Việc dạy văn bằng cách xây dựng hệ thống câu hỏi có tác dụng tạo được mối quan hệ sư phạm trong giao tiếp giữa thầy và trũ và khơi dậy trong học sinh sự khám phá nội dung, dụng ý nghệ th
Trang 1Sáng kiến kinh nghiệm Xây dựng hệ thống câu hỏi cho bài soạn Ngữ văn 12
A ĐẶT VẤN ĐỀ
I.Lý do viết sáng kiến kinh nghiệm:
Đọc văn để hiểu người Giảng văn để dạy làm người…Làm thế nào để chúng ta – vừa là người đọc, vừa là người giảng văn để tạo ra và truyền
được cái cảm hứng “ Uống xong lại khát” ấy.
Võng! Chúng ta đã biết, trung tâm của môn văn là “cái đẹp”, vỡ vậy
nếu dạy văn mà chưa tạo ra được những rung động thẩm mĩ sâu sắc khiến người đọc say mê thỡ xem như chưa hoàn thành sứ mạng của môn học Thực tế phương pháp dạy học văn cổ truyền chính là “Giảng văn”, với phân môn này thỡ gần như đây là hỡnh thức duy nhất để tiếp cận văn bản Chúng ta cũng không phủ nhận những thành công mà phương pháp đem lại, tuy nhiên với phương pháp này việc phát huy tính chủ động sáng tạo của học sinh là chưa có Chính điều đó đũi hỏi phải cú những phương pháp cải tiến hơn trong việc dạy – học văn trongnhà trường phổ thông, đây là nhu cầu cần thiết đối với các nhà giáo dục đặc biệt là những giáo viên dạy văn Một trong những yếu tố,
phương pháp để tiến hành có hiệu quả một tiết dạy văn chính là xây dựng hệ thống câu hỏi phù hợp với đối tượng học sinh qua đó giúp họcsinh khám phá, cảm thụ tác phẩm văn học Việc dạy văn bằng cách xây dựng hệ thống câu hỏi có tác dụng tạo được mối quan hệ sư phạm trong giao tiếp giữa thầy và trũ và khơi dậy trong học sinh sự khám phá nội dung, dụng ý nghệ thuật của tỏc – những mă khoá giúp người dạy, người học đi từ sự im lặng của các từ ngữ để trở về với tiếng ḷng ḿnh đến với những trạng thái tâm hồn cảm xúc
Thực tế giảng dạy đã chỉ ra rằng : Gieo một câu hỏi vào tâm hồn con người là gieo một chất kích thích, là đẩy con người đó vào một tình
huống, có điều tình huống ấy “ căng thẳng” ,hay “ nhạt nhẽo”, có
hợp cảnh hay không? Bởi vậy, cần xác định rõ yêu cầu đối với việc đặt
Trang 2câu hỏi trong giờ dạy văn
Xuất phát từ thực trạng ấy, chúng tôi đề xuất việc xây dựng một hệ thống cõu hỏi Ngữ văn giỳp HS chuẩn bị và củng cố bài ở nhà Hệ thống câu hỏi này được thiết kế trên cơ sở năng lực của học sinh đang được giáo viên trực tiếp giảng dạy tại trường THPT Lam Kinh
Đó cũng là những lí do khiến tôi chọn đề tài Xây dựng hệ thống câu hỏi cho bài soạn Ngữ văn 12 để nghiên cứu, áp dụng vào thực tế
giảng dạy chương tŕnh Ngữ Văn 12, ở trường THPT Lam Kinh năm học
2009 – 2010, 2010 – 2011; 2011 – 2012
II Mục đích, nhiệm vụ của đề tài:
Từ thực trạng trên, bản thân tôi đă mạnh dạn nghiên cứu hệ thống cõuhỏi trong bài soạn Ngữ văn ( Đặc biệt là hệ thống cõu hỏi trong bài soạn Ngữ văn 12)
1 Mục đích của đề tài:
Nhằm phát huy tính chủ động sáng tạo của học sinh đũi hỏi phải cú những phương pháp để tiến hành có hiệu quả một tiết dạy văn chính làxây dựng hệ thống câu hỏi phù hợp với đối tượng học sinh qua đó giúphọc sinh khám phá, cảm thụ tác phẩm văn học Việc dạy văn bằng cách xây dựng hệ thống câu hỏi có tác dụng tạo được mối quan hệ sư phạm trong giao tiếp giữa thầy và trũ và khơi dậy trong học sinh sự khám phá nội dung, dụng ý nghệ thuật của tỏc giả
b Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài:
– Đi sâu vào xõy dựng hệ thống cõu hỏi, đối với giáo viên Ngữ văn, chúng tôi thiết nghĩ, không có một mục đớch nào khỏc là mong muốn cho học sinh tiếp nhận tỏc phẩm một cỏch trọn vẹn
– Trên cơ sở sự chuẩn bị của học sinh trờn hệ thống cõu hỏi, giáo viên thuận lợi trong việc hệ thống hoỏ kiến thức nhằm giỳp học sinh khắc sâu hơn kiến thức thông qua việc điều chỉnh những cách tiếp cận chưa hợp lí của học sinh đối với văn bản
Trang 3– Tăng cường được khả năng thực hành cho học sinh thụng qua hệ thống câu hỏi được chuẩn bị ở nhà.
III Phương pháp nghiên cứu:
1 Về lí thuyết:
– T́m hiểu các tài liệu về hệ thống câu hỏi môn Văn
– Các bài nghiên cứu, lí luận phê b́nh về cách sử dụng hệ thống câu hỏi
-Sách giáo khoa, sách giáo viên Ngữ văn 12, 11, 10
2 Về thực tiễn:
– Dự giờ dạy và chú ý kĩ hệ thống câu hỏi của đồng nghiệp
– Thực nghiệm triển khai đề tài trong giờ dạy Văn ở trường THPT Lam
Kinh.
– Chọn hai lớp cơ bản có tŕnh độ ngang nhau: một lớp sử dụng hệ thống câu hỏido giáo viên hướng dẫn trong hai giờ học; c̣n một lớp không sử dụng hệ thống câu hỏi do giáo viên hướng dẫn
IV Những luận điểm cần bảo vệ:
V Những đóng góp về lư luận và thực tiễn của đề tài
Tác dụng của hệ thống câu hỏi trong bài soạn Ngữ văn 12
Trang 41. Đối với giáo viên:
– Tiết giảm được nhiều thời gian trên lớp, kể cả với những câu hỏi yêu cầu HS thảo luận nhóm Vỡ những kiến thức ấy đó cú cõu hỏi trước, HS
có thể tự thảo luận trước ở nhà cùng các thành viên trong nhóm
– Trên cơ sở sự chuẩn bị của HS trên hệ thống câu hỏi, GV thuận lợi trong việc hệ thống hoá kiến thức nhằm giúp HS khắc sâu hơn kiến thức thông qua việc điều chỉnh những cách tiếp cận chưa hợp lí của HS đối với văn bản
– Tăng cường được khả năng thực hành cho HS thông qua hệ thống bài tập được chuẩn bị trước (đối với phân môn tiếng Việt và Làm văn)
1 Đối với học sinh:
– Có thể chuẩn bị tốt bài học trước khi lên lớp trên cơ sở hệ thống câu hỏi chi tiết, cụ thể
– Có điều kiện thực hành, rèn luyện trên những ngữ liệu mới ngoài SGK.– Hỡnh thành dần khả năng tự học- một kĩ năng hết sức quan trọng trong việc thâm nhập cuộc sống trong tương lai của mỗi HS
nguyên nhân xuất phát từ chính hệ thống câu hỏi hướng dẫn học bài
Trang 5trong sách giáo khoa.
Một thực tế có thể dễ dàng nhận thấy trong chương trỡnh Ngữ văn 12
có nhiều văn bản có dung lượng lớn nhưng thời lượng cho tiết dạy lại ớtnờn khỏ nhiều giáo viên lúng túng, thường phải chạy theo bài dạy nếu
không muốn “chỏy giỏo ỏn“ Thế nên nhiều tiết dạy đó khụng đạt được
yêu cầu như mong muốn
Những trăn trở trên thật đáng trân trọng bởi đối với giáo viên Ngữ văn, chúng tôi thiết nghĩ, không có một mục đớch nào khỏc là mong muốn cho học sinh tiếp nhận tỏc phẩm một cỏch trọn vẹn Và cũng chớnh bởi
sự tõm huyết ấy mà nhiều GV đó cố gắng cung cấp cho học sinh thật nhiều thông tin về tác giả, tác phẩm và lẽ dĩ nhiên như thế thỡ đó trễ lại càng trễ
Trong khụng khớ của cụng cuộc đổi mới trong công tác giảng dạy hiện nay, một trong những điều mà mọi người đang quan tâm đó là làm thế nào để khơi dậy tiềm lực nội tại trong mỗi học sinh trong quỏ trỡnh học tập Tạo điều kiện để học sinh có thể tự học, tự tiếp cận tri thức Đây là xu hướng giáo dục tích cực đang được đặc biệt chú trọng Vậy nên, trong quá trỡnh giảng dạy, yờu cầu chuẩn bị bài một cỏch nghiờmtúc đó trở thành một cụng việc thật sự hữu ớch cho quỏ trỡnh học tập của mỗi học sinh Với môn Ngữ văn, yêu cầu này càng trở nên cấp thiết hơn bởi lẽ để tiếp cận một tác phẩm văn học cần phải hội tụ nhiều
kĩ năng, phải có sự tiếp cận bề mặt văn bản trên cơ sở đó cảm nhận những giá trị thẫm mĩ ẩn chứa sau từng con chữ Việc học sinh chuẩn
bị tốt bài ở nhà là đó làm tốt cụng việc tiếp cận bề mặt văn bản Đây
có thể nói là yếu tố “nền” để khi lên lớp kết hợp với những tri thức của
giáo viên cung cấp, học sinh sẽ cú một cỏi nhỡn tương đối trọn vẹn về tác phẩm văn học được học (ở mức độ phổ thông)
Nhưng thực tế cho thấy, hệ thống câu hỏi gợi ý ở một số bài trong sáchgiáo khoa cũn quỏ chung, thậm chớ ở một số văn bản hệ thống câu hỏi
đó khụng đi theo sự lôgic của văn bản vỡ vậy học sinh gặp nhiều khó khăn trong việc soạn bài tại nhà
Trang 6Ví dụ 1: Hệ thống câu hỏi hướng dẫn học bài cho bài thơ “Việt Bắc”
của Tố Hữu (trang 87, SGK Ngữ văn 12 – nâng cao)
1 Đọc lại phần Tiểu dẫn và cho biết bài thơ được sáng tác trong hoàn cảnh nào ? Tâm trạng bao trùm trong đoạn trích bài thơ là gỡ ?
2 Nhận xột về cỏch kết cấu của bài thơ (chú ý cảnh chia tay, lời hỏi và lời đáp) Cách kết cấu ấy có gỡ gần gũi với ca dao, dõn ca và cú tỏc dụng như thế nào đối với việc thể hiện tư tưởng, tỡnh cảm trong bài thơ ?
3 Nhận xét về cách sử dụng hai từ “mỡnh” và “ta” trong bài thơ
(“mỡnh”, “ta” là ai ?) Sự thống nhất và chuyển hoỏ của hai “nhõn vật”
ấy “Mỡnh”, “ta” trong bài Việt Bắc giống và khỏc như thế nào với
“mỡnh”, “ta” trong ca dao ?
4 Trong đoạn thơ từ dũng 25 đến dũng 52, những hỡnh ảnh nào của thiờn nhiờn và con người Việt Bắc đó được tái hiện ? Trong không gian
và thời gian nào ? Giữa cảnh và người có sự gắn bó như thế nào ? Nêu cảm nhận của anh (chị) về tỡnh cảm của người cỏn bộ miền xuụi với Việt Bắc qua những hỡnh ảnh ấy Nhận xột về bỳt phỏp miờu tả và giọng điệu của đoạn thơ này
5 Trong đoạn thơ từ dũng 53 đến dũng 88, khớ thế hào hựng của cuộc khỏng chiến đó được tái hiện qua những hỡnh ảnh, sự việc nào ? Bỳt phỏp và giọng điệu trong đoạn thơ này có gỡ khỏc với đoạn thơ trước (từ dũng 25 đến dũng 52)
6 Phõn tớch tớnh dõn tộc trong nội dung và nghệ thuật của đoạn trích bài thơ Việt Bắc (ở bức tranh đời sống và nội dung tỡnh cảm ; ở cỏc hỡnh thức nghệ thuật nổi bật như thể thơ, lối kết cấu, hỡnh ảnh, ngụn ngữ, giọng điệu)
Rừ ràng hệ thống cõu hỏi trờn cũn quỏ chung, chưa thể hiện được ý đồ tiếp cận tác phẩm theo hệ thống Trong khi ở câu 1, câu 2, câu 3 thỡ yờu cầu HS tiếp cận đoạn trích theo lối “bổ dọc” đến câu 4, câu 5 thỡ lại tiếp cận theo lối “bổ ngang” Hơn thế nữa nhiều câu hỏi quá khó so với trỡnh độ của HS ở vùng sâu: “Nhận xét về cách kết cấu của bài
Trang 7thơ” Sau đó lại yêu cầu so sánh với kết cấu của ca dao ([2]) Hoặc nhận xét về cách sử dụng hai từ “mỡnh” và “ta” trong bài thơ (“mỡnh”,
“ta” là ai ?) Sự thống nhất và chuyển hoỏ của hai “nhõn vật” ấy
“Mỡnh”, “ta” trong bài Việt Bắc giống và khỏc như thế nào với “mỡnh”,
“ta” trong ca dao Đây là một câu hỏi rất khó, HS phải có một sự am hiểu rất sâu về đặc điểm sử dụng đại từ nhân xưng trong ca dao mới cóthế giải quyết được vấn đề này Tuy nhiên qua khảo sát hệ thống văn bản ca dao mà HS được học trong chương trỡnh Ngữ văn 10 (nâng cao)chúng tôi nhận thấy không có văn bản nào có xuất hiện hai từ “mỡnh”,
“ta” Như vậy HS lấy kiến thức ở đâu để hoàn thành được câu hỏi này Tỡnh hỡnh này cũng khụng khỏc lắm ở sỏch giỏo khoa Ngữ văn 12 (chương trỡnh chuẩn)
Ví dụ 2: Hệ thống câu hỏi hướng dẫn học bài cho bài “Nguyễn Đỡnh Chiểu, ngôi sao sáng trong văn nghệ dân tộc” của Phạm Văn
3 Tỏc giả đó giỳp chỳng ta nhận ra những “ỏnh sỏng khỏc thường” nàocủa ngôi sao sáng Nguyễn Đỡnh Chiểu trờn bầu trời văn nghệ Việt Nam, qua:
– Cuộc sống và quan niệm sáng tác của nhà thơ;
– Thơ văn mà ông sáng tác để phục vụ cuộc chiến đấu chống xâm lược bảo vệ Tổ quốc;
– Truyện Lục Vân Tiên
4 Vỡ sao tỏc giả cho rằng ngụi sao Nguyễn Đỡnh Chiểu đáng lẽ phải sáng hơn nữa không chỉ trong thời ấy, mà cả trong thời đại hiện nay?
5 Có thể thấy bài văn nghị luận này không khô khan mà trái lại có sức hấp dẫn, lôi cuốn Vỡ sao?
Trang 8Bài viết là một ỏng văn nghị luận mẫu mực có cấu hết sức chặt chẽ theo ba phần với luận đề và hệ thống luận điểm lôgic liên kết chặt chẽ.Như vậy hệ thống câu hỏi nên tiếp cận văn bản theo hướng ấy Thế nhưng ở đây, tác giả lại không khai thác theo hướng này Bên cạnh đó, ngay ở câu 1, SGK hỏi: Anh chị thấy cách sắp xếp các luận điểm đó có
gỡ khỏc với trật tự thụng thường? Đây là yêu cầu HS rất khó trả lời vỡ
HS chưa tiếp cận được một cách toàn diện kết cấu của văn bản để nhận diện được mục đích của Phạm Văn Đồng khi triển khai trật tự các luận điểm trong văn bản Nguyễn Đỡnh Chiểu, ngụi sao sỏng trong văn nghệ dân tộc
Tất cả những điều đó trỡnh bày ở trờn chớnh là nguyên nhân khiến HS soạn bài “đối phó” với GV bằng loại sách “Học tốt” được bày bán trên thị trường Điều này đó triệt tiờu khả năng tư duy cũng như khả năng độc lập trong việc tiếp cận văn bản của HS từ đó đó làm giảm sự hứng thỳ trong những giờ học Ngữ văn của các em
I.2 Vấn đề sử dụng sách giáo khoa trong tiết học
Hiện trạng đáng lưu ý hiện nay đó là một bộ phận giỏo viờn lạm dụng SGK trong quỏ trỡnh giảng dạy thể hiện:
– Câu hỏi đưa ra mà nội dung trả lời có sẵn trong SGK, học sinh không cần phải động nóo, khụng cần ghi nhớ chỉ cần đọc đúng là trả lời được vấn đề mà thầy giáo nêu lên
– Giáo viên phát phiếu học tập Câu hỏi nêu lên trong phiếu học sinh chỉ cần dựa vào sách giáo khoa chép lại nguyên xi là đạt yêu cầu…Việc sử dụng SGK theo cung cỏch nờu trờn sẽ dần dần hỡnh thành một tật xấu cho học sinh đó là cứ mỗi khi giáo viên đưa ra câu hỏi học sinh không động nóo, khụng tư duy mà nhanh chóng nhỡn vào SGK để tỡm cõu trả lời Cỏch làm này giờ dạy diễn ra cú vẻ trụi chảy nhẹ nhàng và hỡnh như một bộ phận đáng kể giáo viên và nhiều em học sinh cũng thích cung cách này vỡ việc học tập diễn ra thật dễ dàng khỏe khoắn
Trang 9Tuy nhiờn hiệu quả giờ dạy rất thấp, dấu ấn cỏc kiến thức được khắc họa trong trí nóo học sinh rất mờ nhạt, khụng đạt được các yêu cầu và mục tiêu của việc dạy học Các câu hỏi mà giáo viên đưa ra không những không phát huy tính tích cực mà trái lại làm cho học sinh có thóiquen trông chờ ỷ lại ít cố gắng, lười biếng Người thầy cũng thấy việc dạy học thật nhẹ nhàng, không mất nhiều cụng sức cho việc soạn bài, khụng cần phải nghiờn cứu học hỏi gỡ nhiều và cảm thấy rồi mọi việc cũng ổn.Thật là tai hại
I.3 Vấn đề hạn chế trong việc sử dụng cỏc cõu hỏi trong giờ học Văn.
– Một bộ phận giáo viên chưa thật sự nắm bắt được các nguyên tắc cơ bản của phương pháp dạy học nêu vấn đề Có người nhầm tưởng rằng trong giờ dạy đưa ra nhiều câu hỏi như thế là đó dạy học nờu vấn đề là phát huy tính tích cực của học sinh
– Tâm huyết nghề nghiệp và trách nhiệm của một bộ phận giáo viên đối với tiết học chưa nhiều Ngại sử dụng phương pháp nêu vấn đề, vỡ
để dạy theo phương pháp này một cách đúng nghĩa đũi hỏi phải soạn bài và nghiờn cứu tài liệu rất cụng phu, mất rất nhiều thời gian và cụngsức, trong giờ dạy giỏo viờn phải tập trung tõm lực cao mới có thể thựchiện được
– Một bộ phận đáng kể học sinh lười học hoặc học lệch không có vốn kiến thức cần thiết để cùng tham gia xây dựng bài với thầy giáo
– Một bộ phận học sinh ngại trả lời câu hỏi, học tập thụ động không hăng hái trong học tập
Xuất phỏt từ thực tế ấy, chỳng tụi thiết nghĩ trờn nền tảng gợi ý của hệ thống cõu hỏi trong SGK, GV giảng dạy Ngữ văn có thể biên soạn một
hệ thống câu hỏi khác cụ thể hơn, gắn liền với bài giảng của GV hơn Đây chính là điều kiện thuận lợi để HS có thể chuẩn bị bài tốt hơn và
GV có thể tiết kiệm được nhiều thời gian trên lớp Như vậy nếu thực
Trang 10hiện tốt công việc này, chúng tôi thiết nghĩ bài toán “cháy giáo án” trong giảng dạy Ngữ văn sẽ phần nào được giải Đồng thời từ hệ thống những câu hỏi ấy GV sẽ giúp học sinh nâng cao khả năng tự tiếp cận tác phẩm, thoát li dần và không cũn phụ thuộc một cỏch thụ động với những sách “học tốt” Vậy nên từ những điều đó trỡnh bày trờn chỳng tụi tiến hành Xõy dựng hệ thống cõu hỏi cho bài soạn Ngữ văn 12 (Cả hai chương trỡnh nõng cao và chuẩn).
II GIẢI PHÁP:
II.1 Giải pháp chung:
Phát huy tính tích cực của học sinh trong học tập là một nguyên lí dạy học được đặt ra từ rất lâu vỡ tớnh ưu việt của nó Việc chuyển đổi nội dung kiến thức bài học thành một hệ thống các tỡnh huống có vấn đề
đó khơi dậy sự tũ mũ tỡm hiểu thế giới tự nhiờn và xó hội, từ đó học sinh chủ động khám phá kiến thức dưới sự hướng dẫn của thầy giáo, giờ dạy trở nên hào hứng, sinh động, học sinh thực sự trở thành chủ thể của quá trỡnh nhận thức, chất lượng , hiệu quả giờ dạy tăng lên rấtnhiều
Việc dạy học theo phương pháp nêu vấn đề mặc dù là yêu cầu bức thiết được đặt ra từ rất lâu song đến nay vẫn có tính chất thời sự và là một câu chuyện dài Bởi vỡ để thực hiện nó hiệu quả không phải là đơngiản mà liên quan đến nhiều yếu tố: tâm huyết của người thầy, ý thức học tập của học trũ, sự quan tõm của cỏc cấp lónh đạo, đời sống của người thầy…
Hệ thống cõu hỏi trong dạy học cú ý nghĩa cực kỡ quan trọng để cho bài giảng thực sự tạo được tỡnh huống có vấn đề từ đó phát huy tính tích cực của học sinh trong học tập Để xây dựng được một hệ thống câu hỏi đạt yêu cầu đũi hỏi người thầy phải dành nhiều thời gian, cụng sức nghiờn cứu, tỡm tũi, cõn chỉnh, rỳt kinh nghiệm qua soạn bài, qua
sự thể hiện ở cỏc giờ lên lớp, qua nhiều năm công tác
Trang 11Mỗi tiết dạy đưa ra nhiều hay ít câu hỏi, cũn tựy thuộc vào từng bài và đối tượng học sinh Điều quan trọng nhất là đưa ra được các câu hỏi cần thiết vừa đủ, có chất lượng, có tác dụng thiết thực tạo được các tỡnh huống có vấn đề, kích thích tư duy của học sinh khám phá kiến thức Có bài hầu như chỉ phù hợp với phương pháp thuyết trỡnh, tuy nhiờn nếu chịu khú tỡm tũi, cõn nhắc chỳng ta vẫn cú cơ hội đưa ra được một số câu hỏi tạo tỡnh huống cú vấn đề làm tăng hiệu quả giờ dạy
II.2.Vấn đề sử dụng sách giáo khoa trong tiết học Văn.
Một trong những đổi mới trong phương pháp dạy học hiện nay đó là rènluyện khả năng tự học, tự nghiên cứu của học sinh Sách giáo khoa trở thành một phương tiện được sử dụng cho mục đích này và sử dụng trong các trường hợp sau:
– Nghiên cứu SGK để rút ra các kết luận về mặt lí thuyết hoặc so sánh các kiến thức các nội dung liên quan…
– Từ vốn kiến thức SGK để giải thích các tỡnh huống lớ thuyết hoặc thực tiễn đặt ra( ví dụ trả lời các lệnh trong SGK)
– Từ cỏc kờnh hỡnh học sinh phõn tớch so sỏnh và rỳt ra cỏc kết luận cần thiết theo yờu cầu của bài học
– Kờnh hỡnh SGK được sử dụng minh họa giúp học sinh hiểu thêm những điều mà thầy giáo trỡnh bày
– Một số nội dung được nêu trong sỏch giỏo khoa khụng phải là kiến thức cốt lừi và đơn giản học sinh có thể tự đọc để hiểu
II.3 Yêu cầu của câu hỏi: Đối với giáo viên: Nắm vững yêu cầu, kĩ
năng sử dụng hệ thống câu hỏi trong giờ dạy Văn
II.3.1 Yêu cầu chung:
Trang 12– Cõu hỏi phải cú tỏc dụng phát huy trí lực học sinh, đũi hỏi cú sự động nóo mới làm sỏng tỏ được những điều mà giáo viên đặt ra
– Cõu hỏi dựa trờn nền kiến thức cũ tạo cho học sinh kết núi, kế thừa giữa vốn kiến thức với việc tỡm hiểu kiến thức mới
– Câu hỏi có tính định hướng làm học sinh hiểu rừ, hiểu đúng yêu cầu đặt ra
– Cần thiết có hệ thống gợi ý, dẫn dắt để học sinh trả lời các ý , từ đó hoàn chỉnh vấn đề cần trả lời
II.3.2 Những cõu hỏi khụng nờn dựng
– Câu hỏi là phương tiện cần thiết cho việc dạy theo phương pháp nêu vấn đề Tuy nhiên thực tế giảng dạy cho thấy để đưa ra được các câu hỏi đạt được yêu cầu quả không phải là dễ dàng Có không ít câu hỏi được sử dụng đó tạo ra tỏc dụng ngược lại làm cho giờ dạy nhạt nhẽo, lũng cũng, tốn phí thời gian, dấu ấn rất mờ nhạt trong trớ nóo học sinh.Xin nờu ra đây một số ví dụ:
– Câu hỏi không dựa trên nền kiến thức cũ, làm học sinh lúng túng và thường phản ứng bằng cách đoán mũ hoặc đọc sách giáo khoa tỡm cõutrả lời
– Câu hỏi không định hướng làm học sinh khó xác định hoặc xác định sai yêu cầu, điều này làm học sinh rối trí, mất nhiều thời gian đồng thờikhông hoàn thành được yêu cầu thầy giáo đặt ra Dạng câu hỏi này thực tế dẫn tới người giải quyết vấn đề lại chính là thầy giáo
– Đưa ra quá nhiều câu hỏi trong một bài học làm cho bài giảng nát vụn ra, mất tính hệ thống, giờ giảng bị căng, học sinh mệt mỏi, tốn nhiều thời gian, các kiến thức cốt lừi ớt được giảng giải phân tích
Trang 13– Các câu hỏi quá đơn giản, không có giá trị phát huy trí lực học sinh, các câu hỏi vụn vặt với những trả lời như: có, không, đúng ạ… loại câu hỏi này đưa ra vừa làm mất thời gian vừa làm cho giờ dạy đơn điệu nhạt nhẽo
II.3.3 Những yêu cầu cụ thể đối với câu hỏi trong giờ dạy – học Văn :
* Câu hỏi phải đạt mục đích kích thích sự cảm thụ của học sinh khi đọc
tác phẩm
-Công việc kích thích sự cảm thụ của người đọc ( thầy , trò ) với tác
phẩm văn học là vấn đề bắt buộc phải làm ngay trước khi vào giờ học văn Thầy không cảm thụ được thì làm sao có thể giúp cho học trò cảm thụ Nếu người giáo viên văn chỉ lệ thuộc vào hệ thống câu hỏi ở
sách giáo khoa và sách giáo viên, vai trò chủ đạo “ thắp ngọn lửa” ở
người thầy sẽ hạn chế rất nhiều
– Nếu dạy học theo lối miêu tả tài liệu là giúp cho học trò nhận biết những ý nghĩa được nhà văn hoặc thầy cô nêu thì dạy học hiện đại lại theo một hướng khác thiên về tại một sự cảm thu phát huy tính thẩm
mỹ ở trò, nhưng không tuỳ tiện , mà theo một sự tiếp nhận thẩm mỹ mở
* Câu hỏi phải xác định được cảm xúc và rung động thẩm mỹ có tính chất trực giác của người đọc
– Yêu cầu này giúp ta xác định được ấn tượng ban đầu do tác động của nội dung và nghệ thuật tác phẩm với người độc đây là những dấu ấn giúp ta điều chỉnh quá trình chiếm lĩnh tác phẩm để tiên tới định hướngđược một cách có hiệu quả sát thực nhất
* Câu hỏi phải xác định được bức tranh nghệ thuật toàn cảnh có diện
mạo và tâm điểm để giờ dạy văn có trọng tâm , có điểm sáng thẩm mỹphải được khai thác sâu hơn , khắc phục được tình trạng giờ học văn
bàng bạc , nhạt nhẽo
Trang 14– Yêu cầu này giúp người đọc xác định được sự vận động của hình tượng nghệ thuật từ nảy sinh đến cao trào và kết thúc , xác định được trọng tâm của giờ dạy văn
*.Câu hỏi phải xác định được sự hiểu biết của người đọc từ dễ đến
khó :
– Việc phát triển được thái độ cá nhân chân thực trong nhận thức thẩm
mỹ là điều hết sức cần thiết Chỉ có như vậy thì người học sinh trong giờ học văn mới nhận rachủ thể của mình được tôn trọng , có hứng thú
và có khát vọng chiếm lĩnh nghệ thuật Học sinh từ tóm tắt tác phẩm , thuộc được bài thơ , bài văn đến lý giải các sự kiện , biến cố và mức cao nhất là bộc lộ thái độ và quan điểm riêng
*.Câu hỏi phải giúp học sinh phát hiện được hết các chi tiết nghệ thuật
có giá trị và toàn bộ cấu trúc của tác phẩm
– Từ các chi tiết vụn vặt , tản mạn , giúp học sinh phải có một cái nhìn
hệ thống toàn diện tác phẩm
* Câu hỏi phải đơn giản , phù hợp , sát thực ví thể loại văn học, nội dung phải cụ thể và phù hợp với lứa tuổi học sinh THPT.
=> Để đáp ứng được 6 yêu cầu có tính nguyên tắc trên , tôi đưa ra hệ
thống câu hỏi và chọn cho mỗi loại vài ví dụ tiêu biểu
II.4 Xây dựng hệ thống câu hỏi trong giờ dạy Văn :
* Việc xây dựng hệ thống câu hỏi cho bài soạn Ngữ văn 12
– Chỳng tụi sẽ tổ chức soạn thảo hệ thống cõu hỏi dựa trờn nền tảng gợi ý trong sỏch giỏo khoa tuy nhiên chúng tôi chú trọng phương thức quy nạp khi xây dựng hệ thống câu hỏi đồng thời cố gắng đi theo trỡnh
tự lụgớc của kết cấu văn bản Hệ thống câu hỏi mới sẽ cụ thể hơn, chi tiết hơn, mức độ gợi ý sẽ tuỳ thuộc vào năng lực chung của HS trong lớp học đang được GV trực tiếp giảng dạy Đồng thời GV có thể yờu cầunhóm học tập có thể thảo luận trước một số câu hỏi cần phải thảo luận nhóm