theo hướng gia tăng các bệnh không lây nhiễm trong đó có rối loạn tâm thần
Rối loạn tâm thần là nguyên nhân làm gia tăng gánh nặng bệnh tật toàn cầu đặc biệt ở các nước đang phát triển Theo tác giả Whiteford và cộng sự về gánh nặng bệnh tật toàn cầu năm 2010, rối loạn tâm thần và rối loạn do sử dụng chất là nguyên nhân hàng đầu trên thế giới về số năm sống tàn tật (YLDs) [65]
Kết quả nghiên cứu của Trường Đại học Y tế Công cộng về gánh nặng bệnh tật và chấn thương ở Việt Nam năm 2008 cho thấy các bệnh tâm thần kinh là một trong hai nhóm nguyên nhân hàng đầu của gánh nặng bệnh tật ở Việt Nam năm 2008, chiếm 17% trong tổng số gánh nặng bệnh tật, tương ứng 2,1 triệu DALYs [9]
Các bệnh tâm thần và thần kinh là nguyên nhân hàng đầu của gánh nặng tàn tật ở nam giới (33%), và nữ giới (41%) Lạm dụng rượu (14%) và trầm cảm (11%) là hai trong ba nguyên nhân hàng đầu gây nên gánh nặng bệnh tật không tử vong ở nam giới Còn ở nữ giới, trầm cảm (29%) là nguyên nhân hàng đầu gây nên gánh nặng bệnh tật không tử vong [9]
Điều tra về tỷ lệ mắc rối loạn tâm thần của nhân dân Việt Nam rất ít Đến nay mới có một cuộc khảo sát dịch tễ học 10 rối loạn tâm thần phổ biến ở Việt Nam thực hiện từ năm 2001-2002 Kết quả khảo sát đó cho thấy 14.9% dân số (tức là khoảng 12 triệu người) mắc 10 rối loạn tâm thần phổ biến trong đó phổ biến nhất là rối loạn tâm thần do lạm dụng rượu bia chiếm 5,3%, trầm cảm 2,8% và lo âu 2,6% Gần 3 triệu người Việt Nam mắc các rối loạn tâm thần
Trang 12nặng điển hình như tâm thần phân liệt, rối loạn cảm xúc lưỡng cực và rối loạn
Sau khi phân tích 50 nghiên cứu về hiệu quả của trị liệu tâm lý, tháng 8/2012, Hiệp hội Tâm Lý Mỹ ban hành Nghị quyết chính thức công nhận hiệu quả của tâm lý trị liệu và đề xuất đưa tâm lý trị liệu vào trong hệ thống chăm sóc sức khỏe như một thực hành y khoa dựa trên bằng chứng [47]
Phần lớn rối loạn tâm thần có thể chữa trị bằng các phương pháp khác nhau gồm can thiệp dùng thuốc và không dùng thuốc Tuy nhiên, một tỷ lệ đáng kể người bị rối loạn tâm thần không được điều trị do hạn chế trong việc phát hiện bệnh và thiếu các dịch vụ chăm sóc sức khỏe tâm thần trong đó có dịch vụ tâm lý trị liệu
Khoảng 75% người rối loạn tâm thần mà phần lớn tập trung ở các nước thu nhập thấp và trung bình không được tiếp cận các dịch vụ theo nhu cầu Khoảng 35,5% đến 50,3% bệnh nhân nặng ở các nước phát triển, 76,3% đến 85,4% ở các nước đang phát triển không nhận được điều trị trong 12 tháng trước thời điểm phỏng vấn [57]
Theo báo cáo của Hội Tâm lý Mỹ, hơn thập kỷ qua, việc sử dụng tâm lý trị liệu trong chữa trị các vấn đề sức khỏe tâm thần và vấn đề hành vi giảm đi trong khi sử dụng hóa dược trị liệu tăng lên [46]
Trang 13Tại Việt Nam, theo nghiên cứu của các tác giả Maria Niemi, Huong T Thanh, Tran Tuan và Torkel Falkenberg, các dịch vụ chăm sóc sức khỏe tâm thần (CSSKTT) ở cả cơ sở và cộng đồng chủ yếu là hóa dược trị liệu Nghiên cứu cũng đề xuất cần phát triển và cung cấp các can thiệp trị liệu không dùng thuốc như tâm lý trị liệu [78]
Dịch vụ CSSKTT được phân thành 3 nhóm chính: Dịch vụ CSSKTT lồng ghép trong dịch vụ CSSK chung; dịch vụ CSSKTT dựa vào cộng đồng;
và dịch vụ CSSK tâm thần trong các cơ sở chuyên khoa Ở nhiều nước trong
đó có Việt Nam, dịch vụ CSSKTT chủ yếu dựa vào hệ thống bệnh viện chuyên khoa tâm thần
Bệnh viện chuyên khoa tâm thần tuyến tỉnh có ở 36 tỉnh thành trong cả nước Nhiệm vụ là khám và điều trị bệnh tâm thần cho bệnh nhân trong toàn tỉnh; quản lý và điều trị ngoại trú cho bệnh nhân khi ra viện; tham gia chỉ đạo, quản lý, điều hành việc triển khai hoạt động dự án bảo vệ sức khỏe tâm thần cộng đồng tại tuyến xã phường, tham gia tuyên truyền về CSSKTT [3]
Do nguồn nhân lực trong CSSKTT hạn chế cả về số lượng và chất lượng, đặc biệt là thiếu hụt đáng kể cán bộ tâm lý trị liệu và cán sự xã hội mà dịch vụ điều trị trong các bệnh viện tâm thần chủ yếu là điều trị bằng thuốc
Để đáp ứng nhu cầu được chăm sóc sức khỏe tâm thần ngày càng tăng,
Bộ Y Tế Việt Nam đang xây dựng Chiến lược Quốc gia về CSSKTT tới 2020
và tầm nhìn tới 2030 với mục tiêu xây dựng hệ thống CSSKTT toàn diện với các dịch vụ đa dạng dùng thuốc và không dùng thuốc, và phát triển nguồn nhân lực CSSKTT đa chuyên ngành trong đó có cán bộ tâm lý trị liệu
Bộ Y Tế đang tiến hành điều tra quốc gia về hệ thống CSSKTT làm cơ
sở cho việc xây dựng các chính sách, chiến lược về CSSKTT Tuy nhiên, nghiên cứu không tập trung sâu về thực trạng cung cấp dịch vụ trị liệu tâm lý
để làm cơ sở xây dựng chính sách liên quan đến phát triển nguồn nhân lực và các dịch vụ tâm lý trị liệu
Trang 14Vì vậy, đề tài nghiên cứu: “Thực trạng cung cấp dịch vụ trị liệu tâm lý
tại bệnh viện tâm thần tuyến tỉnh” góp phần cung cấp thêm thông tin đầu
vào cho xây dựng các chính sách, chiến lược, kế hoạch hành động phù hợp, khả thi nhằm tăng cường cung cấp dịch vụ tâm lý trị liệu trong điều trị các rối loạn tâm thần tại Việt Nam
3 Câu hỏi nghiên cứu
- Các bệnh viện tâm thần tuyến tỉnh của Việt Nam cung cấp dịch vụ trị liệu tâm lý gì và như thế nào?
- Những rào cản nào cho việc phát triển dịch vụ trị liệu tâm lý tại các bệnh viện tâm thần tuyến tỉnh của Việt Nam?
- Bệnh viện tâm thần tỉnh có nhu cầu phát triển dịch vụ trị liệu tâm lý trong thời gian tới như thế nào?
4 Giả thuyết nghiên cứu
- Các bệnh viện tâm thần tuyến tỉnh của Việt Nam hiện đang cung cấp dịch vụ trị liệu tâm lý không đúng cách của thế giới
- Trở ngại lớn nhất cho việc phát triển dịch vụ trị liệu tâm lý tại bệnh viện tâm thần tuyến tỉnh là không có nguồn nhân lực cho tâm lý trị liệu
- Bệnh viện tâm thần tuyến tỉnh mong muốn phát triển trị liệu tâm lý theo hướng tiếp cận phổ biến trên thế giới là nhận thức hành vi và cho nhiều đối tượng nhân viên khác nhau
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Nhiệm vụ nghiên cứu lý luận
Trang 15- Tìm hiểu lịch sử vấn đề nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam liên quan đến hệ thống chăm sóc sức khỏe tâm thần bao gồm gánh nặng rối loạn tâm thần, hệ thống luật pháp và chính sách về chăm sóc sức khỏe tâm thần, mô hình tổ chức dịch vụ chăm sóc sức khỏe tâm thần, nguồn lực trong chăm sóc sức khỏe tâm thần
- Tìm hiểu lịch sử vấn đề nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam liên quan đến trị liệu tâm lý bao gồm lịch sử hình thành và phát triển dịch vụ trị liệu tâm lý, mô hình cung cấp dịch vụ trị liệu tâm lý, các cách tiếp cận trị liệu tâm lý, trị liệu tâm lý trong hệ thống chăm sóc sức khỏe, đào tạo cán bộ trị liệu tâm lý, hiệu quả trị liệu tâm lý và các yếu tố ảnh hưởng
5.2 Nhiệm vụ nghiên cứu thực tiễn
Tìm hiểu thực trạng cung cấp các dịch vụ tâm lý trị liệu tại bệnh viện tâm thần tuyến tỉnh của Việt Nam bao gồm mô tả đặc điểm chung và đặc điểm cụ thể của dịch vụ trị liệu tâm lý được triển khai tại bệnh viện tâm thần tuyến tỉnh, đánh giá của lãnh đạo và nhân viên trực tiếp tham gia trị liệu về dịch vụ trị liệu tâm lý cung cấp tại bệnh viện tâm thần tuyến tỉnh, những khó khăn, rào cản trong việc triển khai trị liệu tâm lý, đề xuất và nhu cầu phát triển trị liệu tâm lý của các bệnh viện tâm thần tuyến tỉnh trong thời gian tới
6 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
6.2 Đối tượng nghiên cứu
- Các đặc điểm chung và cụ thể về dịch vụ trị liệu tâm lý triển khai tại bệnh viện tâm thần tuyến tỉnh theo mô tả của lãnh đạo và nhân viên trực tiếp tham gia điều trị bệnh nhân tâm thần
Trang 16- Đánh giá của lãnh đạo và nhân viên về trị liệu tâm lý triển khai tại bệnh viện tâm thần tuyến tỉnh
- Những khó khăn, rào cản, đề xuất và nhu cầu phát triển trị liệu tâm lý tại bệnh viện tâm thần tuyến tỉnh
8 Phương pháp nghiên cứu
8.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận
Phương pháp nghiên cứu các tài liệu có sẵn gồm các bài báo đăng tải các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế, sách, báo, tạp chí trong nước và quốc tế có liên quan để hệ thống hóa cơ sở lý thuyết liên quan đến chăm sóc sức khỏe tâm thần, đến trị liệu tâm lý
8.2 Điều tra bằng bảng hỏi tự điền
Phương pháp này được sử dụng để tìm hiểu số liệu thực tế về quy mô, hoạt động chung của bệnh viện tâm thần tuyến tỉnh, về hoạt động cung cấp trị liệu tâm lý triển khai tại bệnh viện tâm thần tuyến tỉnh, về ý kiến đánh giá của
cả lãnh đạo bệnh viện và nhân viên trực tiếp tham gia điều trị bệnh nhân về dịch vụ trị liệu tâm lý, ý kiến về những khó khăn, rào cản, đề xuất và nhu cầu phát triển trị liệu tâm lý tại bệnh viện tâm thần tuyến tỉnh
8.3 Phương pháp phỏng vấn sâu
Phương pháp này dùng để tìm hiểu thông tin sâu không có từ bảng hỏi tự điền như các lý do để giải thích cho việc lựa chọn các thông tin trong bảng, giải thích cách hiểu của người trả lời về các khái niệm trong bảng hỏi
Trang 178.4 Phương pháp thống kê toán học
Các kết quả thu được thông qua điều tra bằng bảng hỏi tự điền từ các bệnh viện tâm thần tỉnh sẽ được làm sạch, mã hóa và nhập liệu bằng phần
mềm nhập liệu, và được phân tích bằng phần mềm SPSS 19.0
9 Đóng góp mới của đề tài
Kết quả nghiên cứu góp phần cung cấp thêm thông tin thực tế liên quan đến hệ thống cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe tâm thần tại tất cả bệnh viện tâm thần tuyến tỉnh của Việt Nam với trọng tâm tập trung vào việc cung cấp dịch vụ tâm lý trị liệu
Nghiên cứu cũng giúp hiểu thêm về những rào cản, khó khăn trong việc triển khai trị liệu tâm lý tại bệnh viện tâm thần tuyến tỉnh, cung cấp thông tin
về ý kiến đề xuất cũng như nhu cầu của bệnh viện trong việc phát triển trị liệu tâm lý tại bệnh viện tâm thần tuyến tỉnh trong thời gian tới
Nghiên cứu góp phần cung cấp thêm thông tin đầu vào cho việc xây dựng các chính sách tăng cường cung cấp dịch vụ tâm lý trị liệu tại các bệnh viện tâm thần tuyến tỉnh của Việt Nam và cho việc vận động chính sách xây dựng mã nghề tâm lý lâm sàng làm cơ sở cho việc phát triển nguồn nhân lực tâm lý trị liệu tại Việt Nam trong thời gian tới
10 Đạo đức nghiên cứu
- Khách thể nghiên cứu được thông báo chi tiết về mục đích, nội dung của nghiên cứu và có quyền từ chối tham gia nghiên cứu
- Nghiên cứu chủ yếu dựa trên thu thập số liệu hiện có, không có can thiệp lâm sàng, không ảnh hưởng tới thói quen cũng như phong tục tập quán của địa phương
- Các thông tin do khách thể cung cấp được cam kết giữ bí mật và chỉ được sử dụng cho mục đích của nghiên cứu
Trang 1811 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn được trình bày trong 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận
Chương 2: Tổ chức và phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Phân tích kết quả nghiên cứu
Trang 19CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CUNG CẤP DỊCH VỤ TRỊ LIỆU TÂM LÝ TẠI CÁC CƠ SỞ
CHĂM SÓC SỨC KHỎE TÂM THẦN 1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Nghiên cứu về hệ thống chăm sóc sức khỏe tâm thần
1.1.1.1 Gánh nặng rối loạn tâm thần
Thế giới
Rối loạn tâm thần (RLTT) có thể gặp ở bất kỳ ai, không phân biệt giới, tuổi, chủng tộc, tôn giáo, điều kiện kinh tế RLTT là phổ biến, khoảng một trong năm người trưởng thành có thể bị RLTT trong một giai đoạn nào đó của cuộc đời RLTT là gánh nặng lớn đối với sức khỏe cộng đồng Các nghiên cứu trên thế giới cho thấy 40% người trưởng thành tìm đến các dịch vụ chăm sóc sức khỏe đa khoa đều bị một dạng RLTT nào đó [87]
Theo tạp chí Lancet xuất bản 2013 về kết quả khảo sát gánh nặng bệnh tật toàn cầu năm 2010, các RLTT và rối loạn do sử dụng chất chiếm khoảng 7,4% tổng số gánh nặng bệnh tật toàn cầu tính theo số năm sống hiệu chỉnh theo mức độ khuyết tật (DALYs) So với năm 1990 gánh nặng bệnh tật theo DALYs do RLTT và lạm dụng chất tăng lên 37,6% trong đó hầu hết các rối loạn liên quan đến gia tăng dân số và già hóa dân số [66]
Trong tổng số gánh nặng bệnh tật do RLTT và sử dụng chất tính theo DALYs, rối loạn trầm cảm chiếm cao nhất 40,5%, rối loạn lo âu 14,6%; rối loạn do sử dụng chất 10,9%; rối loạn do sử dụng rượu 9,6%; tâm thần phân liệt 7,4%, rối loạn cảm xúc lưỡng cực 7,0%; rối loạn hành vi ở trẻ em 3,4%, rối loạn ăn uống 1,2% Gánh nặng bệnh tật khác nhau về giới và tuổi trong đó
tỷ trọng gánh nặng bệnh tật cao nhất ở lứa tuổi từ 10 đến 29 tuổi [66]
Về sức khỏe tâm thần ở trẻ em, theo báo cáo của Tổ chức Y tế Thế giới, 10-20% trẻ em và vị thành niên có trải nghiệm về RLTT Tỷ lệ này khác biệt
ở các quốc gia khác nhau do những khác biệt về kinh tế, xã hội, hoặc do sử
Trang 20dụng công cụ đo đạc khác nhau và cách thức lấy mẫu khác nhau Tỷ lệ RLTT của trẻ từ 5-10 tuổi ở Bangladesh là 15,0%, của trẻ em Thailand 8-11 tuổi là 37,6%, Malaysia từ 1-15 tuổi là 6,1%, USA từ 8-15 tuổi là 13,1% [40]
Rối loạn trầm cảm chiếm gần 41,9% số tàn tật do các RLTT ở nữ so với 29,3% ở nam Các RLTT phổ biến thời kỳ chu sinh gây ảnh hưởng đến 15,9% phụ nữ trong thời kỳ mang thai và 19,9% sau khi sinh ở các nước đang phát triển gây ra các hậu quả không có lợi đến sức khỏe thể chất của trẻ như nguy
cơ thiếu cân, quan hệ mẹ-con và sự phát triển tâm lý của trẻ [66] RLTT và các vấn đề sức khỏe tâm thần cũng là các yếu tố nguy cơ đối với các bệnh không lây nhiễm đặc biệt là bệnh tiểu đường và bệnh mạch vành [87]
RLTT gây nghèo đói cho cá nhân và gia đình, cản trở phát triển kinh tế quốc gia Ước tính tác động toàn cầu về sản lượng kinh tế mất đi do rối loạn tâm thần sẽ lên tới 16.000 tỷ USD trong 20 năm tới [99]
Khoảng 75% người có RLTT mà phần lớn trong số đó tập trung ở các nước có thu nhập thấp và trung bình không được tiếp cận các dịch vụ theo nhu cầu của họ [19] Khoảng 35,5% đến 50,3% bệnh nhân nặng ở các nước phát triển, 76,3% đến 85,4% ở các nước đang phát triển không nhận được điều trị trong 12 tháng trước thời điểm phỏng vấn [67]
Tại Việt Nam
Theo kết quả nghiên cứu của Trường Đại học Y tế Công cộng về gánh nặng bệnh tật và chấn thương ở Việt Nam năm 2008, các bệnh tâm thần và thần kinh là một trong hai nhóm nguyên nhân hàng đầu của gánh nặng bệnh tật ở Việt Nam năm 2008, chiếm tỷ lệ 17% trong tổng số gánh nặng bệnh tật, tương ứng 2,1 triệu DALYs Lạm dụng rượu (14%) và trầm cảm (11%) là hai trong ba nguyên nhân hàng đầu gây nên gánh nặng bệnh tật không tử vong ở nam giới Còn ở nữ giới, trầm cảm (29%) là nguyên nhân hàng đầu gây nên gánh nặng bệnh tật không tử vong [9]
Trang 21Điều tra về thực trạng sức khỏe tâm thần tại Việt Nam rất ít [95] Đến nay mới có một cuộc khảo sát dịch tễ học 10 rối loạn tâm thần phổ biến ở Việt Nam thực hiện từ năm 2001-2002 Kết quả cuộc khảo sát đó cho thấy 14,9% dân số (tức là khoảng 12 triệu người) mắc 10 rối loạn tâm thần phổ biến trong
đó phổ biến nhất là rối loạn tâm thần do lạm dụng rượu bia chiếm 5,3%, trầm cảm 2,8% và lo âu 2,6% Gần 3 triệu người Việt Nam mắc các rối loạn tâm thần nặng điển hình như tâm thần phân liệt, rối loạn cảm xúc lưỡng cực và rối loạn lo âu và trầm cảm nặng [2]
33% phụ nữ đến khám tại các phòng khám đa khoa ở Thành phố Hồ Chí Minh đã được phát hiện có các triệu chứng trầm cảm sau sinh và 19% thừa nhận có ý định tự tử Ở miền Bắc Việt Nam, 29% phụ nữ mang thai và các bà
mẹ mới sinh tại 10 xã đã được chẩn đoán mắc chứng rối loạn tâm thần phổ biến trong thời kỳ chu sinh Tỷ lệ này cho thấy cao gấp hai lần so với nông thôn và ở những phụ nữ có phơi nhiễm với bạo lực tình dục [26]
Một tỷ lệ đáng kể người bị RLTT không được điều trị do hạn chế trong việc phát hiện bệnh và thiếu các dịch vụ chăm sóc sức khỏe tâm thần Ngoài những vấn đề liên quan đến bệnh tật, những người có RLTT thường bị kỳ thị
và phân biệt đối xử và có nhiều khả năng trở thành nạn nhân của sự ngược đãi
và bạo lực [81]
Đổi mới cải cách đã cải thiện điều kiện kinh tế và xã hội ở Việt Nam nhưng cũng mang lại những tác động tiêu cực đến sức khỏe, bao gồm cả gia tăng tình trạng lạm dụng ma túy và rượu ở một số địa phương, tăng sự bất bình đẳng trong việc tiếp cận các dịch vụ y tế và xã hội Bên cạnh đó, sự gia tăng tuổi thọ ở Việt Nam cho thấy khả năng gia tăng rất lớn về bệnh tâm thần của người già và đặc biệt là chứng mất trí nhớ [81]
1.1.1.2 Hệ thống luật pháp và chính sách chăm sóc sức khỏe tâm thần
Thế giới
Luật sức khỏe tâm thần cung cấp hành lang pháp lý để giải quyết các vấn
Trang 22đề then chốt trong CSSKTT như tiếp cận dịch vụ chăm sóc và phục hồi chức năng, tái hòa nhập cộng đồng và khuyến khích sức khỏe tâm thần trong các lĩnh vực khác của xã hội Hiện nay khoảng 25% quốc gia trên thế giới, chiếm gần 31% dân số thế giới, không có luật sức khỏe tâm thần 91,7% các nước châu Âu có luật SKTT [100]
Theo Tổ chức Y tế Thế giới, chính sách về SKTT là bộ tiêu chuẩn về các giá trị, các nguyên tắc và các mục tiêu đưa ra để cải thiện sức khỏe tâm thần
và giảm gánh nặng về rối loạn tâm thần của toàn dân Chính sách về SKTT cũng xác định tầm nhìn cần hướng tới, các ưu tiên trong CSSKTT và đưa ra định hướng xây dựng mô hình can thiệp Về phạm vi chính sách, một số nước
có chính sách riêng về SKTT trong khi một số nước khác thì nội dung về CSSKTT được lồng ghép trong chính sách chung về y tế [100]
Có tới 40,5% các nước trên thế giới chưa có chính sách về SKTT, và 30,3% các nước không có chương trình CSSKTT Loại hình và nội dung của các chính sách về SKTT cũng rất khác nhau giữa các nước [100]
Ở phần lớn các nước, Bộ Y Tế là cơ quan chịu trách nhiệm xây dựng chính sách về SKTT Bên cạnh điểm thuận lợi là đảm bảo việc xây dựng và triển khai nhất quán, xuyên suốt trong hệ thống y tế Tuy nhiên, điểm bất lợi
là ngành y tế không thể cung cấp tất cả các dịch vụ mà người rối loạn tâm thần cần, và cũng không thể giải quyết hết các yêu cầu cần thiết để thúc đẩy SKTT cũng như dự phòng rối loạn tâm thần
Việt Nam
Việt Nam chưa có luật riêng về SKTT mà một số điều luật về SKTT được lồng ghép chung vào các luật khác như Luật Bảo vệ Sức khỏe Nhân dân ban hành năm 1989; Luật phòng chống ma túy năm 2000; Luật hôn nhân và gia đình năm 2000; Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003; Pháp lệnh giám định tư pháp 2004; Luật dược năm 2005; Luật bảo hiểm y tế 2005; Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em 2006; Luật người cao tuổi 2009; Luật Khám chữa bệnh
Trang 23ban hành năm 2009 quy định bắt buộc phải chữa bệnh cho người bệnh tâm thần, phải có hội chẩn và chế độ hồ sơ bệnh án cho người bệnh tâm thần; Luật Người khuyết tật năm 2010 quy định người tâm thần, người có khuyết tật thần kinh là nhóm đối tượng khuyết tật [10]
Việt Nam cũng không có chính sách riêng về CSSKTT, mà một số nội dung chính sách được đề cập đến trong các chương trình, quyết định khác nhau do Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Một số chính sách hiện hành của Việt Nam có liên quan đến CSSKTT chủ yếu tập trung vào hai lĩnh vực y tế
và xã hội, do Bộ Y Tế và Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội đầu mối triển khai thực hiện Trong lĩnh vực y tế, có Quyết định của Chính phủ phê duyệt năm 1998 về Dự án Bảo vệ sức khỏe Tâm thần cộng đồng (BVSKTTCĐ) thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia phòng chống một số bệnh xã hội – bệnh dịch nguy hiểm HIV & AIDS, nay thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia về y tế Từ năm 2016, không còn chương trình mục tiêu quốc gia riêng cho chăm sóc sức khỏe tâm thần cộng đồng nữa [6]
Đề án 930 được Chính phủ phê duyệt năm 2009 về “Đầu tư xây dựng, cải tạo nâng cấp các bệnh viện chuyên khoa lao, tâm thần, ung bướu, chuyên khoa nhi và một số bệnh viện đa khoa tỉnh thuộc vùng miền núi khó khăn sử dụng vốn trái phiếu chính phủ và các nguồn vốn hợp pháp khác giai đoạn 2009-2013”
Đối với lĩnh vực xã hội, chính sách trợ giúp các đối tượng bảo trợ xã hội trong đó có bệnh nhân tâm thần thông qua Nghị định số 67/2007/NĐ-CP của Chính phủ về chính sách trợ giúp các đối tượng bảo trợ xã hội, và Nghị định
số 13 năm 2010 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định
số 67/2007/NĐ-CP của Chính phủ Đề án 32 được Chính phủ phê duyệt năm
2010 về phát triển nghề công tác xã hội ở Việt Nam, trong đó có CTXH trong chăm sóc y tế Đề án 1215 được Chính phủ phê duyệt năm 2011 về Trợ giúp
Trang 24xã hội và phục hồi chức năng cho người tâm thần, người rối nhiễu tâm trí dựa
vào cộng đồng giai đoạn 2011-2020 [6]
1.1.1.3 Mô hình tổ chức dịch vụ chăm sóc sức khỏe tâm thần (CSSKTT)
Thế giới
Dịch vụ CSSKTT được phân thành 3 nhóm chính: Dịch vụ CSSKTT lồng
ghép trong dịch vụ CSSK chung; Dịch vụ CSSKTT dựa vào cộng đồng, và
Dịch vụ CSSK tâm thần trong các cơ sở chuyên khoa [101] Dịch vụ
CSSKTT được trình bày tóm tắt theo sơ đồ sau:
Sơ đồ Hệ thống Chăm sóc Sức khỏe Tâm thần
Dịch vụ CSSKTT lồng ghép trong CSSK ban đầu bao gồm dịch vụ
CSSKTT trong các cơ sở CSSK ban đầu do các cán bộ CSSK ban đầu triển
khai với các dịch vụ sàng lọc, chẩn đoán, điều trị, chuyển tuyến, quản lý ca
Hệ thống y tế
Dịch vụ CSSKTT lồng
ghép trong CSSK
ban đầu
Dịch vụ CSSKTT dựa vào cộng đồng
Dịch vụ CSSKTT tại các
cơ sở chuyên khoa
Dịch vụ CSSKTT cộng đồng chính thức
Dịch vụ CSSKTT cộng đồng không chính thức
Dịch vụ trong bệnh viện chuyên khoa tâm thần
Dịch vụ trong bệnh viện tâm thần cho tù nhân
Trang 25bệnh, truyền thông giáo dục về SKTT Dịch vụ CSSKTT trong các bệnh viện
đa khoa trong hệ thống y tế như tuyến huyện, tuyến tỉnh hoặc tuyến trung ương bao gồm điều trị nội trú, cấp cứu tâm thần và điều trị ngoại trú
Dịch vụ CSSKTT dựa vào cộng đồng gồm có dịch vụ chính thức và không
chính thức Dịch vụ chính thức do cán bộ chuyên khoa hoặc bán chuyên khoa tâm thần cung cấp tại cộng đồng, và có liên kết với bệnh viện chuyên khoa tâm thần thông qua hệ thống chuyển tuyến hai chiều Các dịch vụ chính thức bao gồm phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng; dịch vụ lưu động chống khủng hoảng; điều trị và theo dõi tại nhà; trung tâm chăm sóc ban ngày; chương trình hỗ trợ nhà ở, việc làm, giáo dục; dịch vụ đường dây điện thoại nóng; dịch vụ cho đối tượng chuyên biệt như trẻ em, vị thành viên, người già…Dịch vụ không chính thức do các thành viên trong cộng đồng cung cấp như cộng tác viên y tế, nhóm tự lực; thành viên gia đình bệnh nhân… Các dịch vụ chủ yếu là sàng lọc để chuyển gửi; tham gia cấp cứu tâm thần như tự sát; cung cấp thông tin và truyền thông về CSSKTT…
Dịch vụ CSSKTT tại các cơ sở chuyên khoa tâm thần bao gồm cả cơ sở
công lập và tư nhân, và được coi là cơ sở chuyển tuyến của cơ sở CSSK ban đầu Các dịch vụ bao gồm điều trị nội trú, các dịch vụ cho các bệnh chuyên khoa như tự kỷ, rối loạn ăn uống, loạn thần, rối loạn tâm thần người già, pháp
y tâm thần.v.v…
Về tổ chức dịch vụ CSSKTT, rất ít quốc gia kết hợp đầy đủ các dịch vụ
CSSKTT như nói trên Nhiều nước, dịch vụ CSSKTT chủ yếu dựa vào hệ thống bệnh viện chuyên khoa tâm thần Một số nước đang phát triển từng bước mở rộng các dịch vụ CSSKTT thông qua việc lồng ghép vào cơ sở CSSK ban đầu Một vài nước thì dịch vụ CSSKTT cung cấp trong bệnh viện
đa khoa Tuy nhiên các dịch vụ này thường chỉ phục vụ cho một tỷ lệ nhỏ dân chúng ở thành thị, và một số vùng nông thông thí điểm Các nước phát triển hiện nay ít dựa vào bệnh viện tâm thần để cung cấp dịch vụ Trong ba thập kỷ
Trang 26qua, quá trình thu hẹp quy mô hoặc đóng cửa các bệnh viện tâm thần dẫn đến việc giảm số bệnh nhân điều trị tại các bệnh viện Tuy nhiên, một bất cập nảy sinh trong quá trình này là việc không cung cấp đủ các dịch vụ CSSKTT dựa vào cộng đồng để thay thế việc giảm dịch vụ tại bệnh viện tâm thần nên vẫn còn khoảng trống lớn trong CSSKTT [101]
Cả các nước phát triển và các nước đang phát triển đều đối mặt với các thách thức về dịch vụ CSSKTT Thách thức đối với các nước đang phát triển
là việc thiếu nguồn lực và thiếu dịch vụ Các nước phát triển thì cũng chưa đủ dịch vụ tại cộng đồng, và việc phát hiện điều trị các rối loạn tâm thần trong các cơ sở CSSK ban đầu còn hạn chế, và việc cân bằng giữa dịch vụ CSSKTT phổ quát và chuyên sâu Cải thiện cung cấp dịch vụ CSSKTT có thể đạt được thông qua việc tái định hướng nguồn lực vào các dịch vụ rẻ tiền hơn, với hiệu quả hợp lý và bao phủ được tỷ lệ lớn dân chúng Về mặt thực tiễn, đó là cung cấp dịch vụ CSSKTT thông qua CSSK ban đầu [101]
Bệnh viện chuyên khoa tâm thần tuyến tỉnh có nhiệm vụ khám và điều trị
bệnh tâm thần cho bệnh nhân trong toàn tỉnh; quản lý và điều trị ngoại trú cho bệnh nhân khi ra viện; tham gia chỉ đạo, quản lý, điều hành việc triển khai hoạt động dự án bảo vệ sức khỏe tâm thần cộng đồng tại tuyến xã phường,
Trang 27tham gia tuyên truyền vể CSSKTT; tham gia giảng dạy đào tạo cho sinh viên trường Trung cấp/cao đẳng y tế của tỉnh; nghiên cứu khoa học; và hợp tác quốc tế [38]
Khoa tâm thần trong bệnh viện đa khoa tỉnh với nhiệm vụ chính là khám
chữa bệnh nội trú và ngoại trú cho người rối loạn tâm thần đến khám tại bệnh viện đa khoa; là cơ sở thực hành lâm sàng cho sinh viên trường Trung cấp/cao đẳng y tế của tỉnh, tham gia chỉ đạo chuyên môn kỹ thuật cơ sở y tế tuyến dưới [38]
Khoa tâm thần trong trung tâm phòng chống bệnh xã hội tỉnh có nhiệm
vụ chỉ đạo, quản lý, điều hành, giám sát việc triển khai hoạt động dự án bảo
vệ sức khỏe tâm thần cộng đồng tại tuyến xã phường, triển khai khám chữa bệnh ngoại trú cho người rối loạn tâm thần đến khám tại trung tâm; tham gia tuyên truyền vể CSSKTT; Tổ chức và tham gia tập huấn bồi dưỡng về chuyên môn, nghiệp vụ cho cán bộ của tuyến huyện, xã [38]
Trung tâm y tế quận/huyện có một cán bộ kiêm nhiệm phụ trách dự án
bảo vệ SKTT cộng đồng, trực thuộc đội vệ sinh phòng dịch Cán bộ này tham gia vào việc cấp phát thuốc tâm thần cho tuyến xã phường; và giám sát, hướng dẫn kỹ thuật cho cán bộ tuyến xã phường trong việc triển khai dự án bảo về SKTTcộng đồng [38]
Trạm y tế xã/phường: Hiện nay 70% số xã/phường trên cả nước đã triển
khai mô hình lồng ghép CSSKTT cộng đồng trong hoạt động của trạm Nhiệm vụ cụ thể là phát hiện, quản lý và điều trị cho bệnh nhân tâm thần phân liệt, động kinh và thí điểm ở một số xã về trầm cảm với dịch vụ điều trị bằng thuốc là chính; tham gia hoạt động truyền thông về CSSKTT; hỗ trợ và giám sát hoạt động của cộng tác viên (CTV) y tế thôn/tổ/xóm Tại các xã/phường triển khai dự án bảo vệ SKTT cộng đồng, các CTV y tế thôn/tổ/xóm tham gia việc phát hiện bệnh, tư vấn chuyển gửi bệnh nhân đi khám tại trạm y tế xã,
Trang 28truyền thông nâng cao nhận thức cộng đồng về CSSKTT; hỗ trợ gia đình bệnh nhân trong việc tuân thủ dùng thuốc điều trị bệnh tâm thần [38]
Mạng lưới CSSKTT của ngành lao động, thương binh và xã hội gồm 26 trung tâm điều dưỡng phục hồi chức năng tâm thần tại 25 tỉnh thành trong cả nước Với những tỉnh thành không có trung tâm chuyên biệt cho người tâm thần, việc chăm sóc nuôi dưỡng người tâm thần được thực hiện trong trung tâm bảo trợ xã hội tỉnh Hoạt động của các cơ sở này giữa các tỉnh có sự khác nhau Tuy nhiên, nhiệm vụ chung là điều trị và PHCN các đối tượng tâm thần thuộc diện chính sách, thương binh, gia đình hộ nghèo, mồ côi Những người này là người mắc bệnh tâm thần thuộc các loại tâm thần phân liệt, rối loạn tâm thần đã được cơ quan y tế chuyên khoa tâm thần chữa trị nhiều lần nhưng chưa thuyên giảm [34]
Đối với tuyến huyện và xã, cán bộ thuộc phòng bảo trợ xã hội huyện hay
cán bộ lao động, thương binh xã hội xã/phường trực thuộc Ủy ban nhân dân xã/phường tham gia rất giới hạn vào việc CSSKTT Nếu có, họ tham gia phát hiện, và hướng dẫn thủ tục cho các đối tượng thuộc diện được hưởng chế độ trợ cấp bảo trợ xã hội theo như quy định [34]
Ngoài mạng lưới chính thức nói trên, mạng lưới không chính thức tham gia vào việc CSSKTT gồm có một số tổ chức phi chính phủ (NGO), doanh nghiệp xã hội (CSO), các tổ chức đoàn thể quần chúng như hội phụ nữ, hội chữ thập đỏ, tổ chức tôn giáo như chùa, nhà thờ v.v…Mạng lưới không chính thức chủ yếu triển khai thí điểm các dịch vụ CSSKTT cộng đồng trong phạm
vi hẹp (các NGOs, CSOs) bao gồm dịch vụ tư vấn tâm lý, thí điểm liệu pháp trị liệu tâm lý, thí điểm dịch vụ hỗ trợ xã hội cho người rối loạn tâm thần Các
tổ chức đoàn thể quần chúng tham gia vào phát hiện, giới thiệu chuyển gửi, và truyền thông nâng cao nhận thức cộng đồng về CSSKTT [7]
1.1.1.4 Nguồn lực trong chăm sóc sức khỏe tâm thần
Thế giới
Trang 29Theo báo cáo nghiên cứu của TCYTTG về Bản đồ Hệ thống CSSKTT Thế giới năm 2014, số lượng nhân viên CSSKTT trung bình toàn cầu là 9 tính trên 100.000 dân Có sự khác biệt rất lớn giữa các nước có mức thu nhập khác nhau, dưới 1 nhân viên trên 100,000 dân ở các nước thu nhập thấp, 3,2 nhân viên/100.000 dân ở các nước thu nhập trung bình thấp tới trên 50 nhân viên trên 100.000 dân ở các nước thu nhập cao Các nước khu vực châu Phi thấp nhất, 1,4 nhân viên/100.000 dân, khu vực Đông Nam Á 4,8 nhân viên/100.000 dân, cao nhất là châu Âu 43,5 nhân viên/100,000 dân và cao thứ hai là khu vực châu Mỹ, 16,2 nhân viên/100.000 dân [104]
Về phân bố các loại hình nguồn nhân lực, số lượng bác sỹ tâm thần trung bình toàn cầu/100.000 dân là 0,93 trong đó khu vực Đông Nam Á là 0,36, nhóm các nước thu nhập trung bình thấp là 0,38 [104]
Số giường bệnh tâm thần trung bình tính trên 100.000 dân từ dưới 5 ở nước thu nhập thấp đến trên 50 giường bệnh ở nước thu nhập cao Giường bệnh tâm thần trung bình ở khu vực Đông Nam Á là 2,33 giường/100.000 dân, ở các nước thu nhập trung bình thấp là 4,8 giường/100.000 dân Mặc dù
số bệnh viện tâm thần ở các nước thu nhập cao có xu hướng giảm đi so với năm 2011 nhưng vẫn có số giường bệnh tâm thần cao nhất, 41,8 giường/100.000 dân [104]
Việt Nam
Theo báo cáo của Tổ chức Y tế Thế giới năm 2014, Việt Nam được đánh giá là nước có nguồn nhân lực cho chăm sóc sức khỏe tâm thần thấp nhất thế giới Số nhân viên trung bình trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe tâm thần là 0,1/100.000 dân Tuy nhiên xét về phân bố các loại hình nguồn nhân lực thì số bác sỹ tâm thần/100.000 dân là 0,91, gần bằng trung bình trung của toàn cầu (0,93/100.000 dân), cao hơn trung bình trung của các nước khu vực Đông Nam Á (0,4/100.000 dân), cũng như nhóm các nước thu nhập trung bình thấp (0,4/100.000 dân) [104]
Trang 30Ngược lại, số cán bộ tâm lý của Việt Nam rất thấp, chỉ 0,09 cán bộ/100.000 dân, thấp hơn gần 10 lần so với trung bình trung toàn cầu là 0,7 cán bộ/100.000 dân, thấp hơn trung bình trung của nhóm các nước có thu nhập trung bình thấp 0,2/100.000 dân, gần bằng trung bình trung của khu vực Đông Nam Á, là 0,1 cán bộ/100.000 dân [104]
Ngoài thiếu hụt về số lượng, năng lực chuyên môn trong chăm sóc sức khỏe tâm thần của các cán bộ y tế, đặc biệt là ở tuyến huyện, xã còn hạn chế Việc chẩn đoán và điều trị rối loạn tâm thần tại cộng đồng phụ thuộc chủ yếu vào cán bộ y tế bệnh viện tâm thần tuyến tỉnh hoặc Trung Ương Chương trình đào tạo bác sỹ đa khoa 6 năm, thời lượng học về chuyên ngành tâm thần chỉ có 03 tuần và chương trình đào tạo cũng chưa được cập nhật
Việt Nam cũng như với nhiều nước khác, tâm thần học là một trong ít chuyên ngành không được sinh viên y khoa sau đại học yêu thích.Không có điều dưỡng tâm thần, nhà tâm lý, nhân viên xã hội tâm thần, nhà trị liệu hoặc các cán bộ y tế tâm thần tốt nghiệp có tối thiểu 01 năm đào tạo trong lĩnh vực sức khỏe tâm thần trong cùng một thời điểm [96]
1.1.2 Nghiên cứu về trị liệu tâm lý
1.1.2.1 Lịch sử hình thành và phát triển dịch vụ trị liệu tâm lý
Đối với thế giới
Manh nha của việc áp dụng biện pháp tâm lý trong giải quyết các vấn đề của con người xuất phát từ nhận thức về các nguyên nhân liên quan đến yếu
tố tâm lý Giữa thế kỷ 16, Mercury cho rằng rối loạn trầm cảm do tổn thất tình cảm gây ra Các học giả thế kỷ 17 đề cập tới vai trò của sang chấn tâm lý trong sự phát sinh và phát triển bệnh tâm thần Thế kỷ 18 được đánh dấu bởi bác sỹ người Pháp Philippe Pinel, người được xem là tạo cuộc cách mạng giải phóng quan niệm và cách hành xử bằng xiềng xích đối với bệnh nhân tâm thần, và có công trong việc phát triển cách tiếp cận tâm lý nhân bản hơn trong
Trang 31việc chữa trị bệnh nhân tâm thần, đặt nền móng cho cách trị liệu dựa trên nền tảng của đạo lý, cách thức trị liệu phát triển mạnh trong thế kỷ 19 [17]
Nhiều tác giả xem mốc phát triển dịch vụ tâm lý được đánh dấu bởi sự ra đời của phòng thực nghiệm tâm lý đầu tiên trên thế giới do Wilhelm Wundt (1832 – 1920), nhà tâm lý học và sinh lý học người Đức, sáng lập vào năm
1879 tại Đại học Leipzig Hơn 10 năm sau, năm 1892, sự ra đời của Hội Tâm
lý học Hoa Kỳ (APA) do giáo sư Stanley Hall khởi xướng là nền tảng cho việc nghiên cứu, ứng dụng tâm lý trong đời sống Bốn năm sau, năm 1896, Lightner Witmer, nhà tâm lý học Mỹ, thành lập phòng khám tâm lý đầu tiên trên thế giới tại trường Đại học Pennsylvania, Mỹ, và là người đầu tiên đưa ra thuật ngữ tâm lý học lâm sàng Ông cũng là người sáng lập ra Tạp chí Tâm lý Lâm sàng đầu tiên và viện trường lâm sàng đầu tiên vào năm 1907 [17]
Cũng trong khoảng thời gian trên, tại Châu Âu, sự ra đời của lý thuyết phân tích tâm lý của bác sỹ thần kinh và tâm lý người Áo, Sigmund Freud, được xem tạo ra cuộc cách mạng trong khoa học tâm lý mà cốt lõi là tâm lý lâm sàng Freud đưa ra cách lý giải hoàn toàn mới về các vấn đề rối nhiễu tâm lý và cách tiếp cận phân tâm trong điều trị những rối nhiễu tâm lý Từ khi
ra đời, phân tâm học đã trở thành xu hướng chủ đạo trong trị liệu tâm lý không chỉ ở Châu Âu, mà còn cả ở Châu Mỹ trong thế kỷ 19, và là cơ sở cho cách tiếp cận trị liệu tâm lý sau này [17]
Thế kỷ 19 và 20 chứng kiến sự ra đời của nhiều trường phái trị liệu tâm
lý với các cách tiếp cận khác nhau với mong muốn tìm ra cách thức trị liệu tâm lý thực sự khách quan, khoa học và hiệu quả nhất Các trường phái tâm lý bao gồm trường phái hành vi do John Broadus Watson, nhà tâm lý học người
Mỹ, trình bày tại Đại học Columbia vào năm 1913 trong đó việc trị liệu tâm
lý tập trung vào thay đổi hành vi; trường phái tâm lý học cấu trúc Gestalt do
bộ ba nhà tâm lý học người Đức, M.Wertheimer, V.Kohler ; K.Koffka, xây dựng cũng trong năm 1913 theo mẫu của vật lý học và tập trung nghiên cứu
Trang 32quy luật tri giác Tâm lý học hoạt động với đại diện là nhà tâm lý Liên Xô, Lev Semyonovich Vygotsky, xây dựng trên tiền đề tư tưởng Triết học Mác-
Lê Nin với nguyên tắc coi tâm lý là hoạt động và trị liệu tâm lý dựa trên can thiệp vào quá trình hoạt động của con người
Nửa cuối của thế kỉ 20, các trường phái trị liệu tâm lý được xây dựng và phát triển trong việc xem xét cả hai cách tiếp cận sinh học và tâm lý học Trường phái nhân văn do Carl Rogers, nhà tâm lý học người Mỹ, khởi xướng
và phát triển trong hai thập niên 1940s và 1950s với cách trị liệu lấy thân chủ làm trọng tâm Tiếp theo là sự xuất hiện của tiếp cận nhận thức mà cha đẻ là Jean Piaget, nhà tâm lý học Thụy Sỹ, với phương pháp trị liệu tập trung vào việc tái cấu trúc nhận thức, tiếp cận nhận thức hành vi mà dẫn đầu là nhà tâm
lý học Hans Eysenck và Stanley Rachman ở Anh, Aaron Beck và Donald Meichenbaum ở Mĩ và Canada Hướng trị liệu này được áp dụng rộng rãi trên thế giới từ cuối thế kỷ 20 đến nay
Vào đầu thế kỷ 21, với sự phát triển không ngừng và nhanh chóng của các mô hình trị liệu tâm lý trong bối cảnh tính đa dạng và phức tạp của các thách thức trong cuộc sống đương đại, nhiều nhà tâm lý trị liệu trên thế giới nghiên cứu tìm ra cách thức trị liệu tâm lý hiệu quả nhất trong việc giải quyết các vấn đề của dân chúng hiện nay Jay Lebow, nhà tâm lý lâm sàng, nhà trị liệu hôn nhân và gia đình của Đại học Northwestern, Chicago, Mỹ xuất bản
cuốn sách: “Trị liệu tâm lý thế kỷ 21: Các cách tiếp cận đương đại về lý
thuyết và thực hành” Jay Lebow và nhiều chuyên gia tâm lý lâm sàng thống
nhất rằng không có một tiếp cận trị liệu nào giải quyết được tất cả vấn đề tâm
lý đa dạng của con người Vì thế trị liệu tâm lý hiện nay theo xu hướng chiết trung, áp dụng các điểm mạnh của các cách tiếp cận trong việc trị liệu tâm lý cho con người Đồng thời tâm lý học phương tây cũng có xu hướng nghiên cứu, phát triển và lồng ghép những cách tiếp cận tâm lý học phương đông trong quá trình trị liệu như tiếp cận chánh niệm, như hệ thống gia đình
Trang 33Trị liệu tâm lý ở Việt Nam
Tại Việt Nam, nghiên cứu tâm lý nói chung và trị liệu tâm lý nói riêng là lĩnh vực mới và chưa được quan tâm nhiều Mốc đánh dấu sự ra đời của tâm
lý trị liệu ở Việt Nam được nhiều người nói đến là sự ra đời của Trung tâm Nghiên cứu Tâm lý Trẻ em N-T năm 1989 do bác sỹ Nguyễn Khắc Viện, nhà văn hoá, nhà tâm lý giáo dục, nhà tâm thần nhi sáng lập
Trung tâm N-T thực hiện các hoạt động nghiên cứu tâm lý bình thường
và tâm bệnh lý của trẻ em dưới 15 tuổi, chẩn đoán trẻ em có những biểu hiện tâm lý bất thường, thực nghiệm chăm sóc, dạy dỗ, giúp gia đình giải quyết những trường hợp trẻ em có rối nhiễu hoặc khó khăn tâm lý, đào tạo các cán
bộ nghiên cứu và các giáo viên cho những hoạt động trên [17]
Vào năm 1991, Trung tâm N-T phối hợp với Bệnh viện Đa khoa Đống
Đa thành lập Phòng thăm khám, chăm sóc và chữa trị Tâm lý – Y học – Giáo dục đầu tiên với sự tài trợ của tổ chức Cứu trợ Trẻ em Thuỵ Điển Tháng 9 năm 1997, Văn phòng chính phủ chính thức cho phép đưa môn học “Tâm lý học lâm sàng” vào giảng dạy ở Khoa Tâm lý học, trường Đại học Khoa học
Xã hội và Nhân văn, ĐHQGHN và một số trường đại học khác [17]
Tiếp theo sự ra đời của Trung tâm N-T, một số cơ sở y tế ở Hà Nội và một số tỉnh thành ở Việt Nam đã thành lập các đơn vị trị liệu tâm lý Tại Hà Nội, có phòng thăm khám và chăm chữa tâm lý nằm trong khoa tâm bệnh thuộc Bệnh viện Nhi Trung Ương, phòng khám thuộc bệnh viện Saint Paul, phòng khám tại Viện Sức khỏe Tâm thần, Bệnh viện Bạch Mai, Bệnh viện Tâm thần Trung Ương 1 và một số phòng thăm khám, chăm chữa tâm lý được thành lập ở các tỉnh như Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Thừa Thiên Huế, Khánh Hòa, v.v…
Viện Tâm lý học thuộc Viện Khoa học Xã hội Việt Nam thành lập Trung tâm Tâm lý học lâm sàng vào tháng 10 năm 2005 Hiện nay Trung tâm đón tiếp các bệnh nhân đa dạng về vấn đề tâm lý, chủ yếu là trẻ em và thanh thiếu
Trang 34niên như các trường hợp chậm phát triển ngôn ngữ, trầm cảm, nghiện trò chơi games, Tâm lý học lâm sàng tập trung vào nghiên cứu, tìm hiểu và can thiệp các vấn đề về tâm lý và sức khỏe tinh thần
Trong hơn 10 năm trở lại đây, dịch vụ tâm lý ở Việt Nam phát triển nhanh chóng và muôn hình vạn trạng, từ hình thức cung cấp, người làm tâm
lý, địa điểm hành nghề và chi phí Tuy vậy, hình thức phổ biến nhất là tư vấn tâm lý thông qua các tổng đài điện thoại Một hình thức hỗ trợ tâm lý đang phát triển nhanh và nhu cầu lớn là tư vấn tâm lý trong trường học hay còn gọi
Nghiên cứu của Nguyễn Ngọc Quỳnh trên 62 người tự nhận là nhà trị liệu tâm lý cho người rối loạn tâm thần ở 14 cơ sở khám chữa bệnh tâm thần của Hà Nội, Đà Nẵng và Thành phố Hồ Chí Minh cho thấy hơn một nửa nhà trị liệu chỉ có bằng đại học và thấp hơn Đa số nhà trị liệu hiểu biết ít về cơ chế của các cách tiếp cận trị liệu, quy trình trị liệu tâm lý, và cơ chế tâm bệnh học của các phương pháp trị liệu tâm lý dựa trên bằng chứng [84]
Trang 351.1.2.2 Can thiệp trị liệu tâm lý trong hệ thống chăm sóc sức khỏe
Từ lâu nhiều bằng chứng nghiên cứu khoa học trên thế giới đã chỉ ra can thiệp tâm lý là trị liệu có hiệu quả trong việc cải thiện sức khỏe tinh thần của dân chúng Vì thế thực hành trị liệu tâm lý được triển khai phổ biến trên thế giới đặc biệt ở các nước phát triển, và không chỉ bó hẹp trong lĩnh vực y khoa
mà mở rộng ra nhiều lĩnh vực khác, không chỉ tập trung tại cơ sở và còn mở rộng ra cộng đồng
Tại Anh, Viện Chăm sóc Sức khỏe Ưu việt Quốc Gia (NICE) đã đề xuất nhiều dịch vụ trị liệu tâm lý trở thành can thiệp đầu tay/can thiệp bước một Năm 2007, Chính phủ Anh đã phê chuẩn một chương trình toàn quốc về việc tăng cường khả năng tiếp cận của dân chúng Anh tới dịch vụ trị liệu tâm lý Điều luật về Chăm sóc Y tế và Xã hội năm 2012 đã thay đổi cách thức cung cấp dịch vụ tâm lý ở đó dịch vụ tâm lý cần mở rộng tại tuyến cộng đồng hơn Các tổ chức hội nghề nghiệp, trường đại học, các cơ sở cung cấp dịch vụ và tổ chức từ thiện ở Anh đã thành lập Liên minh “Chúng ta cần nói chuyện: Cần dịch vụ tâm lý phù hợp vào thời gian phù hợp” để duy trì và phát triển dịch vụ tâm lý trị liệu trong hệ thống cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe toàn quốc [79]
Tại Úc, vào năm 2001, Chính phủ Liên bang đã áp dụng Chương trình Tiếp cận Dịch vụ Tâm lý Liên kết cho phép thầy thuốc đa khoa chuyển thân chủ tới các dịch vụ trị liệu tâm lý chuyên sâu và kinh phí cho can thiệp trị liệu tâm lý được chính phủ chi trả Trị liệu tâm lý có thể được cung cấp bởi năm loại hình Loại hình thứ nhất là tham vấn tâm lý dành cho các vấn đề liên quan đến cuộc sống hàng ngày như vấn đề hôn nhân, gia đình, căng thẳng cuộc sống, rối loạn chức năng tình dục, khủng hoảng trong cuộc sống cấp tính hay mạn tính
Thứ hai là tâm lý y học cho các vấn đề sức khỏe thể chất có liên quan đến hành vi và lối sống, đặc biệt là các bệnh mạn tính như tim mạch, tiểu đường, hen phế quản, ung thư Can thiệp tâm lý giúp phòng bệnh và thúc đẩy
Trang 36hành vi sức khỏe tích cực Thứ ba là tâm lý lâm sàng về thần kinh để quản lý các vấn đề nhận thức, cảm xúc và hành vi liên quan đến rối loạn chức năng não bộ như động kinh, đột quỵ, chấn thương đầu và các bệnh thần kinh khác Dịch vụ này cũng dành cho vấn đề về nghiện chất, rượu, suy giảm trí nhớ và tại các cơ sở tâm thần
Thứ tư là tâm lý giáo dục và phát triển, gắn kết với hệ thống giáo dục để
hỗ trợ các vấn đề tâm lý liên quan đến quá trình phát triển của cá nhân như rối loạn gắn bó, rối loạn cảm xúc hành vi ở tuổi dậy thì Thứ năm là dịch vụ tâm
lý lâm sàng hỗ trợ tất cả các vấn sức khỏe tâm thần kể cả rối loạn liên quan đến sinh học, di truyền, tâm căn, và xã hội Đồng thời nhà tâm lý lâm sàng tham gia vào việc phát triển và triển khai các chương trình phòng ngừa và thúc đẩy sức khỏe tâm thần nói chung của dân chúng [63]
Tại Mỹ, chương trình bảo hiểm Medicare, Medicaid, chương trình cung cấp và chi trả dịch vụ chăm sóc sức khỏe lớn nhất tại Mỹ và một số chương trình bảo hiểm thương mại khác, có bao gồm trong gói dịch vụ nhiều loại hình can thiệp tâm lý khác nhau, đa phần là liệu pháp nhận thức hành vi (CBT), liệu pháp tương tác liên cá nhân (IPT) và phân tâm học Viện quốc gia về sức khỏe và thực hành lâm sàng từ năm 2005, Hội Tâm thần học Mỹ năm 2006 đã đưa ra hướng dẫn lâm sàng trong đó liệu pháp tâm lý được sử dụng đơn lẻ hoặc kết hợp với hóa trị liệu cho các rối loạn tâm thần [74]
Tuy nhiên, theo số liệu điều tra quốc gia năm 2010 tại Mỹ tiến hành bởi Olfson and Marcus, can thiệp tâm lý riêng biệt hay sử dụng kết hợp với hóa trị liệu giảm một cách đáng kể trong những thập kỷ vừa qua Một trong những
lý do là thù lao tài chính không đủ khuyến khích, đào tạo về các liệu pháp tâm
lý còn thiếu, thái độ của người cung cấp dịch vụ về việc áp dụng các trị liệu dựa vào bằng chứng, và rào cản về phía người sử dụng dịch vụ trong việc tiếp cận và duy trì việc tham gia vào quá trình trị liệu tâm lý [84]
Để thúc đẩy sự phát triển và áp dụng rộng rãi hơn trị liệu tâm lý, cách thức can thiệp được chứng minh có hiệu quả trên cơ sở xem xét, phân tích
Trang 37hơn 50 nghiên cứu, tháng 8/2012, Hiệp hội Tâm Lý Mỹ ban hành Nghị quyết chính thức công nhận hiệu quả của tâm lý trị liệu, và đề xuất đưa tâm lý trị liệu vào trong hệ thống chăm sóc sức khỏe như một thực hành y khoa dựa trên bằng chứng [47]
Tại Việt Nam, từ những thập niên 1980s, những trung tâm tư vấn và hỗ trợ tâm lý bắt đầu ra đời [29] Trong khoảng 10 năm trở lại đây, dịch vụ tâm
lý ở Việt Nam phát triển nhanh chóng và trở nên muôn hình vạn trạng, từ hình thức cung cấp, người làm tâm lý, chi phí cho đến địa điểm hành nghề
Chưa có điều tra, nghiên cứu về thực trạng cung cấp dịch vụ trị liệu tâm
lý ở Việt Nam để trả lời câu hỏi về dịch vụ cụ thể nào, về hướng tiếp cận trị liệu nào đang áp dụng, hiệu quả trên thân chủ ra sao, chi trả dịch vụ trị liệu tâm lý thế nào, v.v Vì thế, không có số liệu, bằng chứng chính xác về thực hành can thiệp tâm lý ở Việt Nam mà chỉ qua nguồn tin không chính thống trên báo chí, v.v
Báo Dân trí, với tiêu đề: “Nghề tâm lý, dễ mà khó” viết rằng hình thức cung cấp trị liệu tâm lý đa dạng, có thể đến tận nhà làm việc với trẻ có vấn đề
về hành vi, chậm phát triển, tự kỷ như một số sinh viên tâm lý đã và đang làm Tuy nhiên hình thức phổ biến nhất vẫn là tư vấn thông qua các tổng đài điện thoại Tư vấn hay trị liệu trực tiếp thì ít phổ biến hơn, chủ yếu ở các chuyên khoa bệnh viện, phần vì nhu cầu ít hơn, nhưng chủ yếu là rất ít người
tự tin về đào tạo, trình độ chuyên môn hay kinh nghiệm để dám đương đầu trực tiếp với thân chủ Hình thức can thiệp tâm lý khác đang phát triển nhanh với nhu cầu lớn là tư vấn tâm lý trong trường học, hay tham vấn học đường Khảo sát của trường ĐH Sư phạm Hà Nội cho thấy 63,7% trường mong muốn
có phòng tư vấn tâm lý học đường tại trường mình và nhiều trường đang tiến hành triển khai [106]
Cơ sở cung cấp can thiệp tâm lý có ở cả hệ thống công lập và hệ thống ngoài công lập Cơ sở công lập gồm cơ sở chăm sóc sức khỏe thuộc ngành y
tế, cơ sở thuộc ngành lao động, thương binh và xã hội, cơ sở y tế học đường
Trang 38thuộc ngành giáo dục Hệ thống ngoài công lập có các cơ sở tư nhân, các tổ chức phi chính phủ
Với hệ thống y tế, can thiệp trị liệu tâm lý đa phần tập trung tại các cở sở chuyên khoa tâm thần Một số ít tại cơ sở điều trị nhi khoa Với ngành lao động thương binh xã hội, hỗ trợ tâm lý rất ít, và nếu có thường ở các trung tâm bảo trợ xã hội chuyên nuôi dưỡng và chăm sóc người bệnh tâm thần [34] Với ngành giáo dục, một số dự án thí điểm có cung cấp dịch vụ tư vấn, tham vấn tâm lý ở trường học tập trung chủ yếu ở hai thành phố lớn là Hà Nội và
TP Hồ Chí Minh
Với các tổ chức phi chính phủ, mặc dù quy mô dịch vụ do các tổ chức này cung cấp còn hạn chế, nhưng lại tương đối đa dạng về loại hình dịch vụ bao gồm cả trị liệu tâm lý dựa vào nguồn tài trợ của các dự án Đối tượng chính của dịch vụ can thiệp tâm lý của các tổ chức này tập trung chủ yếu vào nhóm dễ bị tổn thương như trẻ em, phụ nữ có thai, người già, đối tượng bị stress, người nhiễm HIV, người bị trầm cảm [7]
Với cơ sở tư nhân, hiện có khoảng 40- 50 trung tâm tư vấn tâm lý tập trung chính ở TP Hồ Chí Minh và Hà Nội Phần lớn các trung tâm tư vấn tâm
lý hiện nay chỉ mới làm công việc tư vấn tâm lý chứ chưa thực hiện được trị liệu tâm lý có chất lượng và hiệu quả Một số trung tâm đang thực hiện trị liệu tâm lý với sự hướng dẫn của chuyên gia nước ngoài [106]
Các trường phái trị liệu tâm lý
Có rất nhiều dạng liệu pháp tâm lý khác nhau Theo Alan E.Kazdin, tiến
sỹ tâm lý lâm sàng, nguyên là Chủ tịch Hội Tâm lý Lâm sàng Mỹ năm 1998,
có khoảng 400 dạng liệu pháp tâm lý dành cho người lớn và 200 dạng dành cho trẻ em [101] Cũng có rất nhiều cách phân loại trị liệu tâm lý khác nhau, dựa trên số lượng bệnh nhân tham gia, dựa vào định hướng lý thuyết Dựa trên số lượng bệnh nhân, có liệu pháp tâm lý cá nhân, liệu pháp cặp đôi/hôn nhân; liệu pháp tâm lý nhóm; liệu pháp gia đình Trong đó, liệu pháp tâm lý
cá nhân chiếm ưu thế
Trang 39Dựa theo định hướng lý thuyết trị liệu, liệu pháp tâm lý có thể chia thành các liệu pháp dựa trên kĩ thuật ám thị; liệu pháp phân tích tâm lý; liệu pháp hành vi; liệu pháp nhận thức; liệu pháp hành vi-nhận thức; liệu pháp tâm lý nhân văn – hiện sinh; liệu pháp tâm lý liên nhân cách [17]
Cấu trúc trị liệu tâm lý
Các chuyên gia trị liệu tâm lý trên thế giới, trong các cuốn sách và bài báo của mình, như Alan Rappoport (1996) với : “Cấu trúc của trị liệu tâm lý: Hình thành kế hoạch chẩn đoán theo lý thuyết kiểm soát-điều khiển”, Joan Davidson, Jacqueline B Persons, and Michael A Tompkins (2000) với “Cấu trúc của liệu trình trị liệu”; J Beck (2011) , v.v… đều thống nhất rằng cấu trúc trị liệu là nguyên liệu quan trọng, góp phần trong hiệu quả trị liệu tâm lý Khách hàng đạt kết quả trị liệu tốt hơn nếu nhà trị liệu tuân thủ các cấu trúc trị liệu tâm lý [45], [49], [73]
Cấu trúc trị liệu được các chuyên gia trị liệu tâm lý thống nhất nêu ra gồm các phần chính: đánh giá tâm lý để định hình trường hợp, xác định vấn
đề, các yếu tố phát sinh vấn đề, các yếu tố duy trì vấn đề; xác định mục tiêu
và kế hoạch trị liệu ở đó lựa chọn vấn đề tâm lý cần giải quyết, và cách thức giải quyết vấn đề; tiến hành can thiệp tâm lý; và kết thúc can thiệp Mối quan
hệ trị liệu giữa nhà trị liệu và khách hàng cần được xây dựng và duy trì trong suốt quá trình trị liệu [45], [49], [73]
Đánh giá tâm lý để phục vụ cho liệu pháp tâm lý không chỉ là xác định dạng rối loạn và mức độ của nó mà còn nhằm đánh giá những khía cạnh tâm
lý còn được bảo toàn ở người bệnh, hay nói cách khác là tìm ra điểm mạnh của họ với mục tiêu trị liệu là nhà trị liệu tâm lý không làm thay khách hàng Ngược lại, nhà trị liệu chỉ gợi mở hoặc phân tích giúp khách hàng nâng cao sự hiểu biết về bản thân, về nhận thức, cảm xúc, hành vi của bản thân để tự thay đổi, để khỏe mạnh một cách độc lập, không lệ thuộc vào nhà trị liệu Can thiệp tâm lý dài hay ngắn phụ thuộc vào từng cách tiếp cận trị liệu, phụ thuộc
Trang 40vào vấn đề và mức độ trầm trọng của vấn đề rối nhiễu tâm trí, thông thường khoảng 3 tháng hoặc kéo dài đến 6 tháng, với tần suất 2 buổi/tuần trong những tuần đầu tiên và sau đó là 1 buổi/tuần ở thời gian tiếp theo Sự cải thiện này không đồng nhất với việc trị liệu đã hoàn thành một cách thành công [17] Trong bài báo “Liều lượng trị liệu tâm lý như thế nào là đủ”, Scott W.Kadera, Michael J Lambert và Alison A Andrew nêu ra kết quả của nhiều nghiên cứu trước đây cho rằng chỉ khoảng 25% khách hàng tham gia trị liệu tâm lý được cải thiện sau một buổi trị liệu, 50% khách hàng được cải thiện sau 8 buổi trị liệu, 75% khách hàng cải thiện đáng kể tình trạng của mình sau
6 tháng trị liệu Tuy nhiên, trong nghiên cứu của họ trên khách hàng trị liệu tại phòng khám ngoại trú, chỉ 22% được cải thiện sau 8 buổi trị liệu [92]
Mặc dù không có quy định chuẩn về thời gian cho mỗi buổi trị liệu tâm
lý như thế nào là hợp lý nhất, nhưng theo thực hành thông thường của các chuyên gia tâm lý lâm sàng trong quá trình trị liệu cho khách hàng, mỗi buổi trị liệu tâm lý thường khoảng 60 phút Khoảng thời gian đó đủ để trao đổi về những vấn đề hiện đang được khách hàng quan tâm, về những kỹ năng khách hàng đã trải nghiệm, về việc thực hành những kỹ năng mới và cách thức triển khai tại nhà Ngoài ra, còn lý do khác là quy định chi trả của bảo hiểm y tế cho dịch vụ trị liệu tâm lý Theo mã bảo hiểm áp dụng năm 2013 tại Mỹ, thời gian trị liệu được thanh toán bảo hiểm là 50 phút tương tác trực tiếp giữa nhà trị liệu và khách hàng Nếu tính thêm thời gian ghi chép thì một buổi trị liệu
sẽ khoảng 60 phút [88], [92]
1.1.2.3 Các cách tiếp cận trị liệu tâm lý
Khi thực hành trị liệu tâm lý, nhà trị liệu thường dựa trên cách tiếp cận trị liệu cụ thể, cơ sở để hiểu tại sao con người đau khổ hay khiếm khuyết, lý giải
về nguyên nhân dẫn đến đau khổ để từ đó định hướng cho can thiệp Hiện trên thế giới có hàng trăm lý thuyết giải thích vấn đề và định hướng trị liệu tâm lý trên thế giới [60] Trong phần tổng quan này, tác giả tóm tắt một số lý thuyết