1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

CHUYÊN đề yếu tố NHIỆT của KHÍ hậu VIỆT NAM

19 312 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 1,6 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Yếu tố khí hậu như là yếu tố cơ bản, yếu tố nền quy định, chi phối đến các yếu tố tự nhiên khác thổ nhưỡng, sinh vật, địa hình, sự phân hóa thiên nhiên… nước ta Yếu tố nhiệt độ chế độ nh

Trang 1

CHUYÊN ĐỀ: YẾU TỐ NHIỆT CỦA KHÍ HẬU VIỆT NAM

A MỞ ĐẦU

1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA CHUYÊN ĐỀ

Phần đặc điểm chung tự nhiên có một dung lượng kiến thức khá lớn khoảng 15% trong toàn bộ chương trình địa lý 12 Trong đó, nội dung khí hậu Việt Nam đóng vai trò hết sức quan trọng Yếu tố khí hậu như là yếu tố cơ bản, yếu tố nền quy định, chi phối đến các yếu tố tự nhiên khác (thổ nhưỡng, sinh vật, địa hình, sự phân hóa thiên nhiên… nước ta)

Yếu tố nhiệt độ (chế độ nhiệt), lượng mưa là một trong những yếu tố hết sức quan trọng quy định đặc điểm khí hậu của Việt Nam Yếu tố nhiệt độ là một trong các chỉ tiêu được phân tích, đánh giá về khí hậu, phân vùng khí hậu ở nước ta Tìm hiểu, đánh giá, phân tích chỉ số nhiệt độ và các chỉ số khác kèm theo trong khí hậu cũng có giá trị thực tiển rất cao đặc biệt là vận dụng yếu tố nhiệt độ vào việc đánh giá mục tiêu phục

vụ nông nghiệp, du lịch…

Trong cấu trúc đề thi học sinh giỏi quốc gia giai đoạn 2005 - 2012 (HSGQG), trong hơn 7 năm thì tần suất xuất hiện nội dung yếu tố nhiệt độ với khí hậu Việt Nam là 2/7 năm Để nắm bắt được đặc điểm nổi bật của chế độ nhiệt của khí hậu nước ta và vận dụng giải thích các vấn đề kiến thức liên quan trong việc giảng dạy, bồi dưỡng học sinh giỏi quốc gia đòi hỏi giáo viên và học sinh phải nghiên cứu kĩ mảng chuyên đề này Việc giảng dạy nội dung địa lý tự nhiên Việt Nam trong những năm qua đã có nhiều thuận lợi hơn do nguồn tài liệu khá phong phú, được biên soạn phù hợp theo hướng đổi mới việc dạy học Tuy vậy, nội dung yếu tố nhiệt độ trong khí hậu Việt Nam chưa được biên soạn cụ thể, có hệ thống

Để có tài liệu phục vụ công tác giảng dạy và học tập địa lý tự nhiên Việt Nam, đặc biệt là nội dung yếu tố nhiệt độ với khí hậu Việt Nam, nhóm địa lý chúng tôi xin phép tổng hợp một số nội dung chủ yếu của nhiệt độ với khí hậu Việt Nam

2 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU

- Tổng hợp, hệ thống hóa một số nội dung liên quan đến yếu tố nhiệt độ trong khí hậu nước ta

- Phân tích, chứng minh đặc điểm yếu tố nhiệt độ với khí hậu, các nhân tố ảnh hưởng đến chế độ nhiệt nước ta

-Xây dựng hệ thống bài tập thông qua nội dung yếu tố nhiệt độ với khí hậu nước ta phục vụ giảng dạy, kiểm tra - đánh giá học sinh

Trang 2

B NỘI DUNG

Sơ đồ cấu trúc nội dung

1 KIẾN THỨC CƠ BẢN

1.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến chế độ nhiệt của khí hậu Việt Nam

1.1.1 Vị trí, lãnh thổ

Nước ta nằm hoàn toàn trong đới nội chí tuyến Bán cầu Bắc Vị trí nằm trong khu vực nội chí tuyến khiến cho mặt trời luôn đứng cao trên đường chân trời, độ cao mặt trời thấp nhất lúc giữa trưa ở Đồng Văn là 43o12’, ở vĩ độ 20oB là 46o46’ và vĩ độ 10oB tới 56o46’ Không kể thời gian Mặt trời lên thiên đỉnh, trong nhiều tháng khác, độ cao Mặt trời vào lúc giữa trưa cũng đạt trên 80o Kết quả là ở nước ta lượng bức xạ tổng cộng rất lớn, còn cân bằng bức xạ dương quanh năm, chính điều này đã làm cho nhiệt

độ trung bình năm trên 23oC, tổng lượng nhiệt hoạt động từ 8.000 - 9.000oC, đạt tiêu chuẩn khí hậu nhiệt đới

Vị trí địa lí của nước ta, với điểm cực bắc cách chí tuyến Bắc hơn 0o04’ và điểm cực nam cách xích đạo 8o34’, đã khiến cho khắp mọi nơi đều có hai lần mặt trời qua thiên đỉnh, nhưng khoảng cách về thời gian giữa hai lần ấy không đồng nhất giữa các vùng (ở cao nguyên Đồng văn chỉ trong vài ngày còn ở bán đảo Cà Mau khoảng cách này là gần 5 tháng) Tình hình như trên đã dẫn đến sự khác nhau trong chế độ nhiệt giữa các khu vực ở phía Bắc và phía Nam của lãnh thổ: ở miền Bắc chế độ nhiệt có dạng chí tuyến, ở miền Nam có dạng Xích đạo Điều này giúp chúng ta hiểu tại sao ngày nóng nhất trong năm ở Tp Hồ Chí Minh và Nam Bộ đều sớm từ tháng tư trong khi những ngày nắng gay gắt nhất ở Hà Nội và đồng bằng Bắc Bộ là những ngày cuối tháng năm và trung tuần tháng VII

Nhiệt độ của khí hậu Việt Nam

Các yếu tố

ảnh hưởng

đến chế độ

nhiệt của

khí hậu Việt

Nam

Đặc điểm chế

độ nhiệt của nước ta

Sự phân vùng khí hậu Việt Nam

Bài tập vận dụng

Trang 3

Nếu không có sự tác động của gió mùa, với lãnh thổ kéo dài trên 15o vĩ khiến cho nhiệt độ giảm dần từ Nam ra Bắc và biên độ nhiệt trong năm ở miền Bắc cao hơn miền Nam Sự chênh lệch nhiệt độ trung bình năm giữa hai miền có thể tới 6oC và sự chênh lệch nhiệt độ trung bình tháng lạnh nhất có thể lên tới 14oC Ví dụ nhiệt độ trung bình năm của Lạng Sơn (21o50’B) là 21,6oC trong khi Tp Hồ Chí Minh (10o49’B) tới 27,1oC Nếu nhiệt độ trung bình tháng lạnh nhất của Lạng Sơn là 13,3oC thì Tp Hồ Chí Minh là 26,8oC

Một hệ quả quan trọng của vùng nội chí tuyến là chế độ ngày ngắn và ít dao động trong năm Ở cực Bắc nước ta ngày dài nhất (22/6) được 12 giờ 23 phút và ngày ngắn nhất 10 giờ 46 phút (22/12), vào xuân phân, thu phân, là 12 giờ 06 phút và 12 giờ 08 phút Điều này đã làm cho biên độ nhiệt ngày đêm không quá lớn

1.1.2 Đặc điểm bề mặt đệm

Địa hình nước ta là nhân tố tác động mạnh mẽ tới nhiệt độ Nước ta có ¾ diện tích

là đồi núi, do đó nhiệt độ ở nước ta có sự phân hoá theo độ cao và theo chiều đông -tây Sapa (22o20’B, 1570 m) và Lai Châu (22o03’B, 244m) ở vĩ độ xấp xỉ nhau nhưng

do Sapa nằm ở độ cao cao hơn nên nhiệt độ trung bình năm chỉ là 15,2oC thấp hơn Lai Châu (22,6oC), hay Đà Lạt (11o57’B, 513m) và Nha Trang (12o13’B, 6m) ở vĩ độ xấp xỉ nhau nhưng do Đà Lạt nằm ở độ cao cao hơn nên nhiệt độ trung bình năm chỉ là 18,3oC thấp hơn Nha Trang (26,3oC) Ở phía Bắc, do ảnh hưởng của địa hình khiến cho chế độ nhiệt giữa Đông Bắc và Tây Bắc cũng có sự khác biệt Tây Bắc có mùa đông đến muộn

và kết thúc sớm còn Đông Bắc có mùa đông đến sớm kết thúc muộn Sở dĩ như vậy vì

do Đông Bắc có các cánh cung mở rộng về phía Bắc và phía Đông hút gió mùa Đông Bắc lạnh còn Tây Bắc bị dãy Hoàng Liên Sơn cao chắn gió, nếu gió mùa Đông Bắc vượt qua dãy núi cao này thì cũng đã bị biến tính

Hệ thống sông ngòi và Biển Đông ảnh hưởng đến cơ chế gió mùa (biến tính các khối khí khi đi qua biển) và hiệu ứng vi khí hậu đã làm cho mùa đông nhiệt độ không xuống quá thấp, mùa hè ít nóng bức

1.1.3 Hoàn lưu khí quyển

a Gió mùa.

Gió mùa mùa đông góp phần làm cho biên độ nhiệt lớn hơn Càng vào Nam càng

xa tác động của gió mùa mùa đông nên biên độ nhiệt độ càng nhỏ Ví dụ, biên độ nhiệt

độ trung bình năm của Hà Nội (21o01’B) là 12,5oC trong khi Tp Hồ Chí Minh chỉ có 3,1oC Nếu biên độ nhiệt tuyệt đối (nhiệt độ tối cao và tối thấp) của Hà Nội là 40,1oC thì

Tp Hồ Chí Minh thấp hơn nhiều: 26,2oC Ở phía Bắc, khu vực Đông Bắc chịu ảnh hưởng trực tiếp của gió mùa đông nên biên độ nhiệt lớn hơn khu vực Tây Bắc Có thể chứng minh như sau: biên độ nhiệt độ trung bình năm của Lạng Sơn là 13,7oC trong khi Lai Châu (22o03’B) thấp hơn chỉ có 9,4oC, nếu biên độ nhiệt tuyệt đối ở Lạng Sơn là 41,9oC thì Lai Châu chỉ có 37,6oC

Trang 4

Hình 1 Đường biến thiên của nhiệt độ ( o C) theo thời gian trong đợt gió mùa Đông Bắc tràn về

Gió mùa mùa hạ với hai khối khí xuất phát từ vịnh Bengan ở bắc Ấn Độ Dương và khối khí xích đạo (Em) với tính chất nóng ẩm đã làm nền nhiệt độ của nước ta tăng Tại

Hà Nội, vào thời kỳ này nhiệt độ vào khoảng 27oC vào Nam nhiệt độ có giảm từ 26

-28oC Tuy nhiên, khối khí từ vịnh Bengan khi di chuyển vào đầu mùa hạ, càng lên phía Bắc và sang sườn Đông của dãy Trường Sơn, do hiệu ứng phơn gây ra gió Tây khô nóng (“gió Lào”) làm nhiệt độ có thể lên tới 40oC Nhiệt độ ở Hà Nội là 29 - 30oC, Bắc Trung Bộ 36 - 38oC

Hình 2 Đường biến thiên của nhiệt độ ( o C) theo thời gian trong đợt gió mùa Tây Nam tràn về.

b.Gió Mậu Dịch.

Nền nhiệt của nước ta còn bị chi phối bởi gió Mậu Dịch Bán cầu Bắc xuất phát từ rìa phía Nam của trung tâm khí áp cao cận chí tuyến suốt cả 12 tháng trong năm Tuy nhiên, ảnh hưởng của gió Mậu Dịch không liên tục do bị lấn át bởi các trung tâm gió

Trang 5

mùa Gió Mậu Dịch làm nhiệt độ tăng lên trong những thời điểm gió mùa mùa đông suy yếu ở miền Bắc

c Front.

Front cực (Front lạnh) là nơi gặp gỡ giữa khối khí cực mới đến với khối khí nóng hơn đang tồn tại trên lãnh thổ (NPc đất/ NPc biển, NPc biển/ Tm) Khi front cực xuất hiện làm nhiệt độ giảm liên tục từ 3 - 5oC/24h, có thể đến 5 -10oC/24h

Bảng 1 Tần suất hạ nhiệt độ do ảnh hưởng của Front cực (Đơn vị: %)

(Nguồn:Tư liệu điện tử.ppt, chương 4 - khí hậu Việt Nam, trường Đại học sư phạm Hà Nội, khoa Địa Lý, 2009)

Tần suất hạ nhiệt độ do ảnh hưởng của Front cực tập trung trong khoảng <5oC, cao nhất là các địa điểm vùng Đông Bắc như Lai Châu (77%), Đồng bằng sông Hồng như

Hà Nội (58%) Càng về phía Nam tần suất này giảm hẳn như Vinh (55%)

Ngoài ra, chế độ nhiệt của nước ta còn chịu sự chi phối của các yếu tố khác như hội tụ nhiệt đới, bão, áp thấp nhiệt đới, đường đứt… phần lớn các nhân tố này ảnh hưởng đến chế độ nhiệt của nước ta thông qua tương quan nhiệt - ẩm Hội tụ nhiệt đới, bão kết hợp với gió mùa Tây Nam thường gây ra lượng mưa lớn cũng là nguyên nhân làm giảm nhiệt độ

1.2 Đặc điểm chế độ nhiệt nước ta

1.2.1 Chế độ nhiệt nước ta mang tính chất nhiệt đới

Do nước ta nằm hoàn toàn trong vùng nội chí tuyến Bán cầu Bắc (từ 8o34’ B đến

23o23’B) khiến cho trong năm Mặt trời luôn nằm cao trên đường chân trời và qua thiên đỉnh hai lần với chu kì quang ngắn, góc nhập xạ lớn nên lượng nhiệt nhận được hàng năm lớn Sự chênh lệch về thời gian giữa ngày dài nhất (22/6) và ngày ngắn nhất (22/12) không nhiều, khoảng 1 - 2.5 giờ (tại Đồng Văn là 2 giờ 37 phút, tại 10oB là 1 giờ 10 phút), nên chế độ ngày ngắn và ít dao động trong năm làm cho nhiệt độ có sự ổn định hơn Bảng 2 Nhiệt độ trung bình năm ở một số địa điểm của nước ta

Địa điểm Nhiệt độ trung bình

năm (oC)

Trang 6

Nhiệt độ trung bình năm của tuyệt đại bộ phận lãnh thổ Việt Nam đều cao, đạt tiêu chuẩn khí hậu nhiệt đới với nhiệt độ đều trên 20oC (trừ vùng núi) Phần lãnh thổ miền Bắc (tới vĩ độ 16oC) có nhiệt độ trung bình năm trên 20oC (tổng nhiệt độ năm trên

7500oC) Phần lớn lãnh thổ miền Nam có nhiệt độ trung bình năm trên 24oC (tổng nhiệt

độ trên 9000oC)

1.2.2 Tính thất thường trong chế độ nhiệt

Tính thất thường trong chế độ nhiệt thể hiện ở sự dao động nhiệt độ giữa các tháng trong năm Ở Hà Nội, nhiệt độ tháng thấp nhất là tháng I (16,4oC ), nhiệt độ tháng cao nhất là tháng VI (28,9oC), chênh lệch nhiệt độ giữa 2 mùa là 12,5oC

Ngay cả trong một mùa, sự dao động nhiệt độ thể hiện rất rõ Sự dao động thể hiện

rõ nhất ở các tháng mùa đông của miền Bắc, nhiệt độ tháng I lạnh nhất có thể nóng hoặc lạnh hơn trị số trung bình từ 3- 5oC Ví dụ ở Lạng Sơn nhiệt độ trung bình tháng I

là 13,7oC nhưng năm 1930 tháng I nhiệt độ giảm còn 7- 8oC, còn năm có mùa đông ấm, tháng I nhiệt độ lên tới 17oC

Trong mùa nóng, sự đồng nhất về khối khí thịnh hành đã san bằng sự chênh lệch nhiệt độ giữa các vùng và giữa các năm Vì thế, mức độ dao động lớn nhất của nhiệt độ tháng VII, tháng coi như điển hình của mùa hạ, chỉ khoảng 1 - 2oC Đối với các thời kì trung gian, sự giao động nhỏ hơn mùa lạnh và cao hơn mùa nóng, và khu vực biến động nhiều là khu Đông Bắc (thiên về biến động âm lớn) và khu Bình Trị Thiên (thiên về biến động dương) Nói chung, trị số biến động lớn nhất khoảng 2 - 3oC và trung bình khoảng 1oC

Tính thất thường của chế độ nhiệt còn thể hiện ở sự dao động nhiệt giữa năm nóng nhất và lạnh nhất so với trị số trung bình, làm cho có năm mùa đông đến sớm có năm đến muộn.Ví dụ Lạng Sơn tháng I nhiệt độ cao nhất 31oC, vào năm 1931 nhiệt độ thấp nhất -2,1oC năm 1963 Tháng VI nhiệt độ lớn nhất là 37oC năm 1949, nhiệt độ thấp nhất

6oC năm 1922

Ngoài ra, tính thất thường của chế độ nhiệt còn thể hiện ở nhiệt độ tối cao tuyệt đối và nhiệt độ tối thấp tuyệt đối

Bảng 3 Nhiệt độ trung bình tháng của một số địa điểm năm (Đơn vị: oC)

Hà Nội 16,4 17,0 20,2 23,7 27,3 28,8 28,9 28,2 27,2 24,6 21,4 18,2 Huế 20,0 20,9 23,1 26,0 28,3 29,3 29,4 28,9 27,1 25,1 23,1 20,8

Q Nhơn 23,0 23,8 25,3 27,2 28,8 29,6 29,7 29,8 28,2 26,6 25,3 23,7

Cà Mau 25,1 25,8 26,8 27,9 27,7 27,3 27,1 27,0 26,9 26,7 26,3 25,5 (Nguồn:Địa lý tự nhiên Việt Nam, Vũ Tự Lập, nxb giáo dục, 1999)

1.2.3 Chế độ nhiệt nước ta phân hóa đa dạng

Trang 7

Sự phân hóa đa dạng của chế độ nhiệt thể hiện ở sự phân hóa Bắc Nam, Đông -Tây, theo địa hình và theo thời gian

a Theo Bắc - Nam

Nhiệt độ giảm dần theo vĩ độ từ Nam ra Bắc (trung bình 0,35oC/1o vĩ tuyến, nhiều hơn so với các nước khác ở trong khu vực nhiệt đới như Ấn Độ chỉ 0,04oC/1o vĩ tuyến, Lào 0,2oC/1o vĩ tuyến)

Bảng 4 Nhiệt độ trung bình năm một số địa điểm ở nước ta

(Nguồn:Địa lý tự nhiên Việt Nam, Vũ Tự Lập, nxb giáo dục, 1999)

Các số liệu trong bảng phản ánh rõ rệt quy luật phân hóa địa đới, nhiệt độ tăng dần

từ Bắc vào Nam Hà Nội (23,5oC), Rạch Giá (27,6oC) Nhiệt độ trung bình năm chênh lệch giữa 2 địa điểm là 4,1oC

Xét về biên độ nhiệt độ cũng tuân theo quy luật địa đới Ngoài ra, nơi nào chịu tác động của gió mùa Đông Bắc sẽ có biên độ nhiệt độ cao hơn Chính vì vậy biên độ nhiệt ở miền Bắc lớn hơn miền Nam rất nhiều Càng vào Nam (càng gần xích đạo) biên

độ nhiệt chênh lệch càng lớn Hà Nội và Hồ Chí Minh lệch nhau 9,3oC

Bảng 5 Biên độ nhiệt năm một số địa điểm ở nước ta

(Nguồn:Sách giáo khoa địa lý 12, trang 53 - Nâng cao, nxb giáo dục, 2008)

Sự phân hóa chế độ nhiệt phân hóa lãnh thổ Việt Nam với 2 vùng lãnh thổ có chế

độ nhiệt và khí hậu khác nhau Ranh giới sự phân chia đó là vĩ tuyến 16oB (dãy Bạch Mã)

- Phần Lãnh thổ phía Bắc: Có sự hạ thấp đáng kể của nhiệt độ vào mùa đông Tháng I hầu như các địa phương từ 16oB trở ra đều có nhiệt độ <20oC, dao động nhiệt

độ cao > 10oC; Chế độ nhiệt có 1 cực đại và 1 cực tiểu do khoảng cách 2 lần MT lên thiên đỉnh gần nhau

Trang 8

- Phần lãnh thổ phía Nam: Nền nhiệt cao và khá ổn định Tháng I hầu như các địa phương từ Đà Nẵng trở vào đều có nhiệt độ >20oC, dao động nhiệt độ thấp 3 - 5oC; Chế

độ nhiệt có 2 cực đại và 2 cực tiểu do khoảng cách 2 lần MT lên thiên đỉnh xa nhau

b Theo Đông - Tây

Sự phân hoá Đông - Tây là do ảnh hưởng của Biển Đông và các yếu tố địa hình gây nên Điển hình cho sự phân hóa này là sự phân hóa chế độ nhiệt và khí hậu của vùng núi phía Băc thành hai vùng Tây Bắc và Đông Bắc Nguyên nhân của sự phân hóa là do bức chắn địa hình của dãy Hoàng Liên Sơn chạy dọc theo hướng Tây Bắc - Đông Nam khoảng 180km Dãy núi này đã ngăn cách, làm suy yếu và biến tính gió mùa mùa đông làm cho Tây Bắc có nền nhiệt cao hơn Đông Bắc

Bảng 6 Nhiệt độ trung bình tháng I, số tháng lạnh một số địa điểm ở nước ta

Địa điểm Nhiệt độ (oC) Số tháng lạnh (tháng)

(Nguồn: Đơn vị hành chính, đất đai, khí hậu Niên giám thống kê, tổng cục thống kê) Qua bảng số liệu cho ta thấy Lạng Sơn (13,3oC) so với Điện Biên (16,0oC), lệch nhau 2,7oC Ở Tây Bắc, nếu bỏ qua yếu tố đai cao thì Tây Bắc có nền nhiệt tương đương với Bắc Trung Bộ Mặc dù vẫn chịu tác động của gió mùa mùa đông nhưng tần suất ảnh hưởng gió mùa mùa đông là ít hơn so với vùng Đông Bắc Mùa đông ở đây đến muộn nhưng kết thúc sớm, mùa hạ đến sớm và kéo dài Ngoài ra, Tây Bắc còn chịu ảnh hưởng của hiệu ứng phơn về mùa hạ Trong khi đó, ở Đông Bắc do có các cánh cung đón gió nên đây là vùng có khí hậu lạnh nhất cả nước, tần suất hoạt động của gió mùa đông bắc rất mạnh, nền nhiệt vào mùa đông bị hạ thấp Biên độ nhiệt độ cao, có 3 tháng mùa đông lạnh Nhiều địa phương có hiện tượng tuyết rơi vào mùa đông

Ngoài ra, giữa Tây Nguyên và Nam Trung Bộ cũng có sự chênh lệch Giữa Pleiku

và Quy Nhơn lệch nhau 0,6oC

Bảng 7 Nhiệt độ trung bình năm theo chiều Đông - Tây tại TT.Huế

Đồng bằng và gò đồi thấp hơn 100m 24 – 25

(Nguồn: Địa chí Thừa Thiên Huế - Phần Tự nhiên, nxb Khoa học xã hội - năm 2005 Xét khí hậu tỉnh TT Huế như vi khí hậu thì ngay trong đơn vị hành chính tỉnh cũng xảy ra sự phân hóa theo chiều Đông - Tây, Giữa phía Đông là vùng đồng bằng ven biển và phía Tây là vùng đồi núi nền nhiệt có thể lệch nhau gần 7 oC

Bảng 8 Tổng nhiệt độ không khí theo Đông - Tây tại TT Huế

Đồng bằng và gò đồi thấp hơn 100m 8500 – 9000

(Nguồn: Địa chí Thừa Thiên Huế - Phần Tự nhiên, nxb Khoa học xã hội - năm 2005)

Trang 9

Cùng với sự phân hóa nhiệt độ trung bình theo chiều Đông - Tây, Tổng nhiệt độ của TT Huế cũng có sự phân hóa tương tự, lệch nhau gần 1000oC

c Phân hoá theo độ cao

Do nước ta chủ yếu là đồi núi nên nhiệt độ có sự giảm theo chế độ đoản nhiệt 6o/1000m, hình thành các đai khí hậu theo độ cao: Dưới 600 -700 m là đai nhiệt đới gió mùa chân núi, trên 600- 700m đai khí hậu cận nhiệt trên núi, trên 2400- 2600 khí hậu núi cao

Đai nhiệt đới gió mùa chân núi: do tác động của gió mùa và vị trí nên giới hạn độ cao của đai này có sự khác biệt giữa miền bắc và miền nam: Miền Bắc đến độ cao 600 -700m, miền Nam tới 900 - 1000m Nhiệt độ trung bình năm cao >25oC, mưa khá lớn, nền nhiệt tương đối ổn định

Đai cận nhiệt gió mùa trên núi: tiếp theo đai nhiệt đới gió mùa đến độ cao 2600m Khí hậu tương đối mát mẻ, không có tháng nào quá 25oC, lượng mưa lớn do địa hình Đại ôn đới gió mùa núi cao: từ 2600m trở lên (chỉ có ở khu vực Hoàng Liên Sơn) Nhiệt độ thấp <15oC, mùa đông dưới 5oC, trời lạnh gió mạnh và có mưa lớn

Bảng 9 Nhiệt độ trung bình năm của các địa điểm

Nếu Sơn La có độ cao (676 m) có nhiệt độ 21,0oC thì Hoàng Liên Sơn là (2170 m) với nhiệt độ 12,8oC, chênh lệch độ cao là 1794 m gần 10oC

d Phân hóa theo thời gian (mùa)

Chế độ nhiệt của nước ta có sự phân hóa theo mùa rất rõ rệt Xét trên bình diện cả nước, nhiệt độ trung bình tháng I (đặc trưng cho mùa đông) có sự chênh lệch nhiệt độ lớn giữa miền Bắc (trung bình dưới 18oC và địa phương miền núi dưới 14oC) và miền Nam, trong đó Nam Bộ có nhiệt độ trung bình cao nhất (trên 24oC) Nhiệt độ trung bình tháng VII (đặc trưng cho mùa hạ), toàn quốc có nền nhiệt độ cao, nơi có nhiệt độ cao nhất là đồng bằng Bắc Bộ và duyên hải Bắc Trung Bộ Các vùng núi cao có khí hậu mát

mẻ, nhiệt độ trung bình dưới 20oC

Bảng 10: Nhiệt độ trung bình tại một số địa điểm

Địa điểm

Nhiệt độ trung bình tháng I ( o C)

Nhiệt độ trung bình tháng VII ( o C)

Nhiệt độ trung bình năm ( o C)

(Nguồn: Sách giáo khoa địa lý 12, trang 44-Nâng cao, nxb giáo dục, 2008)

Trang 10

Miền Bắc là khu vực thể hiện rõ nhất sự phân hóa của chế độ nhiệt theo thời gian, chế độ nhiệt phân hoá thành 2 mùa nóng (mùa hè) - mùa lạnh(mùa đông) Mùa nóng (mùa hè): Từ tháng V đến tháng X: Nhiệt độ cao, cao nhất vào tháng VII, nhiệt độ trung bình tháng VII ở miền Bắc chủ yếu từ 24 - 28oC; > 28oC Mùa Lạnh từ tháng XI đến tháng IV, nhìn chung nền nhiệt ở miền bắc thấp, thấp nhất vào tháng I Nhiệt độ trung bình tháng I chủ yếu từ 14 - 18oC và <14oC do góc nhập xạ giảm và đây là khu vực chịu ảnh hưởng mạnh nhất của gió mùa Đông Bắc ở nước ta

Ở miền nam, sự phân hoá mùa không rõ rệt, nhiệt độ gần như nóng quanh năm, biên độ nhiệt độ rất nhỏ, đặc biệt riêng Nam Bộ quanh năm đều > 24oC do nằm gần xích đạo, quanh năm nhận được góc chiếu sáng lớn

1.2.4 Chế độ nhiệt nước ta có xu hướng biến động do biến đổi khí hậu toàn cầu

Theo đánh giá của Chương trình Phát triển Liên hiệp quốc (UNDP), Việt Nam nằm trong 5 nước đứng đầu thế giới dễ bị tổn thương nhất đối với biến đổi khí hậu Viện Khoa Học Thủy Lợi cho biết, sự biến đổi khí hậu toàn cầu đã có những tác động không nhỏ đến thời tiết, khí hậu Việt Nam Theo đánh giá của Trung Tâm Quốc Tế Về Quản Lý Môi Trường (ICEM), tại Việt Nam, nhiệt độ trong vòng 50 năm gần đây đã tăng khoảng 0,5 - 0,7oC, Đến năm 2020 nhiệt độ sẽ tăng từ 1- 2oC vào, từ 1,5 - 2,5oC vào năm 2070 Những khu vực có nhiệt độ tăng cao nhất là Tây Bắc và Việt Bắc

Bảng 11: Xu hướng biến động nhiệt độ một số địa điểm giai đoạn 1931 - 2000

1931-1940 23,3 25,4 27,0 15,9 21,1 25,8 28,6 28,7 26,8 1941-1950 23,6 25,5 26,9 17,5 21,4 25,8 28,8 28,9 26,8 1951-1960 23,5 25,8 27,0 16,5 21,5 25,8 28,8 29,2 27,2 1961-1970 23,5 26,0 27,2 16,3 21,6 25,6 29,2 29,5 27,4 1971-1980 23,4 25,8 27,3 16,0 21,4 25,9 29,0 29,5 27,4 1981-1990 23,6 25,8 27,4 16,4 21,4 25,9 29,3 29,1 27,4 1991-2000 24,1 25,8 27,6 17,0 21,7 26,3 29,4 29,2 27,4 (Chú thích: (TN): Nhiệt độ trung bình năm; (T1) và (T7):Nhiệt độ trung bình tháng I

và tháng VII; HN: Hà Nội; ĐN: Đà Nẵng; TSN: Tân Sơn Nhất)

Qua bảng số liệu, ta thấy Hà Nội từ năm 1931 đến năm 2000 nhiệt độ trung bình năm tăng từ 23,3oC lên 24,1oC, tăng 0,8oC trong vòng 70 năm Nhiệt độ tháng I tăng 1,1oC, nhiệt độ tháng VII tăng 0,8oC Các địa điểm khác trong thời gian trên nhiệt độ cũng có tăng lên đáng kể

Biến đổi khí hậu làm cho tần suất, cường độ cực đoan của khí hậu tăng lên rất nhiều lần Chúng ta có thể cảm nhận được nhiệt độ của mùa hè với các đợt nắng nóng tăng lên và kéo dài gây ra tình trạng hạn hán, mùa đông ngắn lại nhưng các đợt rét đậm, rét hại có khi kéo dài liên tục đến hơn 1 tháng (mùa đông năm 2007), trong mùa đông

số ngày mưa phùn giảm dần làm cho nền nhiệt độ chung hạ thấp hơn so với mức trung bình

Ngày đăng: 24/04/2017, 01:41

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w