Diện tích cắt ngang và tốc độ dòng máu Nếu tất cả các mạch của mỗi loại được đặt cạnh nhau thì tổng diện tích mặt cắt ngang trung bình xấp xỉ : Mạch Diện tích cm 2 Có thể nhận thấy diệ
Trang 1Chức năng của hệ tuần hoàn là cung câp
máu cần thiết cho mô- vận chuyển dinh
dưỡng tới mô cơ quan, đồng thời vận
chuyển chất thả, vận chuyển hormon từ 1 số
cơ quan trong cơ thể đến những nơi khác,
giữ ổn định nồng độ các chất trong nội môi
trong cơ thể giúp các tế bào tồn tại và thực
hiện tốt các chứng năng của mình
ĐẶC TÍNH SINH LÝ CỦA TUẦN
HOÀN
Hệ tuần hoàn, trong hình 14-1 bao gồm tuần
hoàn hệ thống và tuần hoàn phổi Vì tuần
hoàn hẹ thuống cấp máu cho toàn bộ các mô
trong cơ thể bao gồm cả phồi nên còn được
gọi là vòng tuần hoàn lớn hay tuần hoàn
ngoại vi
Chức năng của hệ tuần hoàn Trước khi
nói đến đặc điểm chức năng của hệ tuần
hoàn, điều quan trong là cần hiểu vai trò
từng phần của hệ tuần hoàn
Chức năng của động mạch là chuyển máu
dưới áp lực đến mô Để đảm bảo chức năng
này, động mạch có thành dày,và máu di
chuyển với tốc độ cao trong lòng động
mạch
Các tiểu động mạnh là những nhánh nhỏ
cuối cùng của động mạch, chúng hoạt động
như các ống điều khiển lượng máu qua đó
vào trong lòng mao mạch Tiểu động mạch
có lớp cơ dày có thể đóng hoàn toàn tiểu
động mạch, cũng có thể giãn toàn bộ mạch, như vậy, khả năng biến lưu lượng máu đến
mô là rất lớn khi cần thiết
Chức năng của mao mạch là trao đổi dịch, dinh dưỡng, điện giải, hormone, và các chất khác giữa máu và dịch kẽ Để đảm bảo chức năng này, thành mao mạch mỏng và có nhiều khe mao mạch cho phép nước và các chất phân tử thấp đi qua
Tĩnh mạch nhỏ nhận máu từ mao mạch rồi hợp lại, đổ vào tĩnh mạch lớn
Chức năng của tĩnh mạch là hệ thống ống đưa máu từ tiểu tĩnh mạch trở về tim, Nó giống như một bể chứa máu phụ Vì áp lực máu ở tĩnh mạch rất nhỏ ,thành tĩnh mạch mảnh Mặc dù vậy, lớp cơ của nó đủ để có hoặc giãn, bằng cách đó đáp ứng được chức năng điểu hòa chức năng chứa máu, lượng lớn hoặc nhỏ phụ thuộc và nhu cầu của hệ tuần hoàn
Lượng máu trong các phần khác nhau của hệ tuần hoàn Hình 14-1 đưa một cái
nhìn tổng quát về hệ tuần toàn và tỉ lệ phần trăm của toàn bộ lượng máu trong các phần lớn của hệ tuần hoàn Ví dụ như 84% toàn
bộ lượng máu của cơ thể ở tuần hoàn hệ thống, 16% ở tim và phổi, 13% ở động mạch,7% ở tiểu động mạch và mao mạch Quả tim chứ 7% lượng máu và tĩnh mạch phổi chiếm 9%
Trang 2Điều đáng ngạc nhiên là lượng nhỏ máu ở
trong mao mạch Tuy nhiên lại có chức năng
quan trọng nhất của tuần hoàn là nơi xảy ra
trao đổi chất giữa máu và mô Chức năng
này được nói đến kĩ hơn ở chương 16
Diện tích cắt ngang và tốc độ dòng máu
Nếu tất cả các mạch của mỗi loại được đặt
cạnh nhau thì tổng diện tích mặt cắt ngang
trung bình xấp xỉ :
Mạch Diện tích (cm 2 )
Có thể nhận thấy diện tích mặt cắt ngang
của tĩnh mạch lớn hơn nhiều so với động
mạch, trung bình khoảng 4 lần so với động mạch tương ứng Sự khác biệt này giải thích khả năng chứa máu lớn hơn của hệ tĩnh mạch khi so sánh với hệ động mạch
Bởi vì có cùng lượng máu phải chảy qua mỗi đoạn trong cùng một phút (F), tốc độ dòng chảy (v) tỉ lệ nghịch với thiết diện cắt ngang của đoạn mạch
v = F/A
Do đó, khi nghỉ ngơi, tốc độ trung bình của dòng máu khoảng 33cm/s ở động
mạch,nhưng tốc độ ở mao mạch chỉ 1/1000
số đó, khoảng 0,3mm/s Tuy nhiên, vì mao mạch có độ dài đặc thù khoảng 0,3 đến 1mm, máu lưu lại ở mao mạch chỉ khoảng 3s Điều này gây ngạc nhiên vì mọi sự khuếch tán của các chất dinh dưỡng, điện giải thông qua thành mao mạch phải diễn ra trong thời gian ngắn này
Huyết áp ở những phần khác nhau của hệ tuần hoàn Bởi vì tim bơm máy vào động
mạch, nên huyết áp ở động mạch cao Khoảng 100mmHg Cũng vì thế, do tim bơm máu theo nhịp đập của tim, huyết áp động mạch dao động giữa mức huyết áp tâm thu khoảng 120mmHg và huyết áp tâm trương khoảng 80mmHg, thấy phía bên trái Hình 14-2
Cùng với việc máu chảy trong hệ tuần hoàn,
có nghĩa là huyết áp giảm dần về 0 mmHg vào thời điểm máu chảy đến cuổi của tĩnh mạch chủ trên và tĩnh mạch chủ dưới đổ vào tâm nhĩ phải
Huyết áp trong hệ mao mạch khoảng 35mmHg khi ở gần tiểu động mạch và còn khoảng 10mmHg khi ở gần tiểu tĩnh mạch,nhưng mức huyết áp “chức năng” trung bình của phần lớn giường mao mạch khoảng 17mmHg, mức huyết áp đủ thấp dể các hạt nhỏ trong huyết tương có thể đi qua được các khe của thành mao mạch, mặc dù
di dưỡng có thể lan tỏa một cách dễ dàng thông qua những khe này ở xa mô tế bào Ghi chú phía bên phải của hình 14-2 là huyết áp tương ứng của các phần khác nhau
Trang 3của tuần hoàn phổi Ở động mạch phổi
,huyết áp giao động theo nhịp đập,huyết áp
tâm trương khoảng 25mmHg, huyết áp tâm
thu khoảng 8mmHg Vó nghĩa là huyết áp
động mạch trung bình chỉ khoảng 16 mmHg,
huyết áp trung bình mao mạch phổi khoảng
7mmHg.Tổng lượng máu qua tuần hoàn
phổi trong mỗi phút bằng với tổng lương
máu qua tuần hoàn hệ thống mỗi phút
Huyết áp thấp ở tuần hoàn phổi phù hợp với
nhu cầu của phổi vì chức năng của nó là đẩy
máu qua mao mạch đổi để trao đổi oxy và
các khí khác trong phế nang
NHỮNG ĐIỂM CHÍNH CỦA CHỨC
NĂNG HỆ TUẦN HOÀN
Ba điểm chính về chức năng hệ tuần hoàn
1 Máu chảy tới các mô được điều chỉnh theo nhu cầu của mô Khi mô hoạt động,
chúng tăng nhu cầu được dinh dưỡng ,do đó, máu đến nhiều hơn khi mô nghỉ ngơi, khoảng 20- 30 lần khi nghỉ Hơn nữa, tim thông thường không thể tăng nhịp lên quá 4 -7 lần nhanh so với khi nghỉ ngơi Do đó,
nó không thể tăng lương máu đến bất cứ mô nào trong cơ thể khi nhu cầu của mô tăng Thay vào đó, mạch nhỏ của mỗi mô giám sát liên tục nhu cầu mô, như sự có sẵn của oxy
và dinh dưỡng và tích tụ của carbon dioxide
và sản phẩm chuyển hóa của mô kích thích các mạnh nhỏ này, đến lượt mình, các mạch này hoạt hóa trực tiếp các mạnh tại mô, giãn hay co mạch nhằm điều chỉnh lượng máu chính xác với lượng cần thiết cho hoạt động của mô Đồng thời, thần kinh điều khiểu của
hệ tuần hoàn từ thần kinh trung ương và hormone cũng góp phần vào điều hòa máu tới mô
2 Cung lượng tim là tổng của tất cả các dòng máu tới các mô Khi dòng máu qua
mô, ngay lập tức quay lại tim qua hệ tĩnh mạch Tim đáp ứng tự động với sự tăng máu đến bằng việc bơm máu trở lại động mạch
Do đó, tim hoạt động như một cái máy tự động đáp ứng với yêu cầu của mô Tuy nhiên, tim thường cần giúp đỡ bởi những tín hiệu thần kinh đặc hiệu để khiến nó bơm
3 Sự điều chỉnh huyết áp động mạch phụ thuộc vào sự điều chỉnh dòng máu tới mô hay sự điều chỉnh cung lương tim Tuần
Trang 4hoàn hệ thống được cung cấp một hệ thống
lớp để điều chỉnh huyết áp động mạch Theo
đó, bất kì khi nào huyết áp giảm dưới mức
mình thường khoảng 100mmHg Trong
vòng vài giây, xung thần kinh đáp ứng với
nó sẽ hoạt hóa một chuỗi các sự thay đổi
trong hệ tuần hoàng nhằm nâng huyết áp trở
lại bình thường Xung thần kinh đặc biêt (a)
tăng nhjp tim, (b) co các tĩnh mạch lớn để
dồn máu về tim, (c) co mạch đến nhiều mô,
từ đó máu tập chung vào các động mạnh lớn
để nâng huyết áp Sau đó, quá trình kéo dài
quá vài giờ hoặc vài ngày, thận sẽ hoạt động
đóng vai trò chủ đạo trong điều chỉnh huyết
áp bằng việc tiết hormone điều chỉnh huyết
áp và thay đổi thể tích máu
Vì vậy, nhu cầu của từng mô riêng được đáp
ứng đặc hiệu bởi hệ tuần hoàn Trong phần
còn lại của hệ tuần hoàn, chúng ta sẽ nói về
các điểm cơ bản của việc điều chỉnh tưới
máu mô, điều chỉnh cung lương tim và huyết
áp động mạch
MỐI QUAN HỆ GIỮA HUYẾT ÁP,
DÒNG CHẢY, LỰC CẢN
Dòng máu qua mạch được quyết định bởi 2
yếu tố : (1) trênh lệch áp lực máu giữa 2 đầu
của đoạn mạch, còn được gọi là “gradient
huyết áp”,thứ sẽ đẩy máu qua mạch Và (2)
sức cản chống lại dòng máu qua mạch, hay
còn được gọi là sức cản thành mạch Hình
14-3 giải thích mối quan hệ này, một mạch
máu bất kì trong hệ thống tuần hoàn
P1 giới thiệu lại huyết áp ở gốc đoạn mạch,
và đầu kia huyết áp là P2 Lực cản xuất hiện
như là kết quả của sự va đập giữa dòng máu
với nội mô thành mạch dọc đoạn mạch
Dòng chảy có thể tính bởi công thức sau,
còn được gọi là định luật Ohm :
với F là lưu lượng máu
∆P là chênh lệch huyết áp (P1-P2) giữa 2
điểm cuối của ống mạch
R là sức cản.
Thông qua công thức này có thể thấy lưu lượng máu tỷ lệ thuận với chênh lệch huyết
áp nhưng tỷ lệ nghịch với sức cản
Chú ý rắng Chênh lệch huyết áp ở giữa 2
điểm cuối của lòng mạch, không phải là huyết áp tuyệt đối trong lòng mạch, quyết định tốc độ máu Ví dụ nếu huyết áp tại cả 2 điểm cuối là 100 mmHg, không có sự khác biệt huyết áp tại 2 điểm cuối này nên không
có dòng máu chẩy qua ặc dù huyết áp là 100mmHg
Định luật Ohm, đã nêu ở trên đã nói rõ một
số điều quan trọng trong tất cả các mối tương quan giúp cho người đọc hiểu được huyết động học trong hệ tuần hoàn Công thức này rất quan trong, nên người đọc cũng nên biết 1 số công thức đại số khác của nó :
∆P = F x R R=
DÒNG MÁU
Dòng máu là lưu lượng máu đi qua 1 điểm trong hệ tuần hoàn trong 1 đơn vị thời gian Thông thường lưu lượng máu được xác định
bằng số ml/phút hoặc l/phút, nhưng nó có
thể xác định là số ml máu trong 1 giây hay 1 đơn vị máu trong 1 đơn vị thời gian
Tất cả lưu lượng máu trong toàn bộ hệ tuần hoàn ở người trưởng thành khoảng
5000ml/phút Đó là lượng lưu lượng tim bởi
vì lượng máu bơm qua động mạch bởi tim trong mỗi phút
Cách thức đo lưu lượng máu Có nhiều
thiết bị cơ khí, điện tử có thể luồn vào mạch máu hoặc đặt bên ngoài mạch để đo lưu
lượng máu Những thiết bị đó là Lưu lượng kế.
Lưu lượng kế điện tử Đó là 1 thiết bị đo
lưu lượng máu mà không cần mở mạch máu
Trang 5Nguyên tắc của máy được làm rõ trong hình
Figure 14-4 Figure 14-4A cho thấy sự
phát điện của lực điện động (Hiệu điện thế)
trong dây đó là di chuyển nhanh trong theo 1
đường chéo thông qua từ trường Điều này
có thể hiểu là nguồn gốc của lực điện bởi
dòng điện Figure 14-4B cho thấy nguyên
tắc của sự phát sinh lực điện động trong máu
là di chuyển do từ trường Trong trường hợp
dòng máu ở giữa 2 cực của 1 nâm châm và 2
điện cực ở 2 bề mặt của mạch máu vuông
góc với đường từ tính Khi dòng máu đi qua
mạch, 1 điện thế cân đối với dòng máu phát
ra giữa 2 điện cực và điện áp ghi lại qua máy
vôn kế thích hợp hoặc máy điện tử Figure 14-4C cho thấy 1 “máy dò” tại nơi có mạch
máu lớn để ghi lại lưu lượng máu Máy dò gồm 2 nâm châm mạnh và điện cực
Lợi thế đặc biệt của lưu lượng kế điện tử là
nó có thể ghi lại sự thay đổi của lưu lượng máu dưới 1/100 giây, theo dõi dự thay đổi của nhịp đập trong dòng chẩy, cũng như dòng chẩy ổn định
Trang 6Lưu lượng kế siêu âm Doppler Có là một
loại lưu lượng kế khác để đo phía ngoài
thành mạch và thiết bị này có một vài thuận
lợi hơn so với đo bằng lưu lượng kế điện tử,
đó là lưu lượng kế siêu âm Doppeler, hiện
trên hình Figure 14-5 Một tinh thể điện áp
phút được gắn ở một đầu trong các vách của
thiết bị Tại tinh thể, Khi có năng lượng điện
hoá với 1 thiết bị điện tử thích hợp, truyền
sóng âm với tần số vài trăm ngàn chu kì trên
1 giây xuôi thèo dòng chẩy của máu Một
phần của âm thanh sẽ phản xạ ngược trở lại
bởi hồng cầu trong dòng máu Sóng siêu âm
phản xạ dội lại từ tế bào máu tới tinh thể
Sóng dội lại có tần số thấp hơn so với sóng
truyền đi bởi vì hồng cầu đã hấp thụ đi từ
sóng truyền tới Hiệu ứng này là Hiệu ứng
Doppler.
Lưu lượng kế trên hình Figure 14-5 sử dụng
sóng siêu âm có tần số cao liên tục, và sóng
phản xạ được thu lại phía trên bản tinh thể
và được khuyếch đại lên bởi máy điện Một
phần khác của thiết bị điện tử xác định tần
số khác giữa sóng truyền đi và sóng phản xạ,
như vậy xác định được tốc độ dòng máu
Miễn là đường kính của mạch máu không
thay đổi, thay đổi dòng máu trong mạch sẽ
ảnh hưởng trực tiếp tới tốc độ dòng chẩy
So với lưu lượng kế điện tử, lưu lượng kế
siêu âm Doppler có khả năng ghi lại nhanh
chóng, nhịp thay đổi trong dòng chẩy, cũng
như là dòng chẩy đều
Thành mạch máu Khi dòng máu chẩy
trong lòng mạch với tốc độ đều đặn, nó chẩy
theo dòng, với mỗi lớp máu còn lại cùng
một khoảng cách ra thành mạch Ngoài ra
phần lớn máu giữ lại ở trung tâm của thành
mạch Loại dòng chẩy này được gọi là dòng
laminar hoặc dòng streamline, và nó đối lập với dòng turbulent, là máu được chẩy ở tất
cả các đường trong mạch và tiếp tục pha trộn với thành mạch, nó cứ tiếp tục như vậy
Hiện tượng Parabol trong dòng chẩy Laminar Khi xẩy ra dòng chẩy laminar, tốc
độ dòng chẩy ở trung tâm lòng mạch là lớn nhất và giảm dần về phía ngoài Hiện tượng
này được trình bày trong hình Figure 14-6.
Trong Figure 14-6A, lòng ống chứa 2 dịch
lỏng, một là bên trái có mầu bởi thuộc nhuộm và một dịch còn lại ở bên phải trong suốt, nhưng không có dòng chẩy trong lòng mạch Khi chất lỏng chẩy, hình thành 1 đường parabol trên bề mặt giữa 2 dòng, như
trên hình Figure 14-6B; phần chất lỏng
ngay thành mạch di chuyển rất khó, phần hơi ra xa thành mạch di chuyển với tốc độ chậm, và phần ở trung tâm thành mạch di chuyển rất nhanh Hiệu ứng này gọi là “ Hiện tượng parabol của dòng máu chẩy” Hiện tượng parabol của dòng chẩy do nguyên nhân: Những phân tử chất lỏng tiếp xúc với thành mạch chẩy chậm do dính chặt vào thành động mạch Lớp tiếp theo của phân tử chất lỏng trượt lên trên, lớp thứ 3 so với lớp thứ 2, lớp thứ 4 so với lớp thứ 3 Vì thế chất lớp chất lỏng ở giữ thành mạch di chuyển nhanh do trượt trên nhiều lớp phía dưới những lớp giữ trung tâm lòng mạch và thành mạch; vì thế khi hướng về phía trung tâm lòng mạch tốc độ máu nhanh dần và ngược lại
Trang 7Tình trạng dòng máu chẩy hỗn loạn Khi
tốc độ dòng máu trở nên quá lớn, khi nó
ngừng chẩy bởi tắc trong lòng mạch, nó có
vòng xoáy mạnh hoặc khi nó có bề mặt xù
xì, dòng chẩy trở nên hỗn loạn, hoặc lộn xộn
hơn dòng chẩy bình thường ( Hình Figure
14-6C) Dòng chẩy hỗn loạn nghĩa là dòng
máu chẩy chéo trong mạch và trong suốt
chiều dài mạch, luôn luôn tạo thành vòng
xoắn trong dòng máu, gọi là dòng xoáy
Những vòng xoáy này tương tự như xoáy
nước được thấy khi dòng sống chẩy nhanh
tại 1 điểm tắc
Khi dòng xoáy tồn tại, dòng máu có cản trở
lớn so với dòng chẩy thông thường bởi vì
dòng xoáy tạo ra va chạm rất lớn của dòng
chẩy trong thành mạch
Dòng chẩy hỗn loạn có xu hướng tăng lên
trong đối xứng với tốc độ của dòng máu,
đường kính của mạch máu, và tỷ trọng của
máu và làm giảm tỷ trọng của mạch máu
trong giới hạn cho phép theo công thức:
với: Re là hệ số Reynold (là các biện pháp
của các xu hướng bất ổn xẩy ra)
v là tốc độ dòng máu (cm/s)
d là đường đường kính mạch máu (cm)
η là độ nhớt (poise)
ρ là tỷ trọng của máu.
Độ nhớt của máu thông thường là 1/30
poise, tỷ trọng của máu xấp xỉ 1 Khi hệ số
Reynold tăng lên khoảng 200-400, dòng
chẩy hỗn loạn sẽ xẩy ra tại 1 vài nhánh của
mạch nhưng sẽ gây chết dần trong suốt phần
trơn nhẵn của bề mặt Tuy nhiễn, khi hệ số
Reynold tăng lên khoảng 2000, hỗn loạn sẽ
thường xuyên xẩy ra đoạn mạch thẳng và
nhãn
Hệ số Reynold cho dòng chẩy trong hệ tuần
thông thường khoảng 200-400 trong những
động mạch lớn ; kết quả là gần như luôn có
1 lượng nhỏ hỗn loạn trong dòng chẩy tại
điểm chia nhánh của mạch Ở phần đầu gần
của động mạch chủ và động mạch phổi, hệ
số Reynold có thể lên tới vài nghìn trong suốt giai đoạn tống máu của tâm thất, nên có hỗn loạn lớn tại đây, điều kiện xẩy ra sự hỗn loạn : (1) tốc độ dòng máu nhanh, (2) nhịp đập tự nhiên của dòng chẩy, (3) thay đổi đường kinh đốt ngột, và (4) đường kính lòng mạch lớn Tuy nhiễn, trong mạch máu nhỏ,
hệ số Reynold hầu như không bao giờ quá cao để xẩy ra sự hỗn loạn
HUYẾT ÁP Các đơn vị chuẩn của huyết áp Huyết áp
máu luôn luôn có đơn vị đo là milimet thuỷ ngân (mmHg) bởi vì các tài liệu tham khảo chuẩn để đo áp lực kể từ khi phát minh áp kế thuỷ ngân của Poiseuille vào năm 1846
Hiện nay, huyết áp nghĩa là lực của máu tác động lên 1 đơn vị điện tích của thành mạch
Khi nói áp lực của thành mạch máu là 50 mmHg, đó là lực tác dụng đủ để đẩy cột thuỷ ngân lên đến 1 mưc độ cao 50mm Nếu
áp lực là 100 mm Hg, nó sẽ đẩy cột thuỷ ngân cao lên 100 mm
Thỉnh thoảng, áp suất dùng đơn vị là cm H2O Một đơn vị áp suất là 10 cm H2O nghĩa
là lực tác dụng đủ để đẩy cột nước cao lên
10 cm Một mm của huyết áp thuỷ ngân bằng với 1.36 cm của huyết áp sử dụng cột nước bởi vì trọng lượng riêng của thuỷ ngân
bằng 13.6 lần so với nước và 1 cm bằng 1mm
Phương pháp đo chính xác huyết áp.
Thuỷ ngân trong một áp kế quá chậm để nó
có thể đi lên hoặc hạ xuống Từ những lý do
đó, huyết áp thuỷ ngân dùng để đo những áp lực ổn định, không thể đáp ứng lại những huyết áp thay đổi xẩy ra nhanh chóng trong một chu kì 2-3 giây Bất cứ khi nào cần ghi lại nhanh chóng sự thay đổi áp lực cần có
một loại máy áp kế khác Figure 14-7 làm
rõ nguyên tắc cơ bản của máy biên năng
huyết áp điện tử thông thường sử dụng sử dụng để biến đổi áp lực máu hoặc những biến đổi nhanh chóng của áp lực thành tín
Trang 8hiệu điện và ghi lại những tín hiệu điện
trong một máy ghi điện tốc độ cao
Mỗi máy biến năng sử dụng màng kim loại
rất mỏng và được kéo căng tạo thành một
bức tường của thành chất lỏng Thành chất
lỏng liên tục liên hệ thông qua một cái kim
hoặc ống chèn vào thành mạch máu nới có
áp lực nhịp nhàng Khi áp lực cao, màng
mỏng phồng lên, và khi thấp, màng mỏng
trở về vị trí nghỉ ngơi của mình
Trong Figure 14-7A, một tấm bọc kim loại
thông thường mỏng một phần vài trăm bọc
Khi màng phồng, màng tiến tới đóng tấm
bọc, làm tăng điện dung và thay đổi trong
điện dung có thể ghi lại sử dung một thiết bị
điện thích hợp
Trong Figure 14-7B, một đầu sắt nhỏ trong
màng, và đầu sắt có thể đi chuyển lên trên
một trung tâm không gian thành một cuộn
dây điện Chuẩn động của sắt trong cuộn
làm tăng tự cảm của cuộn dây và điều này
cũng có thể ghi bằng máy
Cuối cùng, trong Figure 14-7C, một dây
điện trở rất mỏng, kéo căng và được nối với
màn Khi dây bị kéo căng quá mức, điện trở
tăng ; khi nó bị kéo căng ít, điện trở sẽ giảm
xuống Nhưng thay đổi này có thể ghi lại bằng hệ thống điện
Những tín hiệu điện từ máy biến năng gửi
đi các khuyếch đại và ghi lại thích hợp Với những độ chính xác cao của máy ghi, chu kì
áp lực có thể ghi lại được tới 500 chu kì/ 1 giây Thông thường sử dụng phổ biến chu kì ghi từ 20 đến 100 chu kì/ 1 giây, như máy
ghi trên hình Figure 14-7C TRỞ KHÁNG VỚI DÒNG MÁU Đơn vi của trở kháng Trở kháng là sự cản
trở với dòng máu trong mạch, những nó không không thể đo bằng bất kì phương tiện trực tiếp Thay vào đó, trở kháng chỉ được tính từ những công thức, phép đo của dòng máu và sự chênh lệch áp lực giữa 2 điểm trên mạch Nếu chênh lệch áp lực giữa 2 điểm là 1 mmHg và tốc độ dòng chẩy là
1ml/s, trở kháng được coi là 1 đơn vị kháng ngoại biên, thường viết tắt là PRU.
Biểu hiện của trở kháng trong đơn vị CGS Thỉnh thoảng, một đơn vị vật lý cơ
bản gọi là đơn vị CGS ( cm, grams, giây) sử dụng để xác định rõ trở kháng Đơn vị này là dyne giây/ cm5 Trở kháng trong những đơn
vị này có thể tính theo công thức :
Tổng trở kháng mạch ngoại vi và tổng động mạch phổi kháng Tốc độc của dòng
máu thông qua hệ tuần hoàn là bằng với tốc
độ máu bởi nhịp đập của tim- đó là lượng máu tim đẩy ra Ở người trưởng thành, tốc này khoảng 100ml/s Chênh lệch áp suất từ
hệ thống động mạch tới hệ thống tĩnh mạch khoảng 100 mmHg Vì thề trở kháng của
toàn bộ hệ thống tuần hoàn gọi là tổng trở kháng ngoại vi, khoảng 100/100 hoặc 1
PRU
Trong điều kiện toàn bộ mạch máu khắp cơ thể trở nên siết mạnh, tổng trở kháng ngoại
vi thỉnh thoảng lên quá mức cao tới 4 PRU
Trang 9Ngược lại, khi lòng mạch trở nên dẫn ra, sức
cản có thể hạ xuống mức thấp như 0.2 PRU
Trong hệ thống hô hấp, áp lực động mạch
phổi trung bình là 16 mmHg và áp lực tâm
nhĩ trái khoảng 2 mmHg, tạo nên chênh lệch
áp suất là 14mm Vì thế, khi tim đẩy ra
thông thường là khoảng 100 ml/s, tổng áp
lực máu hệ tuần hoàn phổi khoảng 0.14
PRU (Khoảng 1/7 so với hệ tuần hoàn máu
lớn)
‘Độ dẫn ’ của máu trong mạch là nghịch
đảo của trở kháng Độ dẫn là tiêu chuẩn đề
đánh giá dòng máu chẩy thông qua mạch khi
áp suất thay đổi Đo lường thường được biểu
diễn theo ml/s hoặc mm của áp suất kế,
nhưng nó nó thể được biểu diễn bằng l/s
hoặc mmHg trong 1 đơn vị dòng chẩy và áp
suất
Rõ ràng độ dẫn tỷ lệ nghịch với trở kháng
phù hợp với công thức sau :
Độ dãn
Đường kính mạch thu nhỏ ảnh hưởng đến
độ dẫn Những thay đổi nhỏ trong đường
kính của mạch gây ra những thay đổi rất lớn
tới khả năng dẫn máu của mạch khi dòng
máu chẩy bình thường Hiện tượng này được
chứng minh trong thi nhiệm trên hình
Figure 14-8A, với 3 mạch có 3 đường kính
tỷ lệ với nhau 1,2 và 4 nhưng cùng 1 áp lực
là 100 mmHg giữ 2 điểm cuối của mạch,
mặc dù đường kính của những mạch này
tăng lên 4 lần, các dòng tương ứng là 1, 16,
256, đó là sự gia tăng 256 lần của dòng chẩy Như vậy, độ dẫn của dòng máu tăng
thêm tỷ lệ với mũ số 4 của đường kính mạch, theo công thức :
Độ dẫn = Đường kính4
Định luật Poiseuille Nguyên nhân của độ
dẫn tăng lên rất lớn khi đường kính tăng có
thể giải thích như trên hình minh hoạ Figure 14-8A, hiện lên mặt cắt của mạch lớn, nhỏ
Những vòng tròn đồng tâm phía trong lòng mạch cho thấy tốc độ dòng chẩy trong mỗi vòng tròn là khác nhau bởi vì dòng chẩy
laminar, như đã nêu trong các chương trước.
Máu trong vòng chạm vào thành mạch hầu như không chẩy vì nó gắn ở lớp nội mạc mạch máu Vòng tròn tiếp theo hướng về trung tâm mạch máu qua vòng tròn thứ nhất
và bởi vậy dòng chẩy nhanh hơn Dòng chẩy của các vòng tròn tiếp theo cũng tăng lên Vì thế, máu ở gần thành mạch có tốc độ chậm, càng xa thành mạch, tốc độ càng nhanh lên Trong mạch máu nhỏ, cơ bản tất cả các dòng máu đều gần thành mạch, nên dòng chẩy nhanh ở trung tâm của mạch máu gần như không tồn tại Bằng cách kết vận tốc của tất cả các vòng tròn đồng tâm của dòng chẩy và nhân chúng với diện tích của vòng
tròn, ta được 1 công thức, đó là định luật Poiseuille :
Với : F là tốc độ máu
∆P là chênh lệch áp lực
r là bán kính của mạch
l là độ dài của mạch
η là độ nhớt của máu Đặc biệt từ công thức này, ta thấy tốc độ của
dòng máu tỷ lệ với mũ số 4 của bán kính
mạch Chứng minh được đường kính mạch máu là yếu tố rất quan trọng ảnh hưởng rất lớn tới tốc độ dòng máu qua mạch
Trang 10Tầm quan trọng của đường kính mạch
‘Định luật luỹ thừa 4’ Trong hệ thống tuần
hoàn, khoảng 2/3 của tổng sức cản của máu
là sức cản trong những động mạch nhỏ
Đường kính của động mạch từ 4 µm đến
25µm Tuy nhiên, thành mạch máu khoẻ cho
phép đường kính có thể thay đổi, thường
dãn tới gấp 4 lầ Từ định luật luỹ thừa 4 đã
nêu từ trước liên quan trực tiếp với đường
kính mạch máu, khi đường kính tăng 4 lần
tốc độ dòng máu tăng 256 lần Do vậy định
luật luỹ thừa 4 giúp cho những động mạch
nhỏ có thể phản ứng lại với những thay đổi
nhỏ của đường kính từ những xung động
thần kinh hoặc những tín hiệu hoá học từ các
mô ngay cạnh, hoặc để tắt gần nhữ hoàn
toàn lưu lượng máu đến các mô hoặc ở một
phản ứng gây ra sự gia tăng lớn trong dòng
chẩy
Sức cản của dòng máu trong mạch nối
tiếp và mạch song song
Máu được bơm bởi tim từ áp suất cao của hệ
tuần hoàn (tâm thất) tới áp suất thấp (tâm
nhĩ) thông qua nhiều mét mạch máu trong
mạch nối tiếp và mạch song song Động
mạch lớn, động mạch nhỏ, mao mạch, tiểu
tĩnh mạch, tĩnh mạch xắp xếp nối tiếp nhau,
khi mạch máu xắp xếp nối tiếp, dòng chẩy
mang máu theo và tổng sức cản của dòng
máu (Rtổng) là tổng của toàn bộ sức cản trong
mạch :
Rtổng =R1 + R2 + R3 + R4+…
Tổng sức cản của mạch máu ngoại vi là
bằng tổng của sức cản trong động mạch lớn,
động mạch nhỏ, mao mạch, tiểu tĩnh mạch,
tĩnh mạch Như trên hình Figure 14-9A,
tổng sức cản bằng tổng của R1 và R2 Nhánh mạch máu rộng chia theo kiểu song song đáp ứng máu cho nhiều cơ quan và mô của cơ thể Mạch máu song song cho phép
mô điều chỉnh lượng máu phù hợp với mình một mức độ lớn, độc lập với dòng chảy đến
mô khác
Mạch máu chia nhánh song song (Figure 14-9B), tổng sức cản dòng máu như công
thức :
Nó phù hợp với xu hướng gradient áp suất, một lượng lớn máu sẽ chẩy qua hệ thống mạch song song không phải qua bất kì các mạch máu riêng lẻ khác Như vậy, tổng sức cản bé hơn so với sức cản của hệ thống mạch máu đơn thuần Dòng chẩy thông qua
mạch song song trên Figure 14-9B được
quyết định bới gradient áp suất và sức cản riêng, không phải sức cản của các mạch máu song song khác Tuy nhiên, làm tăng bất kì sức cản của mạch máu đều làm tăng tổng sức cản của mạch
Nó ngược với khi thêm mạch máu để một mạch làm giảm tổng sức cản Nhiều mạch máu song song giúp cho máu chẩy qua hệ mạch được dễ dàng do mạch song song cũng
cấp nhiều đường nhỏ hoặc độ dẫn, cho dòng
máu Tổng độ dẫn của dòng máu (Ctổng) bằng tổng của độ dẫn các mạch máu song song khác :
Ctổng = C1 + C2 + C3 + C4
Ví dụ, não, thận, cơ, ruột, da, và hệ tuần hoàn vành xắp sếp theo mạch song song, và
mô góp phần đóng góp độ dẫn của hệ thống tuần hoàn Dòng máu qua mô là phần nhỏ của tồng dòng máu (Tim thu) và xác định bởi sức cản ( nghịch đảo với độ dẫn) của dòng máu đến mô, cũng như gradient áp suất Như vậy, cắt bỏ 1 nhanh hoặc mổ bỏ 1 quả thận sẽ gây huỷ hệ mạch song song và làm giảm tổng độ dẫn của mạch máu và tổng dòng máu, trong khi sức cản ngoại vi càng tăng