Đất nước trích “Trường ca mặt đường khát vọng” Hoàn cảnh sáng tác: Năm 1971, ở giữa chiến khu Trị - Thiên, hướng về tuổi trẻ Việt Nam trong những ngày sục sôi đánh Mĩ, Nguyễn Khoa Điềm v
Trang 1MỤC LỤC
1 Tác giả, tác phẩm 1
1.1 Về tác giả Hòang Cầm, Nguyễn Đình Thi, Nguyễn Khoa Điềm 1
1.1.1 Hoàng Cầm 1
1.1.2 Nguyễn Đình Thi 2
1.1.3 Nguyễn Khoa Điềm 3
1.2 Về các bài thơ 4
1.2.1 Bên kia sông Đuống 4
1.2.2 Đất nước 4
1.2.3 Đất nước (trích “Trường ca mặt đường khát vọng”) 5
2 Tình yêu quê hương đất nước - đề tài xuyên suốt nền văn học Việt Nam 5
2.1 Tình yêu quê hương đất nước thời kỳ trung đại 5
2.2 Tình yêu quê hương đất nước trong văn học gia đoạn 1930 đến 1945 7
2.3 Tình yêu quê hương đất nước trong văn học giai đoạn 1945- 1975 8
2.4 Tình yêu quê hương đất nước 1975 - nay 9
CHƯƠNG 2: 11
TÌNH YÊU QUÊ HƯƠNG ĐẤT NƯỚC 11
TRONG “BÊN KIA SÔNG ĐUỐNG” – HOÀNG CẦM, “ĐẤT NƯỚC” – NGUYỄN ĐÌNH THI VÀ “ĐẤT NƯỚC” – NGUYỄN KHOA ĐIỀM - NHỮNG NÉT TƯƠNG ĐỒNG 11
1 Cảm hứng sáng tác 11
2 Đất nước chịu nhiều đau thương, mất mát 12
3 Đất nước với con người sống trọn tình trọn nghĩa 17
4 Đất nước với những giá trị lịch sử, văn hóa truyền thống lâu đời 20
5 Đất nước với những hình ảnh tươi đẹp 23
CHƯƠNG 3: 28
TÌNH YÊU QUÊ HƯƠNG ĐẤT NƯỚC 28
TRONG “BÊN KIA SÔNG ĐUỐNG” – HOÀNG CẦM, “ĐẤT NƯỚC” – NGUYỄN ĐÌNH THI VÀ “ĐẤT NƯỚC” – NGUYỄN KHOA ĐIỀM - NHỮNG NÉT ĐẶC SẮC RIÊNG 28
1 Nét đặc sắc về nội dung 28
1.1 Nỗi đau khi quê hương bị giặc chiếm đóng, tàn phá được thể hiện rất rõ trong bài thơ “Bên kia sông Đuống” (Hoàng Cầm) 28
Trang 21.2 Hình tượng đất nước trong mối quan hệ giữa quá khứ và tương lai trong
bài thơ Đất nước ( Nguyễn Đình Thi) 31
1.3 Tư tưởng đất nước của nhân dân trong bài thơ Đất nước ( Nguyễn Khoa Điềm) 33
2 Nét đặc sắc về nghệ thuật 37
2.1 Giọng điệu 37
2.2 Nhịp thơ 40
2.3 Ngôn ngữ thơ 43
2.4 Hình ảnh thơ 48
TIỂU KẾT 53
Trang 3Năm 1938, ông ra Hà Nội học trường Thăng Long Năm 1940, đỗ tú tàitoàn phần và bước vào nghề văn, dịch sách cho Tân dân xã của Vũ Đình Long.Bút danh Hoàng Cầm là tên một vị thuốc đắng trong thuốc bắc
Tháng 8 năm 1947, ông tham gia Vệ quốc quân ở chiến khu 12 Năm 1952,ông được cử làm Trưởng đoàn văn công Tổng cục chính trị, hoạt động biểudiễn cho quân dân vùng tự do và phục vụ các chiến dịch
Cuối năm 1955, ông về công tác ở Hội Văn nghệ Việt Nam, làm công tácxuất bản Tháng 4 năm 1957, ông tham gia thành lập Hội nhà văn Việt Nam,được bầu vào Ban chấp hành Ông rút khỏi hội nhà văn Việt Nam vào năm
1958 và về hưu non năm 1970 lúc 48 tuổi
Đầu năm 2007, ông được nhà nước Việt Nam tặng giải thưởng nhà nước vềvăn học nghệ thuật do Chủ tịch nước ký quyết định tặng riêng
Ông mất ngày 6 tháng 5 năm 2010 vì bệnh nặng tại Hà Nội
Hận ngày xanh (phóng tác theo Lamartine 1940)
Bông sen trắng (phóng tác theo Andersen 1940)
Trang 4 Thoi mộng (truyện vừa, 1941)
Hận Nam Quan (kịch thơ, 1944)
Kiều Laon (kịch thơ, 1945)
Tiếng hát quan họ(trường ca, in chung trong tập Của Biển 1956)
Bên kia sông Đuống (tập thơ chọn lọc 1933) – giải thưởng nhà nước2007
Lá diêu bông (tập thơ chọn lọc, 1933)- Giải thưởng nhà nước 2007
Ông tham gia hoạt động cách mạng từ lúc 17 tuổi Năm 1942, ông bắt đầuviết sách triết học Năm 1943, tham gia hội văn hóa cứu quốc, là đại biểu tham
dự Quốc dân Đại hội Tân Trào và được cử vào Ủy ban giải phóng Dân tộc ViệtNam Sau cách mạng tháng Tám năm 1945, ông làm Tổng thư ký Hội Văn hóaCứu quốc
Năm 1946, là đại biểu quốc hội trẻ nhất, làm Ủy viên Thường Trực QuốcHội, khóa I
Nguyễn Đình Thi còn được nhận giải thưởng Hồ Chí Minh về văn họcnghệ thuật năm 1996
Nguyễn Đình Thi mất ngày 18 tháng 4 năm 2003
Sự nghiệp sáng tác:
Nguyễn Đình Thi làm thơ từ những năm đầu cuộc kháng chiến chống thựcdân Pháp Thơ ông có bản sắc và giọng điệu riêng, vừa tự do, phóng khoángvừa hàm súc, sâu lắng suy tư, có những tìm tòi theo xu hướng hiện đại về hìnhảnh và nhạc điệu
Sự nghiệp thơ ca của Nguyễn Đình Thi đa dạng, phong phú Ông sáng đadạng về thể loại : truyện, tiểu luận, thơ, kịch và nhạc
Một số tác phẩm tiêu biểu :
Trang 5Nguyễn Khoa Điềm (tên khác là Nguyễn Hải Dương, sinh ngày 15 tháng
4 năm 1943) là một nhà thơ, nhà chính trị Việt Nam Ông nguyên là ủy viên bộchính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Bí thư Trungương Đảng cộng sản Việt Nam khóa IX; Đại biểu Quốc hội Việt Nam khóa X,
bộ trưởng văn hóa - thông tin (nay là bộ văn hóa, thể thao và du lịch)
Ông sinh tại thôn Ưu Điềm, xã Phong Hòa, huyện Phong Điền, tỉnh ThừaThiên – Huế Thân sinh ông là nhà báo Hải Triều
Năm 1955 ông ra miền bắc học tại trường học sinh miền Nam Ông tốtnghiệp Đại học Sư phạm Hà Nội khoa Ngữ văn năm 1964, cùng một khóa vớiPhạm Tiến Duật và Lê anh Xuân
Sau đó ông vào miền Nam hoạt động trong phong trào học sinh sinh viênHuế; xây dựng cơ sở cách mạng, viết báo, làm thơ,… cho đến năm 1975 Trởthành hội viên Hội nhà văn Việt nam năm 1975 Năm 1994, Nguyễn KhoaĐiềm ra Hà Nội, làm Thứ trưởng bộ văn hóa - Thông tin Năm 1995, ông đượcbầu làm Tổng Thư ký Hội nhà văn Việt Nam khóa V
Năm 2001, tại Đại hội Đại biểu toàn quốc Đảng Cộng sản Việt Nam lầnthứ IX, Nguyễn Khoa Điềm trở thành ủy viên Bộ chính trị, Bí thư Trung ương,trưởng ban tư tưởng văn hóa trung ương (2001-2006)
Hiện nay ông về nghỉ hưu ở Huế, tiếp tục làm thơ
Năm 2000, ông được nhận giải thưởng của Nhà nước về văn học nghệthuật
Sự nghiệp sáng tác:
Trang 6Nguyễn Khoa Điềm đến với thơ hơi muộn nhưng đã sớm định hình chomình một giọng điệu riêng.
Ta bắt gặp những suy tư của anh đới với nhân dân, đất nước, những chiêmnghiệm về đời sống xã hội, nhân tình thế thái qua các tập thơ tiêu biểu :
“Bên kia sông Đuống” ra đời năm 1948 Sông Đuống còn gọi là sông
“Thiên Đức”, là một nhánh của sông Hồng nối với sông Thái Bình, chia tỉnhBắc Ninh ra làm hai phần: Nam (hữu ngạn) và Bắc (tả ngạn)
Khi giặc Pháp chiếm Nam phần Bắc Ninh thì Hoàng Cầm đang công tác ởViệt Bắc Một đêm giữa tháng 4 năm 1948, Hoàng Cầm nghe tin giặc Pháp đánhphá quê hương mình, ngay trong đêm ấy dưới ngọn đèn dầu ông đã viết một
mạch từ 12 giờ đêm đến gần sáng với “niềm căm giận và niềm thương cảm sâu sắc”.
Bài thơ lần đầu tiên được đăng trên báo “Cứu quốc” tháng 6-1948 và
nhanh chóng được phổ biến ra toàn quốc
Chủ đề tác phẩm:
Bài thơ thể hiện hai trạng thái cảm xúc: đau thương và tự hào Tự hào vềtruyền thống văn hóa lâu đời và vẻ đẹp trù phú của quê hương Qua hồi ức củanhà thơ, một miền Kinh Bắc cổ kính và tươi đẹp hiện lên thật đáng trân trọng.Nhưng chính điều đó làm nên nỗi đau Quê hương ấy đang bị giặc tàn phá, đangquằn quại dưới gót giày xâm lăng
“Bên kia sông Đuống” là dòng cảm xúc mãnh liệt nhất, chân thành và
trong sáng nhất mà Hoàng Cầm dành cho quê hương yêu dấu của mình, và qua
đó đánh thức trong mỗi chúng ta tình yêu quê hương đất nước Đó là tình cảmthiêng liêng cao cả và gắn bó với chúng ta suốt đời
1.2.2 Đất nước
Trang 7Hoàn cảnh sáng tác:
Bài thơ được sáng tác suốt cuộc kháng chiến chống Pháp (1948-1955)
Bài thơ được tổng hợp từ hai bài thơ “Sáng mát trong như sáng năm xưa” (1948), “Đêm mít-tinh” (1949) Bài thơ hoàn thành năm 1955 và và được đưa vào tập “Người chiến sĩ” (1956).
Chủ đề tác phẩm Chủ đề bao trùm của bài thơ “Đất nước” là lòng yêu nước nồng nàn, tha
thiết, ý thức độc lập tự chủ, lòng tự hào về đất nước và nhân dân anh hùng từtrong đau thương nô lệ, dưới sự lãnh đạo của Đảng đã quật khởi vùng lên chiếnthắng huy hoàng
1.2.3 Đất nước (trích “Trường ca mặt đường khát vọng”)
Hoàn cảnh sáng tác:
Năm 1971, ở giữa chiến khu Trị - Thiên, hướng về tuổi trẻ Việt Nam
trong những ngày sục sôi đánh Mĩ, Nguyễn Khoa Điềm viết “Trường ca mặt đường khát vọng”
- Tình yêu, niềm tự hào của tác giả về quê hương đất nước Việt Nam
2 Tình yêu quê hương đất nước - đề tài xuyên suốt nền văn học Việt Nam
Văn học là dòng chảy không ngừng của thời gian, các nhà văn nhà thơ làthư ký trung thành của thời đại Dân tộc Việt nam trải qua bốn nghìn năm dựngnước và giữ nước, những chiến tích oanh liệt của các vua hùng, tướng sĩ đượctạc trên sổ vàng lịch sử Lòng tự hào dân tộc cùng tình yêu quê hương đất nướcsâu sắc chính là sợi chỉ đỏ xuyên suốt quá trình sáng tác văn chương của cácnhà văn Tuy mỗi giai đoạn có một cách thể hiện, một quan điểm khác nhau vềtình yêu quê hương, đất nước, nhưng các tác phẩm vẫn gặp nhau ở một điểmchung đó là tinh thần dân tộc, lòng tự hào về những giá trị của đất nước
2.1 Tình yêu quê hương đất nước thời kỳ trung đại
Trang 8Để giành lại được chủ quyền, dân tộc đã phải trả một giá đắt bằng baonhiêu xương máu của nhiều thế hệ Do đó, khi nước nhà được giải phóng, trongvăn học bừng dậy một ý thức khẳng định độc lập chủ quyền và xây dựng đấtnước tự chủ, tự cường mạnh mẽ Tinh thần yêu nước, tự hào dân tộc đã trở thànhlập trường của những nhà yêu nước thời kì này Cùng với sự phát triển của lịch
sử dân tộc, tình yêu đất nước từ tính chất cảm tính nó đã chuyển thành lý tính,
có nội dung tư tưởng rõ ràng, có lý tưởng và tinh thần yêu nước đã phát triểnthành chủ nghĩa yêu nước Chủ nghĩa yêu nước cũng chính là nguồn cảm hứnglớn của nền văn học trung đại
Yêu nước là niềm tự hào, tự tôn dân tộc, là lòng căm thù giặc sâu sắc với
ý chí quyết tâm dẹp loạn, giành độc lập tự do; là lòng trung quân ái quốc; tìnhyêu thiên nhiên, yêu đất nước sâu sắc, tố cáo tội ác của giặc; khát vọng hòabình Ngoài ra còn thể hiện ở nhiều cung bậc tâm trạng: buồn vui, sung sướng,
hả hê hay tủi nhục, hân hoan trước vận mệnh dân tộc
Trong những thế kỷ đầu, văn học viết về những chiến công anh dũng, lấplánh, ngập tràn tinh thần yêu nước Chúng ta có thể thấy được lòng tự hào, tự
tôn dân tộc trong bản tuyên ngôn đầu tiên của nước Đại Việt “Nam quốc sơn hà” của Lý Thường Kiệt
“Nam Quốc sơn hà nam đế cư Tiệt nhiên định phận tại thiên thư Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư”
Với giọng hùng hồn, vang dội, bài thơ alf lời khẳng định chủ quyền dântộc và lời tuyên bố những hậu quả mà chúng sẽ phải gánh nếu đến xâm phạmnước ta
Yêu nước còn ở tấm lòng trung quân ái quốc, luôn xưng đế:
“Như nước Đại Việt ta từ trước Vốn xưng nền văn hiến đã lâu”
Tự hào lắm với nước Đại Việt với những phong tục tập quán riêng, trải
qua bao đời nay nó đã trở thành “nền văn hiến” không thể xóa bỏ.
Tình yêu quê hương đất nước còn thể hiện ở lòng căm thù giặc, một ý chí
quyết tâm đánh đuổi giặc như trong “Hịch tướng sĩ” của Trần Quốc Tuấn
Yêu nước cũng thể hiện trong lòng tự hào Tự hào về chiến công chốngxâm lược, về truyền thống đấu tranh bất khuất, về một nền văn hóa lâu đời, vềđất nước tươi đep, phong phú, về con người có bản lĩnh vững vàng, về cuộc
sống yên vui Những sắc thái này được bộc lộ trong nhiều tác phẩm như Bạch Đằng Giang (Trần Minh Tông), Quá Hàm Tử Quan (Trần Nhân Tông),
Trang 9Tình yêu đất nước thể hiện ở khát vọng hòa bình, mong muốn cuộc sống
ấm no cho nhân dân
“Đoạt sóc Chương Dương độ, Cầm Hồ Hàm Tử quan
Thái bình tu nỗ lực, Vạn cổ thử gian san.”
(Phò giá về kinh)Ngoài ra tình yêu quê hương đất nước hay chủ nghĩa yêunước còn là tình yêu thiên nhiên sâu đậm Đọc thơNguyễn Trãi, thiên nhiên như ùa về trong ta với bao cảnhđẹp
“Một mình nhàn nhã khép phòng văn Khách tụng không ai bén mảng gần Trong tiếng quốc kêu xuân đã muộn Đầy xuân mưa bụi nở hoa xoan”
Sắc tím của hoa xoan, của màn mưa bụi khép lại làm thi nhân rung động,làm lòng ta bỗng thấy xao xuyến, nhớ mãi
Ta còn bắt gặp một trời thu xanh ngắt cùng hình ảnh làng quê thân thuộccủa đất nước thông qua những sáng tác trong chùm thơ thu của nhà văn NguyễnKhuyến
Hay tình yêu quê hương còn được tang ẩn trong nổi nhớ da diết một mùihương lúa sớm, một bát canh cua đồng béo ngậy giữa chốn phồn hoa đô hội xứngười
“Lão tang diệp lạc tàm phương tận Tản đạo hoa hương giải chính phì.
Kiến thuyết tại gia bần diệc hảo Giang nam tuy lạc bất như quy”
(Quy hứng – Nguyễn trung ngạn)Con người Việt Nam có một lòng tự hào dân tộc cùng một tình yêu nướcsâu sắc, khiến ta càng thêm trân trọng và tự hào hơn Tình yêu thiên nhiên, yêunhững hình ảnh bình dị, thân thuộc gắn liền với cuộc sống, lòng căm thù quângiặc sâu sắc cùng ý chí quyết tâm bảo vệ nền độc lập dân tộc chính là biểu hiệncủa chủ nghĩa yêu nước Đây là sợi chỉ đỏ xuyên suốt chặng đường dài rộng củanền văn học nước nhà Chủ nghĩa yêu nước trong văn học trung đại mãi mãi tỏasáng trong tâm hồn mỗi người
2.2 Tình yêu quê hương đất nước trong văn học gia đoạn 1930 đến
1945
Trang 10Giai đoạn 1930 đến năm 1945 văn học Việt nam có nhiều thay đổi, hìnhthành nhiều xu hướng khác nhau và được hiện đại hóa một cách sâu sắc và toàndiện Văn học thời kỳ này chủ yếu xây dựng hình tượng người chiến sĩ giàu lýtưởng, có khát khao và sẵn sàng hy sinh vì độc lập dân tộc
Văn học 1930 đến 1945 đã kế thừa và phát huy những truyền thống tưtưởng lớn của nền văn học lâu đời của dân tộc là chủ nghĩa yêu nước Ở mỗi bộphận, mỗi xu hướng văn học, lòng yêu nước và tinh thần dân tộc có mức độ,dạng biểu hiện khác nhau Ở bộ phận văn học hợp pháp, nội dung ấy thể hiện ở
sự phát hiện ra vẻ đẹp của thiên nhiên đất nước, của những truyền thống văn hóacủa con người Việt Nam Ở bộ phận văn học bất hợp pháp thì lòng yêu nướcđược biểu hiện một cách trực tiếp, là văn học ca ngợi những người chiến sĩ đấutranh giải phóng dân tộc, sẵn sàng xả thân vì độc lập tự do của tổ quốc
2.3 Tình yêu quê hương đất nước trong văn học giai đoạn
1945-1975
Đặc điểm của văn học Việt nam từ năm 1945-1975 là nền văn học vậnđộng theo hướng cách mạng hóa, gắn bó sâu sắc với vận mệnh chung của đấtnước Do hoàn cảnh lịch sử, đất nước rơi vào tay thực dân Pháp và Mỹ, nhiềucuộc khởi nghĩa nổi lên đều bị đẫm máu, nhân dân ta phải chiến đấu để giành lạiđộc lập dân chủ nên tình yêu quê hương đất nước trong các tác phẩm văn họcgiai đoạn này chủ yếu mang âm hưởng ngợi ca kháng chiến, ngợi ca tình đồngđội, đồng chí cùng với sự đau xót trước vận mệnh dân tộc
Tùy theo từng hoàn cảnh riêng và từng góc độ cảm nhận riêng mà cáchthể hiện tình yêu đất nước có những nội dung khác nhau, những tiếng nói thơkhác nhau Ta bắt gặp ở thơ Quang Dũng tình yêu nước chính là ngợi ca nhữngngười lính đánh giặc, những người lính đã viết nên những huyền thoại và đãdành trọn tuổi trẻ cho vận mệnh dân tộc
“Mắt trừng gửi mộng qua biên giới Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm”
Với Hoàng Cầm, tổ quốc là quê hương, tình yêu tổ quốc được cụ thể hóasâu sắc và tha thiết trong tình yêu quê hương Kinh Bắc, một miền quê thơ mộng
và trữ tình có dòng sông Đuống trôi lấp lánh giữa đôi bờ cát trắng mịn, giữa mộtmàu xanh biếng biếc của dâu mía ngô khoai, và nhất là có những người con gáiKinh Bắc đẹp như trong tranh với nụ cười rạng rỡ, mê hồn:
“Những cô hàng xén răng đen Cười như mùa thu tỏa nắng”
Với Nguyễn Đình Thi, cảm hứng về tình yêu đất nước đã được nhà thơtích lũy, trải nghiệm trong suốt thời kì kháng chiến chống Pháp, để đến những
Trang 11ngày chiến thắng trào ra mãnh liệt thành một tượng đài đất nước bằng thơ : Mộtđất nước hiền hòa mà bất khuất, kiên cường, tình nghĩa mà anh hùng – một đấtnước đã trưởng thành tỏa sáng!
“Súng nổ rung trời giận dữ Người lên như nước vỡ bờ Nước Việt Nam từ máu lửa
Rũ bùn đứng dậy sáng lòa”.
Còn đối với nhà thơ cách mạng Tố Hữu, Tổ quốc, tình yêu đất nước chính
là tình yêu quê hương cách mạng, thủy chung gắn bó một đời với quê hươngcách mạng Bao trùm toàn bộ thơ sáng tác của Tố Hữu là lý tưởng cách mạng, vìcuộc đấu tranh giành độc lpaj dân tộc, tự do và hạnh phúc cho nhân dân, vì nhândân Trong lịch sử văn học cách mạng nước nhà, thật hiếm thấy nhà thơ nào lại
có những tác phẩm mang đậm dấu ấn đặc trưng của mỗi giai đoạn lịch sử và đã
đi vào lòng người như Tố Hữu Tình yêu quê hương, đất nước thiết tha, sâu nặng
đã hóa thân vào những vần thơ trữ tình chính trị đạt tới đỉnh cao về nghệ thuật
thơ ca cách mạng tiêu biểu là 6 tập thơ : Từ ấy, Việt bắc, Ra trận, lộng gió, máu
và hoa, một tiếng đờn Thơ của Tố Hữu và chính cuộc đời sống và cống hiến
cho cách mạng, cho đất nước của ông là tấm gương sáng nhất về lòng yêu nước,tinh thần sẵn sàng hiến dâng tận cùng cho cách mạng, cho đất nước
“Mười lăm năm ấy ai quên Quê hương cách mạng dựng nên cộng hòa Mình về mình lại nhớ ta
Mái đình, Hồng Thái, cây đa tân trào”
Trong những năm kháng chiến chống Pháp, tập thơ Việt Bắc của Tố Hữu
là một bức tranh toàn cảnh và sinh động về cuộc kháng chiến và những conngười kháng chiến
Bên cạnh đó, các tác phẩm văn xuôi cũng tập trung phản ánh, khắc họa
hình ảnh con người Việt Nam bất khuất, anh dũng kiên cường Là “người mẹ cầm súng” của Nguyễn Thi hay hình ảnh những người dân tộc nơi niềm núi yêu nước nồng nàn qua tác phẩm “Rừng xà nu” của Nguyễn Trung Thành.
Tình yêu đất nước trong giai đoạn này đã thể hiện ở nhiều khía cạnhphong phú và đa dạng Tình yêu nước là nỗi niềm khắc khoải không nguôi trongtâm hồn con người Việt Nam nói chung và các thi sĩ nói riêng
2.4 Tình yêu quê hương đất nước 1975 - nay
Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước thắng lợi mở ra kỷ nguyên hòabình, thống nhất, độc lập tự do và chủ nghĩa xã hội Cuộcsống chuyển qua một trang mới với những khát vọng tự do, hạnh phúc muôn
Trang 12thủa của con người Nền văn học chuyển từ nền văn học chiến tranh sang nềnvăn học thời hậu chiến, thời bình.
Tình yêu quê hương đất nước văn học thời kỳ này là sự đồng cảm sâu sắctrước số phận của con người, là sự lột tả hiện thực cuộc sống thường ngày Vănhọc thời nay đạt được nhiều thành tựu, đa dạng về thể loại và nội dung ca ngợitinh thần dựng xây đất nước, cuộc sống sau giải phòng của con người Tình yêunước được thể hiện thông qua niềm tự hào dân tộc với những sáng tác hướngngợi ca đất nước, hướng đến cuộc sống tốt đẹp hơn
Trang 13CHƯƠNG 2:
TÌNH YÊU QUÊ HƯƠNG ĐẤT NƯỚC TRONG “BÊN KIA SÔNG ĐUỐNG” – HOÀNG CẦM, “ĐẤT NƯỚC” – NGUYỄN ĐÌNH THI VÀ “ĐẤT NƯỚC” – NGUYỄN KHOA ĐIỀM -
NHỮNG NÉT TƯƠNG ĐỒNG.
1 Cảm hứng sáng tác
“Bên kia sông Đuống” (Hoàng Cầm), “Đất nước” (Nguyễn Đình Thi) và
“Đất nước” (trích “Trường ca mặt đường khát vọng”) của Nguyễn Khoa Điềm
dù được sáng tác ở những thời gian cụ thể không giống nhau, song điểm chung
dễ nhận thấy nhất có lẽ chính là ở cảm hứng sáng tác Cả ba bài thờ đều đượcsáng tác dựa trên cảm hứng về đất nước Bằng tình yêu quê hương đất nước vànhững chiêm nghiệm của mình, Hoàng Cầm, Nguyễn Đình Thi, Nguyễn KhoaĐiềm đã dùng ngòi bút của mình để vẽ nên dáng hình đất nước ngàn năm lịch
sử, trưởng thành từ những đau thương mất mát của bom đạn chiến tranh nhưngvẫn giữ được toàn vẹn những giá trị quý giá của dân tộc
Cụ thể, bài thơ “Bên kia sông Đuống” được Hoàng cầm viết ra trong một đêm “thức trắng” khi anh nghe tin giặc Pháp chiếm đóng và tàn phá quê hương
Kinh Bắc thân yêu của mình Đó là nỗi lòng của đứa con yêu gửi về quê mẹ vớiniềm xót xa căm giận và niềm tự hào yêu thương một vùng quê cổ kính đẹp giàu
mà anh đã từng gắn bó suốt tuổi thơ Bằng tình yêu quê hương tha thiết và lòngcăm thù giặc sâu sắc, Hoàng Cầm đã dựng lên gương mặt vùng quê Kinh Bắccủa mình thật chân thực nhưng cũng thật đẹp Và từ trong đau thương, quêhương giàu đẹp ấy đã đứng dậy đánh giặc để chờ ngày giải phóng, đoàn tụ trongnhững mùa lễ hội mới Gương mặt quê hương hiện lên trong bài thơ vừa đauthương, đẹp giàu đẹp, lại anh hùng – tình nghĩa; cảnh sắc và con người hòaquyện với nhau thành những ấn tượng đặc sắc khó quên
Trong “Đất nước” của Nguyễn Đình Thi, ta nhận thấy được những cảm
xúc và suy ngẫm của ông về đất nước trong suốt chín năm kháng chiến chốngPháp Cảm hứng thơ của tác giả kéo dài theo suốt hành trình kháng chiến, đượcnối kết với lịch sử oai hùng bốn ngàn năm dựng nước, giữ nước và liên tưởng
mở rộng tới tương tai tươi sáng của cách mạng Chủ đề và cảm hứng sâu sắc
nhất của “Đất nước” chính là tình yêu quê hương đất nước, là ý thức độc lập tự
chủ, niềm tự hào về Tổ quốc giàu đẹp, có truyền thống bất khuất anh hùng, làlòng ngường mộ Tổ quốc từ trong đau thương nô lệ, dưới sự lãnh đạo của Đảng
đã quật khởi đứng lên chiến thắng huy hoàng
Trang 14Đoạn trích“Đất nước” (trích “Trường ca mặt đường khát vọng”) của
Nguyễn Khoa Điềm đã thể hiện rõ nét những suy nghĩ của tác giả về Đất nướctrong sự hài hòa giữa các phương diện lịch sử, văn hóa, địa lý Đặc biệt, đoạntrích thể hiện cái nhìn mới mẻ của tác giả về Đất nước: Đất nước là sự hội tụ vàkết tinh bao công sức và khát vọng của nhân dân Nhân dân là người làm ra vàlàm chủ Đất nước
Mặc dù ba bài thơ trên đều viết về cùng một đề tài, cùng một cảm hứng quê hương đất nước như vậy, nhưng chúng không hoàn toàn giống nhau và cũng không hề có sự trùng lặp Trái lại, ở mỗi bài thơ đều có những đặc điểm riêng thể hiện phong cách riêng của từng tác giả.
2 Đất nước chịu nhiều đau thương, mất mát.
Điểm chung thứ hai mà ta dễ dàng nhận thấy ở ba bài thơ chính là hìnhảnh đất nước hiện lên với những đau thương, mất mát từ chiến tranh, do chínhbọn quân xâm lược hung hãn gây ra Cả ba bài thơ đều được khai sinh tronghoàn cảnh đất nước đang bị giày xéo bởi bom đạn chiến tranh, nhân dân phảichịu đựng biết bao nhiêu nỗi thống khổ, đọa đày từ lũ giặc cướp nước trong haicuộc kháng chiến lớn của dân tộc: chống Pháp và chống Mỹ Có lẽ chính vìhoàn cảnh sáng tác đặc biệt như vậy, cùng với tình yêu đất nước luôn nung nấutrong mỗi con người, mà cả ba bài thơ đều mang âm hưởng bi thương, mang cáibuồn, cái căm phẫn đối với bọn giặc vô nhân tính
“Bên kia sông Đuống” được Hoàng Cầm miêu tả khá rõ nét hình ảnh
một đất nước chịu nhiều đau thương trong cuộc kháng chiến chống Pháp Khi ấyquê hương Kinh Bắc của nhà thơ bị giặc tấn công, uy hiếp Chính vì thế mà nhàthơ ở bên này sông Đuống nhìn sang bờ bên kia mà thương người mẹ già thương
vợ con đang phải chịu sự nguy hiếp của bọn chúng Mở đầu bài thơ, tác giả miêu
tả Đất nước với những hình ảnh tươi đẹp và thanh bình Hình ảnh Đất nước
trước đây gắn liền với “dòng sông lấp lánh”, với bãi mía, bờ dâu xanh xanh, với
“ngô khoai biêng biếc”, với “hương lúa nếp thơm nồng” thì ngay sau đó, khung
cảnh yên bình ấy phút chốc trở nên thật hỗn loạn, xơ xác kể từ khi có dấu châncủa bọn giặc tàn ác:
“Giặc kéo lên ngùn ngụt lửa hung tàn”
Càng thương quê hương đất nước, Hoàng Cầm càng căm phẫn lũ giặc tàn
ác Ông miêu tả bọn chúng bằng những dòng thơ đẩy căm hận và khinh bỉ, víchúng chẳng khác gì chó ngộ một đàn, lưỡi dài lê sắc máu; tàn phá đến kiệt cùngngõ thẳm, bờ hoang Cũng từ đây, giọng thơ bỗng trở nên đứt quãng khi chứngkiến Đất nước mỗi ngày bị lũ giặc giày xéo:
Trang 15“Ruộng ta khô Nhà ta cháy”
Giọng thơ đứt quãng, song nỗi buồn như kéo dài lê thê đến vô tận
Câu hỏi tự vấn “Bây giờ tan tác về đâu?” như một nốt trầm lặng buồn đến nao
lòng bởi tất cả những hình ảnh tươi đẹp của xóm làng từ lâu giờ đây bị tàn pháchảng còn lại gì Cùng với tâm trạng căm phẫn bọn giặc tàn ác, tiếc thươngtrước hiện thực đất nước bị dày xéo, Hoàng Cầm còn thể hiện tâm trạng buồnthương khi chứng kiến Đất nước đang phải trải qua nỗi đau bị cướp nước, hơnnữa ông còn miêu tả rất thực, rất cụ thể những tội ác của bọn giặc cướp nước:
“Chợt lũ quỷ mắt xanh trừng trợn Khua giầy đinh đạp gãy quán gầy teo
Xì xồ cướp bóc Tan phiên chợ nghèo
Lá đa lác đác trước lều Vài ba vết máu loang chiều mùa đông”
Cuộc sống trước đây vẫn cứ thể bình dị trôi qua, những mẹ già “còm cõi gánh hàng rong”, những “nàng dệt sợi đi bán lụa”, những “cô hàng xén răng đen” cười như tỏa nắng , những hội hè đình đám của nhân dân ta,…tất cả những
hình ảnh tốt đẹp ấy cứ lần lượt hiện ra trong tâm trí Hoàng Cầm Đó là hình ảnh
đất nước với một cuộc sống tốt đẹp, ấm no hạnh phúc, là ước mơ, là giấc “mộng bình yên” mà cả ngàn đời nay, nhân dân ta trải qua bao phen đắng cay trước sự
tàn phá của chiến tranh vẫn luôn ấp ủ và luôn đấu tranh để thực hiện được ước
mơ đó Cuộc sông bình yên trong mơ ấy, khi trở về hiện thực, Hoàng Cầm đãdiễn tả sâu sắc cuộc sống lầm than mà nhân dân ta đang phải chịu đựng khi bọnxâm lược tàn ác huênh hoang ở đất nước ta Trong niềm tiếc thương khôngnguôi những người, những cảnh vật của quê hương, Hoàng Cầm đã dành tìnhcảm sau nặng nhất cho người mẹ già và em nhỏ Người mẹ già nua, còm cõi vốn
đã vất vả trong thời bình lại càng khốn khổ hơn khi quân giặc tới Kinh Bắc vốn
là đất lành giờ đây bỗng hóa thành đất dữ Chẳng những con người không sốngđược yên ổn mà cả những cánh cò cũng táo tác, hốt hoảng không chốn nươngthân
“Có con cò trắng bay vùn vụt Lướt ngang dòng sông Đuống về đâu
Mẹ ta lòng đói dạ sầu
Trang 16Đường trơn mưa lạnh mái đầu bạc phơ”
Hình ảnh cánh cò lồng vào hình ảnh người mẹ, nhưng không phải là cánh
cò bay lả bay la của thời bình nữa mà là cánh cò hốt hoảng chạy trốn đạn bom,soi bóng trên lưng người mẹ run rẩy, bước thấp bước cao trên đường trơn mưalạnh
Số phận tội nghiệp của những đứa trẻ trong chiến tranh được Hoàng Cầmgợi lên trong cảnh đói khát cùng với sự đe dọa của đạn bom Cả ban ngày lẫnban đêm, cả khi thức lẫn khi ngủ, cái chết luôn rình rập, đe dọa chúng Lòng uấthận, căm thù của nhà thơ bùng lên dữ dội Câu thơ Hoàng Cầm đến đây thét lênphẫn nộ:
“Đã có đất này chép tội Chúng ta không biết ngươi hờn”
Qua những hình ảnh đau thương của cảnh vật và con người nơi đây, tathấy được sự độc ác của bọn cướp nước tàn bạo kia Bao nhiêu hình ảnh của đấtnước là bấy nhiêu đau thương đang giáng xuống những hình ảnh ấy Bọn chúngkhông chừa ai từ con người đến cảnh vật, chúng bắt bớ chém giết Quê hươnghiện lên với những đau thương không hề nhỏ Nhà thơ như thể hiện nỗi lo lắng
như “rụng rời” bàn tay của mình, đất nước đau thương được tác giả ví như
chính cơ thể của mình đang bị thương Từ đó cho thấy, tình yêu quê hương đấtnước được Hoàng cầm miêu tả như chính xương máu, ruột thịt của mình
Trong bài “Đất nước” của Nguyễn Đình Thi, hình ảnh Đất nước chịu
nhiều đau thương từ chiến trang càng làm nổi bật lên sức mạnh và những giá trịtrường tồn của Đất nước Lòng yêu nước, tinh thần quả cảm, quyết tâm đuổi vếtchân giặc ra khỏi mảnh đất chưa bao giờ thôi thổn thức trong trái tim mỗi conngười Việt Nam ta Điều đó đã được minh chứng qua hàng ngàn năm lịch sử oaihùng chống giặc ngoại xâm của nhân dân ta từ thuở mới khai thiên lập địa Thấuhiểu được điều đó, Nguyễn Đình Thi đã mang những suy nghĩ của mình để tạonên những vần thơ hay về một đất nước trong chiến tranh giải phóng, chịu đựngbiết bao đau thương, căm hờn nhưng vẫn đứng lên chiến đấu bất khuất anhhùng
Trong những vần thơ hay về đất nước, có thể nói ít có hình ảnh nào thểhiện nỗi đau thương tang tóc của dân tộc và đất nước trong cuộc kháng chiếnchống thực dân Pháp lại cô đọng, hàm súc và gây ám ảnh sâu sắc như nhữnghình ảnh trong hai câu thơ:
“Ôi những cảnh đồng quê chảy máu Dây thép gai đâm nát trời chiều.”
Trang 17Dấu ấn khốc liệt của chiến tranh bao phủ khắp nơi Đạn bom quân thù càynát mặt đất, triệt hạ sự sống Ánh hoàng hôn đỏ hắt xuống khiến những cánhđồng quê như chảy máu Hàng rào dây thép gai quanh đồn bốt giặc tua tủa chĩalên như muốn đâm nát trời chiều vốn tĩnh lặng, bình yên Cả hai chiều khônggian đều in đậm bóng dáng sự tàn phá, chết chóc của chiến tranh Từng chữ,từng câu thơ oằn nặng bởi cảm xúc đau thương, căm giận Cuộc sống êm ả xưakia giờ không còn nữa Đâu đâu cũng là cảnh tang tóc, đau thương Bao nhiêumáu xương đã đổ xuống mảnh đất này.
Ở đoạn thơ cuối, dường như tác giả dồn hết tâm huyết để tô đậm hình ảnhđất nước từ trong đau thương đã anh dũng đứng lên chiến đấu Đó là hình tượngcao đẹp về đất nước muôn đời, về sự vươn mình vĩ đại của đất nước trưởngthành từ máu lửa, bom đạn của chiến tranh:
“Từ những năm đau thương chiến đấu
Đã ngời lên nét mặt quê hương
Từ gốc lúa bờ tre hồn hậu
Đã bật lên những tiếng căm hờn Bát cơm chan đầy nước mắt Bay còn giằng khỏi miệng ta Thằng giặc Tây thằng chúa đất Đứa đè cổ đứa lột da.”
Nỗi đau xót như thấm sâu vào từng câu, từng chữ, từng hình ảnh tiêu biểu
tạo nên ấn tượng sâu đậm trong lòng người đọc Đặc biệt hình ảnh “Bát cơm chan đầy nước mắt/ Bay còn giằng khỏi miệng ta” đã nói lên tột cùng tội ác của
quân thù và tột cùng sự tủi cực của nhân dân ta trong vòng nô lệ Nhưng bạo lựccủa kẻ thù đã không thể bắt chúng ta phải khuất phục:
“Xiềng xích chúng bay không khóa được Trời đầy chim và đất đầy hoa
Súng đạn chúng bay không bắn được Lòng dân ta yêu nước, thương nhà Khói nhà máy cuộn trong sương núi Kèn gọi quân văng vẳng cánh đồng
Ôm đất nước những người ảo vải
Đã đứng lên thành những anh hùng”
Từ thực tế kháng chiến gian nan và hào hùng, Nguyễn Đình Thi đã viếtnên những câu thơ khái quát về sự mất mát, hi sinh của đất nước cùng quyết tâmgiành lại chủ quyền độc lập tự do của dân tộc ta Cả dân tộc đoàn kết thành mộtkhối thống nhất, trán đẫm mồ hôi và mắt ngời hi vọng, rắn rỏi mạnh mẽ bước tớitương lai:
Trang 18“Ngày nắng đốt theo đêm mưa giội Mỗi bước đường mỗi bước hi sinh Trán cháy rực nghĩ trời đất mới Lòng ta bát ngát ánh bình minh.”
Kết thúc bài thơ là hình ảnh đất nước từ trong đau thương, căm hận vàmáu lửa chiến tranh đã hiên ngang đứng dậy, tự khẳng định mình trước lịch sử
và nhân loại:
“Súng nổ rung trời giận dữ Người lên như nước vỡ bờ Nước Việt Nam từ máu lừa
Rũ bùn đứng dậy sáng lòa.”
Ở “Đất nước” (Nguyễn Khoa Điềm), khi thưởng thức trọn vẹn bài thơ,
có lẽ điều gây ấn tượng nhất đó chính là giọng văn hết sức tha thiết, hào hùng,nhịp điệu linh hoạt cùng với những suy tưởng về đất nước đã khiến ta có nhữngcảm nhận mới mẻ và niềm tin về tương lai tươi sáng về Đất nước Xuyên suốtbài thơ, Đất nước hiện lên với những hình ảnh thật thanh bình Và dù rằng chẳng
kể nhiều về những đau thương, mất mát mà cả dân tộc ta đã trải qua trong nhữngcuộc kháng chiến đầy đau thương, trong những cuộc chiến mà nhân dân ta phải
hy sinh xương máu để giữ lai từng mảnh đất thiêng liêng, chỉ với vài câu thơ
điểm qua,“Đất nước” của Nguyễn Khoa Điềm vẫn đủ để ta có thể hình dung về
một đất nước đã dày dặn trải qua những cuộc đấu tranh đẫm máu nhưng vẫnhiên ngang vượt qua chúng một cách đầy oai hùng
Có thể thấy, ở “Đất nước”, Nguyễn Khoa Điềm đã thật tài tình khi nhắc
lại truyền thống yêu nước của nhân dân ta từ thuở xa xưa:
“Đất nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre mà đánh giặc”
Hay:
“Gót ngựa Thánh Gióng đi qua còn trăm ao đầm để lại”
Khi đọc đến những câu thơ này, bất chợt hình ảnh Thánh Gióng năm nàodũng cảm nhổ tre làng đánh đuổi giặc Ân xâm lược bỗng ùa về, gợi nhắc về lịch
sử chống giặc ngoại xâm hào hùng của nhân dân ta và những năm tháng đấtnước ta đã oằn mình hứng chịu những cuộc chiến đẫm máu
Khác với “Bên kia sông đuống” của Hoàng Cầm và “Đất nước” của Nguyễn Đình Thi, “Đất nước” của Nguyễn Khoa Điềm cũng nhắc về những
năm tháng chiến tranh ác liệt, song ông lai kể lại với giọng điệu hết sức hàohùng Biết bao nhiêu con người đã ngã xuống vì độc lập tự do của dân tộc, biếtbao nhiêu máu xương đã đổ, biết bao nhiêu sự hy sinh thầm lặng của nhân dân tatrong những cuộc đấu tranh ác liệt ấy thật không kể xiết Và chỉ với năm câuthơ, Nguyễn Khoa Điềm đã thật sự tạc nên hình vô số những con người đã hy
Trang 19sinh vì sự tồn vong của Đất nước Câu thơ mang tính khẳng định “…họ đã làm
ra Đất nước” một lần nữa khẳng định vai trò của hàng ngàn lớp người đã dũng
cảm hy sinh vì Đất Nước, đó chính là hồn thiêng của dân tộc Đất Nước hômnay có tầm vóc để sánh vai với các cường quốc năm châu chính là nhờ sự hysinh, xương máu của cả thế hệ ông cha ta đi trước:
“Trong bốn nghìn lớp người giống ta lứa tuổi
Họ đã sống và chết Giản dị và bình tâm Không ai nhớ mặt đặt tên Nhưng họ đã làm ta Đất Nước”
3 Đất nước với con người sống trọn tình trọn nghĩa
Đất nước với một quá khứ hào hùng hiện lên rõ trong từng trang văn củamỗi bài thơ Và trong quá khứ hào hùng ấy, để Đất nước có một tương lai tươisáng như ngày hôm nay, chắc chắn không thể thiếu được hình ảnh những conngười bất khuất, anh dũng, quyết tử cho tổ quốc quyết sinh Đất nước chính làhóa thân của hàng ngàn con người đã hy sinh và cả những con người đang sống,cống hiến cho sự tồn tại của dân tộc Đất nước tồn tại được chính là nhờ nhữngcon người sống trọn tình trọng nghĩa với quê hương, đất nước Điều này được
thể hiện rất rõ qua bài “Đất nước” của Nguyễn Khoa Điềm.
Dân tộc ta có lịch sử bốn nghìn năm dựng nước và giữ nước Đó là mộtquá khứ bi thương nhưng rất hào hùng của dân tộc Chính cái quá khứ ấy đã hunđúc làm nên bề dày truyền thống của dân tộc, làm cho dân tộc vẫn tồn tại đếnngày hôm nay qua bao cuộc chiến tranh xâm lược của kẻ thù mạnh hơn ta gấpbội về nhiều mặt như quân số, kinh tế, vũ khí chúng ta thắng kẻ thù bằng sức
mạnh của lòng yêu nước Chính vì vậy mà trong đoạn trích “Đất nước”, nhà thơ
Nguyễn Khoa Điềm đã nhắc nhở, khuyên nhủ thế hệ hôm nay hãy nhìn rất xavào quá khứ của dân tộc:
“Em ơi em Hãy nhìn rất xa Vào bốn nghìn năm đất nước”
Sỡ dĩ, tác giả muốn nhắc nhở trách nhiệm của mỗi người đối với đất nướcbởi lẽ, ông hiểu rất rõ, để đất nước tồn tại và phát triển đến hôm nay chính lànhờ cả ngàn người đã ngã xuống, đổ máu vì độc lập, tự do của dân tộc Nhà thơmong muốn thế hệ hôm nay đừng bao giờ quên đi nguồn cội của mình, đừngđánh mất quá khứ, bởi quá khứ đã làm nên hiện tại, không có quá khứ thì làmsao có hiện tại Nhìn về quá khứ rất xa để thấy được năm tháng nào cũng ngườingười lớp lớp bất phân già trẻ, gái trai cũng luôn vừa cần cù làm lụng để kiếm
Trang 20miếng ăn vừa đánh giặc cứu nước, bất chấp hy sinh, gian khổ, bất chấp trướcbạo lực của kẻ thù:
“Năm tháng nào cũng người người lớp lớp Con gái, con trai bằng tuổi chúng ta
Cần cù làm lụng Khi có giặc người con trai ra trận Người con gái trở về nuôi cái cùng con”
Ông cha ta ngày trước đã luôn đặt quyền lợi của Tổ quốc lên trên hết, họsẵn sàng hy sinh những tình cảm riêng tư của mình như tình yêu, tình chồng vợ
để đi đánh giặc cứu nước với một thái độ dứt khoát mà không hề so đo, tínhtoán, phân bì, hơn thiệt Hơn nữa, chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa anh hùng củadân tộc ta là một chủ nghĩa yêu nước, anh hùng tập thể,bất phân già trẻ, đàn ônghay đàn bà:
“Ngày giặc đến nhà thì đàn bà cũng đánh Nhiều người đã trở thành anh hùng
Nhiều anh hùng cả anh và em đều nhớ”
Đúng là nhiều người đàn bà anh hùng cả anh và em đều nhớ Chúng talàm sao quên được những người đàn bà đã đi vào lịch sử của dân tộc trong quákhứ như bà Trưng, bà Triệu
Và trong cái chiều dài của lịch sử dân tộc ấy, có biết bao lớp người congái, con trai giống như lớp tuổi chúng ta bây giờ, họ đã sống và chết một cáchgiản dị và bình tâm không ai nhớ mặt đặt tên, nhưng mà nhà thơ đã khẳng địnhvai trò của họ đối với đất nước thật vô cùng to lớn Họ chính là những con ngườibình thường, giản dị, nhưng có một tình cảm sâu đậm đối với đất nước Khi đấtnước lâm nguy, bị kẻ thù xâm chiếm, họ tạm gác lại những tình cảm riêng tư,lên đường đi chiến đấu, đem máu xương của mình hiến dâng cho Tổ quốc
Chính họ là những con người “làm ra Đất Nước”:
“Nhưng em biết không
Có biết bao người con gái, con trai Trong bốn nghìn lớp người giống ta lứa tuổi
Họ đã sống và chết Giản dị và bình tâm Không ai nhớ mặt, đặt tên Nhưng họ đã làm ra Đất Nước”
Điều này còn được nhà thơ khẳng định rõ trong hai câu thơ cũng ở trongtrích đoạn này:
“Để Đất Nước này là Đất Nước nhân dân Đất Nước của nhân dân, Đất Nước của ca dao, thần thoại.”
Trang 21Trong “Đất nước” của Nguyễn Đình Thi, ta càng thấy rõ tình nghĩa của
những con người sống trọn với Đất nước Trên cái nền là đất nước đau thương,nhà thơ khắc họa nổi bật hình ảnh và tâm trạng người chiến sĩ:
“Những đêm dài hành quân nung nấu Bỗng bồn chồn nhớ mắt người yêu.”
Nhà thơ cảm nhận sâu sắc những rung động tinh tế trong tâm hồn mỗingười lính ra trận Đó là tâm trạng cháy bỏng yêu thương nhân dân và nung nấuhờn căm quân cướp nước Mối căm thù sôi sục trong tim, thôi thúc những đêmdài hành quân không nghỉ Mối căm thù dồn lên mũi lê, đầu súng nhằm thẳngquân thù Nhưng chính lúc ấy cũng thấp thoáng hiện lên trong nỗi nhớ đôi mắtcủa người yêu chờ đợi khiến tâm hồn chiến sĩ ta bồn chồn, xao xuyến Dù tuổiđời con rất trẻ, vẫn còn đó những mối tình chớm nở, những nhớ nhung gửi đếnngười thương, song vì việc nước, những chàng trai trẻ chẳng ngần ngại xếp bút
để lên đường hành quân ra trận Họ chẳng màng tuổi trẻ, họ gấp lại những yêuthương đang ấp ủ, khi Đất nước cần, họ sẵn sàng ra trận, chiến đấu, hy sinh đểbảo vệ Tổ quốc Điều này đã được Quang Dũng thấu hiểu trong những vần thơtrong “Tây tiến:
“Mắt từng gửi mộng qua biên giới Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm”
Ở “Bên kia sông Đuống” vẽ lên một Đất nước với những con người
mang linh hồn của cả dân tộc Vùng quê Kinh Bắc còn được gợi lên bằng cảnhlao động nhộn nhịp, buôn bán đông vui, sầm uất Trong tâm trí nhà thơ, hìnhảnh những cô gái Kinh Bắc dăng tơ dệt lụa, buôn bán tảo tần hiện lên với nhữngnét xinh tươi, dịu dàng, duyên dáng và biết bao tình tứ:
“Ai về bên kia sông Đuống
Có nhớ từng khuôn mặt búp sen Những cô hàng xén răng đen Cười như mùa thu tỏa nắng”
Hay những con người, đủ mọi lứa tuổi, đều đã sống rất bình dị, nhưng họ
là cả một phần đát nước:
“Những nàng môi cắn chỉ quết trầuNhững cụ già phơ phơ tóc trắngNhững em sột soạt quần nâu”
“Bên kia sông Đuống” dù không nhắc nhiều đến những sự hy sinh thầm
lặng, song qua một số vần thơ, ta vẫn thấy được hình ảnh một Đất nước vớinhững con người quyết chiến, quyết tử vì Đất nước Họ sống bình dị, nhưng khi
Trang 22Đất nước bị xâm lăng, họ sẵn sàng đứng lên chiến đấu, bằng những “lưỡi cuốc”, “lưỡi liềm”, “gậy nhọn” – những vật dụng đã gắn bó với cuộc sống làm
nông bao đời nay Và hơn nữa, họ đứng lên chiến đấu lại tất cả bằng lòng dũngcảm, bằng tình yêu quê hương Đất nước luôn nung nấu trong con người họ chưabao giờ vụt tắt:
“Ta mài lưỡi cuốc
Ta uốn lưỡi liềm
Ta vót gậy nhọn
Ta rũa mác dài
Ta xây thành kháng chiến ngày mai”
4 Đất nước với những giá trị lịch sử, văn hóa truyền thống lâu đời
Đối với dân tộc Việt Nam, lòng yêu nước không chỉ là lòng yêu thiênnhiên, mà nó còn là lòng tự hào về những giá trí văn hóa, truyền thống lâu đờicủa dân tộc
Với “Bên kia sông Đuống” của Hoàng Cầm như một trang sử ghi lại
truyền thống của dân tộc ta Hoàng Cầm đã đưa chúng ta đến với miền đất KinhBắc là nơi có bề dày lịch sử: có mộ Kinh Dương Vương, là nơi Hai Bà Trưngdấy binh khởi nghĩa, Lý Thường Kiệt đuổi quân Tống trên sông Cầu Còn làmiền đất cổ kính có bề dày văn hóa qua các triều đại Lý, Trần, Lê Chúng ta cònthấy được hình ảnh sống Đuống gắn liền với những hội hè đình đám vào mùaxuân., một không khí náo nức tươi vui với những chàng trai cô gái được gặp gỡ,giao duyên, hẹn hò với nhau
Nhà thơ ngược về quá khử để sống lại cùng sống Đuống một thủa yênbình Một thế giới Kinh Bắc có truyền thống văn hóa lâu đời mang vẻ đẹp cổkính được thể hiện đậm nét trước hết ở nền nghệ thuật dân gian với tranh làng
Hồ đậm sắc màu dân tộc Tranh Đông Hồ là biểu tượng cho đời sống tinh thầnlành mạnh, là quốc họa của dân tộc, là ước mơ về cuộc sống thanh bình củangười dân Kinh Bắc
“Bên kia sông Đuống Quê hương ta lúa nếp thơm nồng Tranh Đông Hồ gà lợn nét sáng trong Màu dân tộc bừng sáng trên giấy điệp”
Những bức tranh dân gian với đề tài bình dị, thân thuộc không thể thiếuđược vào ngày tết đến xuân về Tranh lợn gà, tranh đánh đu, hứng dừa, đám
Trang 23cưới chuột,… Những bức tranh ấy sáng bừng lên trên giấy điệp Tất cả làm sángbừng lên một hồn quê, tình quê Chỉ với bốn câu thơ đơn giản, Hoàng Cầm như
vẽ ra trước mắt người đọc hình ảnh đầy màu sắc, tươi vui của vùng Kinh Bắcvới những bức tranh Đông Hồ độc đáo Phải yêu quê hương, tự hào lắm vềtruyền thống đó mới giúp ông có những câu thơ đặc sắc như vậy
Nguyễn Đình Thi không chỉ yêu thiên nhiên, yêu mùa thu Hà Nội mà còn
vô cùng tự hào về truyền thống của dân tộc Sắc đỏ của phù sa gợi liên tưởngđến những người chiến sĩ đã hi sinh trong chiến đấu bảo vệ non sông Chữ nặngkhông chỉ diễn tả lượng phù sa trong nước của dòng sông mà nó còn đặc tả bềdày của dòng chảy bốn nghìn năm lịch sử Nước không chỉ đỏ nặng phù sa màu
mỡ mà còn cuồn cuộn dòng máu quật cường Ý thơ từ những hình ảnh cụ thể,hữu hình, đến sự cảm nhận cái vô hình là truyền thống thiêng liêng của đấtnước Nhà thơ suy ngẫm về chiều sâu, bề dày của lịch sử để từ đó đúc kết thànhchân lí :
“Nước chúng ta Nước những người chưa bao giờ khuất Đêm đêm rì rầm trong tiếng đất
Những buổi ngày xưa vọng nói về”
Nước chúng ta - ba chữ giản đơn mà chất chứa tình cảm thiêng liêng pha lẫn với tự hào Câu thơ “Nước những người chưa bao giờ khuất” là lời khẳng
định như chân lí Suốt chiều dài lịch sử bốn ngàn năm, trải qua bao phen chốngngoại xâm, có thắng có bại nhưng đất nước ta, dân tộc ta chưa bao giờ khuấtphục trước bạo lực của quân thù Những câu thơ trở nên trang trọng, trầm lắngkhi nói đến tiếng vọng thiêng liêng của ngàn xưa rì rầm trong đất Mồ hôi xươngmáu của tổ tiên, ông cha ta thấm vào đất từ bao đời, thành tiếng đất và qua đónhắc nhở con cháu hãy giữ lấy giang sơn gấm vóc của tổ tiên Câu thơ cho tathấy yêu quý hơn, trân trọng hơn những lớp người, những thế hệ đàn anh đã hysinh cả thanh xuân, tuổi trẻ của mình để hiến dâng cho đất nước
Từ thực tế kháng chiến gian nan và hào hùng, kết thúc bài thơ là hình ảnhđât nước từ đau thương, căm hận và máu lửa chiến tranh đã hiên ngang đứngdậy, tự khẳng định mình trước lịch sử đầy tự hào :
“Súng nổ rung trời giận dữ Người lên như nước vỡ bờ Nước Việt Nam từ máu lửa
Trang 24Giọng thơ đẫm cảm xúc bi tráng, ta thấy được lòng tự hào về một dân tộcluôn kiên cường bất khuất mà tác giả dành cho đất nước ta Yêu nước và tự hàodân tộc, sẵn sàng vì dân tộc mà hy sinh chính là truyền thống quý báu nhất củadân tộc Việt Nam ta mà không riêng gì tác giả, tất cả mọi người con của nướcViệt luôn tự hào.
Dường như lòng tự hào về truyền thống dân tộc là một trong những biểuhiện yêu nước của lòng yêu nước Cũng như Hoàng cầm hay Nguyễn Đình Thi,
Nguyễn Khoa Điềm cũng có niềm tự hào riêng về truyền thống của đất nước :
“Khi ta lớn lên đất nước đã có rồi
Đất nước có trong những cái ngày xửa ngày xưa mẹ thường hay kể Đất nước bắt đầu với miếng trầu bây giờ bà ăn
Đất nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre đánh giặc
Tóc mẹ bới sau đầu
Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn
Cái kèo, cái cột thành tên
Hạt gạo phải một nắng, hai sương xay, giã, giần, sàng”
“Ngày xửa ngày xưa” là ngày nào không ai trả lời được, điều đó cho thấy
tác giả tự hào về chiều dài lịch sử của nhân dân ta Nhân dân ta từ ngày xưa đã
có tục “ăn trầu, nhuộm răng”,miếng trầu là hình ảnh đơn sơ, giản dị, miếng trầu mở ra một đời sống tinh thần của người dân “miếng trầu là đầu câu truyện”,
là hình ảnh gắn bó với truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta Tác giả cũng đề câp
đến tập quán “bới tóc sau đầu” từ xưa của cha ông ta và tự hào về đạo lí tốt đẹp lâu đời của dân tộc – tình nghĩa thủy chung vợ chồng (gừng cay muối mặn) Tự
hào về truyền thống kiên cường đấu tranh chống lại kẻ thù của cha ông ta qua
hình ảnh “trồng tre đánh giặc” Cũng giống 2 nhà thơ trên, Nguyễn Khoa Điềm
cũng rất tự hào về bề dày lịch sử bốn ngàn năm văn hiến của đất nước ta
“Em ơi em Hãy nhìn rất xa Vào bốn nghìn năm Đất nước”
Tác giả có một nét độc đáo là cắt nghĩa về đất nước Đất nước là sự kếttinh hóa thân trong cuộc sống của chúng ta Tự hào về truyền thống uống nướcnhớ nguồn (nhớ ngày giỗ tổ), truyền thống đánh giặc giữ nước, lao động xây
dựng đất nước và đặc biệt trong “miếng trầu bà ăn” và “tóc bới sau đầu” cũng
chứa đựng tinh hoa văn hóa dân tộc
Yêu nước, tự hào về những giá trị của đất nước là một điều có thể là mơ
hồ, khó định nghĩa.Nhưng với Đất nước của Nguyễn Khoa Điềm đã hình tượnghóa, đó là không gian, là cuộc sống của con người Đan xen với khoảnh khắc
Trang 25thời gian không gian hiện tại là sự biết ơn sâu sắc với tổ tiên, đây cũng là mộtnét đẹp văn hóa của người Việt
“Lạc Long Quân và Âu Cơ
5 Đất nước với những hình ảnh tươi đẹp
Đất nước là nguồn cảm hứng chủ đạo trong mạch văn học của dân tộc, lànơi ta cất tiếng khóc chào đời, nơi gắn liền với những kỉ niệm và trong tâ, hồnmỗi người, Đất nước chính là nơi gắn liền với những hình ảnh tươi đẹp nhất
“Nghệ sĩ thật sự vĩ đại trước hết phải là nghệ sĩ của một dân tộc, một quê hương
cụ thể (M.Gorki) vì chỉ khi được sống, được gắn bó vơi nơi đó thì người ta mới
khám phá hết những vẻ đẹp tiềm ẩn của nó Với Hoàng Cầm, Nguyễn Đình Thi
và Nguyễn Khoa Điềm cũng thế, nơi mà họ đánh đổi bằng cả cuộc đời với biếtbao thăng trầm, bao kỷ niệm thì những điều tưởng chừng nhỏ bé đơn sơ trongcuộc sống thường ngày đã khắc sâu vào tâm trí họ Để rồi khi cảm xúc dâng đầythì những hình ảnh ấy hiện hữu trong thơ hết sức sống động, chân thực, đất nướchiện lên với những hình ảnh bình dị nhất, thân thương nhất
Nhà thơ Hoàng Cầm đã mang đến cho ta một bức tranh thiên nhiên trên
sông Đuống vô cùng tươi đẹp và giản dị, đầy thi vị trong “Bên kia sông Đuống” Hình ảnh con sông quê hương với đôi bờ cát trắng ngày xưa chảy về
thời hiện tại, hiện hình trong tâm trí nhà thơ như một dòng lấp lánh :
“Sông Đuống trôi đi Một dòng lấp lánh Nằm nghiêng nghiêng trong kháng chiến trường kỳ”
Con sông nghiêng nghiêng chảy giữa hai bờ thực ảo Xúc cảm mãnh liệtcùng với trí tưởng tượng phong phú đã giúp nhà thơ tạo nên hình ảnh dòng sôngđầy ấn tượng Dáng nằm nghiêng của sông Đuống trở thành một phát hiện sángtạo của Hoàng Cầm, con sông không bất động mà bỗng trở nên uyển chuyển, cóhồn
Trang 26Vùng quê Kinh Bắc trong hoài niệm của nhà thơ được gợi lên bởi hương
lúa nếp thơm nồng “Quê hương ta lúa nếp thơm nồng” và hình ảnh những bãi
dâu xanh biếc :
“Xanh xanh bãi mía bờ dâu Ngô khoai biêng biếc
Đứng bên này sông sao nhớ tiếc Sao xót xa như rụng bàn tay”
Vẻ đẹp của thiên nhiên hiện lên là vẻ đẹp của một khung cảnh hài hòa: cáttrắng phẳng lì, một dòng sông lấp lánh, xanh xanh màu của bãi mía bờ dâu, ngôkhoai thì xanh biếc, Đây là biểu tượng cho sự đầm ấm trù phú, thanh bình củaquê hương Trong kí ức của nhà thơ Hoàng Cầm, khi nhắc đến quê hương, nhắcđến nơi gắn bó với tuổi thơ ông thì trong ông không bao giờ quên được hươnglúa nếp thơm nồng, khung cảnh thiên nhiên căng tràn sức sống và đem lại mộtcảm giác bình yên nhưng ấn tượng mạnh với tác giả
Không chỉ dừng lại ở việc miêu tả thiên nhiên vùng Kinh Bắc, HoàngCầm còn nhắc đến những ngày tháng tươi vui của nơi đây qua hình ảnh lễ hộivui nhộn, hòa mình cùng tiếng chuông chùa vang vẳng xa xa, nó là biểu hiện củakhát vọng một cuộc sống hạnh phúc, bình yên của nhân dân
“Những hội hè đình đám Trên núi Thiên Thai Trong chùa Bút Tháp Giữa huyện Lang Tài”
Tác giả hồi tưởng về quá khứ để miêu tả lại vùng Kinh Bắc trước khi bịgiặc tàn phá, một vùng Kinh Bắc tươi đẹp, đầy màu sắc Với những người khác,quá khứ là những kỉ niệm đôi khi bản thân chỉ nhớ thoáng qua, có đôi khi lãngquên luôn vì bộn bề cuộc sống Nhưng với Hoàng Cầm, hình ảnh vùng Kinh Bắctươi đẹp trong quá khứ như in đậm trong hồi ức của ông Kinh Bắc hiện lên vớibiết bao nhiêu là hình ảnh thiên nhiên, khung cảnh bình dị Phảng phất mùihương lúa nếp thơm nồng, mấy ai có thể cảm nhận được cái mùi “thơm nồng”
ấy, phải là một người con của quê hương, một con người yêu quê hương thathiết mới có thể cảm nhận và khắc ghi trong mình mùi thơm bình dị đó
Đậm nét trong nỗi nhớ của tác giả còn là hình ảnh những con người củavùng quê Những môi cắn chỉ làm nên cái duyên mặn mà, nồng nàn, gợi cảmtrên đôi môi của thiếu nữ đang độ xuân thì Hình ảnh cụ già phơ phơ tóc trắngmang một vẻ đẹp như ông tiên, bà bụt đi ra từ những câu chuyện cổ tích Những
em bé sột soạt quần nâu gợi tả niềm vui, niềm háo hức của trẻ thơ được mặcnhững bộ áo quần mới còn nguyên cái màu hồ của người thợ nhuộm để đến vớihội hè đình đám
Trang 27“Những nàng môi cắn chỉ quết trầu Những cụ già phơ phơ tóc trắng Những em sột soạt quần nâu Bây giờ đi đâu về đâu”
Vùng quê Kinh Bắc qua ngòi bút của tác giả còn hiện lên bằng cảnh laođộng nhộn nhịp, buôn bán đông vui, sầm uất Trong tâm trí nhà thơ, hình ảnhnhững cô gái Kinh Bắc dăng tơ dệt lụa, buôn bán tảo tần hiện lên với những nétxinh tươi, dịu dàng, duyên dáng và biết bao tình tứ:
“Ai về bên kia sông Đuống
Có nhớ từng khuôn mặt búp sen Những cô hàng xén răng đen Cười như mùa thu tỏa nắng”
Khuôn mặt của cô “hàng xén răng đen” gợi vẻ tươi hồng, thơm mát như
búp sen mới nở ban mai còn đọng sương tinh khiết Ẩn hiện trong khuông mặt
kín đáo, duyên dáng ấy là hàm “răng đen nhưng khi cười thì ngỡ như mùa thu tỏa nắng” Bằng tấm lòng yêu thương những con người bình dị, chân chất và vô
cùng tự nhiên, tác giả mới có thể khắc họa chân dung họ một cách vừa thực vừa
hư như vậy
Đất nước tươi đẹp trong kí ức của Hoàng Cầm là hình ảnh sông Đuống,những bãi dâu, bãi ngô và hình ảnh những con người bình dị Tất cả đã làm nên
một bức tranh đẹp giữa cảnh và người Còn với Nguyễn Đình Thi, “Đất nước”
của ông cũng được dệt lên từ những hình ảnh thân thương, quen thuộc và đậmchất Hà Nội Khởi đầu bài thơ là những cảm xúc trực tiếp trong một sáng mùathu, gợi nỗi nhớ về Hà Nội :
“Sáng mát trong như sáng năm xưa Gió thổi mùa thu hương cốm mới”
Một Hà Nội có không khí mát trong, gió nhẹ thổi và phảng phất mùihương cốm mới Hương cốm chính là nét đặc sắc của mùa thu Hà Nội, dườngnhư đó là kết tinh của tất cả hương vị đất trời, cỏ cây mùa thu Hà Nội Hoàng
cầm có “hương lúa nếp thơm nồng” gắn liền với miền làng quê thì Nguyễn Thi
có “mùi cốm mới” là đặc trưng nhất của mùa thu hà Nội Điều này cũng chứng
tỏ rằng nhà thơ cũng phải là người gắn bó sâu nặng, thiết tha với Hà Nội mới cóthể khắc sâu trong mình cái dấu hiệu của mùa thu hà Nội
Bốn câu tiếp theo tác giả miêu tả tiếp về mùa thu hà Nội :
“Sáng chớm lạnh trong lòng Hà Nội Những phố dài xao xác hơi may Người ra đi đầu không ngoảnh lại Sau lưng thềm nắng lá rơi đầy”
Trang 28Mùa thu Hà Nội hiện lên trong hoài niệm của nhà thơ thật đẹp và thơmộng, về thời tiết, thiên nhiên, không gian (chớm lạnh, xao xác hơi may, phốdài) Ta cảm nhận được mùa thu Hà Nội bỗng nhiên được miêu tả bằng nhiềumàu sắc, khiến cho lòng người thêm xao động Một Hà Nội xưa như một bứctranh thiên nhiên bình dị, hiện lên với đầy đủ hương vị và hình ảnh Từ hoàiniệm về mùa thu Hà Nội xưa, tác giả đã dẫn dắt về mùa thu đất nước, mùa thuvới những thay đổi mới về cả cảnh sắc và con người ở nơi chiến khu Việt Bắc
“Mùa thu nay khác rồi Tôi đứng vui nghe giữa núi đồi Gió thổi rừng tre phất phới Trời thu thay áo mới
Trong biếc nói cười thiết tha”
Cảnh sắc thiên nhiên đã có sự thay đổi Mùa thu mới của Việt Bắc kháchẳn một mùa thu xưa ở Hà Nội Bằng sự tinh tế trong cảm nhận, nhà thơ đãđược khắc họa lại một cách đầy sức sống, mùa thu với ngọn gió phóng khoánggió ào áo làm cả rừng tre phấp phới như bay trên cái nền trong biếc của trời thuthay áo mới, trong biếc ở con mắt nhìn cảnh vật, giữa tiếng nói cười thiết tha rộnràng của con người Bằng việc miêu tả thiên nhiên, để rồi với những câu văn
tiếp theo, Nguyễn Đình Thi dõng dạc khẳng định “Trời xanh đây là của chúng ta” như là lời tuyên bố, tự hào về chủ quyền của dân tộc
Yêu thiên nhiên, yêu một Hà Nội và tự hào về quyền làm chủ của dân tộcchính là tính thần yêu nước của Nguyễn Đình Thi được lồng ghép qua việc miêu
tả thiên nhiên, miêu tả cảnh sắc của trời thu Hà Nội và trời thu nơi núi rừng ViệtBắc Chỉ với một vài câu thơ, chúng ta đã cảm nhận được một mùa thu Hà Nộixưa và mùa thu Việt Bắc đẹp, yên bình Phải là một người con của Hà Nội, phảigắn bó máu thịt với quê hương mới có thể viết lên những vần thơ bình dị màđầy sức tượng hình như vậy Một bức tranh thiên nhiên đẹp là bức tranh có cảnh
và người Hoàng Cầm đề cập đến những cô gái, chàng trai, ông lão hay những
em bé thì Nguyễn Đình Thi lại không như vậy, người ở những câu đầu xuất hiện
là chính tác giả, nhân vật “tôi” Phải chăng tác giả là đại diện cho những người
con của đất nước, những người con luôn yêu thương và luôn nhớ về quê hương
dù có đi xa đến đâu
Với Nguyễn Khoa Điềm, vẻ đẹp của “Đất nước” là những danh lam
thắng cảnh tươi đẹp kỳ thú như “núi Bút non nghiêng”, hòn trống Mái, núi VọngPhu, vịnh hạ long, sông Cửu Long, Ông Đốc, Ông Trang, Bà Đen, Bà Điểm,…Các danh lam thắng cảnh trong đất nước được tác giả liệt kê một cách khéo léo,
có dụng ý, vượt lên trên lối liệt kê bình thường Mượn thiên nhiên để nói vềphẩm chất tốt đẹp của người Việt Nam, chính là tình nghĩa thủy chung của