Trong điều kiện đó, việc quản lí tổ chức hoạt động dạy nghề và HN cho học sinh phổ thông một cách khoa học nhằm trang bị những kiến thức tối thiểu về các ngành nghề để chuẩn bị cho các e
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
TRẦN VĂN TIẾN
QUẢN LÝ GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP ĐÁP ỨNG YÊU CẦU PHÂN LUỒNG TẠI TRUNG TÂM GDTX VÀ DẠY NGHỀ HUYỆN TAM DƯƠNG,
TỈNH VĨNH PHÚC
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
HÀ NỘI, 2016
Footer Page 1 of 145.
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
TRẦN VĂN TIẾN
QUẢN LÝ GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP ĐÁP ỨNG YÊU CẦU PHÂN LUỒNG TẠI TRUNG TÂM GDTX VÀ DẠY NGHỀ HUYỆN TAM DƯƠNG,
TỈNH VĨNH PHÚC
Chuyên ngành: Quản lý giáo dục
Mã số: 60 14 01 14
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Lê Huy Hoàng
HÀ NỘI, 2016
Footer Page 2 of 145.
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành đến:
Các giảng viên của trường Đại học sư phạm Hà Nội 2, đặc biệt là các giảng viên chuyên ngành Quản lý Giáo dục của nhà trường đã tận tình giảng dạy, giúp đỡ và chỉ dẫn tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
Xin cảm ơn Phó giáo sư, Tiến sĩ Lê Huy Hoàng, người đã trực tiếp hướng dẫn tôi thực hiện luận văn
Cảm ơn các đồng chí trong Ban Giám đốc, Phòng Kế hoạch Tài chính, Phòng Tổng hợp Hành chính, Phòng GDTX - Giáo dục chuyên nghiệp và các phòng ban khác của Sở Giáo dục và Đào tạo Vĩnh Phúc, phòng GD&ĐT huyện Tam Dương, lãnh đạo và giáo viên các trường THPT, THCS huyện Tam Dương, các đồng nghiệp, đã tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp đỡ tôi hoàn thành bản luận văn này
Mặc dù đã hết sức cố gắng nhưng luận văn chắc chắn không thể tránh khỏi có thiếu sót Tôi rất mong nhận được sự góp ý, chỉ dẫn của các Thầy giáo,
Cô giáo, các bạn đồng nghiệp và tất cả những ai quan tâm tới luận văn này
Footer Page 3 of 145.
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào Mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc rõ ràng và được phép công bố
Hà Nội, ngày 18 tháng 11 năm 2016
Học viên thực hiện
Trần Văn Tiến
Footer Page 4 of 145.
Trang 5MỤC LỤC LỜI CẢM ƠN
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
CÁC KÍ HIỆU VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
DANH MỤC CÁC BIỂU BẢNG
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 3
3 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
5 Phương pháp nghiên cứu 4
6 Đóng góp của đề tài 4
7 Cấu trúc của luận văn 5
Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA QUẢN LÝ GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP 6
1.1.Tổng quan về lịch sử nghiên cứu vấn đề 6
1.1.1 Sơ lược tình hình nghiên cứu ở nước ngoài 6
1.1.2 Sơ lược về tình hình nghiên cứu ở trong nước 7
1.2 Một số khái niệm cơ bản 11
1.2.1 Hướng nghiệp 11
1.2.2 Giáo dục hướng nghiệp 11
1.2.3 Quản lý 12
1.2.4 Quản lý GDHN 13
1.2.5 Trung tâm GDTX&DN 14
1.3 GDHN tại trung tâm GDTX&DN 15
1.3.1 Mục đích của GDHN 15
Footer Page 5 of 145.
Trang 61.3.2 Nội dung của giáo dục HN 17
1.3.3 Hình thức tổ chức giáo dục HN 19
1.4 Quản lý GDHN tại trung tâm GDTX&DN 21
1.4.1 Lập kế hoạch giáo dục HN 21
1.4.2 Tổ chức, chỉ đạo thực hiện kế hoạch GDHN 22
1.4.3 Kiểm tra, đánh giá kết quả GDHN 24
1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến nâng cao chất lượng GDHN tại các trung tâm GDTX&DN………
24 1.5.1 Quan điểm của Đảng và Nhà nước về Giáo dục hướng nghiệp và phân luồng học sinh 24
1.5.2 Yêu cầu của hướng nghiệp trong mục tiêu chiến lược phát triển giáo dục (2010 - 2020) và những giai đoạn tiếp theo 26
1.5.3 Trung tâm GDTX&DN thực hiện nhiệm vụ HN - Mô hình quá độ của Vĩnh Phúc khi tiến hành PCGD bậc trung học 28
Kết luận chương 1 30
Chương 2: THỰC TRẠNG GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP ĐÁP ỨNG YÊU CẤU PHÂN LUỒNG Ở TRUNG TÂM GDTX&DN HUYỆN TAM DƯƠNG, TỈNH VĨNH PHÚC 31
2.1 Giới thiệu khái quát về huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc và trung tâm GDTX&DN Tam Dương 31
2.1.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc 31
2.1.2 Trung tâm GDTX&DN Tam Dương 34
2.2 Thực trạng giáo dục hướng nghiệp ở Trung tâm GDTX&DN Tam Dương 38
2.2.1 Thực trạng phân luồng học sinh tốt nghiệp các cấp trên địa bàn trong 5 năm qua (2010 - 2015) 38
Footer Page 6 of 145.
Trang 72.2.2 Thực trạng GDHN tại trung tâm GDTX&DN Tam Dương 43
2.3 Thực trạng quản lý GDHN tại Trung tâm GDTX&DN Tam Dương 49 2.3.1 Nhận thức của các đối tượng tham gia GDHN 49
2.3.2 Thực trạng lên kế hoạch GDHN 55
2.3.3 Thực trạng tổ chức, chỉ đạo 59
2.3.4 Thực trạng kiểm tra đánh giá kết quả 59
2.4 Đánh giá chung về thực trạng 61
2.4.1 Thành công 61
2.4.2 Hạn chế 61
2.4.3 Nguyên nhân 61
Kết luận chương 2 63
Chương 3: MỘT SỐ BIỆN PHÁP QUẢN LÍ GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP ĐÁP ỨNG YÊU CẦU PHÂN LUỒNG TẠI TRUNG TÂM GDTX&DN HUYỆN TAM DƯƠNG 64
3.1 Nguyên tắc đề xuất các biện pháp 64
3.1.1 Nguyên tắc đảm bảo tính mục tiêu 64
3.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính khoa học 64
3.1.3 Nguyên tắc đảm bảo tính hiệu quả 65
3.1.4 Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi 65
3.2 Một số biện pháp quản lý giáo dục hướng nghiệp đáp ứng yêu cầu phân luồng tại Trung tâm GDTX&DN Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc 66
3.2.1 Nâng cao nhận thức của các đối tượng có liên quan 66
3.2.2 Bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ làm giáo dục hướng nghiệp 72
3.2.3 Đổi mới nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức hoạt động giáo dục hướng nghiệp 78
3.2.4 Tăng cường quản lý cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ cho GDHN…….85
Footer Page 7 of 145.
Trang 83.2.5 Tổ chức tư vấn hướng nghiệp cho học sinh 89
3.3 Thăm dò tính cần thiết và khả thi của các biện pháp được đề xuất 95
3.3.1 Nội dung và đối tượng khảo nghiệm 95
3.3.2 Kết quả khảo nghiệm 96
Kết luận chương 3 99
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 100
1 Kết luận 100
2 Kiến nghị 101
TÀI LIỆU THAM KHẢO 104
Footer Page 8 of 145.
Trang 9CÁC KÍ HIỆU VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
Trang 10DANH MỤC CÁC BIỂU BẢNG
Bảng 2.1 Qui mô đào tạo, bồi dưỡng giai đoạn 2010 - 2015 37
Bảng 2.2 Thống kê học sinh tốt nghiệp THCS vào THPT 38
Bảng 2.3 Thống kê học sinh tốt nghiệp THCS vào học tại trung tâm GDTX&DN huyện Tam Dương giai đoạn 2010 - 2015 40
Bảng 2.4 Thống kê học sinh tốt nghiệp THPT huyện Tam Dương vào Cao đẳng, Đại học giai đoạn 2010 - 2015 41
Bảng 2.5.Thống kê số học sinh huyện Tam Dương tốt nghiệp THCS, THPT đi vào lao động sản xuất giai đoạn 2010 - 2015 42
Bảng 2.6 Kết quả tuyển sinh học hướng nghiệp và nghề phổ thông giai đoạn 2010 – 2015 44
Bảng 2.7 Thống kê số học sinh tuyển sinh học hướng nghiệp trong 5 năm 2010 - 2015 45
Bảng 2.8 Tổng hợp kế hoạch tuyển sinh giai đoạn 2010 – 2015 45
Bảng 2.9 Thống kê trình độ đội ngũ cán bộ - giáo viên 48
Bảng 2.10 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc chọn nghề của học sinh 50
Bảng 2.11 Kết quả thăm dò ý kiến HS về HN và nghề phổ thông 53
Bảng 2.12 Hiểu biết của PHHS về nghề định chọn cho con em mình 54
Bảng 2.13 Thống kê một số nghề đang có nhu cầu nhân lực của huyện 56 Bảng 3 1 Kế hoạch đào tạo CBQL và GV giai đoạn 2016 – 2020 76
Bảng 3.2 Kế hoạch bồi dưỡng CBQL và GV giai đoạn 2016 – 2020 77
Bảng 3.3 Kết quả khảo nghiệm tính cần thiết của các biện pháp 96
Bảng 3.4 Kết quả khảo nghiệm tính khả thi của các biện pháp 97
Footer Page 10 of 145.
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Cùng những thành công của công cuộc đổi mới, giáo dục Việt Nam đã
có những chuyển biến rất cơ bản Ngay từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII năm 1996 Đảng cộng sản Việt Nam đã xác định chiến lược phát triển
giáo dục và đào tạo trong thời kỳ đổi mới “Cùng với khoa học và công nghệ,
Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước” (Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII Đảng cộng sản
Việt Nam)
Giáo dục phổ thông và giáo dục HN có vai trò quan trọng để chuẩn bị nguồn nhân lực có chất lượng cho xã hội Nghị quyết số 29-NQ/TW của Hội nghị Trung ương 8, khóa XI đã xác định phải đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục, đào tạo, phát triển nguồn nhân lực Giáo dục không chỉ là quốc sách hành đầu, là “chìa khóa” mở ra con đường đưa đất nước tiến lên phía trước, mà còn
là “mệnh lệnh” của cuộc sống Trong văn kiện Đại hội XII lần này, kế thừa quan điểm chỉ đạo của nhiệm kỳ trước, Đảng ta đã đưa ra đường lối đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục, đào tạo, phát triển nguồn nhân lực, xác định đây
là một kế sách, quốc sách hàng đầu, tiêu điểm của sự phát triển, mang tính đột phá, khai mở con đường phát triển nguồn nhân lực Việt Nam trong thế kỷ XXI, khẳng định triết lý nhân sinh mới của nền giáo dục nước nhà “dạy người, dạy chữ, dạy nghề”
Trong thời kỳ đổi mới của đất nước, Tam Dương là một trong những huyện đạt được sự tăng trưởng kinh tế quan trọng của Vĩnh Phúc, có nhiều khu công nghiệp, cụm công nghiệp Tình hình đó đòi hỏi phải có kế hoạch đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng tốt sự phát triển đa dạng của nền kinh tế
Footer Page 11 of 145.
Trang 12trong thời kỳ đổi mới, để xây dựng tỉnh Vĩnh Phúc nói chung và huyện Tam Dương nói riêng
Hàng năm, Tam Dương có khoảng hơn 20000 học sinh tốt nghiệp THCS
và THPT, trong đó có khoảng 70% số học sinh tốt nghiệp THCS được học lên THPT, 30% học sinh vào học các trung tâm GDTX&DN hoặc các trường Cao đẳng trên địa bàn tỉnh, khoảng 70% học sinh tốt nghiệp THPT vào học ở các trường dạy nghề, Cao đẳng và Đại học, số còn lại đi lao động phổ thông tại các nhà máy, xí nghiệp và tham gia lao động sản xuất ở địa phương Trong điều kiện đó, việc quản lí tổ chức hoạt động dạy nghề và HN cho học sinh phổ thông một cách khoa học nhằm trang bị những kiến thức tối thiểu về các ngành nghề để chuẩn bị cho các em có định hướng đúng trong việc lựa chọn các nghề phù hợp với sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương và đất nước, đồng thời phù hợp với khả năng, sở trường của mỗi em là một yêu cầu cấp thiết Nếu tổ chức tốt các hoạt động HN cho học sinh, không những góp phần đẩy nhanh sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương và của đất nước
mà còn tránh lãng phí về nguồn lực cho cả xã hội do lựa chọn nhầm nghề Nhiệm vụ quan trọng và nặng nề nói trên được giao cho các Trung tâm GDTX&DN trong đó có trung tâm GDTX&DN Tam Dương
Trong thời gian qua, mặc dù được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và địa phương, nhưng GDHN tại trung tâm GDTX&DN Tam Dương còn nhiều tồn tại như: nhận thức về HN của xã hội chưa đầy đủ, phiến diện; sự quan tâm đầu tư cho HN còn hạn chế; đội ngũ cán bộ quản lí trung tâm GDTX&DN còn thiếu kinh nghiệm, năng lực quản lý HN còn yếu Vì thế HN của trung tâm GDTX&DN Tam Dương còn chưa đạt được chất lượng và hiệu quả như yêu cầu
Footer Page 12 of 145.
Trang 13Từ những lý do nói trên, tôi chọn nghiên cứu đề tài: "Quản lý giáo dục
hướng nghiệp đáp ứng yêu cầu phân luồng tại Trung tâm Giáo dục thường xuyên và Dạy nghề huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc”
2 Mục đích nghiên cứu
- Nghiên cứu một số biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng giáo dục hướng nghiệp dạy nghề cho học sinh tại Trung tâm GDTX&DN huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc
- Phân tích những tồn tại dẫn đến quản lý giáo dục hướng nghiệp gặp nhiều khó khăn, các nguyên nhân chủ quan và khách quan từ đó đề xuất một
số biện pháp quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp ở trung tâm GDTX&DN cấp huyện
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Xác định cơ sở khoa học và thực tiễn của quản lý giáo dục hướng nghiệp
- Đánh giá thực trạng của quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp ở trung tâm GDTX và Dạy nghề tại huyện Tam Dương, Vĩnh Phúc
- Đề xuất và lý giải một số biện pháp quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp ở trung tâm GDTX và Dạy nghề tại huyện Tam Dương trong giai đoạn hiện nay
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu: Biện pháp quản lí GDHN ở trung tâm
GDTX và Dạy nghề huyện Tam Dương nhằm nâng cao tư vấn hướng nghiệp cho học sinh, học viên tại trung tâm
4.2 Phạm vi nghiên cứu: Những biện pháp quản lí GDHN ở trung tâm
GDTX và Dạy nghề huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc
Footer Page 13 of 145.
Trang 144.3 Giới hạn nghiên cứu:
- Giới hạn địa bàn nghiên cứu: Tập trung nghiên cứu các Biện pháp QL GDHN ở trung tâm GDTX và Dạy nghề huyện Tam Dương
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Nghiên cứu thực tiễn
- Trao đổi, trắc nghiệm đối với giáo viên và học sinh để tìm hiểu tâm tư nguyện vọng và ước mơ của các em, sự hiểu biết về nghề nghiệp…
- Kết qủa thực hiện kế hoạch triển khai hoạt động giáo dục hướng nghiệp của trung tâm GDTX và Dạy nghề tại huyện Tam Dương
5.2 Nghiên cứu lý luận
- Nghiên cứu các văn kiện, nghị quyết, chỉ thị của Đảng các cấp về giáo dục và đào tạo
- Nghiên cứu sách giáo khoa “HĐGDHN” lớp 10, 11 nhà xuất bản giáo dục năm 2004
- Nghiên cứu văn bản hướng dẫn thực hiện hướng nghiệp trong nhà trường
- Nghiên cứu giáo trình, tạp chí của Học viện quản lý Giáo dục
6 Đóng góp của đề tài
Áp dụng đồng bộ những biện pháp quản lý GDHN ở trung tâm GDTX
và Dạy nghề huyện Tam Dương sẽ đạt những hiệu quả nhất định, đáp ứng mục tiêu giáo dục ở trung tâm, góp phần tạo nguồn đào tạo theo hướng tạo nguồn lao động chất lượng cho địa phương và cho cả nước
Về mặt thực tiễn, kết quả nghiên cứu sẽ giúp cho những người làm giáo dục HN thấy được thực trạng biện pháp quản lý của này để từ đó đưa ra các biện pháp, chủ trương phù hợp; đồng thời kết quả nghiên cứu cũng có thể sử
Footer Page 14 of 145.
Trang 15dụng làm tư liệu phục vụ bồi dưỡng chuyên đề “Quản lý hoạt động lao động,
HN, dạy nghề ở trung tâm GDTX&DN và trường THPT” cho cán bộ quản lý
và giáo viên trung tâm GDTX&DN, trường THPT của huyện Tam Dương
7 Cấu trúc của luận văn
Ngoài các phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, danh mục tài liệu tham khảo và các phụ lục, nội dung luận văn được trình bày trong 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận của Quản lý giáo dục hướng nghiệp Chương 2: Thực trạng giáo dục hướng nghiệp đáp ứng yêu cầu phân
luồng ở trung tâm GDTX&DN huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc
Chương 3: Một số biện pháp quản lí giáo dục hướng nghiệp đáp ứng yêu cầu phân luồng tại trung tâm GDTX&DN huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc
Footer Page 15 of 145.
Trang 16Chương 1:
CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA QUẢN LÝ GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP 1.1.Tổng quan nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Sơ lược tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
Từ những năm 40 của thế kỷ XX, cùng với sự phát triển của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật, do sự phát triển đa dạng của nghề nghiệp nên đã có nhiều tác giả có nhiều công trình nghiên cứu về hướng nghiệp Năm 1949,
xuất hiện cuốn sách “Hướng nghiệp chọn nghề” với nội dung đề cập tới vấn
đề phát triển đa dạng của nghề nghiệp do sự phát triển công nghiệp Khi ấy, người ta nhận thấy rằng, hệ thống nghề nghiệp đã phức tạp, sự chuyên môn hoá vượt lên hẳn so với giai đoạn phát triển công nghiệp và thủ công nghiệp Trên cơ sở đó, cuốn sách đã khẳng định tính cấp thiết phải giúp đỡ thanh thiếu
niên, học sinh đi vào “Thế giới nghề nghiệp” nhằm sử dụng có hiệu quả lực
lượng lao động trẻ
Rất nhiều nước công nghiệp phát triển và đang phát triển đều chú ý đến việc hình thành những kỹ năng cơ bản của những ngành nghề cần thiết cho học sinh bậc phổ thông Ở Nhật Bản, Magumi Nishino ở Viện Nghiên cứu giáo dục đã quan tâm tới vấn đề bồi dưỡng tri thức và những kĩ năng cơ bản của những ngành nghề cần thiết cho học sinh phổ thông Theo tác giả, học
sinh trung học phổ thông phải được: “Bồi dưỡng tri thức và kĩ năng cơ bản
của những ngành nghề cần thiết trong xã hội, có thái độ tôn trọng đối với lao động và có khả năng lựa chọn ngành nghề tương lai phù hợp với mỗi cá nhân” Giáo dục Nhật Bản từ lâu đã chú ý vấn đề hoàn thiện nội dung, hình
thức dạy học kĩ thuật nhằm cung cấp tri thức, rèn luyện kĩ năng lao động nghề nghiệp và phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh phổ thông Chính vì vậy, ở Nhật Bản, trong những năm qua, nhiều cuộc cải cách giáo dục đã được tiến
Footer Page 16 of 145.
Trang 17hành với mục đích đảm bảo cho giáo dục phổ thông đáp ứng được các yêu cầu phát triển kinh tế của đất nước
Có nhiều định nghĩa về HN, song có thể lấy khái niệm về HN đưa ra tại Hội nghị những người đứng đầu cơ quan giáo dục nghề nghiệp các nước Xã hội
chủ nghĩa họp tháng 10 năm 1980 tại thủ đô La Habana của Cu Ba: “Hướng
nghiệp là hệ thống những biện pháp dựa trên cơ sở tâm lí học, sinh lí học, y học
và nhiều khoa học khác để giúp đỡ học sinh chọn nghề phù hợp với nhu cầu xã hội, đồng thời thoả mãn tối đa nguyện vọng, thích hợp với những năng lực, sở trường và điều kiện tâm sinh lí cá nhân, nhằm mục đích phân bổ hợp lí và sử dụng có hiệu quả nhất lực lượng lao động dự trữ có sẵn của đất nước”
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu về hoạt động HN ở nước ngoài đều chú ý việc xác định rõ mục tiêu, nội dung, phương pháp, cơ sở vật chất kĩ thuật nhằm nâng cao hiệu quả HN cho học sinh và thanh thiếu niên Tuy nhiên, các công trình khoa học nghiên cứu về HN trước đây trên thế giới chưa
đi sâu tìm kiếm các giải pháp, xây dựng mô hình có hiệu quả, đặc biệt là mô hình quản lí HN trong các trung tâm GDTX&DN
1.1.2 Sơ lược về tình hình nghiên cứu ở trong nước
Năm 2002, tại Hội thảo: “Giáo dục phổ thông và HN - nền tảng để phát
triển nguồn nhân lực đi vào công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước”,
PGS.TS Đặng Danh Ánh trong bài viết: “Cơ sở lí luận của hướng nghiệp và
cấu trúc HN trong trường phổ thông” đã trích một đoạn trong tác phẩm của
Các Mác: “ Khả năng lựa chọn nghề nghiệp là mặt ưu việt của con người
trước những tồn tại khác của thế giới, nhưng đồng thời việc lựa chọn ấy lại là một hành động có thể tiêu diệt cuộc sống của họ, làm tiêu tan mọi dự định của họ và làm cho họ bất hạnh Do vậy, việc lựa chọn này cần phải đắn đo, suy nghĩ, đó là trách nhiệm đầu tiên của thanh niên khi bước vào đời ”[1]
Footer Page 17 of 145.
Trang 18Vào những năm 80 của thế kỉ XX, trong Viện Khoa học giáo dục và Viện Khoa học dạy nghề trước kia đã nghiên cứu về GDHN Những sản phẩm nghiên cứu của họ là cơ sở để ngày 19/3/1981, Thủ tướng Chính phủ đã kí
quyết định số 126/CP về “ HN trong trường phổ thông và sử dụng hợp lí học
sinh tốt nghiệp ra trường” Đây là cơ sở pháp lí đầu tiên của Nhà nước ta về
HN cho học sinh phổ thông Từ khi có nghị quyết 126/CP, GDHN phát triển rất mạnh mẽ ở hầu hết các trường cấp 2, cấp 3: nhiều trường đã có phòng HN, nhiều lớp đã có góc HN, nhiều cá nhân đã có công trình nghiên cứu về HN Đến năm 1990, Trung tâm Lao động - HN đã được thành lập trực thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo nhằm giúp Bộ xây dựng, quản lí và chỉ đạo việc thực hiện chương trình giáo dục lao động và HN cho học sinh phổ thông
Từ Đại hội VIII [17] - 1996, Đại hội IX [18] - 2001 đến Đại hội X [19] -
2006, Đại hội XI – 2011, Trung Ương Đảng luôn nhấn mạnh đến tăng cường
HN Để thực hiện chủ trương của Đảng về HN, ngay từ năm 2002, Bộ
GD-ĐT đã cho xây dựng lại chương trình GDHN và viết sách về giáo dục HN cho học sinh phổ thông từ lớp 9 đến lớp 12 Bộ cũng đã tổ chức các lớp tập huấn cho giáo viên của các trường thí điểm trong toàn quốc để làm HN và đến năm học nay HN đã được triển khai đại trà ở các cấp học
Năm 2002, tại Hà Nội đã tổ chức hội thảo: “Giáo dục phổ thông và
hướng nghiệp - Nền tảng để phát triển nguồn nhân lực đi vào Công nghiệp hoá, Hiện đại hoá đất nước” [20] Có nihều bài viết của các nhà khoa học,
nhà nghiên cứu có kinh nghiệm tham gia hội thảo Các bài viết tham luận thật
sự là những nghiên cứu, tìm tòi, đúc rút, tổng kết có giá trị về lí luận và thực tiễn của giáo dục phổ thông và HN Đồng thời cũng chỉ ra các giải pháp nhằm làm cho GDHN và giáo dục phổ thông phục vụ tốt nhất cho việc chuẩn bị nguồn nhân lực trong thời kì công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc
tế Trong đó có báo cáo của GS.VS Phạm Minh Hạc: “Con người Việt Nam:
Footer Page 18 of 145.
Trang 19truyền thống và hiện đại” đã khẳng định ý nghĩa to lớn của việc nghiên cứu
về con người nói chung và người Việt Nam ta nói riêng sao cho thấy hết được mặt mạnh, mặt yếu của từng con người cụ thể để phát huy tốt nhất những mặt mạnh của họ, hạn chế thấp nhất những mặt yếu của mỗi người, góp phần đóng góp lớn nhất cho sự phát triển chung của xã hội và cộng đồng Trách nhiệm
đó là của HN và của người làm HN
Tham luận của PGS.TS Đặng Danh Ánh - Viện trưởng Viện Đào tạo và
Tư vấn Khoa học công nghệ về “Cơ sở lí luận của hướng nghiệp và cấu trúc
hướng nghiệp trong trường phổ thông” đã trình bày rõ các cơ sở lí luận của
HN Sau khi phân tích mục đích, yêu cầu của HN đã khẳng định: “ Hướng
nghiệp giờ đây có một vị trí, vai trò mới trong việc điều chỉnh động cơ nghề nghiệp của cá nhân gắn với tiến bộ khoa học kĩ thuật, gắn với sự phát triển nền kinh tế thị trường và HN được coi là một bộ phận cấu thành của chương trình Giáo dục - Đào tạo trong hệ thống nhà trường” Tác giả cho rằng khái
niệm: “Giáo dục hướng nghiệp bắt nguồn từ đó mà ra" Ông cũng đã đưa ra
những nội dung của HN với các giai đoạn HN và HN trong trường phổ thông
Ngoài ra, trong hội thảo còn nhiều tham luận của các nhà khoa học
nghiên cứu sâu về HN như bài: “Giáo dục hướng dẫn trong nhà trường phổ
thông trong giai đoạn hiện nay gắn với quá trình đào tạo, phát triển nguồn nhân lực theo yêu cầu của quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động ” của PGS
Nguyễn Sinh Huy Bài “Phát triển con người - Phát triển nguồn nhân lực và
giáo dục” của GS.TS Nguyễn Quang Uẩn Bài “Giáo dục kĩ thuật và HN ở trường phổ thông- Thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng ” của
PGS.TS Nguyễn Viết Sự Bài “Nhà trường phổ thông với giáo dục HN và dạy
nghề cho học sinh” của PGS.TS Cù Nguyên Hanh Bài “Vấn đề học nghề, HN trong gia đình hiện nay” của TS Phạm Khắc Chương Bài “Thực trạng và
Footer Page 19 of 145.
Trang 20kiến nghị ” của TS Hà Thế Truyền Bài “Giáo dục HN ở trường phổ thông chuẩn bị nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá đất nước đi vào thế kỉ XXI ” của TS Lưu Xuân Mới
Phân luồng, hướng nghiệp là 1 trong 9 chương trình hành động của Bộ trưởng Bộ Giáo dục mới với nội dung cụ thể; Tuyên truyền nâng cao nhận thức về giáo dục hướng nghiệp và phân luồng học sinh ở trong và ngoài nhà trường Cung cấp rộng rãi thông tin về tình hình phát triển kinh tế - xã hội, nhu cầu của thị trường lao động, nhằm định hướng các hoạt động giáo dục đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động, phục vụ nhu cầu của địa phương Hoàn thiện chương trình giáo dục hướng nghiệp trong trường phổ thông Xây dựng chính sách, cơ chế phát triển đội ngũ giáo viên giáo dục hướng nghiệp trong trường phổ thông Biên soạn tài liệu giáo dục hướng nghiệp, khởi nghiệp kinh doanh và quản lý giáo dục hướng nghiệp Triển khai thí điểm mô hình giáo dục nhà trường gắn với thực tiễn sản xuất kinh doanh của địa phương, mô hình phối hợp giữa các cơ sở giáo dục nghề nghiệp và các trường trung học cơ sở, trung học phổ thông đào tạo kỹ năng nghề trong chương trình hướng nghiệp
Trong dự thảo chương trình giáo dục phổ thông mới, cấp THPT hiện hành được coi là giai đoạn định hướng nghề nghiệp; Giáo dục phổ thông 12 năm, gồm hai giai đoạn: Giai đoạn giáo dục cơ bản (gồm cấp tiểu học 5 năm
và cấp trung học cơ sở 4 năm) và giai đoạn giáo dục định hướng nghề nghiệp (cấp trung học phổ thông 3 năm) Nội dung giáo dục phổ thông bảo đảm tinh giản, hiện đại, thiết thực, thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn, phù hợp với đặc điểm tâm - sinh lý lứa tuổi học sinh; giáo dục nhân cách, đạo đức, văn hoá pháp luật và ý thức công dân; tập trung vào những giá trị cơ bản của văn hoá, truyền thống và đạo lý dân tộc, tinh hoa văn hoá nhân loại, giá trị cốt lõi và nhân văn của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí
Footer Page 20 of 145.
Trang 21Minh; dạy ngoại ngữ và tin học theo hướng chuẩn hoá, thiết thực, bảo đảm năng lực sử dụng của học sinh; giáo dục nghệ thuật và giáo dục thể chất coi
trọng việc định hướng thẩm mỹ và bồi dưỡng hứng thú rèn luyện sức khoẻ,
hoạt động nghệ thuật
1.2 Một số khái niệm cơ bản
1.2.1 Hướng nghiệp
- Theo từ điển Tiếng Việt, HN được hiểu là “thi hành những biện pháp
nhằm đảm bảo sự phân bố tối ưu (có chú ý tới năng khiếu, năng lực, thể lực) nhân dân theo ngành và loại lao động” hoặc được hiểu với nghĩa “giúp đỡ lựa chọn hợp lý ngành nghề”
- Theo từ điển Giáo dục học: HN là hệ thống các biện pháp giúp đỡ học
sinh làm quen tìm hiểu nghề, lựa chọn, cân nhắc nghề nghiệp với nguyện vọng năng lực sở trường của mỗi người với nhu cầu và điều kiện thực tế khách quan của xã hội HN có ý nghĩa kinh tế xã hội rất lớn giúp cho thanh niên có cơ hội
phát huy được năng lực nâng cao được hiệu quả lao động say mê sáng tạo trong nghề nghiệp, mặt khác giúp tránh thay đổi nghề nghiệp nhiều lần hạn chế các hậu quả do nghề nghiệp không phù hợp mang lại
Qua hàng loạt định nghĩa được tham khảo chúng tôi hiểu: HN là toàn bộ
những tác động để giúp con người định hướng đến một nghề hay một số nghề nhất định nhằm đảm bảo được sự phù hợp giữa khả năng, yêu cầu của cá nhân với yêu cầu của xã hội
1.2.2 Giáo dục hướng nghiệp
Theo các nhà chuyên môn: “Giáo dục HN là một hệ thống các biện pháp
giáo dục nhằm chuẩn bị cho học sinh sớm có ý thức chọn ngành nghề vừa phù hợp với nguyện vọng của cá nhân vừa phù hợp với sự phân công lao động xã hội ngay từ khi còn học ở trường phổ thông”
Footer Page 21 of 145.
Trang 22Hoạt động GDHN là một quá trình kéo dài trong suốt cuộc đời con người, bao gồm:
(1)Đối với thế hệ trẻ (Thanh thiếu niên còn đang ngồi trên ghế nhà trường): GDHN là hệ thống các biện pháp giáo dục của nhà trường, gia đình
và xã hội nhằm chuẩn bị cho thế hệ trẻ về tư tưởng, tâm lý, tri thức, kỹ năng
để học sinh có thể sẵn sàng đi vào ngành nghề, vào lao động sản xuất, đấu tranh, xây dựng và bảo vệ tổ quốc
(2) Đối với những người đang tham gia các hoạt động lao động sản xuất: GDHN là quá trình điều chỉnh sự phù hợp nghề của người đó đối với
công việc mà họ đang làm Hoạt động HN sẽ giúp cho người lao động biết được những phẩm chất, đặc điểm tâm lý và sinh lý của họ có đáp ứng với
những yêu cầu cụ thể mà nghề đó đòi hỏi ở người lao động hay không
(3) GDHN theo quan điểm phát triển nguồn nhân lực: được hiểu là
hoạt động giáo dục của nhà trường thông qua các hình thức HN, thực hiện các nội dung HN để nhằm bồi dưỡng cho học sinh được gia tăng giá trị về các mặt: kiến thức, kỹ năng, năng lực, đồng thời hướng dẫn việc lựa chọn nghề (điều chỉnh động cơ, hứng thú chọn nghề) của các em theo định hướng cơ cấu nguồn nhân lực phục vụ phát triển kinh tế – xã hội
1.2.3 Quản lý
Từ xa xưa, khi con người hợp sức mạnh nhau lại để săn bắt thú rừng hoặc để tự vệ, đã hình thành nên một yếu tố khách quan đó là những hoạt động tổ chức, phối hợp, điều khiển hoạt động của mọi người thực hiện mục
tiêu chung K Marx đã chỉ rõ: “Bất cứ lao động xã hội hay cộng đồng trực
tiếp nào được thể hiện quy mô tương đối lớn đều cần ở một chừng mực nhất định đến sự quản lý xác lập sự tương hợp giữa các công việc cá nhân và hoàn thành những chức năng chung xuất hiện trong sự vận động riêng rẽ của nó ”
Footer Page 22 of 145.
Trang 23Có nhiều định nghĩa khác nhau về quản lý như: “Quản lý là sự tác động,
chỉ huy, điều khiển, hướng dẫn các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người nhằm đạt tới mục đích đẫ đề ra Quản lý là quá trình tác động có mục đích vào một hệ thống (máy móc, xã hội, quần chúng, ) làm biến đổi hệ thống đó những thuộc tính mới ” [ 31 trang 1] hay: “Quản lý là một hệ thống
xã hội, là khoa học và nghệ thuật tác động vào một hệ thống mà chủ yếu là
con người nhằm đạt tới các mục tiêu Kinh tế - Xã hội nhất định” [25 trang 6]
Như vậy, về nội dung thuật ngữ quản lý có các cách hiểu khác nhau Từ
những cách hiểu trên, ta có thể khái quát khái niệm quản lý như sau: “Quản lý
là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội của hệ
thống để đạt được mục tiêu đặt ra trong điều kiện biến động của môi trường”
1.2.4 Quản lý GDHN
Quản lý GDHN là nhiệm vụ của nhà quản lý trong các trường phổ thông Người quản lý phải xác định chính xác mục tiêu, nhiệm vụ, nội dung, phương pháp và hình thức của GDHN để từ đó có những biện pháp quản lý mặt này hiệu quả
Để quản lý hoạt động GDHN, người quản lý phải xây dựng kế hoạch,
tổ chức bộ máy, điều hành các hoạt động GDHN và cuối cùng là kiểm tra đánh giá việc thực hiện kế hoạch và kết quả của hoạt động GDHN Sau một chu kỳ quản lý, người quản lý phải tổng kết rút kinh nghiệm để tổ chức hoạt đồng này ngày càng tốt hơn
Ngoài ra, người quản lý còn phải nắm vững được chiến lược phát triển kinh tế-xã hội của đất nước, phương hướng phát triển kinh tế của địa phương, nắm được yêu cầu nghề nghiệp của xã hội, phải biết được thị trường lao động cần gì để từ đó thiết kế các hoạt động cụ thể, có chương trình GDHN thích hợp cho học sinh của mình
Footer Page 23 of 145.
Trang 241.2.5 Trung tâm GDTX&DN
Trung tâm GDTX&DN là cơ sở GDTX&DN của hệ thống giáo dục quốc dân Trung tâm có tư cách pháp nhân, có con dấu và tài khoản riêng Trung tâm GDTX&DN được tổ chức tại cấp huyện, Sở GD&ĐT trực tiếp quản lý, chỉ đạo Trung tâm GDTX&DN có các nhiệm vụ:
a) Tổ chức thực hiện các chương trình giáo dục:
- Chương trình BT THPT và Dạy nghề (Trình độ sơ cấp, trung cấp)
- Chương trình giáo dục đáp ứng yêu cầu của người học, cập nhật kiến thức, kỹ năng, chuyển giao công nghệ
- Chương trình đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ bao gôm: Chương trình bồi dưỡng ngoại ngữ, tin học ứng dụng, công nghệ thông tin-truyền thông; chương trình đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn; chương trình đào tạo, bồi dưỡng nâng cao nghiệp vụ; dạy tiếng dân tộc thiểu số cho cán bộ, công chức tại vùng dân tộc, miền núi theo kế hoạch hàng năm của địa phương
b) Điều tra nhu cầu học tập trên địa bàn, xác định nội dung học tập, đề xuất với Sở GD&ĐT, chính quyền địa phương việc tổ chức các chương trình
và hình thức học tập phù hợp với từng loại đối tượng
c) Tổ chức các lớp học theo các chương trình GDTX&DN cấp THCS
và THPT cho các đối tượng hưởng chính sách ưu đãi và đối tượng hưởng chính sách xã hội khác theo kế hoạch đào tạo của địa phương
d) Tổ chức dạy và thực hành kỹ thuật nghề nghiệp, các hoạt động lao động sản xuất và các hoạt động khác phục vụ học tập
e) Nghiên cứu, tổng kết rút kinh nghiệm về tổ chức và hoạt động nhằm nâng cao chất lượng giáo dục góp phần phát triển hệ thống GDTX&DN
Footer Page 24 of 145.
Trang 25f) Liên kết với các trường trung cấp chuyên nghiệp thực hiện các chương trình GDTX&DN lấy bằng tốt nghiệp trung cấp chuyên nghiệp
g) Liên kết với các cơ sở giáo dục cao đẳng, đại học thực hiện các chương trình GDTX&DN lấy bằng tốt nghiệp cao đẳng, đại học (đối với trung tâm GDTX&DN cấp tỉnh)
Như vậy, có thể thấy Trung tâm GDTX&DN là một cơ sở giáo dục có các loại hình đào tạo hết sức đa dạng, với nhiều chương trình giáo dục và đào tạo khác nhau, nhằm đáp ứng nhu cầu của người học
Do đó, Trung tâm GDTX&DN có các đặc trưng sau:
Hoạt động GD&ĐT trong các Trung tâm GDTX&DN là các hoạt động
có tổ chức, có mục tiêu, có chương trình như GDCQ, nhưng cách dạy, học thì không giống như trong GDCQ, mà được tổ chức thực hiện hết sức mềm dẻo, linh hoạt về thời gian, chương trình đào tạo để phù hợp với đối tượng người học Do đó nét đặc thù của trung tâm GDTX&DN được quy định bởi bản chất lao động sư phạm của người giáo viên trong các trung tâm GDTX&DN, bản chất của quá trình hoạt động giáo dục ở Trung tâm GDTX&DN, trong đó học viên vừa là đối tượng quản lý đồng thời họ cũng là chủ thể tự quản lý hoạt động của bản thân mình
1.3 Giáo dục hướng nghiệp tại trung tâm GDTX&DN
1.3.1 Mục đích của GDHN
Theo PGS.TS Đặng Danh Ánh: “Mục đích chủ yếu của HN là phát hiện
và bồi dưỡng tiềm năng sáng tạo của cá nhân, giúp họ hiểu mình và hiểu yêu cầu của nghề, định hướng họ đi vào những nghề mà nhà nước đang có nhu cầu nhân lực” Như vậy, mục đích của HN không phải chỉ dừng ở chỗ “phát
hiện” mà quan trọng hơn là phải “bồi dưỡng” cho được các tố chất của mỗi cá nhân để ngày càng hoàn thiện hơn, phù hợp hơn các yêu cầu biến động không
Footer Page 25 of 145.
Trang 26ngừng của nền kinh tế - xã hội, giúp cho tự tin và “sáng suốt” chọn lấy một nghề phù hợp nhất cho mình
Hiện nay cả nước ta đang hướng tới mục tiêu là từng bước công nghiệp hóa, hiện đại hóa nhằm đưa đất nước từ một nước nông nghiệp lạc hậu thành một nước công nghiệp văn minh hiện đại Để từng bước thực hiện được mục tiêu này trong Nghị quyết Hội nghị lần thứ II ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII khẳng định: “Muốn tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa thắng lợi phải phát triển mạnh giáo dục - đào tạo, phát huy nguồn lực con người, yếu tố cơ bản của sự phát triển nhanh và bền vững” đồng thời Đảng ta cũng xác định: cần tăng cường hơn nữa GDHN, mở rộng và phát triển dạy nghề…Ngoài ra, trong Báo cáo chính trị của đại hội Đảng lần thứ XI cũng đã
khẳng định rằng: “Ở mọi cấp học, bậc học, kết hợp dạy và học lý thuyết với
thực nghiệm và thực hành, gắn đào tạo với nghiên cứu khoa học và sản xuất, nhà trường và cơ sở đào tạo phối hợp với các tổ chức khoa học và các cán bộ
kỹ thuật truyền bá tri thức sản xuất, chuyển giao công nghệ cho nhân dân Coi trọng HN và phân luồng học sinh Trung học, chuẩn bị cho thanh thiếu niên đi vào lao động nghề phù hợp với chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong cả nước và từng địa phương Nhanh chóng hiện đại hóa một số trường dạy nghề, tăng tỷ lệ được đào tạo trong toàn bộ lao động xã hội, khuyến khích phát triển
hệ thống trường lớp dạy nghề tư thục và dân lập trang bị cho thanh thiếu niên những kiến thức sản xuất, kỹ năng lao động và năng lực tiếp thu công nghệ mới để tạo việc làm, chủ động tìm kiếm cơ hội lập thân, lập nghiệp”
Như vậy, mục đích của HN là giúp cho HS có được ý thức như là chủ thể trong sự lựa chọn nghề, có định hướng đúng khi chọn nghề dựa trên cơ sở hiểu biết khoa học về nghề nghiệp, về nhu cầu thị trường lao động xã hội và năng lực, sở trường của bản thân
Footer Page 26 of 145.
Trang 27Học sinh THS và THPT là bộ phận thanh niên đến tuổi trưởng thành, được tiếp cận với một hệ thống kiến thức từ quá trình học tập ở trường phổ thông và được trải nghiệm thực tiễn thông qua những dạng lao động trong gia đình, trong các tổ chức đoàn thể, hàng ngày được tiếp cận các dạng thông tin nghề nghiệp và chính những điều kiện này đã giúp cho các em hình thành được những cơ sở xác đáng về kiến thức về kĩ năng và đặc biệt là sự trưởng thành đáng kể trong nhận thức đối với ý nghĩa cuộc sống, vị trí của bản thân, có được sự thử thách ban đầu trong lao động nghề nghiệp, góp phần vào đời sống gia đình, tạo ra những tiền
đề cho quá trình thích ứng nghề nghiệp sau này Một số học sinh có ý trí vươn lên, ngay từ khi còn học phổ thông đã tích cực học thêm các môn học cần cho nhiều nghề như: tin học, ngoại ngữ…Với cái nền rất đáng quý đó của học sinh THPT, nhiệm vụ HN đối với các em không chỉ dừng lại ở mức độ nâng cao nhận thức và sự hiểu biết kĩ càng hơn về nghề mà còn là quá trình xác lập những điều kiện hiện thực để đưa các em vào hoạt động trong thế giới nghề nghiệp, tạo ra sự thích ứng ở mức độ nhất định với nghề hoặc lĩnh vực lao động mà họ ưa thích
1.3.2 Nội dung của giáo dục HN
1.3.2.1 Cho học sinh làm quen với các ngành nghề của nền kinh tế quốc dân
và với các loại hình thông tin sau
+ Thông tin về thế giới nghề nghiệp bằng cách phân loại nghề theo đối tượng lao động
+ Thông tin về nghề cụ thể theo bản mô tả nghề
+ Thông tin về hệ thống trường đào tạo
+ Thông tin về thị trường lao động
Tóm lại, nhiệm vụ của thông tin tuyên truyền nghề là phải tạo được dư luận xã hội tích cực đối với các nghề trong các lĩnh vực Công nghiệp, Nông - Lâm - Ngư nghiệp, Giao thông vận tải, Dịch vụ, Y tế, Văn hoá và Giáo dục,
Footer Page 27 of 145.
Trang 28tác động vào tình cảm học sinh, làm cho các em thích thú muốn vào học một ngành nghề cụ thể sau khi tốt nghiệp phổ thông
1.3.2.2 Tổ chức các hoạt động nhằm hình thành hứng thú nghề, năng lực nghề chuẩn bị cho học sinh chọn nghề có ý thức
Qua thực tiễn, có thể nêu lên một số hoạt động chính sau đây để thực hiện nội dung GDHN này:
+ Thực hiện chương trình HN chính khoá
+ HN qua dạy các môn khoa học cơ bản
+ HN qua dạy môn công nghệ và dạy nghề phổ thong
+ Tổ chức hoạt động ngoại khoá
Tóm lại, có thể tổ chức nhiều hoạt động cho học sinh chuẩn bị chọn nghề Chính các hoạt động này là điều kiện, là cơ sở để nâng cao hiệu quả của
HN, đồng thời đó cũng là những chiếc nôi gieo mầm hứng thú và khuynh hướng nghề nghiệp cho học sinh
1.3.2.3 Tư vấn nghề
Tư vấn nghề cho học sinh phổ thông thường có hai loại: tư vấn sơ bộ và
tư vấn chuyên sâu
a) Loại tư vấn sơ bộ: Đây là loại tư vấn đơn giản, có thể thực hiện ở
nhiều trường vì không đòi hỏi phải có máy móc, thiết bị hoặc các phương tiện kĩ thuật để chẩn đoán phẩm chất, đặc điểm tâm lí sức khoẻ, của học sinh; cũng không đòi hỏi đội ngũ chuyên gia tư vấn có tay nghề cao, am hiểu sâu về tâm sinh lí, y học, giáo dục và kinh tế học
b) Loại tư vấn chuyên sâu: Đây là loại tư vấn phức tạp do tư vấn được
tiến hành trên cơ sở khoa học, bảo đảm tính chính xác cao Muốn vậy phải có đội ngũ chuyên gia tư vấn có tay nghề cao, gồm: các nhà tâm lí học, giáo dục học, bác sĩ được bồi dưỡng về tư vấn
Footer Page 28 of 145.
Trang 291.3.2.4 Nghiên cứu học sinh
Là một phần quan trọng trong cấu trúc HN để nghiên cứu “nhân cách nghề nghiệp” của học sinh Trong “nhân cách nghề nghiệp” có các thành tố liên quan đến chọn nghề là “động cơ chọn nghề”, “hứng thú nghề nghiệp”,
"khuynh hướng và năng lực nghề nghiệp”
Để nghiên cứu nhân cách học sinh, người ta thường dùng phương pháp quan sát với các nội dung cụ thể là:
+ Phân tích kết quả học tập các môn khác nhau nhằm đánh giá khả năng vận dụng kiến thức đã học vào thực tiễn
+ Phân tích bài làm và các sản phẩm của học sinh làm ra qua các giờ dạy lao động kĩ thuật
+ Theo dõi sự phát triển tính cách, các phẩm chất, ý chí trạng thái xúc cảm, khả năng tập trung chú ý, tính kiên trì theo đuổi mục đích đã đặt ra, quan sát mối quan hệ với các bạn trong tập thể
1.3.3 Hình thức tổ chức giáo dục HN
1.3.3.1 Qua hoạt động dạy học các bộ môn văn hoá, khoa học cơ bản
Trong nhà trường phổ thông, các môn văn hóa, khoa học cơ bản giữ một vai trò đặc biệt quan trọng đối với quá trình phát triển toàn diện nhân cách của học sinh Chúng đặt nền tảng cho sự hiểu biết các quy luật phát triển của tự nhiên, xã hội và tư duy đồng thời cung cấp những cơ sở khoa học cho việc giáo dục kỹ thuật tổng hợp; giúp cho việc xây dựng và phát huy những năng lực sở trường đa dạng của học sinh, chuẩn bị cho các em đi vào cuộc sống và lao động nghề nghiệp
1.3.3.2 Qua dạy nghề phổ thông và giáo dục lao động
a) Hướng nghiệp qua hoạt động dạy nghề phổ thông
Giáo dục nghề phổ thông là một hoạt động giáo dục HN cho học sinh phổ thông, một bộ phận của nội dung giáo dục toàn diện
Footer Page 29 of 145.
Trang 30Giáo dục nghề phổ thông chính là một con đường để HN cho học sinh
b) Hướng nghiệp cho học sinh phổ thông qua hoạt động giáo dục lao động
Mặc dù có nhiều cách hiểu khác nhau nhưng các khái niệm về giáo dục lao động đều thống nhất ở một số điểm chung là:
+ Giáo dục lao động là một bộ phận cơ bản của giáo dục phổ thông xã hội chủ nghĩa và là một nội dung giáo dục toàn diện
+ Giáo dục lao động không chỉ đơn thuần tổ chức cho học sinh tham gia lao động mà có nhiệm vụ chủ yếu là cung cấp cho học sinh kiến thức, rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo về lao động và giáo dục thái độ lao động Thông qua
đó, hình thành và phát triển nhân cách, giúp học sinh có đủ năng lực và phẩm chất, sẵn sàng về tâm thế để tham gia vào cuộc sống lao động sau khi rời ghế nhà trường
+ Giáo dục lao động gắn bó hữu cơ với giáo dục kỹ thuật và hướng nghiệp
1.3.3.3 Qua hoạt động giáo dục hướng nghiệp
Hoạt động GDHN là con đường cơ bản, có tầm quan trọng đặc biệt trong
HN cho học sinh phổ thông vì nó cung cấp cho học sinh những thông tin nghề nghiệp, hệ thống đào tạo và thị trường lao động một cách có hệ thống, có chủ đích Đồng thời qua hoạt động GDHN, các em biết được về năng lực cá nhân, điều kiện và truyền thống gia đình để định hướng lựa chọn nghề trong thế giới nghề nghiệp, chọn hướng đi sau khi tốt nghiệp trung học phổ thông một cách
có ý thức, có cơ sở khoa học nhằm đạt được ước mơ đích thực của mình Trong "Định hướng về phương pháp tổ chức hoạt động GDHN cho học sinh THPT" thì các em sẽ được tham gia nhiều dạng hoạt động như:
- Tìm hiểu nghề qua nhiều con đường khác nhau: qua bản mô tả nghề, nghe giới thiệu về nghề, điều tra xã hội
Footer Page 30 of 145.
Trang 31- Thảo luận tìm ra cách thức giải quyết những vấn đề về chọn nghề phù hợp; về các cơ hội, con đường học tập để đạt được ước mơ của bản thân sau khi tốt nghiệp THPT; về cách thức vượt qua những khó khăn trong những giai đoạn chuyển tiếp trong học tập, tìm việc làm và ngay cả khi không đạt được ước mơ của mình
- Trao đổi với phụ huynh học sinh về việc định hướng nghề cho học sinh
- Giao lưu với những điển hình, những gương vượt khó trong các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, học tập Giao lưu giữa các khối, lớp, cụm trường về chủ đề HN
- Tham quan ngoại khóa theo các chủ đề
- Thực tập lao động nghề qua học nghề phổ thông
- Đóng vai mô phỏng (chẳng hạn mô phỏng tuyển chọn nghề)
Hoạt động GDHN sẽ được tổ chức theo chủ đề từng tháng được qui định tại chương trình với thời lượng 27 tiết/lớp/năm học, bình quân 3 tiết/ lớp/tháng ở bậc THPT, BT THPT
1.3.3.4 Qua hoạt động ngoại khoá ở trong và ngoài nhà trường
Thông qua hoạt động ngoại khóa học sinh có thể thu nhận được những thông tin về các ngành nghề, về nhu cầu nhân lực của xã hội, qua đó có sự phát triển năng khiếu cũng như sự phân hóa năng lực của HS rất mạnh, đồng thời các em cũng có điều kiện thử sức mình với những ngành nghề mà định chọn, biểu hiện khuynh hướng nghề nghiệp ngày càng rõ, càng chính xác
1.4 Quản lý GDHN tại trung tâm GDTX&DN
1.4.1 Lập kế hoạch giáo dục HN
1.4.1.1 Lập kế hoạch tuyển sinh
Để lập kế hoạch GDHN cho mỗi năm học hoặc cho một kế hoạch trung hạn 3 - 5 năm, các Trung tâm cần tiến hành khảo sát nhu cầu của người học, qua nắm tình hình học sinh
Footer Page 31 of 145.
Trang 321.4.1.2 Về kế hoạch dạy môn GDHN theo chương trình chính khoá
a) Kế hoạch dạy tại Trung tâm
Như đã trình bày ở phần trên, chương trình môn GDHN theo qui định của Sở GD - ĐT đối với một học sinh THCS và THPT là 27 tiết/ năm và theo chỉ đạo của Sở Giáo dục - Đào tạo Việc dạy HN được lồng ghép với dạy nghề phổ thông
b) Kế hoạch dạy tại trường
Trong trường phổ thông, chương trình dạy hướng nghiệp được thực hiện từng tháng, mỗi tháng 4 tiết với nội dung cụ thể
1.4.2 Tổ chức, chỉ đạo thực hiện kế hoạch GDHN
Lập kế hoạch GDHN là nhiệm vụ quan trọng của người cán bộ quản lý Trung tâm GDTX&DN Tuy nhiên, kế hoạch được xây dựng tốt thế nào đi nữa mà không có quá trình tổ chức, chỉ đạo sát sao việc thực hiện thì cũng không mang lại kết quả như mong muốn
1.4.2.1.Tổ chức, chỉ đạo thực hiện kế hoạch tuyển sinh
Tuyển sinh luôn là nhiệm vụ quan trọng hành đầu mà kết quả của nó ảnh hưởng trực tiếp đến các hoạt động khác trong nhà trường, đến việc hoàn thành nhiệm vụ chính trị của Trung tâm Vì vậy, muốn hoàn thành nhiệm vụ, cán bộ quản lý phải quan tâm trước hết đến việc hoàn thành tuyển sinh Để hoàn thành nhiệm vụ này, từ khâu đầu là khảo sát nhu cầu, lập kế hoạch đến chỉ đạo thực hiện đều cần được tiến hành tỉ mỉ, cẩn trọng do một hoặc một số cán
bộ giáo vụ thực hiện dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Giám đốc hoặc Phó Giám đốc phụ trách chuyên môn
Trong khâu khảo sát và lập kế hoạch, cán bộ phải đến các trường phổ thông, các phòng Giáo dục để tìm hiểu nhu cầu cụ thể việc học HN học nghề phổ thông của trường đối với từng khối lớp, sĩ số từng lớp trong đó chú ý đến nguyện vọng đăng kí, tỉ lệ giữa học sinh nam và học sinh nữ Rồi sau phải
Footer Page 32 of 145.
Trang 33dự kiến lịch học với từng khối lớp để thống nhất với BGH các trường Tiến hành tuyển sinh, ngoài nhu cầu đăng kí theo nguyện vọng của học sinh, người làm tuyển sinh cần khéo vận động để hướng học sinh đăng kí học theo điều kiện cơ sở vật chất của Trung tâm và yêu cầu của xã hội bởi vì hiện tại việc học HN trong Trung tâm vẫn được kết hợp với học nghề phổ thông như chúng tôi đã trình bày trong phần trên
1.4.2.2 Tổ chức, chỉ đạo thực hiện kế hoạch dạy và học HN
Trước hết, cán bộ quản lý yêu cầu các tổ giáo viên lên kế hoạch giảng dạy cho mỗi học kì, năm học hoặc cả khoá học dựa theo chương trình của Bộ
GD - ĐT và phương hướng chỉ đạo của Sở GD - ĐT Trong kế hoạch giảng dạy cần nêu rõ nội dung từng buổi học, các yêu cầu về dụng cụ, vật tư, nguyên - nhiên liệu cần thiết và phần theo dõi thực hiện kế hoạch Kế hoạch này phải được Giám đốc hoặc Phó Giám đốc xem xét phê duyệt Từ kế hoạch giảng dạy, Giáo vụ tổng hợp vật tư, dụng cụ chuyển đến bộ phận Hành chính
- Quản trị chuẩn bị mua sắm theo kế hoạch hàng tháng, học kì và năm học cho từng khối lớp, từng trường và toàn Trung tâm
Trong quá trình triển khai dạy HN, các giáo viên phải chuẩn bị giáo án đúng với kế hoạch giảng dạy đã duyệt và các vật tư, dụng cụ, đồ dùng giảng dạy chu đáo theo yêu cầu từng bài Thông qua tổ chuyên môn, Giám đốc duyệt giáo án của từng giáo viên và chỉ đạo sát sao việc dự giờ theo lịch thường xuyên và đột xuất để kiểm tra việc thực hiện kế hoạch của từng giáo viên, kịp thời có điều chỉnh, uốn nắn Đồng thời, cán bộ quản lý phải dành thời gian thoả đáng đi thăm lớp, dự giờ để trực tiếp nắm bắt tình hình
Hoạt động của tổ, nhóm chuyên môn phải được duy trì thường xuyên để bàn và giải quyết phần lớn các công việc chuyên môn của tổ như: giảng bài khó, vấn đề đổi mới phương pháp giảng dạy, đổi mới kiểm tra đánh giá học
Footer Page 33 of 145.
Trang 34sinh, thông qua giáo án cho giáo viên Tổ chuyên môn cũng là nơi trực tiếp tổ chức các phong trào, các đợt thi đua do Trung tâm phát động như: dạy tốt, làm đồ dùng dạy học,…
Sau mỗi thời gian định kì hàng tháng hay học kì, các tổ chuyên môn phải tổng hợp báo cáo kết quả thực hiện về Trung tâm Bên cạnh giáo án, các loại hồ sơ khác của giáo viên cũng phải thực hiện nghiêm túc như sổ ghi điểm
và kiểm danh, sổ đầu bài, sổ học tập, hội họp, kế hoạch giảng dạy, sổ dự giờ Dựa trên các yêu cầu công việc của giáo viên và bộ phận nghiệp vụ cần xây dựng thành tiêu chí cụ thể để đánh giá mức độ hoàn thành công việc từng người trong Trung tâm làm cơ sở bình xét thi đua cuối năm
1.4.3 Kiểm tra, đánh giá kết quả GDHN
Kiểm tra là quá trình sử dụng các phương pháp khác nhau để thu thập thông tin về hiệu quả hoạt động Đây là một dạng hoạt động nghiệp vụ quản
lý của Giám đốc nhằm kiểm soát, phát hiện, so sánh kết quả hoạt động dạy học và giáo dục với mục tiêu đề ra Qua đó, phát hiện ưu điểm để động viên, kích thích hoặc uốn nắn, điều chỉnh những thiếu sót nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục và đào tạo trong nhà trường
1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến nâng cao chất lượng GDHN tại các trung tâm GDTX&DN
1.5.1 Quan điểm của Đảng và Nhà nước về Giáo dục hướng nghiệp và phân luồng học sinh
Nghị quyết số 29-NQ/TW của Hội nghị Trung ương 8, khóa XI đã xác định phải đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục, đào tạo, phát triển nguồn nhân lực Giáo dục không chỉ là quốc sách hành đầu, là “chìa khóa” mở ra con đường đưa đất nước tiến lên phía trước, mà còn là “mệnh lệnh” của cuộc sống Trong văn kiện Đại hội XII lần này, kế thừa quan điểm chỉ đạo của nhiệm kỳ trước, Đảng ta đã đưa ra đường lối đổi mới căn bản, toàn diện giáo
Footer Page 34 of 145.
Trang 35dục, đào tạo, phát triển nguồn nhân lực, xác định đây là một kế sách, quốc sách hàng đầu, tiêu điểm của sự phát triển, mang tính đột phá, khai mở con đường phát triển nguồn nhân lực Việt Nam trong thé kỷ XXI, khẳng định triết
lý nhân sinh mới của nền giáo dục nước nhà “dạy người, dạy chữ, dạy nghề”
Phát triển nguồn nhân lực chính là phát huy nhân tố con người, gia tăng toàn diện giá trị con người trên các mặt trí tuệ, đạo đức, thể lực, năng lực sáng tạo và bản lĩnh, phẩm chất, chính trị Đồng thời phân bổ, sử dụng và phát huy
có hiệu quả nhất năng lực sáng tạo của con người để phát triển đất nước Xuất phát từ thực tiễn kinh tế – xã hội của đất nước, cũng với những nhiệm vụ của thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, tập trung tiến hành giải quyết những vấn đề sau:
- Nâng cao chất lượng toàn diện con người Việt Nam đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá và phát huy tiềm năng lao động dồi dào của đất nước
- Chuẩn bị và hình thành được nguồn nhân lực cho bước phát triển mạnh mẽ của đất nước trong thời kỳ tiếp theo
- Nói đến nguồn nhân lực phải kể đến lực lượng cán bộ lãnh đạo, quản
lý xã hội chất lượng của đội ngũ này có ý nghĩa rất quyết định tới phương hướng và tốc độ phát triển của đất nước trong giai đoạn tới
- Nhưng trên thực tế quản lý giáo dục hướng nghiệp và giáo dục hướng nghiệp trong các nhà trường phổ thông chưa được quan tâm đúng mức, còn nhiều hạn chế cần được khắc phục
Do vậy, cần cải tiến nội dung và phương pháp giáo dục nhằm nâng cao nhận thức cho độ ngũ quản lý giáo dục, giáo viên và học sinh
Footer Page 35 of 145.
Trang 361.5.2 Yêu cầu của hướng nghiệp trong mục tiêu chiến lược phát triển giáo dục (2010 - 2020) và những giai đoạn tiếp theo
Trong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế, nguồn lực con người Việt Nam càng trở nên có ý nghĩa quan trọng, quyết định sự thành công của công cuộc phát triển đất nước Giáo dục ngày càng có vai trò và nhiệm vụ quan trọng trong việc xây dựng một thế
hệ người Việt Nam mới, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội Điều này đòi hỏi giáo dục phải có chiến lược phát triển đúng hướng, hợp quy luật, xu thế và xứng tầm thời đại
1.5.2.1 Giáo dục và đào tạo có sứ mạng đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, góp phần xây dựng nền văn hóa tiên tiến của đất nước trong bối cảnh toàn cầu hóa, đồng thời tạo lập nền tảng và động lực công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Giáo dục và đào tạo phải góp phần tạo nên một thế hệ người lao động
có tri thức, có đạo đức, có bản lĩnh trung thực, có tư duy phê phán, sáng tạo,
có kỹ năng sống, kỹ năng giải quyết vấn đề và kỹ năng nghề nghiệp để làm việc hiệu quả trong môi trường toàn cầu hóa vừa hợp tác vừa cạnh tranh Điều này đòi hỏi phải có những thay đổi căn bản về giáo dục từ nội dung, phương pháp dạy học đến việc xây dựng những môi trường giáo dục lành mạnh và thuận lợi, giúp người học có thể chủ động, tích cực, kiến tạo kiến thức, phát triển kỹ năng và vận dụng những điều đã học vào cuộc sống Thông qua các hoạt động giáo dục, các giá trị văn hóa tốt đẹp cần được phát triển ở người học, giúp người học hoàn thiện tố chất cá nhân, phát triển hài hòa các mặt trí, đức, thể, mỹ Nội dung, phương pháp và môi trường giáo dục phải góp phần duy trì, bảo tồn và phát triển nền văn hóa Việt Nam
Trong vòng 20 năm tới, phấn đấu xây dựng một nền giáo dục Việt Nam hiện đại, khoa học, dân tộc, đại chúng làm nền tảng cho sự nghiệp công nghiệp
Footer Page 36 of 145.
Trang 37hóa, hiện đại hóa, phát triển bền vững đất nước, thích ứng với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hướng tới một xã hội học tập, có khả năng hội nhập quốc tế; nền giáo dục này phải đào tạo được những con người Việt Nam có năng lực tư duy độc lập và sáng tạo, có khả năng thích ứng, hợp tác và năng lực giải quyết vấn đề, có kiến thức và kỹ năng nghề nghiệp, có thể lực tốt,
có bản lĩnh, trung thực, ý thức làm chủ và tinh thần trách nhiệm công dân, gắn
bó với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội
1.5.2.2 Quy mô giáo dục được phát triển hợp lý, chuẩn bị nguồn nhân lực cho đất nước thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và tạo cơ hội học tập suốt đời cho mỗi người dân
Tạo bước đột phá về giáo dục nghề nghiệp để tăng mạnh tỷ lệ lao động qua đào tạo Vào năm 2020, tỷ lệ lao động trong độ tuổi được đào tạo qua hệ thống giáo dục nghề nghiệp đạt 60%
Hệ thống giáo dục nghề nghiệp được tái cấu trúc đảm bảo phân luồng sau trung học cơ sở và liên thông giữa các cấp học và trình độ đào tạo để đến năm 2020 có đủ khả năng tiếp nhận 30% đến 40% số học sinh tốt nghiệp trung học cơ sở vào học và có thể tiếp tục học các trình độ cao hơn khi có điều kiện Đến 2020 có khoảng 50% số học sinh tốt nghiệp trung học phổ thông vào học ở các cơ sở giáo dục nghề nghiệp
1.5.2.3 Chất lượng và hiệu quả giáo dục được nâng cao, tiếp cận được với chất lượng giáo dục của khu vực và quốc tế
Chất lượng toàn diện của học sinh phổ thông có sự chuyển biến rõ rệt
để phát triển năng lực làm người Việt Nam trong thời kỳ hội nhập Học sinh
có ý thức và trách nhiệm cao trong học tập, có lối sống lành mạnh, có bản lĩnh, trung thực, có năng lực làm việc độc lập và hợp tác, có kỹ năng sống, tích cực tham gia các hoạt động xã hội, ham thích học tập và học tập có kết quả cao; có năng lực tự học; hiểu biết và tự hào, yêu quý Tổ quốc Khả năng
Footer Page 37 of 145.
Trang 38sử dụng ngoại ngữ đặc biệt là tiếng Anh trong học tập và vận dụng kiến thức vào thực tế cuộc sống của học sinh phổ thông Việt Nam tương đương với học sinh ở các nước phát triển trong khu vực; tỷ lệ hoàn thành cấp học được duy trì ở mức 90% trở lên đối với cả ba cấp học
Sau khi hoàn thành các chương trình giáo dục nghề nghiệp, học sinh
có năng lực và có đạo đức nghề nghiệp, kỷ luật lao động và tác phong lao động hiện đại, có khả năng sử dụng ngoại ngữ, nhất là tiếng Anh trong học tập và làm việc tương đương với học sinh ở các nước phát triển trong khu vực, đáp ứng được yêu cầu xuất khẩu lao động và khả năng cạnh tranh nhân lực của đất nước Đến 2020 có trên 95% số học sinh tốt nghiệp được các doanh nghiệp và cơ quan sử dụng lao động đánh giá đáp ứng được các yêu cầu của công việc
1.5.3 Trung tâm GDTX&DN thực hiện nhiệm vụ HN - Mô hình quá độ của Vĩnh Phúc khi tiến hành PCGD bậc trung học
Để hoàn thành nhiệm vụ PCGD bậc trung học, một trong các tiêu chí cần đạt là tất cả các huyện đều phải có trung tâm HN Nhưng do điều kiện cụ thể của Vĩnh Phúc, việc tồn tại cùng lúc hai trung tâm trên một địa bàn huyện
ở thời điểm hiện nay gặp nhiều khó khăn Sau một thời gian tồn tại hai trung tâm: trung tâm GDTX ở các huyện và trung tâm nghề không thành công Năm
2014 ngành GD&ĐT Vĩnh Phúc đã sáp nhập hai đơn vị này thành Trung tâm
GDTX&DN cấp huyện thực hiện nhiệm vụ dạy học BT THPT và dạy nghề cho
học sinh đã hoàn thành chương trình THCS Chủ trương này đã được Bộ
GD&ĐT đồng ý và chính thức có hiệu lực tại các Trung tâm GDTX&DN cấp huyện trong tỉnh Vĩnh Phúc từ năm 2014
Như vậy, tại Vĩnh Phúc, Trung tâm GDTX&DN cấp huyện không chỉ thực hiện nhiệm vụ GDTX&DN mà còn tham gia HN cho học sinh phổ thông Do được giao thực hiện nhiệm vụ HN, có thể thấy rất rõ ràng hoạt
Footer Page 38 of 145.
Trang 39động của trung tâm GDTX&DN cấp huyện trong tỉnh Vĩnh Phúc khác nhiều
so với các cơ sở giáo dục phổ thông chính quy
- Mục tiêu hoạt động của trung tâm là bồi dưỡng nhân lực cho cộng đồng theo yêu cầu địa phương
- Đối tượng chủ yếu là những người có nhu cầu được học tập
- Nội dung và hình thức đào tạo linh hoạt theo xu hướng vì người học
- Vai trò của trung tâm chủ yếu tổ chức quản lý (mà không phải là trực tiếp giảng dạy)
Từ đó, yêu cầu đối với CBGV tại trung tâm cũng có những khác biệt
so với GV tại các cơ sở GD trung học chính quy Đối với CBGV trung tâm, năng lực tổ chức, khả năng giao tiếp và sự nhiệt tình, dám làm được đề cao hơn kỹ năng giảng dạy Nghĩa là nếu như giáo viên các trường THPT hiểu biết sâu chuyên môn, dạy giỏi là cái cần nhất thì với giáo viên trung tâm sự nhiệt tình, hiểu biết rộng, năng lực quản lý lại cần thiết hơn
Tại các trung tâm GDTX&DN bên cạnh những khó khăn về cơ sở vật chất, những yếu tố liên quan tới người dạy và người học cần được quan tâm khi xem xét, xây dựng kế hoạch phát triển đó là: Người học trình độ học vấn, năng lực tiếp thu hạn chế; phương thức và nội dung đào tạo đa dạng
Footer Page 39 of 145.
Trang 40Kết luận chương 1
Mặc dù vấn đề quản lý giáo dục hướng nghiệp đã được triển khai tương đối có hệ thống, nhưng nghiên cứu về quản lý giáo dục hướng nghiệp nhằm đáp ứng yêu cầu phân luồng còn rất hạn chế Trong khi đó, yêu cầu đào tạo theo nhu cầu xã hội đối với giáo dục trung học đã và đang đặt ra những đòi hỏi cao về định hướng nghề nghiệp cho học sinh sau khi tốt nghiệp bậc trung học Do vậy, quản lý giáo dục hướng nghiệp cần phải được tổ chức và vận hành theo định hướng phân luồng Điều này khẳng định sự cần thiết của nghiên cứu về quản lý giáo dục hướng nghiệp đáp ứng yêu cấu phân luồng sau bậc trung học
Các kết quả nghiên cứu lý luận và kinh nghiệm của một số nước trên thế giới về quản lý giáo dục hướng nghiệp cho thấy, quản lý giáo dục hướng nghiệp nhằm đáp ứng yêu cầu phân luồng học sinh trung học là xuất phát từ yêu cầu phân luồng khu vực để thiết kế và tổ chức tác động một cách đồng bộ đến tất các các thành tố của giáo dục hướng nghiệp, đặc biệt là các thành tố mục tiêu, nội dung và hình thức giáo dục hướng nghiệp Quản lý giáo dục hướng nghiệp đáp ứng yêu cầu phân luồng là một đòi hỏi tất yếu trong đổi mới quản lý giáo dục hướng nghiệp trung học ở nước ta hiện nay
Footer Page 40 of 145.