1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Giáo dục ý thức bảo vệ đường biên giới việt nam – trung quốc trong dạy học lịch sử địa phương cho học sinh trung học phổ thông tỉnh lạng sơn

112 561 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 112
Dung lượng 3 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong bối cảnh toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, với những diễn biến phức tạp của tình hình khu vực và thế giới, việc giáo dục ý thức về biên giới lãnh thổ cho học sin

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

NGUYỄN THỊ LAN HƯƠNG

GIÁO DỤC Ý THỨC BẢO VỆ ĐƯỜNG BIÊN GIỚI VIỆT NAM – TRUNG QUỐC TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ ĐỊA PHƯƠNG CHO HỌC SINH

TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TỈNH LẠNG SƠN

LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM LỊCH SỬ

HÀ NỘI – 2016

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

NGUYỄN THỊ LAN HƯƠNG

GIÁO DỤC Ý THỨC BẢO VỆ ĐƯỜNG BIÊN GIỚI VIỆT NAM – TRUNG QUỐC TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ ĐỊA PHƯƠNG CHO HỌC SINH

TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TỈNH LẠNG SƠN

LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM LỊCH SỬ CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC

(BỘ MÔN LỊCH SỬ)

Mã số: 60 14 01 11

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Vũ Quang Hiển

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành khoá học và luận văn tốt nghiệp, tôi đã nhận được sự hướng dẫn và giúp đỡ của nhiều cá nhân và tập thể

Trước hết, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến tập thể các thầy, cô giáo

và cán bộ khoa Sư phạm, trường Đại học Giáo dục – Đại học Quốc gia Hà Nội

đã tận tâm giảng dạy, tạo điều kiện giúp đỡ tôi học tập, nghiên cứu trong suốt thời gian tham gia khoá học

Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới thầy giáo của tôi – PGS.TS Vũ Quang Hiển, người thầy đầy trách nhiệm, nhiệt tình hướng dẫn khoa học và giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này

Tôi xin chân thành cảm ơn tới Ban giám hiệu trường THPT Chuyên Chu Văn An; THPT Việt Bắc; THPT Nội trú tỉnh Lạng Sơn; gia đình, bạn bè đã tạo điều kiện, cộng tác và ủng hộ tôi trong quá trình học tập, khảo sát, thu thập dữ liệu liên quan đến luận văn tốt nghiệp

Mặc dù tôi đã cố gắng, nỗ lực hoàn thành luận văn nhưng nghiên cứu chắc chắn không tránh khỏi thiếu sót, kính mong nhận được ý kiến đóng góp của thầy cô và các bạn đồng nghiệp để luận văn tốt nghiệp của tôi được hoàn thiện hơn

Xin trân trọng cảm ơn!

Hà Nội, ngày 28/10/2016

Tác giả

Nguyễn Thị Lan Hương

Trang 5

MỤC LỤC

Lời cảm ơn i

Danh mục chữ viết tắt ii

Mục lục iii

Danh mục bảng vi

Danh mục hình vi

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 11

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC GIÁO DỤC Ý THỨC BẢO VỆ ĐƯỜNG BIÊN GIỚI VIỆT NAM – TRUNG QUỐC TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ CHO HỌC SINH THPT 11

1.1 Một số khái niệm 11

1.1.1 Ý thức 11

1.1.2 Giáo dục ý thức 11

1.1.3 Đường biên giới lãnh thổ 11

1.1.4 Cách xác định biên giới quốc gia 12

1.1.5 Khái niệm ”Lịch sử địa phương” 13

1.1.6 Vai trò của dạy học lịch sử địa phương trong chương trình giáo dục 14

1.2 Tầm quan trọng của vấn đề giáo dục ý thức bảo vệ đường biên giới lãnh thổ Việt Nam – Trung Quốc 17

1.3 Ý nghĩa của vấn đề bảo vệ đường biên giới lãnh thổ Việt Nam – Trung Quốc 26

1.4 Thực trạng của việc đưa nội dung giáo dục ý thức bảo vệ đường biên giới Việt Nam – Trung Quốc trong dạy học Lịch sử cho học sinh Trung học phổ thông 30

1.5 Những yêu cầu đặt ra cần giải quyết 35

CHƯƠNG 2 : MỘT SỐ NỘI DUNG GIÁO DỤC Ý THỨC BẢO VỆ ĐƯỜNG BIÊN GIỚI VIỆT NAM – TRUNG QUỐC TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ ĐỊA PHƯƠNG CHO HỌC SINH TRUNG HỌCPHỔ THÔNG

Trang 6

2.1 Những yêu cầu chung khi xây dựng nội dung giáo dục ý thức bảo vệ đường biên giới Việt Nam – Trung Quốc trong dạy học Lịch sử địa phương cho học

sinh Trung học phổ thông tỉnh Lạng Sơn 40

2.2 Nội dung giáo dục ý thức bảo vệ đường biên giới Việt Nam – Trung Quốc trong dạy học Lịch sử địa phương cho học sinh Trung học phổ thông tỉnh Lạng Sơn 41

2.2.1 Bảo vệ cương vực quốc gia 41

2.2.2 Tôn trọng, giữ gìn, bảo vệ đường biên, mốc quốc giới 42

2.2.3 Tăng cường giao lưu chính trị, trao đổi, hợp tác kinh tế, quốc phòng – an ninh và văn hoá – du lịch giữa hai nước Việt Nam – Trung Quốc 45

2.2.4 Giúp đỡ các lực lượng chức năng bảo vệ biên giới 51

2.2.5 Nêu cao cảnh giác, chủ động phòng ngừa, làm thất bại âm mưu, hoạt động phá hoại, vi phạm chủ quyền, an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội trong khu vực biên giới đất liền 53

2.2.6 Phòng, chống buôn lậu, gian lận thương mại, chống tội phạm và các tệ nạn xã hội 53

2.2.7 Giáo dục chính trị tư tưởng, nâng cao nhận thức về nền quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân cho học sinh THPT 54

CHƯƠNG 3 : MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÁO DỤC VÀ THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 56

3.1 Mô ̣t số yêu cầu chung 56

3.1.1 Xác định đúng những kiến thức cơ bản cần giáo dục 56

3.1.2 Đảm bảo tính khoa học và tính tư tưởng 58

3.1.3 Đảm bảo tính cụ thể, hình ảnh, giàu biểu tượng lịch sử 59

3.1.4 Phát huy tính tích cực của học sinh 60

3.1.5 Sử dụng đa dạng các biện pháp trong từng bài giảng 61

3.2 Một số biện pháp giáo dục ý thức bảo vệ đường biên giới Việt Nam – Trung Quốc trong dạy học lịch sử địa phương cho học sinh THPT tỉnh Lạng Sơn 62 3.2.1 Giáo dục ý thức bảo vệ đường biên giới Việt Nam – Trung Quốc cho học

Trang 7

3.2.2 Giáo dục ý thức bảo vệ đường biên giới Việt Nam – Trung Quốc cho học

sinh thông qua hoạt động ngoại khoá 73

3.2.2 Nói chuyện lịch sử 78

3.2.3 Tổ chức cuộc thi lịch sử về chủ đề “Thế hệ trẻ Lạng Sơn với trách nhiệm bảo vệ đường biên giới Việt Nam – Trung Quốc” 79

3.3 Thực nghiệm sư phạm 80

3.3.1 Mục đích thực nghiệm 80

3.3.2 Đối tượng và địa bàn thực nghiệm 81

3.3.3 Nội dung và phương pháp thực nghiệm 81

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 85

1 Kết luận 85

2 Khuyến nghị 86

TÀI LIỆU THAM KHẢO 89

PHỤ LỤC 94

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Bảng 3.1: Kết quả thực nghiệm 83

DANH MỤC HÌNH Hình 1.1 Bản đồ hành chính biên giới tỉnh Lạng Sơn 31

Hình 2.1 Cán bộ, chiến sỹ Đồn Biên phòng Ba Sơn (Cao Lộc – Lạng Sơn) 43

phát quang cột mốc trên biên giới 43

Hình 2.2 Bộ đội Biên phòng cùng đồng bào các dân tộc tuần tra 44

bảo vệ biên giới 44

Hình 2.3 Biên phòng Lạng Sơn và biên phòng Trung Quốc trong một buổi 49

tuần tra chung 49

Hình 2.4 Giao lưu văn nghệ thanh niên Việt – Trung 50

Hình 3.1 Cột mốc 1116 76

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Xây dựng và bảo vệ Tổ quốc là hai nhiệm vụ chiến lược đang đặt ra những yêu cầu về xây dựng con người mới có phẩm chất tốt và năng lực cao Học sinh, sinh viên chính là người chủ tương lai của đất nước, do vậy cần phải tăng cường hơn nữa công tác giáo dục nâng cao ý thức bảo vệ Tổ quốc cho đối tượng này Một trong những nhiệm vụ quan trọng ở các học viện, các trường đại học ngoài quân đội, các trường Trung học phổ thông là giáo dục cho mọi người nhận thức sâu sắc đặc điểm tình hình, yêu cầu mới về quốc phòng, nâng cao ý thức cảnh giác, xây dựng lòng tin vào bản lĩnh con người Việt Nam, tự hào về truyền thống dân tộc, chủ động chuẩn bị, sẵn sàng đối phó có hiệu quả với mọi tình huống

Trong Chỉ thị về tổ chức phong trào toàn dân tham gia bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia, Thủ tướng Chính phủ giao Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trì, phối hợp với Bộ Quốc phòng, Bộ Công an xây dựng và đưa vào chương trình giảng dạy nội dung bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia cho học sinh, sinh viên các trường trung học phổ thông, trung cấp chuyên nghiệp, cao đẳng và đại học Sau nhiều năm diễn ra tranh luận trên các diễn đàn khoa học về việc nên hay không đưa vào chương trình, sách giáo khoa nội dung giảng dạy về chủ quyền lãnh thổ, vấn đề này đã được khẳng định rõ Việc tiếp theo là triển khai thực hiện cho phù hợp để người học thực sự hứng thú, lĩnh hội kiến thức bổ ích từ chương trình

Trong bối cảnh toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, với những diễn biến phức tạp của tình hình khu vực và thế giới, việc giáo dục ý thức

về biên giới lãnh thổ cho học sinh, sinh viên là góp phần nâng cao nhận thức, xây dựng ý thức trách nhiệm đối với nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, tạo điều kiện thuận lợi cho sự nghiệp xây dựng đất nước; góp phần giữ gìn hoà bình và an ninh khu vực, phát triển phẩm chất và năng lực của con người Việt Nam, của công dân đất nước, công dân khu vực và công dân toàn cầu

Trang 10

Xây dựng đường biên giới hòa bình, hữu nghị, ổn định là vấn đề đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc Đảng

và Nhà nước Việt Nam coi việc giữ gìn môi trường hòa bình, ổn định là điều kiện để phát triển kinh tế - xã hội Điều đó không chỉ phù hợp với lợi ích và luật pháp của Việt Nam, mà còn phù hợp với lợi ích và luật pháp quốc tế, đáp ứng nguyện vọng hoà bình của nhân dân hai nước Việt Nam, Trung Quốc và nhân dân thế giới Trong giải quyết các vấn đề tranh chấp lãnh thổ, biên giới, Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn nhất quán thực hiện quan điểm giải quyết các tranh chấp bằng biện pháp hòa bình, tôn trọng độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và lợi ích chính đáng của nhau

Trong một số trường Trung học phổ thông hiện nay, việc giáo dục cho học sinh về tư tưởng, đạo đức, lối sống, về quyền lợi và trách nhiệm của công dân đối với sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc cũng chưa được coi trọng đúng mức Thực tế này đã dẫn đến xuất hiện hiện tượng không nhận thức rõ được lòng tự hào, tự tôn dân tộc; mơ hồ về ý thức, trách nhiệm bản thân đối với việc tăng cường quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc; hoặc không hiểu đầy đủ nội hàm nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc

Để giúp học sinh nâng cao trình độ, lòng tự hào, tự tôn dân tộc, ý chí tự chủ, tự lập, tự cường, nâng cao ý thức bảo vệ biên giới, lãnh thổ của nước Việt Nam, thì việc giáo dục, bồi dưỡng cho học sinh ở nhà trường về mối quan hệ hợp tác hữu nghị với các nước láng giềng là hết sức quan trọng và cần thiết Đặc biệt là mối quan hệ Việt Nam – Trung Quốc trong giai đoạn hiện nay

Là hai nước láng giềng, chung biên giới trên bộ và trên biển, lại có quá trình gắn bó tương tác về văn hóa lịch sử, cũng như các cuộc chiến tranh qua lại giữa hai nước, đã làm cho quan hệ Việt - Trung trở nên vô cùng phức tạp và nhạy cảm Có thể tóm gọn mối quan hệ Việt - Trung trong sáu chữ "vừa hợp tác, vừa đấu tranh"

Như vậy, việc đưa nội dung giáo dục, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của học sinh về ý thức bảo vệ chủ quyền, an ninh biên giới lãnh thổ Việt Nam –

Trang 11

Trung Quốc trong dạy học Lịch sử ở các trường Trung học phổ thông là hết sức quan trọng và cần thiết

Tuyến biên giới Lạng Sơn (Việt Nam) - Quảng Tây (Trung Quốc) có vị trí chiến lược quan trọng cả về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng - an ninh, đối ngoại của hai Nhà nước Nhận thức được việc xây dựng đường biên giới hòa bình, hữu nghị với nước láng giềng là việc làm quan trọng, thời gian qua lực lượng Bộ đội Biên phòng tỉnh Lạng Sơn và Công an Biên phòng, Bộ đội Biên phòng Quảng Tây, Trung Quốc đã quán triệt nghiêm túc thỏa thuận hợp tác biên phòng, thực hiện tốt về hợp tác quốc phòng và đối ngoại, góp sức xây dựng tuyến biên giới Việt Nam - Trung Quốc hòa bình, hữu nghị

Xuất phát những những lý do trên, chúng tôi lựa chọn đề tài “Giáo dục ý

thức bảo vệ đường biên giới Việt Nam - Trung Quốc trong dạy học Lịch sử địa

phương cho học sinh Trung học phổ thông tỉnh Lạng Sơn” làm đề tài cho luận

văn tốt nghiệp của mình

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Quốc gia hình thành bởi ba thành tố cơ bản là lãnh thổ, nhà nước và dân

cư Trong đó, yếu tố biên giới - lãnh thổ là nền tảng đầu tiên Bản chất vấn đề biên giới - lãnh thổ là hệ trọng và hết sức nhạy cảm, việc bảo vệ toàn vẹn biên

giới - lãnh thổ là mối quan tâm hàng đầu của mỗi quốc gia, dân tộc

Biên giới quốc gia của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là đường và mặt thẳng đứng theo đường đó để xác định giới hạn lãnh thổ đất liền, các đảo, các quần đảo trong đó có quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa, vùng biển, lòng đất, vùng trời của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam [4; tr.1]

Biên giới quốc gia trên đất liền giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam với các nước láng giềng được xác định bằng hệ thống mốc quốc giới, Hiệp ước về hoạch định biên giới giữa Việt Nam với các nước láng giềng cùng các bản đồ, Nghị định thư kèm theo các hiệp ước đó [4; tr.2]

Trang 12

Cuốn sách “Biên giới trên đất liền Việt Nam – Trung Quốc, biên giới hoà

bình, ổn định, hữu nghị, hợp tác và phát triển” của Ban Tuyên giáo Trung ương

đã giới thiệu, tuyên truyền về công tác phân giới cắm mốc được hoàn thành vào năm 2008 trên cơ sở Hiệp ước biên giới trên đất liền Việt Nam – Trung Quốc (năm 1999) và việc kí kết ba văn kiện: Nghị định thư phân giới cắm mốc, Hiệp định về quy chế quản lý biên giới, Hiệp định về cửa khẩu và quy chế quản lý cửa khẩu biên giới trên đất liền Việt Nam – Trung Quốc đã mở ra một trang mới trong lịch sử quan hệ Việt Nam – Trung Quốc Đường biên giới trên đất liền giữa hai nước đã được xác định một cách rõ ràng với một hệ thống mốc giới hoàn chỉnh, hiện đại, tạo điều kiện cho các địa phương hai bên biên giới mở rộng hợp tác kinh tế, tăng cường giao lưu hữu nghị Việc hoàn thành giải quyết vấn đề biên giới trên đất liền là biểu hiện sinh động của mối quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện Việt Nam – Trung Quốc, góp phần gia tăng sự tin cậy giữa hai bên, tạo động lực mới thúc đẩy quan hệ hai nước phát triển mạnh mẽ hơn, vững chắc hơn, cũng là sự đóng góp tích cực đối với hoà bình, ổn định và phát triển ở khu vực và trên thế giới

Cuốn Giáo dục quốc phòng – an ninh lớp 11 của Bộ Giáo dục và Đào tạo

đã cung cấp cụ thể về vấn đề biên giới lãnh thổ và bảo vệ biên giới quốc gia nhằm hình thành cho học sinh THPT ý thức về chủ quyền lãnh thổ, ý thức bảo

vệ biên giới quốc gia Trong cuốn sách này, các tác giả đã khẳng định rằng:

“Xây dựng, quản lí, bảo vệ biên giới quốc gia có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối

với sự toàn vẹn lãnh thổ, chủ quyền quốc gia, góp phần giữ vững sự ổn định chính trị, phát triển kinh tế - xã hội, tăng cường quốc phòng, an ninh của đất nước Vì vậy, xây dựng, quản lí, bảo vệ biên giới quốc gia là trách nhiệm của Đảng, Nhà nước, của toàn dân, trước hết là chính quyền nhân dân khu vực biên giới và các lực lượng vũ trang nhân dân, trong đó Bộ đội Biên phòng làm nòng cốt, chuyên trách trong quản lí, bảo vệ biên giới quốc gia” [2; tr.38] Các tác giả

của cuốn sách cũng đưa ra những nội dung cốt lõi để xây dựng và quản lí, bảo

vệ biên giới quốc gia nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là: “Biên giới

Trang 13

là bờ cõi, là tuyến đầu của Tổ quốc và là cửa ngõ để giao lưu giữa các quốc gia Khu vực biên giới là địa bàn chiến lược về quốc phòng, an ninh của mỗi quốc gia” Đồng thời các tác giả cũng nhấn mạnh: “Xây dựng khu vực biên giới có quan hệ chặt chẽ với quản lí, bảo vệ biên giới Chỉ có xây dựng biên giới, khu vực biên giới vững mạnh mới tạo điều kiện, cơ sở cho quản lí, bảo vệ biên giới quốc gia; giữ vững ổn định bên trong, ngăn ngừa hoạt động xâm nhập, phá hoại

từ bên ngoài, tăng cường đoàn kết hữu nghị với các nước láng giềng, tạo môi trường thuận lợi cho xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ Tổ Quốc” [2,

tr.40]

Trong chương trình Sách giáo khoa môn Lịch sử THPT, nội dung giáo dục ý thức bảo vệ chủ quyền, an ninh biên giới Việt Nam – Trung Quốc không được viết thành một bài học riêng, mà được lồng ghép trong một số nội dung như: các cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc thời kì Bắc thuộc; cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Tống thời Tiền Lê, thời Lý; cuộc kháng chiến chống quân Thanh (1789); đấu tranh bảo vệ Tổ quốc (1975 – 1979)…

Trong chương trình Sách giáo khoa Lịch sử lớp 12, nội dung giáo dục ý thức bảo vệ biên giới Việt Nam Trung Quốc được viết trong bài 25 – Việt Nam xây dựng chủ nghĩa xã hội và đấu tranh bảo vệ Tổ Quốc (1976 – 1986), mục II –

Đấu tranh bảo vệ Tổ Quốc (1975 – 1979) như sau: Bảo vệ biên giới phía Bắc:

Hành động thù địch chống Việt Nam của tập đoàn Pôn Pốt được một số nhà lãnh đạo Trung Quốc lúc đó đồng tình ủng hộ Họ còn có những hành động làm tổn hại đến tình hữu nghị của nhân dân hai nước như: cho quân khiêu khích dọc biên giới, dựng lên sự kiện “nạn kiều”, cắt viện trợ, rút chuyên gia Nghiêm trọng hơn, sáng 17 – 2 – 1979, quân đội Trung Quốc huy động 32 sư đoàn mở cuộc tiến công dọc biên giới nước ta từ Móng Cái (Quảng Ninh) đến Phong Thổ (Lai Châu) Để bảo vệ lãnh thổ Tổ Quốc, quân dân ta, trực tiếp là quân dân sáu tỉnh biên giới phía Bắc, đã đứng lên chiến đấu Đến ngày 18 – 3 – 1979, quân Trung Quốc rút khỏi nước ta”.[17, tr.207] Nhưng đáng tiếc nội dung này lại

Trang 14

nằm trong chương trình giảm tải của Bộ Giáo dục và đào tạo, không được giảng dạy trên lớp

Công trình nghiên cứu “Hoạt động đối ngoại của một số tỉnh biên giới

phía Bắc với Trung Quốc từ năm 1991 đến nay” (2005) của tác giả Phạm Hoàng

Dung, đề tài cấp bộ 2004 – 2005, Học viện chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh đã tổng kết hơn 10 năm hoạt động đối ngoại với Trung Quốc của một số tỉnh biên giới phía Bắc, từ đó đề tài đã đề xuất phương hướng, giải pháp tăng cường hoạt động đối ngoại có hiệu quả, nhằm phát triển kinh tế xã hội ở các tỉnh biên giới giáp Trung Quốc, tăng cường quan hệ hữu nghị hợp tác và phát triển giữa hai nước

Trên tạp chí Nghiên cứu Trung Quốc số 1 (173) - 2016, bài viết “Quan hệ

hợp tác giữa các địa phương giáp biên của Việt Nam với Trung Quốc và một số giải pháp” của tác giả Phạm Lan Hương đã có một cái nhìn khái quát về tình

hình biên giới giữa các tỉnh giáp biên với Trung Quốc ổn định, góp phần duy trì môi trường hoà bình, ổn định, giữ vững độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, đóng góp quan trọng vào xây dựng đường biên giới Việt Nam – Trung Quốc hoà bình, hữu nghị, ổn định và phát triển

Với chủ đề giáo dục ý thức bảo vệ biên giới nói chung, ý thức bảo vệ chủ

quyền biển đảo Tổ quốc đã có một số công trình nghiên cứu như: Dấu ấn Việt

Nam trên biển Đông của tác giả Trần Công Trục (2011) đã nhấn mạnh vị trí vai

trò của biển Đông trong lịch sử dân tộc Tác phẩm đề cập đến những định nghĩa mang tính chuyên ngành về nội thuỷ, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa và chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia Một quốc gia ven biển như Việt Nam song song với việc giữ chủ quyền trên đất liền là nhiệm vụ giữ chủ quyền trên “lãnh hải” hay còn gọi là

“vùng nước lãnh thổ” Chủ quyền này được mở rộng và áp dụng đối với cả vùng trời trên lãnh hải, cũng như đối với đáy biển và lòng đất dưới đáy của lãnh hải

Tác giả Vũ Quang Hiển có bài viết Chủ trương của Đảng và Nhà nước

Việt Nam về kết hợp phát triển kinh tế biển và bảo vệ chủ quyền biển, đảo (1986

Trang 15

– 2007) nhấn mạnh về giá trị chiến lược của biển đảo Việt Nam: “Biển, đảo có

vị trí rất quan trọng, không chỉ với phát triển kinh tế - xã hội, mà cả với quốc phòng – an ninh Bảo vệ chủ quyền biển, đảo không chỉ mang ý nghĩa bảo vệ một địa bàn sống, địa bàn phát triển kinh tế, mà còn là bảo vệ một địa bàn chiến lược lợi hại, nằm trong thế trận quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân bảo

vệ Tổ quốc” [14, tr.3]

Viết về chủ đề chủ quyền biển, đảo của Tổ Quốc có tác giả Đậu Thị Hải

Vân với luận văn “Giáo dục ý thức về chủ quyền biển, đảo Tổ Quốc cho học

sinh trong dạy học Lịch sử Việt Nam lớp 10, Trung học phổ thông (chương trình chuẩn)” Tác giả nhấn mạnh vai trò, tầm quan trọng vấn đề giáo dục ý thức về

chủ quyền biển, đảo Tổ Quốc cho học sinh THPT trong dạy học Lịch sử, khẳng định ý thức về chủ quyền lãnh thổ quốc gia nói chung, chủ quyền biển, đảo Tổ Quốc nói riêng được hình thành từ rất sớm, càng tự hào và trân trọng di sản quá khứ, chúng ta càng phải khai thác, khơi dậy nguồn sức mạnh của bao thế hệ người Việt Nam trong sự nghiệp giữ vững chủ quyền vùng biển, đảo, thềm lục địa thiêng liêng của Tổ quốc

Một số công trình trên mới chỉ tập trung vào vấn đề biên giới trên biển, chưa đi sâu vào vấn đề đường biên giới trên bộ của Việt Nam với Trung Quốc, nhưng đã giúp chúng tôi những gợi mở để tiếp tục nghiên cứu, sưu tầm, khai thác tài liệu để tổ chức dạy học lịch sử nhằm giáo dục ý thức bảo vệ đường biên giới Việt Nam – Trung Quốc trong dạy học lịch sử địa phương cho học sinh THPT tỉnh Lạng Sơn

3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu: Quá trình giáo dục ý thức bảo vệ đường biên giới

Việt Nam - Trung Quốc

3.2 Phạm vi nghiên cứu:

- Về nội dung, đề tài tập trung vào xây dựng nội dung và biện pháp giáo

dục ý thức bảo vệ đường biên giới trên đất liền Việt Nam - Trung Quốc cho học sinh Trung học phổ thông tỉnh Lạng Sơn qua chương trình lịch sử địa phương

Trang 16

- Về thời gian, từ khi hoàn thành công tác phân giới cắm mốc biên giới

trên đất liền Việt Nam – Trung Quốc năm 2009 đến năm 2015

- Về không gian, phạm vi điều tra, khảo sát thực trạng, thực nghiệm: tiến

hành tại trường THPT Chuyên Chu Văn An (Lạng Sơn)

4 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

4.1 Mục đích

Trên cơ sở khẳng định tầm quan trọng của việc giáo dục, nâng cao ý thức trách nhiệm bảo vệ đường biên giới lãnh thổ Việt Nam – Trung Quốc đề tài xây dựng nội dung và đề xuất một số biện pháp giáo dục ý thức bảo vệ đường biên giới Việt Nam - Trung Quốc trong dạy học Lịch sử địa phương cho học sinh Trung học phổ thông tỉnh Lạng Sơn nhằm đảm bảo hoà bình, hữu nghị, thúc đẩy

sự hợp tác trên các lĩnh vực kinh tế, văn hoá, chính trị, xã hội… giữa hai quốc gia Việt Nam – Trung Quốc ở hiện tại và tương lai

4.2 Nhiệm vụ

- Tìm hiểu cơ sở lý luận về vấn đề giáo dục ý thức bảo vệ biên giới lãnh thổ nói chung, bảo vệ đường biên giới Việt Nam – Trung Quốc nói riêng và những yêu cầu khi xây dựng nội dung và biện pháp giáo dục ý thức bảo vệ

đường biên giới Việt Nam - Trung Quốc trong dạy học Lịch sử địa phương cho

học sinh Trung học phổ thông tỉnh Lạng Sơn

- Khảo sát, đánh giá thực trạng việc thực hiện đưa nội dung giáo dục ý thức bảo vệ biên giới lãnh thổ nói chung, bảo vệ đường biên giới Việt Nam – Trung Quốc trong dạy học Lịch sử địa phương cho học sinh THPT

- Nghiên cứu nội dung phần Lịch sử quan hệ Việt Nam – Trung Quốc, xây dựng nội dung và đề xuất biện pháp giáo dục ý thức bảo vệ đường biên giới Việt Nam – Trung Quốc trong dạy học Lịch sử địa phương cho học sinh THPT

- Thực nghiệm và đánh giá tính hiệu quả, khả thi của việc xây dựng nội dung

và đề xuất biện pháp giáo dục ý thức bảo vệ đường biên giới Việt Nam – Trung Quốc trong dạy học Lịch sử địa phương cho học sinh THPT tỉnh Lạng Sơn

Trang 17

5 Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở phương pháp luận: dựa trên những quan điểm của chủ nghĩa Mác

Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm đường lối của Đảng và Nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam về lịch sử, giáo dục

5.2 Phương pháp nghiên cứu

- Nghiên cứu lý thuyết: đọc và phân tích, tổng hợp các công trình nghiên cứu, tài liệu sách báo, tạp chí, internet… về lịch sử mối quan hệ láng giềng Việt Nam – Trung Quốc, giáo dục học, phân tích nội dung chương trình, SGK Lịch

sử lớp l2

- Quan sát, điều tra thu thập thông tin về vấn đề giáo dục ý thức bảo vệ đường biên giới Việt Nam – Trung Quốc cho học sinh THPT thông qua lịch sử địa phương tỉnh Lạng Sơn: điều tra bằng phiếu hỏi đối với giáo viên và học sinh trường THPT Chuyên Chu Văn An (Lạng Sơn)

- Sưu tầm các tài liệu liên quan đến đề tài

- Thực nghiệm sư phạm

6 Giả thuyết khoa học

Nếu xây dựng nội dung và biện pháp giáo dục ý thức bảo vệ đường biên giới Việt Nam - Trung Quốc trong dạy học Lịch sử địa phương cho học sinh THPT tỉnh Lạng Sơn sẽ góp phần đa dạng hơn nội dung dạy học môn Lịch

sử nói chung, nội dung lịch sử địa phương tỉnh Lạng Sơn nói riêng, đồng thời nâng cao ý thức trách nhiệm của học sinh đối với nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ

Tổ Quốc nói chung, bảo vệ đường biên giới lãnh thổ hoà bình, hữu nghị Việt – Trung nói riêng

7 Đóng góp của đề tài

Thực hiện tốt những nhiệm vụ đề ra, luận văn góp phần:

- Khẳng định được vai trò, ý nghĩa, sự cần thiết của việc xây dựng nội dung và biện pháp giáo dục ý thức bảo vệ đường biên giới hoà bình, hữu nghị Việt Nam - Trung Quốc trong dạy học Lịch sử địa phương ở trường THPT

Trang 18

- Đánh giá được thực trạng việc đưa nội dung giáo dục ý thức bảo vệ đường biên giới hoà bình, hữu nghị cho học sinh THPT vào dạy học môn Lịch sử

- Xây dựng nội dung và đề xuất những biện pháp giáo dục ý thức bảo

vệ đường biên giới lãnh thổ nói chung, bảo vệ đường biên giới lãnh thổ hoà bình, hữu nghị Việt Nam - Trung Quốc nói riêng cho học sinh THPT qua dạy học Lịch sử địa phương tỉnh Lạng Sơn

8 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài:

- Ý nghĩa khoa học: làm phong phú thêm lí luận PPDHLS nói chung, đa dạng hơn nội dung dạy học môn Lịch sử nói riêng

- Ý nghĩa thực tiễn: là nguồn tài liệu tham khảo cho giáo viên môn Lịch

sử ở các trường THPT, sinh viên các trường Cao đẳng, Đại học Sư phạm, Đại học Giáo dục; và bản thân tác giả luận văn vận dụng trong quá trình DHLS ở trường THPT

9 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc giáo dục ý thức bảo vệ đường biên giới Việt Nam - Trung Quốc trong dạy học Lịch sử cho học sinh THPT

Chương 2: Một số nội dung giáo dục ý thức bảo vệ đường biên giới Việt Nam - Trung Quốc trong dạy học Lịch sử địa phương cho học sinh Trung học phổ thông tỉnh Lạng Sơn

Chương 3: Một số biện pháp giáo dục và thực nghiệm

Trang 19

Ý thức là một trong hai phạm trù thuộc vấn đề cơ bản của triết học Nó

là hình thức cao của sự phản ánh, của hiện thực khách quan, hình thức mà riêng con người mới có

Theo từ điển Tiếng Việt định nghĩa:

Ý thức là khả năng của con người phản ánh và tái hiện hiện thực vào

trong tư duy; là sự nhận thức đúng đắn, biểu hiện bằng thái độ hành động cần

phải có (ý thức được việc làm của mình) [30 , tr 1486-1487]

1.1.2 Giáo dục ý thức

Giáo dục là hoạt động nhằm tác động một cách có hệ thống đến sự

phát triển tinh thần, thể chất của một đối tượng nào đó, làm cho đối tượng ấy dần dần có được những phẩm chất và năng lực như yêu cầu đề ra [30 , tr 510]

Như vậy, giáo dục ý thức là sự phản ánh của hiện thực khách quan,

hình thức thông qua quá trình giáo dục con người Như ý thức về chủ quyền lãnh thổ tổ quốc, ý thức về chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc Giáo dục ý thức chính là quá trình giáo dục làm khơi dậy sự phản ánh của hiện thực khách quan cho con người, làm con người nhận thức đúng đắn, ý thức được thái độ hành động của mình

1.1.3 Đường biên giới lãnh thổ

Cùng với việc hình thành và mở rộng lãnh thổ, biên giới quốc gia Việt Nam dần dần cũng hoàn thiện

Các nước trên thế giới đều xây dựng khái niệm biên giới quốc gia và chính thức ghi nhận trong một đạo luật về biên giới Các khái niệm tuy khác nhau nhưng nhìn chung đều thể hiện hai dấu hiệu đặc trưng:

Trang 20

- Một là, biên giới quốc gia là giới hạn lãnh thổ của một quốc gia

- Hai là, biên giới quốc gia xác định chủ quyền hoàn toàn và tuyệt đối của quốc gia đối với lãnh thổ (vùng đất, vùng trời, lòng đất)

Kế thừa kinh nghiệm lập pháp của các nước trên thế giới Điều 1 Luật Biên giới quốc gia của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định biên

giới quốc gia như sau: ”Biên giới quốc gia của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa

Việt Nam là đường và mặt thẳng đứng theo đường đó để xác định giới hạn lãnh thổ đất liền, các đảo, các quần đảo trong đó có quần đảo Hoàng Sa và Trường

Sa, vùng biển, lòng đất, vùng trời của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam” [31, tr 1]

Biên giới quốc gia trên đất liền là biên giới phân chia chủ quyền lãnh thổ đất liền của một quốc gia với quốc gia khác Nó được hoạch định và phân giới cắm mốc thông qua đàm phán thương lượng với các nước có chung biên giới

Tuyến biên giới đất liền: Biên giới Việt Nam – Trung Quốc dài 1.306 km

đã được hai nước kí kết Hiệp ước biên giới quốc gia trên đất liền, trong năm

2008 đã hoàn thành việc phân giới cắm mốc và kí Hiệp định quy chế quản lí biên giới

1.1.4 Cách xác định biên giới quốc gia

Mỗi loại biên giới quốc gia được xác định theo các cách khác nhau Riêng đối với biên giới quốc gia trên đất liền được hoạch định và đánh dấu trên thực địa bằng hệ thống mốc quốc giới Nguyên tắc chung hoạch định biên giới quốc gia trên đất liền bao gồm:

- Biên giới quốc gia trên đất liền được xác định theo các điểm (toạ độ, điểm cao), đường (đường thẳng, đường sống núi, đường cái, đường mòn), vật chuẩn (cù lao, bãi bồi)

- Biên giới quốc gia trên sông suối được xác định:

Trên sông mà tàu thuyền đi lại được, biên giới được xác định theo giữa lạch của sông hoặc lạch chính của sông

Trang 21

Trên sông, suối mà tàu thuyền không đi lại được thì biên giới theo giữa sông suối đó Trường hợp sông, suối đổi dòng thì biên giới vẫn giữ nguyên

Biên giới trên cầu bắc qua sông, suối được xác định chính giữa cầu, không kể biên giới giữa sông, suối như thế nào

+ Khi biên giới đã được xác định, cần có các biện pháp và phương pháp

cố định biên giới đó, nghĩa là giữ cho biên giới luôn ở vị trí đã xác định, làm cho tất cả mọi người có thể nhận biết rõ ràng, tạo điều kiện thuận lợi cho công tác bảo vệ, duy trì kiểm soát việc chấp hành các luật lệ và quy định về biên giới Thông thường các nước trên thế giới sử dụng ba phương pháp để cố định đường biên giới quốc gia:

Một là, dùng tài liệu ghi lại đường biên giới: mô tả đường biên giới trong hiệp ước biên giới và nghị định thư phân giới cắm mốc; mô tả bằng hình ảnh,

Hai là, đặt mốc quốc giới: các nước có chung biên giới theo thoả thuận về

số lượng, hình dáng, kích thước, chất liệu, mốc chính, mốc phụ; phương pháp đặt mốc (trực tiếp hay mốc gián tiếp), cách đánh số hiệu, màu sắc,

Ba là, dùng đường phát quang: nếu hai nước cùng phát quang thì biên giới

là đường chính giữa hai đường phát quang ấy

Ở Việt Nam hiện nay mới dùng hai phương pháp: dùng tài liệu ghi lại đường biên giới và đặt mốc quốc giới, Chúng ta chưa có điều kiện làm đường phát quang vì địa hình rừng núi phức tạp, khí hậu nhiệt đới nên rừng cây rậm rạp khó có thể làm đường phát quang được

Việc xác định biên giới quốc gia trên đất liền thực hiện theo ba giai đoạn: hoạch định biên giới bằng điều ước quốc tế; phân giới trên thực địa (xác định đường biên giới); cắm mốc quốc giới để cố định đường biên giới

1.1.5 Khái niệm ”Lịch sử địa phương”

Trong tiếng Việt, thuật ngữ ”địa phương” có nghĩa là ”những vùng, khu vực trong quan hệ với những vùng và khu vực khác trong nước” Như vậy, địa phương là những vùng đất nhất định nằm trong quốc gia, có những sắc thái, đặc thù riêng để phân biệt với những vùng đất khác, là bộ phận cấu thành của đất

Trang 22

nước Hiểu theo nghĩa cụ thể, địa phương là những đơn vị hành chính của một quốc gia (tỉnh, thành phố, huyện, xã, phường, thị trấn, thôn sóc, buôn làng ) Hiểu theo nghĩa trừu tượng, địa phương là những vùng đất, khu vực nhất định được hình thành trong lịch sử, có ranh giới tự nhiên (không giống địa giới hành chính) để phân biệt với các vùng khác như: miền Bắc, miền Trung, miền Nam,

Vậy lịch sử địa phương chính là lịch sử của các làng, xã, huyện, tỉnh, thành phố hay khu vực, vùng miền Cụ thể hơn, đó chính là lịch sử quá trình hình thành, tồn tại và phát triển của địa phương trong công cuộc xây dựng và bảo vệ quê hương Lịch sử địa phương còn bao hàm ý nghĩa lịch sử của các đơn

vị hành chính, các trường học, cơ quan, xí nghiệp

Trong dạy học lịch sử, chúng ta có thể sử dụng tài liệu lịch sử địa phương theo hai hình thức Có thể đưa tài liệu – sự kiện lịch sử địa phương vào bài giảng lịch sử dân tộc để minh hoạ, liên hệ, đối chiếu, so sánh; qua đó giúp học sinh hiểu sâu sắc, cụ thể những sự kiện Hoặc tiến hành dạy học lịch sử địa phương thành một tiết riêng theo qui định của chương trình hoặc tổ chức các hoạt động ngoại khoá về lịch sử địa phương Việc lựa chọn hình thức dạy học lịch sử địa phương phải căn cứ vào nội dung kiến thức bài học, điều kiện phương tiện giảng dạy ở nhà trường, đặc điểm tâm lý của học sinh và gắn mục tiêu giáo dưỡng – giáo dục bài học với điều kiện kinh tế - xã hội của địa phương

Việc nghiên cứu, giảng dạy lịch sử địa phương đòi hỏi người giáo viên không chỉ có những hiểu biết cơ bản, đúng đắn về lịch sử thế giới, lịch sử dân tộc, phương pháp luận sử học và các phương pháp nghiên cứu lịch sử cụ thể mà còn phải biết tổ chức nghiên cứu, biết làm công tác quần chúng phục vụ nghiên cứu, biết xử lý, xác minh, giám định các nguồn sử liệu địa phương

1.1.6 Vai trò của dạy học lịch sử địa phương trong chương trình giáo dục

Từ thời cổ đại, Xi–xê-rông – một chính trị gia nổi tiếng của Rô ma cổ đã nói: ”Lịch sử là thầy dạy của cuộc sống” Chính vì lẽ đó, sự hiểu biết về lịch sử dân tộc còn bao hàm cả sự am tường cần thiết về lịch sử địa phương, hiểu biết

Trang 23

về quê hương, xứ sở, nơi chôn nhau cắt rốn của mình, hiểu từ mối quan hệ giữa

lịch sử địa phương và lịch sử dân tộc

Xuất phát từ những nhận thức đó, có thể khẳng định rằng việc dạy học lịch sử địa phương có ý nghĩa giáo dưỡng – giáo dục sâu sắc

Thứ nhất, dạy học lịch sử địa phương góp phần không nhỏ vào việc giáo

dục tư tưởng chính trị, lao động, đạo đức, thẩm mỹ cho học sinh, hình thành cho các em lòng yêu nước, yêu chế độ xã hội chủ nghĩa Mỗi sự kiện lịch sử địa phương đều gắn liền với tên đất, tên người cụ thể, gần gũi với cuộc sống, qua đó

mà gợi ở các em niềm tự hào, lòng biết ơn, góp phần bồi dưỡng tình yêu quê hương, đây cũng là cội nguồn của lòng yêu nước, tự hào dân tộc Lòng yêu nước

ấy bắt nguồn từ lòng yêu quê hương, xóm làng, tự hào về những chiến công của cha anh mình ngay chính trên mảnh đất quê hương khi đấu tranh chống kẻ thù xâm lược… Học sinh cũng tự hào về những thành tựu kinh tế, văn hóa và xã hội của địa phương từ trước đến nay, đặc biệt trong thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội Học sinh không những tự hào về truyền thống anh hùng bất khuất trong sự nghiệp đấu tranh bảo vệ Tổ quốc mà đối với chủ nghĩa anh hùng cách mạng trong xây dựng, sản xuất Đặc biệt, việc giới thiệu cho các em những ngành nghề thủ công truyền thống của địa phương là một trong những nội dung hướng nghiệp của môn lịch sử, tạo cho các em có ý thức bảo vệ và phát triển truyền thống tốt đẹp của quê hương… Chính lòng yêu quê hương, làng xóm sẽ giúp các

em có động cơ vươn lên trong học tập, rèn luyện và có trách nhiệm hơn đối với quê hương, đất nước

Thứ hai, dạy học lịch sử địa phương còn giúp học sinh thấy được mối

quan hệ giữa cái chung và cái riêng; cái phổ biến và cái đặc thù Qua đó góp phần phát triển tư duy cho học sinh Những chất liệu lịch sử địa phương sẽ làm cho bài học về lịch sử dân tộc, thậm chí cả lịch sử thế giới thêm sống động, cụ thể và thực hơn, tạo nên những xúc cảm thật của học sinh trong mỗi bài học lịch

sử Lịch sử địa phương giúp học sinh có sự hình dung đa dạng về quá khứ, tạo được biểu tượng sinh động, chính xác về các sự kiện, hiện tượng lịch sử Từ đó

Trang 24

các em có thể dễ dàng lĩnh hội các thuật ngữ, hình thành các khái niệm lịch sử, nắm được những kết luận khoa học mang tính khái quát

Thứ ba, việc giảng dạy lịch sử địa phương có thể làm cho học sinh nắm

vững hơn khái niệm khoa học hiện đại của hệ thống “Tự nhiên – con người – xã hội” Thấy được vai trò của con người tác động đến việc cải tạo và chinh phục tự nhiên một cách hợp quy luật, giúp các em hình dung cụ thể vai trò con người trong mối quan hệ với môi trường xung quanh, ý nghĩa đầy đủ về trách nhiệm bảo vệ các di tích lịch sử, văn hóa địa phương… Đặc biệt, với những di tích lịch

sử, với các nguồn tư liệu lịch sử xác thực, lịch sử địa phương tạo cơ hội để tổ chức dạy học theo các phương pháp tích cực, phương pháp nghiên cứu, góp phần hình thành các kĩ năng tự học, tự khai thác thông tin về lịch sử cho học sinh Đây chính là những yêu cầu rất quan trọng đối với mục tiêu dạy học lịch sử của chương trình và sách giáo khoa mới

Thứ tư, dạy học lịch sử địa phương góp phần phát triển các năng lực

hoạt động thực tiễn Cụ thể như: các em tham gia thiết kế, xây dựng các đồ dùng trực quan phục vụ cho dạy học lịch sử địa phương, lịch sử dân tộc (vẽ bản đồ, sơ đồ, đắp sa bàn, phục chế hiện vật…), khả năng miêu tả công trình kiến trúc, giải thích một hiện tượng lịch sử địa phương…, kỹ năng thói quen tích cực tham gia hoạt động thực tiễn, công ích xã hội như sưu tầm tài liệu lịch sử địa phương, tuyên truyền và có hành động cụ thể, thiết thực giữ gìn các giá trị văn hóa của địa phương Do đó, “nghiên cứu, học tập lịch sử địa phương cũng là một biện pháp tích cực để thực hiện việc gắn liền nhà trường với đời sống xã hội”

Thứ năm, những kết quả dạy và học lịch sử địa phương của giáo viên và

học sinh còn có ý nghĩa động viên, tuyên truyền, giáo dục nhân dân và trong chừng mực nhất định còn góp phần phục vụ những nhiệm vụ chính trị, những mục tiêu kinh tế - xã hội của mỗi địa phương Điều này đã được đồng chí Phạm Văn Đồng khẳng định: “… Giáo dục phổ thông, ngay cả phổ thông cơ sở, bằng

cả việc dạy nội khóa và các hoạt động ngoại khóa phải đạt đến kết quả làm

Trang 25

cho người học biết mình sống trong một huyện, một tỉnh, một nước, một vũ trụ như thế nào, và mình phải làm gì để cống hiến xứng đáng với nhân dân và đất nước…” Hơn nữa, tổ chức và thực hiện tốt việc dạy học lịch sử địa phương còn là nhịp cầu nối tình cảm giữa nhà trường với nhân dân địa phương

Tóm lại, việc dạy học lịch sử địa phương trong chương trình giáo dục có vai trò rất quan trọng và có ý nghĩa to lớn trên cả ba mặt: giáo dưỡng, giáo dục

và phát triển toàn diện học sinh Với vai trò và ý nghĩa đó, các cấp, bậc học của nước ta cần nhận thức sâu sắc và hành động đúng đắn với công tác dạy học lịch

sử địa phương Công việc này đòi hỏi sự quan tâm chỉ đạo của các cơ quan giáo dục địa phương, sự tham gia tích cực và có hiệu quả của các thầy giáo, cô giáo

và của toàn thể đông đảo học sinh

1.2 Tầm quan trọng của vấn đề giáo dục ý thức bảo vệ đường biên giới lãnh thổ Việt Nam – Trung Quốc

Biên giới trên đất liền của Việt Nam dài gần 5.000km, tiếp giáp với 3 nước láng giềng: Trung Quốc, Lào và Cam-pu-chia, với 1.057 xã, phường, thị trấn và 226 huyện, thị xã của 44 tỉnh, thành phố biên giới; số dân hơn 8,3 triệu người, với 49 thành phần dân tộc, có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống,

6 tôn giáo chính với gần 2 triệu tín đồ

Từ thế kỷ thứ X, Đại Việt là quốc gia có nền độc lập tự chủ và đường biên giới phía Bắc Trung – Việt được xác định từ tỉnh Lai Châu đến tỉnh Quảng Ninh ngày nay

Đường biên giới phía Bắc Việt Nam đã trải qua nhiều cuộc đấu tranh lâu dài trong nhiều thế kỉ của nhân dân các dân tộc Việt Nam bằng những hình thức đấu tranh quân sự, chính trị, ngoại giao để bảo vệ biên cương của Tổ Quốc Sang thế kỉ XI đã có những cuộc đàm phán ngoại giao như: cuộc hội nghị Vĩnh Bình vào năm 1083 và 1084 giữa triều đình nhà Lý của Việt Nam và triều đình nhà Tống của Trung Quốc để bàn bạc về vấn đề biên giới và xác định đường biên giới chung của hai nước Và cũng từ đây, cha ông ta lại càng tăng cường ý

Trang 26

thức giữ vững lãnh thổ có chủ quyền nên đã vạch ra đường biên giới rõ rệt được hình thành trong quá trình lịch sử Nhưng ở các hội nghị này chưa được ghi nhận bằng những văn kiện chính thức giữa Việt Nam và Trung Quốc Từ đó qua nhiều thế kỉ cho mãi đến nửa sau của thế kỉ XIX, khi thực dân Pháp thống trị Việt Nam thì chính phủ Pháp nhân danh đại diện cho Việt Nam mới chính thức đàm phán với triều đình Mãn Thanh (Trung Quốc) để xác định bằng những văn kiện chính thức về đường biên giới Việt – Trung Vì vậy, tháng 6/1885, đại diện chính phủ Pháp ở Việt Nam và chính phủ Mãn Thanh đã thống nhất thoả thuận với nhau lập ra Uỷ ban liên hợp Pháp – Trung để khảo sát đường biên giới trên thực địa của hai nước Việt – Trung Đến ngày 26/6/1887 hai chính phủ trên đã

ký Công ước hoạch định biên giới tại thủ đô Bắc Kinh (Trung Quốc) Theo Công ước này, trong Điều 1 có ghi: đã hoạch định đoạn biên giới giữa Việt Nam với các tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây, một phần tỉnh Vân Nam (Trung Quốc) ở trên đất liền Tám năm sau vào ngày 20/6/1895 cũng tại thủ đô Bắc Kinh, chính phủ Pháp và chính phủ Mãn Thanh lại ký công ước bổ sung cho Công ước năm

1887 nhằm làm rõ thêm và chính xác hơn đoạn biên giới Việt Nam ở phần đất thuộc tỉnh Vân Nam

Theo Công ước quốc tế, hai bên hoạch định đường biên giới quốc gia trên các văn bản phân vạch bằng Công ước và bản đồ hành chính, rồi phân vạch đường biên giới bằng những cuộc khảo sát cụ thể trên thực địa, đồng thời cắm các cột mốc quốc giới để làm chuẩn mực rõ ràng về đường biên giới hai nước Việt – Trung

Vào đầu năm 1890, Uỷ ban liên hợp Pháp – Trung bắt đầu tiến hành xây dựng các cột mốc quốc giới và đến 6/1897 mới hoàn thành bao gồm trên 300 cột mốc đã được cụ thể hoá đường biên giới trên thực địa, suốt từ tỉnh Lai Châu đến các tỉnh Lào Cai, Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn và Quảng Ninh (chưa kể đường biên giới ngoài biển và các hòn đảo ngoài biển Đông) Cho tới năm 1949, trải qua hơn 50 năm đường biên giới qua các triều đại phong kiến Trung Quốc,

Trang 27

nhất là thời kì Tưởng Giới Thạch đứng đầu đất nước Trung Hoa đã gây ra nhiều

vụ lấn chiếm đất đai ở nhiều địa điểm sang lãnh thổ Việt Nam

Kể từ thời điểm ký Công ước, trải qua các giai đoạn lịch sử, các chính phủ

kế tiếp nhau ở hai nước vẫn thực hiện chủ quyền đường biên giới ở mỗi nước

Đó là đường biên giới, được hoạch định dựa trên cơ sở pháp lí quốc tế và dựa trên cơ sở khoa học đã được thể hiện bằng những văn kiện thoả thuận giữa hai bên Việt Nam và Trung Quốc

Khi Cách mạng Trung Quốc thắng lợi năm 1949, Nước cộng hoà nhân dân Trung Hoa được thành lập, cho tới năm 1954, cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân Việt Nam kết thúc, hoà bình lập lại ở Đông Dương, Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà, luôn luôn mong muốn duy trì đường biên giới phía Bắc đã có từ lâu trong lịch sử để lại giữa hai nước, là đường biên giới hoà bình, hữu nghị, ổn định lâu dài Vì vậy, vào tháng 11/1957, Ban chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam (tức Đảng Cộng sản Việt Nam hiện nay) đã gửi thư cho Ban chấp hành Đảng Cộng sản Trung Quốc đề nghị hai bên tôn trọng đường biên giới lịch sử do hai Công ước Pháp – Thanh 1887 và 1895 để lại và giải quyết mọi tranh chấp có thể bằng đàm phán Bức thư nhấn mạnh: ”Vấn đề quốc giới là một vấn đề quan trọng cần giải quyết theo nhưng nguyên tắc pháp lí đương có hoặc được xác định lại do Chính phủ hai nước quyết định” Đến tháng 4/1958, Ban Chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Trung Quốc trả lời đồng ý với đề nghị của phía Việt Nam, tôn trọng hiện trạng đường biên giới lịch sử được Công ước 1887 và 1895 xác lập Lập trường này thể hiện sự tôn trọng luật quốc tế, theo đó các Hiệp ước về biên giới không chấm dứt hiệu lực ngay cả khi hoàn cảnh thay đổi Trung Quốc và Việt Nam đã thừa nhận tính hợp lý của hai Công ước 1887 và 1895

Đường biên giới trên bộ giữa Việt Nam và Trung Quốc đã được hình thành qua quá trình lịch sử và tồn tại một cách tương đối ổn định kể từ khi Việt Nam thoát khỏi ách Bắc thuộc thế kỉ thứ X Tạp chí Geographer của Vụ Tình báo và Nghiên cứu Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ ngày 20 tháng 10 năm 1964 viết:

Trang 28

”Sau hơn 10 thế kỉ bị đô hộ, năm 939 Bắc Kỳ phá vỡ ách đô hộ của Trung Quốc

và thành lập Vương quốc Đại Cồ Việt nhà nước mới này đã bảo vệ được nền độc lập của mình một đường biên giới gần giống như ngày nay dường như đã tồn tại giữa hai quốc gia cách đây 10 thế kỷ” [1, tr.253–254]

Hai Công ước Pháp – Thanh về hoạch định biên giới năm 1887 và 1895 khẳng định lại về mặt pháp lý đường biên giới truyền thống giữa hai nước Trong thời gian từ năm 1886 đến 1897, hai bên đã tiến hành phân giới và cắm

341 mốc Với hai Công ước này, đường biên giới trên bộ Việt Nam – Trung quốc đã trở thành đường biên giới quốc tế đầu tiên của Việt Nam Các Công ước này, nhìn chung, đã xác lập đường biên giới trừ một số điểm và khu vực biên giới không lớn, tại đó hai bên không nhất trí với nhau trong khi giải thích các Công ước

Trải qua hơn 100 năm tồn tại, do điều kiện thời gian, kỹ thuật và tình hình quản lý, đường biên giới này trên thực địa có một số thay đổi, đòi hỏi phải xác định rõ

Chiến tranh chống đế quốc Mỹ đã làm gián đoạn việc thực hiện ý tưởng tốt đẹp của Đảng và Chính phủ hai nước Việt – Trung Sau khi Hiệp định Pari về chấm dứt chiến tranh và lập lại hoà bình tại Việt Nam được ký kết ngày 27/1/1973, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà bắt đầu đặt kế hoạch khôi phục lại đất nước, mà vấn đề đầu tiên là xác định lại đường biên giới

Đàm phán về biên giới Việt - Trung lần thứ nhất chỉ được bắt đầu tại Bắc Kinh ngày 15/8/1974 Cuộc đàm phán lần thứ hai diễn ra từ 7/10/1977 đến tháng 6/1978 Đàm phán lần thứ ba được nối lại tại Hà Nội từ ngày 18/4/1979 Phía Việt Nam đã đưa ra đề nghị 3 điểm, trong đó điểm 3 nêu rõ: "Việc giải quyết các vấn đề biên giới, lãnh thổ giữa hai nước tuân theo nguyên tắc tôn trọng nguyên trạng đường biên giới do lịch sử để lại và đã được hoạch định bởi các Công ước

1887 và 1895 do Chính phủ Pháp và nhà Thanh ký, và đã được phía Việt Nam

và phía Trung Quốc đồng ý chấp nhận" [1, tr.255]

Trang 29

Sau khi bình thường hoá quan hệ, đàm phán về biên giới lãnh thổ giữa Việt Nam - Trung Quốc lần thứ tư bắt đầu từ tháng 10/1992 Ngày 19/10/1993, hai đoàn đàm phán Chính phủ đã ký Thoả thuận về những nguyên tắc cơ bản giải quyết vấn đề biên giới lãnh thổ giữa Việt Nam – Trung Quốc, phần nói về biên giới trên bộ quy định: "Hai bên đồng ý căn cứ vào Công ước hoạch định biên giới ký giữa Trung Quốc và Pháp ngày 26 tháng 6 năm 1887 và Công ước

bổ sung Công ước hoạch định biên giới ngày 20 tháng 6 năm 1895 cùng các văn kiện và bản đồ hoạch định và cắm mốc biên giới kèm theo đã được Công ước và Công ước bổ sung nói trên xác nhận hoặc quy định, cũng như các mốc quốc giới cắm theo quy định, đối chiếu xác định lại toàn bộ đường biên giới trên bộ giữa hai nước Việt Nam - Trung Quốc".[1, tr.288]

Đàm phán lần thứ tư là cuộc đàm phán dài nhất (7 năm) trên nhiều diễn đàn (cấp Chính phủ - 6 vòng, cấp chuyên viên - 16 vòng, không kể các vòng cấp

kỹ thuật ) Kết quả hai bên đã ký Hiệp ước hoạch định biên giới đất liền ngày 30/12/1999

Trong quá trình đàm phán, hai bên đã so sánh các Công ước Pháp - Thanh, văn bản pháp lý và bản đồ kèm theo Gần 900km trên tổng chiều dài biên giới khoảng 1.350km (đo trên bộ bản đồ thể hiện đường biên giới chung của hai bên) nhận thức của hai bên trùng nhau, tức là không có tranh chấp Khoảng 450km còn lại, tức là 33% tổng chiều dài đường biên giới, không có văn bản, hoặc văn bản và bản đồ chưa rõ ràng nên nhận thức hai bên có khác nhau, được chia thành 289 khu vực (với tổng diện tích khoảng 231km2), trong đó: 74 khu vực khác nhau vì lý do kỹ thuật vẽ chồng lấn lên nhau, được gọi là khu vực A;

51 khu vực vì lý do kỹ thuật hai bên đều chưa vẽ tới, gọi là khu vực B Các khu vực loại A và B có diện tích không lớn, chỉ khoảng 5 km2; 164 khu vực có tranh chấp, hoặc có nhận thức khác nhau về hướng đi của đường biên giới, gọi là khu vực C (rộng khoảng 227km2) Các cuộc đàm phán chủ yếu tập trung vào việc xử

lý 164 khu vực C này Càng về cuối, đàm phán càng khó khăn, căng thẳng

Trang 30

Hiệp ước 1999 đã ghi nhận kết quả, quy thuộc khoảng 114,9 km2 cho Việt Nam (gồm 112,3km2 thuộc khu vực C; 2,6 km2 thuộc khu vực A và B) và khoảng 117,2 km2 thuộc Trung Quốc (trong đó có 114,8 km2 thuộc khu vực C; 2,4 km2 thuộc khu vực A và B) Đây là một kết quả công bằng, hai bên có thể chấp nhận và là cơ sở pháp lý quan trọng để hai bên tiến hành phân giới cắm mốc tức chuyển đường biên giới từ lời văn Hiệp ước 1999 và bản đồ ra thực địa, một cách chính xác, rõ ràng và đánh dấu bằng một hệ thống mốc giới hiện đại

Đây là một công trình trọng điểm quốc gia, có khối lượng công việc lớn, nội dung liên quan đến nhiều chuyên ngành kỹ thuật, pháp lý, quản lý, bảo vệ của các bộ, ngành Trung ương, 7 tỉnh biên giới Việt - Trung (Điện Biên, Lai Châu, Lào Cai, Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn, Quảng Ninh) và 2 tỉnh biên giới Trung - Việt (Vân Nam, Quảng Tây) Công việc được thực hiện trong thời gian dài và có tính song phương tại thực địa trong điều kiện khó khăn về địa hình (nhiều núi cao trên 1000 - 2000m), cơ sở hạ tầng, giao thông kém phát triển và

xa các khu dân cư, nhiều nơi không có đường đi lại, bom mìn, vật nổ nhiều, khí hậu phức tạp, một số khu vực dân cư đan xen nhau và dân cư biên giới có nhiều quan hệ huyết thống, dòng họ, qua lại với nhau từ lâu đời

Tháng 12/2001, hai bên cắm cột mốc đầu tiên tại cửa khẩu Móng Cái - Đông Hưng Toàn tuyến biên giới được chia thành 12 đoạn, giao cho 12 nhóm phân giới cắm mốc phụ trách Từ tháng 10/2002, hai bên đồng loạt triển khai phân giới cắm mốc trên toàn tuyến biên giới Việt - Trung Với phương châm “dễ trước, khó sau” đến năm 2007, hai bên đã xác định được gần 70% vị trí mốc giới Các khu vực tồn đọng đều là các khu vực khó, nhạy cảm, có lịch sử tranh chấp lâu đời Hai bên gặp nhiều khó khăn trong giải quyết các mâu thuẫn giữa lời văn với bản đồ đính kèm Hiệp ước, giữa bản đồ với thực địa và sự không rõ ràng của một số từ ngữ trong Hiệp ước như “phía Nam”, “mé”, “xuống khe ”…

Còn lại 109 khu vực, phần lớn là các khu vực loại C với khoảng 600 mốc chưa xác định vị trí, chưa cắm Từ đầu năm 2008, Uỷ ban liên hợp và Đoàn đàm phán Chính phủ đã trực tiếp trao đổi giải quyết, giao kết quả cho các nhóm phân

Trang 31

giới cắm mốc thực hiện Hai bên đã tiến hành 10 vòng đàm phán Uỷ ban liên hợp, 5 vòng đàm phán và cuộc gặp mặt đặc biệt của 2 trưởng đoàn đàm phán Chính phủ, vòng ngắn nhất kéo dài 9 ngày, vòng dài nhất 23 ngày, phiên họp dài nhất 31 giờ Các lực lượng phân giới cắm mốc của Việt Nam đã có những nỗ lực hết sức to lớn cả trên bàn đàm phán và trên thực địa Lãnh đạo Chính phủ đã sâu sát ra tận thực địa thị sát, chỉ đạo Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Gia Khiêm đã ra thác Bản Giốc tháng 10/2008, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng ra tận cửa sông Bắc Luân tháng 12/2008

Hai bên đã cùng thoả thuận và áp dụng sáng tạo nguyên tắc “cả gói” để giải quyết các khu vực tồn đọng với mục đích tìm giải pháp tổng thể, công bằng, hợp lý, hợp tình, hai bên có thể chấp nhận được Nội dung chính của nguyên tắc này là giải quyết trên cơ sở cân bằng lợi ích và diện tích, biên giới đi qua tất cả các mốc cũ, dấu tích lịch sử, hạn chế đến mức thấp nhất ảnh hưởng đến đời sống của cư dân biên giới Hai bên đã lần lượt chia các khu vực tồn đọng ra thành nhiều gói, mỗi gói giải quyết theo một số nguyên tắc nhất định như gói 11+1 mốc cũ, gói các khu vực trong C, ngoài C, gói “ các cửa khẩu” Trà Lĩnh, Pò Peo, Tân Thanh, Hữu Nghị (đường bộ và đường sắt), Chi Ma, “gói sông suối”, gói các khu vực đặc thù” và “gói thác Bản Giốc và cửa sông Bắc Luân”

Hai bên đã trao đổi một cách thẳng thắn để đi đến kết quả công bằng, tôn trọng lời văn và tinh thần của Hiệp ước 1999, nhất là tại các khu vực nhạy cảm đối với dư luận trong nước và quốc tế Tại cửa khẩu Hữu Nghị, đường biên giới

đi qua Km0, mốc 19 cũ của Pháp và điểm cách điểm nối ray 148m về phía Bắc Riêng trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn, hai bên đã thống nhất xác định 223,01 km đường biên giới với 467 mốc, bằng 472 vị trí mốc (469 mốc đơn, 1 mốc đôi và 2 mốc 3) trong đó có 340 mốc chính theo kế hoạch và xác định bổ sung 127 mốc phụ theo đúng quy định của Ủy ban phân giới cắm mốc Tại khu vực thác Bản Giốc, theo quy định của Hiệp ước 1999, luật pháp và thông lệ quốc tế, đường biên giới đi theo trung tuyến dòng chảy phía Nam cồn Pò Thoong, hai bên đã điều chỉnh đường biên giới đi qua cồn Pò Thoong, qua dấu tích trạm thủy văn

Trang 32

xây dựng những năm 1960, quy thuộc 1/4 cồn, ½ thác chính và toàn bộ thác cao cho Việt Nam

Tại cửa sông Bắc Luân, biên giới quy thuộc ¾ bãi Tục Lãm và 1/3 bãi Dậu Gót cho Việt Nam, ¼ Tục Lãm và 2/3 bãi Dậu Gót cho Trung Quốc, và thiết lập khu giao thông thuỷ tự do cho nhân dân địa phương sử dụng luồng hai bên bãi Tục Lãm và Dậu Gót Tại khu vực Hoành Mô, đường biên giới đi giữa ngầm như từ trước đến nay chứ không theo trung tuyến dòng chảy qua cống mới

do Trung Quốc xây dựng những năm 1960 Khu vực mồ mả ở mốc 53 - 54 cũ (Cao Bằng) được giữ lại cho người dân Việt Nam mặc dù hai bên có nhận thức khác nhau về quy định của Hiệp ước 1999 về biên giới khu vực này đi theo chân núi Khu vực rừng hồi người dân Trung Quốc trồng gần biên giới Quảng Ninh được bảo lưu cho phía Trung Quốc

Theo Hiệp ước 1999, đường biên giới cắt ngang qua bản Ma Lỳ Sán (gồm

05 hộ, 35 khẩu thuộc tỉnh Hà Giang) và khu 13 nóc nhà của người dân Trung Quốc gần Lạng Sơn, hai bên hoán đổi cho nhau trên cơ sở cân bằng diện tích, không xáo trộn đời sống dân cư Các chốt quân sự của Trung Quốc trên biên giới đã được dỡ bỏ toàn bộ… Nhiều khu vực tranh chấp hàng thế kỷ như Chi

Ma, Trà Lĩnh, Sóc Giang… đã được giải quyết thoả đáng, đáp ứng nguyện vọng

và mong mỏi của nhân dân hai nước

Kết quả đàm phán đã theo đúng các nguyên tắc chỉ đạo của lãnh đạo cấp cao: Căn cứ theo Hiệp ước biên giới trên đất liền giữa nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa ký năm 1999, xuất phát

từ lợi ích cơ bản của nhân dân hai nước và việc phát triển quan hệ truyền thống hữu nghị Việt - Trung, hiệp thương hữu nghị, thẳng thắn, chiếu cố thích đáng đến các mối quan tâm của nhau, cố gắng hết sức giảm thiểu những ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống sản xuất của người dân vùng biên giới hai nước, tìm giải pháp hai bên đều chấp nhận được, hoàn thành công tác phân giới cắm mốc trên toàn tuyến biên giới đất liền giữa Việt Nam và Trung Quốc trong năm 2008 nhưng không nôn nóng, vội vã

Trang 33

Thành quả có được là nhờ sự quan tâm và chỉ đạo sát sao của lãnh đạo cấp cao hai nước và những nỗ lực không mệt mỏi của hai đoàn đàm phán cấp Chính phủ cũng như các chuyên gia, đại diện của các ngành hữu quan và các tỉnh có chung biên giới Đây cũng là thành quả của tinh thần giữ vững nền độc lập tự chủ của đất nước, nắm vững và vận dụng linh hoạt luật pháp quốc tế, tham khảo

ý kiến và tạo sự đồng thuận của mọi con dân đất Việt trong và ngoài nước, tiếp thu kinh nghiệm giải quyết hoà bình các tranh chấp của các nước khác Kết quả này là sự thể hiện sinh động của mối quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện Việt Nam - Trung Quốc theo phương châm 16 chữ và tinh thần 4 tốt, cũng

là sự đóng góp tích cực đối với hòa bình, ổn định và phát triển ở khu vực

Nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc nói chung và xây dựng, quản lý, bảo vệ chủ quyền, an ninh biên giới quốc gia nói riêng có bước phát triển mới, đặt ra yêu cầu cao hơn về nhiều mặt Do đó, việc tuyên truyền giáo dục, tạo sự thống nhất nhận thức và hành động trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân về bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia là yêu cầu cấp thiết; trong đó, giáo dục ý thức bảo vệ chủ quyền, an ninh biên giới quốc gia cho đồng bào vùng biên giới nói chung, cho học sinh THPT các tỉnh biên giới nói riêng là hết sức quan trọng, vừa có ý nghĩa trước mắt, vừa có ý nghĩa lâu dài

Thấm nhuần quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò và sức mạnh to lớn của quần chúng nhân dân trong sự nghiệp cách mạng nói chung, trong sự nghiệp xây dựng quản lý, bảo vệ vững chắc chủ quyền, an ninh biên giới quốc gia nói riêng, Đảng hết sức coi trọng công tác dân vận nhằm khơi dậy, phát huy vai trò của quần chúng tham gia bảo vệ đường biên giới, mốc giới của quốc gia

Đồng bào các dân tộc thiểu số ở khu vực biên giới đặc biệt là thế hệ trẻ, là lực lượng và nguồn lực tại chỗ quan trọng, tham gia thực hiện nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền, an ninh biên giới quốc gia, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việc tăng cường giáo dục ý thức bảo vệ chủ quyền, an ninh biên giới quốc gia cho đồng bào dân tộc thiểu số là rất cần thiết nhằm nâng cao nhận thức cho đồng bào về vị

Trang 34

trí, ý nghĩa quan trọng, thiêng liêng của lãnh thổ, biên giới quốc gia; về trách nhiệm của mỗi công dân, toàn xã hội, đặc biệt là đồng bào các dân tộc thiểu số ở khu vực biên giới là lực lượng trực tiếp tham gia xây dựng, quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia, xây dựng thế trận lòng dân vững chắc nơi biên giới

Hiện nay, hòa bình, hợp tác và hội nhập quốc tế vẫn là xu hướng chủ đạo trong quan hệ quốc tế, song tình hình thế giới, khu vực vẫn còn nhiều diễn biến phức tạp, tiềm ẩn nhiều nhân tố bất ổn, khó lường, nhất là các vấn đề tôn giáo, dân tộc, khủng bố và các yếu tố an ninh phi truyền thống như: môi trường, biến đổi khí hậu, thiên tai, dịch bệnh… Đối với Việt Nam, các thế lực thù địch tiếp tục đẩy mạnh thực hiện chiến lược "diễn biến hòa bình", bạo loạn, lật đổ, hòng xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam

Tình hình trên đặt ra cho nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền, an ninh biên giới quốc gia rất nặng nề, với yêu cầu, đòi hỏi ngày càng cao Xây dựng, quản lý, bảo

vệ biên giới quốc gia, giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở khu vực biên giới là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân

1.3 Ý nghĩa của vấn đề bảo vệ đường biên giới lãnh thổ Việt Nam – Trung Quốc

Xây dựng, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia là một nội dung

quan trọng của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Tổ quốc Việt Nam được hình thành và phát triển trong trường kỳ lịch sử, được phát triển trong quá trình đấu tranh cách mạng của dân tộc Việt Nam dưới

sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam; là sự kế thừa và phát triển mới Tổ quốc, đất nước, dân tộc và con người Việt Nam suốt chiều dài lịch sử mấy ngàn năm dựng nước và giữ nước trong điều kiện mới

Lãnh thổ và biên giới quốc gia Việt Nam là một bộ phận hợp thành quan trọng, không thể tách rời của Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa Lãnh thổ và biên giới quốc gia là yếu tố cơ bản bảo đảm cho sự ổn định, bền chắc của đất nước Việt Nam Chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia là sự khẳng định chủ

Trang 35

quyền của Nhà nước Việt Nam, bao gồm cả quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp trong phạm vi lãnh thổ, gồm cả vùng đất, vùng trời, nội thuỷ, lãnh hải và lãnh thổ đặc biệt của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam Vì vậy, xây dựng, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia là một nội dung đặc biệt quan trọng của xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa Sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa không thể thành công nếu chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia không được xây dựng và bảo vệ tốt, bị xâm phạm

Lãnh thổ quốc gia Việt Nam là nơi sinh ra và lưu giữ, phát triển con người

và những giá trị của dân tộc Việt Nam Trải qua mấy nghìn năm dựng nước và giữ nước, các thế hệ người Việt Nam đã phải đổ biết bao mồ hôi, xương máu mới xây dựng nên, mới giữ gìn, bảo vệ được lãnh thổ quốc gia toàn vẹn, thống nhất và tươi đẹp như ngày hôm nay Nhờ đó mà con người Việt Nam, dân tộc Việt Nam

có thể tồn tại, sinh sống, vươn lên và phát triển một cách độc lập, bình đẳng với các quốc gia, dân tộc khác trong cộng đồng quốc tế; những giá trị, truyền thống, bản sắc văn hoá của dân tộc Việt Nam được khẳng định, lưu truyền và phát triển sánh vai với các cường quốc năm châu

Chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia là kết quả đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam suốt chiều dài hàng ngàn năm lịch sử Từ thủa Hùng Vương dựng nước đến thời đại Hồ Chí Minh, đứng trước những kẻ thù to lớn và hung bạo, dân tộc Việt Nam luôn có ý thức và quyết tâm bảo vệ Dù phải trải qua hàng chục cuộc chiến tranh lớn nhỏ, phải chịu dưới ách đô hộ của các thế lực phong kiến, thực dân, đế quốc, người Việt Nam luôn phất cao hào khí anh hùng, lòng tự hào, tự tôn dân tộc trong dựng nước và giữ nước, xây dựng và giữ gìn biên cương lãnh thổ quốc gia, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Tư tưởng “Sông núi nước Nam vua Nam ở”, được tiếp nối, khẳng định và nâng lên tầm cao mới trong thời đại Hồ Chí Minh Chủ tịch Hồ Chí Minh từng dạy:

“Các vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”

Trang 36

Chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia Việt Nam là quyền thiêng liêng, bất khả xâm phạm của dân tộc Việt Nam Nhà nước Việt Nam, nhân dân Việt Nam quyết tâm giữ gìn và bảo vệ quyền thiêng liêng, bất khả xâm phạm đó Luật biên

giới quốc gia của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khẳng định: “Biên

giới quốc gia của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thiêng liêng, bất khả xâm phạm Xây dựng, quản lí, bảo vệ biên giới quốc gia có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với sự toàn vẹn lãnh thổ, chủ quyền quốc gia, góp phần giữ vững

ổn định chính trị, phát triển kinh tế - xã hội, tăng cường quốc phòng và an ninh của đất nước” [31, tr.1]

Xây dựng biên giới hoà bình, hữu nghị, ổn định là vấn đề đặc biệt quan trọng của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Đó là quan điểm nhất quán của Đảng

và Nhà nước Việt Nam Quan điểm này phù hợp với lợi ích và luật pháp của Việt Nam, phù hợp với công ước và luật pháp quốc tế, cũng như lợi ích của các quốc gia có liên quan Đảng và Nhà nước Việt Nam coi việc giữ vững môi trường hoà bình, ổn định để phát triển kinh tế - xã hội, thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá theo định hướng xã hội chủ nghĩa là lợi ích cao nhất của đất nước

Trong giải quyết các vấn đề tranh chấp lãnh thổ, biên giới, Đảng và Nhà nước luôn nhất quán thực hiện quan điểm giải quyết các tranh chấp bằng thương lượng hoà bình, tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và lợi ích chính đáng của nhau

Về những vấn đề tranh chấp chủ quyền lãnh thổ trên bộ, trên biển do lịch

sử để lại hoặc mới nẩy sinh, Đảng và Nhà nước Việt Nam khẳng định rằng Việt Nam luôn sẵn sàng thương lượng hoà bình để giải quyết một cách có lí, có tình Việt Nam ủng hộ việc giải quyết các mâu thuẫn, bất đồng trong khu vực thông qua đối thoại, thương lượng hoà bình, không sử dụng vũ lực hay đe doạ sử dụng vũ lực Nhưng Việt Nam cũng sẵn sàng tự vệ chống lại mọi hành động xâm phạm lãnh thổ đất liền, vùng trời, vùng biển và lợi ích quốc gia của Việt Nam

Trang 37

Trách nhiệm của công dân Việt Nam nói chung, thế hệ trẻ nói riêng đối với xây dựng và bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia Việt Nam được Nhà nước ban hành cụ thể trong Hiến pháp và luật Điều 44, Hiến pháp nước Cộng

hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 (sửa đổi) quy định: “Bảo vệ Tổ quốc

Việt Nam xã hội chủ nghĩa, giữ vững an ninh quốc gia là sự nghiệp của toàn dân Công dân phải làm đầy đủ nhiệm vụ quốc phòng và an ninh do pháp luật quy định” [33, tr.35] Điều 1, Luật nghĩa vụ quân sự chỉ rõ: “Bảo vệ Tổ quốc là nghĩa vụ thiêng liêng và cao quý của công dân Công dân phải làm nghĩa vụ quân sự và tham gia xây dựng quốc phòng toàn dân” [32, tr.1] Điều 10, Luật

biên giới quốc gia cũng xác định: “Xây dựng, quản lí, bảo vệ biên giới quốc gia,

khu vực biên giới là sự nghiệp của toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lí”

[31, tr.5]

Thế hệ trẻ đặc biệt học sinh THPT phải không ngừng học tập, nâng cao trình độ nhận thức về mọi mặt, hiểu biết sâu sắc về truyền thống dựng nước và giữ nước của dân tộc, truyền thống đấu tranh cách mạng của nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam; từ đó xây dựng, củng cố lòng yêu nước, lòng tự hào, tự tôn dân tộc, ý chí tự chủ, tự lập, tự cường, nâng cao ý thức bảo vệ

Tổ quốc xã hội chủ nghĩa

Thế hệ trẻ cũng cần nhận thức rõ ý nghĩa thiêng liêng, cao quý và bất khả xâm phạm về chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam; xác định rõ vinh dự và trách nhiệm của công dân trong nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, xây dựng và bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là vấn đề có ý nghĩa rất quan trọng

Trách nhiệm của mọi con người Việt Nam là tích cực, tự giác, tình nguyện tham gia xây dựng và phục vụ lâu dài tại các khu kinh tế - quốc phòng, góp phần xây dựng khu vực biên giới vững mạnh, phát triển kinh tế, xã hội, bảo vệ vững chắc độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, thực hiện nghiêm chỉnh Luật biên giới quốc gia của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Trang 38

1.4 Thực trạng của việc đưa nội dung giáo dục ý thức bảo vệ đường biên giới Việt Nam – Trung Quốc trong dạy học Lịch sử cho học sinh Trung học phổ thông

Lạng Sơn là tỉnh miền núi thuộc vùng Đông Bắc nước Cộng hoà xã chủ nghĩa Việt Nam, phía Bắc giáp tỉnh Cao Bằng, phía Nam giáp Bắc Giang, phía Đông Nam giáp Quảng Ninh, phía Tây Nam giáp Thái Nguyên, phía Đông Bắc

giáp Trung Quốc Tỉnh Lạng Sơn có 223,01km đường biên giới với nước bạn

Trung Quốc thuộc địa bàn 20 xã và 1 thị trấn của 5 huyện (Tràng Định, Văn Lãng, Cao Lộc, Lộc Bình và Đình Lập); có 2 cửa khẩu quốc tế (cửa khẩu đường

bộ Hữu Nghị và đường sắt Đồng Đăng), 2 cửa khẩu quốc gia (Chi Ma – Lộc Bình, Bình Nghi – Tràng Định) và 7 cặp chợ biên giới, là cửa ngõ phía Bắc của

Tổ quốc

Trang 39

Hình 1.1 Bản đồ hành chính biên giới tỉnh Lạng Sơn

Trang 40

Như vậy, Lạng Sơn là tỉnh biên giới, có vị trí trọng yếu về an ninh, quốc phòng,

vì vậy việc giáo dục ý thức bảo vệ đường biên giới Việt – Trung đối với thế hệ trẻ nói chung và học sinh THPT nói riêng là việc làm cấp thiết và cần được tiến hành kịp thời, thường xuyên Việc điều tra, khảo sát về thực trạng việc đưa nội dung giáo dục ý thức bảo vệ đường biên giới Việt Nam – Trung Quốc trong dạy học Lịch sử cho học sinh THPT là cần thiết Kết quả điều tra, khảo sát là cơ sở đưa ra các kết luận chung, đề xuất các biện pháp sư phạm thích hợp để nâng cao hiệu quả giáo dục ý thức bảo vệ đường biên giới Việt Nam – Trung Quốc cho học sinh THPT nói chung và học sinh trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn nói riêng

Việc điều tra, khảo sát được tiến hành tại ba trường THPT trên địa bàn thành phố Lạng Sơn: THPT Chuyên Chu Văn An, THPT Việt Bắc và THPT Dân tộc Nội trú Tỉnh Về phương pháp tiến hành: tiến hành qua phỏng vấn một

số GV, HS; điều tra bằng phiếu thăm dò ý kiến 15 GV và 115 HS của các trường THPT trên [ Phụ lục 1,2] Nội dung điều tra, khảo sát tập trung vào các vấn đề

cơ bản sau:

Đối với GV, tìm hiểu về các vấn đề như: GV có được tập huấn về nội dung giáo dục ý thức bảo vệ đường biên giới lãnh thổ Việt Nam – Trung Quốc;

sự hiểu biết của GV về đường biên giới lãnh thổ Việt Nam – Trung Quốc; mức

độ thường xuyên tiến hành giáo dục, các biện pháp giáo dục, những khó khăn và thuận lợi trong việc giáo dục ý thức bảo vệ đường biên giới lãnh thổ Việt Nam – Trung Quốc

Đối với HS, nội dung điều tra, khảo sát tập trung vào sự hiểu biết của HS

về nội dung đường biên giới lãnh thổ Việt Nam – Trung Quốc; các nguồn tài liệu để tìm hiểu về đường biên giới lãnh thổ Việt Nam – Trung Quốc; mức độ được giáo dục, hiệu quả của việc giáo dục ý thức bảo vệ đường biên giới lãnh thổ Việt Nam – Trung Quốc; các biện pháp sư phạm GV thường sử dụng khi dạy học Lịch sử (phần Lịch sử địa phương)

Kết quả điều tra, khảo sát:

Về tập huấn nội dung giáo dục ý thức bảo vệ đường biên giới lãnh thổ

Ngày đăng: 25/04/2017, 11:40

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban Tuyên giáo Trung ƣơng (2011), Biên giới trên đất liền Việt Nam – Trung Quốc biên giới hoà bình, ổn định, hữu nghị, hợp tác và phát triển. Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biên giới trên đất liền Việt Nam – Trung Quốc biên giới hoà bình, ổn định, hữu nghị, hợp tác và phát triển
Tác giả: Ban Tuyên giáo Trung ƣơng
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia
Năm: 2011
2. Bộ Giáo dục và Đào tạo, Giáo dục quốc phòng – an ninh lớp 11, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục quốc phòng – an ninh lớp 11
Nhà XB: NXB Giáo dục
3. Bộ Ngoại giao nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1979), Sự thật về quan hệ Việt Nam-Trung Quốc trong 30 năm qua. Nhà xuất bản Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự thật về quan hệ Việt Nam-Trung Quốc trong 30 năm qua
Tác giả: Bộ Ngoại giao nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Nhà XB: Nhà xuất bản Sự thật
Năm: 1979
6. Nguyễn Thị Côi (2006), Các con đường, biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học lịch sử ở trường phổ thông. Nhà xuất bản Đại học Sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các con đường, biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học lịch sử ở trường phổ thông
Tác giả: Nguyễn Thị Côi
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Sư phạm
Năm: 2006
7. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Tham luận tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI. Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tham luận tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia
Năm: 2011
8. Hoàng Thu Giang (2012), ”Dạy học Lịch sử địa phương cấp trung học cơ sở trên địa bàn huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ”.Luận văn Thạc sỹ Sư phạm Lịch sử, Đại học Quốc Gia Hà Nội, Trường Đại học Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy học Lịch sử địa phương cấp trung học cơ sở trên địa bàn huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ
Tác giả: Hoàng Thu Giang
Nhà XB: Đại học Quốc Gia Hà Nội
Năm: 2012
10. Phạm Thành Dung (2005), Hoạt động đối ngoại của một số tỉnh biên giới phía Bắc với Trung Quốc từ năm 1991 đến nay, Học viện chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoạt động đối ngoại của một số tỉnh biên giới phía Bắc với Trung Quốc từ năm 1991 đến nay
Tác giả: Phạm Thành Dung
Nhà XB: Học viện chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh
Năm: 2005
11. Nguyễn Thị Phương Hoa, Phạm Bích Ngọc (2016), Vấn đề buôn lậu hàng hoá qua biên giới Việt – Trung, một góc nhìn, tạp chí Nghiên cứu Trung Quốc (8), tr. 24-38 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề buôn lậu hàng hoá qua biên giới Việt – Trung, một góc nhìn
Tác giả: Nguyễn Thị Phương Hoa, Phạm Bích Ngọc
Nhà XB: tạp chí Nghiên cứu Trung Quốc
Năm: 2016
12. Nguyễn Thị Phương Hoa, Nguyễn Quang Thuyên (2016), Vấn đề mua bán người qua biên giới Việt – Trung dưới góc nhìn an ninh phi truyền thống, tạp chí Nghiên cứu Trung Quốc (6), tr. 28-41 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề mua bán người qua biên giới Việt – Trung dưới góc nhìn an ninh phi truyền thống
Tác giả: Nguyễn Thị Phương Hoa, Nguyễn Quang Thuyên
Năm: 2016
13. Phạm Lan Hương (2016), Quan hệ hợp tác giữa các địa phương giáp biên của Việt Nam với Trung Quốc và một số giải pháp, tạp chí Nghiên cứu Trung Quốc (1), tr. 25-34 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan hệ hợp tác giữa các địa phương giáp biên của Việt Nam với Trung Quốc và một số giải pháp
Tác giả: Phạm Lan Hương
Nhà XB: tạp chí Nghiên cứu Trung Quốc
Năm: 2016
15. Hội khoa học Lịch sử (2012), Kỷ yếu ”Hội thảo Khoa học Quốc gia về dạy học Lịch sử ở trường phổ thông Việt Nam”. Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỷ yếu ”Hội thảo Khoa học Quốc gia về dạy học Lịch sử ở trường phổ thông Việt Nam”
Tác giả: Hội khoa học Lịch sử
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 2012
16. Nguyễn Chí Huyên (Chủ biên) (2000), Hoàng Hoa Toàn, Lương Văn Bảo. Nguồn gốc lịch sử tộc người vùng biên giới phía Bắc Việt Nam. Nhà xuất bản văn hoá dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguồn gốc lịch sử tộc người vùng biên giới phía Bắc Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Chí Huyên, Hoàng Hoa Toàn, Lương Văn Bảo
Nhà XB: Nhà xuất bản văn hoá dân tộc
Năm: 2000
17. Phan Ngọc Liên (Tổng chủ biên), Vũ Dương Ninh – Trần Bá Đệ (đồng Chủ biên), Vũ Ngọc Anh, Đỗ Thanh Bình, Lê Mậu Hãn, Nguyễn Quốc Hùng, Bùi Tuyết Hương, Nguyễn Đình Lễ, Lê Văn Quang, Nguyễn Sĩ Quế, Lịch sử 12. NXB Giáo Dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử 12
Tác giả: Phan Ngọc Liên, Vũ Dương Ninh, Trần Bá Đệ, Vũ Ngọc Anh, Đỗ Thanh Bình, Lê Mậu Hãn, Nguyễn Quốc Hùng, Bùi Tuyết Hương, Nguyễn Đình Lễ, Lê Văn Quang, Nguyễn Sĩ Quế
Nhà XB: NXB Giáo Dục Việt Nam
18. Phan Ngọc Liên (Tổng chủ biên), Lương Ninh - Trương Hữu Quýnh (Chủ biên), Đinh Ngọc Bảo, Nguyễn Hồng Liên, Nguyễn Cảnh Minh, Nghiêm Đình Vỳ, Lịch sử 10. Nhà xuất bản Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử 10
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
19. Phan Ngọc Liên, Trịnh Đình Tùng, Nguyễn Thị Côi (2010), Phương pháp dạy học Lịch sử, tập 1. Nhà xuất bản Đại học sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học Lịch sử
Tác giả: Phan Ngọc Liên, Trịnh Đình Tùng, Nguyễn Thị Côi
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học sư phạm
Năm: 2010
20. Phan Ngọc Liên, Trịnh Đình Tùng, Nguyễn Thị Côi (2010), Phương pháp dạy học Lịch sử, tập 2. Nhà xuất bản Đại học sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học Lịch sử, tập 2
Tác giả: Phan Ngọc Liên, Trịnh Đình Tùng, Nguyễn Thị Côi
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học sư phạm
Năm: 2010
21. Phan Ngọc Liên (chủ biên) (2000), Từ điển thuật ngữ Lịch sử phổ thông. Nhà xuất bản Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ Lịch sử phổ thông
Tác giả: Phan Ngọc Liên
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Quốc gia
Năm: 2000
22. Phan Ngọc Liên, Trịnh Đình Tùng, Nguyễn Thị Côi (1992), ”Giáo dục truyền thống dân tộc cho thế hệ trẻ qua môn lịch sử”, tạp chí nghiên cứu lịch sử (2), tr.31 - 37 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục truyền thống dân tộc cho thế hệ trẻ qua môn lịch sử
Tác giả: Phan Ngọc Liên, Trịnh Đình Tùng, Nguyễn Thị Côi
Nhà XB: tạp chí nghiên cứu lịch sử
Năm: 1992
23. Phan Ngọc Liên, Trịnh Đình Tùng (1992), ”Hệ thống các phương pháp dạy học lịch sử ở phổ thông”, tạp chí nghiên cứu giáo dục, số 1/1992 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ thống các phương pháp dạy học lịch sử ở phổ thông
Tác giả: Phan Ngọc Liên, Trịnh Đình Tùng
Nhà XB: tạp chí nghiên cứu giáo dục
Năm: 1992
24. Phan Ngọc Liên, Trịnh Đình Tùng, Nguyễn Thị Côi, Trần Vĩnh Tường (đồng chủ biên) (2002), Một số chuyên đề phương pháp dạy học lịch sử. Nhà xuất bản ĐHQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số chuyên đề phương pháp dạy học lịch sử
Tác giả: Phan Ngọc Liên, Trịnh Đình Tùng, Nguyễn Thị Côi, Trần Vĩnh Tường
Nhà XB: Nhà xuất bản ĐHQG
Năm: 2002

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1. Bản đồ hành chính biên giới tỉnh Lạng Sơn - Giáo dục ý thức bảo vệ đường biên giới việt nam – trung quốc trong dạy học lịch sử địa phương cho học sinh trung học phổ thông tỉnh lạng sơn
Hình 1.1. Bản đồ hành chính biên giới tỉnh Lạng Sơn (Trang 39)
Hình 2.1. Cán bộ, chiến sỹ Đồn Biên phòng Ba Sơn (Cao Lộc – Lạng Sơn) - Giáo dục ý thức bảo vệ đường biên giới việt nam – trung quốc trong dạy học lịch sử địa phương cho học sinh trung học phổ thông tỉnh lạng sơn
Hình 2.1. Cán bộ, chiến sỹ Đồn Biên phòng Ba Sơn (Cao Lộc – Lạng Sơn) (Trang 51)
Hình 2.2. Bộ đội Biên phòng cùng đồng bào các dân tộc tuần tra - Giáo dục ý thức bảo vệ đường biên giới việt nam – trung quốc trong dạy học lịch sử địa phương cho học sinh trung học phổ thông tỉnh lạng sơn
Hình 2.2. Bộ đội Biên phòng cùng đồng bào các dân tộc tuần tra (Trang 52)
Hình 2.4. Giao lưu văn nghệ thanh niên Việt – Trung - Giáo dục ý thức bảo vệ đường biên giới việt nam – trung quốc trong dạy học lịch sử địa phương cho học sinh trung học phổ thông tỉnh lạng sơn
Hình 2.4. Giao lưu văn nghệ thanh niên Việt – Trung (Trang 58)
Hình 3.1. Cột mốc 1116  Nguồn: http://bienphongvietnam.vn. - Giáo dục ý thức bảo vệ đường biên giới việt nam – trung quốc trong dạy học lịch sử địa phương cho học sinh trung học phổ thông tỉnh lạng sơn
Hình 3.1. Cột mốc 1116 Nguồn: http://bienphongvietnam.vn (Trang 84)
Bảng 3.1: Kết quả thực nghiệm - Giáo dục ý thức bảo vệ đường biên giới việt nam – trung quốc trong dạy học lịch sử địa phương cho học sinh trung học phổ thông tỉnh lạng sơn
Bảng 3.1 Kết quả thực nghiệm (Trang 91)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w