Đặc biệt khi Việt Nam mở rộng cửa, hội nhập ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế thế giới thông qua các Hiệp định thương mại tự do đã có nhiều doanh nghiệp trong nước và nước ngoài quan tâ
Trang 1BÙI THỊ THANH TÂM
PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRANG TRẠI THEO HƯỚNG BỀN VỮNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH PHÚ THỌ
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
THÁI NGUYÊN - 2017
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
BÙI THỊ THANH TÂM
PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRANG TRẠI THEO HƯỚNG
Chuyên ngành: Kinh tế nông nghiệp
Mã số: 62.62.01.15
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: 1 TS Bùi Đình Hòa
2 TS Lê Quang Dực
THÁI NGUYÊN - 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi
Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực và chƣa từng đƣợc công bố trong những công trình để bảo vệ bất kỳ một học vị nào
Tác giả luận án
Bùi Thị Thanh Tâm
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập và thực hiện luận án, tôi đã nhận được sự giúp đỡ tận
tình và lời chỉ bảo nhiệt tình của tập thể và cá nhân, các cơ quan trong và ngoài trường Đại học KT&QTKD, ĐH Thái Nguyên
Trước tiên tôi xin cảm ơn sâu sắc tới TS Bùi Đình Hòa và TS Lê Quang Dực
là các nhà khoa học trực tiếp hướng dẫn và giúp đỡ tôi về mọi mặt để hoàn thành luận
án tiến sĩ kinh tế này
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu trường Đại học KT&QTKD, trường ĐH Nông Lâm Thái Nguyên, Khoa Kinh tế trường ĐH KT&QTKD
Tôi trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ của Sở Nông nghiệp và PTNT tỉnh Phú Thọ, cục Thống kê tỉnh Phú Thọ, một số Cục, Vụ, Viện thuộc Bộ Nông nghiệp và PTNT một số sở ngành, huyện thuộc tỉnh Phú Thọ, các chủ trang trại … đã tạo điều kiện cho tôi thu thập số liệu, những thông tin cần thiết và thực thi các giải pháp mà luận án đưa ra nhằm đạt hiệu quả cao
Tôi rất cảm ơn bố mẹ, chồng và người thân trong gia đình, trong những năm qua đã động viên chia sẻ khó khăn giúp tôi có niềm tin và sức mạnh để hoàn thành luận án tiến sĩ kinh tế này
Tôi xin trân trọng cảm ơn!
Tác giả luận án
Bùi Thị Thanh Tâm
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vii
DANH MỤC HÌNH, SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ xi
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4 Những đóng góp mới và ý nghĩa của luận án 3
5 Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến phát triển kinh tế trang trại theo hướng bền vững 4
6 Bố cục của luận án 8
Chương 1: CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRANG TRẠI THEO HƯỚNG BỀN VỮNG 9
1.1 Cơ sở lý luận về phát triển kinh tế trang trại theo hướng bền vững 9
1.1.1 Trang trại và kinh tế trang trại 9
1.1.2 Phát triển kinh tế trang trại theo hướng bền vững 14
1.1.3 Các tiêu chí về kinh tế trang trại 19
1.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc phát triển kinh tế trang trại theo hướng bền vững 22
1.2 Cơ sở thực tiễn phát triển kinh tế trang trại 29
1.2.1 Kinh nghiệm phát triển kinh tế trang trại ở một số quốc gia trên thế giới 29
1.2.2 Tình hình phát triển kinh tế trang trại ở Việt Nam 32
1.3 Bài học kinh nghiệm về phát triển kinh tế trang trại theo hướng bền vững trên địa bàn tỉnh Phú Thọ 43
TÓM TẮT CHƯƠNG 1 44
Chương 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 45
2.1 Câu hỏi nghiên cứu của luận án 45
Trang 62.2 Khung phân tích của luận án 45
2.3 Phương pháp nghiên cứu 47
2.3.1 Phương pháp tiếp cận 47
2.3.2 Phương pháp thu thập thông tin 48
2.3.3 Tổng hợp thông tin 50
2.3.4 Phương pháp phân tích thông tin 50
2.4 Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu 54
2.4.1 Chỉ tiêu phản ánh phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Phú Thọ 54
2.4.2 Những chỉ tiêu phản ánh nguồn lực sản xuất của trang trại 54
2.4.3 Những chỉ tiêu phản ánh KQSX kinh doanh của trang trại 55
2.4.4 Những chỉ tiêu phản ánh hiệu quả các nguồn lực sản xuất của trang trại 56
TÓM TẮT CHƯƠNG 2 56
Chương 3 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRANG TRẠI THEO HƯỚNG BỀN VỮNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH PHÚ THỌ 58
3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 58
3.1.1 Điều kiện tự nhiên 58
3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội của tỉnh Phú Thọ 63
3.1.3 Đánh giá những thuận lợi và khó khăn đến phát triển kinh tế trang trại theo hướng bền vững 67
3.2 Thực trạng phát triển kinh tế trang trại theo hướng bền vững trên địa bàn tỉnh Phú Thọ 67
3.2.1 Đặc điểm phát triển kinh tế trang trại ở tỉnh Phú Thọ 67
3.2.2 Tình hình phát triển kinh tế trang trại theo hướng bền vững giai đoạn 2007-2014 69
3.2.3 Tình hình sản xuất kinh doanh của các loại hình trang trại năm 2014 77
3.2.4 Ý kiến của chủ trang trại về việc mở rộng quy mô sản xuất trang trại 92
3.3 Phân tích các y ếu tố ảnh hưởng tới phát tri ển kinh tế trang trại theo hư ớng bền vững trên địa bàn tỉnh Phú Thọ 93
3.3.1 Yếu tố điều kiện tự nhiên 93
3.3.2 Yếu tố cơ sở hạ tầng 94
Trang 73.3.3 Yếu tố thị trường 95
3.3.4 Yếu tố về vốn 99
3.3.5 Yếu tố về khoa học công nghệ 101
3.3.6 Yếu tố về môi trường sinh thái và vệ sinh an toàn thực phẩm 102
3.3.7 Yếu tố về chính sách Nhà nước 105
3.3.8 Yếu tố về rủi ro đối với phát triển kinh tế trang trại 108
3.3.9 Phân tích các yếu tố ảnh hưởng tới KQSX kinh doanh của trang trại bằng hàm sản xuất Cobb-Douglass 109
3.4 Phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức trong phát triển kinh tế trang trại theo hướng bền vững trên địa bàn tỉnh Phú Thọ 114
3.5 Đánh giá chung về phát triển kinh tế trang trại theo hướng bền vững trên địa bàn tỉnh Phú Thọ 117
3.5.1 Kết quả đạt được 117
3.5.2 Những hạn chế và nguyên nhân 120
TÓM TẮT CHƯƠNG 3 124
Chương 4 QUAN ĐIỂM, ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRANG TRẠI THEO HƯỚNG BỀN VỮNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH PHÚ THỌ ĐẾN NĂM 2020 VÀ TẦM NHÌN 2030 126
4.1 Quan điểm, định hướng và mục tiêu phát triển kinh tế trang trại ở tỉnh Phú Thọ theo hướng bền vững đến năm 2020 và tầm nhìn 2030 126
4.1.1 Quan điểm về phát triển kinh tế trang trại theo hướng bền vững 126
4.1.2 Cơ sở xây dựng định hướng phát triển kinh tế trang trại của tỉnh Phú Thọ theo hướng bền vững 128
4.1.3 Định hướng phát triển kinh tế trang trại ở tỉnh Phú Thọ theo hướng bền vững đến năm 2020 và tầm nhìn 2030 129
4.1.4 Mục tiêu phát triển kinh tế trang trại ở tỉnh Phú Thọ theo hướng bền vững đến năm 2020 tầm nhìn đến năm 2030 131
4.2 Các giải pháp chủ yếu nhằm phát triển kinh tế trang trại theo hướng bền vững trên địa bàn tỉnh Phú Thọ 133
Trang 84.2.1 Đổi mới nhận thức về vai trò của kinh tế trang trại trong phát triển nông
nghiệp, nông thôn trên địa bàn tỉnh 133
4.2.2 Hoàn thiện công tác quy hoạch đ ể lựa chọn loại hình kinh tế trang trại phù hợp với từng vùng sinh thái, tự nhiên của tỉnh theo hướng phát triển bền vững 134
4.2.3 Hoàn thiện công tác giao đất, cấp giấy chúng nhận quyền sử dụng đất tạo điều kiện tích tụ đất đai để phát triển kinh tế trang trại 136
4.2.4 Giải pháp về nguồn vốn tạo điều kiện phát triển kinh tế trang trại 137
4.2.5 Giải pháp về thị trường, tiêu thụ sản phẩm và xây dựng cơ sở hạ tầng phát triển kinh tế trang trại 138
4.2.6 Giải pháp về khoa học kỹ thuật và công nghệ để phát triển kinh tế trang trại theo hướng bền vững 139
4.2.7 Giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực để phát triển kinh tế trang trại 141 4.2.8 Giải pháp về hoàn thiện môi trường sản xuất kinh doanh và tư pháp để phát triển kinh tế trang trại 141
4.2.9 Giải pháp tăng cường vai trò quản lý Nhà nước đối với kinh tế trang trại để phát triển kinh tế trang trại 142
4.2.10 Giải pháp tăng cường mối liên kết để phát triển kinh tế trang trại 143
4.2.11 Giải pháp về giảm thiểu ô nhiễm môi trường 144
TÓM TẮT CHƯƠNG 4 145
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 146
1 Kết luận 146
2 Một số kiến nghị 147
CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 149
TÀI LIỆU THAM KHẢO 150
PHỤ LỤC 156
Trang 917 HĐND Hội đồng nhân dân
18 HQKT Hiệu quả kinh tế
19 HQMT Hiệu quả môi trường
20 HQXH Hiệu quả xã hội
Trang 10STT Dạng viết tắt Dạng đầy đủ
33 MNPB Miền núi phía bắc
34 NLN - TS Nông lâm nghiệp - thủy sản
35 NN & PTNT Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
41 PTNT Phát triển nông thôn
42 PTNT-KTHT Phát triển nông thôn - kinh tế hợp tác
45 SWOT Điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức
47 SXKD Sản xuất kinh doanh
48 SXNN Sản xuất nông nghiệp
56 UBND Ủy ban nhân dân
57 VA Giá trị gia tăng
58 XD CSHT Xây dựng cơ sở hạ tầng
59 XDCB Xây dựng cơ bản
Trang 11DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1: Số lượng trang trại ở Việt Nam năm 2014 34
Bảng 1.2: Hiện trạng sử dụng đất đai của các loại hình trang trại ở Việt Nam năm 2014 35
Bảng 1.3: Tổng vốn đầu tư bình quân một loại hình trang trại ở Việt Nam năm 2014 36
Bảng 1.4: Lao động bình quân của các loại hình trang trại ở Việt Nam năm 2014 37
Bảng 2.1 Kết hợp trong ma trận SWOT cho phát triển KTTT theo hướng bền vững 51
Bảng 3.1 Tình hình sử dụng đất đai của tỉnh Phú Thọ giai đoạn (2010 - 2014) 60
Bảng 3.2 Nhân khẩu và lao động của tỉnh Phú Thọ giai đoạn (2010 - 2014) 63
Bảng 3.3 Tổng sản phẩm của tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2010 - 2014 65
Bảng 3.4: Tình hình phát triển loại hình kinh tế trang trại giai đoạn 2007 - 2014 70
Bảng 3.5: Tình hình cấp giấy chứng nhận kinh tế trang trại giai đoạn 2010 - 2014 71
Bảng 3.6: Các loại hình trang trại được phân bổ theo đơn vị hành chính của tỉnh Phú Thọ năm 2007 - 2014 72
Bảng 3.7: Tình hình sử dụng đất đai của các loại hình trang trại giai đoạn 2007 - 2014 74
Bảng 3.8: Tình hình lao động của các loại hình trang trại giai đoạn 2007 - 2014 75
Bảng 3.9: Giá trị sản xuất của các loại hình trang trại giai đoạn 2007 - 2014 76
Bảng 3.10: Thông tin cơ bản của chủ trang trại năm 2014 77
Bảng 3.11: Tình hình đất đai trong các loại hình trang trại năm 2014 78
Bảng 3.12: Phân loại trang trại theo quy mô sử dụng đất năm 2014 79
Bảng 3.13: Lao động bình quân của các loại hình trại trang năm 2014 80
Bảng 3.14: Loại hình trang trại phân theo quy mô sử dụng lao động năm 2014 81
Bảng 3.15: Tình hình đầu tư vốn của các loại hình trang trại năm 2014 82
Bảng 3.16: Giá trị sản xuất của các loại hình trang trại năm 2014 83
Bảng 3.17: Loại hình trang trại phân theo quy mô giá trị sản xuất bình quân trên trang trại năm 2014 84
Bảng 3.18: Chi phí trung gian của các loại hình trang trại năm 2014 85
Bảng 3.19: Giá trị tăng thêm của các loại hình trang trại năm 2014 86
Bảng 3.20: Tổng chi phí sản xuất của các loại hình trang trại năm 2014 87
Bảng 3.21: Thu nhập hỗn hợp của các loại hình trang trại năm 2014 88
Bảng 3.22: Hiệu quả kinh tế của các loại hình trang trại năm 2014 89
Bảng 3.23 Ý kiến của các chủ trang trại về phát triển kinh tế trang trại 93
Trang 12Bảng 3.24 Đánh giá của chủ trang trại về cơ sở hạ tầng nông nghiệp nông thôn trên
địa bàn tỉnh Phú Thọ năm 2014 94 Bảng 3.25: Mức độ tiếp cận thị trường đầu vào và đầu ra của các loại hình trang trại
ở tỉnh Phú Thọ năm 2014 95 Bảng 3.26: Hình thức tiêu thụ và giá bán sản phẩm của loại hình trang trại ở tỉnh Phú
Thọ năm 2014 96 Bảng 3.27: Mức độ tiếp cận thị trường của các loại hình trang trại năm 2014 97 Bảng 3.28: Kênh tiếp cận thông tin của các loại hình trang trại năm 2014 98 Bảng 3.29: Các yếu tố liên quan đến thị trường đầu ra của loại hình trang trại
năm 2014 99 Bảng 3.30: Những khó khăn khi huy động vốn của kinh tế trang trại 100 Bảng 3.31: Tổng hợp ý kiến ở các cấp về mức độ bảo vệ môi trường của các loại
hình trang trại trên địa bàn tỉnh Phú Thọ 103 Bảng 3.32: Tổng hợp ý kiến ở các cấp về nguyên nhân trang trại chưa thực hiện tốt
việc bảo vệ môi trường 104 Bảng 3.33: Mức độ rủi ro đối với kinh tế trang trại ở tỉnh Phú Thọ 108 Bảng 3.34 : Mô tả các biến được sử dụng trong ước lượng hàm Cobb-Douglass 110 Bảng 3.35: Kết quả ước lượng hàm Cobb-Douglasss các yếu tố ảnh hưởng tới tổng
giá trị sản xuất bình quân 1 trang trại 111 Bảng 3.36: Hiệu suất biên của các yếu tố ảnh hưởng đến tổng giá trị sản xuất bình
quân/trang trại 113 Bảng 3.37: Phân tích SWOT trong phát triển kinh tế trang theo hướng bền vững trên
địa bàn tỉnh Phú Thọ 115 Bảng 4.1: Dự báo về phát triển kinh tế kinh tế trang trại ở tỉnh Phú Thọ đến năm 2020 132
Trang 13DANH MỤC SƠ ĐỒ, HÌNH, BIỂU ĐỒ
Sơ đồ 1.1: Quá trình phát triển của kinh tế nông hộ thành kinh tế trang trại 13
Sơ đồ 1.2: Ba yếu tố cơ bản hình thành và phát triển kinh tế trang trại 14
Sơ đồ 1.3: Tác động của yếu tố chính sách đến kinh tế trang trại 23
Sơ đồ 1.4: Tác động của nền kinh tế thị trường tới kinh tế trang trại 25
Sơ đồ 4.1 Mô hình liên kết giữa các trang trại và các công ty 144
Hình 2.1 Khung phân tích 46
Biểu đồ 3.1: Sự biến động về các loại hình KTTT giai đoạn 2007-2014 71
Biểu đồ 3.2: Cơ cấu trang trại phân theo đơn vị hành chính của tỉnh Phú Thọ năm 2014 73
Biểu đồ 3.3: Hiệu quả kinh tế trên đồng chi phí trung gian của các loại hình KTTT 90
Biểu đồ 3.4: Hiệu quả kinh tế trên đơn vị diện tích của các loại hình KTTT 90
Biểu đồ 3.5: Hiệu quả kinh tế trên lao động của các loại hình KTTT 90
Trang 14MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trang trại (TT) và kinh tế trang trại (KTTT) là một loại hình sản xuất nông nghiệp (SXNN) được hình thành và phát triển trên nền tảng của kinh tế hộ Ở nhiều quốc gia trên thế giới có nền sản xuất nông nghiệp(SXNN) tiên tiến, TT là loại hình
tổ chức sản xuất phổ biến và giữ vai trò quan trọng trong phát triển nông nghiệp
Ở Việt Nam, TT đã hình thành và phát triển từ rất sớm và đã có những đóng góp tích cực cho nền nông nghiệp của nước nhà Đặc biệt kể từ khi Chính phủ có Nghị quyết số 03/2000/NQ-CP ngày 02/2/2000 về KTTT; số lượng TT tăng lên nhanh chóng, năm 2010 có 145.880 TT [9] theo tiêu chí phân loại TT cũ và đến năm
2014 có 29.498 TT theo tiêu chí phân loại TT mới [10] Đặc biệt khi Việt Nam mở rộng cửa, hội nhập ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế thế giới thông qua các Hiệp định thương mại tự do đã có nhiều doanh nghiệp trong nước và nước ngoài quan tâm đến đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp nói chung và TT nói riêng.Nhờ đó hình thức tổ chức sản xuất và cơ cấu thành phần TT cũng ngày càng đa dạng, bức tranh về KTTT
đã được thay đổi rõ rệt và mô hình KTTT đã khẳng định được vị thế của nó trong công cuộc phát triển nông nghiệp, nông thôn của nước nhà
Tuy nhiên, trong quá trình phát triển KTTT đã nảy sinh nhiều vấn đề lý luận
và thực tiễn về nhận thức; về cơ chế chính sách có liên quan đến TT như: chính sách đất đai, lao động, vốn đầu tư, tư cách pháp nhân của TT, quyền lợi và nghĩa vụ của chủ TT trước pháp luật; về tính bền vững trong phát triển của KTTT và đâu là các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển KTTT đang cần được tiếp tục nghiên cứu để KTTT được phát triển ngày càng bền vững
Phú Thọ là một tỉnh nằm ở trung tâm của mười bốn tỉnh vùng Trung du miền núi phía Bắc Việt Nam, có điều kiện tự nhiên tương đối thuận lợi cho việc phát triển nông lâm ngư nghiệp Theo đánh giá của các chuyên gia trong và ngoài lĩnh vực nông nghiệp, điều kiện tự nhiên của tỉnh phù hợp với nhiều loại cây trồng, vật nuôi được thị trường trong và ngoài nước ưa chuộng, có giá trị kinh tế cao, là nền tảng cơ bản để phát triển KTTT với quy mô lớn Vấn đề đặt ra là làm thế nào để khai thác một cách hiệu quả những lợi thế này Trong những năm gần đây, nông nghiệp của tỉnh Phú Thọ đã có những bước tăng trưởng đáng kể, trong đó phải kể đến vai trò của KTTT Ngành nông nghiệp của tỉnh đã và đang từng bước khẳng định vai trò của mình trong việc xây dựng nông thôn mới của tỉnh Mặc dù vậy, KTTT tỉnh Phú Thọ phát triển chưa tương xứng với tiềm năng và thế mạnh vốn có của mô hình tổ chức sản xuất này Nhìn chung các TT của tỉnh Phú Thọ đều phát triển mang tính tự phát, chưa theo quy hoạch và cũng chưa chú trọng đến việc sử dụng hiệu quả tối đa
Trang 15các nguồn tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường, do vậy chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển KTTT theo hướng bền vững và chưa đóng góp nhiều cho nền
kinh tế của tỉnh Phú Thọ Xuất phát từ thực tiễn đó tác giả chọn vấn đề “Phát
triển kinh tế trang trại theo hướng bền vững trên địa bàn tỉnh Phú Thọ” làm đề
tài luận án tiến sỹ của mình với mong muốn góp phần thúc đẩy phát triển KTTT của tỉnh Phú Thọ theo hướng bền vững
2 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu chung
Phân tích, đánh giá thực trạng phát triển KTTT theo hướng bền vững trên địa bàn tỉnh Phú Thọ từ đó đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm thúc đẩy phát triển KTTT theo hướng bền vững phù hợp với điều kiện thực tiễn ở tỉnh Phú Thọ trong thời điểm hiện tại và tương lai
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
- Các vấn đề về lý luận và thực tiễn liên quan đến phát triển KTTT theo hướng bền vững
- Các chỉ tiêu biểu hiện thực trạng phát triển KTTT của tỉnh Phú Thọ
- Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển KTTT trên địa bàn tỉnh Phú Thọ
- Các giải pháp thúc đẩy phát triển KTTT theo hướng bền vững trên địa bàn tỉnh Phú Thọ
3.2 Phạm vi nghiên cứu của luận án
* Phạm vi về không gian: Đề tài được nghiên cứu trên địa bàn tỉnh Phú Thọ
* Phạm vi thời gian:
- Số liệu thứ cấp của đề tài: Từ năm 2007 đến năm 2014
Trang 16- Số liệu sơ cấp của đề tài được thu thập vào năm 2014
- Các giải pháp luận án đề xuất thúc đẩy phát triển KTTT theo hướng bền vững trên địa bàn tỉnh Phú Thọ đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030
* Phạm vi về nội dung: Luận án tập trung nghiên cứu một số nội dung sau đây:
- Hệ thống hoá các vấn đề về lý luận và thực tiễn về phát triển KTTT theo hướng bền vững
- Nghiên cứu kinh nghiệm phát triển KTTT theo hướng bền vững của các nước và các địa phương để rút ra bài học kinh nghiệm cho phát triển KTTT theo hướng bền vững trên địa bàn tỉnh Phú Thọ
- Nghiên cứu đặc điểm điều kiện tự nhiên,kinh tế - xã hội( KT-XH) của tỉnh Phú Thọ
- Nghiên cứu quy mô, cơ cấu, trình độ và kết quả sản xuất kinh doanh (SXKD) của TT cũng như khả năng tiếp cận thị trường và tiêu thụ sản phẩm của các loại hình TT, từ đó nêu rõ năng lực SXKD của các loại hình TT ở tỉnh Phú Thọ
- Đánh giá về hiệu quả KT-XH và môi trường của các loại hình KTTT của tỉnh Phú Thọ
- Xác định yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển KTTT theo hướng bền vững
- Đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển KTTT theo hướng bền vững trên địa bàn tỉnh Phú Thọ đến năm 2020 và tầm nhìn 2030
4 Những đóng góp mới và ý nghĩa của luận án
4.1 Đóng góp về lý luận
Luận án góp phần hệ thống hóa và làm rõ hơn những vấn đề về cơ sở lý luận
và thực tiễn về phát triển KTTT theo hướng bền vững, rút ra những bài học kinh nghiệm để vận dụng một cách phù hợp vào thực tiễn phát triển KTTT theo hướng bền vững trên địa bàn tỉnh Phú Thọ
Trang 17- Trên cơ sở nghiên cứu, phân tích thực trạng, đánh giá các yếu tố ảnh hưởng, luận án đã đề xuất các quan điểm, định hướng và những giải pháp nhằm phát triển KTTT theo hướng bền vững trên địa bàn tỉnh Phú Thọ đến năm 2020 và tầm nhìn 2030
4.3 Ý nghĩa của luận án
- Kết quả của đề tài luận án sẽ là tài liệu tham khảo có luận cứ khoa học vững chắc giúp cho các nhà nghiên cứu, các nhà hoạch định chính sách, các chủ TT, các doanh nghiệp kinh doanh hàng nông sản và những người quan tâm đến KTTT tỉnh Phú Thọ
- Luận án còn là nguồn tài liệu tham khảo bổ ích trong giảng dạy tại các trường chuyên nghiệp và là tài liệu tham khảo của các sinh viên, học viên và các nghiên cứu sinh về KTTT
5 Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến phát triển kinh tế trang trại theo hướng bền vững
5.1 Nghiên cứu ở nước ngoài
KTTT phát triển từ rất lâu đời và có rất nhiều các công trình nghiên cứu vì
KTTT có vai trò hết sức quan trọng trong sự phát triển ngành nông nghiệp hàng hóa Khái niệm, loại hình và quy mô của TT ở mỗi quốc gia có sự khác nhau Vì vậy trong quá trình phát triển nền kinh tế nông nghiệp hàng hóa, TT luôn là một chủ
đề thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu, quản lý, cả về phương diện lý luận và thực tiễn Đã có rất nhiều tác giả nước ngoài nghiên cứu khá công phu về KTTT, các nghiên cứu tập trung làm rõ sự tồn tại của loại hình TT gia đình trong điều kiện cạnh tranh toàn cầu; mối quan hệ giữa quy mô và năng suất, hiệu quả của TT; mối quan hệ chặt chẽ giữa TT với thị trường
Tác giả Maurice Buckett, trong tác phẩm “Tổ chức quản lý nông trại gia
đình” công bố năm 1993 [87], tác giả đề cập đến những nguyên lý cơ bản trong quá
trình quản lý, điều hành nông trại gia đình theo mô hình sản xuất hàng hóa Nghĩa là quản lý nông trại về cơ bản không khác quản lý một doanh nghiệp, tuy nhiên do đặc thù của sản phẩm trong quá trình sản xuất phụ thuộc khá lớn vào điều kiện tự nhiên
và do sản phẩm nông sản thường nhanh hỏng nên quản lý một nông trại phức tạp hơn rất nhiều so với việc điều hành một doanh nghiệp công nghiệp Vì lẽ đó, tác giả cho rằng, các cơ quan quản lý, các hiệp hội cần đặc biệt chú trọng công tác đào tạo
và tập huấn về kỹ năng quản lý cho chủ TT
Hai tác giả Carter và Michael R, tác phẩm “Sự gắn kết chặt chẽ của mối quan
hệ ngược giữa kích thước TT với năng suất: một hướng phân tích theo kinh nghiệm
Trang 18chủ nghĩa về SXNN” công bố năm 1998 [14]; tác giả Gillian, Daniel O tại hội thảo
hàng năm của Hiệp hội KTTT Mỹ tác phẩm “Kích thước TT, năng suất và hiệu quả
kinh tế: sự khác nhau về hiệu quả dựa trên quy mô TT ở Honduras” công bố năm
1998 [37] Các tác giả cùng quan điểm nghiên cứu giải quyết mối quan hệ giữa quy
mô với năng suất, chất lượng và hiệu quả TT
Khía cạnh phát triển KTTT bền vững cũng được các nhà khoa học trên thế giới nghiên cứu từ đó cho thấy phát triển KTTT gắn với bền vững đang là một yêu cầu bức thiết đặt ra cho mọi quốc gia trên thế giới Muốn KTTT phát triển bền vững (PTBV), cần phải có sự tham gia rộng rãi của các chủ TT vào việc bảo vệ và phát triển vốn rừng, chống sa mạc hóa, duy trì và phát triển sự đa dạng sinh học, … Tiêu
biểu như nghiên cứu của tác giả Goldschmidt và Walter, tác phẩm “Các cộng đồng
cư dân ở vùng San Joaquin Valley: mối quan hệ giữa quy mô TT, việc sử dụng nước
và chất lượng cuộc sống” công bố năm 1978 [38] hay tác giả Netting và Robert
Mcc tác phẩm “TT gia đình và sinh thái học về nông nghiệp bền vững, mạnh mẽ”
công bố năm 2003 [89]
Tác giả Ellis, Frank, tác phẩm “Kinh tế nông nghiệp: Hộ TT và sự phát triển
nông nghiệp” tái bản lần 2, công bố năm 2005 của Trường Đại học Cambrige, tác giả
đã cho thấy sự tất yếu khách quan về phát triển mô hình KTTT từ kinh tế hộ gia đình trong quá trình phát triển nông nghiệp ở các nước trên thế giới [85]
Trong những năm gần đây, tổ chức Nông lương thế giới (FAO) đã có một số công trình nghiên cứu về KTTT Đối với các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam, FAO đã triển khai nhiều dự án nhằm góp phần phát triển KTTT, hỗ trợ nông dân phát triển KTTT theo hướng bền vững kết hợp phát triển TT với xóa đói giảm nghèo ở địa phương
Qua nghiên cứu các công trình của các tác giả về phát triển KTTT theo hướng PTBV ở một số nước ta thấy: một số tác giả đã phân tích, đánh giá thực trạng phát triển KTTT ở một số quốc gia trên thế giới như: số lượng, quy mô và cơ cấu; mô hình
TT và phương thức điều hành sản xuất; vốn, tư liệu sản xuất và nguồn lao động có khác nhau tùy thuộc vào hướng SXKD và thu nhập của các chủ TT; thị trường đầu vào, thị trường đầu ra của các TT Từ đó đúc rút được bài học kinh nghiệm để xác định vị trí, vai trò của KTTT gia đình trong quá trình công nghiệp hóa-hiện đại hóa (CNH-HĐH) nông nghiệp nông thôn; các yếu tố tác động đến sự phát triển KTTT theo hướng bền vững ở Việt Nam nói chung và ở tỉnh Phú Thọ nói riêng
5.2 Nghiên cứu trong nước
KTTT phát triển rất lâu và đã có rất nhiều tác giả nghiên cứu trong nước về
cơ sở lý luận, tình hình phát triển của TT KTTT được phát triển mạnh vào đầu năm
Trang 191990 đến nay, ở nước ta KTTT là chủ đề nghiên cứu của nhiều cơ quan, tổ chức khoa học và được sự chỉ đạo thực tiễn của các nhà khoa học thực sự quan tâm Đã
có rất nhiều cử nhân, thạc sĩ và tiến sĩ nghiên cứu về lĩnh này, nhiều nhà xuất bản, tạp chí đã đăng tải nhiều công trình nghiên cứu của các tác giả về lĩnh vực KTTT như: Trần Đức (1995, 1997, 1998); Phạm Minh Đức (1997) cùng cộng sự; Nguyễn Điền (1993, 1997, 1999, 2001) Nguyễn Đình Hương (2000); Lê Trọng (2000); Lê Văn Thăng (2006); Phạm Văn Khôi (2010) cùng cộng sự, TS Bùi Đình Hòa (2012) … Ngoài ra còn có rất nhiều luận văn và luận án nghiên cứu khác Sau đây tác giả xin trình bày những nét chính của các luận án cùng nghiên cứu về TT như sau:
- Tạ Thị Yến (2003), “Các giải pháp tài chính để phát triển KTTT Việt
Nam” Luận án tiến sĩ, Học viện tài chính, Hà Nội [84]; Tác giả Nguyễn Thị Tằm
(2006), “Các giải pháp tín dụng ngân hàng nhằm phát triển KTTT trên địa bàn Tây
Nguyên”, Luận án tiến sĩ Học viện chính trị - Hành chính quốc gia HCM [70] Tất
cả các công trình nghiên cứu tập trung phân tích thực trạng phát triển KTTT ở các vùng, địa phương khác nhau trong cả nước Tiến hành phân tích một cách công phu,
cụ thể tình hình phát triển KTTT trên tất cả các lĩnh vực từ các yếu tố SX, kết quả SXKD nhất là các phân tích đã có sự so sánh với các hộ gia đình nông dân trên cùng địa bàn Từ đó các nghiên cứu đã chỉ ra hàng loạt các vấn đề phát sinh cần phải giải quyết từ nhận thức đến thái độ đối với TT như trình độ của chủ TT, chất lượng hiệu quả và khả năng SXKD… các tác giả đều sử dụng phương pháp phân tích luận giải
để đánh giá thực trạng hình thành và phát triển KTTT, từ đó đưa ra được những nhận định về xu hướng phát triển cũng như đề xuất các giải pháp chung, giải pháp cụ thể, giải pháp ở tầm vĩ mô, tầm vi mô nhằm phát triển KTTT
- Phạm Luận Bằng (2007), “Phát triển KTTT và vai trò của nó đối với xây
dựng tiềm lực quốc phòng ở các tỉnh Trung du Miền núi phía Bắc nước ta hiện nay”, Luận án tiến sĩ, Học viện Chính trị quân sự [3] Tác giả đã phân tích kĩ 4 vai
trò phát triển KTTT đối với xây dựng tiềm năng quốc phòng ở nước ta, đó là: 1) Góp phần tăng cường các nguồn lực của tiềm lực kinh tế trong khu vực nông nghiệp nông thôn; 2) Phát triển KTTT là bước tiến mới về quan hệ sản xuất trong nông nghiệp nông thôn, là cơ sở quan trọng nâng cao tiềm lực chính trị - tinh thần cho nền quốc phòng toàn dân; 3) Phát triển KTTT góp phần thúc đẩy nghiên cứu ứng dụng Khoa học công nghệ (KH-CN) của đất nước; 4) Phát triển KTTT góp phần to lớn vào việc xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn, là yếu tố duy trì, hoàn thiện năng lực chiến đấu của các lực lượng vũ trang
- Đào Hữu Hòa (2009), “Phát triển KTTT vùng Duyên hải Nam Trung Bộ
trong quá trình CNH-HĐH” Luận án tiến sĩ, Học viện chính trị - Hành chính quốc
gia Hồ Chí Minh (HCM) Tác giả cho rằng phát triển KTTT bao gồm 3 nội dung:
Trang 20Phát triển về mặt số lượng; chất lượng; cơ cấu Trên cơ sở đó tác giả đã đưa ra hệ thống các chỉ tiêu đánh giá trình độ phát triển KTTT bao gồm 7 chỉ tiêu, bước đầu kết hợp được 3 nội dung cơ bản của phát triển bền vững( PTBV) Điều nổi bật hơn cả là tác giả đưa ra 7 vấn đề yêu cầu KTTT PTBV cần giải quyết như (Chống đói nghèo,
sử dụng đất bền lâu, bảo vệ rừng xanh và phủ xanh đất trống đồi núi trọc, cuộc chiến chống sa mạc hóa và hạn hán, thúc đẩy phát triển KT-XH miền núi, PTBV nông nghiệp nông thôn, bảo vệ và phát triển sự đa dạng sinh thái (44, tr31-37)
- Một trong những đề tài gần với vấn đề nghiên cứu của luận án và được
hoàn thành trong thời gian gần đây nhất là của tác giả Lê Xuân Lãm (2011), “Phát
triển KTTT tỉnh Gia Lai theo hướng bền vững”, Luận án tiến sĩ kinh tế, Học viện
chính trị - Hành chính quốc gia HCM Với mục tiêu nghiên cứu, đề tài phân tích, luận giải những vấn đề lý luận về phát triển KTTT tỉnh Gia Lai theo hướng bền vững
luận án đã đưa ra khái niệm Phát triển KTTT theo hướng bền vững là “Phát triển
KTTT một cách hiệu quả trong hiện tại nhưng không làm cản trở hay tổn hại đến sự phát triển KTTT trong tương lai; là sự phát triển KTTT không những không làm tổn hại mà còn tác động tích cực đến sự PTBV của từng vùng, địa phương và cả nước xét trên cả 3 mặt: KT-XH và môi trường” từ khái niệm trên tác giả đã phân tích rất kỹ 3
vấn đề để góp phần cho KTTT PTBV [51, tr27] Nội dung của luận án đã phân tích thực trạng KTTT của tỉnh Gia Lai, nhận định những kết quả đạt được và nguyên nhân
để đạt được kết quả đó, tác giả đưa ra được 6 nguyên nhân chính như: “Tỉnh có nhiều
tiềm năng, lợi thế để phát triển mô hình KTTT nhất là tiềm năng về đất đai; năng lực nội tại của TT đã ngày càng phát triển hơn; phát triển mạnh các nhà máy chế biến trên địa bàn; môi trường pháp lý và môi trường kinh tế đã tạo ra những điều kiện thuận lợi; có định hướng chiến lược quy hoạch phát triển vùng nguyên vật liệu nông sản; chính quyền địa phương tích cực vận dụng và phát triển khai thác có hiệu quả các chính sách khuyến khích phát triển KTTT” [51] Đề tài đã đề xuất được những
nhóm giải pháp để thúc đẩy KTTT phát triển theo hướng bền vững
Trên cơ sở tổng hợp các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài “Phát
triển kinh tế trang trại theo hướng bền vững trên địa bàn tỉnh Phú Thọ” bước đầu
có thể rút ra một số kết luận sau đây:
- Chủ đề phát triển KTTT ở Việt Nam được sự quan tâm nghiên cứu của nhiều cơ quan quản lý Nhà nước, nhiều cơ sở nghiên cứu khoa học và bản thân các nhà khoa học Đồng thời một số nghiên cứu sinh và học viên cao học cũng đã lựa chọn chủ đề KTTT làm đề tài nghiên cứu Kết quả nghiên cứu của các công trình nói trên là cơ sở quan trọng cung cấp những luận cứ cho việc hoạch định chủ chương, chính sách của Đảng và Nhà nước đối với phát triển KTTT ở nước ta
Trang 21Đồng thời là những tài liệu quý báu hỗ trợ quan trọng cho các nghiên cứu sinh nói riêng và những người quan tâm nói chung có thể kế thừa
- Các công trình nghiên cứu về KTTT ở các cấp độ khác nhau và ở khắp các vùng, miền trong cả nước Nhìn chung, các công trình nghiên cứu đã nêu ra và đều mong muốn làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn về KTTT để tìm ra hướng đi, đề xuất những giải pháp nhằm tháo gỡ những khó khăn vướng mắc, phát huy vai trò của KTTT trong nền nông nghiệp của nước ta hiện nay Mặc dù vậy, các công trình nghiên cứu vẫn chưa đề cập nhiều đến yếu tố bền vững trong phát triển KTTT, chưa đặt KTTT vào vị trí thỏa đáng trong công cuộc tái cơ cấu ngành nông nghiệp và chương trình xây dựng nông thôn mới của các địa phương
Tất cả các tác giả trên mới chỉ nghiên cứu cơ sở lý luận, đánh giá hiệu quả thực tiễn các hoạt động của TT chủ yếu thông qua số liệu và nhận xét mang tính định tính ở một số vùng, tỉnh khác nhau, song chưa có tác giả nào nghiên cứu về phát triển KTTT theo hướng bền vững ở tỉnh Phú Thọ và nghiên cứu kết hợp giữa phân tích định lượng và định tính, đồng thời đề cập một cách toàn diện tới tác động của tất cả các yếu tố đến phát triển KTTT Những câu hỏi lớn về phát triển KTTT cần được tiếp tục nghiên cứu là: KTTT đang đứng ở đâu trong quá trình phát triển ngành nông nghiệp, nông thôn của nước nhà? Đâu là những nút thắt đã cản trở KTTT phát triển theo hướng bền vững? Để KTTT phát triển tương xứng với tiềm năng sẵn có cần phải thực hiện các giải pháp mang tính đột phá nào?
Đó chính là cơ hội để nghiên cứu sinh thực hiện nghiên cứu đề tài “Phát
triển kinh tế TT theo hướng bền vững trên địa bàn tỉnh Phú Thọ”
Trang 22Chương 1
CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRANG TRẠI THEO HƯỚNG BỀN VỮNG
1.1 Cơ sở lý luận về phát triển kinh tế trang trại theo hướng bền vững
1.1.1 Trang trại và kinh tế trang trại
KTTT ra đời và phát triển từ rất lâu, các chuyên gia về sử học và kinh tế học thế giới đã chứng minh từ thời đế quốc La Mã, các TT đã hình thành, trong đó lực lượng sản xuất chủ yếu là các nô lệ, ở Trung Quốc TT có từ đời nhà Đường TT trên thế giới bắt đầu phát triển mạnh khi chế độ tư bản chủ nghĩa ra đời [41] Ở Việt Nam TT đã xuất hiện nhiều thế kỷ, trong thời kỳ lịch sử của đất nước, quá trình hình thành và phát triển của TT cũng có sự khác nhau TT thực sự phát triển là sau khi thực hiện Nghị quyết 10 của Bộ chính trị (1988), Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều nghị quyết, Luật Đất đai, Luật dân sự, Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư
và các Nghị định nhằm thể chế hoá chính sách đối với kinh tế tư nhân trong nông nghiệp, cho đến năm 2000 Chính phủ ban hành nghị quyết 03/2000/NQ - CP ngày 02/02/2000 về KTTT đã nhấn mạnh chủ trương của Chính phủ trong việc phát triển KTTT tạo hành lang pháp lý cho loại hình KTTT phát huy năng lực SXKD thông qua các chính sách ưu đãi về nhiều mặt đối với KTTT Mặt khác, hình thành các tiêu chí KTTT nhằm tạo điều kiện quản lý, hỗ trợ và khuyến khích phát triển KTTT trong nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước Các tiêu chí thực hiện lần lượt theo các thông tư sau: Thông tư Liên tịch số 69/2000/TTLT-BNN-TCTK ngày 23/6/2000 của Bộ NN&PTNT và Tổng cục Thống kê hướng dẫn tiêu chí để xác định KTTT; Thông tư Số 74/2003/TT-BNN, ngày 04 tháng 07 năm 2003 của Bộ NN&PTNT sửa đổi, bổ sung Mục III của Thông tư liên tịch 69/2000/TTLT/BNN-TCTK và hiện tiêu chí TT đang thực hiện theo Thông tư số 27/2011/TT-BNNPTNT ngày 13 tháng 4 năm 2011 của Bộ Nông nghiệp Phát triển Nông thôn
1.1.1.1 Khái niệm trang trại và kinh tế trang trại
a Khái niệm trang trại
Để biểu đạt loại hình TT, các nước đều có ngôn từ dùng để chỉ các hình thức
tổ chức sản xuất tập trung (Farm, Farm stedd, Farm house (Anh); Ferme (Pháp);
Oepma…) khi chuyển sang tiếng Việt dịch là TT hay nông trại [39]
- Theo PGS-TS Lê Trọng: “TT là cơ sở, là doanh nghiệp kinh doanh nông
nghiệp của một hoặc một số nhóm nhà kinh doanh” [75] Qua đó “TT” là thuật ngữ
Trang 23dùng để mô tả, chỉ tên và gắn liền với hình thức SXNN tập trung trên một diện tích
đủ lớn, với quy mô hộ gia đình là chủ yếu, trong điều kiện sản xuất hàng hoá của nền kinh tế thị trường
- Trần Đức (1995) cho rằng: “TT là chủ lực của tổ chức làm nông nghiệp ở
các nước tư bản cũng như các nước đang phát triển và theo các nhà khoa học khẳng định đó là tổ chức SXKD của nhiều nước trên thế giới trong thế kỷ 21” [34]
- Theo tác giả Phạm Minh Đức (1997): “TT là một loại hình SXNN hàng hoá
của hộ, do một người chủ hộ có khả năng đón nhận những cơ hội thuận lợi, từ đó huy động thêm vốn, lao động, trang bị tư liệu sản xuất, lựa chọn công nghệ sản xuất thích hợp, tiến hành tổ chức sản xuất và kinh doanh dịch vụ những sản phẩm theo yêu cầu thị trường nhằm thu lợi nhuận cao” [35]
- Nguyễn Thế Nhã (1999): “TT là một loại hình tổ chức sản xuất cơ sở trong
nông, lâm, thuỷ sản có mục đích chính là sản xuất hàng hoá, có tư liệu sản xuất thuộc quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng của một chủ độc lập, sản xuất được tiến hành trên quy mô ruộng đất và các yếu tố sản xuất tiến bộ và trình độ kỹ thuật cao, hoạt động tự chủ và luôn gắn với thị trường” [55]
- Nguyễn Phượng Vỹ (1999): “TT là một hình thức tổ chức kinh tế
nông-lâm-ngư nghiệp, phổ biến được hình thành trên cơ sở kinh tế hộ, nhưng mang tính sản xuất hàng hoá” [83]
Các quan khái niệm trên xem xét TT ở nhiều khía cạnh khác nhau, nhưng tựu chung đều thống nhất cho rằng: TT là một hình thức tổ chức sản xuất hàng hóa, trong đó: người đầu tư vào TT với mục đích sản xuất hàng hoá để cung ứng cho thị trường với quy mô mức độ tập trung các yếu tố sản xuất (đất đai, vốn, trình độ kỹ thuật sản xuất, năng lực quản lý điều hành) tương đối lớn hơn so với các hình thức
tổ chức sản xuất thông thường của các hộ nông dân Như vậy có thể khái quát khái
niệm TT như sau: “TT là loại hình cơ sở SXKD nông-lâm-ngư nghiệp theo hướng
sản xuất hàng hóa của các hộ gia đình nông dân, hình thành và phát triển chủ yếu trong điều kiện kinh tế thị trường với quy mô lớn” là phù hợp hơn cả Trong thực tế
nói đến phát triển TT và phát triển kinh tế TT theo nghĩa đồng nhất Tuy nhiên, về mặt thuật ngữ đây là hai khái niệm không hoàn toàn đồng nhất Như trên đã nêu, nói
TT là nhấn mạnh đến hình thức tổ chức sản xuất, còn nói KTTT là nhấn mạnh đến loại hình kinh tế
b Khái niệm kinh tế trang trại
- Theo Lê Trọng (2000): “KTTT là hình thức tổ chức kinh tế cơ sở, là doanh
nghiệp trực tiếp tổ chức sản xuất ra nông sản hàng hoá dựa trên cơ sở hợp tác và
Trang 24phân công lao động xã hội, được chủ TT đầu tư vốn, thuê mướn phần lớn hoặc hầu hết sức lao động và trang bị tư liệu sản xuất để hoạt động kinh doanh theo yêu cầu của nền kinh tế thị trường, được Nhà nước bảo hộ theo luật định” [75tr112]
- Theo Nghị quyết 03/2000/NQ-CP ngày 02/02/2000 của Chính phủ về
KTTT: “KTTT là hình thức tổ chức sản xuất hàng hoá trong nông nghiệp nông
thôn, chủ yếu dựa vào hộ gia đình nhằm mở rộng quy mô và nâng cao hiệu quả sản xuất trong lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản, trồng rừng, gắn sản xuất với chế biến và tiêu thụ nông, lâm, thủy sản Có quy mô đất đai, vốn, lao động, thu nhập tương đối cao hơn mức trung bình của kinh tế hộ gia đình tại địa phương, tương ứng với từng ngành nghề cụ thể” [21]
Theo một số tác giả khác có cùng chung một quan điểm đó là “KTTT là một
loại hình kinh tế sản xuất hàng hoá phát triển trên cơ sở kinh tế hộ nhưng ở quy mô lớn hơn, được đầu tư nhiều hơn về cả vốn và kỹ thuật, có thể thuê mướn nhân công
để sản xuất ra một hoặc vài loại sản phẩm hàng hoá từ nông nghiệp với khối lượng lớn cho thị trường”
Xuất phát từ các khái niệm và quan điểm trên theo tôi, ta có thể hiểu về
KTTT như sau: “KTTT là một hình thức tổ chức kinh tế SXKD hàng hóa về nông -
lâm - ngư nghiệp được hình thành trên cơ sở kinh tế hộ, có sự tập trung cao về các yếu tố sản xuất, có nhu cầu lớn về thị trường và khoa học công nghệ, có giá trị sản phẩm hàng hoá và thu nhập cao hơn so với mức bình quân của hộ gia đình trong vùng Cách thức tổ chức quản lý tiến bộ và trình độ kỹ thuật cao”
1.1.1.2 Vai trò của kinh tế trang trại
Phát triển KTTT ở nhiều nước trên thế giới và nước ta trong những năm gần đây cho thấy vai trò quan trọng của KTTT trong quá trình phát triển kinh tế thị trường nói chung và hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn nói riêng Phát triển KTTT một cách tất yếu, cũng có nhu cầu về hợp tác cả về chiều rộng và chiều sâu,
cả về chiều ngang lẫn chiều dọc Nó cũng cần có cả một hệ thống chính sách, biện pháp ở tầm quản lí vĩ mô, đóng vai trò là bà đỡ, tạo môi trường thuận lợi cho sự phát triển nhanh chóng, lành mạnh theo hướng chuyên môn hoá, hợp tác hoá, để trở thành nền nông nghiệp sản xuất lớn đủ sức, là cơ sở nông nghiệp cho quá trình CNH-HĐH Điều quan trọng hơn nữa của KTTT đã thể hiện rõ nét cả về mặt kinh
tế cũng như về mặt xã hội và môi trường, đặc biệt là khai thác tiềm năng về đất đai, lao động, vốn Trong quá trình phát triển kinh tế thị trường, vai trò của KTTT thể hiện ở một số nội dung cơ bản sau đây:
Trang 25- Về mặt kinh tế: TT góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển các loại
cây trồng và vật nuôi có giá trị hàng hoá cao, khắc phục dần tình trạng sản xuất phân tán, manh mún, tạo nên những vùng chuyên môn hoá, tập trung hàng hoá và thâm canh cao Mặt khác thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy phát triển công nghiệp, đặc biệt là công nghiệp chế biến và dịch vụ sản xuất ở nông thôn Thực tế cho thấy việc phát triển KTTT ở những nơi có điều kiện bao giờ cũng đi liền với việc khai thác và sử dụng một cách đầy đủ và hiệu quả các nguồn lực trong nông nghiệp, nông thôn so với kinh tế nông hộ Do vậy, phát triển KTTT sẽ góp phần tích cực thúc đẩy phát triển kinh tế của nông nghiệp và nông thôn
- Về mặt xã hội: Phát triển KTTT giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập cho
nông dân, góp phần xoá đói giảm nghèo Mặt khác, phát triển KTTT còn góp phần thúc đẩy phát triển kết cấu hạ tầng trong nông thôn và tạo tấm gương tốt cho các hộ nông dân sở tại và vùng lân cận về cách tổ chức và quản lý SXKD Do đó, phát triển KTTT góp phần tích cực vào việc giải quyết các vấn đề xã hội và đổi mới bộ mặt nông thôn
- Về mặt môi trường: Do SXKD mang tính tự chủ và lợi ích thiết thực, lâu dài
của mình cho nên các chủ TT luôn có ý thức khai thác hợp lý và quan tâm bảo vệ môi trường, trước hết là trong phạm vi không gian sinh thái TT đến phạm vi từng vùng Tại các tỉnh trung du Miền núi thì TT đã góp phần quan trọng vào việc trồng rừng, bảo vệ rừng, phủ xanh đất trống đồi trọc và sử dụng hiệu quả tài nguyên đất đai, những việc làm này đã góp phần tích cực cải tạo và bảo vệ môi trường sinh thái trên các vùng, miền trong cả nước
1.1.1.3 Đặc trưng của kinh tế trang trại
Theo Nghị quyết 03/2000/NQ-CP, KTTT có các đặc trưng sau [21]
- Thứ nhất, mục đích chủ yếu của KTTT là sản xuất nông, lâm, thủy sản hàng
hoá với quy mô lớn
- Thứ hai, mức độ tập trung chuyên môn hoá các điều kiện và yếu tố sản xuất
cao hơn so với sản xuất nông hộ, thể hiện ở quy mô sản xuất như đất đai, qui mô đàn gia súc gia cầm, lao động, giá trị nông, lâm, thủy sản hàng hoá
- Thứ ba, Chủ TT có ý thức làm giàu, có nghị lực và quyết tâm làm giàu cho
bản thân, gia đình và xã hội Nhìn chung, chủ TT là người có năng lực và kinh nghiệm tổ chức, quản lý điều hành sản xuất, biết áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật (KHKT), tiếp nhận chuyển giao công nghệ mới vào sản xuất, sử dụng lao động gia đình và thuê lao động bên ngoài sản xuất có hiệu quả cao, có thu nhập vượt trội so với kinh tế hộ
Quy mô sản xuất hàng hoá được thể hiện qua tỷ suất hàng hoá, là đặc trưng cơ bản nhất của KTTT KTTT thực hiện hoạt động sản xuất với quy mô lớn nhờ sự tập
Trang 26trung cao hơn so với mức bình quân chung của kinh tế hộ ở từng vùng về các nguồn lực và điều kiện sản xuất Quy mô của KTTT lớn hơn nhiều so với mức bình quân của kinh tế hộ không chỉ được thể hiện bằng quy mô của các yếu tố đầu vào (đất đai, lao động, vốn…) mà cả quy mô về thu nhập vv Vì mục đích sản xuất KTTT là sản xuất hàng hoá với quy mô lớn nên thường phát triển sản xuất theo hướng chuyên môn hoá hoặc chuyên môn hoá kết hợp với phát triển tổng hợp nhằm tận dụng tối đa ưu thế của vùng và tránh rủi ro Nhu cầu và khả năng áp dụng các thành tựu của KHKT vào sản xuất của KTTT lớn hơn các nông hộ nhằm đảm bảo khả năng cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường và hiệu quả thu được ngày càng cao hơn
Một số tác giả cho rằng, sở hữu tài sản gia đình và quản lý điều hành trực tiếp cũng là một đặc điểm chung của KTTT, những đặc điểm này phần nào phù hợp với mô hình KTTT hiện nay của Việt Nam Nhưng qua nghiên cứu cho thấy vẫn có những chủ
TT hoàn toàn không có tư liệu sản xuất mà phải đi thuê toàn bộ cơ sở vật chất của một
TT để sản xuất, từ đất đai, mặt nước đến máy móc, thiết bị… ngoài các chủ TT trực tiếp điều hành hoạt động SXKD nhưng trong thực tế có nhiều chủ TT sống một nơi nhưng lại thuê hoặc uỷ thác cho người quản lý điều hành TT ở một nơi khác Vì vậy, không nên coi hình thức sở hữu tài sản gia đình và quản lý điều hành trực tiếp của chủ
TT là đặc điểm chung của KTTT
Những đặc trưng trên cho thấy kinh tế TT khác với loại hình kinh tế hộ nông dân tự cấp, tự túc
1.1.1.4 Quá trình hình thành kinh tế trang trại
KTTT hình thành và phát triển được quyết định bởi ba yếu tố cơ bản như sau:
- Kinh tế nông hộ là điều kiện tiền đề cho sự hình thành KTTT
+ Yếu tố kinh tế nông hộ Cùng với quá trình phát triển của nền KTTT, kinh
tế nông hộ ngày càng phát triển Quá trình tích tụ và tập trung ruộng đất, vốn, lao động, tri thức khoa học kỹ thuật đến một quy mô nhất định sẽ hình thành KTTT
Sơ đồ 1.1: Quá trình phát triển của kinh tế nông hộ thành kinh tế trang trại
Kinh tế Trang trại
Bước đầu KTTT vẫn bị chi phối từ kinh tế
nông hộ
- Sản xuất dựa vào kinh nghiệm
- Tư tưởng sản xuất nhỏ
- Hạn chế về kiến thức KHKT, kinh nghiệm thương trường
- Thiếu vốn và lao động
Trang 27- Cơ chế chính sách chung của Nhà nước tạo ra định hướng và môi trường cho sự tồn tại và phát triển của KTTT
- Kinh tế thị trường là điều kiện có tính chất quyết định cho sự hình thành và phát triển KTTT, nó là động lực thúc đẩy sự phát triển nhanh chóng của KTTT Chúng ta có thể hình dung ba yếu tố cơ bản cho sự hình thành và phát triển KTTT qua sơ đồ
Chính sách chung
- Xác định địa vị pháp lý
- Tạo môi trường thuận lợi
Sản xuất hàng hoá Tính phù hợp của KTTT với kinh tế thị trường
KTTT sản xuất hàng hoá
Kinh tế thị trường Sản xuất hàng hoá
Các quy luật kinh tế Kinh tế nông hộ
Tập trung ruộng đất
và các yếu tố khác
- Kinh tế nông hộ là tiền đề vật chất ban đầu
- Kinh tế TT đã thoát khỏi vỏ bọc kinh tế hộ nhưng bước đầu vẫn bị ảnh hưởng bởi tư tưởng
1.1.2.1 Khái niệm về phát triển
Phát triển là phạm trù triết học chỉ ra tính chất của những biến đổi đang diễn
ra trong thế giới: phát triển là một thuộc tính phổ biến của vật chất Mọi sự vật và hiện tượng của hiện thực khách quan không tồn tại trong trạng thái bất biến mà trải qua một loạt các trạng thái từ khi xuất hiện đến lúc tiêu vong Phạm trù phát triển một tính chất chung của tất cả những biến đổi ấy Điều đó có nghĩa là bất kỳ một sự vật, một hiện tượng trong một hệ thống nào, cũng như cả thế giới nói chung không đơn giản chỉ có biến đổi, mà luôn luôn chuyển sang những trạng thái mới, tức là những trạng thái trước đây chưa từng có và không bao giờ lặp lại hoàn toàn chính xác những trạng thái đã có, bởi vì trạng thái của bất kỳ sự vật hay hiện nào cũng đều được quyết định không chỉ bởi các mối liên hệ bên trong, mà còn bởi các mối liên
Trang 28hệ bên ngoài Nguồn gốc của phát triển là chuyển hóa những thay đổi về lượng thành những thay đổi về chất Chiều hướng phát triển là sự vận động xoáy trôn ốc
Trong thời đại ngày nay có nhiều quan niệm khác nhau về phát triển Theo
Raaman Weitz cho rằng "Phát triển là một quá trình thay đổi liên tục làm tăng
trưởng mức sống của con người và phân phối công bằng những thành quả tăng trưởng trong xã hội" [56] Theo Lưu Đức Hải cho rằng “Phát triển là một quá trình tăng trưởng bao gồm nhiều yếu tố cấu thành khác nhau như kinh tế, chính trị, kỹ thuật, văn hóa…”[40] Còn theo Ngân hàng thế giới (WB) cho rằng: “Phát triển bao gồm cả những thuộc tính quan trọng có liên quan đến hệ thống giá trị của con người, đó là sự bình đẳng hơn về cơ hội, sự tự do về chính trị, quyền tự do về công dân để củng cố niềm tin trong cuộc sống của con người trong mối quan hệ với cộng đồng, với Nhà nước… Phát triển là nâng cao các tiêu chuẩn của cuộc sống, hạnh phúc của nhân dân, cải thiện sức khoẻ, giáo dục, bình đẳng về cơ hội… tất cả những điều đó là phần cốt yếu của sự phát triển” [50]
Nhìn chung các ý kiến đều nhất trí cho rằng mục tiêu chung của phát triển
là nâng cao các quyền lợi về kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội và quyền tự do
của con người Do vậy khái niệm phát triển được khái quát như sau: “Phát triển là
sự thay đổi theo hướng tích cực về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, môi trường đảm bảo quyền lợi của con người”
1.1.2.2 Khái niệm về phát triển bền vững
Phát triển bền vững (PTBV) được xuất hiện trong phong trào bảo vệ môi trường từ những năm đầu của thập niên 70 của thế kỷ 20 Năm 1987 Báo cáo
"Tương lai chung của chúng ta" của Hội đồng Thế giới về Môi trường và Phát triển (WCED) của Liên hợp quốc, "PTBV" được định nghĩa "là sự phát triển đáp ứng
được những yêu cầu của hiện tại, nhưng không gây trở ngại cho việc đáp ứng nhu cầu của các thế hệ mai sau"[43, tr16]
PTBV là nhu cầu cấp bách và xu thế tất yếu trong tiến trình phát triển của xã hội loài người Vì vậy, đã được các quốc gia trên thế giới đồng thuận xây dựng thành chương trình nghị sự cho từng thời kỳ phát triển của lịch sử Tại Hội nghị Thượng đỉnh trái đất về Môi trường và phát triển được tổ chức năm 1992 ở Rio de Janeiro (Braxin), 179 nước tham gia Hội nghị đã thông qua tuyên bố Rio de Janeiro
về môi trường và phát triển bao gồm 27 nguyên tắc cơ bản và chương trình nghị sự
21 về các giải pháp PTBV chung cho toàn thế giới trong thế kỷ 21 Mười năm sau, tại Hội nghị Thượng đỉnh thế giới về PTBV tổ chức năm 2002 ở Johannesburg (Cộng hoà Nam Phi), 166 nước tham gia Hội nghị đã thông qua bản tuyên bố
Trang 29Johannesburg và bản kế hoạch thực hiện về PTBV Hội nghị đã khẳng định lại các nguyên tắc đã đề ra trước đây và tiếp tục cam kết thực hiện đầy đủ chương trình nghị sự 21 về PTBV [43]
Từ sau Hội nghị Thượng đỉnh trái đất về môi trường và phát triển được tổ chức tại Rio de Janeiro (Braxin) năm 1992 đến nay đã có 113 nước trên thế giới xây dựng và thực hiện chương trình Nghị sự 21 về PTBV cấp quốc gia và 6.416 Chương trình Nghị sự 21 cấp địa phương, đồng thời tại các nước này đều đã thành lập các cơ quan độc lập để triển khai thực hiện chương trình này Các nước trong khu vực như Trung Quốc, Thái Lan, Singapore, Malaysia đều đã xây dựng và thực hiện chương trình Nghị sự 21 về PTBV [43]
Để thực hiện mục tiêu PTBV đất nước như Nghị quyết của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã đề ra và thực hiện cam kết quốc tế, Chính phủ Việt Nam
ban hành "Định hướng chiến lược PTBV ở Việt Nam" (Chương trình Nghị sự 21 của
Việt Nam) [47]
Mục tiêu tổng quát của PTBV là đạt được sự đầy đủ về vật chất, sự giàu có về tinh thần và văn hóa, sự bình đẳng của các công dân và sự đồng thuận của xã hội, sự hài hòa giữa con người và tự nhiên; phát triển phải kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hoà
được ba mặt là phát triển kinh tế, phát triển xã hội và bảo vệ môi trường Gồm: phát
triển kinh tế (nền tảng là tăng trưởng kinh tế), phát triển xã hội (mục tiêu là thực hiện
tiến bộ, công bằng xã hội; xoá đói giảm nghèo và giải quyết việc làm) và bảo vệ môi
trường (mục tiêu là xử lý, khắc phục ô nhiễm, phục hồi và cải thiện chất lượng môi
trường; phòng chống cháy và chặt phá rừng; khai thác hợp lý và sử dụng tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên) Tiêu chí để đánh giá sự PTBV là sự tăng trưởng kinh tế ổn định; thực hiện tốt tiến bộ và công bằng xã hội; khai thác hợp lý, sử dụng tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ và nâng cao được chất lượng môi trường sống
Mục tiêu PTBV được thể hiện ở ba mặt sau:
1) Kinh tế: là đạt được sự tăng trưởng ổn định với cơ cấu kinh tế hợp lý, đáp
ứng được yêu cầu nâng cao đời sống của nhân dân, tránh được sự suy thoái hoặc đình trệ trong tương lai, tránh để lại gánh nặng nợ nần lớn cho các thế hệ mai sau
2) Xã hội: là đạt được kết quả cao trong việc thực hiện tiến bộ và công bằng xã
hội; chăm lo đời sống vật chất và tinh thần cho người dân; duy trì và phát huy được tính đa dạng bản sắc văn hoá dân tộc nhưng không ngừng nâng cao trình độ văn minh
3) Môi trường: là khai thác hợp lý, sử dụng tiết kiệm và có hiệu quả tài nguyên
thiên nhiên; phòng ngừa, ngăn chặn, xử lý và kiểm soát có hiệu quả ô nhiễm môi trường; khắc phục suy thoái và cải thiện chất lượng môi trường
Trang 30Để đạt được mục tiêu nêu trên, trong quá trình phát triển KTTT theo hướng bền vững chúng ta cần thực hiện những nguyên tắc chính sau đây:
Thứ nhất: con người là trung tâm của PTBV
Thứ hai: coi phát triển KTTT theo hướng bền vững là nhiệm vụ trọng tâm
của giai đoạn phát triển sắp tới đồng thời từng bước thực hiện nguyên tắc "mọi mặt
kinh tế, xã hội và môi trường đều cùng có lợi"
Thứ ba: bảo vệ và cải thiện chất lượng môi trường phải được coi là một yếu
tố không thể tách rời của quá trình phát triển KTTT
Thứ tư: quá trình phát triển KTTT phải bảo đảm đáp ứng một cách công bằng
nhu cầu của thế hệ hiện tại và không gây trở ngại tới cuộc sống của các thế hệ tương lai
Thứ năm: KH-CN là nền tảng và là động lực cho CNH-HĐH thúc đẩy KTTT
phát triển nhanh, mạnh và bền vững
Thứ sáu: PTBV là sự nghiệp của toàn Đảng, các cấp chính quyền, các bộ,
ngành và địa phương; của các cơ quan, doanh nghiệp, đoàn thể xã hội, các cộng đồng dân cư và mọi người dân
Thứ bảy: gắn chặt việc xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ với chủ động hội
nhập kinh tế quốc tế để phát triển KTTT theo hướng bền vững
Thứ tám: kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế, phát triển xã hội và bảo vệ
môi trường với bảo đảm quốc phòng, an ninh và trật tự an toàn xã hội
1.1.2.3 Khái niệm về phát triển kinh tế trang trại
KTTT là tổng thể các yếu tố vật chất của TT và những mối quan hệ kinh tế nảy sinh trong quá trình hoạt động SXKD của TT Như vậy có thể hiểu phát triển KTTT là quá trình tăng cường các yếu tố vật chất của TT cả về mặt số lượng và chất lượng, đồng thời giải quyết hài hoà hơn các mối quan hệ kinh tế trong quá trình hoạt động SXKD của TT Phát triển KTTT phải được đặt trong mối quan hệ hài hoà giữa
ba yếu tố kinh tế, xã hội và môi trường là cơ sở bảo đảm cho sự PTBV của KTTT
Như vậy có thể nói “Phát triển KTTT là một quá trình lớn lên về mọi mặt của
KTTT trong một thời kỳ nhất định Trong đó bao gồm cả sự tăng thêm về quy mô và sự thay đổi về cơ cấu kinh tế theo hướng tích cực của TT”
1.1.2.4 Khái niệm phát triển kinh tế trang trại theo hướng bền vững
Khái niệm phát triển KTTT theo hướng bền vững được hiểu trên cơ sở khái niệm PTBV như sau:
Trang 31“Phát triển KTTT theo hướng bền vững là phát triển KTTT một cách hiệu quả trong hiện tại nhưng không làm cản trở hay tổn hại đến sự phát triển KTTT trong tương lai; sự phát triển KTTT không làm tổn hại mà còn có tác động tích cực đến sự PTBV của từng vùng, từng địa phương và cả nước, xét trên 3 mặt như: kinh
tế - xã hội - môi trường”
Phân tích 3 mặt của vấn đề phát triển KTTT theo hướng bền vững như sau:
1) Mặt kinh tế: phát triển KTTT theo hướng bền vững về mặt kinh tế chính là
không ngừng làm gia tăng năng lực SXKD của KTTT được thể hiện thông qua các nội dung sau:
- Số lượng TT của địa phương không ngừng tăng lên qua các năm
- Quy mô các yếu tố nguồn lực SXKD không ngừng tăng lên như: (đất đai, lao động, vốn đầu tư, KH-CN, nguồn nước) tất cả được kết hợp một cách khoa học, hợp lý, hài hòa và hiệu quả
- Nâng cao sự liên doanh liên kết 4 nhà (TT với Nhà nước; TT với nhà khoa học; TT với doanh nghiệp; TT với TT) tạo ra chuỗi giá trị hàng hóa hạn chế được
sự biến động về giá thị trường và góp phần vào ứng phó với sự biến đổi khí hậu
Đó chính là cơ sở để đảm bảo cho sản lượng hàng hóa, giá trị sản xuất (GTSX) trong TT được tăng lên, đóng góp tích cực vào tăng trưởng bền vững của ngành nông nghiệp nói riêng cũng như toàn bộ nền kinh tế nói chung
2) Mặt xã hội: Phát triển KTTT theo hướng bền vững về mặt xã hội là trong
quá trình thực hiện và phát triển thì phải giải quyết tốt mối quan hệ sở hữu và quan
hệ lao động như mối quan hệ giữa chủ TT và người lao động làm thuê; mối quan hệ giữa chủ TT với Nhà nước như người chủ TT làm tốt nghĩa vụ của mình với Nhà nước và cũng được hưởng những chính sách, lợi ích mà Nhà nước đưa ra; chủ TT xây dựng được mối quan hệ tốt giữa chủ TT với doanh nghiệp cung ứng đầu vào và chế biến tiêu thụ đầu ra Mục đích phát triển KTTT tạo công ăn việc làm cải thiện đời sống của người dân và xóa đói giảm nghèo cho người lao động ở khu vực nông thôn, thu hẹp khoảng cách giàu nghèo ở các vùng miền góp phần ổn định an ninh trật tự xã hội và an toàn xã hội
3) Mặt môi trường: Phát triển KTTT theo hướng bền vững về mặt môi
trường, thể hiện trước hết ở việc khai thác sử dụng tiết kiệm và hiệu quả nguồn tài nguyên thiên nhiên (đất đai, nguồn nước); không ngừng cải thiện và làm gia tăng độ màu mỡ của đất, chống ô nhiễm môi trường đất, nước, không khí; không làm suy kiệt nguồn nước ngầm
Trang 321.1.3 Các tiêu chí về kinh tế trang trại
1.1.3.1 Tiêu chí phân loại trang trại
Mỗi quốc gia có tiêu chí nhận dạng KTTT không hoàn toàn giống nhau, quan điểm của các nước về KTTT được nhận dạng theo các đặc trưng của TT
Ở Việt Nam KTTT được hình thành và phát triển với thời gian không dài, nền tảng phát triển của KTTT là kinh tế hộ cho nên sự khác nhau giữa kinh tế hộ với KTTT không nhiều Do vậy từ đầu những năm 1990 một số địa phương đã tự quy định các tiêu chí về KTTT để phân biệt giữa KTTT với kinh tế hộ Trong quá trình hoạt động và phát triển của KTTT của từng vùng, từng địa phương có đặc điểm khác nhau nên xác định tiêu chí nhận dạng KTTT khác nhau, để có cơ sở tổng kết, đánh giá về KTTT và đề xuất giải pháp thúc đẩy phát triển KTTT, ngày 23 tháng 6 năm 2000, Bộ NN&PTNT và Tổng cục Thống kê đã có Thông tư Liên tịch
số 69/2000/TTLT-BNN-TCTK hướng dẫn tiêu chí để xác định KTTT; Thông tư Số 62/2003/TTLT/BNN-TCTK, ngày 20 tháng 05 năm 2003 của Bộ BNN-TCTK sửa đổi, bổ sung Mục III của Thông tư liên tịch 69/2000/TTLT/BNN-TCTK, xác định: Một hộ SXNN, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản được xác định theo tiêu chí định lượng xác định là KTTT bao gồm [7]:
1) Giá trị sản lượng hàng hoá và dịch vụ bình quân một năm:
- Đối với các tỉnh phía Bắc và Duyên hải miền Trung: Từ 40 triệu đồng trở lên
- Đối với các tỉnh phía Nam và Tây Nguyên: Từ 50 triệu đồng trở lên
2) Quy mô sản xuất phải tương đối lớn và vượt trội so với kinh tế nông hộ tương ứng với từng ngành sản xuất và vùng kinh tế
* Đối với TT trồng trọt
- TT trồng cây hàng năm
+ Từ 2 ha trở lên đối với các tỉnh phía Bắc và duyên hải miền Trung
+ Từ 3 ha trở lên đối với các tỉnh phía Nam và Tây Nguyên
- TT trồng cây lâu năm
+ Từ 3 ha trở lên đối với các tỉnh phía Bắc và duyên hải miền Trung
+ Từ 5 ha trở lên đối với các tỉnh phía Nam và Tây Nguyên
+ TT trồng hồ tiêu từ 0,5 ha trở lên
* Đối với TT lâm nghiệp: từ 10 ha trở lên đối với tất cả các vùng trong cả nước
Trang 33* Đối với TT chăn nuôi
- Chăn nuôi đại gia súc, trâu bò v.v.: chăn nuôi sinh sản, lấy sữa có thường
xuyên từ 10 con trở lên; chăn nuôi lấy thịt có thường xuyên từ 50 con trở lên
- Chăn nuôi gia súc: lợn, dê v.v.: chăn nuôi sinh sản có thường xuyên đối
với lợn 20 con trở lên, đối với dê, cừu từ 100 con trở lên; chăn nuôi lợn thịt có thường xuyên từ 100 con trở lên (không kể lợn sữa), dê thịt từ 200 con trở lên
- Chăn nuôi gia cầm: gà, vịt, ngan, ngỗng có thường xuyên từ 2000 con
trở lên (không tính số đầu con dưới 7 ngày tuổi)
* Đối với TT nuôi trồng thuỷ sản: diện tích mặt nước để nuôi trồng thuỷ sản
có từ 2 ha trở lên (riêng đối với nuôi tôm thịt theo kiểu công nghiệp từ 1 ha trở lên)
* Đối với các loại sản phẩm nông lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản có tính
chất đặc thù như: trồng hoa, cây cảnh, trồng nấm, nuôi ong, giống thuỷ sản và thuỷ đặc sản, thì tiêu chí xác định là giá trị sản lượng hàng hoá (chỉ tiêu 1)
* Đối với hộ sản xuất, kinh doanh tổng hợp có nhiều loại sản phẩm hàng hoá
của các ngành nông nghiệp, lâm nghiệp, thuỷ sản thì tiêu chí để xác định TT là giá trị sản lượng hàng hoá, dịch vụ bình quân 1 năm
Hơn 10 năm thực hiện theo Thông tư Liên tịch số TCTK đã thấy sự bất cập về tiêu chí xác định KTTT nhất là tiêu chí về giá trị sản lượng hàng hóa trong năm đạt từ 40 triệu đồng trở lên là quá thấp so với kinh tế
69/2000/TTLT-BNN-hộ Để xác định rõ hơn về KTTT phù hợp với giai đoạn phát triển hiện nay, ngày
13 tháng 4 năm 2011, Bộ NN&PTNT đã ban hành Thông tư số 27/2011/TT- BNN&PTNT quy định tiêu chí mới của TT Theo đó, TT được xác định theo lĩnh vực sản xuất như sau: TT trồng trọt; TT chăn nuôi; TT lâm nghiệp; TT nuôi trồng thủy sản và TT tổng hợp TT chuyên ngành (trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản) là những TT có tỷ trọng giá trị sản lượng nông sản hàng hóa của ngành chiếm 50% cơ cấu giá trị sản lượng hàng hóa của TT trong năm Trong trường hợp không có ngành nào chiếm trên 50% cơ cấu giá trị sản lượng hàng hóa thì được gọi là TT tổng hợp
Theo Thông tư này, cá nhân, hộ gia đình SXNN, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản đạt tiêu chuẩn TT phải thỏa mãn các điều kiện sau [10]:
1, Đối với cơ sở trồng trọt, nuôi trồng thủy sản, sản xuất tổng hợp phải đạt:
- Có diện tích trên mức hạn điền, tối thiểu: 3,1 ha đối với vùng Đông Nam bộ
và Đồng bằng sông Cửu Long; 2,1 ha đối với các tỉnh còn lại
- Giá trị sản lượng hàng hóa đạt 700 triệu đồng/năm
Trang 342, Đối với cơ sở chăn nuôi phải đạt giá trị sản lượng hàng hóa từ 1 tỷ đồng/năm
3, Đối với cơ sở sản xuất lâm nghiệp phải có diện tích tối thiểu 31 ha và giá trị sản lượng hàng hóa bình quân đạt 500 triệu đồng/năm
Thực hiện theo Thông tư số 27/2011/TT-BNNPTNT ngày 13 tháng 4 năm
2011 thì tổng số TT của cả nước nói chung và của tỉnh Phú Thọ nói riêng giảm gần 90%, nhìn chung ảnh hưởng bởi tiêu chí giá trị sản lượng hàng hóa là chính vì GTSX từ 40 triệu đồng lên tối thiểu 500 triệu đồng và TT chăn nuôi là 1 tỷ đồng , còn tiêu chí mức hạn điền có thay đổi nhưng không đáng kể
1.1.3.2 Tiêu chí đánh giá phát triển kinh tế trang trại theo hướng vền vững
Phát triển KTTT theo hướng bền vững là vấn đề phức tạp và không phải lúc nào cũng có thể giải quyết một cách tối ưu Bởi trong thực tế, con người thường đứng trước một sự lựa chọn không phải dễ dàng giữa nhiều vấn đề cùng phát sinh
Vì vậy, việc thiết lập nội dung tiêu chí để đánh giá phát triển KTTT theo hướng bền vững là việc làm khó khăn chưa hẳn đạt được sự đồng thuận của các chủ TT Song đây là việc làm cần thiết, làm cơ sở để tổ chức đánh giá, quản lý phát triển KTTT theo hướng bền vững
* Tiêu chí về góc độ kinh tế:
- Số lượng TT tăng theo thời gian
- Quy mô các nguồn lực sản xuất của TT không ngừng tăng lên
- Cơ cấu KTTT chuyển dịch theo hướng tích cực
- Kết quả hoạt động SXKD của KTTT ngày càng cao, được đánh giá thông qua các chỉ tiêu (GTSX, giá trị gia tăng, thu nhập hỗn hợp …)
- Hiệu quả của các hoạt động SXKD của KTTT ngày càng cao, được đánh giá thông qua các chỉ tiêu (GTSX, giá trị gia tăng, thu nhập hỗn hợp)/(chi phí trung gian, đơn vị diện tích, lao động)
Khi đánh giá phát triển KTTT theo hướng bền vững theo góc độ về kinh tế nêu trên cần phải lưu ý, xu hướng chung là giá trị các chỉ tiêu đều tăng liên tục theo thời gian (năm sau cao hơn năm trước) thì đánh giá phát triển KTTT theo hướng bền vững đạt được về mặt kinh tế Song riêng chỉ tiêu về số lượng TT không nhất thiết phải liên tục tăng theo thời gian vì thay đổi tiêu chí qui mô của TT mà chủ yếu dựa vào quy mô các nguồn lực của TT để đánh giá sự phát triển TT về quy mô Nếu các chỉ tiêu không thống nhất (có chỉ tiêu biến động tăng, có chỉ tiêu biến động giảm theo thời gian) thì dựa vào từng chỉ tiêu cụ thể để đánh giá sự phát triển KTTT
về quy mô, cơ cấu, chất lượng… Trong đó, phát triển KTTT về chất lượng sẽ ảnh
Trang 35hưởng quyết định đến việc đánh giá mức độ đạt được của phát triển KTTT theo hướng bền vững về kinh tế
* Tiêu chí về góc độ xã hội:
- Tổng số lượng lao động làm việc trong khu vực KTTT trên địa bàn
- Thu nhập của người lao động trong khu vực KTTT trên địa bàn
- Đóng góp vào việc xóa đói giảm nghèo, thu hẹp khoảng cách giàu nghèo trên địa bàn
- Quan hệ lợi ích kinh tế giữa chủ KTTT với địa phương
- Góp phần ổn định an ninh trật tự, an toàn xã hội
1.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc phát triển kinh tế trang trại theo hướng bền vững
1.1.4.1 Nhóm yếu tố khách quan
* Yếu tố chính sách của Nhà nước
- Sự tác động của Nhà nước có vai trò to lớn đối với sự hình thành và phát
triển KTTT, chỉ có Nhà nước với tư cách là chủ thể quản lý nền kinh tế, chủ thể quản lý xã hội mới có thể chủ động tạo ra môi trường kinh tế và pháp lý cho KTTT hình thành và phát triển
- Sự hình thành và phát triển của KTTT khác với kinh tế nông hộ; Kinh tế nông hộ vốn là kinh tế sinh tồn, kinh tế tự cấp tự túc của nông dân dù môi trường kinh tế và pháp lý thế nào hộ nông dân vẫn duy trì, tìm cách phát triển kinh tế để đảm bảo những điều kiện vật chất tối thiểu cần thiết cho cuộc sống của hộ Ngược lại, KTTT ngay từ khi ra đời đã mang tính hàng hoá, người nông dân phát triển KTTT là nhằm có thu nhập cao và tiến tới làm giàu từ nghề nông, nông nghiệp vốn
là nghề có tính sinh lợi không cao và rủi ro lớn Nếu các điều kiện kinh tế và pháp
lý bất thuận thì có vốn họ sẽ đầu tư sang ngành khác Để họ yên tâm đầu tư vào
Trang 36SXNN theo phương thức TT cần cải tạo môi trường pháp lý thuận lợi cho phát triển KTTT, yếu tố chính sách trong mối quan hệ đến KTTT được tóm lược ở sơ đồ sau:
Cơ chế, chính sách không phù hợp sẽ kìm hãm sự phát triển kinh tế TT, gây lãnh phí nguồn lực xã hội
Sơ đồ 1.3: Tác động của yếu tố chính sách đến kinh tế trang trại
+ Nhà nước thừa nhận địa vị pháp lý của KTTT, thừa nhận TT là một hình thức tổ chức sản xuất cơ sở, một bộ phận hợp thành của hệ thống nông nghiệp Các văn bản pháp quy, quy định rõ khuôn khổ pháp lý phù hợp cho các TT hoạt động, tạo điều kiện cho KTTT ra đời và phát triển, điều đó có ý nghĩa quan trọng
+ Định hướng cho sự hình thành và phát triển KTTT thông qua quy hoạch phát triển và ban hành các chính sách KT-XH
+ Khuyến khích phát triển KTTT thông qua sử dụng các đòn bẩy kinh tế và phát triển các hình thức liên kết kinh tế nhằm tạo điều kiện thúc đẩy phát triển KTTT
+ Hỗ trợ nguồn lực cho sự hình thành và phát triển của KTTT như hỗ trợ vốn, phát triển kết cấu hạ tầng, hỗ trợ kinh phí đào tạo chủ TT, hỗ trợ chuyển giao tiến bộ KHKT…
- Nhà nước đẩy mạnh công tác hỗ trợ cho ngành công nghiệp chế biến nông sản phát triển: Mục đích trực tiếp của KTTT là sản xuất hàng hoá Việc tiêu thụ sản phẩm nông sản là điều kiện cơ bản để TT ra đời và phát triển, sản phẩm nông sản sản xuất ra không tiêu thụ được hoặc tiêu thụ khó khăn sẽ là rào cản đối với sự ra đời và phát triển của KTTT Thực tế cho thấy công nghiệp chế biến nông sản có vai
Trang 37trò hết sức to lớn trong việc tiêu thụ sản phẩm Chỉ khi công nghiệp chế biến phát triển thì mới tạo thị trường rộng lớn và ổn định cho các TT Như vậy, để hình thành
và phát triển KTTT tất yếu cần có sự hỗ trợ của công nghiệp chế biến Tuy nhiên, phải là công nghiệp chế biến xuất phát từ yêu cầu phát triển nông nghiệp và phù hợp với nhu cầu của thị trường về chủng loại, chất lượng và quy cách nông sản phẩm chế biến
- Có sự phát triển nhất định của kết cấu hạ tầng, trước hết là đường giao thông
và các công trình thuỷ lợi:
+ Kết cấu hạ tầng kỹ thuật phục vụ SXNN bao gồm: Đường giao thông, công trình thuỷ lợi, công trình điện… đó là những điều kiện vật chất kỹ thuật rất cần cho hoạt động SXNN, chúng góp phần quan trọng giúp người sản xuất khắc phục những tác động tiêu cực của tự nhiên, đáp ứng yêu cầu sinh học của SXNN và yêu cầu giao lưu, trao đổi hàng hoá
+ Sản xuất hàng hoá là đặc trưng cơ bản nhất của KTTT Sản xuất hàng hoá đòi hỏi hoạt động SXKD của TT phải được tiến hành trên cơ sở một hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ thuật phát triển ở trình độ nhất định
- Có sự hình thành các vùng SXNN chuyên môn hoá: Sự hình thành các vùng chuyên môn hoá SXNN có ảnh hưởng trực tiếp và tích cực tới sự hình thành và phát triển của các TT vì các vùng chuyên canh tập trung luôn gắn liền với công nghiệp chế biến với các điều kiện thuận tiện cho việc giao lưu, trao đổi hàng hoá, tạo điều kiện thuận lợi cho việc tiêu thụ sản phẩm của TT Đồng thời, các vùng chuyên canh tập trung còn tạo điều kiện thuận lợi cho việc ứng dụng tiến bộ KHKT và hợp tác SXKD giữa các TT
Các chính sách nêu trên là những biện pháp tác động trực tiếp đến các hoạt động của các TT, tạo điều kiện thuận lợi cho các TT, hỗ trợ TT trong các điều kiện khó khăn
* Yếu tố thị trường:
Trong nền kinh tế thị trường, tất cả các hoạt động của TT phụ thuộc nhu cầu của thị trường Cầu về yếu tố sản xuất là cầu thứ phát, tức là nó phát sinh sau và chịu ảnh hưởng bởi cầu về hàng hóa dịch vụ tiêu dùng Thị trường hàng hóa, dịch
vụ có phát triển, người tiêu dùng có tiêu thụ thì nhu cầu để sản xuất các loại hàng hóa dịch vụ này mới tăng và ngược lại Thị trường buộc chủ TT phải nắm bắt các
Trang 38quy luật để lựa chọn và đưa ra phương án SXKD tối ưu Rõ ràng kinh tế thị trường vừa tạo ra thách thức vừa tạo ra cơ hội phát triển KTTT
Kinh tế thị trường
Những thách thức từ thị
trường
- Nhu cầu thay đổi nhanh
- Đòi hỏi chất lượng, mẫu mã,
độ an toàn sản phẩm cao
- Hội nhập khu vực và quốc tế
(cạnh tranh trực tiếp với sản
phẩm của Thái Lan, Trung
Khó khăn mà TT gặp
phải
- Chủ TT thiếu kinh nghiệm
và kiến thức về thương trường
- Hệ thống thị trường chưa hoàn chỉnh, thiếu đồng bộ
- Giá cả yếu tố đầu vào cao, giá đầu ra thấp, bấp bênh
- Thiếu liên kết kinh tế
- Cấu trúc, hành vi và hiệu quả thị trường còn nhiều bấp cập
Kinh tế trang trại
Sơ đồ 1.4: Tác động của nền kinh tế thị trường tới kinh tế trang trại
Như vậy kinh tế thị trường là điều kiện tất yếu cho sự hình thành và phát triển kinh tế TT, vì vậy ảnh hưởng tác động của kinh tế thị trường đối với kinh tế
TT là rất mạnh mẽ trên tất cả mọi phương diện của thị trường Kinh tế TT phát triển như thế nào rõ ràng phụ thuộc rất lớn vào kinh tế thị trường như là một điều kiện khách quan, quá trình nhận thức và vận dụng kinh tế thị trường của các chủ TT như là một điều kiện chủ quan
- Kinh tế thị trường tác động một cách toàn diện trên cả thị trường đầu vào và đầu ra của KTTT
+ Đối với thị trường đầu vào (tư liệu sản xuất, vốn, lao động), chủ TT với tư cách là người sử dụng các yếu tố đầu vào để hoạt động SXKD một cách trôi chảy Với thị trường đầu vào rộng lớn phong phú chủ TT có nhiều cơ hội để lựa chọn giá
cả, chất lượng các yếu tố đầu vào và chính các yếu tố này ảnh hưởng trực tiếp đến giá thành của sản phẩm và quy mô sản xuất của sản phẩm Có thể nói với sự phát triển đồng bộ và vận hành tốt thị trường đầu vào tạo điều kiện thuận lợi để các TT hoạt động hiệu quả và ổn định bền vững
Trang 39+ Thị trường đầu ra là thị trường tiêu thụ sản phẩm, chủ TT với tư cách là người bán, các sản phẩm sản xuất của TT được chuyển đến tay người tiêu dùng thông qua kênh thị trường Vì vậy các yếu tố, thông tin thị trường, đối thủ cạnh tranh… tác động rất lớn đến quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm của TT Từ đó mới có câu hỏi về chuỗi giá trị hàng hóa của TT: Sản phẩm bán ở đâu? Bán cho ai? Bán theo kênh nào? Giá bán bao nhiêu? được các chủ TT tìm ra câu trả lời ngay khi bắt đầu sản xuất và chủ TT giải quyết khi tổ chức tiêu thụ sản phẩm Vậy các chủ TT cần phải nắm được đầy đủ, chính xác, kịp thời các thông tin về thị trường từ đó đưa ra các quyết định có liên quan về tiêu thụ sản phẩm
Nhìn chung trong thực tế thì bản thân chủ TT tự giải quyết các vấn đề về thị trường không được nhiều mà cần phải có sự trợ giúp đắc lực của Nhà nước, các tổ chức, các Hiệp hội… Nền kinh tế nước ta càng hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới, thị trường rộng lớn thì diễn biến càng phức tạp sự cạnh tranh càng gay gắt Vì vậy cần có nghiên cứu, dự báo, khuyến cáo về thị trường, hỗ trợ cho KTTT phát triển có hiệu quả và bền vững
* Yếu tố điều kiện tự nhiên
Lĩnh vực hoạt động SXKD của TT là nông nghiệp, đối tượng sản xuất chủ yếu
là sinh vật sống nên chịu sự tác động lớn bởi điều kiện tự nhiên như: vị trí, địa hình, khí hậu, nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng, nguồn nước Đánh giá đúng điều kiện tự nhiên là cơ
sở xác định cây trồng và vật nuôi phù hợp với từng vùng
- Vị trí, địa hình, đất đai: Đất đai là yếu tố sản xuất không thể thiếu được
trong hoạt động sản xuất TT, SXNN phải gắn liền với đất đai, quỹ đất nhiều hay ít, tốt hay xấu, vị trí thuận lợi hay không, độ dốc cao hay thấp, đều ảnh hưởng đến KQSX và tác động đến thu nhập của TT
- Khí hậu, thời tiết: Yếu tố khí hậu, thời tiết ảnh hưởng trực tiếp đến SXNN và
điều kiện sinh hoạt của con người Nhiệt độ bình quân, sự sai khác nhiệt độ ánh sáng, lượng mưa, độ ẩm, số giờ nắng, trực tiếp ảnh hưởng tới sự phân bố, sinh trưởng và phát triển của cây trồng, vật nuôi Lượng mưa có ý nghĩa quan trọng trong việc giữ nhiệt độ, độ ẩm của đất, cũng như khả năng đảm bảo cung cấp nước cho quá trình sinh trưởng của cây trồng và vật nuôi Cũng chính yếu tố khí hậu và thời tiết tạo rủi
ro thiên tai trong hoạt động SXKD của TT
* Yếu tố điều kiện kinh tế - xã hội
- Điều kiện về kinh tế như: sức sản xuất và trình độ phát triển kinh tế hàng hoá; cơ cấu kinh tế và phân bố sản xuất; các điều kiện phát triển công nghiệp - nông nghiệp - thương mại; giao thông vận tải; thủy lợi, điều kiện đầu tư trang thiết bị vật chất cho hoạt động sản xuất của TT,
Trang 40- Điều kiện xã hội: dân số và lao động; trình độ dân trí sẽ ảnh hưởng nhiều đến thông tin truyền thông; trình độ quản lý sử dụng lao động; an ninh - quốc phòng; sự phát triển của KHKT; đầu tư cho công tác phát triển nguồn nhân lực, Trong đó, các yếu tố xã hội thường có ý nghĩa quyết định, chủ đạo về việc hoạt động sản xuất của
TT nói riêng, các hộ nông dân nói chung
* Yếu tố hội nhập kinh tế quốc tế
Việt Nam k hi tham gia hội nhập kinh tế quốc tế và thực thi các Hiệp định mậu dịch tự do đã ký kết của ngành NN&PTNT đã có nhiều tác động tích cực Trong đó, tạo điều kiện để tăng trưởng thương mại và đa dạng hóa thị trường, sản phẩm xuất khẩu; tạo cơ hội việc làm, phát triển sản xuất, tăng thu nhập cho nông
dân nói chung và trang trại nói riêng Bên cạnh đó, hội nhập đã giúp Việt Nam bước
đầu vượt qua rào cản thuế quan đối với một số nông sản mà Việt Nam có thế mạnh xuất khẩu như gạo, thủy sản, Việc gia nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới cũng giúp Việt Nam tiếp cận với nguồn nguyên liệu ổn định hơn cho sản xuất, có chất lượng tốt và giá cả cạnh tranh, thúc đẩy nhập khẩu hàng hóa phục vụ sản xuất
để xuất khẩu, trong khi đó các loại hình trang trại của tỉnh Phú Thọ chưa phát triển mạnh về các sản phẩm hướng tới xuất khẩu mà chỉ tiêu thụ trong tỉnh và các tỉnh lân cận Ngoài những mặt tích cực thì khi hội nhập vẫn có những rào cản như: Về tác động bất lợi, quá trình hội nhập cũng đồng nghĩa với việc gia tăng cạnh tranh và
áp lực, làm thu hẹp một số lĩnh vực sản xuất có khả năng cạnh tranh thấp Với sự cắt giảm rào cản thuế quan, gỡ bỏ rào cản kỹ thuật và hành chính đã tạo ra tăng trưởng sức ép cạnh tranh giữa hàng hóa nhập khẩu và sản xuất trong nước Sự hạn chế về vốn, công nghệ, năng lực sản xuất và trình độ quản lý khiến các nhà sản xuất
và doanh nghiệp trong nước phải đối mặt với nguy cơ bị các tập đoàn toàn cầu và các doanh nghiệp lớn thâu tóm Khi Việt Nam hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới, hàng hoá nông lâm thủy sản có xu thế đối mặt với nhiều rào cản thương mại được các nước nhập khẩu đặt ra để bảo hộ sản xuất trong nước Với các yêu cầu ngày càng khắt khe về chất lượng và an toàn thực phẩm, truy xuất nguồn gốc, các yêu cầu
về bảo vệ môi trường, các vụ kiện chống trợ cấp, chống bán phá giá và tranh chấp thương mại là thực tế mà các doanh nghiệp và cơ quan quản lý của Việt Nam sẽ phải đối mặt Đây là một trong những thách thức lớn đối với Việt Nam Mặt khác, chúng ta vẫn còn chậm điều chỉnh cơ cấu sản xuất để khai thác cơ hội thị trường và phát huy lợi thế so sánh của các vùng Cơ cấu sản xuất vẫn nặng về các sản phẩm truyền thống có giá trị thấp nên chưa tận dụng được hết các cơ hội thị trường các sản phẩm mới có giá trị cao hơn Tăng trưởng sản xuất chủ yếu dựa vào các yếu tố đầu vào, chậm chuyển sang phát triển theo chiều sâu trên cơ sở áp dụng khoa học
kỹ thuật và công nghệ mới Thiếu các quy hoạch vùng và các chính sách đầu tư phù hợp vào ngành nghề cụ thể mà thị trường trong nước và thế giới có nhu cầu cao