1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

CÔNG tác xã hội với NGƯỜI KHUYẾT tật

17 419 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 46,53 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Người khuyết tật không phải là một nhóm người đồng nhất, ví dụ nhũng người bị bệnh tâm thần, trì độn, khiếm thị, khiếm thính và bị câm, hoặc nhũng người bị hạn chế về vận động hay những

Trang 1

CÔNG TÁC XÃ HỘI VỚI NGƯỜI KHUYẾT TẬT

“Cuộc sống này không có ai là hoàn hảo cũng không đảm bảo tương lai cho chúng ta được (người khuyết tật) Nếu không may không thể nói, không thể nghe, không thể nhìn, không thể vận động được cũng chẳng sao bạn có cơ hội và khả năng học văn hóa, học nghề, lao động, vui chơi giải trí, tập thể dục và mở cơ sở sản xuất kinh doanh bằng chính nội lực bản thân, thể trạng và điều kiện của mình

Và bạn vẫn có thể trở thành người có học vấn cao, thành đạt và thậm chí là một tỉ phú!”

Chúng ta phải thừa nhận rằng, người khuyết tật hoàn toàn có thế làm được những điều đó và thực tế cũng đã chứng minh Tuy nhiên, hiện nay người khuyết tật vẫn gặp phải rất nhiều khó khăn trong bước đường hội nhập và tự khắng định bản thân Trở ngại lớn nhất của họ không phải từ sự ảnh hưởng của khuyết tật mà chủ yếu từ phía xã hội, đó chính là sự kỳ thị hoặc thương hại, định kiến về khả năng của người khuyết tật Mặc dù đã có rất nhiều các điều luật, chính sách bảo vệ và chế độ ưu đãi của Nhà nước, nhưng người khuyết tật vẫn luôn cần sự giúp đỡ, chia

sẻ từ phía gia đình, cộng đồng và sự hỗ trợ của các nhân viên xã hội, nhằm tạo điều kiện để họ có thể phát triển bản thân và hòa nhập cộng đồng Vậy với vai trò là nhân viên xã hội, chúng ta có thể làm gì và phải làm như thế nào? Những thông tin

và kiến thức dưới đây sẽ phần nào giúp cho các nhân viên xã hội có thể thực hiện tốt hơn vai trò của mình trong lĩnh vực “công tác xã hội với người khuyết tật”

I TỔNG QUAN VỀ NGƯỜI TÀN TẬT

1 Các khái niệm về người khuyết tật

Là một vấn đề của xã hội, “khuyết tật” có liên quan đến nhiều khía cạnh, cơ bản trong chương trình phát triển xã hội như nghèo đói, thất học, bất công, định kiến xã hội Do đó, không thể xem “khuyết tật” là vấn đề riêng lẻ được giải quyết bằng các biện pháp đơn giản, duy nhất Tùy thuộc vào nền văn hóa, phong tục tập quán của mỗi địa phương, mỗi Quốc gia hoặc lĩnh vực quan tâm của các cơ quan, tổ chức, sẽ có những khái niệm khác nhau về “khuyết tật” và “người khuyết tật” 'Vì vậy, khó có thể đưa ra một khái niệm duy nhất về vấn đề này Dưới đây là một số khái niệm cơ bản:

Theo Nghị quyết 48/96 do Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc thông qua ngày

20/12/1993 về những chuẩn tắc bảo đảm bình đẳng về cơ hội cho người khuyết tật

- Thuật ngữ “thiểu năng” khái quát một số lớn những hạn chế về chức năng xuất hiện trong mọi tầng lớp dân cư ở bất kỳ một quốc gia nào trên thế giới Con người

có thể bị thiểu năng do tổn thương về thể chất, trí tuệ hoặc giác quan, do điều kiện điều trị y tế hoặc bệnh lý tinh thần Các thương tổn, điều kiện hoặc bệnh lý như vậy

có thể xảy ra tạm thời hoặc vĩnh viễn

Trang 2

- Thuật ngữ “khuyết tật” có nghĩa là mất mát hoặc hạn chế các cơ hội tham gia vào đời sống cộng đồng ở mức bình đẳng như những thành viên khác Thuật ngữ đó mô

tả người khuyết tật tiếp xúc với môi trường Mục đích của thuật ngữ này là nhằm nhấn mạnh phải tập trung vào những thiếu sót trong môi trường và các hoạt động

có tổ chức trong xã hội, ví dụ như: thông tin, phổ biến và giáo dục, những thiếu sót này ngăn trở người khuyết tật tham gia các hoạt động xã hội một cách bình đẳng

Còn theo Tổ chức Y tế Thế giói (WHO) năm 1980, từ những kinh nghiệm

trong lĩnh vực y tế, đã có những định nghĩa về sự thiểu năng, khuyết tật và thiệt thòi như sau:

- “Thiểu năng”: Bất kỳ sự mất mát hoặc dị thường nào về tâm thần, sinh lý hoặc cấu trúc hay chức năng của cơ thể

- Khuyết tật: Bất kỳ một sự hạn chế hoặc thiếu khả năng nào (là hậu quả của sự thiếu năng) đế thực hiện một hoạt động nào theo cung cách hoặc trong phạm vi được coi là bình thường của một con người

- Thiệt thòi: Sự thiệt thòi của một người, do hậu quả của sự thiểu năng hoặc khuyết tật làm hạn chế hoặc ngăn cản việc thực hiện đầy đủ vai trò bình thường, phụ thuộc vào tuổi tác, giới tính và các yếu tố về văn hóa xã hội, đối với cá nhân đó.”

Thiệt thòi phản ánh mối quan hệ giữa người khuyết tật và môi trường của họ Điều này xuất hiện khi họ phải chạm trán với những rào cản về văn hoá, vật chất

và xã hội, ngăn cản họ tiếp cận với những hệ thống khác nhau của xã hội có sẵn cho những công dân khác Do đó, thiệt thòi là sự mất mát hay hạn chế các cơ hội tham gia vào đời sống cộng đồng ở mức bình đẳng so với người khác Người khuyết tật không phải là một nhóm người đồng nhất, ví dụ nhũng người bị bệnh tâm thần, trì độn, khiếm thị, khiếm thính và bị câm, hoặc nhũng người bị hạn chế về vận động hay những người được gọi là “khuyết tật y học” phải đối mặt với các loại rào cản khác nhau mà họ phải vượt qua bằng những cách khác nhau

Trong Pháp lệnh về người khuyết tật, số 06/1998/PL-UBTVQH ngày 30/07/1998 của ủy ban thường vụ Quốc hội, cũng đưa ra đĩnh nghĩa về “người

khuyết tật” Theo quy định của Pháp lệnh này, “người khuyết tật” không phân biệt nguồn gốc gây ra khuyết tật là người khiếm khuyết một hay nhiều bộ phận cơ thể hoặc chức năng, biểu hiện dưới những dạng tật khác nhau, làm suy giảm khả năng hoạt động, khiến cho lao động, học tập, sinh hoạt gặp nhiều khó khăn

Tóm lại, người khuyết tật là người không bình thường về sức khỏe do các khuyết tật hoặc do bệnh tật làm huỷ hoại, rối loạn các chức năng của cơ thể, hoặc

do hậu quả của những chấn thương dẫn đến những khó khăn trong đời sống và cần được xã hội quan tâm, giúp đỡ, bảo vệ Và thực tế đã cho thấy, rất nhiều người

Trang 3

được quan tâm đúng mức đã trở thành những người có ích, họ có thể sống, sinh hoạt và đóng góp cho xã hội Khó khăn lớn nhất mà người khuyết tật phải đối diện không phải từ sự khiếm khuyết chức năng của cơ thể mà chính là những yếu tố cản trở về tâm lý, xã hội

2 Các tiêu chí phân loại người khuyết tật

Có khá nhiêu hệ thống phân loại người tàn tật phụ thuộc vào từng lĩnh vực và mục đích phân loại khác nhau: phân loại theo giới tính, phân loại theo nguyên nhân, phân loại theo các nhóm tuổi, phân loại theo các dạng tật Tuy nhiên hiện nay, các Bộ - Ngành có liên quan chặt chẽ với các vấn đề tàn tật bao gồm: Bộ Lao động Thương Binh và Xã hội, Bộ Y tế và Bộ Giáo dục Đào tạo, các Bộ - Ngành này

đã chính thức áp dụng Hệ thống phân loại Quốc tế về Suy giảm sức khỏe, Tàn tật và Khuyết tật (ICIDH) do Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) ban hành năm

1980, gồm 7 tiêu chí:

- Suy giảm khả năng vận động như là cụt, liệt cơ, liệt não, bại liệt

- Khiếm thính/câm

- Khiếm thị bao gồm mù, mù màu

- Suy giảm khả năng học tập (suy giảm về nhận thức và trí tuệ) bao gồm cả hội chứng Down

- Hành vi khác thường (thường là do bị bệnh tâm thần phân liệt hoặc các bệnh thần kinh khác)

- Động kinh/ngất

- Những tàn tật khác không đề cập ở trên (mất cảm giác - bệnh phong ) Theo kết quả điều tra Y tế Quốc gia năm 2001 - 2002, thu thập thông tin về người tàn tật đang sống trong hộ gia đình thì định nghĩa tàn tật được sử dụng bao gồm những tàn tật sau: tàn tật vận động, điếc hay nghe kém nặng (nói bình thường cách 1 mét không nghe được), tàn tật về khả năng nói (câm, nói lắp hoặc nói ngọng), mù lòa hoặc thông manh (giơ ngón tay trước mặt cách 2,5 mét không đếm được số ngón tay - không tính cận thị), bệnh tâm thần, chậm phát triển trí tuệ

Ngoài các tiêu chí phân loại tàn tật, còn có các tiêu chí nhằm phân loại mức độ tàn tật, được quy định trong Điều 1 (Nghị định 81/CP), trong đó quy định rằng: những người mà khả năng làm việc bị giảm sút theo một tỷ lệ phần trăm nhất định

và được các cơ quan y tế xác nhận sẽ được hưởng các phụ cấp lao động nhất định Mức độ tàn tật càng lớn bao nhiêu thì mức phụ cấp được hưởng càng cao bấy nhiêu

Phân loại phục vụ cho mục đích trợ cấp của Chính phủ

Tỷ lệ thương tật lao

Từ 5% - 10% 4 tháng lương tối thiểu

Trang 4

Từ 11% - 20% 8 tháng lương tối thiểu

Từ 21% - 30% 12 tháng lương tối thiểu

Trợ cấp hàng tháng

Từ 31% - 40% 0,4 tháng lương tối thiểu

41% - 50% 0,6 tháng lương tối thiểu

51% - 60% 0,8 tháng lương tối thiểu

61% - 70% 1,0 tháng lương tối thiểu

71% - 80% 1,2 tháng lương tối thiểu

81% - 90% 1,4 tháng lương tối thiểu

91% - 100% 1,6 tháng lương tối thiểu

Nguồn: Chính phủ Việt Nan (1995), trích trong Bierman, tr.94

Việc phân loại và quy thuộc người tàn tật vào nhóm này hay nhóm khác sẽ giúp giải quyết các vấn đề về bố trí công ăn việc làm và tổ chức sinh hoại đời sống

Ví dụ: đối với những người tàn tật ít cơ động (di chuyển nhờ vào xe lăn, nạng chống

có thể làm việc tại nhà hoặc chuyên chở họ đến nơi làm việc Tuy nhiên, vấn đề đặt

ra phải giải quyết về nơi làm việc (ở nhà hay ở xí nghiệp), đơn đặt hàng, tiêu thụ sản phẩm, sửa chữa bảo dưỡng thiết bị, phương tiện di chuyển đến nơi làm việc (trường họp làm việc tại các xí nghiệp) Còn đối với những người bất động (không thể di chuyển nếu không có người giúp đỡ), người bị khiếm thị, có thể làm những công việc về trí óc như: nghiên cứu khoa học, viết sách, báo, sáng tác văn học, nghệ thuật (chơi nhạc) Nếu những người tàn tật này sống ở gia đình thì vấn đề được giải quyết tương đối đơn giản Còn nếu họ là những người cô đơn, không nơi nương tựa, thì đòi hỏi những người chuyên trách (trong đó có Nhân viên xã hội) phải giúp họ trong việc tố chức đời sống, tìm kiếm công ăn việc làm, tìm đơn đặt hàng, ký kết hợp đồng, tổ chức tiêu thụ sản phẩm

3 Hiện trạng người khuyết tật tại Việt Nam

Theo số liệu thống kê của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội tính đến đầu năm 2000, Việt Nam có khoảng 5,3 triệu người khuyết tật, chiếm 6,3% tổng dân

số Trong đó, có khoản 1,5 triệu người được xếp vào loại khuyết tật nặng Gần 8%

hộ gia đình Việt Nam có người khuyết tật và hầu hết và hầu hết là những hộ nghèo Tuy nhiên, con số cũng thay đối theo việc hiểu thế nào là khuyết tật Chẳng hạn, theo ước tính của WHO thì tỷ lệ người khuyết tật chiếm đến 10% dân số

Tỷ lệ nam giói bị khuyết tật cao hơn nữ giới, 63,5% so với 36,5% Tỷ lệ người khuyết tật trong nam giới là 7,5% trong khi nữ giói là 5,1% Khoảng 16% người khuyết tật dưới 16 tuổi, 61% từ 16-55 tuổi và 23% trên 55 tuổi Tỷ lệ người khuyết tật sống ở nông thôn là 87% và ở thành thị là 13% Việc phân bố người khuyết tật trên toàn quốc được trình bày ở bản 1

Như ta thấy trong hình 1, những khuyết tật chủ yếu bao gồm khuyết tật về khả năng vận động (29,4%), tâm thần (16,8%), khả năng nghe nói (16,4%) và

Trang 5

khả năng nhìn (13,8%) Ngoài ra còn 20% người khuyết tật bị đa khuyết tật, chẳng hạn: khuyết tật cả khả năng nhìn và nghe

Nguyên nhân khuyết tật được trình bày trong hình 2 Trên 1/3 khuyết tật là

do bẩm sinh, 1/3 do bệnh tật Cần chú ý là theo số liệu thông kê của Chính phủ thì khuyết tật là do hậu quả chiến tranh

Theo dự báo của Chính Phủ trong những năm tới tỷ lệ người khuyết tật trên tổng số dân sẽ tăng do tai nạn giao thông hoặc tai nạn nghề nghiệp và do ô nhiễm môi trường trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Tỷ lệ dân bị tàn tật theo loại tàn tật và giới

Đối với nam giới, phổ biến nhất là tàn tật về vận động Đối với nữ giới tỷ lệ người

mù lòa chiếm tỷ lệ cao nhất nhưng không cao hơn nhiều so với tàn tật về vận động

và khiếm thính Nam giới có tỷ lệ bị tàn tật về vận động và khả năng nói cao hơn phụ nữ, nhưng các loại tàn tật khác có tỷ lệ tương đương với tỷ lệ nữ bị tàn tật

Các xu hướng hiện đại hóa công tác với người khuyết tật

- Phục hồi tại cộng đông (Community based rehabilitation): phần được giao cho ngành y tế có chiều rộng mà thiếu chiều sâu, được thực hiện một cách máy móc, và người ta chỉ quan tâm đến khuyết tật là chính Tuy nhiên một chương trình thu hẹp hơn do Quỹ Nhi Đồng khởi xướng chủ yếu ở TP HCM và một số điểm nhỏ khác lại rất thành công với trẻ bại não, chậm phát triển trí tuệ (phải dối phó với nhiêu khó khăn nhất), đặc biệt lôi cuốn sự tham gia của cộng đồng, và nhờ đó góp phần làm thay dôi nhận thức rất tốt

- Giáo dục hòa nhập, là đưa trẻ khuyết tật vào trường bình thường, đang được thử nghiệm đó đây và cần được đấy mạnh bằng đào tạo bổ sung cho giáo viên

- Các nhóm tự lực của người khuyết tật là một xu hướng phát triển rất đúng hướng vì không ai ngoài người khuyết tật biết rõ mình cần gì Thực tế cũng cho thấy nếu được tạo điều kiện đúng mức người khuyết tật có thể phát triển tiềm năng rất xa trong mọi lãnh vực: học tập, nghề nghiệp, thể thao, nghệ thuật

- Nhà nước ngày càng quan tâm đến vấn đề khuyết tật Đã có luật và một chính sách đáng mừng Tuy nhiên lực cản còn khá lớn do:

+ Truyền thống giáo dục thay đổi thái độ xã hội còn chậm

+ Thái độ THƯƠNG HẠI ( thương mà hại) rất bất lợi vì nó dẫn tới cách làm bảo bọc tạo sự phụ thuộc, thụ động nơi người khuyết tật Rất khó kêu gọi người khuyết tật tự tin vươn lên nếu xã hội chưa tin họ

Trang 6

+ Công tác xã hội với người khuyết tật còn quá nặng phần ban bố rất lỗi thời trên thế giới và quá nhẹ phần xây dựng năng lực và tăng sức mạnh cho các tổ chức của người khuyết tật

II MỘT SỐ LĨNH Vực CÔNG TÁC XÃ HỘI với NGƯỜI TÀN TẬT

1 Cơ sở pháp lý của việc bảo vệ người tàn tật

Những cán sự xã hội phải nắm được các văn bản pháp lý liên ngành xác định quy chế người tàn tật Trong đó bao gồm cả các chính sách Quốc tế lẫn pháp luật Quốc gia

Các chính sách Quốc tế được áp dụng

• Một số văn kiện Quốc tế và khu vực có liên quan đến người tàn tật

- Tuyên ngôn của Liên hiệp quốc về quyền của người tàn tật

- Tuyên ngôn về quyền của người tàn tật về mặt tâm thân

- Quy tắc tiêu chuẩn của Liên hiệp quốc về bình đẳng hoá các cơ hội cho người tàn tật

- Nguyên tắc về bảo vệ người mắc bệnh tâm thần và nâng cao chất lượng chăm sóc sức khoẻ tâm thần

- Công ước cua Tỏ chức lao động quỏc tê (ILO) – số 159 về phục hồi chức năng nghề nghiệp và việc làm cho người tàn tật

- Tuyên bố Salamanca và Cương lĩnh hành động về giáo dục theo nhu cầu đặc biệt

- Tuyên bố về sự tham gia đầy đủ và bình đẳng của người tàn tật ở Khu vực Châu Á - Thái Bình Dương

- Chương trình hành động của Thập kỷ người tàn tật Khu vực Châu Á - Thái Bình Dương (thập kỷ: 1993 - 2002 và 2003 - 2012)

• Các văn kiện pháp lý Quốc tế này chủ yếu đề cập tới những vấn đề liên quan đến quyền lợi của người tàn tật như:

- Người tàn tật có quyền được tôn trọng nhân phẩm của họ

- Người tàn tật cũng có các quyền công dân và các quyền lợi chính trị như những người khác

- Người tàn tật có quyên được hưởng các biện pháp nhằm làm sao để có thể có được sự độc lập tự chủ càng nhiêu càng tốt

- Người tàn tật có quyền được hưởng sự điều trị về y tế, về kỹ thuật hoặc về chức năng, bao gồm các bộ phận giả và chỉnh hình nhằm phục hồi sức khoẻ

và vị thế trong xã hội, có quyền được đi học, đào tạo nghề nghiệp và phục hồi khả năng lao động, có quyền được giúp đỡ, được tư vấn, được bố trí công

ăn việc làm và những hình thức phục vụ khác

- Người tàn tật phải được bảo vệ trước bất cứ một hình thức bóc lột nào

Các văn bản nền tảng mang tính pháp lý này đã được áp dụng ở nhiều nước trên thế giới trong đó có Việt Nam với ý nghĩa để xác định quyền hạn của người tàn

Trang 7

tật, trách nhiệm của nhà nước, các tổ chức từ thiện và các cá nhân hoạt động trong lĩnh vực phục vụ xã hội đối với người tàn tật

Cuộc vận động năm 2001 đã được tiến hành ở Hà Nội vào tháng 12/2001 Tại đây, các vấn đề về tàn tật đã được người tàn tật Việt Nam và các nước Châu Á đưa

ra thảo luận Những người tham gia vào cuộc họp này đã thông qua Tuyên bố Hà Nội, cố gắng mở rộng Chương trình Thập kỷ về người tàn tật của Khu vực Châu Á - Thái Bình Dương (1993 - 2002), thêm 10 năm nữa thành “một cơ chế khu vực để tạo điều kiện cho việc soạn thảo tỷ mỉ và thực hiện Công ước Quốc tế về quyền lợi của người tàn tật

Các văn bản Pháp luật Quốc gia

Chính sách đối với người tàn tật được bắt nguồn từ truyền thống văn hoá và lòng nhân ái của dân tộc Quan điểm cơ bản của Chính phủ Việt Nam là tạo một môi trường pháp lý và hành chính lành mạnh kết hợp các chuẩn mực đạo đức và xã hội

để khuyến khích các gia đình và cộng đồng chăm sóc những người tàn tật Một hệ thống pháp luật toàn diện đã và đang được hoàn thiện đế tạo ra một khung pháp lý cho việc đạt được những mục tiêu phát triển xã hội và hỗ trợ người tàn tật Tất cả những văn bản pháp luật như Hiến pháp năm 1948, 1959, 1980, 1992 (điều 59 và điều 67), Bộ luật lao động, luật chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân và một loạt các văn bản dưới luật như: Pháp lệnh vê người tàn tật đã có những quy định và hướng dẫn cụ thể đối với việc thực hiện các chính sách về việc làm, đào tạo nghề Việt Nam vẫn còn là một trong những nước nghèo, tình hình kinh tế còn nhiều khó khăn, nguồn thu quốc gia còn hạn hẹp, song Chính phủ đã ban hành nhiều chính sách, chế độ cụ thể chăm sóc tinh thần, vật chât đôi với người tàn tật, phải ưu tiên trước hết đối với thương binh, bệnh binh, những người đã sẵn sàng hy sinh thân mình vì sự sống còn của Tổ quốc và những công nhân viên chức vị tai nạn lao dộng hoặc do bệnh nghề nghiệp mà bị tàn tật; bên cạnh đó, đã có những chính sách đông bộ quan tâm toàn diện các lĩnh vực đối với người tàn tật nói chung

Văn bản Pháp luật quan trọng nhất về người tàn tật là Pháp lệnh về người tàn tật được thông qua năm 1998 Theo Pháp lệnh người tàn tật, trẻ em tàn tật được học tập theo các hình thức học hòa nhập trong các trường phổ thông, trường chuyên biệt dành cho người tàn tật như những trường dạy kỹ năng đọc Braille hoặc học ký hiệu đổi với trẻ em câm và điếc Học sinh là người tàn tật được xét giảm hoặc miễn học phí và các khoảng đóng khác cho nhà trường, được hưởng trợ cấp xã hội và được xét cấp học bổng, được ưu tiên tiếp nhận vào học các trường năng khiếu nếu học sinh tàn tật có năng khiếu Pháp lệnh về người tàn tật cũng tạo điều kiện học nghề và làm việc đối với người tàn tật bằng cách quy định Nhà nước và các

cơ sở dạy nghề, các tổ chức kinh tế tạo điều kiện thuận lợi cho người tàn tật được lựa chọn nghề, học nghề Khuyến khích các cơ sở sản xuất, dịch vụ tạo việc làm cho người tàn tật bằng cách giảm thuế, ưu tiên khi vay vốn và đòi hỏi cơ sở sản xuất

Trang 8

nào không đạt chỉ tiêu 2 - 3% nhân viên là người tàn tật phải nộp tiền vào quỹ hỗ trợ người tàn tật Pháp lệnh còn quy định Nhà nước và Xã hội tạo điều kiện thuận lợi để người tàn tật tham gia các hoạt động văn hóa, văn học, nghệ thuật, thể thao, khoa học, kỹ thuật Bên cạnh đó, Pháp lệnh có quy định việc đầu tư xây dựng mới hoặc cải tạo công trình công cộng phải tính đến nhu cầu sử dụng thuận tiện của người tàn tật Bộ Y tễ và một số tổ chức phi Chính phủ có chương trình để hỗ trợ phẫu thuật hoặc phục hồi chức năng cho người tàn tật

Dù đã có cơ sở pháp lý và các biện pháp cụ thể nhưng vẫn còn nhiều người tàn tật chưa tiếp cận được với các dịch vụ trợ giúp, hoặc không được đi học, hoặc bị hạn chế cơ hội nghề nghiệp, sự hiểu biết về nhu cầu và khó khăn của người tàn tật trong cộng đồng vẫn còn chưa cao Một vấn đề lớn đối với các cơ quan được giao trách nhiệm quan tâm đến người tàn tật là thiếu thông tin về tổng số và phân bố người tàn tật trong nước

2 Công tác chăm sóc sức khỏe và phục hồi chức năng cho người tàn tật

Người tàn tật là người có sức khoẻ yếu nên rất dễ mắc bệnh và khi mắc bệnh thì rất khó phục hồi do tình trạng thương tật, họ không có nhiều khả năng để tự chăm sóc cho mình Mặc khác do kinh phí chữa trị cho người tàn tật tốn kém hơn so với những đối tượng khác nên người tàn tật thường có tâm lý dấu bệnh, không muốn cho gia đình và những người xung quanh biết về tình trạng bệnh tình của mình, nên khi bệnh trở nên trầm trọng lại càng khó chữa chạy hơn Vì vậy, công tác chăm sóc

và nuôi dưỡng người tàn tật, đặc biệt về mặt y tế sức khoẻ cần phải được hết sức coi trọng

Tình trạng sức khoẻ kém, kèm theo những rối loạn vĩnh viễn các chức năng của

cơ thể do bệnh tật, hậu quả chấn thương, khuyết tật gây ra, hạn chế trong việc tự

di chuyển, tự tham gia lao động , những điều đó dẫn đến những khó khăn trong sinh hoạt và kiếm sống của họ Việc trợ giúp cho người tàn tật về mặt y tế xã hội có một vị trí quan trọng trong tổng thể các biện pháp quan tâm xã hội về bố trí công

ăn việc làm và về sinh hoạt đời sống cho những người tàn tật Và một trong những biện pháp quan trọng cần được quan tâm về mặt y tế, sức khoẻ là công tác phục hồi chức năng cho người tàn tật

Phục hồi chức năng bao gồm các biện pháp Y học, Kinh tế học, Xã hội học, Giáo dục hướng nghiệp và kỹ thuật phục hồi, làm giảm tác động của giảm khả năng và tàn tật, đảm bảo cho người tàn tật hội nhập xã hội, có những cơ hội bình đẳng và tham gia đầy đủ các hoạt động xã hội, có cuộc sống bình thường tối đa so với hoàn cảnh của họ

Ngày nay, Phục hồi chức năng không chỉ được đề cập đến yếu tố nhân đạo mà còn là một khía cạnh nhân lực, kinh tế to lớn Phục hồi chức năng yêu cầu sự tham gia của đa ngành, đa lĩnh vực trong đó bản thân người tàn tật, gia đình và thân

Trang 9

nhân của họ, cán bộ y tế, nhân viên xã hội, các tầng lóp xã hội phải tham gia hoạch định kế hoạch, phương pháp thực hiện, xã hội hóa cao độ, chúng ta mới hy vọng có thành công to lớn và rộng khắp Phục hồi chức năng không phải là một nghệ thuật chữa bệnh đặc biệt mà là một phương pháp nhằm tạo mọi thuận lợi cho người tàn tật thích ứng với tình trạng khiếm khuyết, giảm khả năng và hậu quả của nó để có thể hội nhập trong cộng đồng xã hội càng nhiều càng tot

Mục đích của phục hồi chức năng

- Tăng cường khả năng còn lại của cá nhân để giảm hậu quả của tàn tật

- Tác động làm thay đổi một cách tích cực suy nghĩ và thái độ của xã hội, tạo nên sự chấp nhận của xã hội đối với người tàn tật như một thành viên bình đẳng của xã hội

- Cải thiện các điều kiện cho người tàn tật đến được các nơi công cộng, công sở: để phục vụ cho việc học hành, công ăn việc làm

- Vận động người tàn tật, gia đình, cộng đồng vào kế hoạch và những công việc ứng dụng các kỹ thuật cua chương trình phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng

Các hình thức phục hồi chức năng

1 Phục hồi chức năng dựa vào các viện: Đây là hình thức phục hồi chức năng

mà nhiều nơi trên thê giới vẫn làm

Ưu điểm:

+ Kỹ thuật phục hồi chức năng cao

+ Nhiều phương tiện, thiết bị hiện đại

+ Cán bộ chuyên khoa được đào tạo tốt

+ Có thể phục hồi được trường hợp khó và nặng

Nhược điểm:

+ Người tàn tật phải đến các trung tâm phục hồi chức năng, sống cách ly với gia đình và xã hội

+ Số lượng phục hồi ít (chỉ giải quyết được 1 - 5 % số người tàn tật)

+ Chi phí tốn kém cho người tàn tật

+ Chỉ phục hồi được về mặt y học: phục hồi chức năng có mục tiêu là để người tàn tật hội nhập với xã hội Nếu phục hồi chức năng ở trung tâm, sau khi ra viện người tàn tật lại phải tập thích ứng một lần nữa Do đó, vai trò của Trung tâm

Trang 10

được giới hạn trong một số chức năng đặc biệt: đào tạo, nghiên cứu tham gia với cộng đồng, phục hồi bệnh nhân khó

2 Phục hồi chức năng ngoại viện: Cán bộ chuyên khoa của các viện xuống địa phương trực tiếp làm phục hồi chức năng cho người bị tàn tật

Ưu điểm: Số người tàn tật được phục hồi chức năng có nhiều hơn song không đáng

kể do tình trạng thiếu cán bộ có chuyên môn

Nhược điểm: Tốn kém tiền thù lao, chi phí đi lại, giao thông

3 Phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng: Biến công việc phục hồi chức năng thành công việc của mọi người trong công cuộc xây dựng và phát triển cộng đồng

- Làm thay đổi nhận thức xã hội để xã hội chấp nhận người tàn tật là thành viên bình đăng trong xã hội

- Trách nhiệm của cộng đồng là biến phục hồi chức năng thành một nhiệm vụ, một bộ phận của quá trình phát triển xã hội

- Lôi kéo sự tham gia của chính người tàn tật và gia đình vào quá trình phục hồi chức năng

- Lôi kéo sự hợp tác đa ngành, sự giúp đỡ của tuyến trên

- Sử dụng các dụng cụ thích hợp để biến kiến thức và kỹ năng phục hồi chức năng áp dụng ngay tại cộng đồng

Ưu điếm:

+ Tỷ lệ người được phục hồi chức năng cao nhất vì số lượng người tàn tật được phục hồi tại tuyến xã khoảng 75 - 80%

+ Chất lượng phục hồi cao: người tàn tật được đáp ứng cả 5 nhu cầu cơ bản của con người và họ có cơ hội hội nhập xã hội, có công ăn việc làm, trẻ em được đi học

+ Chi phí cho chương trình vừa phải, chấp nhận được

+ Chương trình phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng được lồng ghép vào

hệ thống chăm sóc sức khỏe ban đầu tại cộng đồng

+ Giải quyết tình trạng thiếu cán bộ tại tuyến dưới

Vai trò của nhân viên xã hội với tư cách là nhân viên chăm sóc sức khỏe ban đầu tại gia đình người tàn tật

- Xác định chổ ở và phát hiện ra người tàn tật

- Tìm những người tàn tật có nhu cầu phục hồi

Ngày đăng: 22/04/2017, 23:50

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w