1. Trang chủ
  2. » Công Nghệ Thông Tin

Nghiên cứu công nghệ nhận dạng tiếng nói và ứng dụng xây dựng hệ thống hỗ trợ dịch cabin

57 227 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 57
Dung lượng 2,72 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nguyễn Ái Việt – người đã tận tình chỉ bảo, định hướng cụ thể để bản thân tôi có được sự chuẩn bị rõ ràng, tiếp thu những ý kiến bổ ích và để bản thân tôi thực hiện đồ án tốt nghiệp này

Trang 1

LỜI CẢM ƠN

Trước khi bước vào quá trình trình bày chi tiết về quá trình học tập và thực hiện đồ án tốt nghiệp của bản thân mình trong thời gian qua Cho phép tôi được gửi lời cảm ơn đến những người đã bên tôi, động viên và giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện nghiên cứu, tìm hiểu về đề tài cũng như quá trình hoàn thiện đề tài, để bản thân tôi có thể hoàn thành đúng thời hạn với đề tài nghiên cứu của bản thân

Cho phép tôi gửi lời cảm ơn tới Ban giám hiệu trường Đại học Công nghệ thông tin và truyền thông và các thầy cô đã và đang tham gia công tác giảng dạy tại trường đã cố gắng nỗ lực để có thể tạo một môi trường học tập tốt nhất cho bản thân tôi và các bạn sinh viên trong trường với những trang thiết bị hỗ trợ luôn được chú ý nâng cấp hiện đại hơn qua mỗi năm

Cho phép tôi gửi lời cảm ơn tới những thầy cô trong bộ môn Hệ thống thông tin – Khoa công nghệ thông tin – Trường đại học Côg nghệ thông tin và truyền thông đã hết mình giảng dạy, truyền đạt kiến thức chuyên ngành và định hướng cho tôi cùng các bạn sinh viên về những hướng đi của bản thân làm sao để phù hợp với năng lực của bản thân

Cho phép tôi gửi lời cảm ơn chân thành tới TS Nguyễn Văn Tới – người

thầy hướng dẫn tôi thực hiện đồ án tốt nghiệp này Cảm ơn thầy đã tạo điều kiện

và xây dựng định hướng kĩ càng hơn cho bản thân tôi để tôi có thể thực hiện đề tài nghiên cứu của mình một các tốt nhất

Tiếp theo cho tôi gửi lời cảm ơn chân thành tới PGS.TS Nguyễn Ái Việt –

người đã tận tình chỉ bảo, định hướng cụ thể để bản thân tôi có được sự chuẩn bị

rõ ràng, tiếp thu những ý kiến bổ ích và để bản thân tôi thực hiện đồ án tốt nghiệp

này với đề tài: “Nghiên cứu công nghệ nhận dạng tiếng nói và ứng dụng xây dựng hệ thống hỗ trợ dịch Cabin”

Qua đây cũng cho tôi gửi lời cảm ơn tới cô Lê Ngọc Hồng – Chủ tịch

HĐQT kiêm Giám đốc Công ty VIEGRID JSC, cùng toàn thể các anh chị nhân viên trong công ty đã tạo điều kiên cho em được làm việc trong môi trường

Trang 2

nghiêm túc và hướng dẫn cũng như chỉ bảo tận tình cho bản thân em trong quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu của bản thân tại đây

Cuối cùng cho tôi được gửi lời cảm ơn chân thành tới tất cả mọi người, những người thân, bạn bè đã luôn bên cạnh tôi, động viên, giúp đỡ tôi để tôi có thể vững tâm hơn thực hiện đồ án của mình với sự nỗ lực hết mình của bản thân

Xin chân thành cảm ơn!

Thái Nguyên, ngày … tháng … năm ……

Sinh viên thực hiện

Nguyễn Khắc An

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN 1

MỤC LỤC 3

DANH MỤC HÌNH ẢNH 5

MỞ ĐẦU 6

TÓM TẮT NỘI DUNG 8

CHƯƠNG I: SƠ LƯỢC VỀ DỊCH CABIN 9

1.1 Khái niệm dịch Cabin 9

1.2 Thành phần cơ bản .9

1.3 Hiện trạng thực tế 10

CHƯƠNG II: TỔNG QUAN VỀ NHẬN DẠNG TIẾNG NÓI 11

2.1 Tổng quan về nhận dạng tiếng nói 11

2.1.1 Khái niệm 11

2.1.2 Nguyên tắc của nhận dạng tiếng nói 12

2.1.3 Cách tiếp cận 12

2.2 Một số công trình nghiên cứu về nhận dạng tiếng nói 12

2.2.1 Quốc tế 12

2.2.2 Việt Nam 16

2.3 Ứng dụng của nhận dạng tiếng nói 16

CHƯƠNG III: CMU SPHINX 18

3.1 Giới thiệu 18

3.1.1 Các tính năng chính 18

3.1.2 Các lợi ích khi sử dụng Sphinx 19

3.2 Kiến trúc Sphinx 19

3.2.1 Bộ ngoại vi (FontEnd) 21

3.2.2 Bộ giải mã (Decoder) 22

3.2.3 Bộ ngôn ngữ (Linguist) 23

CHƯƠNG IV: CHƯƠNG TRÌNH DEMO 26

4.1 Cài đặt 26

Trang 4

4.1.2 Cài đặt 26

4.2 Xây dựng bộ ngôn ngữ 28

4.2.1 Xây dựng bộ từ điển 28

4.2.2 Xây dựng mô hình ngôn ngữ 29

4.2.3 Xây dựng mô hình âm học 32

4.2.4 Tiến hành huấn luyện 36

4.2.5 Huấn luyện thích nghi 38

4.3 Chương trình Demo 43

4.3.1 Giao diện chương trình demo: 43

4.3.2 Đánh giá 43

KẾT LUẬN 53

1 Kết quả đạt được 53

2 Những điểm hạn chế .53

3 Hướng nghiên cứu và phát triển .53

TÀI LIỆU THAM KHẢO 55

NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN 57

Trang 5

DANH MỤC HÌNH ẢNH

Hình 1.1 : Mô hình dịch Cabin hiện nay 9

Hình 2.1: Mô hình tổng quát của nhận dạng tiếng nói 11

Hình 3.1: Kiến trúc Sphinx 20

Hình 3.2: Kiến trúc tổng quát bộ Ngoại vi 21

Hình 3.3: Chuỗi các Dataprocessor trong quá trình xử lý 22

Hình 3.4: Ví dụ một đồ thị tìm kiếm đơn giản 25

Hình 4.1: cài đặt Sphinx trên Ubuntu 26

Hình 4.2: Sơ đồ quá trình tạo mô hình ngôn ngữ bằng công cụ CMUcmltk 29

Hình 4.4: Giao diện ứng dụng nhận dạng trên HDH Window 43

Hình 4.5: Blue score – AJHope – Direct 44

Hình 4.6: Accuracy – AJHope – Direct 45

Hình 4.7: Blue score - Kennedy - Direct 45

Hình 4.8: Accuracy - Kennedy – Direct 46

Hình 4.9: Blue score - Nicxon – Direct 46

Hình 4.10: WER – Nicxon – Direct 47

Hình 4.11: Accuracy - Nicxon - Direct 47

Hình 4.12: Blue score - Kennedy nhận dạng AJHope 48

Hình 4.13: WER – Kennedy nhận dạng AJHope 48

Hình 4.14: Accuracy - Kennedy nhận dạng AJHope 49

Hình 4.15: Blue score - Kennedy nhận dạng Nicxon 49

Hình 4.16: WER – Kennedy nhận dạng Nicxon 50

Hình 4.17: Accuracy - Kennedy nhận dạng Nicxon 50

Hình 4.18: Blue score - Kennedy nhận dạng Nicxon 51

Hình 4.19: WER – Kennedy nhận dạng Nicxon 51

Hình 4.20: Accuracy - Kennedy nhận dạng Nicxon 52

Trang 6

MỞ ĐẦU

Công nghệ nhận dạng tiếng nói, một trong những lĩnh vực luôn dành được những sự quan tâm hàng đầu của những nhà nghiên cứu trong lĩnh vực Công nghệ thông tin Ngay từ những năm giữa thế kỉ XX, tức là khi công nghệ thông tin mới bắt đầu được đặt nền móng để phát triển, những đề tài hay ý tưởng về nhận dạng tiếng nói và xử lý ngôn ngữ đã được hình thành Cùng với quá trình phát triển công nghệ thông tin, và các bước đột phá trong việc nâng cấp phần cứng, cải thiện hiệu năng sử dụng và sự ra đời của các hệ điều hành hỗ trợ người dùng thân thiện hơn; nhận dạng tiếng nói cũng ngày càng nhận được sự quan tâm nhiều hơn để nghiên cứu và ứng dụng vào thực tế, nhằm mục đích hỗ trợ tối đa người dùng thiết bị và tăng thêm hiệu năng sử dụng thiết bị cá nhân cũng như các thiết bị máy móc khác

Ngày nay, khi công nghệ phát triển mạnh mẽ và thay đổi liên tục, khi mà các thiết bị phần cứng, đặc biệt là các thiết bị di động đang rơi vào quá trình bão hoà Nhận dạng tiếng nói lại trở thành một trong những đề tài được chú ý đến hàng đầu cũng với những công nghệ thực tế ảo, máy tính lượng tử… Các ông lớn trong lĩnh vực công nghệ như Google, Samsung, Apple… đều góp mặt tham gia nghiên cứu và có cho mình những sản phẩm riêng để ứng dụng vào thực tế cho các sản phẩm của mình

Nhận thấy tiềm năng to lớn của lĩnh vực này, cùng với sự định hướng của

giáo viên hướng dẫn Em đã lựa chọn đề tài nghiên cứu: “Nghiên cứu về nhận dạng tiếng nói và ứng dụng để xây dựng hệ thống hỗ trợ dịch Cabin” Với mục

đích nghiên cứu về công nghệ nhận dạng tiếng nói, và tìm các xây dựng ứng dụng công nghệ này vào lĩnh vực thực tế để hỗ trợ cho người dùng những sản phẩm mang tính ứng dụng cao và hữu ích cho cuộc sống Và hi vọng những đóng góp nhỏ bé trong bài nghiên cứu của bản thân sẽ phần nào được sử dụng vào thực

tế Trong đồ án này, em xin được trình bày về bộ công cụ nhận dạng tiếng nói Sphinx với quá trình cài đặt, huấn luyện và đánh giá mức độ hiệu quả của bộ công cụ này, nhằm có hướng đi thích hợp cho dự án

Trang 7

Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài, bản thân em không thể tránh khỏi những sai sót và những điểm hạn chế Mong quý thầy cô và các bạn sẽ tham gia đóng góp ý kiến để bản thân em có thể hoàn thiện tốt hơn đề tài của bản thân, cũng như quá trình thực hiện ứng dụng thực tế sau này được tốt hơn nữa

Trang 8

TÓM TẮT NỘI DUNG

Bài luận văn được chia làm 3 chương:

- Chương I : Sơ lược về dịch Cabin

o Giới thiệu về khái niệm dịch Cabin

o Các thành phần cấu thành

o Tình hình thực tế, đánh giá tính hiệu quả

- Chương II: Tổng quan về nhận dạng tiếng nói

o Khái niệm về nhận dạng tiếng nói

o Giới thiệu một số mô hình liên quan

o Tính ứng dụng của mô hình, đánh giá sự hiểu quả và tiềm năng phát triển Nêu ra khó khăn hạn chế

- Chương III: CMU Sphinx

o Giới thiệu CMU Sphinx

o Các thành phần cấu thành, nguyên lý hoạt động

o Cài đặt chương trình

o Xây dựng thư viện mẫu

- Chương IV: Demo

Trang 9

CHƯƠNG I: SƠ LƯỢC VỀ DỊCH CABIN 1.1 Khái niệm dịch Cabin

Dịch Cabin được hiểu đơn giản là quá trình phiên dịch trực tiếp, dịch song song Nhiệm vụ của người dịch Cabin là lắng nghe người đọc đồng thời phiên dịch lại thành ngôn ngữ mà người nghe yêu cầu Giúp cho cuộc đối thoại được diễn ra hiệu quả và liên tục hơn

Đây là một công việc khá phức tạp và đòi hỏi phiên dịch viên ngoài việc am hiểu rõ về 2 ngôn ngữ còn phải có khả năng lắng nghe, phản xạ nhanh với tình huống và yêu cầu tính chính xác cao

1.2 Thành phần cơ bản

Hình 1.1 : Mô hình dịch Cabin hiện nay

Thành phần cơ bản của mô hình dịch Cabin thường được sử dụng hiện nay bao gồm một phiên dịch viên và các thiết bị thu phát âm thanh cần thiết

- Phiên dịch viên: đây là người tham gia trực tiếp vào quá trình dịch Thông thường họ sẽ được ngồi trong một phòng kín được gọi là Cabin, nhiệm vụ của họ sẽ là đeo tai nghe để nghe trực tiếp âm thanh từ người nói, đồng thời dịch song song với quá trình ấy sang ngôn ngữ người nghe yêu cầu và có thể hiểu

Trang 10

- Thiết bị thu âm, phát âm: bao gồm tai nghe, mic và một số thiết bị hỗ trợ khác để quá trình phiên dịch diễn ra được dễ dàng hơn với phiên dịch viên

1.3 Hiện trạng thực tế

Thực tế, công việc này được mệnh danh là dành cho các “quái kiệt” vì mức

độ khó, và tính chất phức tạp của công việc

Trong một thời điểm gần như đồng thời, người phiên dịch phải lắng nghe người nói qua tai nghe và dịch song song cùng lúc cho người nghe có thể lắng nghe và nắm bắt được nội dung câu chuyện Điều này khiến người phiên dịch viên phải tập trung cao độ, lắng nghe, xử lý và ứng biến rất nhanh nhạy để có thể bắt kịp theo câu chuyện, và phản ánh đúng sự truyền đạt của người nói

Chưa hết, ngoài ra khó khăn còn gặp phải đó là trong các cuộc hội thảo mang tính đặc thù về chuyên ngành, việc ngôn ngữ chuyên ngành cũng là một trở ngại không hề nhỏ trong quá trình phiên dịch của người phiên dịch viên

Ngày nay, với sự hội nhập cao, các cuộc đàm phán diễn ra liên tục với mật

độ dày đặc, đặt ra một sự cấp bách cho công việc này Nhân lực để đáp ứng cho

mô hình dịch Cabin ngày càng giảm, và chất lượng cũng phần nào bị ảnh hưởng nhiều Giá nhân công cho mỗi chương trình hội thảo cũng không hề rẻ Trung bình khoảng từ 200$ - 300$/ngày Đặc biệt trong những hội thảo mang tính đặc thù giá phải trả cho phiên dịch viên có thể lên tới 1000$/ngày

Điều cấp bách ấy đặt ra cho chúng ta một ý tưởng về ứng dụng các giải pháp của công nghệ thông tin vào phục vụ nhu cầu phiên dịch, nhằm giải quyết bài toán dịch Cabin và giảm đi sự lệ thuộc vào con người như trước đây

Trang 11

CHƯƠNG II: TỔNG QUAN VỀ NHẬN DẠNG TIẾNG NÓI

2.1 Tổng quan về nhận dạng tiếng nói

2.1.1 Khái niệm

Nhận dạng tiếng nói là một quá trình nhận dạng mẫu, với mục đích là phân lớp thông tin đầu vào là các tín hiệu tiếng nói thành một dãy tuần tự các mẫu đã được học trước đó và lưu trữ trong bộ nhớ

Các mẫu là các đơn vị nhận dạng, chúng có thể là các từ, hoặc các âm vị Nếu các mẫu này là bất biến và không thay đồi thì công việc nhận dạng tiếng nói trở nên đơn giản hơn bằng các so sánh các tín hiệu tiếng nói cần nhận dạng với các mẫu đã được học và lưu trữ trong bộ nhớ Khó khăn cơ bản của nhận dạng tiếng nói đó là tiếng nói luôn biến thiên theo thời gian và có sự khác biệt lớn giữa tiếng nói của những người nói khác nhau, tốc độ nói, ngữ cảnh và môi trường âm học khác nhau Xác định những thông tin biên thiên nào của tiếng nói là có ích và những thông tin nào là không có ích đối với nhận dạng tiếng nói là rất quan trọng Đây là một nhiệm vụ rất khó khăn mà ngay cả với những kĩ thuật xác suất thống kê mạnh cũng khó khăn trong việc tổng quát hoá các từ, các mẫu tiếng nói, những biến thiên quan trọng cần thiết trong việc nhận dạng tiếng nói

Trang 12

2.1.2 Nguyên tắc của nhận dạng tiếng nói

Các nghiên cứu về nhận dạng tiếng nói dựa trên 3 nguyên tắc cơ bản:

- Tín hiệu tiếng nói được biểu diễn chính xác bởi các giá trị phổ trong một khung thời gian ngắn Nhờ vậy ta có thể trích ra các đặc điểm tiếng nói từ những khoảng thời gian ngắn và dùng các đặc điểm này là dữ liệu để làm dữ liệu nhận dạng tiếng nói

- Nội dung của tiếng nói được biểu diễn dưới dạng chữ viết là một dãy các ký hiệu ngữ âm Do đó, ý nghĩa của một từ phát âm được bảo toàn khi chúng

ta phiên âm thành dãy các kí hiệu ngữ âm

- Nhận dạng tiếng nói là một quá trình nhận thức Thông tin về ngữ nghĩa

và suy đoán có giá trị trong quá trình nhận dạng tiếng nói, nhất là khi tin về âm học không rõ ràng

vị của trường đại học College–Anh (1958)

Trang 13

Trong thập kỉ 1960, điểm đáng ghi nhận nhất là ý tưởng của tác giả người Nga, Vintsyuk khi ông đề xuất phương pháp nhận dạng tiếng nói dựa trên qui hoạch động theo thời gian (Dynamic Time Warping –DTW) Đáng tiếc là mãi đến những năm 1980, phương pháp này mới được thế giới biết đến Cuối những năm 1960, Reddy ở trường đại học CMU (Mỹ) đã đề xuất những ý tưởng đầu tiên về nhận dạng tiếng nói liên tục bằng kĩ thuật đánh dấu đường đi và truy vết lùi tìm kết quả

Đến những năm 70, nghiên cứu về nhận dạng tiếng nói đã bước đầu thu được các kết quả khích lệ, làm nền tảng cho những phát triển sau này Trước tiên

là bài toán nhận dạng từ rời rạc được giải quyết dựa trên ý tưởng của các nhà khoa học người Nga và Nhật Velichko và Zagoruyko (ở Nga) là những người đi tiên phong trong việc áp dụng ý tưởng về phân lớp mẫu cho ASR Sakoe và Chiba (Nhật) đề xuất các kĩ thuật sử dụng phương pháp qui hoạch động Và Itakura, trong thời gian ở Bell-lab, đã đưa ra phương pháp mã hoá dự báo tuyến tính (Linear Predictive Coding –LPC) làm tiền đề cho việc áp dụng các tham số phổ LPC vào ASR Các hệ thống ASR đáng chú ý của giai đoạn này gồm: Harpy

và Hearsay-II của trường đại học CMU-Mỹ, hệ thống HWIM của BBN

Nghiên cứu về ASR trong thập kỉ 80 đánh dấu phép dịch chuyển trong phương pháp luận: từ cách tiếp cận đối sánh mẫu sang cách tiếp cận sử dụng mô hình thống kê Ngày nay, hầu hết các hệ thống ASR đều dựa trên mô hình thống

kê được phát triển ở thập kỉ này, cùng với những cải tiến ở thập kỉ 90 Một trong những phát minh quan trọng nhất ở thập kỉ 80 là mô hình Markov ẩn (Hidden Markov Model –HMM) Mặc dù HMM được áp dụng thành công ở một số phòng LAB (chủ yếu là IBM và viện nghiên cứuthuộc bộ Quốc phòng Mỹ) nhưng phải đợi đến vài năm sau đó, mô hình này mới được xuất bản và phổ biến trên thế giới Ngoài ra, hai đề xuất quan trọng khác của giai đoạn này là tổ hợp Cepstrum và mô hình ngôn ngữ:

Furui đề xuất sử dụng tổ hợp của các hệ số phổ cùng với đạo hàm bậc 1 và bậc 2 của chúng, như là những đặc trưng cơ sở cho ASR Phương pháp này dù

Trang 14

gian dài Ngày nay, hầu hết các hệ thống nhận dạng tiếng nói đều sử dụng tổ hợp đặc trưng này

Những nhà khoa học thuộc công ty IBM là những người đi tiên phong trong việc phát triển mô hình ngôn ngữ (Language Model –LM) Đây là một công cụ hiệu quả trong việc lựa chọn chuỗi từ nhận dạng và đã được áp dụng thành công trong tất cả các hệ thống ASR ngày nay, đặc biệt là các hệ thống nhận dạng tiếng nói liên tục với bộ từ vựng lớn

Các hệ thống ASR ra đời trong thời gian này có thể kể đến: hệ thống Sphinx của trường đại học CMU, Byblos của công ty BBN, Decipher của viện SRI, và các hệ thống khác của Lincoln Labs, MIT và AT&T Bell Labs

Thập niên 90 ghi nhận một số kết quả nghiên cứu mới trong lĩnh vực phân lớp mẫu Cụ thể, bài toán phân lớp theo mô hình thống kê (dựa trên luật quyết định Bayes), đòi hỏi phương pháp ước lượng các phân bố cho dữ liệu, được chuyển thành bài toán tối ưu, bao gồm phép cực tiểu lỗi phân lớp bằng thực nghiệm Sự chuyển đổi này về mặt bản chất xuất phát từ ý tưởng sau đây: mục tiêu của phân lớp là cực tiểu lỗi chứ không phải cung cấp hàm phân bố phù hợp với dữ liệu nhận dạng Khái niệm cực tiểu lỗi này đã làm nảy sinh một số kĩ thuật như phương pháp huấn luyện riêng biệt (Discriminative Training) Hai dạng điển hình của phép huấn luyện này là: CME (Minimum Classification Error) và MMI (Maximum Mutual Information) Kết quả thực nghiệm cho thấy các phương pháp huấn luyện mới đưa ra kết quả nhận dạng tốt hơn so với phương pháp huấn luyện cực đại xác suất trước đó Ngoài ra, nhận dạng tiếng nói trong môi trường nhiễu cũng rất được quan tâm Để nâng cao hiệu suất nhận dạng cho dữ liệu nhiễu, một

số kỹ thuật đã được đề xuất như: MLLR (Maximum Likelihood Linear Regression), PMC (Parallel Model Combination)

Cuối cùng, các ứng dụng được phát triển trong giai đoạn này gồm: hệ thống trả lời thông tin tự động cho các chuyến bay (Air Travel Information Service –ATIS), hệ thống ghi lại các bản tin phát thanh (Broadcast News Transcription System)…

Trang 15

Đến những năm đầu của thế kỷ 21, các nghiên cứu tập trung vào việc nâng cao kết quả nhận dạng tiếng nói, thông qua chương trình có tên gọi EARS (Effective Affordable Reusable Speech-to-Text) Tới thời điểm này, tiếng nói được giả thiết là

đã được thu âm trong môi trường bình thường, không bị ràng buộc bởi bất cứ điều kiện nào (các điều kiện giả thiết trước đây thường bao gồm tiếng nói được thu trong phòng sạch cách âm và do người bản xứ đọc) Đích hướng tới của chương trình này là khả năng nhận dạng, tóm tắt và chuyển ngữ các đoạn audio, giúp cho người đọc hiểu nhanh nội dung của chúng thay vì phải nghe toàn bộ

Hiện nay, với các ngôn ngữ phổ biến như tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Tây Ban Nha, các công trình nghiên cứu về nhận dạng tiếng nói đã thu được những kết quả rất tốt, có nhiều ứng dụng thực tiễn được triển khai như:

- Hệ thống giao tiếp hỏi đáp thông tin tự động qua điện thoại

- Hệ thống truy vấn thông tin thoại

- Hệ thống thông dịch tiếng nói xuyên ngữ tự động

- Các trạm kiểm soát, hệ thống điều khiển sử dụng tiếng nói

- Các ứng dụng tiếng nói trên thiết bị di động

Về mặt kinh tế và thương mại, công nghệ nhận dạng tiếng nói đã thay đổi cách con người tương tác với hệ thống và thiết bị, không còn bó buộc trong cách thức tương tác truyền thống (như thông qua bàn phím của máy tính hay điện thoại) mà chuyển sang tương tác trực tiếp bằng giọng nói Trong môi trường kinh

tế cạnh tranh, các ứng dụng dần dần đã chuyển sang tích hợp tính năng tương tác

âm thanh Việc ứng dụng và khách hàng có thể tương tác với nhau thông qua âm thanh không có nghĩa là loại bỏ giao diện đồ họa truyền thống mà nó cung cấp thêm một cách truy cập thông tin và dịch vụ tiện lợi, tự nhiên hơn

Về mặt nghiên cứu khoa học, các hệ thống nhận dạng tiếng nói hiện tại đều dựa trên phương pháp thống kê và so khớp mẫu Phương pháp này đòi hỏi các tri thức về ngữ âm và một lượng lớn dữ liệu huấn luyện, bao gồm cả dạng âm thanh và dạng văn bản, để huấn luyện bộ nhận dạng Lượng dữ liệu huấn luyện càng lớn, bộ dạng dạng càng có nhiều khả năng đưa ra kết quả chính xác hơn

Trang 16

2.2.2 Việt Nam

Tại Việt Nam, đây vẫn được coi là một lĩnh vực còn khá mới mẻ và chưa có nhiều công trình nghiên cứu chuyên sâu về lĩnh vực này Hiện tại, có một số nhóm nghiên cứu chính về bài toán nhận dạng tiếng nói liên tục với bộ từ vựng lớn (LVCSR) Nhóm đầu tiên thuộc Viện Công nghệ Thông tin do PGS Lương Chi Mai đứng đầu, với phương pháp ANN và công cụ CSLU được sử dụng Nhóm thứ hai thuộc trường Đại học Khoa học Tự nhiên thành phố HồChí Minh do PGS

Vũ Hải Quân đứng đầu, với phương pháp HMM và công cụ HTK được sử dụng, các nghiên cứu của nhóm tập trung vào bài toán truy vấn thông tin tiếng Việt, nhận dạng tiếng nói, hệ thống giao tiếp giữa người và máy, tìm kiếm bằng giọng nói,

Trong thời gian gần đây, nhóm sinh viên đại học Quốc Gia Hà Nội do

TS Phan Xuân Hiếu làm trưởng nhóm đã cho ra đời ứng dụng “Trợ lý ảo - VAV” cũng sử dụng chương trình nhận dạng tiếng nói để hỗ trợ người dùng thực hiện giao tiếp người – máy thông qua quá trình nhận dạng tiếng nói và thực hiện lệnh điều khiển tới thiết bị di động Hiện tại, chương trình này đang được thử nghiệm trên các thiết bị chạy Hệ điều hành Android Đây là một ứng dụng khá thú vị, nhằm hỗ trợ cho người dùng các giao tiếp cơ bản như tìm tên trong danh

bạ, gọi điện, tìm đường,… thông qua việc điều khiển bằng giọng nói

2.3 Ứng dụng của nhận dạng tiếng nói

Ứng dụng nhận dạng tiếng nói ngày nay đang được sử dụng ngày một rộng rãi và phổ biến Trên thế giới đã có rất nhiều nghiên cứu về hệ thống nhận dạng tiếng nói (tiếng Anh) đã và đang được ứng dụng hiệu quả như: Via Voice của IBM, Spoken Toolkit của CSLU (Central of Spoken Language Understanding)… nhưng trong tiếng Việt thì còn rất nhiều hạn chế

Công nghệ này trong tương lai sẽ được ứng dụng nhiều trong y tế, dân dụng, quân sự, giáo dục… nhằm tự động hóa các thao tác căn bản, giảm thiếu nhân lực và thời gian như: hệ thống chuyển mạch tự động; ứng dụng Mobile (Siri, trợ lý du lịch, Google Voice, báo nói); hệ thống Robot và trí tuệ nhân tạo (Internet in Car, Cell phone speech, text, Car Navigation Systems…); phần mềm

Trang 17

hỗ trợ người khiếm thị… Và hàng ngàn các ứng dụng khác trong tương lai sẽ được sáng chế ra nhằm mục đích hỗ trợ người dùng tốt hơn trên các thiết bị di động Đây vừa là cơ hội, vừa là thách thức cho các lập trình viên phải luôn học hỏi, nhuần nhuyễn trên các ngôn ngữ, hệ nền và cập nhật công nghệ để viết ra những ứng dụng đa nền tảng và tiện lợi khác

Tuy nhiên cũng có không ít những khó khăn trong vấn đề nghiên cứu và sử dụng công nghệ này vào thực tế, vì vấp phải những rào cản ngôn ngữ, cách phát

âm của mỗi người, mỗi vùng miền, từ địa phương, từ đồng âm… Để quá trình này được hoàn thiện hơn, có lẽ phải cần thêm rất nhiều thời gian nghiên cứu cũng như sửa chữa và hoàn thiện để công nghệ này được ứng dụng rộng rãi hơn

Trang 18

CHƯƠNG III: CMU SPHINX 3.1 Giới thiệu

CMU Sphinx là bộ công cụ nhận dạng tiếng nói được nghiên cứu và phát triển bởi sự kết hợp giữa nhóm nghiên cứu Sphinx của trường đại học Carnegie Mellon University (CMU), Sun Microsystems Laboratoies, Misubishi Electric Research Labs (MERL), Hewlett Packard (HP), với sự đóng góp của University

of California at Santa Cruz (UCSC) và Massachusetts Institute of Technology (MIT)

3.1.1 Các tính năng chính

- Nhận dạng tiếng nói ở chế độ trực tiếp và theo lô, có khả năng nhận dạng tiếng nói rời rạc và liên tục

- Kiến trúc ngoại vi tổng quát, có khả năng tháo lắp Bao gồm khả năng

bổ sung các tính năng tiền nhấn (preemphasis), cửa sổ Hamming, biến đổi Fourier nhanh, thang lọc tần số Mel, biến đổi cosine rời rạc, chuẩn hóa cepstral,

và trích đặc trưng cepstra, delta cepstra, double delta cepstra

- Kiến trúc mô hình ngôn ngữ tổng quát và có khả năng tháo lắp Bao gồm hỗ trợ mô hình ngôn ngữ dạng ASCII và các phiên bản nhị phân của unigram, bigram, trigram, Java Speech API Grammar Format (JSGF), và ARPA-format FST grammars

- Kiến trúc mô hình âm tổng quát Bao gồm hỗ trợ các mô hình âm học của Sphinx3

- Bộ quản lý tìm kiếm tổng quát Bao gồm hỗ trợ các tìm kiếm breadth first và word pruning

- Các tiện ích cho việc xử lý kết quả sau khi nhận dạng, bao gồm tính điểm số tin cậy, phát sinh các lưới và phát sinh kịch bản ECMA vào thẻ JSGF Các công cụ độc lập bao gồm các công cụ để hiển thị dạng sóng và ảnh phổ, và trích đặc trưng từ tệp tin âm thanh

Sphinx đã trở thành một framework nhận dạng tiếng nói mạnh mẽ, đã được sử dụng trong nhiều hệ thống nhận dạng bao gồm các chương trình điện đàm như

Trang 19

Cairo, Freeswitch, jvoicexml,… các chương trình điều khiển như Control, Voicekey, SpeechLion,…

Gnome-Voice-3.1.2 Các lợi ích khi sử dụng Sphinx

Đối với việc nghiên cứu nhận dạng tiếng nói dựa trên HMM (mô hình Markov ẩn):

- Sphinx mặc định rằng việc tính toán Gaussian Mixture Model và việc xử

lý tìm kiếm là tách biệt nên có thể thực hiện hai loại nghiên cứu khác nhau mà không bị xung đột với nhau Ví dụ có thể thực hiện một sự quan sát xác suất mới

mà không đụng đên mã nguồn thực hiện tìm kiếm Cùng lúc có thể xây dựng một thuật tìm kiếm mới mà không phải suy nghĩ về tính toán GMM

- Đối với việc huấn luyện, hầu hết thời gian khi ta nghiên cứu mô hình hoá, điều mong muốn thay đổi là thuật toán ước lượng Thuật toán Baunm – Welch của SphinxTrain giải quyết vấn đề này qua hai giai đoạn: Đưa thống kê xác suất đến sau ra một tập tin riêng biệt và có thể dễ dàng đọc lại bằng các thư viện của SphinxTrain Bạn có thể chỉ làm việc với các bản thống kê này và khôgn cần phải tự minh thực hiện huấn luyện Baun – Welch Điều này giúp giảm thời gian nghiên cứu

- Mã nguồn của Sphinx được viết rõ ràng và dễ đọc Lý do nhiều nhà nghiên cứu muốn sử dụng Sphinx như một công cụ vì nó có thể được thay đổi mã nguồn dễ dàng để phù hợp với mục đích sử dụng của từng đối tượng

3.2 Kiến trúc Sphinx

Sphinx Framework được thiết kế với độ linh hoạt và tính mô đun hóa cao Hình 3.1 dưới đây biểu diễn bao quát kiến trúc của hệ thống Mỗi thành phần được gán nhãn biểu diễn một mô đun có thể dễ dàng được thay thế, cho phép các nhà nghiên cứu thử nghiệm một mô đun khác mà không cần phải thay đổi các phần còn lại của hệ thống

Trang 20

Hình 3.1: Kiến trúc Sphinx

Có ba thành phần cơ bản cấu tạo nên Sphinx: Bộ ngoại vi (FrontEnd), Bộ giải mã (Decoder) và bộ ngôn ngữ (Linguist) Để dễ hình dung cách hoạt động tổng quát của Sphinx ta sẽ tìm hiểu sơ lược chức năng của các bộ phận trên Bộ ngoại vi với các công cụ hổ trợ cho việc thu nhận và tiền xử lý các tín hiệu sẽ nhận và thực hiện tham số hóa chúng thành tập hợp các vecto đặc trưng (Feature) Bộ ngôn ngữ sẽ có nhiệm vụ đọc vào các mô hình ngôn ngữ với các thông tin cách phát âm trong từ điển và thông tin cấu trúc của các mô hình âm học rồi mô hình hóa chúng vào mộ đồ thị tìm kiếm (Search Graph) Bộ phận còn lại là bộ giải mã (Decoder) có nhiệm vụ quan trọng nhất kết nối hai bộ phận còn lại Cụ thể là thành phần quản lý tìm kiếm (Search manager) trong bộ giải mã sẽ lấy các thông tin đặc trưng từ bộ ngoại vi rồi kết hợp với đồ thị tìm kiếm được phát sinh từ bộ ngôn ngữ để giả mã và tính toán ra kết quả nhận dạng

Hệ thống Sphinx có một số lượng lớn các tham số cấu hình để điều chỉnh hiệu suất của hệ thống Thành phần quản lý cấu hình (ConfigurationManager) được

dùng để cấu hình các tham số đó Bộ quản lý cấu hình còn giúp cho Sphinx có khả năng nạp động và cấu hình các mô đun trong thời gian thực thi, làm cho Sphinx trở nên linh hoạt và có khả năng tháo lắp Ví dụ Sphinx4 thường được cấu hình với một bộ ngoại vi tạo ra các MFCC (Mel-Frequency

Trang 21

Cepstral Coefficient) Sử dụng bộ quản lý cấu hình có khả năng cấu hình lại Sphinx để xây dựng một ngoại vi khác phát sinh ra các PLP (Perceptual Linear Prediction coefficient) mà không cần phải sửa đổi mã nguồn hay biên dịch lại hệ thống

Sphinx còn cung cấp một số công cụ để giúp các ứng dụng và các nhà phát

triển khả năng theo dõi các số liệu thống kê của bộ giải mã như tỷ lệ từ lỗi, tốc độ thực thi và bộ nhớ sử dụng Cũng như các phần khác của hệ thống, các công cụ này có khả năng cấu hình mạnh mẽ, cho phép người dùng thực hiện việc phân tích hệ thống Hơn nữa chúng còn cung cấp một môi trường thực thi tương tác, cho phép người dùng sửa đổi các tham số của hệ thống trong lúc hệ thống đang chạy, giúp cho việc thử nghiệm nhanh chóng với nhiều tham số cấu hình

Sphinx cũng cung cấp các tiện ích hỗ trợ xem xét cấp độ ứng dụng (application-level) của các kết quả nhận dạng Ví dụ, các tiện ích này bao gồm

hỗ trợ xem kết quả thu được dạng lưới (lattice), các đánh giá độ tin cậy (confidence scores) và sự hiểu ngôn ngữ

3.2.1 Bộ ngoại vi (FontEnd)

Chức năng : Nhận vào các tín hiệu từ bên ngoại, thực hiện qua một số bộ lọc và xử lý dữ liệu để cho kết quả là một tập các Vecto đặc trưng

Trang 22

Cấu tạo : Bên trong của bộ ngoại vi này thưc chất là một chuỗi các modun con có khả năng xử lý tín hiệu giao tiếp được nối ghép với nhau Các chuỗi này

có thể hoạt động song song cùng một lúc với nhau gọi là Dataproccessor

Hình 3.3: Chuỗi các Dataprocessor trong quá trình xử lý

Việc xử lý bằng các chuỗi Dataprocessor nối ghép với nhau sẽ giúp chúng

ta linh động trong việc rút trích các thông tin đặc trưng, với một tín hiệu ta có thể rút trích đặc trưng bằng các phương pháp khác nhau để so sánh tìm các đặc trưng tối ưu hoặc áp dụng liên tiếp các phương pháp với nhau để tìm ra đặc trưng tốt nhất Đồng thời cho phép các chuỗi này thực hiện song song với nhau làm cho hệ thống nhận diện nhanh chóng theo thời gian thực với lượng tín hiệu lớn thu vào

3.2.2 Bộ giải mã (Decoder)

Chức năng : Bộ giải mã có nhiệm vụ chính là sử dụng các đặc trưng (Features) từ bộ ngoại vi kết hợp với đồ thị tìm kiếm được phát sinh từ bộ ngôn ngữ để tiến hành giải mà và áp dụng các thuật toán suy ra kết quả nhận dạng

Cấu tạo: Thành phần của bộ này tuy đơn giản nhưng rất phức tạp về thuật toán vì ảnh hưởng tới tốc độ tìm kiếm, gồm một thành phần quản lý tìm kiếm (SearchManager) có khả năng tháo lắp và các mã hỗ trợ khác để đơn giản hóa quá trình giải mã cho một ứng dụng Nên trong báo cáo chỉ trung giới thiệu thành phần quản lý tìm kiếm

Nhiệm vụ của thành phần quản lý tìm kiếm là nhận dạng các tập các vecto đặc trưng để tìm ra ánh xạ tương ứng của nó trong đồ thị tìm kiếm Để đáp ứng tìm ra kết quả chính xác trong đồ thị tìm kiếm khi xử lý kết quả, Sphinx cung cấp các tiện ích có khả năng phát sinh lưới và các đánh giá độ tin cậy từ kết quả Và thêm đặc điểm nữa khác các hệ thống khác là không gian tìm kiếm trong Sphinx

có thể được tinh chỉnh thay đổi trong quá tình tìm kiếm để tăng hiệu suất tìm kiếm

Trang 23

Ngoài ra để nâng cao hiệu suất của kết quả nhận dạng, Sphinx con bổ sung thêm các công cụ hỗ trợ cho việc đánh giá kết quả nhận được, đó là thành phần đánh giá (Scorer) và thành phần cắt tỉa (Pruner) Nói về thành phần Scorer thì nó

là một module dùng để ước lượng xác suất của trạng thái khi cung cấp các giá trị mật độ trạng thái xuất hiện Khi thành phần quản lý tìm kiếm yêu cầu đánh giá điểm số cho một trạng thái, nó sẽ gọi đến thành phần Scorer, nó sẽ phân tích các thông tin đặc trưng của trạng thái đó rồi áp dụng các phép toán để tính điểm số

3.2.3 Bộ ngôn ngữ (Linguist)

Chức năng: Bằng các công cụ và phương pháp ngôn ngữ, bộ này sẽ đọc vào các file cấu trúc của một ngôn ngữ rồi mô hình hóa chúng vào đồ thị tìm kiếm để sử dụng trong việc tìm kiếm nhận dạng

Cấu tạo: Ở bộ này cấu tạo khá phức tạp vì nó quy định hầu như toàn bộ phạm vi ngôn ngữ mà chúng ta cần nhận dạng, nó gồm các thành phần nhỏ sau:

a Thành phần mô hình ngôn ngữ

Thành phần này sẽ có chức năng đọc vào file cấu trúc ngôn ngữ ở cấp độ

là các từ (word level) Thành phần này có vai trò quan trọng để xác định những thứ mà hệ thống cần nhận dạng Cấu trúc ngôn ngữ sẽ được mô hình hóa ở thành phần này theo hai mô hình: graph-driven grammar và Stochastic N-Gram

Mô hình graph-driven grammar : biễu diễn một đồ thị từ có hướng trong đó mỗi nút biểu diễn một từ đơn và mỗi cung biễu diễn xác suất dịch chuyển sang một từ

Mô hình stochastic N-Gram : mô hình này cung cấp các xác suất cho các

từ được cho dựa vào việc quan sát n-1 từ đứng trước

Sphinx hỗ trợ nhiều định dạng ngôn ngữ khác nhau như:

 SimpleWordListGrammar: định nghĩa một từ dựa trên một danh sách các

từ Một than số tùy chọn chỉ ra ngữ pháp có lặp lại hay không Nếu ngữu pháp không lặp, ngữ pháp sẽ được dùng cho một nhận dạng từ tách biệt Nếungữ pháp lặp, nó sẽ được dùng để hỗ trợ liên kết nhận dạng từ tầm thường, tương đương với một unigram grammar với xác suất bằng nhau

 JSGFGrammar: Hỗ trợ JavaTM Speech API Grammar Format (JSGF),

Trang 24

 LMGrammar: định nghĩa một ngữ pháp dựa trên một mô hình ngôn ngữ thống kê LMGrammar phát sinh một nút ngữ pháp mỗi từ và làm việc tốt với các unigram và bigram, xấp xỉ 1000 từ

 FSTGrammar: hỗ trợ một bộ chuyển đổi trạng thái giới hạn (finite-state tranducer) trong định dạng ngữ pháp ARPA FST

 SimpleNGramModel: cung cấp hỗ trợ cho các mô hình ASCII N-Gram trong định dạng ARPA SimpleNGramModel không cố làm tối ưu việc sử dụng

bộ nhớ, do đó nó làm việc tốt với các mô hình ngôn ngữ nhỏ

 LargeTrigramModel: cung cấp hỗ trợ các mô hình N-Gram đúng được phát sinh bởi CMU-Cambridge Statictical Language Modeling Toolkit LargeTrigramModel tối ưu việc lưu trữ bộ nhớ, cho phép nó làm việc với các tập tin rất lớn, trên 100MB

b Thành phần từ điển

Thành phần này cung cấp cách phát âm cho các từ ta đã xây dựng trong

mô hình ngôn ngữ và hỗ trợ phân lớp các từ thành các lớp khác nhau để hỗ trợ cho việc tìm kiếm

c Thành phần mô hình âm học

Thành phần này mô hình âm học cung cấp một ánh xạ giữa một đơn vị tiếng nói và một HMM (Hidden Markov Model) có thể được đánh giá dựa vào các đặc trưng được cung cấp bởi bộ ngoại vi Các ánh xạ có thể đưa thông tin vị trí của từ và ngữ cảnh từ thành phần mô hình ngôn ngữ Định nghĩa ngữ cảnh này được xây dựng từ cấu trúc ngữ pháp của mô hình ngôn ngữ Khác với các hệ nhận dạng khác, mô hình HMM trong Sphinx có cấu trúc cố định trong bộ nhớ

và đơn thuần chỉ là một đồ thị có hướng của các đối tượng Trong đồ thị này, mỗi nút tương ứng với một trạng thái HMM và mỗi cung biễu diễn xác suất biến đổi

từ trạng thái này sang trạng thái khác trong HMM Bằng cách biểu diễn HMM như là các đồ thị có hướng của các đối tượng thay vì một cấu trúc cố định, một

bổ sung của mô hình âm học có thể dễ dàng cung cấp các HMM với các dạng hình học tôpô khác

Trang 25

Mỗi trạng thái HMM có khả năng phát sinh một đánh giá từ một đặc trưng quan sát Quy tắc để tính toán điểm số được thực hiện bởi chính trạng thái HMM, do

đó che dấu các thực thi của nó đối với phần còn lại của hệ thống, thậm chí cho phép các hàm mật độ xác suất khác nhau được sử dụng trên mối trạng thái HMM

Mô hình âm học cũng cho phép chia sẻ các thành phần khác nhau trên tất cả các cấp độ Nghĩa là các thành phần tạo nên một trạng thái HMM như các hợp Gaussian (Gaussian mixture), các ma trận biến đổi và các trọng số hỗn hợp (mixture weight) có thể được chia sẽ bởi bất kỳ trạng thái HMM nào

d Đồ thị tìm kiếm – Search Graph

Đây là kết quả mà bộ ngôn ngữ phát sinh được cuối cùng để đưa vào sử dụng trong bộ giải mã Độ thị tìm kiếm này là một đồ thị có hướng, trong đó mỗi nút được gọi là một trạng thái tìm kiếm (SearchState): biểu diễn một trong hai trạng thái: phát hoặc không phát (emitting state hay non-emitting state) Và các đường cung biểu diễn các trạng thái biến đổi có thể, trên các cùng này có các giá trị xác suất được tình toán từ mô hình âm học: biểu diễn khả năng chuyển từ trạng thái này đến trạng thái kia Một trạng thái có thể có nhiều cung hướng đến trạng thái khác

Hình 3.4: Ví dụ một đồ thị tìm kiếm đơn giản

Trang 26

CHƯƠNG IV: CHƯƠNG TRÌNH DEMO 4.1 Cài đặt

4.1.1 Tải các gói Sphinx cần thiết

Để cài đặt được Sphinx trên Ubuntu cần tài các gói sau về và để trong cùng một thư mục (đã tạo và đặt tên, nằm trong thư mục Home)

Sphinx4 - gói hỗ trợ nhận dạng viết bằng java

- CMUclmtk - bộ công cụ xây dựng mô hình ngôn ngữ

Hình 4.1: cài đặt Sphinx trên Ubuntu

Trang 27

Sử dụng cửa sổ Terminal trong Ubuntu: Ctrl+Atl+t

Nhập vào sudo apt-get update sau đó nhập vào password lúc cài đặt

(password sẽ không hiện lên, nhập cẩn thận và nhấn Enter) Lệnh trên để update cho các gói cài đặt dùng bằng lệnh apt-get Chờ update xong

Nhập vào: cd sphinx để di chuyển tới thư mục sphinx vừa tạo

Cài đặt các gói cần thiết trước khi cài SphinxBase:

Gõ các lệnh:

sudo apt-get install bison: Đồng ý để tải và cài đặt bison

sudo apt-get install autoconf: Đồng ý và cài đặt autoconfig

sudo apt-get install automake: Đồng ý và cài đặt automake

sudo apt-get install libtool: Đồng ý và cài đặt libtool

Với phiên bản mới nhất 5prealpha cần cài thêm python-dev:

sudo apt-get install python-dev

Trang 28

sudo make instal

Gõ tiếp lệnh sau vào Terminal:

Ngày đăng: 23/04/2017, 16:19

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1 : Mô hình dịch Cabin hiện nay - Nghiên cứu công nghệ nhận dạng tiếng nói và ứng dụng xây dựng hệ thống hỗ trợ dịch cabin
Hình 1.1 Mô hình dịch Cabin hiện nay (Trang 9)
Hình 3.1: Kiến trúc Sphinx - Nghiên cứu công nghệ nhận dạng tiếng nói và ứng dụng xây dựng hệ thống hỗ trợ dịch cabin
Hình 3.1 Kiến trúc Sphinx (Trang 20)
Hình 3.2: Kiến trúc tổng quát bộ Ngoại vi - Nghiên cứu công nghệ nhận dạng tiếng nói và ứng dụng xây dựng hệ thống hỗ trợ dịch cabin
Hình 3.2 Kiến trúc tổng quát bộ Ngoại vi (Trang 21)
Hình 4.1: cài đặt Sphinx trên Ubuntu - Nghiên cứu công nghệ nhận dạng tiếng nói và ứng dụng xây dựng hệ thống hỗ trợ dịch cabin
Hình 4.1 cài đặt Sphinx trên Ubuntu (Trang 26)
Hình 4.2: Sơ đồ quá trình tạo mô hình ngôn ngữ bằng công cụ CMUcmltk - Nghiên cứu công nghệ nhận dạng tiếng nói và ứng dụng xây dựng hệ thống hỗ trợ dịch cabin
Hình 4.2 Sơ đồ quá trình tạo mô hình ngôn ngữ bằng công cụ CMUcmltk (Trang 29)
Hình 4.4: Giao diện ứng dụng nhận dạng trên HDH Window - Nghiên cứu công nghệ nhận dạng tiếng nói và ứng dụng xây dựng hệ thống hỗ trợ dịch cabin
Hình 4.4 Giao diện ứng dụng nhận dạng trên HDH Window (Trang 43)
Hình 4.5: Blue score – AJHope – Direct - Nghiên cứu công nghệ nhận dạng tiếng nói và ứng dụng xây dựng hệ thống hỗ trợ dịch cabin
Hình 4.5 Blue score – AJHope – Direct (Trang 44)
Hình 4.6: Accuracy – AJHope – Direct - Nghiên cứu công nghệ nhận dạng tiếng nói và ứng dụng xây dựng hệ thống hỗ trợ dịch cabin
Hình 4.6 Accuracy – AJHope – Direct (Trang 45)
Hình 4.8: Accuracy - Kennedy – Direct - Nghiên cứu công nghệ nhận dạng tiếng nói và ứng dụng xây dựng hệ thống hỗ trợ dịch cabin
Hình 4.8 Accuracy - Kennedy – Direct (Trang 46)
Hình 4.10: WER – Nicxon – Direct - Nghiên cứu công nghệ nhận dạng tiếng nói và ứng dụng xây dựng hệ thống hỗ trợ dịch cabin
Hình 4.10 WER – Nicxon – Direct (Trang 47)
Hình 4.12: Blue score - Kennedy nhận dạng AJHope - Nghiên cứu công nghệ nhận dạng tiếng nói và ứng dụng xây dựng hệ thống hỗ trợ dịch cabin
Hình 4.12 Blue score - Kennedy nhận dạng AJHope (Trang 48)
Hình 4.14: Accuracy - Kennedy nhận dạng AJHope - Nghiên cứu công nghệ nhận dạng tiếng nói và ứng dụng xây dựng hệ thống hỗ trợ dịch cabin
Hình 4.14 Accuracy - Kennedy nhận dạng AJHope (Trang 49)
Hình 4.16: WER – Kennedy nhận dạng Nicxon - Nghiên cứu công nghệ nhận dạng tiếng nói và ứng dụng xây dựng hệ thống hỗ trợ dịch cabin
Hình 4.16 WER – Kennedy nhận dạng Nicxon (Trang 50)
Hình 4.18: Blue score - Kennedy nhận dạng Nicxon - Nghiên cứu công nghệ nhận dạng tiếng nói và ứng dụng xây dựng hệ thống hỗ trợ dịch cabin
Hình 4.18 Blue score - Kennedy nhận dạng Nicxon (Trang 51)
Hình 4.20: Accuracy - Kennedy nhận dạng Nicxon - Nghiên cứu công nghệ nhận dạng tiếng nói và ứng dụng xây dựng hệ thống hỗ trợ dịch cabin
Hình 4.20 Accuracy - Kennedy nhận dạng Nicxon (Trang 52)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w