A. PHẦN MỞ ĐẦU Có thể nói rằng,trí tuệ của nhân loại được thể hiện một cách cô đọng ở tri thức triết học và lịch sử triết học. Ngay từ khi mới hình thành, triết học đã chứa đựng trong mình tất các tri thức mà con người có được lúc ấy: toán học, y học, đạo đức học,… Với tính cách là một khoa học, lịch sử triết học nghiên cứu tư tưởng, nội dung của các hệ thống triết học để vạch ra quy luật nội tại của sự phát triển triết học trong lịch sử, tìm ra sự tương đồng và tính khác biệt giữa các hệ thống triết học trong dòng chảy văn hóa chung của nhân loại. Ph.Ăngghen đã từng khẳng định:” Một dân tộc muốn đứng vững trên đỉnh cao của khoa học thì không thể không có tư duy lý luận”, mà muốn có tư duy lý luận thì không có con đường nào khác hơn là phải nghiên cứu toàn bộ triết học thời trước.Nghiên cứu, rèn luyện tư duy lý luận và vận dụng chúng để nhận thức và cải tạo xã hội, góp phần thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” là nhiệm vụ của tất cả các ngành khoa học, mà trước hết là triết học. Để hiểu rõ hơn về lịch sử triết học, trước tiên chúng ta sẽ tìm hiểu rõ hơn về “ Đặc điểm của triết học Trung Quốc thời cổ trung đại “ Trung quốc là một trong những cái nôi của lịch sử nhân loại, có một nền văn hóa lâu đời, bền vững trong đó triết học Trung quốc được coi là ngọn nguồn cho sự sáng tạo của nền văn minh toàn cõi Châu Á. Ảnh hưởng của triết học Trung quốc với nhân loại là điều không thể phủ nhận, bởi vì ngay từ thời cổ đại ở mảnh đất này đã sinh ra những nhà triết học kiệt xuất mà tư tưởng của họ soi sáng mãi đến muôn đời sau đó…
Trang 1A PHẦN MỞ ĐẦU
Có thể nói rằng,trí tuệ của nhân loại được thể hiện một cách cô đọng ởtri thức triết học và lịch sử triết học Ngay từ khi mới hình thành, triết học đãchứa đựng trong mình tất các tri thức mà con người có được lúc ấy: toán học, yhọc, đạo đức học,… Với tính cách là một khoa học, lịch sử triết học nghiên cứu
tư tưởng, nội dung của các hệ thống triết học để vạch ra quy luật nội tại của sựphát triển triết học trong lịch sử, tìm ra sự tương đồng và tính khác biệt giữacác hệ thống triết học trong dòng chảy văn hóa chung của nhân loại.Ph.Ăngghen đã từng khẳng định:” Một dân tộc muốn đứng vững trên đỉnh caocủa khoa học thì không thể không có tư duy lý luận”, mà muốn có tư duy lýluận thì không có con đường nào khác hơn là phải nghiên cứu toàn bộ triết họcthời trước.Nghiên cứu, rèn luyện tư duy lý luận và vận dụng chúng để nhậnthức và cải tạo xã hội, góp phần thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đạihóa vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”
là nhiệm vụ của tất cả các ngành khoa học, mà trước hết là triết học
Để hiểu rõ hơn về lịch sử triết học, trước tiên chúng ta sẽ tìm hiểu rõhơn về “ Đặc điểm của triết học Trung Quốc thời cổ trung đại “
Trung quốc là một trong những cái nôi của lịch sử nhân loại, có mộtnền văn hóa lâu đời, bền vững trong đó triết học Trung quốc được coi là ngọnnguồn cho sự sáng tạo của nền văn minh toàn cõi Châu Á Ảnh hưởng củatriết học Trung quốc với nhân loại là điều không thể phủ nhận, bởi vì ngay từthời cổ đại ở mảnh đất này đã sinh ra những nhà triết học kiệt xuất mà tưtưởng của họ soi sáng mãi đến muôn đời sau đó…
Trang 2B.PHẦN NỘI DUNG
Để tìm hiểu rõ hơn về những đặc điểm của triết học Trung quốc thời
cổ, trung đại trước hết là phải tìm hiểu hoàn cảnh lịch sử ra đời
I.Hoàn cảnh ra đời của triết học Trung quốc cổ đại
Trung quốc cổ đại là một quốc gia rộng lớn, có lịch sử lâu đời từ cuốithiên niên kỷ III TCN kéo dài tới tận thế kỷ III TCN với sự kiện Tần ThủyHoàng thống nhất Trung Hoa mở đầu cho thời kỳ phong kiến Trong hơn
2000 năm lịch sử ấy, lịch sử Trung Hoa được phân chia làm 2 thời kỳ lớn:Thời kỳ từ thế kỷ IX TCN trở về trước và thời kỳ từ thế kỷ VIII TCN đếncuối thế kỷ III TCN
Ở thời kỳ thứ nhất: Có các triều đại nhà Hạ, nhà Thương và nhà TâyChu Trong thời kỳ này, thế giới quan thần thoại, tôn giáo và chủ nghĩa duytâm thần bí thống trị trong đời sống tinh thần Những tư tưởng triết học đãxuất hiện, nhưng chưa đạt tới mức là một hệ thống Nó đã gắn chặt thầnquyền với thế quyền, lý giải sự liên hệ mật thiết giữa đời sống chính trị - xãhội với lĩnh vực đạo đức luân lý Lúc này cũng đã xuất hiện những quan niệm
có tính chất duy vật mộc mạc, những tư tưởng vô thần tiến bộ
Về khoa học, họ đã phát minh ra chữ viết và dựa vào sự quan sát vậnhành của mặt trăng, các vì sao, tính chất chu kỳ của nước sông và quy luậtsinh trưởng của cây trồng mà họ đã biết làm ra lịch (Âm lịch)
Ở Thời kỳ thứ hai: là thời kỳ Đông Chu (còn gọi là thời kỳ Xuân Thu Chiến quốc), thời kỳ chuyển biến từ chế độ chiếm hữu nô lệ sang chế độphong kiến Sự phát triển của sức sản xuất đã tác động mạnh mẽ đến hìnhthức sở hữu ruộng đất và kết cấu giai tầng của xã hội Nếu dưới thời Tây Chu,đất đai thuộc sở hữu của nhà vua thì nay thuộc về tầng lớp địa chủ mới lên vàchế độ sở hữu tư nhân về ruộng đất hình thành.Từ đó, sự phân hóa sang hèndựa trên cơ sở tài sản xuất hiện Xã hội lâm vào cảnh loạn lạc, rối ren và chiếntranh xảy ra liên miên Đây chính là điều kiện lịch sử đòi hỏi giải thể chế độ
Trang 3-nô lệ thị tộc nhà Chu, hình thành chế độ phong kiến; đòi hỏi giải thể nhà nướccủa chế độ gia trưởng, xây dựng nhà nước phong kiến nhằm giải phóng lựclượng sản xuất, mở đường cho xã hội phát triển.
Sự phát triển sôi động của xã hội đã đặt ra và làm xuất hiện những tụđiểm, những trung tâm của những "kẻ sĩ" luôn tranh luận về trật tự xã hội cũ
và đề ra những mẫu hình của một xã hội trong tương lai Lịch sử gọi đây làthời kỳ "Bách gia chư tử" (trăm nhà trăm thầy), "Bách gia tranh minh" (trămnhà đua tiếng) Chính trong quá trình ấy đã sản sinh ra những nhà tư tưởnglớn và hình thành nên các trường phái triết học khá hoàn chỉnh Đặc điểm củacác trường phái này là lấy con người và xã hội làm trung tâm của sự nghiêncứu, có xu hướng chung là giải quyết những vấn đề thực tiễn chính trị - đạođức của xã hội Theo Lưu Hâm (đời Tây Hán), Trung Hoa thời kỳ này có chíntrường phái triết học chính (gọi là Cửu lưu hay Cửu gia) là: Nho gia, Mặc gia,Đạo gia, Âm dương gia, Danh gia, Pháp gia, Nông gia, Tung hoành gia, Tạpgia Trừ Phật giáo được du nhập từ ấn Độ sau này, các trường phái triết họcđược hình thành vào thời kỳ này được bổ sung và hoàn thiện qua nhiều giaiđoạn lịch sử và tồn tại cho tới thời kỳ cận đại
Muốn tìm hiểu những đặc điểm của triết học Trung Hoa cổ, trung đạicần phải tìm hiểu những tư tưởng, những học thuyết tiêu biểu của thời kỳ này,
từ đó mới có thể rút ra những đặc điểm tiêu biểu của nó
II Một số trường phái trong triết học tiêu biểu của Trung quốc thời cổ trung đại.
1 Âm – Dương gia
Âm-Dương gia (quan niệm Âm-Dương) có từ thời Thương (1766-1122tr.c n), xuất phát từ Kinh Dịch cổ là sự tổng hợp nhiều tư tưởng triết học nềntảng ở Trung Quốc cổ đại Theo thuyết Âm - Dương, khởi nguyên của mọi sựhình thành, biến hoá vạn vật trong vũ trụ là hai thế lực Âm (- -) và Dương (–)
Âm và Dương vừa đối lập, vừa thống nhất với nhau Biểu hiện của Âm,Dương là những mặt đối lập trong vũ trụ, trời đất, vạn vật và trong đời sống
Trang 4con người, xã hội như trời (dương) - đất (âm), cha (dương) – mẹ (âm), quân
tử (dương) – tiểu nhân (âm), các hiện tượng cao – thấp, sáng – tối, cứng –mềm, thẳng – cong, khô - ướt, nóng – lạnh, thịnh – suy v.v đều là sự thể hiệncủa hai mặt dương và âm Hai mặt đối lập Âm - Dương không có sự ngăncách tuyệt đối Trong Âm có Dương, trong Dương có Âm Chính sự tác độngqua lại và kết hợp với nhau của hai mặt Âm - Dương quyết định sự hình thành
và biến đổi của vạn vật Sự tác động qua lại của hai thế lực Âm và Dương,trong quá trình sinh hoá của vạn vật, được diễn ra theo những tính quy luật
Từ một sự vật (được gọi là Thái cực) sinh ra Âm, Dương (gọi là Lưỡngnghi), rồi từ Lưỡng nghi sinh ra Thái Âm, Thái Dương, Thiếu Âm, Thiếudương (gọi là Tứ tượng, tượng trưng cho Mặt Trời, Mặt Trăng, hành tinh), Tứtượng sinh ra Bát quái [Càn (Trời, giống đực), Ly (Lửa, sáng), Cấn (Núi, tĩnh,an), Tốn (Gió, vào) {thuộc Dương} và Khôn (Đất, giống cái), Khảm (Nước,hiểm trở), Đoài (Đầm, vui vẻ), Chấn (Sấm, động){thuộc Âm}], Bát quái sinh
ra Trùng quái (64 quẻ), Mỗi quẻ lại có 6 hào) Như vậy, 64 quẻ x 6 hào = 384hào, tạm đủ để giải thích nhiều sự vật, hiện tượng trong Trời, Đất
Thứ nhất, Âm và Dương vừa đối lập vừa gắn kết không rời nhau, là cơ
sở sinh thành mọi vật, gọi là Âm – Dương giao dịch
Thứ hai, Âm – Dương luôn luôn vận động theo hai khuynh hướng trái
ngược nhau Cái này lớn dần (trưởng) thì cái kia nhỏ dần (tiêu), gọi là Âm –Dương tiêu trưởng, Âm thịnh Dương suy, Dương thịnh Âm suy
Thứ ba, Âm – Dương tuy vận động trái ngược nhau nhưng không phải
là huỷ thể của nhau, cái này là điều kiện của sự tồn tại, sinh thành của cái kia.Nếu Dương phát triển đến vô cùng hoặc Âm phát triển đến vô cùng thì xoayngược lại, gọi là Âm – Dương phản phục Trong Âm có Dương, trong Dương
có Âm Âm – Dương luôn gắn bó với nhau, không tách rời nhau
Thứ tư, nếu Âm – Dương cân bằng thì sự vật còn tồn tại là nó, nếu Âm
– Dương mất cân bằng thì sự vật không còn là nó nữa, mà chuyển thành cáikhác, sự vật cũ tàn lụi, tiêu vong sự vật mới khác ra đời, sinh trưởng
Trang 5Trong học thuyết Âm – Dương có nhiều tư tưởng duy vật và biệnchứng tự phát, lý giải sự vận động, biến đổi của sự vật theo chu kỳ tuần hoànchứ không phải là sự phát triển đi lên từ thấp đến cao Do đó, khi vận dụngthuyết âm - dương vào vào lĩnh vực chính trị - xã hội người Trung Quốc thởi
cổ, trung đại hay rơi vào chủ nghĩa bảo thủ, biện hộ cho sự thống trị của chế
Trong triết học Trung Quốc cổ đại, cùng với Âm-Dương là Ngũ Hành,bởi chỉ riêng 384 hào của Thuyết Âm-Dương không đủ giải thích mọi sự biếnthiên phức tạp của vạn vật
Ngũ hành là năm yếu tố vật chất mang tính khởi nguyên của thế giới làKim, Mộc, Thuỷ, Hoả, Thổ Năm "Hành" được định sẵn cùng với năm cặp số
"sinh-thành" ra chúng, có vị trí "tiên thiên" quy định: Thuỷ (số 1,6; phía Bắc,mùa Đông, màu Đen), Hoả (số 2,7; phía Nam, mùa Hè, màu Đỏ), Mộc (số3,8; phía Đông, mùa Xuân) Kim (số 4,9; phía Tây, mùa Thu, màu trắng), Thổ(số 5,10; Trung tâm, giao thời bốn mùa, màu vàng)
Theo thuyết ngũ hành, năm yếu tố vật chất khởi nguyên ấy ở trạng tháiđộng; quan hệ mật thiết với nhau Mọi sự sinh thành hay huỷ diệt, sự sốnghay chết đếu do năm hành kết hợp hay tan rã mà có Khi đã sinh thành rồi thìmỗi sự vật hiện tượng đều tương ứng với một hành nào đó làm chủ Do đó,tính chất, bản chất của sự vật hiện tượng ấy là do tính chất của hành chủ quyếtđịnh Căn cứ vào hành chủ thì có thể giải thích được tính chất của mọi sự vật,
Trang 6hiện tượng Ngũ hành có chức năng to lớn đó vì chúng là những “khí” đầutiên, luôn luôn vận động và biến đổi, tác động qua lại, chuyển hoá lẫn nhautheo hai quá trình vừa tương sinh vừa tương khắc “Tương sinh” là quá trìnhbồi đắp, nuôi dưỡng, thúc đẩy “Tương khắc” là quá trình kìm hãm, chế ngự
sự tồn tại và phát triển của sự vật
Ngũ hành tương sinh là do yếu tố này tác động mà sinh ra yếu tố khácnhư Mộc sinh Hoả (gỗ cháy sinh lửa), Hoả sinh Thổ (mọi vật cháy thành than,thành đất), Thổ sinh Kim (đất rắn ngưng kết thành kim loại), Kim sinh Thuỷ(kim loại nóng chảy, rỉ sét thành nước), Thuỷ sinh Mộc (có nước cây cỏ nảysinh phát triển), Mộc sinh Hoả v.v… cứ như vậy quá trình sình thành của vạnvật không dứt
Ngũ hành tương khắc là quá trình các yếu tố chống đối, bài trừ nhau,chế ước lẫn nhau Mộc khắc Thổ, Thổ khắc Thuỷ, Thuỷ khắc Hoả, Hoả khắcKim, Kim khắc Mộc v.v… Quá trình ngũ hành tương khắc cũng liên tục khôngngừng tạo thành quá trình tuần hoàn phản ánh tính chất chống đối lẫn nhau củacác mặt đối lập Quá trình sinh khắc của ngũ hành không tách rời nhau, xen kẽlẫn nhau phản ánh quá trình sinh thành và biến đổi của trời đất, vạn vật Đây là
tư tưởng triết học quan trọng nhất, cơ bản nhất của thuyết ngũ hành
3 Nho gia
Nho gia là học thuyết chính trị xã hội, theo khuynh hướng nhập thế,chứa đựng nhiều tư tưởng triết học sâu sắc Ra đời vào cuối thời Xuân Thu(giữa thế kỷ VI tr.c.n) và nhanh chóng trở thành học thuyết có ảnh hưởng lớn
ở Trung Quốc Từ thời nhà Hán đến nhà Thanh, Nho giáo trở thành hệ tưtưởng giữ địa vị thống trị trong xã hội
Người sáng lập ra Nho giáo là Khổng Tử (551- 479 tr.cn) Nhữngngười kế tục xuất sắc của Khổng tử là Mạnh Tử (327-289 tr.cn), Tuân Tử(298-238 tr.c.n); Đổng Trọng Thư (180-105 tr.c.n); Vương Sung (27-105)
Nho giáo có 6 bộ sách lớn là Lục Kinh và Truyện Kinh Dịch, KinhThi, Kinh Thư, Kinh Lễ, Kinh Nhạc và Kinh Xuân Thu Đến thời nhà Tần,
Trang 7Kinh Nhạc bị thất truyền Về sau các học trò Khổng Tử cứ vào Lục Kinh vànhững lời dạy cho học trò và đàm thoại của Khổng Tử với những người khácviết thêm được Luận ngữ, Mạnh Tử (Mạnh Tử viết), Đại học (Tăng Sâmviết), Trung Dung (Tử Tư viết) Truyện là sách để truyền kinh, thuyết minhnội dung, tinh thần, tư tưởng của các Kinh.
Khổng Tử tên là Khâu, tự là Trọng Ni vốn là người Tống, sinh ra ởnước Lỗ (nay thuộc huyện Khúc Phụ tỉnh Sơn Đông) Ông là chính trị, nhàtriết học, nhà giáo vĩ đại trong lịch sử Trung Quốc
Về bản thể luận, Khổng Tử đề cập nhiều đến vấn đề “trời”, “đạo trời”,
“mệnh trời” Quan niệm về “trời” của Khổng Tử bao hàm hai nghĩa Theonghĩa thứ nhất, “Trời” được hiểu là quy luật, trật tự vốn có của tự nhiên;nghĩa thứ hai, “Trời” được hiểu là thực thể có ý chí, là “thiên mệnh” khôngthể chống lại
Tuy nhiên, quyền năng của ý trời bị hạn chế do vai trò và năng lực chủquan của con người Ông cho rằng, quỷ thần là do khí thiêng trong trời đất tạothành, tuy nhìn mà không thấy, lắng mà không nghe, quỷ thần có ở mọi nơi,với quỷ thần mọi người đều phải cung kính Mặt khác, ông cũng cho rằng,
“kính nhi viễn chi” đối với qủy thần
Về chính trị - xã hội, Khổng Tử chủ trương lập lại pháp chế, kỷ cươngcủa Văn Vương, Chu Công trước đây Khổng Tử mong có một “xã hội hoà”
là xã hội không có phản kháng, không có đấu tranh lẫn nhau, xã hội không cóbạo lực, tranh giành lợi ích
Các quan hệ trong xã hội cần theo nguyên tắc hai chiều, người dưới cóthái độ kính trọng người trên, người trên đối với người dưới phải tôn trọng(sai khiến dân việc gì cũng phải thận trọng) thì sẽ tại nên sự hoà hợp với nhau.Ông coi quan hệ chính trị đạo đức là những quan hệ cơ bản, đề cao vai trò củanhững quan hệ đó đặc biệt vào ba mối quan hệ chủ đạo, rường cột là vua tôi,cha con, chồng vợ (tam cương) Từ ba quan hệ đó mà mở rộng ra việc gảiquyết những mối quan hệ xã hội khác
Trang 8Khổng Tử đặc biệt đề cao tư tưởng “thân thân” (coi trọng người thân)
và “thượng hiền” (coi trọng kẻ hiền tài) Xã hội hoà theo quan điểm củaKhổng Tử còn là một xã hội có cuộc sống thanh bình, trẻ nhỏ được chăm sóc,người già được hưởng cuộc sống thanh nhàn; khoảng cách giữa người giàu vàngười nghèo không quá đối lập, cách biệt cho dù hiện tượng phân biệt sang,hèn trong xã hội là khó tránh khỏi Đó là một xã hội trong đó mọi người có sựyêu thương, gần gũi, tôn trọng lẫn nhau Đường lối chính trị để thực hiện mụctiêu ấy, theo Khổng Tử cần phải “chính danh”
Tư tưởng Chính danh là một nội dung quan trọng trong học thuyết vềchính trị-xã hội của Khổng Tử Cho rằng, trời đất và mọi sự vật tồn tại là vìchúng có vai trò, nhiệm vụ của mình; cho nên, nếu dùng đúng lúc, đúng chỗ(tức là thực hiện “chính danh”) thì sẽ trở nên hữu ích, Khổng Tử đòi hỏi trong
xã hội cũng phải có chính danh
“Danh” là tên gọi vai trò, địa vị của từng người trong trật tự xã hội
“Thực” là phận sự của từng người bao gồm nghĩa vụ, trách nhiệm và quyềnlợi ứng với Danh Danh và Thực phải phù hợp, thống nhất, nếu không gọi là
“loạn danh” “Chính danh” là điều căn bản của việc làm chính trị để đưa xãhội “loạn” trở lại “trị” Danh phận của mỗi người, trước hết do các quan hệ xãhội quy định Trong xã hội, có các mối quan hệ cơ bản, đó là quân - thần(vua- tôi), phụ - tử (cha- con), phu - phụ (chồng - vợ), huynh- đệ (anh - em),bằng - hữu (bạn - bè)
Trong các mối quan hệ đó, Khổng Tử đặc biệt nhấn mạnh ba mối quan
hệ đầu, coi tam cương là rường cột trong xã hội Để chính danh, có thể dùngpháp trị (Bá đạo) và đức trị (Vương đạo) Khổng Tử không muốn dùng pháptrị, bởi dùng pháp trị là dùng hệ thống luật pháp cưỡng bức người ta, dẫn đếntâm lý chống đối, cưỡng lại, từ đó nảy sinh oán hận, phản loạn, không bềnvững Khổng Tử chủ trương dùng đức trị, dựa vào đạo đức để cảm hoá, giáodục, thuyết phục mọi người tự giác thực hiện chính danh Những người cầmđầu xã hội phải là những tấm gương mẫu mực về đạo đức để thần dân noi theo
Trang 9Giáo dục dù có tốt đến mấy đi nữa, nhưng vua, quan vô đạo thì xã hội khôngthể có chính danh được Có năm tiêu chuẩn đạo đức được đề cao là Nhân,Nghĩa, Lễ, Trí, Dũng (sau này, Đổng Trọng Thư bỏ Dũng thêm Tín hình thànhnăm tiêu chuẩn đạo đức là Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín (Ngũ thường)
Nhân là khái niệm trung tâm trong học thuyết chính trị của Khổng Tử.Nhân bao hàm nhiều nội dung, nhưng nội dung cơ bản là ái nhân (lòng yêuthương con người) Từ ái nhân đi đến hai nguyên tắc là “kỷ sở bất dục vật thi
ư nhân” (điều gì mình không muốn thì cũng đừng đem áp dụng cho ngườikhác) và “kỷ dục lập nhi lập nhân, kỷ dục đạt nhi đạt nhân” (mình muốn lậpthân thì cũng giúp người khác lập thân, mình muốn thành đạt thì cũng giúpngười khác thành đạt) Nhân còn được thể hiện ra ở nhiều tiêu chuẩn đạo đứckhác nữa như trung, hiếu, tiết nghĩa, cung, kính, khoan hoà, cần mẫn, chínhđáng, thật thà, khiêm nhường, dũng cảm, trách mình hơn là trách người, thậntrọng, biết yêu người đáng yêu, biết ghét người đáng ghét v.v
Khổng Tử gọi người có nhân là người quân tử, trượng phu để đối lậpvới kẻ tiểu nhân Nhưng có thể có người quân tử bất nhân, nhưng chưa hềthấy có kẻ tiểu nhân có nhân bao giờ Thi hành điều nhân phải có sự phân biệtthân sơ, trên dưới
Như vậy, Nhân của Khổng Tử chính là đạo lý làm người, vừa thươngngười (ái nhân) vừa giúp người (cứu nhân), mà cứu nhân là quan trọng hơn
cả Vì vậy, một người dù quán triệt nhiều tiêu chuẩn đạo đức Nho giáo, nhưngkhông đảm bảo được hai mặt ái nhân và cứu nhân thì cũng chưa được coi làngười có nhân Khái niệm Nhân của Khổng Tử có quan hệ với các khái niệmkhác như Lễ, Trí, Dũng
Lễ vừa là cách thức thờ cúng (lễ bái) trời đất, quỷ thần, vừa là nhữngquy định có tính luật pháp, thể hiện tôn ti trật tự xã hội; lại vừa là nhữngphong tục, tập quán, quy tắc ứng xử v.v mà mọi người, từ vua quan cho đếnthần dân phải tuân theo Thực chất Lễ là một thứ kỷ luật tinh thần để điều
Trang 10chỉnh hành vi của con người cho đúng với Nhân Như vậy, lễ là sự biểu hiệncủa nhân, đồng thời là điều kiện để đạt tới điều nhân
Trí là tri thức, mà con người phải có mới thực hành được điều nhân mộtcách triệt để Muốn có tri thức thì phải học tập Học để tu thân-tề gia-trị quốc-bình thiên hạ
Dũng là dũng cảm, dám vì nghĩa quên mình, không sợ cường quyềnbạo lực, có như vậy mới thực hiện được cứu nhân
Khổng Tử ít nói đến chữ Tín, nhưng ông khẳng định Tín là lời nói vàviệc làm phải thống nhất với nhau Khổng Tử coi trọng chữ Tín Để giữ vữngtrật tự xã hội, theo Khổng Tử điều kiện cơ bản, có ý nghĩa quyết định là dântin vào chính quyền
Về giáo dục, theo Khổng Tử, giáo dục là con đường duy nhất để thựchiện lý tưởng chính trị, giáo hóa dân chúng, thay đổi cách cư xử trong xã hội
và cao hơn cả là làm cho thiên hạ thái bình, thịnh trị Ông chủ trương học ởmọi nơi, mọi lúc, mọi người, “học không biết chán”, học phải đi đôi với hành
“Người quân tử học đạo, đồng thời phải biết hành đạo” Trên cương vị là mộtngười thầy, Khổng Tử là một tấm ngương mẫu mực của việc lấy nhân cáchcủa mình để tác thành nhân cách của học trò Ông đề cao việc tự học vàphương pháp dạy học theo cách đàm thoại, phù hợp với từng đối tượng Lýtưởng của việc giáo dục là hướng tới tạo dựng những nhân cách mẫu mực củacon người theo quan điểm Nho giáo Nho giáo đề cao ba mẫu người tiêu biểu:
kẻ sỹ, kẻ đại trượng phu và người quân tử Trong đó, người quân tử là danhhiệu cao quý nhất Mục đích của giáo dục là tạo dựng, phát triển, hoàn thiệnnhân cách con người, giúp con người được đẩy đủ những phẩm chất, năng lực
để tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ
Nhìn chung, hệ thống tư tưởng của Khổng Tử rất phong phú, có tínhbách khoa Trong đó các tư tưởng về chính trị xã hội, về đạo đức, về giáo dụchàm chứa nhiều tư tưởng triết học sâu sắc, được coi là tiêu biểu nhất Tuynhiên, học thuyết của Khổng Tử có mâu thuẫn, đan xen những khuynh hướng
Trang 11canh tđn với những khuynh hướng bảo thủ, giữa tư tưởng tiến bộ với tư tưởngbảo thủ, giữa quan niệm duy vật, vô thần với quan niệm duy tđm, thiín mệnh,hữu thần, giữa những yếu tố tích cực với yếu tố tiíu cực Tính không nhấtquân trong hệ thống tư tưởng của Khổng Tử lă cơ sở để Nho giâo phât triểntheo hai hướng: duy vật của Tuđn Tử vă duy tđm của Mạnh Tử
Nho gia dòng Khổng-Mạnh có ảnh hưởng sđu rộng vă lđu dăi nhấttrong lịch sử Trung Quốc vă câc nước lđn cận Nho giâo được lưu truyền ởViệt Nam lă tư tưởng Khổng-Mạnh với câch giải thích của Trình-Chu (TrìnhHạo 1032-1085, Trình Di 1033-1107, Chu Hy 1130-1200, đời nhă Tống)
Tử, Dương Chu (khoảng 395 - 335 tr.c.n) vă Trang Tử (369-286 tr.c.n); Liệt
Tử, Hoăi Nam Tử.Người sâng lập Đạo gia lă Lêo Tử Lêo Tử tự Bâ Dương có
3 tín gọi lă Lý nhĩ, Thâi sử Đan, Lêo Lai Tử; vẫn chưa có điều kiện lăm rõ lẵng sống văo thời Xuđn Thu (thế kỷ VI t.c.n) hay thời Chiến Quốc (thế kỷ IVt.c.n) Tâc phẩm duy nhất lă Đạo Đức Kinh, còn gọi lă Lêo tử
Lêo Tử trình băy toăn bộ tư tưởng của ông trín câc lĩnh vực bản thểluận, nhận thức luận, đạo đức vă chính trị - xê hội trong Đạo Đức kinh gồm
5000 chữ
Về bản thể luận, Lêo Tử tập trung ở phạm trù Đạo vă Đức, phản ânhthế giới quan duy vật tự phât vă tính biện chứng sơ khai Đạo lă bản nguyíncủa thế giới, lă cội nguồn sinh ra vũ trụ, trời đất, vạn vật Đó lă lực lượng vậtchất (thực tại) vô cùng rộng lớn, vận động không ngừng Vì lă câi khởinguyín câi ban đầu, thống nhất, nín Lêo Tử gọi Đạo lă câi một Đạo có thể,tướng vă dụng Thể của đạo lă câi một, thống nhất, tượng của đạo lă vô, còn