ĐẶT VẤN ĐỀ I.Lời mở đầu Tìm hiểu đề và tìm ý là một yêu cầu có tính bắt buộc trong quy trình làm một bài văn ở trường phổ thông:có ý nghĩa quan trọng, quyết định phương hướng lựa chọn k
Trang 1Sáng kiến kinh nghiệm Kĩ năng tìm hiểu đề, tìm ý cho bài văn
A ĐẶT VẤN ĐỀ
I.Lời mở đầu
Tìm hiểu đề và tìm ý là một yêu cầu có tính bắt buộc trong quy trình
làm một bài văn ở trường phổ thông:có ý nghĩa quan trọng, quyết định phương hướng lựa chọn kiểu văn bản, cùng với việc sử dụng các thao tác tư duy hoặc các phương thức biểu đạt để tạo lập văn bản và nội dung bài văn Để đánh giá một bài văn hay, căn cứ điều đầu tiên và then chốt nhất là bài văn có đúng yêu cầu của đề bài đặt ra không? Sách giáo khoa Ngữ văn bậc phổ thông hiện hành có nhiều đổi mới ở khâu ra đề và không dễ dàng ở những năm đầu đổi mới đối với cả người dạy và người học Học sinh lúng túng nhiều nhất là khâu tìm hiểu
đề và tìm ý cho bài văn
Làm văn là một công việc đầy sáng tạo và khó nhọc, không chỉ đòi hỏi
ở người viết sự am hiểu chữ nghĩa, năng lực tư duy, vốn hiểu biết mà còn thử thách trình độ tạo lập văn bản và cả nhân cách, cá tính của người cầm bút Tìm hiểu đề và tìm ý là những thao tác, kĩ năng quan trọng làm nên trình độ tạo lập văn bản của người làm văn Những trình bày của bản thân tôi còn nhằm giúp cho giáo viên và học sinh bổ sung kiến thức về tạo lập văn bản, nâng cao chất lượng làm văn trong sách giáo khoa Ngữ văn mới
Đó cũng là những lí do khiến tôi chọn đề tài “ Kĩ năng tìm hiểu đề,
tìm ý cho bài văn” để nghiên cứu, áp dụng vào thực tế giảng dạy ở
trường THPT Hy vọng rằng những kinh nghiệm nhỏ này sẽ có tác dụng hữu ích với đồng nghiệp
II -Thực trạng của vấn đề nghiên cứu
( Thực trạng tìm hiểu đề và tìm ý cho bài làm văn của học sinh
ở trường THPT)
Tìm hiểu đề và tìm ý là một yêu cầu bắt buộc trước khi đặt bút viết bài
văn nhằm giúp bài văn tránh được tình trạng xa đề, lạc đề, nội dung
Trang 2lan man, thiếu ý, thừa ý Bản thân giáo viên cũng có lúc rất xem nhẹ việc tìm hiểu đề và lập dàn ý trong giờ dạy của mình Song khi thấy được tầm quan trọng, ý nghĩa của việc tìm hiểu đề và tìm ý có liên quan mật thiết tới hiệu quả tăng, giảm của chất lượng bộ môn Văn
Từ đó, tôi đã tiến hành trao đổi với 12 giáo viên trực tiếp giảng dạy môn Ngữ Văn tại các trường THPT Lam Kinh, THPT Lê Văn Linh, THPT bán công 2 Thọ Xuân và để kiểm nghiệm cho cách làm của mình, tôi đã thực hiện điều tra 143 học sinh thuộc 3 lớp 10B1, 11A5, 12C6 bằng
phiếu khảo sát bài làm văn của học sinh, với câu hỏi đặt ra là: Em có thói quen đọc đề văn trước khi làm bài? Em có thói quen tìm hiểu đề và lập dàn ý trước khi làm bài văn? Kết quả như sau:
– Với câu hỏi 1:
+ 134 học sinh( Tỉ lệ 93,7%) trả lời có thói quen đọc đề trước khi làm bài
+ 09 học ( Tỉ lệ %6,3) sinh trả lời rằng em không quan tâm đọc đề trước khi làm bài văn
– Với câu hỏi 2:
+ 80 học sinh chiếm 56% học sinh trả lời không bao giờ có thói quen tìm hiểu đề, tìm ý trước khi viết bài văn
+ 20 học sinh chiếm 14% học sinh trả lời có thói quen đọc đề, gạch chân các từ quan trọng nhưng chưa chú đến việc tìm ý cho đề bài
+ 43 học sinh chiếm 30% học sinh trả lời đó là công việc em thường làm và là điều kiện giúp cho bài văn của em đạt điểm cao
Kết quả cho thấy, trước một đề làm văn, phần đông số học sinh chưa
có thói quen tìm hiểu đề và tìm ý Học sinh chỉ đọc đề một vài lần và viết bài luôn, không tìm ý trước mà vừa viết vừa suy nghĩ để tìm ý, chưa biết cách phân tích đề làm cơ sở cho việc tìm ý đặc biệt đối với
Trang 3dạng đề mở, đa số các em gặp khó khăn ở khâu xác định các phương thức biểu đạt hoặc thao tác tư duy cần sử dụng để làm bài, lúng túng ở việc tìm ý, bị động trong quá trình viết bài; bài làm văn vừa thiếu ý, lạc
ý vừa không đáp ứng đúng đặc trưng kiểu văn bản mà đề bài yêu cầu tạo lập Như vậy từ thực trạng trên cho thấy rằng việc tìm đề và tìm ý
là một yêu cầu bắt buộc trước khi đặt bút viết bài văn, nhằm giúp bài văn tránh được tình trạng xa đề, lạc đề, nội dung lan man rất cần thiết Cũng từ thực trạng trên để công việc đạt hiệu quả tốt hơn, tôi đã suy nghĩ, tìm hiểu và trao đổi với đồng nghiệp nhằm tìm ra một số biện pháp phù hợp để giải quyết thực trạng
B.GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I Đề làm văn trong sách giáo khoa Ngữ văn THPT hiện hành:
I.1 Đề làm văn theo quan niệm truyền thống:
Trên thực tế, đề làm văn có nhiều dạng khác nhau( trực tiếp và gián
tiếp), nhưng có thể thấy kết cấu chung của một đề làm văn theo quan
niệm truyền thống thường có 2 phần:
1 Nêu yêu cầu kiểu bài
2 Giới hạn vấn đề
Phần 1 mang đặc tính thông tin hiệu lệnh chứa đựng yêu cầu và cách
thức làm bài như giải thích, chứng minh ( làm sáng tỏ), phân tích, bình
giảng, bình luận; phần 2 nhằm gợi ý định hướng nội dung cho học sinh,
giúp các em trả lời câu hỏi viết cái gì, trong phạm vi nào?
Ví dụ:
Đề1: Phân tích hình tượng cây xà nu trong truyện ngắn “ Rừng xà nu”
của Nguyễn Trung Thành
Đề 2: “ Việt Bắc” cũng rất tiêu biểu cho giọng thơ tâm tình, ngọt ngào
tha thiết của Tố Hữu và nghệ thuật biểu hiện giàu tính dân tộc của thơ ông
( Sách giáo viên Văn 12, 1992)
Trang 4Hãy chứng minh điều đó qua đoạn trích hai mươi câu thơ đầu của bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu
( Đề 166 – trang 480; Tuyển tập 234 đề và bài làm văn; NXB đại học quốc gia HN)
Đề 3: Trong truyện ngắn “ Mùa lạc”, nhà văn Nguyễn Khải viết “ ở đời
này không có con đường cùng, chỉ có những ranh giới , điều cốt yếu là phải có sức mạnh để bước qua những ranh giới ấy” ( Văn học 12)
Bằng việc phân tích nhân vật Đào, anh, chị hãy làm sáng tỏ ý kiến trên
ở đề 2,3 câu dẫn của đề cũng thuộc phần giới hạn vấn đề nhưng có tác dụng định hướng gợi dẫn rõ hơn về nội dung
I.2 Quan niệm về đề văn theo sách giáo khoa Ngữ văn THPT hiện hành:
Đề thi phải khơi dậy những suy nghĩ riêng đồng thời rèn luyện cho học
sinh óc phê phán, nhìn vấn đề trên nhiều mặt, tránh ra đề kiểu “suôn sẻ”, dạng “ thoả hiệp một chiều” Với mục tiêu ấy, sách giáo khoa Ngữ
văn THPT hiện hành chủ yếu ra đề theo hướng “ mở” – chỉ nêu ra đề tài
hoặc vấn đề cần bàn bạc trong bài văn, không giới hạn cứng nhắc việc vận dụng các phương thức biểu đạt hoặc các thao tác tư duy để viết bài văn, khuyến khích học sinh suy nghĩ nhiều chiều trước một vấn đề
Đề “ mở” khác loại đề “ đóng”, đề “ khép kín” Sử dụng loại đề này để phân hoá học sinh sẽ phù hợp hơn Kết cấu đề “ mở ” trong sách giáo
khoa khá phong phú
Dạng 1: Phổ biến là dạng đề chỉ nêu ra đề tài hoặc vấn đề để học sinh
làm bài, không nêu yêu cầu về kiểu văn bản và cách thức làm bài Ví dụ:
VD1:Người phụ nữ xưa với tình yêu và hôn nhân qua một số bài ca
dao?( Ngữ văn 10, tập 1, bộ 1; Ban KHXH – NV)
Trang 5VD2: “ Mọi phẩm chất của đức hạnh là ở trong hành động” ( Ngữ văn
12, tập 1, SGK thí điểm bộ 2, ban KHTN)
VD3: Dòng sông truyền thống trong đoạn trích Những đứa con
trong gia đình của nhà văn Nguyễn Thi ( Ngữ văn 12, tập 2, NXB GD,
2008) ,( Đề thi học sinh giỏi tỉnh Thanh Hoá năm học 2009 – 2010)
VD4: Tiền tài và hạnh phúc ( Đề 1, trang 221; Ngữ văn nâng cao
12, tập 2)
Dạng 2: Dạng đề có kết cấu hai phần: Phần nêu mệnh đề làm bài và
phần giới hạn vấn đề, đề tài Ví dụ:
VD1: Nhà thơ Tố Hữu viết “ ôi sống đẹp là thế nào hỡi bạn” ? Anh, chị
hãy tìm câu trả lời trong cuộc sống và trong văn học ( Ngữ văn 10, tập
2, bộ 1; Ban KHXH – NV)
VD2: Cảm nghĩ của anh, chị về hình tượng rừng xà nu trong truyện
ngắn cùng tên của Nguyễn Trung Thành ( Ngữ văn 12, tập 2, bộ 2; Ban KHXH – NV)
VD3: Hình tượng người phụ nữ gợi cho anh, chị nhiều suy nghĩ nhất
trong các tác phẩm Vợ chồng A Phủ ( Tô Hoài), Vợ nhặt ( Kim
Lân) , Một người Hà Nội ( Nguyễn Khải) và Chiếc thuyền ngoài
xa ( Nguyễn Minh Châu); ( Đề 4 trang 221; Ngữ văn nâng cao 12, tập
2)
II.Các giải pháp thực hiện:
Sau đây tôi xin mạnh dạn đưa ra một số đề xuất tìm hiểu đề và tìm ý cho bài làm văn theo sách giáo khoa Ngữ văn THPT hiện hành Cụ thể là:
II.1 Cách thức tìm hiểu đề làm văn theo sách giáo khoa Ngữ văn THPT hiện hành:
Đây là vấn đề khó không chỉ đối với học sinh mà ngay cả đối với giáo viên ( vì nội dung chương trình làm văn ở THPT được kết cấu theo nguyên tắc đồng tâm và nâng cao; đề làm văn trong sách giáo khoa Ngữ văn hiện hành hiện nay chủ yếu ra theo hướng mở để phát huy
Trang 6tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh – loại đề này hay ở chỗ hạn chế được lối làm văn sao chép, tái hiện, học sinh phải tự mình suy nghĩ và nêu được ý nghĩ của chính mình Nhưng sẽ rất khó đối với học sinh có học lực yếu và trung bình) Theo tôi, nên dựa vào những căn cứ sau đây để tìm hiểu đề làm văn theo sách giáo khoa Ngữ văn mới:
– Dựa vào lời văn trong đề bài để xác định yêu cầu của đề Đề nêu ra yêu cầu gì cần giải quyết?
– Mục đích giao tiếp của các kiểu văn bản tự sự, miêu tả, biểu cảm, thuyết minh, nghị luận, đối chiếu với đề tài được nêu ra trong đề bài để xác định kiểu văn bản và dạng bài cần tạo lập: đề yêu cầu kiểu văn bản nào? Thuộc dạng bài làm văn nào?
– Dựa vào khối/ lớp học, thời gian học để để xác định sử dụng phương thức biểu đạt biểu đạt hoặc các thao tác làm bài nhằm đảm bảo một số chuẩn kiến thức kĩ năng cần đạt: Các phương thức biểu đạt hoặc các thao tác tư duy nào cần được sử dụng để làm bài văn? Sử dụng chúng khi nào?
Ví dụ cụ thể:
Ví dụ 1: Một kinh nghiệm học văn hoặc làm văn ( Trang 14, Ngữ
văn 10, tập 2- NXBGD) Đề làm văn này yêu cầu làm nổi bật kinh
nghiệm học văn hoặc làm văn bằng kiểu văn bản thuyết minh, thuộc dạng bài thuyết minh về một kinh nghiệm học tập có sử dụng kết hợp một số biện pháp nghệ thuật và yếu tố tự sự Thuyết minh là phương thức biểu đạt chính Các biện pháp như tự thuật, so sánh, nhân hoá và yếu tố tự sự được sử dụng đan xen kết hợp trong quá trình giới thiệu quá trình học văn: những thất bại, những tìm tòi, tích luỹ về kinh
nghiệm học văn( học thuộc lòng văn bản, chuẩn bị bài trước khi đến lớp, chú ý nghe giảng, luyện đề sau giờ học…) Lưu ý: đối với loại đề
mở có kết cấu hai phần, học sinh cần lưu ý các “ lệnh” trong đề bài.
Trang 7Từ “ phân tích” trong đề bài có ý nghĩa nhấn mạnh phép luận luận
chính của bài viết chứ không có ý nghĩa chỉ định một phương pháp lập luận duy nhất hay yêu cầu về kiểu bài phân tích như các đề văn thường gặp trong các đề văn thường gặp trong sách giáo khoa cải cách giáo dục Bởi trong thực tế không có đề văn nào chỉ sử dụng một thao tác giải thích, chứng minh hay một cách thức lập luận nào đó, hoặc chỉ dùng một phương thức kể… Bất kì bài văn nào cũng là sự tổng hợp các phương thức và các thao tác Tuy nhiên,, nói như thế không có nghĩa là trước một đề văn, ai thích sử dụng phương thức biểu đạt nào cũng được Bao giờ cũng có một phương thức biểu đạt chính đóng vai trò chủ đạo, các phương thức biểu đạt khác chỉ là hỗ trợ và phục vụ cho
phương thức chính
Ví dụ 2: Phân tích đoạn thơ sau đây trong bài Vội vàng của Xuân
Diệu:
Ta muốn ôm
Cả sự sống đang bắt đầu mơn mởn ;
Ta muốn riết mây đưa và gió lượn,
Ta muốn say cánh bướm với tình yêu,
Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiều
Và non nước, và cây, và cỏ rạng,
Cho chếch choáng mùi thơm, cho đã đầy ánh sáng, Cho no nê thanh sắc của thời tươi;
– Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi!
( Đề 1, trang 101,102; Sách giáo khoa Ngữ văn nâng cao 12 – NXB GD)
Đề văn trên yêu cầu nghị luận về một đoạn thơ, trong đó phép lập luận chủ yếu là phân tích Các thao tác sử dụng với phân tích là giải thích, chứng minh, so sánh và tổng hợp đánh giá Nghị luận là phương thức biểu đạt chính của bài văn, bên cạnh đó, học sinh có thể sử dụng kết hợp yếu tố biểu cảm
Trang 8Từ “ Cảm nghĩ” đến “ cảm nhận” trong đề văn có ý nghĩa lưu ý đến ấn
tượng, cảm thụ của người viết – đặc biệt, đối với nghị luận văn học lại càng phải có sự cảm thụ, liên tưởng, đồng cảm và ấn tượng chủ quan của người làm bài được gợi lên từ tác phẩm Bởi vậy, học sinh cần lưu ý
các cụm từ “ Cảm nghĩ”, “ cảm nhận” trong đề bài không đơn giản là
phát biểu cảm tưởng, suy nghĩ mà còn là yêu cầu nghị luận trên cơ sở cảm thụ
Ví dụ 3: “ Cảm nghĩ của anh, chị về hình tượng rừng xà nu trong
truyện ngắn cùng tên của Nguyễn Trung Thành” ( Ngữ văn 12, tập 2,
bộ 2; Ban KHXH – NV)
Đề yêu cầu nghị luận về hình tượng rừng xà nu trong truyện ngắn
“ Rừng xà nu”, thuộc dạng bài nghị luận về một tác phẩm tự sự Nghị
luận là phương thức biểu đạt chủ yếu kết hợp với yếu tố tự sự, miêu tả, biểu cảm Các thao tác lập luận kết hợp gồm phân tích, so sánh, bác
bỏ và bình luận nhằm làm nổi bật số phận của rừng xà nu trong tầm đại bác của đồn giặc, sức sống bất diệt của cây xà nu và ý nghĩa tượng trưng của rừng xà nu trong truyện
Từ “ suy nghĩ” trong đề văn nhấn mạnh yêu cầu người làm bài phải
trình bày những nhận định, phân tích của mình Khi trình bày cảm nhận, suy nghĩ phải có lí lẽ , lập luận, phải qua phân tích, chứng minh bằng các dẫn chứng cụ thể kết hợp đan xen linh hoạt nhiều phương thức biểu đạt và các thao tác lập luận khác
Ví dụ 4: “ Phê phán thái độ thờ ơ, ghẻ lạnh đối với con người cũng
quan trọng và cần thiết như ca ngợi lòng vị tha, tình đoàn kết”
Anh, chị có suy nghĩ như thế nào về ý kiến trên (Đề 2, trang 41 Sách giáo khoa Ngữ văn nâng cao 12 – NXBGD)
Đề yêu cầu nghị luận về thái độ sống của con người , thuộc dạng bài nghị luận về một sự việc, hiện tượng trong đời sống Sử dụng nghị luận
là phương thức biểu đạt chính kết hợp với các yếu tố tự sự, miêu tả,
Trang 9biểu cảm Phép lập luận chủ yếu là phân tích, kết hợp các thao tác chứng minh, bình luận
II.2 Cách thức tìm ý cho bài làm văn theo sách giáo khoa Ngữ văn THPT hiện hành:
Để học sinh không bị lạc đề, lạc ý hay bỏ ý trong quá trình tìm ý cho bài văn, theo tôi có thể tiến hành theo các cách sau:
Cách 1: Dựa vào tính chất của dạng bài mà đề yêu cầu tạo lập để tìm
ý cho bài viét: trả lời câu hỏi viết cái gì?
Cách 2: Căn cứ vào vấn đề được nêu ra trong đề bài để đặt các câu hỏi
và trả lời câu hỏi Đây thực chất là yêu cầu học sinh phải đọc kĩ đề bài, lật đi lật lại vấn đề ở nhiều mặt để tìm ý cho bài làm văn trước khi viết bài
Ví dụ 5: Tìm ý cho đề bài sau:
Nhà thơ Tố Hữu viết : Ôi sống đẹp là thế nào hỡi bạn Anh, chị hãy tìm
câu trả lời trong cuộc sống và trong văn học
* GV định hướng cho học sinh nắm được tính chất của dạng bài nghị luận về một vấn đề tư tưởng đạo lí : Bàn bạc, làm sáng tỏ
một vấn đề thuộc lĩnh vực tư tưởng, đạo đức, lối sống của con người, chỉ ra chỗ đúng ( hay chỗ sai) của một tư tưởng nào đó nhằm làm thuyết phục người nghe, người đọc
* Gv hướng dẫn học sinh tìm ý cho bài văn nghị luận về tư
tưởng sống đẹp :
– Giới thiệu tư tưởng sống đẹp : Trong cuộc sống, con người luôn hướng tới cái Chân, Thiện, Mĩ và họ luôn mong muốn được hoàn thiện bản thân làm cho cuộc đời mình trở nên có ý nghĩa hơn
– Giải thích tư tưởng sống đẹp : Là sống có ích, biết hy sinh, có tâm hồn yêu đời, có ý chí nghị lực, có khát vọng hoài bão…
– Chứng minh và phân tích các mặt biểu hiện của tư tưởng sống đẹp :
Trang 10+ Dẫn chứng tiêu biểu trong cuộc sống : Những tấm gương ngưqời thực, việc thực
+ Dẫn chứng tiêu biểu trong văn học: ca dao, truyện cổ tích, thơ trung đại, văn thơ kháng chiến, văn học sau 1975 đến nay
– Nêu nhận xét đáng giá về các biểu hiện sống đẹp đó trong bối cảnh của cuộc sống riêng, chung
– Nêu nhận thức mới và hành động : ‘Đời người chỉ sống có một lần phải sống sao cho ra sống ? Phải sống sao cho trước khi nhắm mắt xuôi tay ta không phải xót xa ân hận vì những năm tháng đã sống hoài, sống phí để trước khi nhắm mắt, xuôi tay ta có thể tự hào rằng : tất cả đời ta, tất cả sức lực ta, ta đã hiến dâng cho sự nghiệp cao quý của loài người’ Lời bất hủ của chàng thanh niên Paven Coosoghin trong tiểu thuyết ‘Thép đã tôi là thế đấy’cũng là phương châm sống
đẹp của tuổi trẻ chúng ta trong thời đại đất nước hội nhập và phát triển hôm nay
II.3 áp dụng cho việc tìm hiểu đề, tìm ý ( Tiết 120 Ngữ văn 11, chương trình nâng cao)
1 Tìm hiểu đề:
* GV yêu cầu HS so sánh ba đề văn :
Đề 1: Vẻ đẹp của bài Thơ duyên (Xuân Diệu).
Đề 2: Nghệ thuật trào phúng của Nguyễn Công Hoan qua truyện
ngắn Tinh thần thể dục.
Đề 3: Nhà văn Nga Lê-ô-nit Lê-ô-nốp cho rằng: “Mỗi tác phẩm phải là một phát minh về hình thức và một khám phám về nội dung” Anh (chị)
hãy giải thích và chứng minh ý kiến trên
* Gợi ý:
(1) Giống nhau: Đều là nghị luận văn học