1. Trang chủ
  2. » Y Tế - Sức Khỏe

NGHIÊN cứu đặc điểm lâm SÀNG, HOẠT ĐỘNG THANH QUẢN QUA SOI HOẠT NGHIỆM và kết QUẢ PHÂN TÍCH âm của rối LOẠN GIỌNG CĂNG cơ

43 530 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 43
Dung lượng 1,27 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẶT VẤN ĐỀRối loạn giọng căng cơ muscle tension dysphonia là tình trạng cường năng thanh quản vocal hyperfunction, tăng trương lực lan tỏa các cơ thanh quản, từ đó gây nên rối loạn hoạt

Trang 1

ĐẶT VẤN ĐỀ

Rối loạn giọng căng cơ (muscle tension dysphonia) là tình trạng cường năng thanh quản (vocal hyperfunction), tăng trương lực lan tỏa các cơ thanh quản, từ đó gây nên rối loạn hoạt động của thanh quản khi phát âm và rối loạn giọng nói mà không có tổn thương thực thể trên dây thanh, không do nguyên nhân thần kinh hoặc tâm thần[1, 2] Bệnh thường gặp ở những người làm nghề phải nói nhiều như bán hàng, giáo viên, quản đốc phân xưởng, nhân viên tiếp thị…

Theo phân loại của Mathieson, Rối loạn giọng căng cơnằm trong nhóm rối loạn giọng cơ năng, nhóm này bao gồm: rối loạn giọng căng cơ, rối loạn giọng do căn nguyên tâm thần, và rối loạn giọng tuổi dậy thì [2]

Rối loạn giọng căng cơcó thể gây nên nhiềutriệu chứng về giọng nói, ảnh hưởng đến chức năng phát âm cũng như năng lực giao tiếp của người bệnh Ngoài ra, nếu không được chẩn đoán và điều trị kịp thời sẽ đưa đến các tổn thương tại niêm mạc thanh quản như hạt xơ dây thanh, polyp dây thanh, dày dây thanh [3] Do đó, việc chẩn đoán và điều trị sớm Rối loạn giọng căng

cơ có vai trò hết sức quan trọng trong phục hồi lại giọng nói cho người lao động và ngăn ngừa các tổn thương khó chữa hơn của niêm mạc dây thanh

Trên thế giới, đã có một số nghiên cứu về chẩn đoán, điều trị Rối loạn giọng căng cơ [3, 5] Ở Việt Nam, cho đến nay có rất ít nghiên cứu về Rối loạn giọng căng cơ với các đề tài của Nguyễn Duy Dương [6,8] Chưa có nghiên cứu nào đánh giá toàn diện về các triệu chứng giọng nói, hoạt động thanh quản trên soi hoạt nghiệm và đặc trưng âm thanh học của rối loạn giọng này

Trang 2

Do đó, mục tiêu nghiên cứu của đề tài của chúng tôi là:

1 Mô tả đặc điểm lâm sàng của Rối loạn giọng căng cơ.

2 Đánh giá hoạt động thanh quản qua soi hoạt nghiệm và kết quả

phân tích âm của Rối loạn giọng căng cơ.

Trang 3

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN

1.1 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU RLGCC

1.1.1 Trên thế giới

- Năm 1980, Aronson [9] mô tả một loại rối loạn giọng đặc trưng bởi chất giọng bất thường nhưng không có tổn thương thực thể tại thanh quản Aronson nhấn mạnh vai trò của rối loạn cơ chế phát âm trong bệnh này

- Năm 1983, Morrison và cộng sự [4] lần đầu tiên đưa ra khái niệm "rối loạn giọng căng cơ" mô tả bệnh lý giọng nói đặc trưng bởi chất giọng bất thường, không có tổn thương thực thể của niêm mạc dây thanh

- Năm 1991, Koufman và cộng sự [10] mô tả chi tiết RLGCC trong đó đưa ra bảng phân loại các nhóm hình thái thanh quản của bệnh lý này

- Năm 1993, Morrison và cộng sự [5] đưa ra bảng phân loại chi tiết của các rối loạn giọng cơ năng, trong đó có RLGCC

1.1.2 Tại Việt Nam

- Năm 2009, Nguyễn Duy Dương và cộng sự [6] đánh giá đặc điểm của RLGCC trên giáo viên Đặc điểm của bệnh là rối loạn giọng nói và không có tổn thương thực thể của niêm mạc dây thanh, kết hợp với rối loạn khép dây thanh khi phát âm

- Năm 2009, Nguyễn Duy Dương và cộng sự [7] đánh giá sự ảnh hưởng của RLGCC đối với phát âm thanh điệu tiếng Việt

Trang 5

Thanh quản có dạng ống nằm ở trước cổ ngang mức đốt sống cổ từ C3 đến C6 phía trên thông với họng miệng phía dưới là khí quản Giới hạn trên của thanh quản được tính từ bờ trên của sụn thanh thiệt, ở dưới là bờ dưới sụn nhẫn.

Thanh quản được cấu tạo bởi một khung sụn gồm các loại sụn khác nhau

và được liên kết bởi các màng, dây chằng , các khớp và cơ Các cơ thanh quản bao gồm các cơ bên trong thanh quản và bên ngoài thanh quản Trong lòng thanh quản được lót bởi niêm mạc Có mạch máu và thần kinh phân vào thanh quản

1.2.1.1 Khung sụn thanh quản

Hình 1.1: Khung sụn thanh quản[19]

Trang 6

Sụn giáp

Sụn giáp là sụn lớn nhất lớn nhất của thanh quản, nằm dưới xương móng, trên sụn nhẫn và hơi ra trước so với sụn thanh thiệt Sụn giáp bao gồm hai mảnh (laminae) hay hai cánh hợp với nhau ở 2/3 trước dưới tạo nên một góc mở ra sau, phần trên của góc này nơi hai cánh sụn giáp dính không hoàn toàn với nhau tạo nên một khuyết hình chữ V gọi là khuyết giáp

Phía sau mỗi cánh sụn giáp có sừng trên và sừng dưới.Sừng trên tạo khớp với sừng lớn của xương móng trong khi sừng dưới tạo thành một khớp kiểu hoạt dịch với sụn nhẫn (khớp nhẫn giáp) Chỗ nối giữa mỗi sừng trên với các cánh sụn giáp có một cái lồi sụn ra được gọi là lồi củ trên, lồi củ trên là một mốc giải phẫu quan trọng vì ở phía trên nó 1cm là nơi của động mạch và thần kinh thanh quản trên đi qua màng giáp móng vào thanh quản

Sự tương ứng của các cấu trúc nội thanh quản và bề mặt sụn giáp là rất quan trọng trong các phẫu thuật thanh quản mở sụn giáp.Vị trí các dây thanh

âm nằm gần với cực dưới của sụn giáp hơn so với cực trên, và không phải nằm ngang mức giữa sụn giáp như quan niệm trước đây

Sụn nhẫn

Giống hình một chiếc nhẫn với vòng nhẫn quay ra trước, mặt nhẫn ở phía sau, và là sụn duy nhất của đường thở có cấu trúc vòng kín.ở phía dưới sụn nhẫn tiếp giáp với sụn khí quản, phía trên nó tạo khớp với sừng dưới sụn giáp

Mặt nhẫn quay ra sau có chiều cao khoảng 20-30 mm, trong khi phía trước sụn nhẫn chỉ có chiều cao 3-4 mm Bờ trên sụn nhẫn tạo thành một mặt vát từ trước ra sau, bờ vát này để lại một cửa sổ ở phía trước nơi mà màng nhẫn giáp bám

Trang 7

Sụn phễu

Có hai sụn phễu nằm ở hai bờ bên mặt nhẫn và tạo khớp với sụn nhẫn bằng khớp nhẫn phễu.Mỗi sụn phễu có hình tháp 3 mặt, một đỉnh và 1 đáy.-Mỏm cơ (còn gọi là mấu cơ): nằm theo chiều hướng ra sau ngoài, cho

cơ nhẫn-phễu sau bám ở sau và cơ nhẫn-phễu bên bám ở trước

- Mỏm thanh (còn gọi là mấu thanh): hướng nằm ngang ra phía trước, là nơi bám của dây chằng thanh âm

Sụn chêm và sụn sừng

Sụn chêm gồm một cặp sụn nhỏ, mềm dẻo nằm ở 2 bên của của nếp phễu thanh thiệt và đội nếp này lên thành một gờ trắng nhỏ ở ngay trước sụn phễu.Sụn sừng: cũng là những sụn nhỏ, mềm dẻo nằm ở bên so với sụn phễu

và nằm hoàn toàn trong nếp phễu thanh thiệt

Những sụn này đóng vai trò gia cố thêm cho nếp phễu thanh thiệt

Sụn thanh thiệt hay sụn nắp

Có cấu trúc giống hình một chiếc lá, nằm chéo lên trên phía sau lưỡi và xương móng và ở phía trước của thanh quản.Thanh thiệt được gắn vào sụn giáp bằng một cuống nhỏ và dài, có dây chằng giáp-thanh thiệt treo thanh thiệt vào phía sau của góc sụn giáp ngay dưới khuyết thanh quản.hai bên thanh thiệt được đính vào sụn phễu bởi nếp phễu thanh thiệt

Chức năng của thanh thiệt là trong quá trình nuốt, thanh quản và thanh thiệt đuợc đảy lên trên, ra trước làm thanh thiệt bị ép giữa lưỡi và thanh quản khiến bờ tự do sụ thanh thiệt đậy vào lỗ trên thanh quản, thức ăn sẽ trượt qua mặt truớc của thanh thiệt xuống hạ họng và vào miệng thực quản

Trang 8

1.2.1.2 Dây chằng và màng thanh quản.

Hình 1.2:Các sụn và màng thanh quản[21]

Màng giáp móng: nối bờ trên sụn giáp và xương móng

Màng giáp nhẫn: nối bờ dưới sụn giáp xuống cung sụn nhẫn

Màng tứ giác: từ bờ bên sụn thanh thiệt tới sụn phễu

Nón đàn hồi (màng tam giác): Màng tam giác có đáy nhỏ, ở phía trong nơi màng này đính vào sụn giáp và sụn nhẫn Đỉnh của tam giác chính là mỏm thanh của sụn phễu Cạnh trên của màng tam giác lõm, bắt đầu từ sụn giáp chạy về phía sau tới mỏm thanh của sụn phễu Cạnh này dày lên

ở mặt ngoài và tạo nên dây chằng thanh âm, cạnh dưới của màng tam giác bám vào sụn nhẫn

Trang 9

1.2.1.3 Các cơ thanh quản

Hình 1.3: Các cơ thanh quản[19]

Các cơ ngoài thanh quản:

Nối thanh quản với các cấu trúc xung quanh bao gồm các cơ nâng thanh quản và các cơ hạ thanh quản

Các cơ trong thanh quản:

Các cơ đóng thanh môn: cơ nhẫn phễu bên, cơ liên phễu

Cơ mở thanh môn: cơ nhẫn phễu sau

Cơ căng dây thanh: cơ nhẫn giáp, cơ giáp phễu

1.2.1.4 Niêm mạc thanh quản.

Khung sụn thanh quản kèm theo các dây chằng và các cơ nội thanh quản được phủ một lớp niêm mạc che phủ kín khắp lòng thanh quản Biểu mô phủ niêm mạc thanh quản có 2 loại:

+ Biểu mô lát tầng: bao phủ bề mặt dây thanh và phần trên tiền đình thanh quản

+ Biểu mô trụ có lông chuyển: bao phủ phần còn lại của thanh quản, tức

là vùng thanh thất (Morgagni) và vùng hạ thanh môn

Trang 10

+ Tuyến nhầy phân bốở: nếp tiền đình (dây thanh giả), mặt sau thanh thiệt, bờ của nếp phễu thanh thiệt, mặt dưới của dây thanh.

1.2.1.5 Cấu trúc vi thể dây thanh âm

Hình 1.4: Các lớp của dây thanh

Bao gồm 3 lớp từ nông vào sâu là:

- Lớp niêm mạc

- Lớp dây chằng

1.2.2 Hình thể trong thanh quản[21]

1.2.2.1 Theo giải phẫu

Thanh quản được tính từ lỗ mở vào thanh quản thông với họng tới bờ dưới của sụn nhẫn, nơi thanh quản nối với sụn khí quản Thanh quản có hình thể như đồng hồ cát và được chia làm 3 khoang:

- Khoang thanh quản trên hoặc tiền đình thanh quản

Trang 11

Khoang thanh quản trên bắt đầu từ lỗ vào của thanh quản, nơi là ranh giới giữa họng và thanh quản tới nếp tiền đình hay băng thanh thất.

Lỗ vào của thanh quản hướng ra sau và lên trên Chu vi của lỗ vào thanh quản được hình thành bởi phần trước là bờ của sụn thanh thiệt, hai bên là hai nếp phễu thanh thiệt, hai nếp này chạy ra sau, xuống dưới và vào trong đến đính vào sụn phễu, ở khoảng giữa của hai đầu sau của hai nếp hình thành khuyết gian phễu

- Khoang thanh quản giữa hay thanh thất Morgagni

Là phần chạy từ bờ của băng thanh thất ở phía trên tới bờ của dây thanh

ở phía dưới Hai nếp tiền đình giới hạn giữa chúng một khe gọi là khe gọi là khe tiền đình, giữa hai nếp thanh âm (dây thanh âm) là thanh môn

Khoảng giữa nếp tiền đình và dây thanh mở ra phía hai bên tạo thành buồng thanh thất, từ phần trước của thanh thất có một cái túi gọi là tiểu nang (saccule) lách lên giữa nếp tiền đình và và mặt trong của sụn giáp, đôi khi nó

có thể đi tới gấn bờ trên sụn này Niêm mạc phủ trong tiều nang chứa rất nhiều tuyến chế tiết nhày, chất nhày được tiết ra sẽ phủ lên bề mặt của dây thanh giúp dây thanh được bôi trơn, không bị khô và nhiễm khuẩn.Vì vậy tiểu nang được coi như “bình dầu nhờn” của thanh quản

- Khoang thanh quản dưới

Khoang này có hình phễu ngược, đi từ khe thanh môn tới bờ dưới sụn nhẫn.Niêm mạc vùng này có nhiều tuyến chế tiết, tổ chức dưới niêm mạc lỏng lẻo nên dễ xảy ra phù vùng này nhất là ở trẻ em tạo nên bệnh cảnh khó thở thanh quản phù nề hạ thanh môn

Trang 12

1.2.2.2 Theo bệnh học

Cơ sở để phân vùng thanh quản dựa vào nguốc gốc cấu trúc bào thai học khác nhau của các thành phần thanh quản:

Tầng thượng thanh môn

-Được tính từ bờ trên của sụn thanh thiệt cho tới mặt phẳng nằm ngang qua mặt trên của bờ tự do dây thanh, tầng thượng thanh môn được phân thành

Tầng trên thanh môn bao gồm:

- Nắp thanh thiệt trên móng

- Nắp thanh thiệt dưới móng

- Khoang trước thanh thiệt

- Mặt thanh quản của nếp phễu thanh thiệt

- Hai sụn phễu

- Băng thanh thất

Trang 13

Tầng thanh môn

Được tính tiếp tục từ trên cho tới hết mặt phẳng nằm ngang qua mặt dưới

bờ tự do của dây thanh, phía trước là chỗ bám của cân giáp – phễu(cân dây thanh); phía sau là sụn phễu

Thanh môn bao gồm:

- Dây thanh: mặt trên, mặt dưới, bờ tự do

- Mép trước

- Mép sau

Tầng hạ thanh môn

Được tính tiếp tục từ bờ dưới của thanh môn đến bờ dưới sụn nhẫn

1.2.3 Phân bố mạch – thần kinh cho thanh quản

Hình 1.5: Thần kinh và hệ bạch huyết thanh quản[21]

Trang 14

- Động mạch cung cấp máu cho thanh quản từ hai nguồn

o Vùng thanh môn và thượng thanh môn do động mạch thanh quản trên xuất phát từ động mạch giáp trên, là nhánh của động mạch cảnh ngoài

o Vùng hạ thanh môn do động mạch thanh quản dưới xuất phát từ động mạch dưới đòn

- Hệ thống tĩnh mạch đổ về tĩnh mạch giáp trên và tĩnh mạch giáp dưới

- Hệ thống bạch mạch của thanh quản đổ về dãy hạch cảnh, ngang tầm thân giáp lưỡi mặt và hạch trước thanh quản

- Thần kinh: chi phối vận động và cảm giác cho thanh quản do dây thần kinh thanh quản trên và dây thần kinh quặt ngược, bắt nguồn từ dây X

1.3 SINH LÝ PHÁT ÂM

Giọng nói của con người được hình thành do sự phối hợp của miệng, họng, thanh quản, phổi, cơ hoành, các cơ bụng và cơ vùng cổ Có 4 hoạt động trong quá trình phát âm:

• Cơ chế luồng hơi: đây là động lực cho quá trình tạo thanh

• Tạo thanh: là quá trình tạo âm thanh do sự rung của dây thanh

• Cộng hưởng: là sự tăng hay giảm của một số âm và lọc âm

• Cấu âm: là sự sắp xếp của các âm để tạo thành từ

Từ lâu người ta đã biết được vai trò của thanh quản trong quá trình tạo thanh, nhưng cho đến nay vẫn chưa giải thích được rõ ràng thanh quản đã tạo

Trang 15

ra âm thanh như thế nào.

Trong quá trình tìm hiểu cơ chế phát âm, có nhiều thuyết tìm cách giải thích

cơ chế tạo thanh

1.3.1 Giả thuyết đàn hồi cơ của Ewald (năm 1898):

Đây là một giả thuyết cơ học Sự rung động của dây thanh gây ra do sự mất thăng bằng giữa trương lực của dây thanh (do mức độ căng gây ra) và áp lực của không khí ở hạ thanh môn Khi bắt đầu nói, dây thanh khép lại, không khí bị nén ở hạ thanh môn sẽ đè vào dây thanh làm hé mở thanh môn, một ít không khí thoát lên họng, nhưng dây thanh lại khép trở lại do sự giảm áp lực

và sự đàn hồi của dây thanh hay nói đúng hơn là của cơ căng như cơ giáp phễu, nhẫn giáp Áp lực tăng lên trở lại, thanh môn lại hé ra và chu kỳ cứ thế tiếp diễn đến khi không còn không khí để tạo áp lực ở hạ thanh môn

Tiếng nói lớn hay nhỏ tuỳ theo biên độ rung của dây thanh tức là tuỳ theo áp lực của không khí ở hạ thanh môn Giọng cao hay thấp tuỳ thuộc độ căng của dây thanh hay chính là độ căng của cơ giáp phễu

1.3.2 Giả thuyết dao động thần kinh của Husson (1950)

Theo Husson, sự khép thanh môn và sự rung động của dây thanh là hai tác động sinh lý khác nhau, dây thanh có thể rung độc lập không cần có sự khép của thanh môn Dây thanh rung là do luồng thần kinh tác động vào các

bó cơ của cơ giáp phễu, cơ sẽ co theo nhịp kích thích của các xung động thần kinh của dây hồi quy

Thuyết Husson nói lên một phần của cơ chế phát âm chứ chưa giải thích hết được các hiện tượng sinh lý Như ở bệnh nhân đã được mở khí quản, khi họ phát âm, thanh đai có rung động nhưng không thành tiếng

1.3.3 Giả thuyết rung sóng niêm mạc của Perello – Smith.

Trang 16

Hai giả thuyết trên có nhiều nhược điểm và có chỗ không phù hợp với thực tế nên người ta đề ra giả thuyết thứ ba dựa vào sự rung sóng của niêm mạc dây thanh.

Người ta đã phát hiện ra được sự thay đổi trên niêm mạc dây thanh khi phát âm Sức hút của luồng không khí thoát qua thanh môn tạo ra những làn sóng niêm mạc dọc theo bờ tự do của hai dây thanh Những sóng này đi từ mặt dưới lên mặt trên của dây thanh Chúng ta có thể ví hiện tượng này với hiện tượng gợn sóng trên ruộng mạ khi gió thổi

Những thương tổn trên niêm mạc hoặc dưới niêm mạc đều ảnh hưởng đến phát âm vì nó làm trở ngại sự rung sóng niêm mạc Ngược lại sự phát âm không đúng cách cũng dẫn đến những tổn thương trên niêm mạc thanh quản

1.3.4 Thuyết của Louis Sylvestre và Mac Leod.

Theo Sylvestre và Leod, cơ dây thanh thuộc loại cơ không phối nhịp và hoạt động theo kiểu dao động con lắc hay âm thoa khi duy trì một biến thiên diện thế trên màng sợi cơ Các biến thiên điện thế sẽ do dây quặt ngược mang tới Tần số rung động này không phụ thuộc vào tần số kích thích của dây quặt ngược mà phụ thuộc vào khối lượng và tính chất đàn hồi của dây thanh nên dây thanh ở người có thể rung động tới những âm tần cao Trong phát âm tần

số trầm, toàn bộ dây thanh rung động và có độ căng vừa phải, trong phát âm tần số cao, chỉ một phần dây thanh phía trước rung động, độ căng dây thanh rất lớn

1.3.5 Thuyết cơ đàn hồi – khí động học.

Gần đây, người ta đã chấp nhận thuyết cho rằng sự tương tác giữa áp lực khí động học và các đặc tính cơ học của tổ chức thanh quản tạo nên âm thanh Quá trình tạo thanh bình thường cần 5 yếu tố :

Trang 17

• Luồng hơi đầy đủ : đây là nguồn cung cấp năng lượng cho quá trình phát âm

• Hoạt động đóng của dây thanh

• Đặc tính rung của dây thanh

• Cấu trúc bề mặt của dây thanh

• Sự điều chỉnh chiều dài và độ căng của dây thanh

Quá trình tạo âm bắt đầu bằng việc hít vào, sau đó dây thanh đóng lại,

vị trí của dây thanh ở gần đường giữa Tiếp theo là thì thở ra làm tăng áp lực

hạ thanh môn, khi áp lực tăng đủ để đẩy dây thanh ra hai bên, tạo nên sự giảm

áp lực đột ngột ở hạ thanh môn Dây thanh lại được đưa trở về vị trí đường giữa do các yếu tố: sự giảm áp lực hạ thanh môn, lực đàn hồi của dây thanh

và hiệu ứng Bernoulli của luồng hơi Khi dây thanh trở về đường giữa, áp lực trong khí quản lại tăng và chu kỳ lại được lặp lại

Tiếng nói do thanh quản phát ra chưa hoàn chỉnh, nó cần phải đi qua các bộ phận cộng hưởng và cấu âm như họng, mũi, xoang, miệng, môi, lưỡi mới có những âm sắc đặc hiệu cho từng cá nhân

1.4 RỐI LOẠN GIỌNG CĂNG CƠ[2]

1.4.1 Nguyên nhân

1.4.1.1 Lạm dụng giọng nói

Bao gồm các hành vi nói nhiều, nói liên tục, nói to, nói gắng sức, la hét, nói hoặc hát các cao độ không phù hợp với âm vực của bản thân, hắng giọng,

ho theo thói quen

1.4.1.2 Kỹ thuật phát âm không hợp lý

Trang 18

- Một số cá nhân có xu hướng nói nhiều, nói to, sử dụng nhiều nỗ lực hơn mức cần thiết trong lời nói

- Một số ví dụ về kỹ thuật phát âm sai gồm: không lấy hơi khi nói, không phối hợp hơi thở tốt khi nói, nói câu dài mà không đủ hơi, nói to mà không đủ hơi, dùng sức để nói mà không lấy hơi, nói mạnh đột ngột, nói thầm, tư thế không thoải mái khi nói

1.4.1.3 Trào ngược dạ dày - thực quản

Trào ngược gây cường năng thanh quản qua hai cơ chế:

+ Tăng trương lực cơ thanh quản thông qua phản xạ dây X

+ Gây co thắt và kích thích thanh quản, góp phần làm bệnh nhân có cách phát âm sai

1.4.1.4 Các yếu tố tâm lý - xã hội

Khác với bệnh Rối loạn giọng do căn nguyên tâm lý có sự không tương xứng giữa đặc điểm giọng nói và hình thái thanh quản, xuất hiện đôt ngột sau 1 sang chấn tâm lý nặng.RLGCC thường gặp trên các bệnh nhân có các trạng thái tâm lý tiêu cực như dễ bị kích động, căng thẳng, lo lắng, sợ hãi, bi quan Các bệnh nhân này thường gặp nhiều khó khăn khi đối phó với các vấn đề của cuộc sống hoặc với stress

1.4.1.5 Cơ chế bù trừ

Viêm nhiễm đường hô hấp thường là nguyên nhân chính gây tình trạng phát âm bù trừ, dẫn đến sự căng cơ thanh quản không hồi phục Ngoài ra, tình trạng giọng yếu, giọng có chất lượng không tốt…cũng thường là nguyên nhân làm cho bệnh nhân có xu hướng cố phát âm bù trừ và đưa đến RLGCC

Trang 19

+ Tăng lực khép dây thanh khi phát âm, tăng thời gian đóng (closed phase), từ đó ảnh hưởng đến chất lượng giọng.

+ Rối loạn phối hợp hơi thở trong phát âm, làm giảm tính hiệu quả trong rung động dây thanh

1.4.3 Phân loại

- Năm 2001, Mathieson xếp RLGCC nằm trong nhóm rối loạn giọng cơ năng gồm: rối loạn giọng căng cơ, rối loạn giọng do căn nguyên tâm thần, và rối loạn giọng tuổi dậy thì [2]

- Năm 2006, Verdolini và cộng sự [1] đưa ra bảng phân loại các bệnh giọng - thanh quản RLGCC được phân loại trong nhóm 8010: Rối loạn giọng

do căng cơ, hay do cường chức năng phát âm

1.4.4 Tổng quan các triệu chứng lâm sàng

1.4.4.1 Triệu chứng cơ năng

- Theo các nghiên cứu của Morrison và cộng sự [3,5], triệu chứng nổi bật của RLGCC là chất giọng nghẹt và chất giọng thở

Trang 20

- Theo Koufman và Blalock [10], RLGCC biểu hiện bằng hội chứng mệt mỏi giọng mạn tính, biểu hiện bằng giọng khàn hoặc chất giọng thở, tăng nỗ lực khi phát âm, khó điều khiển giọng nói Không bao giờ có mất giọng hoàn toàn.

- Năm 1999, Morrison và cộng sự [11] cho rằng RLGCC gây tình trạng thanh quản bị kích thích, với cảm giác ngứa trong họng, cảm giác khô rát, như

có đờm, vướng hoặc kim châm trong họng Có thể ho khan

- Ngoài ra, theo các đánh giá khác của Morrison và cộng sự [3, 4], ở các bệnh nhân RLGCC có hiện tượng thanh quản bị kéo lên cao khi phát âm

Trang 21

- Nguyễn Duy Dương [8]nhận thấy RLGCC làm giảm sự biến đổi tần số

cơ bản ( fundamental frequency ) của một số thanh điệu, ảnh hưởng đến chức năng truyền đạt thông tin ngữ nghĩa của thanh điệu

1.4.6 Chẩn đoán

1.4.6.1 Chẩn đoán xác định[2,3]

- Tiền sử lạm dụng giọng nói Biểu hiện bằng 1 hoặc nhiều hành vi bao gồm nói to, nói nhiều, nói liên tục, nói gắng sức, la hét, nói hoặc hát các cao

độ không phù hợp với âm vực của bản thân, hắng giọng, ho theo thói quen

- Rối loạn giọng nói: rối loạn cao độ, âm vực, xuất hiện chất giọng bất thường như giọng khànthô, giọng nghẹt, giọng thở

- Hội chứng mệt mỏi giọng mạn tính: nói hụt hơi, mau mệt, nhanh bị khàn, giọng tồi đi về cuối ngày

- Hội chứng cường năng thanh quản:

• Chất giọng nghẹt; phải gắng sức khi nói

• Tăng trương lực cơ cổ, cơ trên móng khi phát âm

• Tầng trên thanh môn có tình trạng co kéo bên và co kéo trước sau

• Rối loạn hoạt động dây thanh: Sóng niêm mạc hạn chế hoặc mất, dây thanh khép không kín khi phát âm tạo nên khe hở thanh môn sau hoặc khe hở hình thoi

- Không có tổn thương cấu trúc niêm mạc dây thanh

1.4.6.2 Chẩn đoán phân biệt

- Rối loạn giọng do căn nguyên tâm lý[14]: Bệnh có thể xảy ra trên người không có tiền sử lạm dụng giọng nói với 3 đặc điểm chính: Bệnh xuất hiện đột ngột sau một sang chấn tâm lý, diễn biến bệnh thay đổi tùy theo diễn

Ngày đăng: 22/04/2017, 17:10

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
11. Morrison M, Rammage L, Emami AJ (1999). The irritable larynx syndrome. J Voice. 13(3):447-55 Khác
12. Klingholz F, Martin F (1983), Speech wave aperiodicities at sustained phonation in functional dysphonia. Folia Phoniatr (Basel). 35(6):322-7 Khác
13. Jilek C, Marienhagen J, Hacki T (2004), Vocal stability in functional dysphonic versus healthy voices at different times of voice loading. J Voice. 18(4):443–53 Khác
14. Sapir S (1995), Psychogenic spasmodic dysphonia: a case study with expert opinions. J Voice. 9(3):270-81 Khác
15. Langeveld TP, van Rossum M, Houtman EH, Zwinderman AH, Briaire JJ (2001), Baatenburg de Jong RJ. Evaluation of voice quality inadductor spasmodic dysphonia before and after botulinum toxin treatment. Ann Otol Rhinol Laryngol.;110(7 Pt 1):627-34 Khác
16. Walker FO (1997), Voice fatigue in myasthenia gravis: the sinking pitch sign. Neurology,48(4):1135-6 Khác
17. Võ Tấn (1974),Giải phẫu họng. Tai mũi họng thực hành tập I. NXB Y học. 148-151 Khác
18. Võ Tấn (1989), Tai mũi họng thực hành tập III. NXB Y học Hà Nội Khác
19. Nguyễn Quang Quyền (2001). Atlat giải phẫu thanh quản,NXB y học. tr:85-88 Khác
21. Nhan Trừng Sơn (2008), Giải phẫu ứng dụng và sinh lý họng thanh quản, khí, phế quản. Tai Mũi Họng quyển 2.NXB Y Học..Tr: 211-252 Khác
22. Nguyễn Duy Dương, Nguyễn Tấn Quang, Phạm Tiến Dũng (2013), Hình thái tổn thương của rối loạn giọng căng cơ qua soi hoạt nghiệm thanh quản. Tạp chí Tai Mũi Họng Việt Nam.Số 5 tháng 10/2013 Khác
23. Baken, R.J. and R.F. Orlikoff. Clinical Measurement of Speech and Voice. Second edition. San Diego, CA: Singular Publishing Group; 2000 Khác
24. Lương Thị Minh Hương (2004), Nghiên cứu chẩn đoán và điều trị viêm thanh quản do nấm. Luận án tiến sỹ y học.Trường Đại Học Y Hà Nội Khác
25. Phạm Tuấn Cảnh (2007), Phục hồi chức năng phát âm sau cắt thanh quản toàn phần bằng Prosthesis khí – thực quản loại Provox. Luận án tiến sỹ y học.Trường Đại Học Y Hà Nội Khác
26. Phạm Thị Ngọc (2010) Nghiên cứu bệnh giọng nghề nghiệp ở giáo viên tiểu học tại huyện Đông Anh – Thành Phố Hà Nội và đề xuất các giải pháp can thiệp. Luận án tiến sỹ y học. Trường Đại Học Y Hà Nội Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1:  Khung sụn thanh quản[19] - NGHIÊN cứu đặc điểm lâm SÀNG, HOẠT ĐỘNG THANH QUẢN QUA SOI HOẠT NGHIỆM và kết QUẢ PHÂN TÍCH âm của rối LOẠN GIỌNG CĂNG cơ
Hình 1.1 Khung sụn thanh quản[19] (Trang 5)
Hình 1.2:Các sụn và màng thanh quản[21] - NGHIÊN cứu đặc điểm lâm SÀNG, HOẠT ĐỘNG THANH QUẢN QUA SOI HOẠT NGHIỆM và kết QUẢ PHÂN TÍCH âm của rối LOẠN GIỌNG CĂNG cơ
Hình 1.2 Các sụn và màng thanh quản[21] (Trang 8)
Hình 1.3: Các cơ thanh quản[19] - NGHIÊN cứu đặc điểm lâm SÀNG, HOẠT ĐỘNG THANH QUẢN QUA SOI HOẠT NGHIỆM và kết QUẢ PHÂN TÍCH âm của rối LOẠN GIỌNG CĂNG cơ
Hình 1.3 Các cơ thanh quản[19] (Trang 9)
Hình 1.4: Các lớp của dây thanh - NGHIÊN cứu đặc điểm lâm SÀNG, HOẠT ĐỘNG THANH QUẢN QUA SOI HOẠT NGHIỆM và kết QUẢ PHÂN TÍCH âm của rối LOẠN GIỌNG CĂNG cơ
Hình 1.4 Các lớp của dây thanh (Trang 10)
Hình 1.5: Thần kinh và hệ bạch huyết thanh quản[21] - NGHIÊN cứu đặc điểm lâm SÀNG, HOẠT ĐỘNG THANH QUẢN QUA SOI HOẠT NGHIỆM và kết QUẢ PHÂN TÍCH âm của rối LOẠN GIỌNG CĂNG cơ
Hình 1.5 Thần kinh và hệ bạch huyết thanh quản[21] (Trang 13)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w