Rối loạn nhịp tim thường là một hoặc 1 số kết hợp các bất thường sau đây trong hệ thống dẫn truyền co nhịp nhàng của tim: *Co nhịp bất thờng của bộ phận phát nhịp tim *Thay đổi vị tr
Trang 1Một số loại cơn đau của tim xẩy ra do nhịp
điệu tim bất thường Ví dụ, đôi khi nhịp đập
của tâm nhĩ không được phối hợp với nhịp của
tâm thất, do đó tâm nhĩ không còn chức năng
là điểm mồi cho bơm của tâm thất.
Mục đích của chương này là thảo luận về rối
loạn nhịp tim phổ biến và ảnh hưởng của
chúng đến tim cũng như chuẩn đoán chúng
bằng tâm điện đồ Rối loạn nhịp tim thường là
một hoặc 1 số kết hợp các bất thường sau đây
trong hệ thống dẫn truyền co nhịp nhàng của
tim:
*Co nhịp bất thờng của bộ phận phát nhịp tim
*Thay đổi vị trí của bộ máy phát nhịp tim từ
nút xoang tới nơi khác trong tim
* Blocks tại những điểm khác nhau trên trên
đường chuyền ra xung qua trái tim
* Sự phát điện tự động của xung điện giả trong
gần như toàn bộ các phần của tim
NHỊP XOANG KHÔNG BÌNH THƯỜNG
CHỨNG NHỊP TIM NHANH
Thuật ngữ “Chứng nhịp tim nhanh” nghĩa là
tim tập với tốc độ nhanh hoặc tim đập nhanh
hơn 100 nhịp/phút ở người bình thường ECG
ghi lại từ 1 bệnh nhân có chứng mạch nhanh
trong hình Figure 13-1ECG này không bình
thường với tốc độ tim, được xác định từ thời
gian quãng QRS là khoảng 150 nhịp mỗi phút
đáng lẽ bình thường là 72 nhịp/ phút.
Một vài nguyên nhân của chứng nhịp tim
nhanh gồm có tăng thân nhiệt, kích thích trái
tim bởi thần kinh giao cảm hoặc chất độc đến
trái tim
Tốc độ đập tim luôn luôn tăng thêm 10
nhịp/phút khi thân nhiệt tăng 1ºF ( tăng 18
nhịp/ phút với 1ºC) , tới thân nhiệt 105ºF
(40.5ºC), lúc này nhịp tim có thể giảm xuống
do lực cơ tim yếu dần là kết quả của sốt
Cơn sốt là nguyên nhân của tim đập nhanh do
tăng thêm nhiệt độ làm tăng tốc độ trao đổi
chất của nút xoang Thay đổi tăng nhịp điệu
ngay lập tức khi nó bị kích động.
Nhiều hệ thống thần kinh giao cảm có thể kích thích tim Ví dụ khi 1 bệnh nhân bị đựng mất máu, phản xạ giao cảm sẽ kích thích tim,
có thể tăng nhịp tim lên 150-180 nhịp/phút.
Cơ tim yếu đi thường làm tăng nhịp tim do lực tim yếu không bơm đủ máu qua cây động mạch và hiện tượng này là nguyên nhân khiến giảm lực ép của máu và kích thích hệ thần kinh giao cảm tới tăng nhịp tim
CHỨNG NHỊP TIM CHẬM
Định nghĩa “Nhịp tim đập nhậm” là tốc độ nhịp tim chậm, thường là dưới 60 nhịp/ phút Nhịp tim chậm hãy xem ECG Figure 13-2 Nhịp tim chậm trong thể thao Vận động
viên thường có lực tim mạnh hơn và khoẻ hơn
so với người bình thường, nó cho thấy lực bơm tim được 1 khối lượng máu lớn trong 1 nhịp tim trong thời kì nghỉ ngơi Khi vận động viên nghỉ ngơi lượng máu bơm quá mức qua cây động mạch nên kích thích vòng tuần hoàn ngược với hệ thống tuần hoàn ảnh hưởng đến nhịp tim làm chậm.
Kích thích phản xạ Vagal khiến nhịp tim chậm.Một vài phản xạ của hệ tuần hoàn kích
thích dây thần kinh X do thoát ra của Acetylcholine tại cung phản xạ vegal ở tim, như vậy gây ảnh hưởng của thần kinh đối giao
cảm Do đó bệnh nhân xẩy ra hiện tượng Hội chứng xoang động mạch cảnh Trong những
bệnh nhân này, Receptors cảm nhận áp suất ở xoang động mạch cảnh gốc Vì thế, áp lực nhẹ lên cổ gây ra phản xạ của receptor, vì vậy cường độ vagal- acetylcholine lớn gây ảnh hưởng đến tim, kể cả ở tận cùng thần kinh đối giao cảm Vì vậy 1 vài phản xạ có thể làm ngừng tim đập khoảng 5-10 giây.
Trang 2LOẠN NHỊP NÚT XOANG
Figure 13-3 cho thấy 1 bản ghi của máy đếm
tiếng đập tim, đầu tiên là giai đoạn hô hấp
thông thường và sau đó ( ½ giây thứ 2 của bản
ghi) trong khi hít thở sau Máy ghi điện tim là
công cụ để ghi chiều cao của nhánh liên tiếp
trong khoảng thời gian giữa các đoạn QRS
trong ECG Chú ý rằng bản ghi của tốc độ tim
không tăng và giảm quá 5% trong khi hô hấp
thông thường ( như nửa hình bên trái của bản
ghi trên) Sau đó, trong suốt thời kì thở mạnh,
nhịp tim tăng và giảm so với mỗi chu kì hô
hấp không quá 30%.
Loạn nhịp nút xoang có thể do 1 trong nhiều
trạng thái của hệ tuần hoàn biến đổi làm tăng
tín hiệu của thần kinh giao cảm và hệ thần
kinh phó giao cảm đến nút xoang “Hệ hô hấp”
là mẫu của chứng loạn nhịp nút xoang như trên
hình Figure 13-3, kết quả chính là “lan toả”
tín hiệu của trung khu hô hấp ở tuỷ sống sát
với trung tâm vận mạch trong thì hít vào và
thở ra của kì hô hấp Hiệu ứng lan toả tín hiệu
là nguyên nhân củatăng lên và giảm xuống liên
tiếp trong xung tín hiệu truyền tới thông qua
thân kinh giao cảm vàđây thần kinh X tới tim.
NHỊP BẤT THƯỜNG LÀ KẾT QUẢ CỦA
BLOCK NHỮNG ĐIỂM TRÊN ĐƯỜNG
TRUYỀN TÍN HIỆU CỦA TIM
BLOCK NÚT XOANG
Hiếm trường hợp xung từ nút xoang bị
block trước khi đến cơ tâm nhĩ.Hình 13-4
chỉ ra sóng P mất đột ngột gây hệ quả là
tâm nhĩ không co Tuy nhiên, tâm thất tự
tạo nhịp mới với xung thường có nguồn
gốc từ nút nhĩ thất,vì thế nên tần số xuất
hiện của phức hệ QRS-T chậm lại nhưng không thay đổi hình dạng
BLOCK NÚT NHĨ THẤT Cách duy nhất xung truyền từ nhĩ tới thất
là qua bó A-V( bó nhĩ thất ) hay còn được gọi là bó His.Những điều kiện có tăng tần
số dẫn truyền qua bó này hay block toàn
bộ như sau :
1 Thiếu máu nút nhĩ thất hoặc bó His
thường gây chậm hoặc block hẳn dẫn truyền từ nhĩ đến thất Thiếu máu mạch vành có thể gây ra thiếu máu cho nút nhĩ thất và bó His giống với cơ chế gây thiếu máu cơ tim
2 Chèn ép bó His do mô sẹo hoặc bị calci
hóa của tim
3 Viêm nút nhĩ thất và bó His Tình trạng
viêm bị gây ra bởi viêm cơ tim thường xuyên từ những type viêm cơ tim khác nhau hoặc thấp tim
4 Cường kích thích bởi thần kinh phế vị
trong một vài trường hợp gây block dẫn truyền qua nút nhĩ thất Cường kích thích thần kinh phế vị thường gây ra bởi kích thích mạnh thủ thể áp lực ở xoang động mạch cảnh
BLOCK NHĨ THẤT KHÔNG HOÀN TOÀN
Kéo dài khoảng P-R – Block độ I.
Khoảng thời gian kể từ khi bắt đầu sóng P đến khi bắt đầu phức bộ QRS là khoảng 0,16s khi tim đập nhịp bình thường Khoảng P-R giảm khi nhịp tim nhanh và tăng khi nhịp chậm Thông thường khoảng P-R dài quá 0,2s thì được gọi là P-R kéo dài và bệnh nhân được gọi là có block tim
độ I
Hình 13-5 làm một ECG có P-R kéo dài khoảng 0.3s thay vì bình thường khoảng 0,2s hoặc ít hơn Do đó, block độ 1 được định nghĩa là sự chậm dẫn truyền từ nhĩ
Trang 3đến thất chứ không phải mất hẳn dẫn
truyền
Khoảng P-R hiếm khi dài quá 0,35-0,45s
vì với khoảng thời gian đó, dẫn truyền qua
bó His bị đình trệ quá lâu nên dẫn truyền
ngừng hoàn toàn.Đây cũng là một cách xác
đinh mức độ nghiêm trọng của một số
bệnh tim như thấp tim cấp cũng tăng
khoảng P-R
Block độ II Khi dẫn truyền qua bó His
( bó A-V) châm đủ để tăng khoảng P-R lên
đến 0,25-0,45s ,thì điện thế hoạt động đôi
khi đủ mạnh để qua bó His và tâm thất và
đôi khi không đủ mạnh để truyền qua
Trong trường hợp đó, sẽ có sóng P nhưng
không có phức bộ QRS-T đi kèm, hay còn
được gọi là “ nhịp mất” của thất Khi đó
được gọi là block độ 2
Có 2 typ của block độ 2 Typ I ( chu kì
Wenkebach) và typ 2 Typ I biểu thị bởi
khoảng P-R dài dần ra cho đến khi có một
nhịp mất của thất thì chu kì bất thường này
được lặp lại.Một typ I thường gây ra bởi
bất thường nút nhĩ thất Trong hầu hết
trường hợp, typ này xuất hiện và không
cần điều trị
Typ II thường có các khoảng P-R cố định
nhưng thỉnh thoảng có khử cực nhĩ những
không có khử cực thất đi kèm Ví dụ một
block 2:1 nghĩa là có 2 sóng P dẫn cho 2
phức bộ QRS, có 1 sóng P không có phức
bộ QRS đi kèm.Có thể có cả nhịp 3:2 hoặc
3:1 Block typ II thường gây ra bởi bất
thường bó His – mạng Purkinje và cần cấy
máy tạo nhịp dưới da để điều chỉnh nhịp
tim
Hình 13-6 là một P-R dài 0,3s và và có một nhịp thất mất do lỗi dẫn truyền từ nhĩ đến thất
Block nhĩ thất hoàn toàn ( block độ III)
Khi những điều kiện gây ra sự kém dẫn truyền của nút nhĩ thất và bó His nhiều lên,
sẽ diễn ra block hoàn toàn xung từ nhĩ đến thất Khi đó thất sẽ tự phát xung, thường
xa vị trí của nút nhĩ thất hoặc bó His bị block Do đó, sóng P sẽ phân ly với phức
bộ QRS ( hình 13-7)
Nhịp bình thường của nhĩ trên ECG là khoảng 100 nhịp/ phút, nhịp của thất dưới
40 nhịp/ phút Trong block độ III ,không
có mối liên quan giữa sóng P với phức bộ QRS vì thất đã “thoát” khỏi sự điển khiển của nhĩ và đang đập theo nhịp của chính nó
Hội chứng Adams – Stokes / Thoát thất
Với một vài bệnh nhân có block nhĩ thất block hoàn toàn xuất hiện rồi biến mất, xung dẫn truyền từ nhĩ đến thất trong một thời gian rồi đột nhiên mất dẫn truyền Quãng thời gian của block khoảng vài giây, vài phút, vài giờ hoặc vài tuần hoặc hơn trước khi dẫn truyền trở lại Việc này diễn ra ở tim với việc tiệm cận thiếu máu của hệ dẫn truyền
Mỗi khi dẫn truyền A-V ( nhĩ thất) dừng, thất sẽ không tự phát nhịp cho đến khi xung bị chậm từ 5-30s Sự chậm trễ này gây ra bởi hiện tượng “ nén quá mức”
“Nén quá mức” nghĩa là thất kích thích bị
Trang 4nén lần đầu tiên.Thông thường thất bị nhĩ
điều khiển đập theo nhịp nhanh hơn nhịp
tự nhiên của nó Tuy nhiên,sau vài giây,
vài phần của hệ Purkinje thoát block,
thường là ở phần xa trung tâm nút A-V
thoát.Vị trí này phát nhịp khoảng 15-40
lần/ phút và hoạt động như một máy tạo
nhịp của thất Hiện tượng này gọi là thoát
thất
Vì não không thể hoạt động quá 4-7s mà
không có cấp máu, nhiều bệnh nhân ngất
vài giây sau một block hoàn toàn xảy ra vì
tim không bơm máy trong 5-30s cho đến
khi “thất thoát” Sau khi thoát, nhịp thất
chậm bơm đủ máu lên não để hồi phục lại
sau ngất và bệnh nhân tỉnh dần Thời kì
ngất này được gọi là hội chứng Adams
Stokes
Đôi khi, khoảng thất ngừng đập trong
block hoàn toàn quá dài đến mức gây ảnh
hưởng sức khỏe bệnh nhân, có thể chết.Hệ
quả là, hầu hết bệnh nhân được cung cấp
một máy tạo nhịp nhân tao, một máy nhỏ
bằng pin cấy dưới da với nguồn điện kết
nối với thất phải Máy tạo nhịp liên tục
kích thích tâm thất
BLOCK THẤT KHÔNG HOÀN TOÀN
-ĐIỆN THẾ THAY ĐỔI
Hầu hết cácyếu tô gây ra block A-V cũng
gây ra block dẫn truyền ở ngoại vi tâm thất
trong mạng Purkinje Hình 13-8 là” điện
thế thay đổi” là kết quả của block thất cục
bộ ECG này cũng có biểu thị nhịp nhanh,
rằng hầu như chắc chắn có block Vì khi
nhịp nhanh, tâm thất không kịp thoát trơ
kịp dể nhận tiếp kích thích Hơn nữa,
những nguyên nhân gây giảm dẫn
truyeenfnhw thiếu máu cơ tim, viêm cơ
tim, độc digitalis cũng có thể gây ra block
thất không hoàn toàn biểu thị nên điện thế
thay đổi.
NGOẠI TÂM THU Nhát đến sớm của tim là nhát co xảy ra sớm hơn thông thường được dự báo trước Hiện tượng này còn được gọi là ngoại tâm thu, nhát đến sớm hoặc nhịp lạc chỗ NGUYÊN NHÂN CỦA NGOẠI TÂM THU
Hầu hết ngoại tâm thu gây ra bởi điểm phát nhịp lạc chỗ trên thất, nơi phát ra nhịp xen vào giữa nhịp đập bình thường của tim.Những nguyên nhân có thể gây ra ngoại tâm thu : (1) thiếu máu cục bộ cơ tim,(2) các điểm vôi hóa rải rác trong cơ tim chèn ép và sợi cơ làm cho các sợi cơ này bị kích thích, (3) chất độc kích thích nút A-V, mạng Purkinje, hoặc calci hóa cơ tim gây ra bởi viêm, thuốc,
nicotin,caffeine Ngoại tâm thu cũng thường xuyên gặp trong thông buồng tim, ngoại tâm thu cũng xảy ra khi đứa catheter vào trong buồng thất phải và chén ép nội tâm mạc
NGOẠI TÂM THU NHĨ Hình 13-9 là một ngoại tâm thu nhĩ, sóng
P của nhát này đến sớm hơn bình thường khoảng P-R ngắn lại nói lên rằng vị trí phát nhịp bất thường ở thất gần nút A-V Hơn nữa, khoảng cách giữa ngoại tâm thu
và nhát tiếp theo kéo dài hơn, được gọi là khoảng nghỉ bù.Một trong những lí do của khoảng nghỉ bù là nguồn gốc của ngoại
Trang 5tâm thu này xa nút xoang, nhịp đi qua khá
nhiều cơ tâm nhĩ trước khi nó kích thích
nút xoang.Do đó, nút xoang phát nhịp
muộn hơn trong nhịp ngoại tâm thu và ta
nhìn thấy nó trên ECG
Ngoại tâm thu thất cũng có ở người khỏe
mạnh, đặc biệt, nó thường diễn ra ở những
vận động viên,những người có thể trạng
tốt nhất Bị gây độc bởi các yếu tố như
thuốc lá,mất ngủ, quá nhiều coffee, rượu
và dùng quá nhiều thuốc cũng có thể gây
ngoại tâm thu
Mạnh chìm Khi tim co sớm hơn bình
thường, tâm thất chưa nhận đầy máu như
bình thường và nhát bóp đó bơm ít máu
hơn Do đó sóng đập của nhát bóp đó lên
thành mach sẽ yếu hơn thậm chí là yếu đến
mức không thể bắt được gọi làm mạnh
chìm
NGOẠI TÂM THU CỦA NÚT A-V
HOẶC BÓ HIS
Hình 13-10 là một ngoại tâm thu có nguồn
gốc ở nút A-V hoặc bó His Sóng P bị mất
trong bản ECG ở nhịp ngoại tâm thu Thay
vào đó,sóng P chồng lên phức bộ QRS vì
xung truyền về tâm nhĩ cùng lúc với truyền
đến tâm thất Sóng P này thay đổi nhẹ hình
dạng phức bộ QRS nhưng không thể phân
biệt rõ sóng P.Thông thường ngoại tâm thu
nút A-V có chung biểu hiện và nguyên
nhân với ngoại tâm thu nhĩ
NGOẠI TÂM THU THẤT
Hình 13-11 là mỗi chuỗi các ngoại tâm thu
thất ( PVCs : premature ventricular
contractions) xen kẽ với nhịp bình thường
PVCs có các dấu hiệu điển hình sau trên
ECG:
1.Phức bộ QRS kéo dài Lí do cho sự kéo dài này là xung được dẫn qua có thất chậm hơn dẫn qua mạng Purkinje
2 Phức bộ QRS cao hơn Khi xung bình thường qua tim, nó đi qua cả hai tâm thất gần như đồng thời, kết quả là ở tim bình thường, sóng khử cực của cả hai bên, với hai hướng khử cực khác nhau,sẽ trung hòa một phần trên ECG
Khi PVC diễn ra, xung hầu như chỉ đi theo một hướng và sẽ không có hiện tượng trung hòa,một bên sẽ khử cực trước hoàn toàn bên đối diện gây ra điện thế kéo dài
và thể hiện là khoảng QRS kéo dài trong hình 13-11
3 Sau hâu hết PVCs, sóng T ngược chiều
so với phức hệ QRS.Bởi vì dẫn truyền chậm của xung qua cơ tim khiến cơ tim khử cực đầu tiên sẽ tái cực đầu tiên
Vài PVCs cũng không ảnh hưởng nhiều đến tổng lượng bơm của tim, PCVs có thể gây ra bởi thuốc lá, coffee, thiếu ngủ, tình trạng nhiễm độc nhẹ, thậm chí là cảm xúc kích thích Ngược lại, nhiều PVCs gây ra bởi xung lạc liên quan đến nhồi máu hay thiếu máu cục bộ tim.Sự xuất hiện của các
Trang 6sóng PVCs như thế và tác động của chúng
không hề nhẹ nhàng
Những người thường xuyên có PVCs có
nguy cơ cao hơn bị rung thất dẫn đến tử
vong mà nguyên nhân là do một đợt PVCs
Sự tiến triển này đặc biệt đúng khi PVCs
diễn ra trong thời kì dễ tổn thương là ngay
sau khi kết thúc sóng T, khi mà thất đang
chuẩn bị thoát trơ, điều này sẽ giải thích ở
phần sau
Phân tích hướng của nguồn gốc ngoại
tâm thu thất Ở chương 12, những điểm
quan trọng của việc phân tích hướng đã
được giải thích Bằng việc áp dụng những
điểm này, có thể xác định được nguồn gốc
của PVC trong hình 13-11 như sau Bản
điện tim trên là ở đạo trình II hoặc III Xác
định trục của ngoại tâm thu so với QRS
bình thường,ta thấy là hướng của ngoại
tâm thu ngược chiều, đỉnh hướng xuống
dưới Do đó,phần đầu tiên của tim được
khử cực trong ngoại tâm thu gần với phần
đáy của tâm thất, đó cũng chính là vị trí
phát nhịp
Rối loạn tái phân cực– Hội chứng QT
kéo dài Nhắc lại, sóng Q là biểu thị của
giai đoạn khử cực thất, còn sóng T là sóng
tasiphaan cực của thất Khoảng Q-T là
khoảng thời gian từ đầu Q đến cuối T Rối
loại tái khử cực chậm của cơ tim sau khi
khử cực gây ra kéo dài điện thế hoạt động
tâm thất và biểu thị bởi đoạn Q-T kéo dài
gọi là hội chứng QT kéo dài.( LQTS : ong
QT syndrome)
Lí do chính của LQTS là liên quan tới chậm tái khử cực ở bệnh nhân nhảy cảm tiến triển thành loạn nhịp thất gọi là torsades de pointes , theo nghĩa đen nghĩa
là “sự xoắn của các điểm” Dạng loạn nhịp nhịp này biểu thị đặc trưng hình 13-12 Hình dạng phức bộ QRS có thể thay đổi nhiều lần với sự bắt đầu của loạn nhịp thường là sau một ngoại tâm thu, khoảng nghỉ, sau đó là nhát đập với khoảng Q-T kéo dài, thứ mà gây ra loạn nhịp, nhịp nhanh và đôi khi là rung thất
Rối loạn tái phân cưc dẫn đến LQTS có thể bị di truyền hoặc mắc phải Dạng LQTS bẩm sinh kiếm gặp và gây ra bởi sự thay đổi của kênh Na-K Có ít nhất 10 biến đổi trong những gen này gây ra các mức
độ khác nhau của việc kéo dài Q-T đã được xác định
Thường gặp là loại mắc phải có liên quan đến rối loạn điện giải,như giảm magnese máu, giảm kali máu, giảm calci máu hoặc quá liều thuốc chống loạn nhịp như quinidine hay vài kháng sinh như fluoroquinolone hoặc erythromycin, những thứ làm kéo dài khoảng Q-T
Mặc dù vài người có LQTS không có triệu chứng ( thường dưới dạng Q-T kéo dài), vài người khác biểu hiện mờ nhạt và loạn nhịp thất có thể rõ ràng khi hoạt động thể
Trang 7lực, cảm xúc mạnh như bực tức hoặc sợ
sệt, giật mình.Loạn nhjp thất liên quan tới
LQTS ,trong vài trường hợp ,diễn tiến xấu
đi thành rung thất và đột tử
NHỊP NHANH CỰC PHÁT
Vài điểm bất thường trong những phần
khác nhau của tim bao gồm nhĩ, mạng
Purkinje, tâm thất, phát ra xung lan khắp
tim có thể là nguyên nhân gây ra nhịp
nhanh thất.Hiện tượng này được cho là bị
gây ra bởi con đường tái nhận xung “ di
chuyển vòng tròn”, thứ mà gây ra tự kích
kích lặp đi lặp lại Bởi vì nhịp nhanh do
một ổ kích thích trở thành vị trí tạo nhịp
của cả tim
“Cự phát” muốn nói rằng nhịp tim trở
thành nhịp nhanh thành cơn,với cơn kéo
dài một vài giờ hoặc dài hơn.Cơn kết thúc
đột ngột như khi nó bắt đầu và điểm tạo
nhịp trở lại là nút xoang
Cơn nhịp nhanh kịch phát thường bị dừng
lại bởi đáp ứng của thần kinh phế vị.Đáp
ứng thần kinh phế vị gây bằng cách kích
thích vào vùng thắt của xoang động mạch
cảnh, đủ để gây ra đáp ứng ngừng cơn
nhịp nhanh.Thuốc chống loạn nhịp có thể
dùng để giảm dẫn truyền hoặc kéo dài thời
gian trơ của cơ tim
CƠN NHỊP NHANH NHĨ
Hình 13-13 là một tăng nhịp tim đột ngột
từ 95 lên 150 lần/ phút ở giữa bản điện
tim Nghiên cứu củ thể về điện tâm đồ
(ECG) có một sóng P nghịch đảo được
nhìn thấy trong khi nhịp nhanh, ngay phía
trước phức hệ QRS-T và sóng P này được
thêm vào nhịp sóng P bình thường của
nhịp ngay phía trước Chi tiết này chỉ ra
nguồn gốc của nhịp nhanh kịch phát này là
từ tâm nhĩ, nhưng vì sóng P có hình dang
không bình thường, nên nguồn gốc không
gần với nút xoang
Tim nhanh kịch phát nút nhĩ thất, nhịp
nhanh thường là kết quả của một nhịp bất thường từ nút nhĩ nhất Dạng nhịp nhanh này có phức hệ QRS-T bình thường nhưng sóng P loạn nhịp hoàn toàn
Nhanh nhĩ hay nhanh bộ nối ( nút ),cả hai đều được gọi là nhịp nhanh trên thất, thường xảy ra ở người trẻ, có thể ở người khỏe mạnh,và những người này thông thường có nguy cơ nhịp nhau sau tuổi vị thành niên.Thông thường, nhịp nhanh trên thất gây ra cơn hồi hộp ,và có thể gây ra mệt mỏi trong cơ kịch phát, nhưng nó thường gây không gây tác hại kéo dài sau cơn
NHỊP NHANH THẤT
Hình 13-14 cho thấy một cơn nhanh thất kịch phát ngắn ECG của nhịp nhanh thất kịch phát có hình dạng của một chuỗi các sóng ngoại tâm thu lặp lại liên liên tục mà không có nhịp bình thường xen giữa Nhịp nhanh thất thường gây ra bởi hai nguyên nhân Thứ nhất, dạng nhịp nhanh này thường không xảy ra trừ khi có tổn thương thiếu máu cục bộ đáng kể ở tâm thất Thứ hai, nhịp nhanh thất cũng thường
là điều kiện gây ra rung thất, bởi vì nhịp kích thích cơ tim lặp lại nhanh và liên tục, chúng ta sẽ nói về vấn đề này ở phần tiếp theo
Đôi khi,sự nhiễm độc tim bởi thuộc digitalis gây ra kích thích tại một điểm cũng gây ra nhịp nhanh thất Thuốc chống loạn nhịp như aminodarone hay lidocaine cũng có thể dùng để điều trị nhịp nhanh
Trang 8thất Lidocaine kìm hãm sự tăng tính thấm
của Natri của màng tế bào trong điện thế
hoạt động, từ đó, ức chế nhịp khởi phát
của điểm tạo nhịp bất thường, thứ gây ra
cơn nhịp nhanh Amiodarone có nhiều
hoạt động như kéo dài điện thế hoạt động
và giai đoạn tái cực ở cơ tim và làm chậm
sự dẫn truyền của nút nhĩ thất Trong một
vài trường hợp, sốc điện có thể cần thiết để
tái lập lại nhịp bình thường của tim
RUNG THẤT
Tình trang nguy hiểm nhất của loạn nhịp
tim là rung thất, nếu nó không kết thúc
trong vòng 1 đến 3 phút, hầu như sẽ dẫn
đến tử vong Rung thất gây ra bởi nhịp
phát nhịp trong khối cơ thất, gây ra khử
cực toàn cơ thất, tiếp sau đó là 1 nhịp
khác,rồi tiếp tục, và cuối cùng điều hòa
ngược chính nó để tái khử cưc khối cơ thất
liên tục không ngừng.Khi hiện tượng xảy
ra, rất nhiều phần cơ thất sẽ co cùng lúc,
trong khi những phần khác đang nghỉ Vì
vậy, không bao giờ phối hợp co cơ thất
đồng thời, co cơ thất đồng thời tạo ra nhịp
bơm của tim Mặc dù sự di chuyển ồ ạt của
các xung kích thích tới thất, buồng thất
không giãn, không co, không bơm máu
hay bơm lượng không đáng kể Bởi vậy
sau khi cơn rung bắt đầu, mất ý thức diễn
ra trong vòng 4 đến 5s bởi vì thiếu máu lên
não và chết mô không hồi phục diễn ra
khắp cơ thể trong vài phút Nhiều yếu tố
có thể gây ra sự khởi đầu của rung nhĩ
Một người có thể có nhịp tim bình
thường,một giây sau có thể rung thất Đó
có thể là (1) sốc điện đột ngột của tim hoặc
(2) thiếu máu cơ tim , thiếu máu nhán điều
kiển hoặc cả hai
HIỆN TƯỢNG TÁI NHẬN XUNG - “DI
CHUYỂN VÒNG TRONG” LÀ NỀN
TẢNG CHO RUNG THẤT
Khi xung điện tim bình thường truyền đến
tâm thất, đó là điểm cuối, không còn nơi
khác để truyền đi, bởi vì tất cả các cơ tâm
thất trơ và không thể truyền xung xa hơn
Do đó, xung chết, và tim đợi cho đến điện thế hoạt động tiếp theo bắt đầu ở nút xoang
Tuy nhiên trong nhiều trường hợp, sự liên tục này không diễn ra Do đó, hay để chúng t giải thích rõ đầy đủ hơn về điều kiện khiến tái nhận xung dẫn đến sự kích khích vòng tròn thứ mà sẽ gây ra rung thất Hình 13-15 chỉ ra nhiều phần cơ tim nhỏ chen ngang dạng vòng tròn Nếu một nhóm cơ bị kích thích ở hướng 12 giờ thì xung sẽ dẫn truyền theo chỉ một hướng xung dẫn truyền dần liên tục xung quanh vòng tròn cho đến khi nó quay trở lại vị trí
12 giờ Nếu một xung đến kích thích vào lúc cơ đang trơ, thì xung đó chết, vì khi cơ đang trơ sẽ không đáp ứng với xung thứ hai
Tuy nhiên, ba điều kiện khác có thể khiến cho xung tiếp tục truyền xung quanh vòng tròn để gây ra tái nhận xung vào trong cơ đang kích thích ( di chuyển vòng tròn) Đầu tiên, đó là đường đi vòng quanh vòng trong dài hơn bình thường, cùng với thời gian xung trở lại điểm 12 giờ, vùng cơ đầu tiên bị kích thích đã không còn bị trơ nữa,
và xung tiếp tục được truyền trong vòng tròn và cứ thế lặp lại
Trang 9Thứ hai, nếu chiều dài của đường đi không
đổi nhưng tốc độ dẫn bị giảm.Cũng như
vậy, khi xung quay lại điểm 12 giờ thì
vùng cơ đầu tiên đã thoát trơ và xung tiếp
tục đi
Thứ ba, khoảng trơ của cơ ngắn lại Trong
trường hợp này, xung có thể tiếp tục trong
vòng tròn
Tất cả các điều kiện này diễn ra trong các
tình trang bệnh lý khác nhau của tim : (1)
đường đi dài gặp trong giãn cơ tim, (2)
giảm tốc độ dẫn truyền gặp trong block hệ
thống Purkinje, thiếu máu cơ tim, tăng kali
máu và vài yếu tố khác, (3) thời gian trơ
ngắn thường diễn ra trong đáp ứng với vài
thuốc như epinephrine hoặc sau kích thích
điện.Do đó, trong nhiều rối loạn tim, có
thể gây ra mô hình dẫn truyền bất thường
hoặc nhịp bất thường,bỏ qua nhịp của nút
xoang
CƠ CHẾ PHẢN ỨNG DÂY TRUYỀN
CỦA RUNG THẤT
Trong rung thất, có nhiều chỗ chia ra và
sóng kích thích nhỏ lan rộng cùng lúc theo
nhiều hướng khác nhau Sự tái nhận xung
trong rung thất không đơn giản là môt
xung di chuyển trong vòng, như thấy ở
hình 13-15 Thay vào đó, chúng đã giảm đi
trong nhiều sóng trước đã xuất hiện trong
phản ứng dây truyền này Một trong những
cách tối nhất giải thích sự tăng lên của
rung là cho rằng khởi phát rung với shock
điện với dòng điện xoay chiều 60Hz
Rung gây ra bởi dòng điện xoay chiều
60 Hz
Ở trung tâm tâm thất của tim A ở hình
13-16, dòng điện 60Hz được dùng trong kích điện tim Vòng đầu tiên của kích điện tim gây ra sóng khử cực lan mọi hướng, khiến cho tất cả cơ tim đều ở trạng thái trơ Sau 25s một phần của khối cơ này thoát khỏi tình trạng trơ Vài vị trí thoát trơ trước các
vị trí khác Tình trạng này được thể hiện ở tim A bởi nhiều mảng sáng đại điện cho vùng dễ kích thích và các mảng tối là vùng
cơ vẫn còn trơ Lúc này, tiếp tục kích thích dùng điện 60Hz sẽ tạo xung truyền theo vài hướng duy nhất Do đó, ở tim A, vài xung đi khoảng cách ngắn cho đến khi đến vùng trơ của tim và bị block.Tuy nhiên, lại
có vài xung thoát ra khỏi vùng trơ và tiếp tục truyền đến cùng kích thích.Các hiện tượng này sảy ra liên tục trong thời gian ngắn khiến cơ tim liên tục kích thích và biểu hiện rung
Đầu tiên, block xung của vài hướng dẫn truyền qua một vài hướng khác tao nên một trong những điều kiện quan trọng của
“ tái nhận xung” : dẫn truyền sóng khử cực quanh tim chỉ theo một vài hướng nhất định mà không theo các hướng khác
Thứ hai, kích thích nhanh tim gây ra hai thay đổi trong cơ tim, cả hai dẫn đến dẫn
truyền vòng tròn : (1) Tốc độ co của tim giảm Điều này cho phép khoảng thời gian
dài hơn cho xung đi vòng quanh tim và
(2)thời gian trơ của tim ngắn lại, cho phép
Trang 10tái nhận xung ở vùng đầu tiên đã bị kích
thích trước đó
Thứ ba, một trong những điểm quan trọng
nhất của rung là phân chia của xung giống
như trong hình 13-16 Khi sóng khử cực ở
đến vùng trơ của tim,nó dẫn truyền theo
mọi hướng xung quanh vùng trơ đó Kết
quả là một xung duy nhất trở thành 2 xung,
sau đó các xung này lại đến các vùng trơ
khác và lại chia như thế, tiếp tục tiếp tục,
…Bằng cách này, nhiều sóng mới được tạo
thành trong tim và đi theo nhiều hướng
trong tim Hơn nữa, do cách xung bị tách
ra nên cường độ không đều nhau, điều này
gây ra nhiều đường lòng vòng và kéo dài
dẫn truyền, điều này là một trong những
điều kiện duy trì rung Đó cũng là kết quả
của sự phân bố rải rác của các vùng trơ
trong tim
Người ta có thể dễ dàng thấy khi kích thích
lặp này gặp lại : Càng lúc càng nhiều xung
tao ra, những xung này gây ra nhiều vùng
cơ đang trơ, những vùng cơ đang trơ này
gây ra sự phân tách các xung.Và mỗi khi
có một vùng cơ tim thoát trơ, xung bị khóa
lại
Tim B trong hình 13-16 là trạng thái cuối
cùng trong rung Mọi người có thể thấy
xung đi theo mọi hướng với vài xung tách
làm tăng số lượng xung, một vài bị block
do vùng tim trơ Trong thực tế, một shock
điện đơn thuần trong thời kì tổn thương
này có thể ổn định các xung đang dẫn
truyền nhiều hướng
ĐIỆN TÂM ĐỒ CỦA RUNG THẤT
Trong rung thất, ECG rất kì dị, ( hình
13-17) biểu hiện không có dạng nhịp của bất
kì dạng nào Trong vài giây đầu của rung
thất,liên quan tới khối lượng lớn cơ đang
co đồng thời gây ra các sóng lớn không
đều nhau trên ECG SAu vài giây, các
xung lớn này biến mất, và ECG thay đổi
thành dạng sóng thấp, rất không đồng
đều.Do đó,không có dạng sóng chu kì nào
được đặt cho rung thất
Chiều cao của các sóng trên ECG ở tâm thấy thường khoảng 0,5milivolt khi rung thất bắt đầu những chúng sụt xuống nhanh
và sau khoảng 20-30s, chúng thường chỉ còn 0,2-0,3milivolt.Chiều cao chỉ còn 0,1 milivolt hoặc thấp hơn sau 10 phút rung thất Như đã nói ở trên, vì không có bơm máu trong khi rung thất nên tình trạng này
sẽ dẫn đến tử vong nếu không có những liệu pháp mạnh như shock điện ngay lập tức, việc này sẽ nói ở phần sau
SHOCK ĐIỆN THỬ RUNG Một dòng điện xoay chiều lớn có thể dừng rung thất lại vì đưa tất cả cơ tâm thất về giai đoạn trơ.Chiến công này có được nhờ việc dòng điện xoay chiều cường độ lớn đi qua cả 2 phía của tim.Dòng điện này đi qua hầu hết cơ tim cùng lúc,kết quả là kích thích tất cả cơ tim cùng lúc và đưa chúng
về giai đoạn trơ cùng lúc.Và sau 3-5s ngừng đập tim bát đầu đập trở lại và thông thường theo nhịp nút xoang hoặc phaafn khác trở thành điểm phát nhịp Tuy nhiên, nếu nếu điểm tái nhận xung- điểm mà là nguồn gốc của cơn rung thất vẫn còn thì rung thất có thể tái phát ngay lập tức Khi dòng điện đi qua hai phía của tim, rung thường kết thúc khi dùng dòng diện 1000volt trong một vài phần nghìn giây.Do phải đi qua thành ngực, như trong hình 13-18, máy được nạp lượng điện lớn đến vài nghìn volt và sau đó trở thành tụ điện để phóng điện trong vài phần nghìn giây thông qua thành ngực và đến tim Trong hầu hết trường hợp, dòng điện khử rung được đưa đến tim dưới dạng sóng hai pha.Dạng dẫn truyền này về căn bản giảm