1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

chương 9: cơ tim, trái tim như một bơm và chức năng của tim

25 451 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 3,47 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Như vậy thì, cơ tim là một hỗn hợp các tế bào cơ, trong đó nhiều tế bào cơ được nối kết với nhau, khi một tế bào nhận kích thích thì điện thế động có thể lan truyền tới tất cả các tế bào

Trang 1

Unit III Tim

chương 9: cơ tim, trái tim như một bơm và chức năng của tim

Trong chương này, chúng ta thảo luận về tim và hệ thống tuần hoàn trái tim thực

sự là một cái bơm: tim phải bơm máu về phổi và tim trái thì bơm máu tới các cơ quan ở ngoại vi Trong mỗi vòng, mỗi bên tim đập bởi hai buồng bơm là tâm nhĩ

và tâm thất mỗi tâm nhĩ đập yếu hơn tâm thất, giúp bơm máu xuống tâm thất Nhiệm vụ bơm máu của tim chính là ở tâm thất: bơm máu vào tuần hoàn phổi bởi tâm thất phải (1), hay vòng tuần hoàn ngoại vi bởi tâm thất trái(2)

chức năng đặc biệt của tim nguyên nhân là sự liên tục co rút được gọi là nhịp tim

sự dẫn truyền điện thế động xuyên qua các cơ tim để gây ra nhịp tim Hệ thống điều khiển nhịp tim sẽ được giải thích ở chương 10 Trong chương 9 này, chúng tôi

sẽ giải thích hoạt động của tim như một cái bơm, bắt đầu với những đặc điểm đặc biệt của chính nó

A Sinh lý của cơ tim

tim được hình thành từ ba loại cơ chính: cơ tâm nhĩ, cơ tâm thất và các sợi cơ làm nhiệm vụ dẫn truyền và kích thích đặc biệt

các cơ tim của nhĩ và thất co rút giống như cơ vân(cơ xương), ngoại trừ trong suốt quá trình co cơ thì dài hơn Các sợi cơ đặc biệt làm nhiệm vụ dẫn truyền và kích thích, tuy chỉ co rút nhẹ vì chỉ chứa một vài sợi cơ nhỏ; nó phóng ra dòng điện dẫn truyền tạo nhịp tim bằng điện thế động hay sự dẫn truyền điện thế động xuyên qua tim, nó cung cấp hệ thống kích thích để điều khiển nhịp của tim

- giải phẫu sinh lý cơ tim:

các sợi cơ tim được sắp xếp thành một hàng rào lưới, các sợi cơ được phân chia và trải rộng nhiều lần trở lại Hình dạng bên ngoài nhìn gần giống như những sợi cơ vân Hơn nữa, là cơ tim lại có sự tạo thành các vân nhờ các sợi myosin và actin như ở cơ vân Các vi sợi này nằm gần nhau và trượt lên nhau trong suốt quá trình

co cơ như là ở cơ vân Nhưng cơ tim lại khác cơ vân ở những điểm sau:

+ Cơ vân như là một hỗn hợp tế bào:

những vùng tối xen giữa những sợi cơ được gọi là các đĩa xen giữa; chúng là

Trang 2

màng tế bào và tách rời hoàn toàn với tế bào cơ tim khác Điều đó có nghĩa là các sợi cơ tim được tạo từ các tế bào cơ riêng biệt liên kết với nhau thành chuỗi và song song với những chuỗi khác

Với mỗi đĩa xen giữa như vậy, nơi màng tế bào gặp nhau giữa 2 tế bào cơ chúng có chức năng giao tiếp, chúng tồn tại những lỗ trống cho phép những ion có thể khuếch tán nhanh chóng qua lại các tế bào chính vì vậy mà các ion nội bào có thể dễ dàng di chuyển theo chiều dài của các sợi cơ, vì vậy điện thê động có thể lan truyền dễ dàng từ một tế bào cơ tim qua các đĩa xen giữa đến các tế bào cơ tim khác Như vậy thì, cơ tim là một hỗn hợp các tế bào cơ, trong đó nhiều tế bào cơ được nối kết với nhau, khi một tế bào nhận kích thích thì điện thế động có thể lan truyền tới tất cả các tế bào khác, từ tế bào đến tế bào vượt qua các hàng rào kết nối

Tim được tạo thành từ hai hỗn hợp tế bào riêng biệt: một là ở nhĩ tạo nên vách của tâm nhĩ, một là của thất tạo nên vách của tâm thất Và chúng được ngăn cách bởi vách gian nhĩ thất nơi có van nhĩ thất, và vách gian nhĩ thất này là một mô

xơ ngăn cản hai hỗn hợp tế bào cơ riêng biệt Đơn giản là điện thế không thể

truyền từ hỗn hợp cơ nhĩ xuống hỗn hợp cơ thất một cách trực tiếp qua mô xơ này Thây vào đó, chúng dẫn truyền tín hiệu điện bằng một hệ thống dẫn đặc biệt gọi là

bó nhĩ thất, sẽ bàn ở chương 10

+ Điện thế động trong cơ tim

Điện thế trong nội bào từ mức âm khoảng -85mV, giữa 2 lần đập và dần tiếng lên mức dương hơn, khoảng +20mV trong suốt quá trình đập Sau khi đồ thị

ở đỉnh nhọn, xảy ra một quá trình mà đồ thị đi ở mức ngang bằng(pha bình

nguyên) và kết thúc pha này là sự tái phân cực trở lại Chính sự xuất hiện pha bình nguyên trong điện thế động gây ra sự co cơ ở tâm thất chậm hơn 15 lần ở cơ vân

Trang 3

Nguyên nhân nào làm kéo dài điện thế động và pha bình nguyên?

ở phần này chúng ta bàn việc tại sao lại có pha bình nguyên(đợn bằng của đồ thị) Và tại sao ở cơ vân lại không có điều này Một phần đã giải thích trong phần hóa sinh ở chương 5 nhưng chúng tôi sẽ tổng kết lại ở phần này

Có hai sự khác biệt chính giữa điện thế kéo dài ở cơ tim và cơ vân

++ Thứ nhất, điện thế động ở cơ vân được gây ra bởi bởi sự mở nhiều kênh Na+ cho phép số lượng lớn ion na+ vào tế bào cơ vân từ ngoại bào Những kênh này được gọi là kênh đáp ứng nhanh vì chúng chỉ mở trong một vài phần nghìn giây trước khi chúng đột ngột đóng lại Và kết thúc, sự tái phân cực xuất hiện và điện thế động chỉ trong vài phần nghìn giây như vậy Ở cơ tim, điện thế động được gây ra bởi hai loại kênh: (1) một vài kênh Na đáp ứng nhanh giống trong cơ vân, và(2) hoàn toàn phụ thuộc nhiều vào các kênh Ca2+ đáp ứng chậm, kênh này mở trong vài phần mười của giây Trong suốt quá trình co cơ tim, số lượng lớn của hai loại ion Ca Na đi ồ ạt vào bên trong nội bào nhờ đi qua các kênh, và điều này duy trì thời kỳ khử cực kéo dài (pha bình nguyên) hơn thế nữa, ion Ca vào trong nội bào trong suốt quá trình bình nguyên hoạt hóa tiến trình co rút của cơ, trong khi ion

Ca gây ra co cơ ở cơ vân là Ca ở mạng lưới nội bào phóng thích

Trang 4

++ Sự khác biệt thứ hai: gần như ngay lập tức sau khi bắt đầu điện thế động, màng tế bào cơ tim cho phép giảm tính thấm với K+ khoảng 5 lần, và ảnh hưởng này thì không xuất hiện ở cơ vân Sự giảm tính thấm với K+ có lẽ là kết quả của sự vượt quá Ca đi vào qua kênh Ca Bỏ qua nguyên nhân này thì việc giảm tính thấm với K+ càng giảm sự thoát ra ngoài của điện tích dương, giữ cho pha bình nguyên

và tránh việc trở lại sớm của điện thế động dương về lại điện thế nghĩ Khi kênh Ca đáp ứng chậm đóng lại và kết thúc khoảng 0.2-0.3 giây và việc tràn vào của ion Na

và Ca giảm xuống, tính thấm của màng tế bào với ion K tăng lên nhanh chóng, việc mất ion K nhanh chóng ra khỏi tế bào làm cho điện thế màng nhanh chóng quay trở lại điện thế nghĩ(resting level), và kết thúc điện thế động

Tốc độ dẫn truyền tín hiệu của cơ tim

Tốc độ của sự dẫn truyền kích thích điện thế động nhận tín hiệu suốt chiều dài của hai sợi cơ tâm nhĩ và tâm thất khoảng 0.3-0.5m/giây, khoảng 1/250 tốc độ của sợi thần kinh lớn và bằng khoảng 1/10 tốc độ của cơ vân Trong khi đó tốc độ của các tế bào cơ đặc biệt trong mạng pukinje là khoảng 4m/s trong hầu hết các phần của cả hệ thống mạng, nó cho phép dẫn truyền nhanh các tín hiệu tới các phần khác của tim, sẽ được nhắc đến ở chương 10

Thời kỳ trơ của cơ tim

Cơ tim cũng giống như mọi mô dễ kích thích khác, nó cũng có một thời kỳ trơ với mọi sự kích thích Vì vậy, thời kỳ trơ của tim là khoảng thời gian, mà ở đó xung lực tim không thể kích thích trở lại những vùng đã kích thích rồi Thông thường, thời kỳ này ở tâm thất là khoảng 0.25-0.3giây, tương ứng với xung quanh quá trình bình nguyên của điện thế động thời kỳ trơ của tâm nhĩ thì ngắn hơn 0.15giây Có một đoạn khoảng 0.05 giây phần sau của giai đoạn trơ, nó có thể bị kích thích bởi tín hiệu mạnh, và đáp trả lại là sự co cơ ngắn trong 1 giây

Trang 5

sự kích thích co cơ hỗn hợp- chức năng của ion Ca và các ống ngang.

Giới hạn của kích thích co cơ hỗn hợp được quy cho cơ chế bởi điện thế động gây ra hoạt hóa sợi myosin của cơ dẫn đến cơ Điều này được nói đến ở chương 7 Một lần nữa, có sự khác biệt trong cơ tim có những ảnh hưởng quan trọng bởi các nhân tố của sự sự co cơ tim

Cũng giống như cơ vân, khi điện thế động vượt qua màng cơ tim, điện thế động lan rộng phía trong các sợi cơ tim suốt theo chiều dài sợi ngang T Điện thế động họa động trong các ống T trên màng dọc theo các ống nhỏ Sarcoplasmic để gây ra sự giảm ion Ca ở trong các thịt cơ từ mô lưới Trong một vài phần nghìn giây khác, những ion Ca khuếch tán vào vào trong myofibrils và catalyze hoạt hóa

sự trượt lên nhau của các siêu sợi actin và myosin Gây co cơ

Như vậy, cơ chế kích thích co cơ hỗn hợp của cơ tim giống với cơ vân, nhưng ảnh hưởng thứ hai lại hoàn toàn khác Thêm vào đó, ion Ca phóng thích vào sarcoplasmic từ nhiều túi đựng của màng lưới của sarcoplasmic, ion Ca cũng

khuếch tán vào sarcoplasmic từ ống T của chúng trong khoảng thời gian của điện thế động, điều đó làm mở các kênh ion Ca phụ thuộc điện thế trong màng của ống

Trang 6

T Ion Ca vào trong tế bào làm hoạt hóa mở kênh ion Ca, một receptor trên màng của mô lưới trong sarcaplasmic, giải phóng ion Ca vào sarcoplasm Ion Ca trong sarcoplasmic tác động tới troponin để bắt đầu sự khởi đầu tạo cầu nối và co cơ giống cơ bản với cơ chế co cơ vân nh đã đề cập ở chương 6

Ngoài ion Ca từ ống T, sức mạnh của sự co cơ tim cũng được giảm bớt một phần đáng kể vì lưới nội chất của cơ tim ít phát triển so với cơ vân và nó không chứa đủ ion Ca cung cấp cho việc co cơ tối đa Tuy nhiên, các ống T của cơ tim có đường kính gấp 5 lần cơ vân, có nghĩa là thể tích hơn 25 lần Vì vậy, các ống T có vai trò quan trọng trong việc gây co cơ khi các ống T xuất hiện điện thế động

Sức mạnh của sự co cơ tim phụ thuộc vào sự tập trung ion Ca ở ngoại bào

Sự thật, tình trạng Ca tự do trong một vài nơi trong tim nhanh chóng dừng nhịp

Trang 7

đập Lý do cho việc này là việc mở các ống T nối trực tiếp màng tế bào cơ tim với ngoại bào xung quanh, cho phép một lượng lớn ngoại bào thấm qua ống T vào trong nội bào Bởi vậy cho nên, số lượng của ion Ca trong hệ thống ống T phụ thuộc vào phạm vi tập trung rộng của Ca ở dịch ngoại bào.

Một sự tương phản, sự co cơ của tế bào cơ vân không bị ảnh hưởng bởi sự thay đổi nồng độ Ca ngoại bào bởi vì sự co cơ của tế bào cơ vân được tạo ra do sự phóng thích Ca nội bào từ trong lòng mạng lưới nội chất

Kết thúc pha bình nguyện của điện thế động, dòng chảy Ca từ ngoài vào sợi

cơ bất ngờ bị ngắt, và Ca trong các thịt cơ(sarcoplasmic) nhanh chóng bơm ngược

ra ngoài sợi cơ vào mạng nội chất và các ống T ngoại bào Sự bơm ngược ion Ca vào mạng nội chất cần có sự hỗ trợ của bơm Ca-ATPase Ca cũng được đưa ra ngoài nhờ kênh Ca-Na trao đổi ion, Na đi vào và Ca đi ra ngoại bào Lượng Na đưa vào qua đường này lại bị kênh Na- K ATPase đưa ra ngoài và mang K vào trong nội bào Kết quả trả lại cận bằng nồng độ K cao trong nội bào, nồng độ Na cao bên ngoài ngoại bào, ngừng lại sự kích thích cho đến khi nhận kích thích mới

Trong quá trình co cơ

Cơ tim bắt đầu co trong một vài miligiây sau khi điện thế động bắt đầu và tiếp diễn cho tới vài miligiây sau điện thế động kết thúc Vì vậy, quá trình co cơ là tác động chính của điện thế động ở cơ tim, bao gồm cả pha bình nguyên kéo dài 0.2 giây ở cơ tâm nhĩ và kkhoảng 0.3 giây ở cơ tâm thất

B Chu trình tim

Sự kiện mà từ lúc bắt đầu một lần đập của tim đến lúc bắt đầu lần tiếp theo gọi là chu trình tim Mỗi chu trình được phát sinh từ sự tự phát xung điện thế động của nút xoang(sinus node), sẽ được giải thích kỹ ở chương 10 Nút xoang được đặt cạnh bên vách trên của tâm nhĩ phải gần lỗ mở của tĩnh mạch chủ trên, và điiẹn thế động được truyền nhanh chóng tới 2 tâm nhĩ và xuống nút nhĩ thất xuống tiếp hai thất Vì sự sắp xếp đặc biệt của hệ thống dẫn nhịp từ nhĩ xuống thất, có một

khoảng thời gian chậm hơn 0.1 giây trogn suốt quá trình xung lực đi từ nhĩ xuống thất điều này cho phép tâm nhĩ co cơ trước thất, bằng cách đó mà máu xuống thất trước khi quá trình co cơ mạnh của thất tống máu đi Vi vậy, nhĩ hoạt động như là bơm kích hoạtcho thất, và thất là nguòn sức mạnh chủ yếu cấp máu cho hệ mạch

Trang 8

- Tâm thu và tâm trương

chu trình của tim bao gồm thời kỳ nghĩ gọi là tâm trương, cơ nghĩ, trong suốt quá trình này tim được nhồi đầy máu, sau đó là thời kỳ tâm thu, cơ co tống máu đi

tổng quá trình của chu trình tim bao gồm tâm thu và tâm trương là một số hằng định nhịp tim có tốc độ khoảng 72nhịp/ phút, chu trình tim khoảng 0.833 giây một nhịp

+ Ảnh hưởng của tốc độ tim với chi trình tim

Khi tốc độ tim được tăng lên, chu trình tim sẽ giảm, bao gồm cả co và giãn cơ Quá trình điện thế động và kỳ co cơ sẽ giảm, nhưng không theo một tỷ lệ phần trăm hoàn hảo cũng giống như tâm trương lúc nhịp tim bình thường 72 nhịp.phút, tâm thu khoảng 0.4 giây trong chu trình tim nhịp tim cao gấp 3 lần lúc bình thường, tâm thu khoảng 0.65 của chu trình tim Điều này có nghĩ là, nhịp tim tang nhanh không có đủ thời gian cho việc nghĩ làm đầy các buồng tim trước khi đến kì co cơ

Trang 9

tiếp sau.

mối quan hệ giữa điện tim(Electrocardiogram-ECG) và chu trình tim

ECG cho các dạng sóng P, QRS và T, là những điện áp mà tim phát ra và được ghi lại bởi biểu đồ điện tim từ bề mặt cơ thể

Sóng P được gây ra bởi lan rộng sự khử cực xuyên qua tâm nhĩ, và điều này dẫn đến co cơ tâm nhĩ, nó gây ra nét mảnh đi lên của áp suất nhĩ và cong xuống ngay lập tức sau sóng P

Khoảng 0.16 giây sau sóng P, sóng QRS xuất hiện như là kết quả của sự khử cực điện thế ở tâm thất, điều này kích thích gây co cơ ở thất và gây ra áp suất tăng lên nhanh trong thất, được biểu diễn ở biểu đồ Vì vậy, hôn hợp sóng QRS bắt đầu cho

kỳ tâm thất thu

Cuối cùng, một sóng T trên ECG Biểu trưng cho sự tái phân cực trở lại của thất khi cơ thất bắt đầu giãn Vì vậy, sóng T xảy ra hơi trước khi kết thúc kì tâm thất co cơ

Chức năng của tâm nhĩ như là một cái bơm kích hoạt

Bình thường dòng máu chảy liên tục từ tĩnh mạch chủ vào tâm nhĩ, khoảng 80% lượng máu chảy trực tiếp xuống thất trước khi nhĩ thu khi nhĩ thu đẩy thêm 20% máu còn lại vào thất Vì vậy, chức năng đơn giản của nhĩ như là một cái bơm kích hoạt và làm tăng hiệu quả bơm của thất thêm 20% Tuy nhiên, tim có thể tiếp tục hoạt động mà không cần 20% ảnh hưởng phụ này vì bình thường cơ tim ở thất có thể bơm 300-400% hơn lượn máu cần thiết cho cơ thể lúc nghĩ ngơi Tuy vậy, khi nhĩ bị hỏng , không hoạt động, sự khác biệt không được tìm thấy trừ phi cơ thể vận động; sau đó các dấu hiệu suy tim phát triển, đặc biệt thở dốc

Huyết áp thay đổi ở tâm nhĩ (sóng a-c-v )

Đường cong áp suất tâm nhĩ, có 3 sự nâng lên áp suất thứ yếu, được gọi là sóng áp lực tâmnhĩ a-c-v được ghi nhận

Sóng a được gây ra bởi co cơ tâm nhĩ Nói chung, áp lực nhĩ phải tăng 6mmHg trong quá trình nhĩ co cơ, và áp lực nhĩ trái tăng khoảng 7-8mmHg

4-Sóng c xuất hiện khi tâm thất bắt đầu co cơ, nó gây ra bởi từng phần nhỏ

Trang 10

những dòng máu máu đi ngược về nhĩ khi thất co nhưng phần lớn là sự phồng lên của van nhĩ thất giật lùi hướng về nhĩ do sự tăng áp suất ở thất.

Sóng v xuất hiện khi kết thúc sự co cơ tâm thất, là kết quả từng dòng máu chậm chảy từ tĩnh mạch về nhĩtrong khi van nhĩ thất đóng suốt quá trình thất co Khi thất ngừng co, van nhĩ thất mở, cho phép máu dự trữ ở nhĩ chảy nhanh xuống thất và làm cho sóng v ngừng xuất hiện

Chức năng của thất như một bơm

- Làm đầy tâm thất trong suốt kì tâm trương:

Trong suốt quá trình tâm thu, lượng lớn máu tích lũy trong nhĩ trái và phải bởi vì van nhĩ thất đóng Vì vậy, ngay khi tâm thu và áp suất thất giảm trở lại để tâm trương, ở mức độ áp suất tăng vừa được tăng dần trong nhĩ trong suốt kỳ thất thu ngay lập tức đẩy van nhĩ thát mở và cho phép máu chảy nhanh xuống thất, được ghi lại trong hình trên Chúng được gọi là giai đoạn làm đầy thất Giai đoạn làm đầy nhanh chiếm khoảng 1/3 thời tâm trương Trong suốt 2/3 giữa của tâm trương, chỉ một lượng nhỏ dòng máu từ nhỉ đổ trực tiếp về thất Trong suốt 1/3 cuối tâm trương nhĩ co và đẩy mạnh thêm khoảng 20% còn lại xuống thất

- Đẩy hết máu ở thất thì tâm thu:

Giai đoạn co đồng thể tích: ngay sau khi thất bắt đầu co, áp suất thất tăng lên đột ngột, như hình trên thì van nhĩ thất đóng Đòi hỏi khoảng 0.02-0.03 giây để chuẩn bị đủ áp suất cao hơn áp suất trong hai động mạch để mở hai van động mạch tống máu đi( động mạch chủ và động mạch phổi) Vì vậy, trong suốt thời kỳ này, co cơ xảy ra ở thất nhưng không tống máu đi hết Điều này được gọi là co cơ đồng thể tích(isovolumic hay isometric contraction), có nghĩa là có sự căng cơ nhưng nhỏ và không co ngắn sợi cơ

Kỳ tống máu: khi áp suất thất trái tăng lên 80mmHg,(và thất phải khoảng 8mmHg) áp suất thất làm mở van động mạch Ngay lập tức máu được tống vào động mạch, khoảng 70% ở giai đoạn 1/3 đầu, và 30% còn lại ở giai đoạn sau Vì vậy, 1/3 đầu

gọi là kỳ tống máu nhanh(period of rapid ejection), và 2/3 còn lại là kì tống máu chậm(the period of slow ejection).

Kỳ giãn đồng thể tích: khi kỳ tâm thu kết thúc, tâm thất bắt đầu bất ngờ giãn, cho

Trang 11

phép áp suất cả hai thất cùng giảm nhanh Áp suất tăng lên trong sự căng phồng của động mạch đã được làm đầy ở thì thất thu bất ngờ đẩy ngược trở lại thất, làm đóng van động mạch Khoảng 0.03-0.06 giây, cơ thất giãn, mặc dù thể tích không thay đổi, cho thời kỳ giãn đồng thể tích Trong suốt kỳ, áp suất trong thất giảm nhanh trước khi tới tâm trương Rồi thì van nhĩ thất mở để bắt đầu một chu chuyển tim mới.

Thể tích cuối tâm trương, thể tích cuối tâm thu và cung lượng tim(stroke volume output): Suốt kỳ tâm trương, việc làm đầy tâm thất bình thường tăng thể tích của mỗi thất lên 110-120ml(thể tíh này gọi là thể tích cuối tâm trương) Khi thất bơm hết máu vào động mạch trong suốt tâm thu, thể tích giảm khoảng 70ml,thể tích này được gọi là cung lượng tim Thể tích còn lại trong mỗi tâm thất, khoảng 40-50ml, được gọi là thể tích cuối tâm thu Phân số của thể tích của cung lượng tim và thể tích cuối tâm trương được gọi là phân số tống máu, thường khoảng 60%

Khi tâm co mạnh, thể tích cuối tâm thu có thể giảm xuống ít hơn 10-20ml Ngược lại, khi dòng máu chảy xuống thất trong suốt tâm trương, thể tích cuối tâm trương ở thất có thể cao hơn 150-180ml đối với tim khỏe Bởi việc tăng thể tích cuối tâm trương và giảm thể tích cuối tâm thu, cung lượng tim có thể tăng lên hơn 2 lần

Chức năng của các van

Van nhĩ thất:

Hình bên:

Van nhĩ thất(2 lá và 3 lá) ngăn dòng máu chảy

ngược lại từ thất tới nhĩ trong kỳ tâm thu và van

tổ chim ngăn dong máu chảy từ động mạch chủ

và động mạch phổi xuống thất trong kỳ tâm trương

Chức năng cơ nhú(Papillary Muscles): gắng vào van nhĩ thất bởi các dây

chằn(chordae tendineae) Cơ nhú co khi thành thất co, nhưng trái ngược với những

gì được chờ đợi, nó không giúp van đóng Ngược lại, nó lại giật cánh van trở lại tránh việc lật ngược lá van qua bên nhĩ trong suốt quá trình co của thất Nếu một trong những cơ nhú trở nên tê liệt, lỏng lẽo van sẽ bị đẩy xa về phía nhĩ khi thất co, hậu quả nghiêm trọng là tạo nên lỗ thông nhĩ và thất và làm mất khả năng của tim

Trang 12

Van động mạch chủ và phổi: là hai van có chức năng tương tự nhau và khác với van nhĩ thất Đầu tiên, áp suất động mạch cao khi cuối tâm thu gây đóng van,

nghịch lại với van nhĩ thất Thứ hai, vì mở nhỏ hơn, tốc độ máu đi vào động mạch cao hơn so với nhĩ và thất Cũng, vì đóng nhanh và tống ra nhanh, cạnh bên độc lập với cọ sát cơ học so với van nhĩ thất Cuối cùng, van nhĩ thất được giữ bởi dây chằng, van tổ chim thì lại không Với cấu tạo về mặt giải phẫu của van động mạch, chúng được xây dựng để có sức mạnh đặc biệt với mô cơ mềm dẻo để chống lại với áp lực mạnh

Đường cong áp suất động mạch: khi thất trái co, áp suất thất trái tăng lên nhanh chóng mãi cho đến khi van động mạch mở Sau khi mở, áp suất thất giảm xuống nhanh chóng, sự đi vào của dòng máu làm cho thành mạch căng ra, áp suất tăng khoảng 120mmHg Sau đó, kết thúc tam thu, sau khi thất trái ngừng tống máu và van động mạch đóng, thành động mạch có tính đàn hồi duy trì áp suất cai trong động mạch trong suốt kỳ tâm trương

Mối quan hệ giữa tiếng tim và nhịp bơm của tim.

Khi hai van nhĩ thất đóng sẽ nghe được tiếng tim thứ nhất

Khi van động mạch đóng gây ra tiếng tim thứ hai

Ngày đăng: 25/04/2017, 05:18

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w