Tư liệu về di tích Lệ Chi Viên nơi đã xảy ra vụ án oan động trời của dòng họ Danh nhân văn hóa thế giới Nguyễn Trãi và vợ là Lễ Nghi học sĩ Nguyễn Thị Lộ chưa thật sự được quan tâm khai
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM LỊCH SỬ CHUYÊNNGÀNH: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
(BỘ MÔN LỊCH SỬ)
MÃ SỐ:60140111
Cán bộ hướng dẫn: TS.Nguyễn Văn Ninh
Hà Nội - 2016
Trang 3Đồng thời, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Nguyễn Văn
Ninh- người đã tận tình hướng dẫn em trong suốt quá trình làm luận văn Sự
chỉ bảo ân cần của thầy là nguồn động viên giúp em thực hiện đề tài này
Em xin cảm ơn sự giúp đỡ của nhà giáo Hoàng Đạo Chúc – người đã cung cấp cho em những tư liệu quý giá để em thực hiện một số nội dung của
bè để luận văn của em được hoàn thiện hơn
Hà Nội, ngày 25 tháng 11 năm 2016
Học viên thực hiện
Trương Thị Hường
Trang 4DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
THCS : Trung học cơ sở THPT : Trung học phổ thông
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT ii
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 9
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 10
5 Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 10
6 Giả thuyết khoa học 11
7 Đóng góp của luận văn 11
8 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn 12
9 Cấu trúc của luận văn 12
CHƯƠNG 1:CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC KHAI THÁC VÀ SỬ DỤNG TƯ LIỆU VỀ DI TÍCH LỆ CHI VIÊN TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG THCS HUYỆN GIA BÌNH 13
1.1 Cơ sở lý luận 13
1.1.1 Khái niệm liên quan 13
1.1.2 Phân loại di tích 17
1.1.3 Xuất phát điểm của vấn đề khai thác và sử dụng tư liệu về di tích lịch sử - văn hóa trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông 18
1.1.4 Vai trò, ý nghĩa của việc khai thác và sử dụng tư liệu di tích Lệ Chi Viên trong dạy học lịch sử ở trường THCS nói chung, ở huyện Gia Bình nói riêng 27
1.1.5 Những yêu cầu đối với việc khai thác và sử dụng tư liệu về di tích trong dạy học lịch sử ở trường THCS 29
1.1.6 Nội dung di tích lịch sử Lệ Chi Viên 30
Trang 61.2 Thực tiễn việc khai thác và sử dụng tư liệu di tích lịch sử - văn hóa ở địa phương trong dạy học Lịch sử ở trường THCS huyện Gia
Bình 36
1.2.1 Thực trạng về khai thác và sử dụng di tích lịch sử nói chung và di tích lịch sử Lệ Chi Viên nói riêng ở huyện Gia Bình 36
1.2.2 Thực trạng khai thác và sử dụng tư liệu về di tích Lệ Chi Viên trong dạy học Lịch sử lớp 7 ở trường THCS huyện Gia Bình 38
CHƯƠNG 2:HÌNH THỨC, BIỆN PHÁP SỬ DỤNG TƯ LIỆU VỀ DI TÍCH LỆ CHI VIÊN TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG THCSHUYỆN GIA BÌNH 49
2.1 Vị trí, mục tiêu, nội dung cơ bản của lịch sử Việt Nam lớp 7 trong chương trình THCS 49
2.1.1 Vị trí 49
2.1.2 Mục tiêu 51
2.1.3 Nội dung 53
2.2 Hình thức, biện pháp sử dụng tư liệu về di tích Lệ Chi Viên trong dạy học lịch sử Việt Nam lớp 7 ở trường THCS huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh 55
2.2.1 Một số yêu cầu khi sử dụng tư liệu về di tích 55
2.2.2 Sử dụng tư liệu về di tích Lệ Chi Viên trong bài nội khóa 59
2.2.3 Sử dụng tư liệu về di tích Lệ Chi Viên trong dạy học lịch sử địa phương 64
2.2.4 Sử dụng tư liệu về di tích Lệ Chi Viên trong hoạt động ngoại khóa 67
2.3 Thực nghiệm sư phạm 83
2.3.1 Mục đích yêu cầu thực nghiệm 83
2.3.2 Nội dung thực nghiệm 83
2.3.3 Phương pháp thực nghiệm 83
KẾT LUẬN 86
TÀI LIỆU THAM KHẢO 88
PHỤ LỤC 91
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong nhiều năm trở lại đây, toàn xã hội đã chứng kiến hiện tượng các
em học sinh ở các cấp học không hứng thú với môn Lịch sử, không những thế kết quả điểm thi Lịch sử trong các kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông, tuyển sinh vào đại học điểm rất thấp và ngày càng ít học sinh lựa chọn Lịch
sử là môn thi tốt nghiệp Thực trạng đó do nhiều nguyên nhân và cần phải có các giải pháp khắc phục khác nhau, song vấn đề đổi mới phương pháp dạy học Lịch sử là vấn đề được nhiều nhà nghiên cứu lịch sử và giáo dục quan tâm nhằm khơi dậy hứng thú, niềm say mê tìm hiểu về lịch sử của thế giới, dân tộc đối với mỗi học sinh Đổi mới phương pháp dạy học nói chung và phương pháp dạy học lịch sử nói riêng được Đảng quan tâm chỉ đạo Nghị
quyết Hội nghị TƯ 8 khóa XI năm 2013 đã chỉ rõ: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ
phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực Chuyển từ học chủ yếu trên lớp sang tổ chức hình thức học tập đa dạng, chú ý các hoạt động xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học” Tại Điều 5 Luật giáo dục Việt Nam năm 2005 cũng chỉ
rõ:“Phương pháp giáo dục phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư
duy sáng tạo của người học; bồi dưỡng cho người học năng lực tự học, khả năng làm việc theo nhóm, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh”
Môn Lịch sử với đặc thù: nhiều mốc thời gian, sự kiện, nhân vật…nên học sinh rất khó nhớ, không gian học tập trong nhà trường phần nào khiến các
em cảm thấy lịch sử là gì đó rất khô khan, phức tạp Do vậy, một trong những nội dung của đổi mới phương pháp dạy học là thay đổi môi trường học tập không chỉ học lịch sử trong nhà trường mà học sinh cần được học, tìm hiểu
Trang 8lịch sử ở ngoài nhà trường cụ thể là tại bảo tàng hay tại các di tích lịch sử Ở
đó học sinh sẽ thấy được, cảm nhận được, trải nghiệm được những sự việc đã diễn ra trong quá khứ một cách chân thực, sống động nhất Qua đó, người giáo viên thực hiện được chức năng giáo dục truyền thống lịch sử, giáo dục tư tưởng, đạo đức, cảm xúc… Với phương châm “học mà chơi, chơi mà học” ở các di tích lịch sử sẽ giúp giờ học lịch sử không còn đơn điệu, nhàm chán, nặng nề đối với học sinh
Nhận thức là quá trình phản ánh hiện thực khách quan gắn liền với hoạt động thực tiễn VI Lênin đã khái quát quá trình đó trong tác phẩm: Bút ký triết học như sau: "từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn - đó là con đường biện chứng của sự nhận thức chân
lý, của sự nhận thức hiện thực khách quan Bằng phương pháp giáo dục trực quan sinh động tại bảo tàng, di tích học sinh được trải nghiệm thông qua các hiện vật, tư liệu, hình ảnh… giúp các em phát huy được tính chủ động trong học tập và kiến thức lĩnh hội được sẽ sâu sắc, ý nghĩa hơn
Tư liệu về di tích Lệ Chi Viên nơi đã xảy ra vụ án oan động trời của dòng họ Danh nhân văn hóa thế giới Nguyễn Trãi và vợ là Lễ Nghi học sĩ Nguyễn Thị Lộ chưa thật sự được quan tâm khai thác và sử dụng trong dạy học lịch sử cho học sinh THCS nói chung và học sinh ở các trường THCS huyện Gia Bình nói riêng
Xuất phát những những lý do trên, chúng tôi lựa chọn đề tài: “Khai
thác và sử dụng tư liệu về di tích Lệ Chi Viên trong dạy học lịch sử Việt Nam lớp 7 ở trư ờng THCS huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh”làm đề tài
nghiên cứu cho luận văn tốt nghiệp của mình
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Giáo dục, bồi dưỡng cho học sinh là vấn đề phức tạp đòi hỏi cả hệ thống cùng tham gia phối hợp thực hiện gồm: nhà trường, gia đình và xã hội, trong đó có bảo tàng, di tích với tư cách là một bộ phận tạo thành của giáo
Trang 9dục và chính là phương tiện trực quan trong dạy học Do vậy đã có rất nhiều tài liệu trong và ngoài nước đề cập đến
2.1 Tài liệu nước ngoài
2.1.1 Tài liệu về lý luận dạy học
Các công trình nghiên cứu về giáo dục tâm lý học của Liên Xô (cũ)
như: của tác giả M Alêxêep “Phát triển tư duy học sinh”, của M cốp trong quyển “Tư duy học sinh”; “Những cơ sở lý luận dạy học” do
Sác-đa-B.P Exipôp chủ biên…đã khẳng định cơ sở tâm lý của nhận thức trực quan sinh động trong học tập lịch sử, có thể thực hiện việc tạo biểu tượng
về các sự vật, hiện tượng bằng cách tổ chức cho học sinh tri giác các di tích lịch sử và các di sản văn hóa, cùng với nó phải tổ chức cho học sinh tham quan và học tập tại di tích lịch sử, xem đây là một công tác quan trọng của nhà trường Những công trình nghiên cứu trên đã đi sâu vào tìm hiểu, phân tích các nguyên tắc, biện pháp tiến hành học tập trên cơ
sở các di tích Đây có thể nói là cơ sở ban đầu, là nền tảng bổ ích cho việc dạy học nói chung và việc xác định những nguyên tắc, biện pháp học tập tại di tích lịch sử nói riêng
Tiến sĩ giáo dục Liên Xô I.F.Kharlamop trong cuốn “Phát huy tính tích
cực học tập của học sinh như thế nào”, NXB Giáo dục Hà Nội,1979 đã nhấn
mạnh: “Lời nói sinh động của giáo viên kết hợp với tính trực quan có hiệu quả to lớn trong việc dạy học… Nó còn góp phần rèn luyện tư duy, phân tích cho các em nhìn thấy bản chất của các đối tượng và hiện tượng ẩn sau các hình thức và biểu hiện bề ngoài, kích thích tính ham hiểu biết của các em”
Trong cuốn “Các phương pháp sư phạm”, NXB Thế Giới, Hà Nội, 1999,
GuyPalmade đã nhấn mạnh việc dạy học phải bắt đầu từ trực quan nhằm tạo ra trong óc trẻ một biểu tượng bền vững Đặc điểm của phương pháp này là cung cấp cho học sinh, trong phạm vi có thể những dữ kiện dễ quan sát, dễ lĩnh hội
Trang 10B.P Epixốp trong “Những cơ sở của lý luận dạy học”, NXB Giáo dục,
Hà Nội, 1971, đề cập đến những cơ sở tâm lý của nhận thức trực quan sinh động trong học tập lịch sử
2.1.2 Tài liệu về giáo dục lịch sử
Trong tác phẩm “Chuẩn bị giờ học lịch sử như thế nào?” của tiến
sĩ N.Đ Đairi – nhà giáo dục lịch sử của Liên Xô trước đây, đã nêu lên quan niệm về cách tổ chức nghiên cứu, dạy học nơi xảy ra sự kiện lịch sử
là một trong những điều kiện của hoạt động dạy và học để hình thành tư duy độc lập của học sinh, chính tính cụ thể, tính hình ảnh của sự kiện có giá trị lớn lao cho phép hình dung lại quá khứ
A.A Vaghin, nhà nghiên cứu phương pháp dạy học Liên Xô trước
đây, trong cuốn “Phương pháp dạy học lịch sử ở trường phổ thông” - NXB
Matxcova, 1972 (tài liệu dịch ĐHSP Hà Nội) đã đề cập đến các biện pháp nâng cao chất lượng dạy học lịch sử như vai trò của đồ dùng trực quan,
vị trí, vai trò, cách sử dụng tài liệu địa phương trong khoá trình lịch sử phổ thông
N.K.Crupxcaia coi công tác tham quan, học tập tại di tích lịch sử - văn hóa là một công tác quan trọng trong nhà trường, là cách dạy cho học sinh đọc cuốn sách trong cuộc sống qua những trải nghiệm thực tế
I.Ia.Lence với “Phát triển tư duy học sinh trong dạy học lịch sử”, NXB
Giáo dục, Hà Nội, 1982 cũng đã chỉ ra rằng dạy học có sử dụng đồ dùng trực quan sẽ là cơ sở để diễn ra sự tái hiện tri thức và phương pháp hoat động Ông khẳng định sự cuốn hút của các phương tiện thông tin tạo hình trực quan có ý nghĩa rất quan trọng
F.K.Kôrovkin khi nghiên cứu về “Phương pháp dạy học lịch sử
ởtrường phổ thông” cũng khẳng định vai trò quan trọng của việc sử dụng đồ
dùng trực quan Tính trực quan là phương tiện cơ bản để hình thành kiến thức lịch sử
Trang 11Trong “khuyến nghị” của Nghị viện Châu Âu năm 2001, chính phủ các nước liên minh Châu Âu (EU) đề xuất việc mở rộng môi trường học tập lịch sử cho học sinh, ngoài phạm vi nhà trường, học sinh cần phải học tập ở các bảo tàng, nơi diễn ra các sự kiện lịch sử, nghiên cứu tài liệu về lịch sử địa phương để làm phong phú kiến thức lịch sử, phát huy năng lực học tập và nghiên cứu lịch sử
2.2 Tài liệu trong nước
2.2.1 Tài liệu lý luận dạy học
Trong giáo trình “Giáo dục học”, tập 1, NXB Giáo dục Hà Nội, 1987,
Hà Thế Ngữ, Đặng Vũ Hoạt đã viết như sau: “ Các đồ dùng trực quan nếu được sử dụng khéo léo tạo điều kiện cho học sinh nhớ lâu, giảm độ mệt nhọc, gây được mối liên hệ thần kinh tạm thời khá phong phú ” Như vậy các tác giả cũng đã nhấn mạnh đồ dùng trực quan trong đó có di tích là điểm tựa trong nhận thức của học sinh, chính từ điểm tựa ấy học sinh tưởng tượng, tư duy, nắm kiến thức và vận dụng nó
Các cuốn như: “Giáo trình Phương pháp giảng dạy”, Trường ĐH Sư
phạm kĩ thuật Thành phố Hồ Chí Minh, 2007, Nguyễn Văn Tuấn chủ biên;
cuốn “Lý luận dạy học”, NXB Giáo dục, Hà Nội, 2002, PGS TS Nguyễn Văn Hộ; hay cuốn “Dạy học và phương pháp dạy học trong nhà trường”,
NXB Đại học Sư phạm Tp.HCM, 2005, tác giả Phan Trọng Ngọ đều đề cập đến vấn đề phương tiện dạy học và vai trò trực quan của học sinh trong học tập giúp các em tích cực và sáng tạo hơn
2.2.2 Tài liệu giáo dục lịch sử
Trong cuốn “Sơ thảo phương pháp giảng dạy lịch sử ở trường phổ
thông cấpII, III” xuất bản năm 1961, các tác giả Lê Khắc Nhãn, Hoàng Triều,
Hoàng Trọng Hanh đã giành chương VIII: “Ngoại khóa, thực hành trong bộ môn lịch sử” trong đó các tác giả cũng nêu lên thực trạng và một số biện pháp thực hiện như thăm quan viện bảo tàng, du lịch, sưu tầm, thu thập và ghi chép tài liệu lịch sử
Trang 12Trong cuốn “Phương pháp giảng dạy lịch sử” (Phần đại cương) tập 1,
2 xuất bản năm 1966 của Trần Văn Trị, Phan Ngọc Liên, Nguyễn Cao Lũy, Nguyễn Tiến Cườngở chương II (tập 2) “Các phương châm giảng dạy lịch sử
ở trường phổ thông” Các tác giả một lần nữa khẳng định: Dạy lịch sử gắn liền với đời sống và cần phải liên hệ tri thức lịch sử trong sách vở với cuộc sống, liên hệ lịch sử toàn quốc với lịch sử địa phương đặc biệt là các di tích lịch sử- cách mạng
Giáo trình “Phương pháp dạy học lịch sử” do GS TS Phan Ngọc
Liên (chủ biên), Trịnh Đình Tùng, Nguyễn Thị Côi ,2002, NXB Đại học
Sư phạm, tái bản có sữa chữa bổ sung năm 2009… các tác giả đã nêu những hình thức, phương pháp sử dụng di tích lịch sử có tính khả thi và đạt hiệu quả sư phạm như tổ chức bài học tại thực địa, tham quan ngoại khóa, công tác công ích xã hội tại di tích lịch sử…, cùng nhiều biện pháp dạy học khác Các tác giả đã chỉ rõ tầm quan trọng của việc sử dụng di tích trong dạy học lịch sử, coi đó là những tài liệu, hiện vật, đồ dùng trực quan hàng đầu có ý nghĩa bổ sung, là những hình ảnh cụ thể nhất, sinh động nhất, để giúp các em học sinh hiểu và tiếp cận nhanh, sâu sắc lịch
sử, nhằm dựng lại bức tranh lịch sử một cách chính xác nhất
Tác giả Phan Khanh trong “Bảo tàng-di tích-lễ hội”, 1992, NXB Thông tin, Hà Nội, [14], chỉ rõ: “Lịch sử đã trôi qua, nhưng sự tích anh
hùng của thế hệ đó còn lưu mãi, vang vọng mãi trong tâm hồn bao thế hệ
và niềm tự hào dân tộc Di tích nhắc nhở chúng ta điều đó…Như vậy, di tích là tấm gương lịch sử, để mỗi người đến chiêm ngưỡng, dù một mình cũng phải soi bóng mình và tự vấn mình là đang làm gì để góp phần đóng góp cho sự trường tồn, phát triển thịnh vượng của non nước này”
Thạc sĩ Nguyễn Thị Thành trong cuốn “Bảo tàng, di tích - nơi khơi
nguồn cảm hứng dạy và học lịch sử cho học sinh phổ thông”, 2014, NXB
giáo dục Việt Nam, muốn đưa những tri thức lịch sử, giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc vào trí não các em ở ngoài học đường, cụ thể ở
Trang 13các bảo tàng, di tích Bởi thực tiễn luôn sống động, đa dạng và phong phú, qua hiện vật, tài liệu tại bảo tàng – di tích sẽ tác động trực tiếp đến tính chủ động, sáng tạo của học sinh giúp khắc phục những hạn chế trong cách giảng dạy trên lớp
Tác giả Hoàng Thanh Hải,1999, với đề tài “Sử dụng di tích lịch sử
trong dạy học lịch sử dân tộc ở trường THCS” - Luận án Tiến sĩ khoa học
giáo dục trường Đại học Quốc gia, Hà Nội đã trình bày nội dung, ý nghĩa và
cơ sở khoa học của việc sử dụng di tích lịch sử trong dạy học lịch sử ở trường trung học cơ sở nhằm nâng cao hiệu quả môn học, đồng thời, đề ra các hình thức, biện pháp sử dụng di tích lịch sử vào dạy học chương trình lịch sử dân tộc, lịch sử địa phương ở các lớp 6,7,8,9 trong nội khóa và hoạt động ngoại
khóa Bên cạnh đó tác giả còn có một số bài viết đề cập đến việc “ Sử dụng di
tích lịch sử cách mạng trong dạy học lịch sử tại thực địa” Tạp chí Nghiên cứu
giáo dục, 1997,số 297, Tr 21-23; bài “Tổ chức, hướng dẫn cho học sinh tham
gia các lễ hội xuân tại di tích lịch sử”, 1997, Tạp chí Nghiên cứu giáo dục, số
300, Tr 20-23; bài “Di tích lịch sử và việc giảng dạy lịch sử ở trường phổ
thông”, 1996, Tạp chí Xưa và nay, số 26, Tr 6-7 ; bài : “Tăng cường các hoạt động học tập ngoài giờ lên lớp môn lịch sử ở trường phổ thông hiện nay”,
2006, Tạp chí Giáo dục, số 100, Tr 70-73
Trong báo cáo tổng kết đề tài khoa học và công nghệ cấp trường Đại học Hồng Đức, tỉnh Thanh Hóa của TS Hoàng Thanh Hải
Bộ-(tháng 6/2012) đã nói về việc “Sử dụng các di tích lịch sử - văn hóa trong
dạy học lịch sử ở trường trung học phổ thông tỉnh Thanh Hóa”, tác giả đã
khẳng định các di tích lịch sử-văn hóa là những di sản quý báu của nhân loại Trong dạy học lịch sử ở trường THPT, các di tích lịch sửvăn hóa vừa là nguồn sử liệu gốc, vừa là một loại phương tiện dạy học hiệu quả Với gần 40.000 di tích, thắng cảnh đã được xếp hạng khắp cả nước đây là một lợi thế lớn đối với việc dạy học lịch sử ở trường phổ thông, nhưng vì nhiều lý do khác nhau lợi thế này chưa được phát huy
Trang 14Tại Hội nghị giao ban sử dụng di sản trong dạy học ở trường phổ thông
do Bộ GD-ĐT đã tổ chức (20-8-2013) Thứ trưởng Nguyễn Vinh Hiển đã nhấn
mạnh: “Trong quá trình đưa di sản vào dạy học ở trường phổ thông, GV cần
tận dụng các cơ hội, điều kiện cho HS tiếp cận với di sản Điều đó góp phần đẩy mạnh, hướng dẫn hoạt động nhận thức, kích thích hứng thú, giúp học sinh phát triển kỹ năng học tập, tự chiếm lĩnh kiến thức.”
Trong báo cáo khoa học “Đổi mới dạy học Lịch sử địa phương với các
hình thức ngoại khóa thông qua di sản” của tác giả Nguyễn Thị Minh Nguyệt
có đề cập đến vấn đề giáo dục di sản cho HS: “Trong dạy học Lịch sử địa phương, giáo dục di sản chính là phương thức giáo dục truyền thống từ thực
tế địa phương, góp phần giữ gìn và phát huy những giá trị tốt đẹp của con người Giáo dục di sản có thể vận dụng nhiều phương pháp dạy học tích cực, người học có thể học tập ở nhiều môi trường khác nhau trong một chủ thể Dạy và học kiến tạo, học theo nhóm, tự học… là những yếu tố quan trọng của
giáo dục di sản.”
Trong luận văn thạc sĩ của Lê Thị Thảo, 2014 - Đại học Giáo Dục
Hà Nội, đã trình bày đề tài “Sử dụng di tích lịch sử - cách mạng ở địa
phương trong dạy học lịch sử Việt Nam từ 1945 đến 1954 lớp 12 trung học phổ thông tỉnh Tuyên Quang(chương trình chuẩn)”, tác giả khẳng định
việc sử dụng di tích lịch sử - cách mạng trong dạy học lịch sử dân tộc là quan trọng, cần thiết, đồng thời đây cũng là biện pháp thực hiện đổi mới phương pháp dạy học lịch sử ở trường phổ thông để nâng cao hiệu quả giáo dục bộ môn
Đó là những tài liệu vô cùng quý giá, làm cơ sở lý luận để chúng tôi thực hiện đề tài này
2.2.3 Tư liệu về di tích lịch sử Lệ Chi Viên
Có nhiều tư liệu đề cập đến vụ thảm án Lệ Chi Viênvới những nguồn
chính sử như:“Đại Việt sử kí toàn thư”, “Khâm định Việt sử thông giám
cương mục”, “Lịch triều hiến chương loại chí” Ngoài ra còn một số nguồn tài
Trang 15liệu được viết và phân tích bởi các nhà sử học, văn học, các nhà nghiên cứu
như:tác phẩm “Nhìn lại lịch sử”của nhóm tác giả Phan Duy Kha, Lã Duy Lan, Đinh Công Vĩ; Trần Trọng Kim với cuốn “Việt Nam sử lược”; cuốn: “Lễ
nghi học sĩ Nguyễn Thị Lộ với vụ án Lệ Chi Viên” xuất bản năm 2004; bên
cạnh đó có một số tác phẩm tiểu sử, hồi ký, tiểu thuyết gồm: “Nguyễn Thị Lộ
và vụ án Lệ Chi Viên” tác giả Bùi Thụy Đào Nguyên, “Lệ Chi Viên” của nhà
văn Mai Thục, “Lệ Chi hậu sử” của Nguyễn Gia Linh, “Bên lề chính sử” tác giả Đinh Công Vĩ, Nhà văn nữ người Pháp Yveline Féray đã viết “Dix
milleprintemps”(“Vạn Xuân” do Gs Nguyễn Khắc Linh dịch) Một số bài báo
“Nguyễn Trãi – 560 năm sau vụ án Lệ chi viên” của Gs Phan Huy Lê, bài
“Thử xét lại cái án Nguyễn Trãi”, hay tác giả Võ Thu Tịnh có bài viết “Vụ án
Lệ Chi Viên”, trang báo Người đưa tin phần Pháp luậtcó đăng bài “Mổ xẻ vụ
án đầu độc vua Lê ở Lệ ChiViên”; trên báo Bắc Ninh có bài “Đến Lệ Chi Viên nhớ về Lễ nghi học sĩ Nguyễn Thị Lộ”
Huyện ủy – HĐND – UBND huyện Gia Bình giới thiệu trong cuốn“Di
tích lịch sử- văn hóa huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh”, xuất bản năm 2012
Lệ chi Viên còn được biết đến qua một số tác phẩm điện ảnh như: vở bi
kịch “Bí mật vườn Lệ chi”, vở cải lương “Rạng ngọc Côn Sơn”, phim tài liệu “Bí mật vụ án Lệ Chi Viên" Qua các sáng tác thơ như:bài thơ “Trầm tư
Lệ Chi Viên”; bài “Khóc về thảm án Lệ Chi viên”
Trên đây là các nguồn tài liệu quan trọng giúp chúng tôi mạnh dạn thực hiện đề tài này
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng ghiên cứu:
Khai thác và sử dụng tư liệu về di tích Lệ Chi Viên để dạy học lịch sử Việt Nam lớp 7 ở trường THCS tại huyện Gia Bình
Trang 163.2 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung khai thác và sử dụng những tư liệu về di tích Lệ Chi Viên để dạy lịch sử thời Lê Sơ (1428 - 1527), lịch sử địa phương và hoạt động ngoại khóa cho học sinh THCS của huyện Gia Bình
Về phạm vi điều tra, khảo sát thực trạng: học sinh trường THCS Thị trấn Gia Bình, THCS Lê Văn Thịnh, THCS Đại Lai và và thực nghiệm tại trường THCS Thị trấn Gia Bình
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Mục đích
Trên cơ sở khẳng định vai trò, ý nghĩa của việc dạy học tại di tích đề tài lựa chọn nội dung và đề xuất cách thức thiết kế các hình thức tổ chức dạy học chính khóa trên lớp, dạy lịch sử địa phương, tổ chức hoạt động ngoại khóa, kiểm tra đánh giá cho học sinh ở trường THCS
4.2 Nhiệm vụ
Để thực hiện mục đích trên, đề tài cần giải quyết các nhiệm vụ cụ thể sau:
- Tìm hiểu cơ sở lý luận và phương pháp dạy học lịch sử về sử dụng đồ dùng trực quan nói chung , tại di tích lịch sử nói riêng
- Khảo sát, đánh giá thực trạng dạy học Lịch sử nói chung, thực trạng dạy học tại bảo tàng, di tích nói riêng
- Nghiên cứu những tư liệu về thời Lê Sơ, về di tích Lệ Chi Viên nhằm
đề xuất các hình thức dạy học phù hợp với học sinh THCS ở huyện Gia Bình
- Thực nghiệm và đánh giá tính hiệu quả, khả thi của việc dạy học tại
di tích lịch sử
5 Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở phương pháp luận:
Cơ sở phương pháp luận của luận văn dựa trên những quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm đường lối của Đảng và Nhà nước ta về lịch sử, giáo dục
Trang 175.2 Phương pháp nghiên cứu
- Nghiên cứu lí thuyết:
+ Đọc và phân tích, tổng hợp các tài liệu sách báo, tạp chí, internet…
về triều Lê Sơ, về di tích Lệ Chi Viên, về tâm lý học, giáo dục học, phương pháp dạy học lịch sử
+ Nghiên cứu chương trình sách giáo khoa lớp 7 và lựa chon những tư liệu về di tích Lệ Chi Viên
-Nghiên cứu thực tiễn:
+ Tiến hành khảo sát thực tế một số trường THCS của huyện Gia Bình đối với giáo viên và học sinh về sử dụng tư liệu di tích Lệ Chi Viên trong dạy học trên lớp và hoạt động ngoại khóa thông qua các phiếu điều tra, dự giờ, trao đổi
+ Soạn và tiến hành thực nghiệm sư phạm ở trường THCS Thị Trấn Gia Bình để khẳng định tính khả thi của các biện pháp đưa ra
+ Sử dụng phương pháp thống kê toán học để xử lý kết quả thực nghiệm sư phạm
6 Giả thuyết khoa học
Nếu giáo viên thiết kế các hình thức tổ chức dạy học tại di tích Lệ Chi Viên sẽ đáp ứng được chủ trương đổi mới phương pháp dạy học nói chung và dạy học lịch sử địa phương nói riêng nhằm góp phần nâng cao chất lượng dạy học lịch sử ở trường THCS huyện Gia Bình hiện nay
7 Đóng góp của luận văn
Thực hiện tốt những nhiệm vụ đề ra, luận văn góp phần:
- Khẳng định vai trò, ý nghĩa, sự cần thiết của việc dạy học tại di tíchlịch sử đối với học sinh ở trường THCS
- Đánh giá được thực trạng dạy học lịch sử nói chung và dạy học lịch
sử tại di tích nói riêng của các trường THCS trên địa bàn huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh
Trang 18- Đề xuất hình thức, biện pháp sử dụng tư liệu về di tích trong dạy học lịch sử, góp phần nâng cao hiệu quả dạy học lịch sử dân tộc
8 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
- Ý nghĩa khoa học: góp phần làm phong phú thêm lý luận PPDHLS nói chung và vấn đề khai thác, sử dụng tài liệu của di tích lịch sử trong dạy học ở trường THCS nói riêng
- Ý nghĩa thực tiễn: là nguồn tài liệu tham khảo cho sinh viên sư phạm
Sử, giáo viên các trường THCS nói chung, trong toàn huyện Gia Bình nói riêng và bản thân tác giả luận văn vận dụng trong quá trình DHLS ở trường THCS
9 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung chính của luận văn gồm 2 chương
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc khai thác và sử dụng tư liệu
về di tích Lệ Chi Viên trong dạy học lịch sử trường THCS ở huyện Gia Bình
Chương 2: Các biện pháp khai thác và sử dụng tư liệu về di tích Lệ Chi Viên trong dạy học lịch sử trường THCS ở huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh
Trang 19CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC KHAI THÁC VÀ SỬ DỤNG TƯ LIỆU VỀ DI TÍCH LỆ CHI VIÊN TRONG DẠY HỌC LỊCH
SỬ Ở TRƯỜNG THCS HUYỆN GIA BÌNH 1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Khái niệm liên quan
1.1.1.1 Di tích là gì?
Lịch sử là bản thân hiện thực khách quan, tất cả những sự kiện lớn nhỏ
đã xảy ra, tạo nên một quá khứ nối tiếp nhau qua các thời kỳ Lịch sử loài người từ khi có con người xuất hiện, trải qua hàng triệu năm đấu tranh vì sự sinh tồn và phát triển, đã để lại những dấu vết minh chứng cho quá khứ có thật của mình Một trong những dấu vết quan trọng đó là di tích
Theo ý nghĩa ban đầuthì di tích là những “dấu vết, mảnh vụn” còn sót
lại của các thời đại trước gắn liền với những nhân vật, sự kiện, hiện tượng, biến cố lịch sử Ta cũng dễ dàng nhận thấy từ xa xưa nhiều nước trên thế giới
đã đặt tên chung cho di tích lịch sử là dấu tích, dấu vết còn lại Tiếng Pháp
viết vestiges, tiếng Anh cũng viết vestiges, tiếng Nga viết pomiatnik, tiếng
Trung Quốc viết cổ tích
Trong quá trình nghiên cứu các nhà sử học đã đưa ra nhiều khái niệm khác nhau về di tích:
Theo “Tự điển tiếng Việt” của Viện Ngôn ngữ học Việt Nam (Xuất bản
năm 2006 thì: “Di tích là dấu vết của quá khứ còn lưu lại trong lòng đất hoặc
trên mặt đất có ý nghĩa về mặt văn hóa và lịch sử”
Theo hiến chương Vơnije- Italia năm 1946 thì di tích bao gồm “ những
công trình xây dựng riêng lẻ, những khu di tích ở đô thị hay nông thôn, là bằng chứng của một nền văn minh riêng biệt, của một sự tiến hóa có ý nghĩa hay là một biến cố về lịch sử” [19-Tr50] Điều này cho phép chúng ta khẳng
định rằng di tích là những công trình có thật, là sản phẩm vật chất do con
Trang 20người sáng tạo ra cùng với cuộc sống lao động của mình Di tích được phân
bố ở khắp mọi nơi, bất kỳ đâu mà con người đã và đang sinh sống
1.1.1.2 Di tích lịch sử - văn hóa
Theo luật di sản văn hóa của nước ta, Quốc hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, kỳ họp thứ IX, Quốc hội khóa X thông qua ngày 29/ 6/
2001 quy định “ di tích là công trình được xây dựng, địa điểm và các di vật,
cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm đó có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học Gọi chung là di tích lịch sử-văn hóa vì chúng do con người
(tập thể hoặc cá nhân ) hoạt động sáng tạo lịch sử,con người hoạt động văn hóa mà hình thành nên Văn hóa ở đây bao gồm cả văn hóa vật chất, văn hóa
xã hội và văn hóa tinh thần
Theo pháp lệnh bảo vệ và sử dụng tích lịch sử -văn hóa và danh lam thắng cảnh, công bố ngày 4/4/1984 thì di tích lịch sử- văn hóa được quy định
như sau; “Di tích lịch sử -văn hóa là những công trình được xây dựng, địa
điểm, đồ vật, tài liệu và các tác phẩm có giá trị lịch sử, khoa học, nghệ thuật, cũng như có giá trị văn hóa khác, hoặc liên quan đến các sự kiện lịch sử, quá trình phát triển văn hóa xã hội.”[21- Tr 32]
Theo đại từ điển tiếng Việt: “Di tích lịch sử - văn hóa là tổng thể những
công trình, địa điểm, đồ vật hoặc tác phẩm, tài liệu có giá trị lịch sử hay văn hóa được lưu lại.”
Luật di sản văn hóa được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 5 thông qua ngày 18 tháng 5 năm 2009 có
nêu:Di tích lịch sử - văn hóa là: “Công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự
kiện lịch sử, văn hóa tiêu biểu của quốc gia hoặc của địa phương; thân thế và
sự nghiệp của anh hùng dân tộc, danh nhân, nhân vật lịch sử có ảnh hưởng tích cực đến sự phát triển của quốc gia hoặc của địa phương trong các thời
kỳ lịch sử, địa điểm khảo cổ có giá trị tiêu biểu.Công trình kiến trúc, nghệ thuật, quần thể kiến trúc, tổng thể kiến trúc đô thị và địa điểm cư trú có giá trị
Trang 21tiêu biểu cho một hoặc nhiều giai đoạn phát triển kiến trúc, nghệ thuật của giai đoạn đó ở một địa điểm cụ thể, nhất định.”
Trên góc độ khoa học, giáo trình của trường Đại học Văn hóa đã đưa ra
định nghĩa khái quát như sau: “ Di tích lịch sử - văn hóa là những không gian
vật chất cụ thể, khách quan, trong đó chứa đựng các giá trị điển hình lịch sử,
do tập thể hoặc cá nhân con người hoạt động sáng tạo ra trong lịch sử để lại”[14 - Tr24]
Di tích còn gồm những hiện vật bằng vật chất như nhà cửa, thành quách, y phục, công cụ lao động, lăng mộ…Di tích lịch sử phản ánh những hoạt động, đời sống kinh tế, xã hội, văn hóa của con người qua các thời đại
“Bất cứ thời đại nào, trình độ phát triển mọi mặt của nó đều được phản ánh
khá rõ trong các di tích lịch sử Vì vậy, di tích lịch sử là những tấm gương soi của lịch sử, là hơi thở của lịch sử đương thời” [14-Tr 171]
Di tích lịch sử là những loại dấu vết của lịch sử còn lưu lại cho đến ngày nay, nó phản ánh những hoạt động, đời sống kinh tế, xã hội, văn hóa, phong tục tập quán của con người qua các thời đại hay phản ánh cả một thời
kỳ lịch sử dài
Di tích lịch sử còn là nơi lưu niệm, tưởng nhớ các nhân vật lịch sử, các anh hùng dân tộc trong những cuộc kháng chiến chống xâm lược, chống thiên tai, các danh nhân văn hóa…như những đền thờ, tượng đài, bia mộ…
Như vậy, một di tích được xác định là di tích lịch sử “ là nó phải có
thực từ trước và được lưu giữ đến ngày nay, bao giờ cũng gắn liền, phản ánh, ghi nhận, minh chứng một sự kiện, nhân vật lịch sử, đặc biệt là những sự kiện lịch sử lớn, quan trọng” [8-Tr16]
Căn cứ vào Luật Di sản Văn hóa được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa X, kỳ họp thứ 9 thông qua ngày 29.6.2001, có hiệu
lực thi hành ngày 01.01.2002 thì “Di tích lịch sử - văn hóa là công trình xây
dựng, địa điểm và các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa
điểm có giá trị lịch sử văn hóa, khoa học”
Trang 22Di tích lịch sử - văn hóa và danh lam thắng cảnh của Việt Nam được xác định trên cơ sở các tiêu chí sau:
+ Công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện lịch sử tiêu biểu trong quá trình dựng nước và giữ nước
+ Công trình, địa điểm gắn với thân thế và sự nghiệp của anh hùng dân tộc, danh nhân của đất nước
+ Công trình, địa điểm gắn với sự kiện lịch sử tiêu biểu của các thời kỳ cách mạng, kháng chiến
+ Là địa điểm có giá trị tiêu biểu về khảo cổ
+ Quần thể công trình kiến trúc hoặc công trình kiến trúc đơn lẻ có giá trị tiêu biểu về kiến trúc, nghệ thuật của một hay nhiều giai đoạn lịch sử
+ Các cảnh quan thiên nhiên hoặc địa điểm có sự kết hợp giữa cảnh quan thiên nhiên với công trình kiến trúc có giá trị thẩm mỹ tiêu biểu
+ Khu vực thiên nhiên có giá trị khoa học về địa chất, địa mạo, địa lý,
đa dạng sinh học, hệ sinh thái đặc thù hoặc khu vực thiên nhiên chứa đựng những dấu tích vật chất về các giai đoạn phát triển của trái đất
Như vậy ta thấy, thời đại nào, trình độ phát triển kinh tế - xã hội nào
cũng có thể nhìn thấy rõ qua các di tích, nên có thể nói “di tích là những tấm
gương của lịch sử” [14-Tr171]
Tóm lại, di tích lịch sử - văn hóa là một trong những di sản vật chất quý báu mà lịch sử để lại Chúng có ý nghĩa nhiều mặt đối với cuộc sống của con người như: truyền bá kiến thức khoa học, tìm hiểu lịch sử, giáo dục truyền thống, tham quan du lịch…Trong thời đại ngày nay, với sự phát triển của khoa học, kĩ thuật, đời sống kinh tế được nâng cao, thì phải cần chú ý đến việc giữ gìn, khai thác, sử dụng các di tích lịch sử, đặc biệt là khai thác, sử dụng vào việc dạy học lịch sử cho các thế hệ học sinh
Trang 231.1.1.3 Di tích lịch sử cách mạng
Di tích lịch sử cách mạng không phải là một loại hình di tích riêng, mà
là những di tích thuộc loại hình di tích lịch sử hoặc di tích lịch sử - kiến trúc nghệ thuật
Đối với di tích lịch sử, gồm có: loại di tích lưu niệm sự kiện và lưu niệm danh nhân
- Di tích lưu niệm sự kiện là công trình, địa điểm, nơi diễn ra sự kiện lịch sử Căn cứ vào tính chất, giá trị và ý nghĩa của sự kiện lịch sử diễn ra tại địa điểm đó để xếp hạng là di tích cấp tỉnh (thành phố) hoặc di tích quốc qia, hay di tích quốc gia đặc biệt quan trọng
- Di tích lưu niệm danh nhân là công trình, địa điểm gắn liền hoặc có sự liên hệ mật thiết với quá trình hoạt động, hoặc nơi diễn ra sự kiện lịch sử tiêu biểu của nhân vật lịch sử, danh nhân lịch sử như: anh hùng dân tộc, các nhà hoạt động cách mạng tiêu biểu…
Như vậy ta thấy, trải qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, các
di tích lịch sử ở địa phương là những bằng chứng về truyền thống lịch sử - văn hóa của quốc gia, dân tộc, của từng địa phương qua nhiều thế hệ, gắn với
sự phát triển của xã hội cũng như những bước thăng trầm trong lịch sử khai phá, xây dựng, đấu tranh để giữ gìn và phát huy những thành quả đạt được, những giá trị truyền thống, để cuối cùng tạo nên bản sắc văn hóa Việt Nam
1.1.2 Phân loại di tích
Trên cơ sở những tiêu chí quy định tại điều 28 Luật Di sản Văn hóa, nghị định số 92/2002/NĐ-CP ngày 11.11.2002 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều Luật Di sản Văn hóa, tại điều 13 về phân loại di tích,
di tích được phân thành bốn loại:
+ Di tích lịch sử (di tích lưu niệm sự kiện, di tích lưu niệm danh nhân): là những công trình, địa điểm gắn với sự kiện lịch sử tiêu biểu, với thân thế và sự nghiệp của anh hùng dân tộc, danh nhân đất nước, các sự kiện tiêu biểu của các thời kỳ cách mạng, kháng chiến dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam
Trang 24+ Di tích kiến trúc nghệ thuật: bao gồm quần thể công trình kiến trúc hoặc công trình kiến trúc đơn lẻ có giá trị tiêu biểu về kiến trúc, nghệ thuật của một hay nhiều giai đoạn lịch sử
+ Di tích khảo cổ: gồm những địa điểm khảo cổ có giá trị nổi bật, đánh dấu các giai đoạn phát triển của văn hóa khảo cổ
+ Danh lam thắng cảnh: là các cảnh quan thiên nhiên hoặc địa điểm có
sự kết hợp giữa cảnh quan thiên nhiên với công trình kiến trúc có giá trị thẩm
mỹ tiêu biểu, hoặc các địa điểm ghi dấu hoạt động của con người trong lịch sử
để lại có giá trị về lịch sử, văn hóa, khoa học
Căn cứ vào giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, di tích lại được chia thành
+ Di tích cấp tỉnh, thành phố: là di tích có giá trị tiêu biểu trong phạm
vi một địa phương, do Chủ tịch Ủy Ban Nhân Dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương ra quyết định xếp hạng
Như vậy, việc hiểu rõ nội hàm khái niệm di tích và các hình thức phân loại di tích sẽ giúp ta có thái độ ứng xử đúng đắn cho từng loại di tích, và đó cũng là cơ sở khoa học giúp các ngành, các cấp có kế hoạch trong việc bảo tồn và phát huy giá trị của các di tích
1.1.3 Xuất phát điểm của vấn đề khai thác và sử dụng tư liệu về di tích lịch
sử - văn hóa trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông
1.1.3.1 Mục tiêu giáo dục của bộ môn Lịch sử
Mục tiêu giáo dục bộ môn Lịch sử ở trường phổ thông thể hiện rõ qua mục tiêu chung của giáo dục phổ thông với chức năng, nhiệm vụ, đặc trưng, nội dung của môn học và tình hình, nhiệm vụ cụ thể của đất nước trong những điều kiện cụ thể Mục tiêu giáo dục ở trường phổ thông quán triệt đường lối,
Trang 25chính sách của Đảngvà Nhà nước về giáo dục, yêu cầu của từng giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội của đất nước đối với giáo dục
Luật Giáo Dục (đã sửa đổi, bổ sung) được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa X thông qua và có hiệu lực thi hành ngày
1/7/2010 đã nêu: “Mục tiêu giáo dục là đào tạo con người Việt Nam phát
triển toàn diện,có đạo đức, tri thức, sức khỏe, thẫm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu của
sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”
Là bộ môn khoa học xã hội, môn Lịch sử trường THCS phải thực hiện những nhiệm vụ cơ bản sau đây:
- Giáo dưỡng: Cung cấp kiến thức chính về quá trình phát triển của lịch
sử dân tộc trên cơ sở những sự kiện nổi bật của từng thời kì, hiểu được nội dung chủ yếu của mỗi giai đoạn lịch sử nước ta Về lịch sử thế giới là những
sự kiện quan trọng, những nội dung cơ bản của lịch sử loài người từ nguồn gốc đến nay, đặc biệt chú trọng những sự kiện, những vấn đề liên quan đến lịch sử dân tộc và các nước trong khu vực Qua đó, học sinh có những hiểu biết đơn giản, bước đầu của quan điểm duy vật lịch sử - vai trò của quần chúng nhân dân và cá nhân trong lịch sử.Sự phát triển hợp quy luật của xã hội loài người, vai trò, ý nghĩa của lao động sản xuất đối với sự phát triển của con người và xã hội, đấu tranh giai cấp là động lực phát triển của xã hội
có giai cấp
- Giáo dục: Lịch sử là môn học có đặc trưng rất riêng và có ưu thế
giáo dục đạo đức, tư tưởng, tình cảm cho học sinh như: có lòng yêu quê hương đất nước gắn liền với tin yêu chủ nghĩa xã hội, lòng tự hào dân tộc và trân trọng đối với những di sản lịch sử trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước Đồng thời, bước đầu góp phần hình thành những phẩm chất cần thiết của người công dân thích ứng với cuộc sống cộng đồng Có thể nói, tri thức
Trang 26lịch sử không chỉ giáo dục trí tuệ, tình cảm, tư tưởng mà góp phần đào tạo con người Việt Nam toàn diện
- Nhiệm vụ phát triển: Tiếp tục hoàn thành các kĩ năng cần thiết cho
học tập bộ môn ở bậc tiểu học như: làm việc với sách giáo khoa và các nguồn
sử liệu, làm và sử dụng các loại đồ dùng trực quan, biết phân tích, đánh giá,
so sánh các sự kiện lịch sử, nhân vật lịch sử, biết vận dụng những hiểu biết của mình vào các tình huống học tập và cuộc sống Trên cơ sở đó, hình thành năng lực phát hiện, đề xuất và giải quyết các vấn đề trong học tập lịch sử và biết vận dụng những kiến thức đã học vào cuộc sống hiện nay
Các nhiệm vụ trên được hình thành và củng cố, tạo ra 4 năng lực chủ yếu nhằm đáp ứng mục tiêu giáo dục và phát triển con người trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta Đây chính là những năng lực phù hợp với yêu cầu của sự phát triển kinh tế - xã hội của khu vực và toàn cầu khi
xu thế toàn cầu hóa đang diễn ra mạnh mẽ Đó là: năng lực hành động, năng lực thích ứng, năng lực giao tiếp, ứng xử và năng lực tự khẳng định
Để thực hiện được chức năng, nhiệm vụ của bộ môn, người giáo viên giảng dạy phải biết vận dụng một cách đa dạng, linh hoạt, sáng tạo các phương pháp dạy học, trong đó có phương pháp sử dụng đồ dùng trực quan, đặc biệt là biết khai thác và sử dụng tư liệu di tích lịch sử- văn hóa Đó là điều kiện cần thiết nhằm đạt được mục tiêu giáo dục của bộ môn nói riêng và theo quan điểm giáo dục của Đảng ta
1.1.3.2 Đặc trưng của bộ môn Lịch sử ở trường phổ thông
Dạy học lịch sử nhằm cung cấp cho học sinh những cơ sở của khoa học lịch sử , bao gồm những sự kiện, hiện tượng đã xảy ra, nó tuân thủ theo tiến trình thời gian Chúng ta tiếp nhận lịch sử một cách gián tiếp thông qua các tài liệu được lưu lại Việc nhận thức lịch sử đối với học sinh có những nét đặc trưng, học sinh tiếp thu kiến thức lịch sử thông qua việc giáo viên cung cấp các sự kiện, tạo biểu tượng lịch sử,dần hình thành khái niệm, giúp học sinh nêu quy luật và rút ra được bài học lịch sử trong mỗi giờ giảng để cho học
Trang 27sinh “trực quan sinh động” những sự kiện xảy ra trong quá khứ Để việc hình thành tri thức lịch sử cho học sinh và vận dụng được các phương pháp, biện pháp trong dạy học, chúng ta phải hiểu rõ đặc điểm của tri thức lịch sử là:
- Tính quá khứ: Tất cả những sự kiện, hiện tượng lịch sử được chúng ta nhắc đến đều là những chuyện đã xảy ra, nó mang tính quá khứ, điều này đã gây không ít khó khăn cho chúng ta trong quá trình dạy học Vì nhận thức của con người nói chung là đi từ hiện tại về quá khứ, từ gần đến xa, từ dễ đến khó, nhưng những kiến thức lịch sử mà học sinh nhận thức thì hoàn toàn ngược lại Vậy các tài liệu về di tích lịch sử, các hiện vật lịch sử và bản thân di tích lịch
sử sẽ là phương tiện tái tạo quá khứ một cách sống động và chân thực nhất trong việc dạy học lịch sử
- Tính không lặp lại: Tri thức lịch sử mang tính không lặp lại về thời gian và cả không gian Bất kỳ hoạt động nào của xã hội loài người đều được tiến hành trong một thời gian và không gian nhất định.Trong những thời gian
và không gian khác nhau, dù có lặp lại cũng là sự lặp lại kế thừa, phát triển,
“sự lặp lại trên cơ sở không lặp lại” Những kiến thức lịch sử học sinh học ở mỗi cấp tuy giống nhau, nhưng các em chỉ học một lần ở mỗi cấp học, nên khi dạy học lịch sử, giáo viên phải xem xét tính cụ thể về không gian, thời gian và dành thời gian để củng cố, ôn tập, cùng các biện pháp sư phạm khác để học sinh có thể nhớ nhanh, nhớ lâu, bền vững những kiến thức lịch sử
- Tính cụ thể: Lịch sử của mỗi nước, mỗi dân tộc đều có các giai đoạn phát triển riêng, quy luật riêng, có những điều kiện riêng quy định nên khi trình bày các sự kiện, hiện tượng lịch sử, càng cụ thể bao nhiêu, càng sinh động bao nhiêu thì càng hấp dẫn bấy nhiêu Vì các quốc gia, dân tộc tuy bị tác động của những quy luật chung, nhưng trình độ sản xuất, đời sống vật chất, tinh thần phong phú, đa dạng và sự phát triển đểu không giống nhau Nên không một kiến thức lịch sử nào mà không gắn liền với con người, nhân vật,
vì vậy nó rất sống động
Trang 28Di tích lịch sử là phương tiện trực quan vô giá, có tác dụng tái tạo lại hình ảnh lịch sử cho học sinh
- Tính hệ thống (tính logic lịch sử): Nội dung tri thức lịch sử rất phong phú, bao gồm cả chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa, nghệ thuật, khoa học kỹ thuật Những nội dung tri thức lịch sử đó lại có mối quan hệ nội tại chằng chịt, phức tạp, điều này đòi hỏi người giáo viên luôn chú ý đến mối quan hệ ngang - dọc, trước - sau của các vấn đề lịch sử, cũng như mối quan hệ ngang - nội tại giữa các mặt chính trị, kinh tế, văn hóa …để cung cấp cho học sinh những tri thức lịch sử khoa học mang tính hệ thống và hoàn chỉnh nhất
Khi sử dụng di tích lịch sử vào dạy học lịch sử dân tộc, giáo viên không chỉ đơn thuần cung cấp sự kiện lịch sử gắn với di tích ấy mà còn giúp các em tiếp thu các yếu tố văn hóa, nghệ thuật, khoa học kỹ thuật tiềm ẩn trong các di tích ấy qua việc cung cấp cho các em lịch sử hình thành và phát triển của di tích lịch sử
- Tính thống nhất giữa “sử” và “luận”: “Sử” chính là sự kiện, “Luận”
là sự giải thích, bình luận các sự kiện đã nghiên cứu Nghiên cứu lịch sử cũng như dạy học lịch phải đảm bảo sự thống nhất giữa trình bày sự kiện với giải thích, bình luận Mọi giải thích, bình luận đều phải xuất phát từ sự kiện lịch
sử cụ thể, chính xác và đáng tin cậy, không có sự kiện, hiện tượng lịch sử nào
mà không được giải thích làm sáng tỏ bản chất của sự kiện, hiện tượng lịch sử
đó Đó là sự thống nhất giữa tính khoa học và tính Đảng trong nghiên cứu, dạy học lịch sử Chính các di tích lịch sử là cơ sở vững chắc để người giáo viên hướng dẫn học sinh có những nhận xét, bình luận đúng đắn trong học tập
bộ môn lịch sử
1.1.3.3 Đặc diểm tâm lý và nhận thức lịch sử của học sinh
Ở lứa tuổi THCS - từ 11 đến 15 tuổi, lứa tuổi này còn gọi là lứa tuổi thiếu niên và có một vị trí đặc biệt trong quá trình phát triển của các em, vì nó
là thời kỳ chuyển tiếp từ tuổi thơ sang tuổi trưởng thành Tuổi THCS, tri giác
có chủ định phát triển hơn, khối lượng tri giác tăng lên nhiều do đó các em có
Trang 29khả năng phân tích, tổng hợp phức tạp hơn khi tri giác Bên cạnh đó, tri giác không chủ định vẫn phát triển nên các em dễ bị lôi cuốn bởi ấn tượng bên ngoài, dễ bị hấp dẫn bởi cái mới, cái lạ nên giáo viên sử dụng đồ dùng dạy học trực quan phù hợp sẽ là yếu tố quan trọng để phát triển cảm giác và tri giác cho học sinh
Ở lứa tuổi này trí nhớ thay đổi về chất Trí nhớ dần dần mang tính chất của những quá trình được điều khiển, điều chỉnh và có tổ chức Học sinh THCS có nhiều tiến bộ trong việc ghi nhớ tài liệu trừu tượng, từ ngữ, các em bắt đầu biết sử dụng những phương pháp đặc biệt để ghi nhớ và nhớ lại so với lứa tuổi trước Khi ghi nhớ các em đã biết tiến hành các thao tác như so sánh,
hệ thống hoá, phân loại Tốc độ ghi nhớ và khối lượng tài liệu được ghi nhớ tăng lên Ghi nhớ máy móc ngày càng nhường chỗ cho ghi nhớ logic, ghi nhớ
ý nghĩa Hiệu quả của trí nhớ trở nên tốt hơn, các em không muốn thuộc lòng
mà muốn tái hiện bằng lời nói của mình Vì thế giáo viên cần làm rõ cho học sinh biết là hiệu quả của ghi nhớ không phải đo bằng sự nhận lại, mà bằng sự tái hiện Như vậy, việc sử dụng tài liệu di tích lịch sử trong dạy học lịch sử đápứng nhu cầu đổi mới phương pháp dạy học hiện nay, đồng thời khơi gợi hứng thú tìm tòi, khám phá lịch sử, biết trân trọng những di tích lịch sử của dân tộc và nhân loại với học sinh THCS
Quá trình nhận thức của học sinh trong học tập cũng tuân theo quá trình nhận thứu chung của loài người: “Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng” và từ “tư duy trừu tượng đến thực tiễn” Học sinh THCS đã phát triển
tư duy: Tư duy khái quát, độc lập được phát triển mạnh mẽ thông qua việc phán đoán, chứng minh, lý giải một cách logic chặt chẽ Tư duy trừu tượng dần chiếm ưu thế, phát triển mạnh mẽ và giữ vai trò quan trọng trong học tập Trong học tập lịch sử học sinh cũng trải qua các giai đoạn nhận thức từ thấp đến cao Đặc thù của bộ môn lịch sử không cho phép học sinh được quan sát trực tiếp các sự kiện, hiện tượng lịch sử mà chủ yếu là nhận thức gián tiếp thông qua quan sát, tri giác các tài liệu, hiện vật… được lưu lại Trong “trực
Trang 30quan sinh động” thì tài liệu đóng vai trò quan trọng nhất đối với sự quan sát, tri giác của học sinh Thông thường, ở trường phổ thông, “tài liệu” giúp học sinh tri giác sự kiện và hiện tượng lịch sử là lời giảng của thày giáo, đồ dùng trực quan và sách giáo khoa Đây là các “tài liệu” có tính chất nền tảng cho tri giác của học sinh Học sinh buộc phải thực hiện các thao tác đơn giản như nghe, quan sát, tri giác tài liệu sự kiện lịch sử để từ đó hình dung lại, tưởng tượng, tái tạo lại các sự kiện đã diễn ra trong quá khứ Tiếp đó, để hoàn thành quá trình nhận thức lịch sử, học sinh phải chuyển sang giai đoạn nhận thức cao hơn: nhận thức lý tính, với các thao tác của tư duy như so sánh, khái quát hóa, trừu tượng hóa, phân tích, tổng hợp… Các em sẽ tìm ra được những dấu hiệu bản chất của sự vật, hiện tượng Cuối cùng, qua quá trình nhận thức, học sinh phải hiểu được các mối liên hệ bên trong của các sự kiện lịch sử, biết đánh giá, nhìn nhận chúng một cách hợp lý
Mặt khác, nhận thức lịch sử không thể bắt đầu bằng cảm giác trực tiếp
về sự kiện mà từ những biểu tượng cụ thể tạo nên trên cơ sở tri giác tài liệu
Do đó, trong dạy học lịch sử, biểu tượng lịch sử có vai trò hết sức quan trọng
Đó là những hình ảnh về sự kiện, nhân vật lịch sử, điều kiện địa lý được phản ánh trong óc học sinh với những nét chung nhất, điển hình nhất Đó cũng chính là cơ sở để hình thành các khái niệm lịch sử Không có biểu tượng thì không có khái niệm hoặc khái niệm được xây dựng trên những biểu tượng nghèo nàn; đó là khái niệm trống rỗng, thiếu nội dung phong phú, hấp dẫn Biểu tượng lịch sử càng cụ thể, chính xác, sinh động bao nhiêu thì học sinh càng có khái niệm đúng, hiểu các sự kiện lịch sử một cách sâu sắc, chính xác bấy nhiêu Để học sinh có những biểu tượng lịch sử cụ thể, sinh động thì cần thiết phải sử dụng đồ dùng trực quan kết hợp với các phương tiện, phương pháp dạy học khác Phương tiện trực quan đóng vai trò rất quan trọng trong dạy học lịch sử Nó là một trong những vấn đề cơ bản của lý luận dạy học nhằm, tạo cho học sinh các biểu tượng và hình thành khái niệm trên cơ sở trực tiếp quan sát hiện vật đang học, hay đồ dùng trực quan minh họa sự vật
Trang 31Di tích lịch sửlà một trong những bộ phận của nguồn sử liệu vật chất chân xác nhất Nó là một loại phương tiện trực quan có giá trị góp phần tạo biểu tượng lịch sử cụ thể và chân thực cho học sinh
Không những thế, việc sử dụng các di tích lịch sử trong học tập lịch sử
sẽ rèn luyện khả năng quan sát, trí tưởng tượng, phát triển tư duy và ngôn ngữ cho học sinh Để có thể hiểu được nội dung của những địa điểm đã xảy ra các
sự kiện lịch sử, học sinh phải quan sát các sự vật, hiện tượng, rồi giải thích, đánh giá… đi đến rút ra những nét khái quát về bản chất các sự vật và hiện tượng đó Thường xuyên như vậy làm cho các thao tác tư duy của học sinh được phát triển
Có thể khẳng định phương tiện trực quan nói chung, di tích lịch sử nói riêng có vai trò và ý nghĩa rất lớn đối với quá trình nhận thức của học sinh, góp phần nâng cao hiệu quả của bài học lịch sử Nó được xem như “cầu nối” giữa quá khứ và hiện tại, và là “bản thông điệp của các thế hệ đã qua” Việc
sử dụng các phương tiện trực quan nói chung và di tích lịch sử nói riêng vào giảng dạy lịch sử dân tộclà điều rất cần thiết
1.1.3.4 Yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học lịch sử
Sự phát triển kinh tế - xã hội trong bối cảnh toàn cầu hoá đặt ra những yêu cầu mới đối với người lao động, do đó cũng đặt ra những yêu cầu mới
cho sự nghiệp giáo dục thế hệ trẻ và đào tạo nguồn nhân lực Nên“việc đổi
mới giáo dục là yêu cầu thường xuyên, quan trọng đối với sự phát triển giáo dục quốc dân, theo tình hình và nhiệm vụ của các giai đoạn cách mạng trong nước Đổi mới toàn diện trên cơ sở quan điểm đường lối, chính sách của đảng và nhà nước, phù hợp với thực tiễn, kế thừa và phát triển thành tựu đã đạt được” [7- Tr.64] Vậy vấn đề đổi mới giáo dục nói chung và đổi mới
phương pháp dạy học nói riêng là yêu cầu cấp thiết trong tình hình hiện nay
Nghị quyết hội nghị Ban Chấp Hành Trung ương Đảng lần thứ 2-Khóa
VIII chỉ rõ: “phương pháp giáo dục đào tạo chậm được đổi mới, chưa phát
huy được tính chủ động, sáng tạo của người học” Do đó, phương pháp dạy
Trang 32học nói chung và phương pháp dạy học lịch sử ở trường phổ thông nói riêng cũng phải đổi mới theo hướng là phát huy tính tích cực, tự lực và sáng tạo, phát triển năng lực hành động, năng lực cộng tác làm việc của người họcđể đáp ứng yêu cầu hiện nay của đất nước
Trong vài năm gần đây, tại các trường phổ thông đã tiến hành đổi mới phương pháp giảng dạy nhằm nâng cao chất lượng học tập Song, qua tìm hiểu việc đổi mới phương pháp dạy học nói chung, phương pháp dạy học lịch sử nói riêng vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu đề ra, còn tồn tại những nhược điểm cơ bản như: Nhiều giáo viên chưa nhận thức được vai trò của việc kết hợp các phương pháp dạy học để phát huy tính tích cực, độc lập nhận thức của học sinh trong học tập nên chưa khắc phục hoàn toàn những yếu kém cố hữu trong giảng dạy Họ chưa nắm rõ về quan điểm đổi mới phương pháp và khi vận dụng lại mang tính hình thức, rườm rà, cứng nhắc Giờ học vì vậy trở nên khô khan, căng thẳng khi giáo viên liên tục hỏi đáp cho học sinh và cho rằng như vậy đó là đổi mới phương pháp dạy học Phương pháp dạy học một chiều thầy đọc trò ghi làm hạn chế năng lực nhận thức độc lập, chủ động lĩnh hội kiến thức của các em, không phù hợp với đặc điểm tâm lý nhận thức của học sinh THCS vẫn tồn tại Đặc biệt, nhiều giáo viên lịch sử chưa hiểu hết nội dung kênh hình, nên bỏ qua hoặc hiệu quả sử dụng chưa cao… Những hạn chế đó không thể đáp ứng được yêu cầu đổi mới về phương pháp dạy học hiện nay, cũng như không hoàn thành mục tiêu giáo dục đã đề ra Những vấn đề trên đặt ra yêu cầu bức thiết phải đổi mới phương pháp dạy học để đáp ứng việc đổi mới về nội dung và mục tiêu giáo dục đặt ra Việc sử dụng di tích lịch sử vào dạy học lịch sử sẽ khắc phục được tình trạng làm cho học sinh thụ động trong nghe giảng, ghi chép và trả lời đúng như thầy giảng, mà giúp các em gắn học với hành, lý luận với thực tiễn, nhà trường với xã hội Qua đó, các em hiểu biết nhiều hơn về quê hương, đất nước, về mảnh đất sinh ra mình, từ đó, có ý thức giữ gìn, trân trọng những giá trị truyền thống của quê hương, đất nước, để rồi biết định hướng, biết sáng tạo trong nghề nghiệp và cuộc sống, nhằm phát huy bản sắc văn hóa Việt Nam.Và
Trang 33Nghị quyết hội nghị TW II, khóa VIII cũng đã chỉ rõ ban chất của đổi mới
phương pháp “Đổi mới phương pháp giáo dục đào tạo, khắc phục lối truyền thụ
một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học Từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và phương pháp dạy học vào quá trình dạy học, bảo đảm điều kiện và thời gian tự học, đào tạo thường xuyên và rộng khắp trong toàn dân, nhất là thanh niên”
Như vậy, sử dụng nguồn tư liệu ở di tích lịch sử địa phương là một biện pháp tốt để đổi mới phương pháp dạy học lịch sử, góp phần quan trọng trong thực hiện chức năng nhiệm vụ bộ môn, cũng như đáp ứng các yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học lịch sử ở trường phổ thông hiện nay
1.1.4 Vai trò, ý nghĩa của việc khai thác và sử dụng tư liệu di tích Lệ Chi Viên trong dạy học lịch sử ở trường THCS nói chung, ở huyện Gia Bình nói riêng
Lịch sử là quá khứ phản ảnh tất cả mọi mặt của đời sống xã hội Nghiên cứu và dạy học lịch sử cần phải sử dụng nhiều loại tài liệu khác nhau, nhưng phải chọn lọc những tài liệu sự kiện cần thiết cho việc phân tích, đánh giá, những tài liệu sự kiện tương đối đầy đủ, chính xác.Các di tích lịch sử nói chung, di tích lịch sử văn hóa nói riêng là dấu ấn, là bằng chứng về truyền thống lịch sử - văn hóa của quốc gia, dân tộc và từng địa phương qua nhiều thế hệ, gắn với sự phát triển của xã hội, tạo nên bản sắc văn hóa Việt Nam Thông qua các di tích, con người ngày nay có thể hiểu biết thêm về quá khứ
Di tích lịch sử văn hóa là một nguồn kiến thức lịch sử quý hiếm cần khai thác trong dạy học lịch sử Bởi nếu thế hệ trẻ quanh năm suốt tháng học chay, không có điều kiện, thời gian “tắm mình” nơi di tích lịch sử văn hóa thì làm sao hình thành thói quen yêu quý, tự hào và có ý thức bảo vệ, phát huy giá trị văn hóa của dân tộc, của quê hương Đồng thời, bản thân mỗi di tích lịch sử chứa đựng những giá trị văn hóa vật thể và giá trị văn hóa phi vật thể, trong đó, giá trị văn hóa phi vật thể là sản phẩm tinh thần có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học được lưu giữ ở rất nhiều dạng khác nhau như: lễ hội, nghề
Trang 34thủ công truyền thống, văn hóa ẩm thực, trang phục truyền thống…Yếu tố vật thể thì có thể được hiểu thông qua những vật thể như phần kiến trúc, các di vật gắn với kiến trúc đó, ví dụ như tượng thờ, đồ vật thờ cúng Việc sử dụng tài liệu di tích lịch sử văn hóa trong dạy học lịch sử ở trường THCS giúp học sinh có thêm cơ sở để nắm vững bản chất các sự kiện, dần hình thành khái niệm, hiểu rõ những quy luật, bài học quan trọng của lịch sử, rèn cho học sinh thói quen tìm tòi, khám phá và phát triển tư duy lịch sử Di tích lịch sử văn hóa Lệ Chi Viên là một phương tiện trực quan vô giá trong dạy học lịch sử, vì
di tích lịch sử này giúp chúng ta hiểu thêm về Danh nhân văn hóa thế giới Nguyễn Trãi – người có công lao vô cùng to lớn trong việc lập ra nhà Lê sơ
và vợ là Lễ Nghi học sĩ Nguyễn Thị Lộ - người phụ nữ tài sắc vẹn toàn, bà được coi như nhà giáo nữ đầu tiên của nước ta- với thảm án của gần 600 năm
về trước
Cùng với đó, việc sử dụng tư liệu di tích lịch sử văn hóa trong dạy học lịch sử có ý nghĩa xã hội và ý nghĩa giáo dục Di tích lịch sử văn hóa là bằng chứng vật chất có giá trị lâu bền về lịch sử, khoa học và được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, nếu bị mất đi không đơn thuần là mất tài sản vật chất, mà là mất đi những giá trị tinh thần lớn lao không gì bù đắp nổi Đồng thời, di tích còn mang ý nghĩa là nguồn lực cho phát triển kinh tế, một nguồn lực rất lớn, sẵn có nếu được khai thác, sử dụng tốt sẽ góp phần không nhỏ cho việc phát triển kinh tế của địa phương và đất nước.Di tích lịch sử giúp con người biết được cội nguồn của dân tộc mình, hiểu về truyền thống lịch sử, đặc trưng văn hóa của quê hương, đất nước và do đó nó có tác động ngược trở lại tới việc hình thành nhân cách con người Việt Nam hiện đại Không những thế, di tích lịch sử văn hóa là nhịp cầu nối liền quá khứ với hiện tại và tương lai, có ý nghĩa giáo dục truyền thống cho thế hệ trẻ, là điểm tựa tinh thần vững chãi cho sự nghiệp xây dựng quê hương trong thời đại mới Di tích lịch sử văn hóa là minh chứng hùng hồn, khẳng định giá trị tinh hoa văn hóa, đạo lý nhân văn, là niềm tự hào về trang sử truyền thống đấu tranh cách mạng vẻ
Trang 35vang của dân tộc nói chung và mỗi địa phương nói riêng Khai thác và sử dụng những tư liệu của di tích trong dạy học sẽ giúp thế hệ trẻ có cái nhìn đúng đắn hơn về những giá trị văn hóa dân tộc, hình thành và nâng cao ý thức trân trọng, giữ gìn và bảo vệ các tài sản người xưa để lại, đặc biệt hoàn thiện những giá trị cao đẹp về chân – thiện – mỹ
1.1.5 Những yêu cầu đối với việc khai thác và sử dụng tư liệu về di tích trong dạy học lịch sử ở trường THCS
Di tích lịch sử nói chung, di tích lịch sử văn hóa Lệ Chi Viên nói riêng được hình thành bởi những yếu tố chủ quan và khách quan trong quá trình phát triển của quốc gia, dân tộc Bản thân các di tích cũng bị tác động bởi nhiều yếu tố của đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội có tính lịch sử của quốc gia, dân tộc Nên khi khai thác, sử dụng tư liệu về di tích vào dạy học lịch sử trong nhà trường cần chú ý các yêu cầu sau:
Ví dụ khi dạy về Nước Đại Việt thời Lê sơ, giáo viên không thể không
đề cập đến công lao vô cùng to lớn của vị công thần – Danh nhân văn hóa nhân loại Nguyễn Trãi và vợ là Nguyễn Thị Lộ trong việc giúp vua Lê Thái
Tổ lập ra nhà hậu Lê phát triển phồn thịnh nhưng cuối cuộc đời phải gánh chịu tai họa khủng khiếp nhất trong lịch sử phong kiến Việt Nam
Đảm bảo tính Đảng cũng là một yêu cầu quan trọng trong dạy học lịch
sử, vì tính Đảng thể hiện quan điểm, tư tưởng, lợi ích của người sử dụng di tích Bản thân các di tích lịch sử đưa vào dạy học đều được Nhà nước Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng công nhận
Trang 36c Đảm bảo tính tiêu biểu và phù hợp:
Các di tích lịch sử văn hóa đều gắn với sự kiện và nhân vật lịch sử Do đó,
di tích đó phải được bảo tồn, trùng tu và các tư liệu được trân trọng để làm nguồn thông tin quý giá vận dụng cho hiện tại, định hướng cho tương lai Khi học sinh tiếp cận với di tích, với tư liệu các em có thể hình dung, tái hiện hình ảnh lịch sử một cách khái quát nhất, cụ thể và chân thực nhất Từ đó, bản thân các em học sinh có ý thức giữ gìn, trân trọng, phát huy những giá trị tốt đẹp ở hiện tại, bồi dưỡng lòng yêu quê hương đất nước
1.1.6 Nội dung di tích lịch sử Lệ Chi Viên
1.1.6.1 Quan điểm đánh giá vụ án Lệ Chi Viên là oan
Di tích Lệ Chi Viên được biết đến là hành cung, cung ly hay cung Yên
hà thời Trần được dựng lên làm chỗ nghỉ cho nhà vua mỗi khi kinh lý qua vùng Đông Bắc Nhưng trên hết di tích Lệ Chi Viên được biết đến với vụ thảm án oan nổi tiếng thời phong kiến của nước ta, nạn nhân là Danh nhân văn hóa thế giới Nguyễn Trãi và vợ là Lễ Nghi Học Sĩ Nguyễn Thị Lộ Vụ án oan xảy ra vào tháng 7 năm Nhâm Tuất (1442) được đề cập đến với các tài
liệu như: “Đại Việt sử kí toàn thư” là bộ quốc sử bằng chữ Hán và chữ
Nôm của Việt Nam, viết theo thể biên niên, ghi chép lịch sử Việt Nam từ thời đại truyền thuyết Kinh Dương Vương năm 2879 TCN đến năm 1675 đời vua Lê Gia Tông nhà Hậu Lê Bộ sử này được khắc in toàn bộ và phát hành lần đầu tiên vào năm Đinh Sửu (1697), đó là bộ chính sử Việt Nam xưa nhất còn tồn tại nguyên vẹn đến ngày nay Bộ sử được Ngô Sĩ Liên, một vị sử quan làm việc trong Sử quán dưới thời vua Lê Thánh Tông biên soạn; cuốn
Trang 37“Khâm định Việt sử thông giám cương mục” do Quốc Sử Quán triều Nguyễn
soạn thảo vào khoảng năm 1856 – 1884 cùng xác nhận vua Lê Thái Tông bị bạo bệnh mà băng hà, sau khi đưa về kinh đô thì Nguyễn Thị Lộ và Nguyễn
Trãi bị buộc tội giết vua và bị xử “tru di tam tộc”
Nhóm tác giả nghiên cứu lịch sử đương đại Phan Duy Kha, Lã Duy
Lan, Đinh Công Vĩ trong tác phẩm “Nhìn lại lịch sử”, NXB văn hóa - thông
tin năm 2003 cho rằng chủ mưu vụ án chính là Nguyễn Thị Anh – vợ thứ của vua Lê Thái Tông, như vậy hai cụ Nguyễn Thị Lộ và Nguyễn Trãi hoàn toàn
bị oan trong vụ án này
Trong “Việt Nam sử lược”, 2008, NXB Văn học của Trần Trọng Kim
cho biết vua mất ở Lệ Chi Viên triều đình đổ tội cho Nguyễn Thị Lộ giết vua
và bắt Nguyễn Trãi làm tội tru di cả ba họ
Các giáo sư, tiến sĩ, các nhà sử học, văn học hàng đầu Việt Nam đương đại như: Vũ Khiêu, Phan Huy Lê, Đinh Xuân Lâm, Đinh Công Vĩ, Vũ Ngọc Khánh, Mai Hồng, Minh Giang, Phan Đăng Nhật… đều có những bài viết về
Vụ án Lệ Chi Viên cùng hai nhân vật lịch sử là Nguyễn Trãi và Nguyễn Thị
Lộ được tập hợp trong cuốn: “Lễ nghi học sĩ Nguyễn Thị Lộ với vụ án Lệ Chi
Viên”,2004, NXB văn hóa – thông tin, đã cung cấp minh chứng đều khẳng
định đây là vụ án oan và cụ Nguyễn Trãi đã được minh oan sau 22 năm nhưng nỗi oan này còn chưa được gột rửa đối với cụ Nguyễn Thi Lộ Một yêu cầu với hậu thế là cần minh oan để trả lại sự trong sạch cho vị nữ Học sĩ tài ba của dân tộc thời phong kiến
Trong tiểu sử, hồi ký “Nguyễn Thị Lộ và vụ án Lệ Chi Viên” tác giả Bùi Thụy Đào Nguyên, hay tiểu thuyết “Lệ Chi Viên” của nhà văn Mai Thục,
NXB văn hóa – thông tin đều nói lên tấm lòng trong sáng, trung hiếu, phù trợ nhà vua xây dựng đất nước của hai vợ chồng cụ Nguyễn Thị Lộ và Nguyễn Trãi, vì vậy không lẽ gì mà họ lại chủ mưu giết minh quân
Bằng cuốn “Bên lề chính sử”, 2005, NXB Văn hóa thông tin, tác giả
Đinh Công Vĩ phân tích cho hậu thế thấy được đây là vụ án oan mà triều Lê
Trang 38sơ đã gán cho Nguyễn Trãi và Nguyễn Thị Lộ và cũng chính triều đại ấy minh oan cho cụ Nguyễn Trãi và chúng ta cần có trách nhiệm minh oan cho Lễ nghi học sĩ Nguyễn Thị Lộ
Với thi phẩm trường thiên “Lệ Chi hậu sử” của Nguyễn Gia Linh -
giám đốc nghiên cứu khoa học tại trung tâm Paul Pascal Bordeuux, Pháp - diễn tả nỗi oan trái của Nguyễn Trãi và Nguyễn Thị Lộ thành những trang ký
ức não nùng của thời Lê đầy bi thương thảm khốcvà phá tan những làn sương
mù dày đặc bao phủ bao triều đại nhà Lê, trung thành với sự thật lịch sử , soi sáng những tấm gương trung can, tiết liệt dưới chế độ phong kiến Việt Nam
Trong Tạp chí nhịp sống, năm 2003, tác giả Phan Huy Lê có bài
“Nguyễn Trãi – 560 năm sau vụ án Lệ chi viên” cho rằng bọn quyền thần
ghen ghét vợ chồng ông đã dựng lên vụ án kết tội ông cùng vợ là Nguyễn Thị
Lộ ám hại nhà vua; trong tập san Văn Sử Địa” số 24, tháng 1- 1957, từ trang
63 đến trang 73 đã có bài “Thử xét lại cái án Nguyễn Trãi”; hay tác giả Võ Thu Tịnh có bài viết “Vụ án Lệ Chi Viên” ngày 04/4/2007 trên trang web
http://vietsciences.free.fr/vietnam/sudia/vuan-lechivien.htm; trang báo
Người đưa tin phần Pháp luật địa chỉ
http://www.nguoiduatin.vn/mo-xe-vu-an-dau-doc-vua-le-o-le-chi-vien có đăng bài “Mổ xẻ vụ án đầu độc vua Lê ở
Lệ Chi Viên”; trên trang
http://baobacninh.com.vn/den-le-chi-vien-nho-le-nghi-hoc-sy-nguyen-thi-lo báo Bắc Ninh có bài “Đến Lệ Chi Viên nhớ về Lễ
nghi học sĩ Nguyễn Thị Lộ” Các bài báo đã tập hợp một số tư liệu cho thấy
vụ án là một âm mưu lớn của một bộ phận quan lại triều Lê, đứng đầu là Thái hậu Nguyễn Thị Anh
Nhà văn nữ người Pháp Yveline Féray đã viết “Dix
milleprintemps”(“Vạn Xuân” do Gs Nguyễn Khắc Linh dịch ),1996, NXB
Picquier, dài 1136 trang về Nguyễn Trãi và Nguyễn Thị Lộ và bà giành 211
trang viết về “Tấn bi kịch vườn lệ chi” Theo bà đó là bi kịch của một vĩ nhân
sống trong một xã hội quá ư bé nhỏ và chật hẹp
Trang 39Huyện ủy – HĐND – UBND huyện Gia Bình giới thiệu trong cuốn“Di
tích lịch sử- văn hóa huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh”, xuất bản năm 2012 cho
biết nơi đây đã xảy ra vụ án oan động trời của danh nhân Nguyễn Trãi vầ vợ
là Lễ Nghi học sĩ Nguyễn Thị Lộ ở thế kỉ XV
Ông Hoàng Hữu Đản viết vở bi kịch “Bí mật vườn Lệ chi” vào năm
1962 đạt giải thưởng Hội nghệ sĩ sân khấu Việt Nam năm 1981 nhân dịp
Nguyễn Trãi được phong là Danh nhân văn hóa thế giới; vở cải lương “Rạng
ngọc Côn Sơn” của Sân khấu đoàn cải lương Trần Hữu Trang; Nghệ sĩ ưu tú
Lê Chức chắp bút viết lên kịch bản “Oan khuất một thời” , hay vở kịch “Bí
mật Lệ Chi Viên” của Công ty Thái Dương (sân khấu IDECAF) từng được
báo chí hết lời ca ngợi đã giành được ba giải Mai Vàng năm 2007 Đặc biệt là
bộ phim tài liệu “Bí mật vụ án Lệ Chi Viên"từng được chiếu trên VTV1vào
lúc 22h30, ngày 8/11 /2008 đều cho thấy vụ án này là do Hoàng thái hậu Nguyễn Thị Anh cùng bè lũ thân cận gây ra cho vợ chồng cụ Nguyễn Trãi nhằm gạt bỏ những trở ngại cho ngôi vua của con trai bà là hoàng tử Bang
Cơ tức vua Lê Nhân Tông
Nhà thơ Nguyễn Thị Hồng có bài thơ “Trầm tư Lệ Chi Viên” với những vần thơ đầy xúc động: “Lệ Chi Viên còn mãi
Những oan hồn ngày ấy
Nức nở cùng nước non”
Nhà thơ Hoài Yên nhân ngày Hội thảo khoa học về Nguyễn Thị Lộ
ngày 19/12/2002 cũng có bài “Khóc về thảm án Lệ Chi viên”
“Mãi tuôn dòng lệ lệ Chi Viên
Khóc sự đời bao nỗi đảo điên
Khóc đấng anh hùng thừa trí dũng
Khóc người thục nữ lắm oan khiên…”
1.1.1.1 Một số quan điểm trái chiều
Bên cạnh những tài liệu liên quan đến Lệ Chi Viên – nơi xảy ra vụ án oan nghiệt nhất trong lịch sử nhân loại đối với vợ chồng quan Hành khiển
Trang 40thừa chỉ NguyễnTrãi Còn có tài liệu cho rằng đây là âm mưu giết vua, cụ thể
là: sách chính sử là: “Lịch triều hiến chương loại chí” do Phan Huy Chú soạn
trong 10 năm (1809-1819), cho rằng cụ nguyễn Thị Lộ nhân cơ hội vào hầu vua ở vườn Lệ Chi đã dùng thuốc độc giết vua Hoặc để biện minh cho sự việc làm tày trời của triều đình nhà Lê, đã có một số nguồn tư liệu trái chiều cho rằng đây là âm mưu giết vua của Học sĩ Nguyễn Thị Lộ để trả thù gia
đình ông của Nguyễn Trãi mà nổi bật nhất là truyền thuyết “Rắn báo oán”
1.1.6.2 Di tích Lệ Chi Viên
Khu di tích Lệ Chi Viên thuộc xã Đại Lai, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh, là một công trình kiến trúc uy nghi, trang trọng, nơi thờ tự và tưởng nhớ Danh nhân Văn hóa thế giới Nguyễn Trãi cùng Lễ nghi học sĩ Nguyễn Thị Lộ Lệ Chi Viên trên đất Đại Lai là một hành cung nằm trên con đường
bộ nối kinh thành Thăng Long với miền Đông Bắc của Tổ quốc được xây dựng từ thời Lý Đến thời Trần, vuaTrần Minh Tông cho trùng tu lại và được đặt tên thành hành cung Ly Trang.Đời Lê, lại được sửa sang lại và được đổi tên mới là hành cung Yên Hà Nơi đây không chỉ có ý nghĩa là điểm dừng chân nghỉ ngơi của các nhà vua khi đi thị sát vùng đông bắc Bắc Bộ mà còn ý nghĩa quân sự quan trọng mà các triều đại phong kiến khai thác làm điểm chốt của phòng tuyến phía Bắc đất nước.Khi Vua Lê Thái Tông đến Chí Linh duyệt binh, trên đường trở về Thăng Long, nghỉ tại đây và mất vì bạo bệnh trong đêm 4 tháng 8 năm 1442 Sau cái chết của vua Lê Thái Tông và thảm án tru di 3 họ người anh hùng dân tộc Nguyễn Trãi cùng Lễ nghi học sĩ Nguyễn Thị Lộ, nơi này được gọi theo tên mới: Lệ Chi Viên (vườn vải) Ngày 15 tháng 9 năm 2010 UBND tỉnh Bắc Ninh đã trao quyết định công nhận Di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh cho Khu di tích Lệ Chi Viên.Đâylà một sự kiện trọng đại không chỉ với nhân dân Đại Lai, nhân dân Bắc Ninh, mà còn là sự kiện vô cùng quan trọng với nhân dân cả nước và những người yêu kính danh nhân văn hóa Nguyễn Trãi và Lễ nghi học sỹ Nguyễn Thị Lộ trên toàn thế giới, có tác dụng giáo dục sâu sắc với mỗi người, đặc biệt là thế hệ trẻ