Công ước này quy định: “các thỏa thuận trọng tài được giao kết với mục đích giải quyết các tranh chấp phát sinh trong thương mại quốc tế giữa các thể nhân hay pháp nhân, khi xác lập thỏ
Trang 1Tiểu luận: Thông lệ trọng tài Quốc tế
TIỂU LU ẬN THÔNG L Ệ TRỌNG TÀI QU ỐC T Ế
Trang 2MỤC LỤC
CÁC LÝ THUYẾT CHUNG 4
I TRỌNG TÀI QUỐC TẾ 4
1 Các khái niệm 4
2 Nguyên Tắc Trọng Tài: 5
3 Đặc điểm 6
4 Phân loại 9
5 Ưu điểm và nhược điểm của phương pháp trọng tài 10
6 Sự khác biệt giữa trọng tài quốc tế với tòa án và trọng tài nội địa 11
II GIỚI THIỆU LUẬT MẪU VỀ TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ (UNCITRAL MODEL LAW 1985) 13
1 Giới thiệu về UNCITRAL (United Nations Commission On International Law) 13
2 Luật mẫu về Trọng tài Thương mại quốc tế (UNCITRAL MODEL LAW) 14
III LUẬT TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI VIỆT NAM 2010 20
1 Lịch sử hình thành 20
2 Tóm tắt nội dung 21
3 Thực tiễn áp dụng phương thức giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài thương mại ở việt nam và nguyên nhân giải pháp khắc phục: 31
IV NGHỊ ĐỊNH QUY ĐỊNH CHI TIẾT VÀ HƯỚNG DẪN THI HÀNH MỘT SỐ ĐIỀU CỦA LUẬT TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI ; NGHỊ QUYẾT THẨM PHÁN 01/2014/NQ-HĐTP BAN HÀNH 30/03/2014 HƯỚNG DẪN THI HÀNH MỘT SỐ QUY ĐỊNH LUẬT TTTM VỀ THẨM QUYỀN, TRÌNH TỰ, THỦ TỤC TỐ TỤNG CỦA TÒA ÁN ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG TRỌNG TÀI 33
1 Một số thuật ngữ 33
2 Quy tắc tố tụng VIAC 2017 33
3 Kết luận 34
HỎI ĐÁP 35
PHỤ LỤC 45
KẾT THÚC VẤN ĐỀ 117
TÀI LIỆU THAM KHẢO 118
Trang 3Tiểu luận: Thông lệ trọng tài Quốc tế
ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong thời đại kinh tế thị trường hiện nay, khi các doanh nghiệp ngày càng có điều kiện được thành lập với nhiều hình thức khác nhau và trong nhiều ngành nghề khác nhau thì việc liên kết, hợp tác hay cạnh tranh ngày càng trở nên phổ biến Bên cạnh những hợp đồng hợp tác, những giao kết “ thuận buồm xuôi gió” vẫn còn tồn tại những mâu thuẫn, bất đồng, thậm chí vi phạm quyền lợi lẫn nhau giữa các doanh nghiệp Từ đó gây ra thiệt hại cho các bên
và cho cả nền kinh tế thị trường Do tính chất thường xuyên cũng như hậu quả mà nó gây ra cho các chủ thể tham gia tranh chấp nói riêng và cho cả nền kinh tế nói chung, pháp luật Việt Nam cũng đã sớm có những quan tâm nhất định đến hoạt động này, cũng như các phương thức giải quyết nó thể hiện thông qua các quy định cụ thể trong nhiều văn bản luật Chính vì vậy, thuật ngữ” tranh chấp thương mại” đã là thuật ngữ quen thuộc trong đời sống kinh tế xã hội ở các nước trên thế giới và mới được sử dụng ở nước ta trong những năm gần đây
Trọng tài thương mại là một trong bốn hình thức cơ bản để giải quyết tranh chấp thương mại được quy định ở hầu hết các nước trên thế giới cũng như ở Việt Nam Khi phát sinh tranh chấp, doanh nghiệp được lựa chọn tổ chức trọng tài, địa điểm, ngôn ngữ, thời gian tiến hành các hoạt động tố tụng của trọng tài Ngoài ra việc xét xử bằng hình thức trọng tài còn được giữ bí mật cho các chủ thể tham gia tranh chấp, đảm bảo uy tín của các chủ thể và có tính minh bạch trong xét xử Cuối cùng, quyết định của trọng tài có hiệu lực chung thẩm và có hiệu lực cưỡng chế ngay
Tuy việc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thượng mại có nhiều ưu điểm nổi trội, song hình thức này vẫn chưa được phổ biến ở nước ta hiện nay Tại sao vậy? Bài tiểu luận dưới đây xin được phân tích và giới thiệu rõ hơn về ấn đề “ Trọng tài thương mại_một hình thức giải quyết tranh chấp thương mại trong kinh doanh”
Trang 4vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại, và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác
a) Thương mại quốc tế:
Thương mại quốc tế là hoạt động thương mại có yếu tố nước ngoài
Các yếu tố nước ngoài trong thương mại quốc tế được xác định qua ba dấu hiệu: chủ thể trong quan hệ thương mại là các bên có quốc tịch khác nhau hoặc có trụ sở ở các nước khác nhau;
sự kiện làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quan hệ thương mại xảy ra ở nước ngoài; và đối tượng của quan hệ thương mại như hàng hóa, dịch vụ, hoặc các đối tượng khác ở nước ngoài
Và tất nhiên, trong các hoạt động thương mại, cụ thể về buôn bán, trao đổi hàng hóa, trao đổi công nghệ hay bất kỳ lĩnh vực nào cũng không thể tránh khỏi những mâu thuẫn, tranh chấp diễn ra giữa các bên đối tác Tranh chấp thương mại được hiểu chính là tranh chấp phát sinh do không thực hiện hoặc thực hiện không đúng các thỏa thuận trong hoạt động thương mại quốc tế Bao gồm các hoạt động sau: mua bán hàng hoá; cung ứng dịch vụ; phân phối; đại diện, đại lý; tư vấn, kỹ thuật; vận chuyển hàng hoá,…
Vì thế các bên cần tìm đến một phương án giải quyết phù hợp, đảm bảo công bằng và lợi ích các bên Một trong số các phương án giải quyết hiệu quả hiện nay là Trọng Tài Thương Mại
b) Trọng tài
Tro ng ta i Arbitration va cu the hơn la tro ng ta i thương ma i Commercial Arbitration la phương thư c gia i quye t tranh cha p ca c tranh cha p kinh doanh, thương ma i thuo c thẩm quyền giải quyết bằng trọng tài theo quy định tại Điều 2 Luật Trọng tài thương mại 2010 do các bên thỏa thuận, có thể được sử dụng thay thế cho phương thức giải quyết tranh chấp truyền thống bằng Tòa án
b) Trọng tài Thương mại Quốc Tế:
Theo Luật mẫu về Trọng tài thương mại quốc tế ngày 21/6/1985 của UNCITRAL thì
trọng tài sẽ mang tính chất quốc tế khi:
Trang 5Tiểu luận: Thông lệ trọng tài Quốc tế
Vào thời điểm giao kết thỏa thuận trọng tài, các bên có trụ sở kinh doanh ở các nước khác nhau hoặc;
Một trong những yếu tố sau đây ở ngoài lãnh
thổ nơi các bên có trụ sở kinh doanh: nơi xét xử trọng
tài hoặc nơi thực hiện phần chủ yếu của nghĩa vụ trong
quan hệ thương mại hoặc nơi có quan hệ mật thiết với
nội dung tranh chấp hoặc;
Các bên đã thỏa thuận rõ ràng là nội dung chủ
yếu của thỏa thuận trọng tài liên quan đến ít nhất là
hơn một nước
Như vậy, trọng tài thương mại quốc tế là
phương thức giải quyết tranh chấp phát sinh từ các
quan hệ tư pháp quốc tế, nhất là các quan hệ thương mại quốc tế mà pháp luật cho phép giải quyết được bằng trọng tài Theo phương thức này, các bên nhất trí thỏa thuận với nhau sẽ đưa vụ tranh chấp ra giải quyết tại một cơ quan trọng tài nhất định nào đó
Gồm 4 nguyên tắc:
a) Nguyên tắc thỏa thuận:
Thỏa thuận trọng tài là thỏa thuận giữa các bên về việc giải quyết bằng trọng tài các
vụ tranh chấp có thể phát sinh hoặc đã phát sinh trong hoạt động thương mại Như vậy các bên có thể có thỏa thuận trọng tài trước khi có tranh chấp hoặc sau khi có tranh chấp Nguyên tắc chung là “không có thỏa thuận giải quyết bằng phương thức trọng tài không có tố tụng trọng tài” Điều đó có nghĩa rằng, trọng tài chỉ có thẩm quyền giải quyết tranh chấp khi được các bên chọn bằng một thỏa thuận trọng tài
Nguyên tắc này được thể hiện rõ nhất trong quá trình tố tụng trọng tài, đó là việc các bên thỏa thuận chọn địa điểm trọng tài, ngôn ngữ trọng tài, thời gian trọng tài…
b) Nguyên tắc trọng tài viên phải độc lập khách quan vô tư khi giải quyết tranh chấp:
Sự độc lập của trọng tài viên thể hiện ở việc trọng tài viên không có lợi ích trực tiếp hoặc lợi ích liên quan trong vụ tranh chấp, không chịu sự chi phối của bất kì cơ quan, tổ chức
cá nhân nào khi giải quyết tranh chấp
Tuy nhiên, ngoài việc độc lập, khách quan, vô tư, căn cứ vào pháp luật để giải quyết tranh chấp thì trọng tài viên còn cần phải tôn trọng sự thỏa thuận của các bên
c) Nguyên tắc giữ bí mật nội dung vụ việc tranh chấp:
Trang 6Một trong các lý do để các bên đương sự lựa chọn trọng tài đó là bảo đảm tính bí mật của tranh chấp Do vậy, các trọng tài viên không được phép tiết lộ nội dung của tranh chấp khi không được các bên đồng ý Ngoài ra, nguyên tắc này còn được thể hiện ở việc sẽ không có người ngoài được tham dự vào phiên xét xử trọng tài nếu các đương sự không cho phép
d) Nguyên tắc chung thẩm:
Khi Hội đồng trọng tài công bố quyết định trọng tài, quyết định trọng tài có hiệu lực thi hành ngay, các bên không có quyền kháng cáo, cũng như không tổ chức nào có quyền kháng nghị
Khi xem xét yêu cầu hủy quyết định trọng tài, tòa án cũng không có quyền xét lại Nguyên tắc này có nguồn gốc từ bản chất của tố tụng trọng tài là nhân danh ý chí tối cao và quyền tự định đoạt của các đương sự Các đương sự đã tín nhiệm và lựa chọn người phán quyết, do vậy họ phải thực hiện phán quyết mà người này đưa ra
Vậy câu hỏi đặt ra: Nếu có căn cứ cho rằng trọng tài viên có thể hoặc không độc lập, vô
tư khi thực hiện nhiệm vụ thì sao? Hoặc một trong các bên tranh chấp không tuân thủ quyết định trọng tài?
Nếu trọng tài viên không công minh trong xét xử trọng tài viên đó có thể sẽ bị thay thế Còn nếu trong trường hợp trọng tài đã đưa ra quyết định thì quyết định đó sẽ bị tòa án tuyên hủy còn trường hợp quyết định của trọng tài là đúng đắn nhưng các bên không chấp nhận tuân thủ thì bên còn lại có quyền đưa ra Tòa Án nhờ can thiệp theo quy tắc chung thẩm thì toàn án không giải quyết lại mà chỉ áp dụng pháp luật để khiến các bên phải thi hành theo quyết định trọng tài
Kết quả của việc giải quyết tranh chấp thương mại tại trọng tài thương mại là phán quyết do trọng tài tuyên bố đối với các đương sự của vụ tranh chấp
b) Đặc trưng trọng tài quốc tế
Trọng tài quốc tế là một hình thức giải quyết tranh chấp lai Nó bắt đầu bằng một thỏa thuận tư giữa các bên Nó tiếp tục bắt đầu bằng các thủ tục tư, trong đó ý chí các bên có ý nghĩa đặc biệt quan trọng Tuy nhiên, nó chấm dứt với một phán quyết có hiệu lực pháp lý bắt
Trang 7Tiểu luận: Thông lệ trọng tài Quốc tế
buộc và, dựa trên những điều kiện thích hợp, tòa án của hầu hết các quốc gia xét công nhận và
cho thi hành
Dưới đây là các đặc trưng cơ bản của trọng tài quốc tế:
Thuật ngữ “quốc tế” được sử dụng để phân biệt sự khác nhau giữa các vụ trọng tài thuần túy trong nước với các vụ trọng tài ở một phương diện nào đó, vượt qua biên giới quốc gia và được gọi là quốc tế Có hai tiêu chí chủ yếu được sử dụng hoặc riêng rẽ, hoặc kết hợp để định nghĩa thuật ngữ “quốc tế”:
Tiêu chí thứ nhất là bản chất của tranh chấp
Quy tắc tố tụng hiện hành của ICC xác định chức năng của Trọng tài quốc tế ICC là
“tiến hành giải quyết các tranh chấp bằng trọng tài các tranh chấp kinh doanh có tính chất
quốc tế phù hợp với quy tắc này” Không có định nghĩa cụ thể về “tranh chấp kinh doanh có tính chất quốc tế” trong quy tắc này nhưng cuốn sách phát hành giải thích bởi ICC đã xác định:
“…bản chất quốc tế của trọng tài không có nghĩa là các bên phải khác quốc tịch với nhau Bởi vì
đối tượng của nó, hợp đồng tuy nhiên có thể mở rộng ra ngoài biên giới quốc gia, ví dụ khi một hợp đồng được giao kết giữa hai công dân của cùng một quốc gia nhưng để thực hiện hợp đồng
đó ở một quốc gia khác, hoặc khi hợp đồng được giao kết giữa một nhà nước với công ty con của một công ty nước ngoài kinh doanh tại quốc gia đó”
Tiêu chí thứ hai nhấn mạnh vào các bên, hoặc là quốc tịch hoặc nơi thường trú
Tiêu chí này xem xét quốc tịch, nơi thường trú hoặc trụ sở thương mại của các bên trong thỏa thuận trọng tài Đây là cách tiếp cận được chấp nhận trong Công ước châu Âu
1961 Công ước này quy định: “các thỏa thuận trọng tài được giao kết với mục đích giải quyết
các tranh chấp phát sinh trong thương mại quốc tế giữa các thể nhân hay pháp nhân, khi xác lập thỏa thuận có nơi thường trú hoặc trụ sở ở các quốc gia khác nhau”
Thụy Sỹ cũng là một ví dụ về một nước mà quốc tịch các bên xác định trọng tài có phải
là quốc tế hay không Ngoài ra, tiêu chí “quốc tịch” cũng được sử dụng ở Anh và Mỹ
Tiêu chí kết hợp:
Việc không có một định nghĩa được thừa nhận trên bình diện quốc tế về tính “quốc tế” gây ra nhiều vấn đề Mỗi quốc gia sẽ có các tiêu chí riêng để xác định một phán quyết trọng tài
là quốc tế hay trong nước và do đó không có sự thống nhất Luật Mẫu được xây dựng chuyên
để áp dụng đối với trọng tài thương mại quốc tế Văn bản này có ý nghĩa lớn lao khi đưa ra định nghĩa về thuật ngữ “quốc tế” Theo Luật Mẫu thì Trọng tài là quốc tế nếu: Các bên tham gia thoả thuận trọng tài, tại thời điểm ký kết thoả thuận trọng tài đó, có trụ sở kinh doanh ở các nước khác nhau; hoặc một trong những địa điểm mà các bên có trụ sở kinh doanh sau đây được đặt ở ngoài quốc gia: Nơi tiến hành trọng tài nếu được xác định trong hoặc theo thoả
Trang 8thuận trọng tài; nơi mà phần chủ yếu của các nghĩa vụ trong quan hệ thương mại được thực hiện hoặc nơi mà nội dung tranh chấp có quan hệ mật thiết nhất; hoặc các bên đã thoả thuận
rõ rằng vấn đề chủ yếu của thoả thuận trọng tài liên quan đến nhiều nước
Có thể thấy, tiêu chí này đã kết hợp hai tiêu chí đã trình ở trên Đây là một quy định có ý nghĩa thống nhất các tiêu chí và định hướng cho các quốc gia khi quy định về tính “quốc tế” của trọng tài Trên thực tế, một vụ trọng tài cụ thể nào đó có phải là “quốc tế” hay không phụ thuộc nhiều vào quy định của luật quốc gia có liên quan
Một thỏa thuận giữa các bên đưa bất kỳ tranh
chấp hay sự mâu thuẫn nào giữa họ ra trọng tài là nền
tảng của của trọng tài quốc tế hiện đại Một trọng tài có
hiệu lực trước tiên phải có một thỏa thuận trọng tài có
hiệu lực
Điều này được thừa nhận bởi cả luật quốc gia và các
điều ước quốc tế Ví dụ, theo Công ước New York và
Luật Mẫu, việc công nhận và thi hành quyết định trọng
tài có thể bị từ chối nếu các bên của thỏa thuận trọng tài
không có năng lực ký kết, hoặc nếu thỏa thuận trọng tài
bị vô hiệu theo quy định của pháp luật điều chỉnh nó
Thỏa thuận trọng tài không chỉ là bằng chứng đồng thuận của các bên đưa tranh chấp
ra trọng tài và xác lập nghĩa vụ đưa tranh chấp ra trọng tài mà còn là nguồn quyền hạn cơ bản của hội đồng trọng tài Điều này có nghĩa là, một hội đồng trọng tài chỉ có thể thực hiện những quyền hạn do các bên có quyền trao và đã trao cho nó cùng với các quyền hạn bổ sung hay khác được trao bởi luật điều chỉnh trọng tài Như vậy, thỏa thuận trọng tài quyết định thẩm quyền của hội đồng trọng tài Thỏa thuận giữa các bên là nguồn duy nhất của thẩm quyền này không giống như trong thủ tục pháp lý thông thường nhờ đó các tranh chấp được giải quyết thông qua tòa án, thẩm quyền của tòa án liên quan có thể hình thành từ một số nguồn, trong
đó thỏa thuận giữa các bên đương sự chỉ là một nguồn
Giá trị pháp lý của thỏa thuận trọng tài không phụ thuộc vào việc nó được lập trước hay sau khi có tranh chấp cũng như nó là một điều khoản của hợp đồng hay một điều khoản độc lập, mà quan trọng là thỏa thuận đó phải được lập bởi những chủ thể có thẩm quyền, phải
là sự thống nhất ý chí của các bên, phải đáp ứng được các yêu cầu về hình thức và nội dung của thỏa thuận trọng tài
Trang 9Tiểu luận: Thông lệ trọng tài Quốc tế
Một trong các đặc trưng cơ bản để phân biệt trọng tài với tòa án là các bên trong tố tụng trọng tài có quyền tự do lựa chọn hội đồng trọng tài cho mình
Mặt khác, trọng tài viên trong một vụ trọng tài quốc tế cũng có những yêu cầu khác với trọng tài viên trong một vụ trọng tài thuần túy trong nước
Thực vậy, nếu hội đồng trọng tài gồm ba trọng tài viên thường đối với vụ tranh chấp lớn) thì mỗi trọng tài viên sẽ có một quốc tịch khác nhau và mỗi người trong số họ sẽ được trưởng thành từ những môi trường pháp lý khác nhau
Trong trọng tài quốc tế, quyết định của hội đồng trọng
tài về việc giải quyết tranh chấp giữa các bên (nếu không bị
tòa án hủy bỏ) sẽ có giá trị bắt buộc đối với các bên và nếu các
bên không tự nguyện thi hành có thể bị cưỡng chế thi hành
Đặc trưng này phân biệt trọng tài với các phương thức giải
quyết tranh chấp thông qua các thủ tục khác như thương
lượng hay hòa giải Bởi thỏa thuận cuối cùng về giải quyết
tranh chấp bằng thương lượng hay hòa giải luôn phải đảm
bảo được sự chấp nhận của cả hai bên
Một khi hội đồng trọng tài quốc tế đã ra phán quyết, nó đã hoàn thành chức năng của nó
và chấm dứt hoạt động Tuy nhiên, quyết định của hội đồng trọng tài đem đến những hậu quả pháp lý quan trọng và lâu dài Mặc dù nó là kết quả của một sự dàn xếp tư, quyết định trọng tài có giá trị ràng buộc các bên Nếu nó không được thi hành một cách tự nguyện, quyết định trọng tài sẽ được thi hành thông qua các thủ tục pháp lý – trên cả bình diện địa phương nơi phán quyết trọng tài được tuyên) và trên cả bình diện quốc tế
thành lập dưới dạng các trung tâm,
tổ chức hoặc hiệp hội, có cơ cấu tổ
chức chặt chẽ, có trụ sở cố định
Hầu hết các tổ chức trọng tài
đều có Quy tắc tố tụng trọng tài
riêng, một số có Danh sách trọng tài
Là hình thức trọng tài được lập
ra theo yêu cầu của các đương sự
để giải quyết một vụ tranh chấp cụ thể và tự giải thể khi tranh chấp đó
đã được giải quyết
Trọng tài đơn vụ có nghĩa là trọng tài không được tiến hành theo quy tắc của một tổ chức trọng
Trang 105 Ưu điểm và nhược điểm của phương pháp trọng tài
a) Ưu điểm
Trọng tài thương mại là phương thức giải quyết tranh chấp thương mại không mang ý chí quyền lực nhà nước mà chủ yếu được giải quyết dựa trên nền tảng ý chí tự định đoạt của các bên tranh chấp hoặc phán quyết của bên thứ ba độc lập theo thủ tục linh hoạt mềm dẻo, từ đó đảm bảo tối đa quyền định đoạt của các bên tranh chấp
Thủ tục giải quyết đơn giản, thuận tiện giúp cho việc giải quyết tranh chấp nhanh gọn, dứt điểm, hiệu quả
Phương thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mai còn đảm bảo tối
đa uy tín cũng như bí mật của các bên tranh chấp, góp phần củng cố và duy trì mối quan hệ hợp tác lâu dài giữa các bên
Việc xét xử bằng cơ chế trọng tài tuân theo nguyên tắc xét xử một lần nên quyết định của trọng tài thương mại có giá trị chung thẩm
Ngoài ra, giải quyết tranh chấp thương mại bằng hình thức trọng tài thương mại còn có một sô ưu điểm khác như: trình độ chuyên môn của trọng tài viên Trình độ của các trọng tài viên thường là tiến sĩ, thấp cũng là cao học và hầu hết đều được đào tạo ở nước ngoài ; tính độc lập trong tố tụng,…
b) Nhược điểm:
Thứ nhất, việc thực hiện các quyết định của trọng tài hoàn toàn phụ thuộc vào
ý thức tự nguyện của các bên Đối với các doanh nghiệp nước ngoài, uy tín của doanh nghiệp được đặt lên hàng đầu do đó việc họ tự giác thực hiện các quyết định của trọng tài khá cao Tuy nhiên, các doanh nghiệp trong nước hiện nay vẫn chưa coi trọng việc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài, nên vẫn chưa có ý thức tự giác
Thứ hai, trọng tài không phải cơ quan quyền lực nhà nước nên khi xét xử, trong trường hợp cần áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời nhằm đảm bảo chứng cớ, trọng
Trang 11Tiểu luận: Thông lệ trọng tài Quốc tế
tài không thể ra quyết định mang tính chất bắt buộc về điều đó mà phải yêu cầu tòa án thi hành các phán quyết trọng tài
Để hiểu một cách rõ ràng hơn về trọng tài quốc tế, nhóm làm bài đi phân tích sự khác nhau giữa trọng tài quốc tế với tòa án và trọng tài nội địa
a) Sự khác biệt giữa trọng tài quốc tế với tòa án
Ngôn ngữ Sử dụng ngôn ngữ quốc gia Các bên được lựa chọn ngôn
ngữ
Luật áp dụng
Áp dụng luật quốc gia là chủ yếu Các bên tự thỏa thuận về luật áp
dụng, luật cho nội dung tranh chấp, thỏa thuận trọng tài Địa điểm giải quyết
Điều này hạn chế hơn
Thời gian giải quyết
tranh chấp
Có thể bị trì hoãn nhiều lần vì tuân thủ quy tắc tố tụng cứng nhắc, phán quyết của tòa án có thể bị kháng cáo, kháng nghị nên thời gian giải quyết tranh chấp sẽ bị kéo dài thêm
Việc giải quyết tranh chấp có thể được tiến hành theo quy tắc tố tụng, tuy nhiên các bên có thể thỏa thuận tiến hành nhanh hơn Mặt khác, các phán quyết của trọng tài quốc tế có giá trị chung thẩm nên sau khi xét xử
có thể được thi hành ngay nên
sẽ tiết kiệm thời gian hơn
Đảm bảo uy tín, nội dung tranh chấp, danh tính các bên,
Trang 12 Nguyên nhân của sự khác biệt:
Tòa án là cơ quan trong hệ thống tư pháp của quốc gia nên khi tiến hành tố tụng nhân danh Nhà nước, thực hiện chủ quyền quốc gia trên lãnh thổ của mình; còn trọng tài quốc tế là
tổ chức mang tính tự nguyện, phi quyền lực công, nên phương thức giải quyết tranh chấp bằng Tòa án chặt chẽ, rườm rà vì phải tuân theo pháp luật quốc gia còn trọng tài có cơ chế giải quyết thoáng hơn, linh hoạt hơn, do ý chí và sự thỏa thuận của các bên liên quan
Mặt khác, các tranh chấp giải quyết bằng trọng tài quốc tế chủ yếu là các tranh chấp ngoại thương, kinh doanh thương mại nên cần sự nhanh gọn, linh hoạt, đảm bảo được lợi ích
tối đa của các bên, tránh thiệt hại về kinh tế
b) Sự khác biệt giữa trọng tài quốc tế với trọng tài nội địa
Điểm khác biệt cơ bản giữa trọng tài quốc tế và trọng tài nội địa là yếu tố “quốc tế” Hiện nay, thực tiễn cũng như lý thuyết trọng tài thường đề cập hai yếu tố chính, hoặc được sử
dụng riêng biệt, hoặc được sử dụng kết hợp để xác định tính chất quốc tế của trọng tài là tính
chất tranh chấp; quốc tịch của chủ thể tham gia tranh chấp và các yếu tố khác liên quan
Tính chất tranh chấp: nơi giao kết hợp đồng ở nước ngoài, nơi thực hiện hợp đồng ở nước ngoài, các bên tham gia hợp đồng ở các nước khác nhau…
Chủ thể tranh chấp: các bên có quốc tịch khác nhau hoặc trụ sở thương mại hoặc nơi
cư trú thường xuyên ở các quốc gia khác nhau Trên thực tế, để xác định một vụ trọng tài nào
đó là “quốc tế” hay “nội địa” còn phụ thuộc vào quy định của luật quốc gia có liên quan
từ đó củng cố, duy trì quan hệ hợp tác giữa các bên
Phạm vi thi hành
Phạm vi thi hành hẹp, bằng chứng là
có khá nhiều, các điều ước song phương, nhưng chưa có công ước quốc tế đa phương nào về thi hành bản án của tòa án
Phạm vi thi hành rộng, và được ghi nhận bởi công ước New York
về công nhận và thi hành các phán quyết của trọng tài nước ngoài gồm 146 thành viên là quốc gia và vùng lãnh thổ
Tính chuyên môn
Thành viên trong Tòa án không chuyên môn hóa cao, ít chuyên gia trong các lĩnh vực tranh chấp, nhất là các lĩnh vực mới như sở hữu trí tuệ, ngân hàng, ngọai thương,…
Có danh sách trọng tài viên uy tín, chuyên môn sâu và được các bên tin tưởng lựa chọn để giải quyết tranh chấp
Trang 13Tiểu luận: Thông lệ trọng tài Quốc tế
Tính quốc tế này được trình bày cụ thể, chi tiết hơn ở mục “Tính quốc tế của Trọng tài thương mại quốc tế”
MODEL LAW 1985)
Law)
UNCITRAL là cơ quan pháp lý chủ chốt của
Liên Hợp Quốc trên lĩnh vực Luật thương mại quốc
tế UNCITRAL được thành lập vào năm 1965, bằng
một Nghị quyết của Đại hội đồng Liên Hợp quốc
Vào thời điểm đó, Đại hội đồng cho rằng cần thiết
phải tạo ra các điều kiện thuận lợi cho việc phát
triển thương mại quốc tế vì lợi ích của các dân tộc
Đại hội đồng tin rằng những sự khác biệt trong luật
pháp của các quốc gia cản trở sự phát triển của
thương mại thế giới và do vậy, Đại hội đồng đã xác
định rằng Liên hiệp Quốc cần phải hoạt động tích
cực hơn để giảm bớt hoặc xóa bỏ các trở ngại pháp
lý tạo nên rào cản đối với thương mại quốc tế
c) Nhiệm vụ
Làm hiện đại hoá và hài hoà hoá hệ thống quy tắc trong thương mại quốc tế Thương mại đồng nghĩa với tăng trưởng kinh tế nhanh hơn, mức sống của người dân cao hơn, và nhiều cơ hội kinh doanh hơn Để mở rộng và tăng cường các cơ hội đó trên khắp thế giới, UNCITRAL đưa ra các quy tắc hiện đại, công bằng và hài hoà đối với các giao dịch thương mại, gồm có
Các quy ước, luật và quy tắc mẫu được chấp nhận trên toàn thế giới Các hướng dẫn về luật và pháp lý có ý nghĩa thực tế lớn
Các thông tin cập nhật về các case law và việc ban hành luật thương mại thống nhất Trợ giúp kĩ thuật cho các dự án cải cách, sử đổi luật
Hội nghị quốc gia và khu vực về vấn đề luật thương mại thống nhất
d) Các nhóm làm việc
Ủy ban đã thành lập sáu nhóm làm việc để thực hiện công việc chuẩn bị nội dung về các chủ đề trong chương trình làm việc của Ủy ban Mỗi nhóm làm việc bao gồm tất cả các nước thành viên của Ủy ban
Sáu nhóm làm việc và các chủ đề hiện tại của họ như sau
Trang 14Nhóm I - Các doanh nghiệp nhỏ, vừa và nhỏ
Nhóm II – Trọng tài và hòa giải
Nhóm III – Giải quyết tranh chấp trực tuyến
Nhóm IV - Thương mại điện tử
Nhóm V - Luật phá sản
Nhóm VI - Quyền lợi bảo mật
e) Các lĩnh vực hoạt động:
Trong đó có soạn thảo văn bản, bao gồm giải
quyết tranh chấp, trọng tài, hòa giải, thực tiễn về hợp
đồng thương mại quốc tế, vận chuyển, khả năng thanh
toán, thương mại điện tử, thanh toán quốc tế, hoạt
động bảo lãnh, hợp đồng công chính, thương mại điện tử, mua bán hàng hóa
Về trọng tài và hòa giải, có 3 văn bản quan trọng Văn bản thứ nhất là Công ước New York về công nhận và thi hành phán quyết của trọng tài nước ngoài năm 1958 Văn bản quan trọng thứ hai là Quy tắc tố tụng Trọng tài của UNCITRAL được soạn thảo năm 1967và văn bản thứ ba về trọng tài là Luật trọng tài mẫu của UNCITRAL
a) Lịch sử hình thành
Trên nền tảng của Công ước New York 1958, Uỷ ban Luật Thương mại quốc tế của Liên Hiệp quốc UN Commission on International Trade Law: UNCITRAL mong muốn phán quyết của một toà án trọng tài, dù hoạt động trọng tài đó tiến hành ở bất kỳ nơi nào trên thế giới, đều được các quốc gia thành viên Liên Hiệp quốc chấp nhận một cách toàn vẹn
Xuất phát từ ý chí đó, UNCITRAL đưa ra một khuôn mẫu về hoạt động trọng tài thương mại có thể áp dụng cho mọi quốc gia dưới hình thức một Bộ luật mẫu Model Law về trọng tài thương
Trang 15mại có tính cách khuyến nghị các quốc gia trên thế giới áp dụng để san bằng mọi sự khác biệt về luật trọng tài thương mại nhưng vẫn hướng đến một sự cân bằng thoả đáng về quyền và nghĩa vụ giữa các bên tranh chấp, duy trì sự tôn trọng uy quyền quốc gia
Vào cuối kỳ họp thứ mười tám ngày 21 tháng 6 năm1985, tại Viên, Mô hình Luật về Trọng tài Thương mại Quốc tế đã được thông qua bởi Ủy ban Liên hợp quốc về Luật Thương mại quốc tế UNCITRAL và sửa đổi tại phiên họp thứ 39 của Uỷ ban, ngàu 7 tháng 7 năm 2006 tại New York Bản dự thảo Luật mẫu 1985 tìm kiếm một sự cân bằng thoả đáng về quyền và nghĩa
vụ giữa ý chí của các bên tranh chấp cũng như các nguyên tắc mà họ tự nguyện chấp hành Với chủ trương như vậy, Luật mẫu UNCITRAL 1985 là một bộ luật khung bao gồm những điều khoản gợi ý và những nguyên tắc pháp lý mang tính thoả thuận tôn trọng vai trò của Luật pháp quốc gia tương ứng với hoạt động trọng tài thương mại quốc tế Bởi Luật Mẫu không có tính cách ràng buộc thi hành đối với các quốc gia đây chỉ là một Bản thoả thuận nguyên tắc mà Tổ chức Liên Hiệp Quốc bảo trợ Điều này cho ta hiểu Luật Mẫu là một hình thức Thoả ước lập pháp tính cách khuyến nghị áp dụng
Luật mẫu của UNCITRAL đã được sửa đổi vào năm 2006 về hai khía cạnh Khía cạnh thứ nhất là về thỏa thuận trọng tài, đặc biệt về hình thức của thỏa thuận trọng tài – Luật mẫu, phỏng theo Công ước New York, quy định rằng thỏa thuận trọng tài phải được lập bằng văn bản Định nghĩa này được coi là phù hợp hơn với các thực tiễn thương mại quốc tế và sự tiến bộ về công nghệ Nội dung thứ hai được sửa đổi liên quan đến các biện pháp khẩn cấp tạm thời do các biện pháp này được áp dụng ngày càng nhiều trong thực tiễn thương mại quốc tế Toàn bộ các văn bản của UNCITRAL về trọng tài gắn bó chặt chẽ với nhau Khi một quốc gia thông qua Luật mẫu
về trọng tài thì sự gắn bó chặt chẽ của luật này với Công ước New York là một vấn đề cốt yếu cần tính đến
b) Tinh thần của Luật mẫu UNCITRAL
Sự độc lập của hoạt động trọng tài
Điều 5 của Luật mẫu: “Những vấn đề chi phối bởi Luật này, không một Toà án nào được can thiệp ngoại trừ Toà án đã được luật này cho phép”
Luật mẫu yêu cầu hệ thống toà án tư pháp của các quốc gia phải từ chối thụ lý vụ tranh chấp nếu đã và sẽ có một Thoả ước Trọng tài giữa các bên tranh chấp, hoặc phải thông báo cho các bên tranh chấp biết được tinh thần của Luật mẫu về sự từ chối thụ lý của Toà án Toà án tư pháp chỉ can thiệp trong trường hợp một thoả ước trọng tài bị vô hiệu tuyệt đối tức là trường hợp một thoả ước trọng tài vi phạm những quy định về nội dung và vi phạm những quy định về hình thức; hoặc không có khả năng thi hành
Thẩm quyền hạn chế của Toà án tư pháp quốc gia sở tại
Trang 16Luật mẫu cho phép các toà án tư pháp quốc gia hoặc các cơ quan có thẩm quyền theo pháp chế của nước sở tại có thể can thiệp vào hoạt
động trọng tài với mục đích hỗ trợ và giám sát quá
trình tiến hành tố tụng trọng tài ở một mức độ hạn
chế tối đa trong những trường hợp đặt biệt Chẳng
hạn, Toà án chỉ có thể chỉ định Trọng tài viên khi các
bên tranh chấp không thống nhất về việc chọn trọng
tài viên, hoặc quyết định việc khước từ quyền xét xử
của một trọng tài viên còn gọi là hồi tỵ – challenge)
cũng như quyết định về việc khước từ quyền xét xử
của toàn bộ Hội đồng trọng tài
Toà án tư pháp cũng có thể hỗ trợ bằng cách
thực hiện những biện pháp bảo vệ tạm thời hoặc thu
thập chứng cứ
Đặc biệt, Toà án chỉ có thể có thẩm quyền rất
hạn chế trong việc ra tuyên bố huỷ bỏ một phán
quyết trọng tài theo đơn yêu cầu của một bên tranh chấp với điều kiện:
Phù hợp với quy định của Luật mẫu
Phù hợp với Công ước New York năm 1958
Toà án cũng có thể từ chối việc thừa nhận một phán quyết trọng tài hoặc không cho thi hành một phán quyết trọng tài với những điều kiện tương tự vừa kể trên
c) Các Nước Tham Gia:
Năm 1985, Ủy ban Luật Thương mại Quốc
tế của Liên Hợp quốc (UNCITRAL) ban hành Luật
Mẫu về Trọng tài Thương mại Quốc tế (sửa đổi
năm 2006 và Luật Mẫu này đã được trên 50 quốc
gia áp dụng Đặc biệt Singapore, Anh, Đức, Pháp,
Thụy Sĩ là các quốc gia có hoạt động trọng tài phát
triển bậc nhất thế giới
Nhiều quốc gia khác, nếu không áp dụng
nguyên Luật Mẫu, thì cũng ban hành các luật trọng
tài với nội dung tương tự hoặc tiến bộ hơn cả Luật
Mẫu nhằm cố gắng phát triển hoạt động trọng tài ở
quốc gia mình Dù dưới hình thức nào, luật trọng tài ở các nước cũng đều quy định một số nội
dung chính, mang tính thiết yếu để phát triển hoạt động trọng tài
d) Nguyên tắc và vai trò của Luật mẫu
Trang 17 Nguyên tắc
Các nguyên tắc lớn mà Luật mẫu đặt ra như sau:
Tính độc lập của thỏa thuận trọng tài, sự kiểm tra và hỗ trợ rất hạn chế của tòa án – dù sự phối hợp giữa các tòa án và trọng tài là cần thiết đối với một số chủ thể nhưng sự phối hợp đó phải rất hạn chế – thể hiện ở chỗ nếu các bên đã lựa chọn giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thì có nghĩa là họ không muốn tranh chấp sau đó sẽ được đưa ra tòa án giải quyết, không muốn tòa án can thiệp vào quá trình giải quyết tranh chấp bằng trọng tài
Nguyên tắc thứ hai là quyền của các bên được đối xử bình đẳng trong quá trình giải quyết tranh chấp bằng trọng tài
Nguyên tắc tiếp theo là sự thống nhất của hợp đồng chính không làm thỏa thuận trọng tài của hợp đồng đó vô hiệu
Cuối cùng là nguyên tắc “thẩm quyền về thẩm quyền”
Luật mẫu về trọng tài thương mại quốc tế được Uỷ ban Luật Thương mại Quốc tế của Liên hợp quốc (UNCITRAL) ban hành nhằm tạo ra một khuôn mẫu chung về hoạt động trọng tài thương mại, quy định rõ ràng quyền và nghĩa vụ các bên cũng như quy trình,thủ tục, nguyên tắc hoạt động tố tụng trọng tài
Phản ánh sự đồng thuận trên toàn thế giới về các nguyên tắc và các vấn đề quan trọng của thực tiễn trọng tài được các quốc gia ở tất cả các khu vực chấp nhận và các hệ thống pháp luật hoặc kinh tế khác nhau trên thế giới Vì vậy mà trên thế giới hiện nay có khoảng hơn 50 quốc gia thông qua Luật mẫu UNCITRAL về trọng tài thương mại quốc tế, trong khu vực châu Á, có nhiều nước như Singapore, Malaisia, Thái Lan, Nhật Bản Ở các nước này, đã phát triển các trung tâm trọng tài có quy mô khu vực Luật mẫu của UNCITRAL đã được nhiều khu vực thông qua, rất nhiều quốc gia thông qua Luật mẫu đã thành công
Mục đích của Luật mẫu là hài hòa hóa pháp luật của các quốc gia về trọng tài Luật mẫu này được thông qua vào năm 1985 để khắc phục những sự khác biệt rất lớn trong luật pháp quốc gia về trọng tài, giảm thiểu sự bất đồng giữa luật trọng tài được ban hành trong nước và luật của các quốc gia khác
Luật mẫu khẳng định sự cần thiết phải cải thiện và hài hòa hóa pháp luật quốc gia khi chúng ta nhận thấy rằng pháp luật quốc gia thường không thích hợp với lĩnh vực trọng tài thương mại quốc tế, và pháp luật quốc gia thường có những quy định đồng hóa tố tụng trọng tài với tố tụng tòa án, cũng như các quy định rải rác không điều chỉnh việc xử lý các tình huống cụ thể một cách thích hợp, trong khi đó Luật mẫu có thuận lợi là được biết đến rộng rãi, được bình luận rộng rãi trên bình diện quốc tế, đáp ứng các yêu cầu của trọng tài quốc tế, cũng như được nhiều nước chấp nhận
e) Nội dung
Trang 18Luật mẫu bao gồm tất cả các giai đoạn của quá trình tố tụng trọng tài từ thỏa thuận trọng tài, thành phần và thẩm quyền của hội đồng trọng tài và mức độ can thiệp của tòa án thông qua việc công nhận và thi hành phán quyết trọng tài
Luật mẫu gồm có 8 chương, 36 điều, cụ thể như sau
CHƯƠNG I: NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG CHƯƠNG II: THOẢ THUẬN TRỌNG TÀI CHƯƠNG III: THÀNH LẬP UỶ BAN TRỌNG TÀI CHƯƠNG IV: THẨM QUYỀN XÉT XỬ CỦA UỶ BAN TRỌNG TÀI CHƯƠNG V: HOẠT ĐỘNG TỐ TỤNG TRỌNG TÀI
CHƯƠNG VI: LẬP PHÁN QUYẾT VÀ CHẤM DỨT TỐ TỤNG CHƯƠNG VII: YÊU CẦU TOÀ ÁN BÁC PHÁN QUYẾT CỦA TRỌNG TÀI CHƯƠNG VIII: CÔNG NHẬN VÀ THI HÀNH
Luật mẫu áp dụng cho trọng tài thương mại quốc tế, theo bất kì thỏa thuận hiện hành nào giữa quốc gia này với quốc gia khác hoặc các quốc gia Điều 1) Luật này không ảnh hưởng đến luật khác của nước này với một số loại tranh chấp không thể giải quyết bằng trọng tài hoặc có thể đưa ra trọng tài theo những qui định khác với qui định của luật này Luật này định nghĩa "Trọng tài" là mọi hình thức trọng tài có hoặc không có sự giám sát của một tổ chức trọng tài thường trực; thêm vào đó, căn cứ khoản 3 điều 1, trọng tài là quốc tế nếu các bên tham gia thoả thuận trọng tài, tại thời điểm ký kết thoả thuận trọng tài đó, có trụ sở kinh doanh ở các nước khác nhau; nơi xét xử trọng tài hoặc nơi mà phần chủ yếu của các nghĩa vụ trong quan hệ thương mại được thực hiện ở ngoài quốc gia Thỏa thuận trọng tài
Thỏa thuận trọng tài là yếu tố không thể thiếu trong việc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài, bởi lẽ không có thỏa thuận trọng tài thì không thể có việc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài.Theo điều 7của Luật mẫu, "Thoả thuận trọng tài" là thoả thuận mà các bên đưa ra trọng tài mọi hoặc các tranh chấp nhất định phát sinh hoặc có thể phát sinh giữa các bên về quan hệ pháp lý xác định, dù là quan hệ hợp đồng hay không phải là quan hệ hợp đồng, có thể dưới hình thức điều khoản trọng tài trong hợp đồng hoặc dưới hình thức thoả thuận riêng, nhưng phải được lập bằng văn bản
Mặt khác, khoản 1 điều 16 có nhấn mạnh: Điều khoản trọng tài trở thành bộ phận của hợp đồng sẽ được coi là thoả thuận độc lập với các Điều khoản khác của hợp đồng Quyết định của ủy ban Trọng tài về hợp đồng bị vô hiệu không làm cho điều khoản trọng tài bị vô hiệu theo
Vì vậy, thỏa thuận trọng tài có hiệu lực độc lập với hợp đồng, trong cả trường hợp thỏa thuận trọng tài là một điều khoản của hợp đồng Dù thỏa thuận trọng tài được thể hiện dưới hình thức một điều khoản nằm trong hợp đồng chính hay dưới hình thức văn bản riêng đi kèm hợp đồng
Trang 19chính thì thỏa thuận trọng tài thực chất là một hợp đồng nhỏ có nội dung khác biệt và giá trị độc lập với hợp đồng chính
Các bên được tự do quyết định số lượng trọng tài viên, cũng như do thoả thuận về cách thức chỉ định trọng tài viên hoặc các trọng tài viên Nếu các bên không quyết định, số trọng tài viên sẽ là 3, mỗi bên sẽ chỉ định một trọng tài viên, và hai trọng tài viên được chỉ định sẽ bầu trọng tài viên thứ ba và không ai bị cản trở để thành trọng tài viên vì lý do quốc tịch, nếu các bên không có thoả thuận nào khác Điều 11
Điều 12 có quy định: Khi một người được chỉ định làm trọng tài viên thì phải công khai những hoàn cảnh gây ra những nghi ngờ về tính khách quan hoặc độc lập của mình Ngược lại, trọng tài viên có thể bị từ chối chỉ khi có hoàn cảnh đem lại sự nghi ngờ chí liên quan đến tính khách quan
và độc lập của trọng tài viên này hoặc khi anh ta không có đủ phẩm chất như các bên đã thoả thuận Ngoài ra, nếu một trọng tài viên không thể thực hiện nhiệm vụ của mình hoặc vì lý do nào
đó không thực hiện được, nhiệm vụ của trọng tài viên này chấm dứt nếu trọng tài viên đó rút khỏi ủy ban Trọng tài hoặc nếu các bên nhất trí với việc chấm dứt đó
Các bên phải được đối xử một cách công bằng và mỗi bên phải có cơ hội đầy đủ để trình bày về vụ kiện, các bên được tự do thỏa thuận về tố tụng mà ủy ban trọng tài phải thực hiện Về nơi tiến hành trọng tài, ngôn ngữ sử dụng trong tố tụng trọng tài các bên cũng tự thỏa thuận, nếu không có thỏa thuận sẽ được ủy ban trọng tài quyết định
Ủy ban trọng tài có thể quyết định về thẩm quyền xét xử của chính mình, kể cả những ý kiến phản đối về sự tồn tại hoặc giá trị pháp lý của thoả thuận trọng tài Ủy ban Trọng tài có thể theo yêu cầu của một bên buộc bất kỳ bên nào phải tiến hành biện pháp bảo vệ tạm thời khi ủy ban Trọng tài thấy cần thiết đối với nội dung tranh chấp và yêu cầu bất kỳ phía nào đưa ra sự bảo
đảm thích hợp về biện pháp trên
Ðối với những vấn đề do Luật này Điều chỉnh, không có Toà án nào sẽ can thiệp vào trừ khi những trường hợp được Luật này qui định Điều 5 Cụ thể, toà án hoặc cơ quan có thẩm quyền sẽ tiến hành chỉ định nếu các bên không cỉ định trọng tài viên trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu Khoản 3 điều 11 ; trong thủ tục từ chối trọng tài không thành công, bên từ chối có thể yêu cầu tòa án hoắc cơ quan có thẩm quyền can thiệp vào Điều 14
Việc yêu cầu toà án bác phán quyết của trọng tài chỉ có thể được tiến hành thông qua đơn yêu cầu toà án hủy bỏ phán quyết Tòa án có thể bác bỏ phán quyết trọng tài Theo luật của nước
đó, vấn đề nội dung tranh chấp không thể giải quyết bằng trọng tài được; hoặc phán quyết mâu thuẫn với chính sách công của quốc gia đó Điều 34)
Trang 20Ngoài ra, Ủy ban trọng tài hoặc một bên với sự đồng ý của ủy ban trọng tài có thể yêu cầu toà án
có thẩm quyền của Nước này trợ giúp thu thập chứng cứ Toà án có thể thực hiện yêu cầu đó trong phạm vi thẩm quyền của mình và theo nguyên tắc về thu thập chứng cứ Điều 27
III LUẬT TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI VIỆT NAM 2010
1 Lịch sử hình thành
Cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 nước ta đã có các tòa án thương mại và các quy tắc trọng tài trong luật tố tụng dân sự Tuy nhiên, do nhiều lý do và hoàn cảnh khác nhau, trọng tài chưa được biết đến và sử dụng một cách phổ biến
Năm 1963 và 1964 ở miền Bắc nước ta đã thành lập Hội đồng Trọng tài Ngoại thương và Hội đồng Trọng tài Hàng hải Vào những năm 70 của thế kỷ trước, một hệ thống các trọng tài kinh tế từ huyện, tỉnh đến Trung ương đã được thành lập để giải quyết tranh chấp giữa các xí nghiệp quốc doanh, các hợp tác xã Nhưng lúc bấy giờ, các trọng tài kinh tế thực chất là những cơ quan hành chính nhà nước có chức năng giải quyết tranh chấp giữa các xí nghiệp nhà nước mà chưa thực hiện được vai trò trọng tài như tên gọi của chúng Trong khi
đó Toà án nhân dân không có thẩm quyền giải quyết các loại tranh chấp này mà chỉ có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp dân sự giữa các cá nhân với nhau, chủ yếu là các vấn đề hôn nhân và gia đình hoặc tranh chấp liên quan đến hàng hoá có mục đích để sử dụng cá nhân và tiêu dùng Từ năm 1998, hệ thống Trọng tài kinh tế đã giải thể Việc giải quyết các tranh chấp kinh tế
từ đó đã được thực hiện bằng hai con đường: Toà kinh tế thuộc hệ thống Toà án nhân dân và các Trung tâm trọng tài kinh tế Để bảo đảm cơ sở pháp lý cho hoạt động của các Trung tâm Trọng tài thương mại thay cho hoạt động của các Trọng
tài kinh tế, ngày 25 tháng 02 năm 2003 Uỷ ban
Thường vụ Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh
Trọng tài thương mại, có hiệu lực thi hành từ
ngày 01 tháng 7 năm 2003
Pháp lệnh về cơ bản phù hợp với pháp luật
và thông lệ quốc tế trong việc điều chỉnh các vấn
đề chủ yếu của Trọng tài như quy định về hiệu
lực của thoả thuận trọng tài, điều kiện trở thành
Trọng tài viên, quy định về trọng tài vụ việc, mở
rộng thẩm quyền chọn trọng tài viên, ghi nhận mối quan hệ giữa Trọng tài và Toà án bằng một
Trang 21loạt các quy định cụ thể như hỗ trợ thi hành thỏa thuận trọng tài, chỉ định Trọng tài viên, giải quyết khiếu nại về thẩm quyền của Hội đồng trọng tài, áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, giải quyết yêu cầu huỷ quyết định trọng tài, lưu trữ hồ sơ trọng tài v.v…
Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm nói trên, Pháp lệnh Trọng tài thương mại dần dần bộc lộ không ít những hạn chế và bất cập cần được khắc phục bằng việc ban hành một đạo luật mới về trọng tài thương mại – Luật Trọng tài thương mại để thay thế Pháp lệnh Trọng tài thương mại
2003 trên cơ sở kế thừa những chế định tiến bộ, phù hợp với Pháp lệnh kết hợp với những quy định mới, hoàn chỉnh hơn
Chính vì vậy tại kỳ họp Quốc hội khóa XII (10/2009), dự thảo Luật Trọng tài thương mại được trình lên Quốc hội Tại phiên họp ngày 17 tháng 6 năm 2010 của kỳ họp thứ 7 Quốc hội khóa XII, Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam đã nhất trí biểu quyết thông qua
Dự án Luật Trọng tài thương mại và đã được Chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam công bố tại Lệnh số 12/2010/L-CTN ngày 29 tháng 6
năm 2010 Luật "Trọng tài thương mại (sau
đây gọi tắt là TTTM) có hiệu lực hiện tại là luật TTTM 2010 có hiệu lực từ 01/01/2011 Văn bản hướng dẫn thi hành:
NGHỊ QUYẾT Số: 01/2014/NQ-HĐTP Nghị quyết này hướng dẫn thi hành một
số quy định luạt trọng tài thương mại của Hội đồng thẩm phán tòa án nhân dân tối cao
NGHỊ ĐỊNH Số: 63/2011/NĐ-CP- Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một
số điều của Luật Trọng tài thương mại
2 Tóm tắt nội dung
Luật Trọng tài Thương mại gồm 13 Chương, 82 Điều:
Chương I: Những Quy Định Chung
Chương II: Thỏa Thuận Trọng Tài
Chương III: Trọng Tài Viên
Chương IV: Trung Tâm Trọng Tài
Chương V: Khởi Kiện
Chương VI: Hội Đồng Trọng Tài
Chương VII: Biện Pháp Khẩn Cấp Tạm Thời
Chương VIII: Phiên Họp Giải Quyết Tranh Chấp
Trang 22Chương IX: Phán Quyết Trọng Tài
Chương X: Thi Hành Phán Quyết Trọng Tài
Chương XI: Hủy Phán Quyết Trọng Tài
Chương XII: Tổ Chức Và Hoạt Động Của Trọng Tài Nước Ngoài Tại Việt Nam
Chương XIII: Điều Khoản Thi Hành
a) Nguyên tắc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại
Các nguyên tắc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại được quy định cụ thể tại điều 4 LTTTM 2010 cụ thể như sau:
Thỏa thuận trọng tài là thỏa thuận giữa các bên về việc giải quyết tranh chấp bằng
trọng tài thương mại có thể phát sinh hoặc không phát sinh Quyền lực của trọng tài hoàn toàn
do các bên tự thỏa thuận, không có thỏa thuận thì sẽ không có trọng tài
Tại khoản 1 điều 4 LTTTM 2010 quy định điều kiện “tranh chấp được giải quyết bằng trọng tài nếu các bên có thỏa thuận trọng tài, thỏa thuận trọng tài có thể thỏa thuận trước hoặc sau khi tranh chấp” ngay khi kí kết hợp đồng tức là khi tranh chấp chưa xảy ra, quyền và nghĩa
vụ của các bên chưa có bất kỳ mâu thuẫn gì, các bên đã có thể thỏa thuận dự liệu phương thức giải quyết tranh chấp cho tương lai hoặc có thể lựa chọn phương thức trọng tài sau khi tranh chấp đã được nảy sinh Sau khi phát sinh tranh chấp, thẩm quyền giải quyết tranh chấp xẽ thuộc
về trọng tài Tòa án phải từ chối giải quyết nếu nhận được đơn khởi kiện viêc ra hạn, thay đổi, hủy bỏ, vô hiệu của hợp đồng không làm mất giá trị pháp lí của thỏa thuận trọng tài Hiệu lực của thỏa thuận được pháp luật ghi nhận tai điều 19 LTTTM 2010
Về hình thức thỏa thuận trọng tài: LTTTM quy định cụ thể tai điều 16, thỏa thuận
trọng tài phải được lập thành văn bản, có thể tồn tại là một điều khoản trong hợp đồng hoặc điều khoản riêng trường hợp xác lập bằng hình thức khác thì hình thức này phải có giá trị tương đương như văn bản như là: Fax, telex
Về thỏa thuận trọng tài vô hiệu: thỏa thuận trọng tài vô hiệu là trường hợp các bên
thỏa thuận về giải quyết tranh chấp bằng trọng tài nhưng thỏa thuân đó không được công nhân hiệu lực Các trường hợp thỏa thuận ttrongj tài vô hiệu được quy định tai điêu 18 LTTTM 2010 bao gồm: Tranh chấp phát sinh trong các lĩnh vực không thuộc thẩm quyền của trọng tai quy định tại điều 2 luật này
Người xác lập thỏa thuận trọng tài không có thẩm quyền theo quy định của pháp luât Người xác lập thỏa thuận trọng tài không có năng lực hành vi dân sự
Hình thức thỏa thuận trọng tài không phù hợp với quy định tại điều 16 luật này
Một trong các bên bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép trong quá trình xác n lập thỏa thuận trọng tài và yêu cầu tuyên bố thỏa thuận trọng tài vô hiệu
Trang 23Thỏa thuận trọng tài vi phạm điều cấm pháp luật
Trọng tài viên phải tôn trọng sự thỏa thuận các bên nếu thỏa thuận đó không vi phạm điều cấm và trái đạo đức xã hội
Giải quyết tranh chấp bằng trọng tài là phương thức đảm bảo cao nhất quyền tự đinh đoạt của các bên Các bên có thể thỏa thuận với nhau và tự quyết định trung tâm trọng tài, địa điểm giải quyết tranh chấp và thủ tục tố tụng trọng tài Thẩm quyền của trọng tài cũng do các bên trao cho nên khoản 1 diều 4 LTTTM 2010 quy đinh “ trọng tài viên phải tôn trọng thỏa thuận của các bên…”
Trọng tài biên phải độc lập, khách quan, vô tư và tuân theo quy định của pháp luật Trọng tài viên với tư cách là người thức ba được các bên tranh chấp tin tưởng trao quyền giải quyết vụ tranh chấp nên cần nhận thức đúng nghĩa vụ vị trí của mình để đưa ra phán quyết cuối cùng, vô tư, khách quan, đảm bảo quyền và lợi ích tối đa cho các bên đương sự để đảm bảo yếu tố vô tư, khách quan trọng tài viên phải từ chối giải quyết tranh chấp hoặc các bên có quyền yêu cầu thay đổi trọng tài viên nếu thấy “ trọng tài viên là người thân thích hoặc là người đại diện của một bên” hay “ trọng tài viên có lợi ích liên quan trong vụ tranh chấp” khoản 1 điều 42 LTTTM 2010)
Các bên tranh chấp đều biết được quyền và nghĩa vụ của mình
Hội đồng trọng tài có trách nhiệm tạo điều kiện để họ thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình khoản 3 điều 4 LTTTM Các bên tranh chấp có địa vị pháp lí ngang nhau giữa các công dân, pháp nhân và tổ chức họ đều có thể giải quyết bằng trọng tài đối với mọi tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của trọng tài thương mại trong quá trình giải quyết tranh chấp họ được đảm bảo quyền và nghĩa vụ bình đẳng với nhau
Giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại phải được tiến hành công khai, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác
Khi đưa vụ tranh chấp ra giải quyết, việc bảo đảm bí mật kinh doanh, uy tín danh dự, thương hiệu doanh nghiệp là mối quan tâm hàng đầu của nhà kinh doanh Chính vì vậy pháp luật cho phép họ có thể tự thỏa thuận xét xử kín
b) Thẩm quyền giải quyết tranh chấp:
Theo LTTTM 2010, một tranh chấp xẽ thuộc thẩm quyền giải quyết của trọng tài khi đồng thời đáp ứng các điều kiện sau:
Một là: Nếu tranh chấp thỏa mãn một trong các trường hợp sau thì tranh
chấp đó thuộc thẩm quyền của trọng tài thương mại
TH1: tranh chấp giữa các bên phát sinh từ hoạt động thương mại
TH2: tranh chấp phát sinh giữa các bên trong đó ít nhất một bên hoạt động thương mại
Trang 24 TH3: tranh chấp khác giữa các bên mà pháp luật quy định được giải quyết bằng trọng tài thương mại
Như vậy là so với pháp lệnh trọng tài thương mại 2003 thì phạm vi vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của trọng tài thương mại đã dược mở rộng
hiệu lực
c) Điều kiện giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài:
Điều 5 Điều kiện giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài
Tranh chấp được giải quyết bằng Trọng tài nếu các bên có thoả thuận trọng tài Thỏa thuận trọng tài có thể được lập trước hoặc sau khi xảy ra tranh chấp Trường hợp một bên tham gia thoả thuận trọng tài là cá nhân chết hoặc mất năng lực hành vi, thoả thuận trọng tài vẫn có hiệu lực đối với người thừa kế hoặc người đại diện theo pháp luật của người đó, trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác Trường hợp một bên tham gia thỏa thuận trọng tài là tổ chức phải chấm dứt hoạt động, bị phá sản, giải thể, hợp nhất, sáp nhập, chia, tách hoặc chuyển đổi hình thức tổ chức, thỏa thuận trọng tài vẫn có hiệu lực đối với tổ chức tiếp nhận quyền và nghĩa vụ của tổ chức đó, trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác
d) Trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại
Bước đầu của quá trình tố tụng trọng tài, nguyên đơn phải gửi đơn kiện đến trung tâm trọng tài trong trường hợp giải quyết bằng trung tâm trọng tài hay gửi đơn kiện cho bị đơn trong trường hợp giải quyết bằng trọng tài vụ việc Trong quá trình tố tụng các bên có thể bổ sung, sửa đổi đơn kiện
Đơn kiện phải đáp ứng đầy đủ các thông tin quy định tại khoản 2, khoản 3 điều 30 LTTTM 2010 Một trong những nội dung quan trọng của đơn kiện là nguyên đơn chỉ ra cụ thể thông tin về người được nguyên đơn chọn làm trọng tài viên Cùng theo đưn kiện các bên cần gửi theo bản thỏa thuận trọng tài, đây là tài liệu quan trọng để trung tâm trọng tài đánh giá tranh chấp có được thụ lí hay không Thời hiệu khởi kiện theo tố tụng trọng tài là hai năm kể từ thời điểm quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm hại
Theo điều 35 LTTTM 2010, trong thời hạn luật định bị đơn phải gửi cho trung tâm trọng tài bản tự bảo vệ đối với tranh chấp giải quyết tại trung tâm trọng tài Đối với tranh chấp giải quyết tại trọng tài vụ việc, nếu các bên không có thỏa thuận khác thì trong thời hạn 30 ngày
kể từ ngày nhận được đơn kiện và các tài liệu kèm theo do chính nguyên đơn gửi, bị đơn phải gửi đồng thời hai bản tự bảo vệ cho nguyên đơn và trọng tài viên, kềm theo các thông tin về người được chọn làm trọng tài viên
Trang 25 Thành lập hội đồng trọng tài
Nếu vụ tranh chấp được giải quyết bằng trọng tài thường trực thì mỗi bên trong tranh chấp sẽ chọn một trọng tài viên và hai trọng tài viên đó sẽ cùng chọn ra một trọng tài viên thứ ba làm chủ tịch hội đồng trọng tài Nếu hết hạn luật định mà bị đơn không chọn được trọng tài viên cho mình thì chủ tịch trung tâm trọng tài sẽ chỉ định trọng tài viên cho bị đơn
Nếu vụ tranh chấp được giải quyết bằng trọng tài vụ việc, ngay từ khi nguyên đơn gửi đơn kiện cho bị đơn họ đã chọn trọng tài viên cho mình và bị đơn trong bản tự bảo vệ cũng
đã chọn ra một trọng tài viên Và hai trọng tài đó sẽ bầu ra một trọng tài viên khác làm chủ tịch hội đồng trọng tài Điều khác ở đây là nếu bị đơn không chọn trọng tài viên thì một hoặc các bên
có quyền yêu cầu tòa án chỉ định trọng tài viên cho các bị đơn Căn cứ xác định thẩm quyền của tòa án được quy định tại khoản 2 điều 7 LTTTM 2010
Sau khi hội đồng trọng tài được thành laapj trành chấp thương mại sẽ chính thức được chuẩn bị giải quyết Quá trình này gồm các công việc: nghiên cứu hồ sơ, xác định sự việc, thu thập chứng cứ, áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời
Hòa giải là một trong những biện pháp tốt nhất cho việc giải quyết tranh chấp tại trọng tài Trong tố tụng trọng tài hòa giải không phải là thủ tục tố tụng bắt buộc song hội đồng trọng tài phải tôn trọng việc tự hòa giải của các bên
Thời gian tiến hành, địa diểm giải quyết tranh chấp do các bên thỏa thuận trong trường hợp các bên không thỏa thuận thì chủ tịch hội đồng trọng tài quyết định thời gian mở phiên họp giải quyết tranh chấp và phải gửi giấy triệu tập cho các bên đương sự tham gia phiên họp chậm nhất là 30 ngày trước nhày mở phiên họp
Các bên có thể trực tiết tham dự phiên họp giải quyết tranh chấp hoặc cử đại diện của mình, nếu bị đơn đã được gửi giấy triệu tập mà vắng mặt không có lí do thì phiên họp vẫn được tiến hành, các bên đương sự cũng có thể yêu cầu hội đồng trọng tài hoãn phiên họp giải quyết tranh chấp nếu có lí do chính đáng
Kết thúc quá trình giải quyết tranh chấp hội đồng trọng tài phải đưa ra phán quyết trọng tài Quyết định trọng tài được biểu quyết theo nguyên tắc đa số, nếu vụ tranh chấp do trọng tài viên duy nhất giải quyết thì trọng tài viên này quyết định Quyết định của trọng tài phải đảm bảo về nội dung và hình thức theo quy định của luật này
e) Luật áp dụng giải quyết tranh chấp bằng trọng tài:
Điều 14 Luật áp dụng giải quyết tranh chấp:
Đối với tranh chấp không có yếu tố nước ngoài, Hội đồng trọng tài áp dụng pháp luật Việt Nam để giải quyết tranh chấp Đối với tranh chấp có yếu tố nước ngoài, Hội đồng trọng tài áp
Trang 26dụng pháp luật do các bên lựa chọn; nếu các bên không có thỏa thuận về luật áp dụng thì Hội đồng trọng tài quyết định áp dụng pháp luật mà Hội đồng trọng tài cho là phù hợp nhất Trường hợp pháp luật Việt Nam, pháp luật do các bên lựa chọn không có quy định cụ thể liên quan đến nội dung tranh chấp thì Hội đồng trọng tài được áp dụng tập quán quốc tế để giải quyết tranh chấp nếu việc áp dụng hoặc hậu quả của việc áp dụng đó không trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam
f) Ngôn ngữ:
Điều 10 luật TTTM quy định rõ về ngôn ngữ sử dụng trong tranh chấp bằng Trọng tài, cụ thể như sau:
Đối với tranh chấp không có yếu tố nước ngoài, ngôn ngữ sử dụng trong tố tụng trọng tài
là tiếng Việt, trừ trường hợp tranh chấp mà ít nhất một bên là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Trường hợp bên tranh chấp không sử dụng được tiếng Việt thì được chọn người phiên dịch ra tiếng Việt Đối với tranh chấp có yếu tố nước ngoài, tranh chấp mà ít nhất một bên là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, ngôn ngữ sử dụng trong tố tụng trọng tài do các bên thỏa thuận Trường hợp các bên không có thỏa thuận thì ngôn ngữ sử dụng trong tố tụng trọng tài do Hội đồng trọng tài quyết định
g) Vấn đề địa điểm trong thỏa thuận trọng tài:
Điều 11 luật trọng tài thương mại Việt Nam quy định địa điểm mà cac bên tiến hành giải quyết tranh chấp
Các bên có quyền thoả thuận địa điểm giải quyết tranh chấp; trường hợp không có thoả thuận thì Hội đồng trọng tài quyết định Địa điểm giải quyết tranh chấp có thể ở trong lãnh thổ Việt Nam hoặc ngoài lãnh thổ Việt Nam Trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác, Hội đồng trọng tài có thể tiến hành phiên họp tại địa điểm được xem là thích hợp cho việc trao đổi ý kiến giữa các thành viên của Hội đồng trọng tài, việc lấy lời khai của người làm chứng, tham vấn ý kiến các chuyên gia hoặc tiến hành việc giám định hàng hoá, tài sản hoặc tài liệu khác
h) Thỏa thuận trọng tài bị vô hiệu khi nào:
Theo Điều 18 luật Trọng tài thương mại Việt Nam 2010, thoả thuận trọng tài vô hiệu khi: Tranh chấp phát sinh trong các lĩnh vực không thuộc thẩm quyền của Trọng tài quy định tại Điều 2 của Luật này Người xác lập thoả thuận trọng tài không có thẩm quyền theo quy định của pháp luật Người xác lập thoả thuận trọng tài không có năng lực hành vi dân sự theo quy định của Bộ luật dân sự Hình thức của thoả thuận trọng tài không phù hợp với quy định tại Điều 16 của Luật này Một trong các bên bị lừa dối, đe doạ, cưỡng ép trong quá trình xác lập thoả thuận trọng tài và có yêu cầu tuyên bố thoả thuận trọng tài đó là vô hiệu Thỏa thuận trọng tài vi phạm điều cấm của pháp luật
i) Hủy, thi hành phán quyết của trọng tài:
Trang 27Phán quyết của trọng tài là quyết định cuối cùng về nội dung đơn kiện sau khi hội đồng trọng tài đã nghiên cứu hồ sơ, thu thập chứng cứ…về nguyên tắc phán quyết cuẩ trọng tài là quyết định trung thẩm và được các bên thi hành Tuy nhiên phán quiets của trọng tài lại có thể bị tòa án tuyên hủy nếu thuộc một số trường hơp nhất định được quy định cụ thể tại điều 68 LTTTM 2010 cụ thể là:
Tòa án xem xét hủy quyết định của trọng tài khi có đơn yêu cầu của một hoăc hai bên Phán quyết của trọng tài bị hủy nếu thuộc một trong các trường hợp sau: Không có thỏa thuận trọng tài hoặc thỏa thuận trọng tài vô hiệu Thành phần hội đồng trọng tài, thủ tục tố tụng trọng tài không phù hợp với thỏa thuận của các bên và trái với quy định của luật này Vụ tranh chấp không thuộc phạm vị thẩm quyền giải quyết của trọng tài Chứng cứ do các bên cung cấp mà trọng tài dựa vào đó đẻ ra phán quyết là giả mạo…Phán quyết của trọng tài trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam
Về nguyên tắc quyết định của trọng tài là quyết định trung thẩm, có hiệu lực từ ngày công bố, các bên buộc phải thi hành Sau thời hạn 30 ngày kể từ từ ngày thi hành nếu một bên không tự nguyện thi hành cũng không có yêu cầu hủy phán quyết trọng tài theo quy định của pháp luật thì bên được thi hành phán quyết trọng tài có quyền làm đơn gửi cơ quant hi hành án cấp tỉnh nơi có trụ sở, nơi cư trú hoặc nơi cóa tài sản của bên thi hành, thi hành quyết định của trọng tài
Lưu ý khi thi hành phán quyết trọng tài: Xác định vụ việc là trọng tài trong nước hay trọng tài nước ngoài để xem xét Các căn cứ và thời hạn để yêu cầu công nhận/ hủy bỏ phán quyết trọng tài Tòa án có thẩm quyền xem xét đơn yêu cầu hủy phán quyết, đăng ký phán quyết
vụ việc Các vấn đề khác như án phí, lệ phí yêu cầu công nhận và thi hành, các thủ tục liên quan đến cơ quan thi hành án
j) Quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của các bên trong tố tụng trọng tài
Trường hợp giải quyết tranh chấp tại Trung tâm trọng tài, nguyên đơn phải làm đơn khởi kiện gửi đến Trung tâm trọng tài Trường hợp vụ tranh chấp được giải quyết bằng Trọng tài vụ việc, nguyên đơn phải làm đơn khởi kiện và gửi cho bị đơn Khoản 1 điều 30)
Đối với vụ tranh chấp được giải quyết tại Trung tâm trọng tài, bị đơn phải gửi cho Trung tâm trọng tài bản tự bảo vệ trong thời gian 30 ngày kể từ ngày nhận được đơn khởi kiện (thời hạn này có thể được Trung tâm trọng tài gia hạn căn cứ vào tình tiết cụ thể của
vụ việc)
Trang 28 Đối với vụ tranh chấp được giải quyết bằng Trọng tài vụ việc, bị đơn phải gửi cho nguyên đơn và Trọng tài viên bản tự bảo vệ, tên và địa chỉ của người mà mình chọn làm Trọng tài viên trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận đơn khởi kiện
Trường hợp bị đơn không nộp bản tự bảo vệ theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này thì quá trình giải quyết tranh chấp vẫn được tiến hành
Bị đơn có quyền kiện lại nguyên đơn về những vấn đề có liên quan đến vụ tranh chấp.(Khoản 1 điều 36)
Ngoài ra, các bên có quyền rút đơn khởi kiện, đơn kiện lại; sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện, đơn kiện lại hoặc bản tự bảo vệ Theo điều 37 LTTTM) Kể từ thời điểm bắt đầu tố tụng trọng tài, các bên vẫn có quyền tự mình thương lượng, thỏa thuận chấm dứt việc giải quyết tranh chấp.Trong trường hợp các bên tự thỏa thuận được với nhau chấm dứt việc giải quyết tranh chấp thì có quyền yêu cầu Chủ tịch Trung tâm trọng tài ra quyết định đình chỉ giải quyết tranh chấp Điều 38) Quyền yêu cầu huỷ phán quyết trọng tài Điều 69)
Bên cạnh đó, theo điều 21 LTTTM có quy định: Những người có đủ tiêu chuẩn quy định tại khoản 1 Điều này nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây không được làm Trọng tài viên: Người đang là Thẩm phán, Kiểm sát viên, Điều tra viên, Chấp hành viên, công chức thuộc Toà án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, Cơ quan điều tra, Cơ quan thi hành án;
Người đang là bị can, bị cáo, người đang chấp hành án hình sự hoặc đã chấp hành xong bản án nhưng chưa được xóa án tích
l) Thẩm quyền của Tòa án đối với hoạt động trọng tài
Điều 7 LTTTM xác định: Trường hợp các bên đã có thỏa thuận lựa chọn một Tòa
án cụ thể thì Tòa án có thẩm quyền là Tòa án được các bên lựa chọn Trường hợp các bên không
có thỏa thuận lựa chọn Tòa án thì thẩm quyền của Tòa án được xác định như sau:
Đối với việc chỉ định Trọng tài viên để thành lập Hội đồng trọng tài vụ việc thì Tòa án có thẩm quyền là Tòa án nơi cư trú của bị đơn nếu bị đơn là cá nhân hoặc nơi có trụ sở của bị đơn nếu bị đơn là tổ chức Trường hợp có nhiều bị đơn thì Tòa án có thẩm quyền là Tòa án nơi cư trú hoặc nơi có trụ sở của một trong các bị đơn đó
Trang 29 Trường hợp bị đơn có nơi cư trú hoặc trụ sở ở nước ngoài thì Tòa án có thẩm quyền là Tòa án nơi cư trú hoặc nơi có trụ sở của nguyên đơn;
Đối với việc thay đổi Trọng tài viên của Hội đồng trọng tài vụ việc thì Tòa án có thẩm quyền là Tòa án nơi Hội đồng trọng tài giải quyết tranh chấp;
Đối với yêu cầu giải quyết khiếu nại quyết định của Hội đồng trọng tài về thỏa thuận trọng tài vô hiệu, thỏa thuận trọng tài không thể thực hiện được, thẩm quyền của Hội đồng trọng tài thì Tòa án có thẩm quyền là Tòa án nơi Hội đồng trọng tài ra quyết định;
Đối với yêu cầu Tòa án thu thập chứng cứ thì Tòa án có thẩm quyền là Tòa án nơi
Bên cạnh đó, Luật đã đưa ra hàng loạt các quy định thể hiện rõ nét sự hỗ trợ của Tòa
án đối với trọng tài thương mại
Quy định về việc xác định Tòa án có thẩm quyền chỉ định, thay đổi trọng tài viên: Trong tố tụng trọng tài, việc thành lập Hội đồng trọng tài để giải quyết tranh chấp hoàn toàn là quyền của các bên tranh chấp Tuy nhiên, đối với việc thành lập Hội đồng trọng tài
vụ việc, nếu bị đơn hoặc các bị đơn không chọn được trọng tài viên, hoặc các Trọng tài viên không bầu được một Trọng tài viên khác làm Chủ tịch Hội đồng trọng tài, hoặc các bên không chọn được Trọng tài viên duy nhất trường hợp các bên thỏa thuận vụ tranh chấp do một trọng tài viên duy nhất giải quyết thì Tòa án nơi bị đơn cư trú hoặc nơi có trụ sở theo yêu cầu của một hoặc các bên có quyền đưa ra quyết định chỉ định Trọng tài viên, chỉ định Chủ tịch Hội đồng trọng tài trong các trường hợp trên Điều 41 Luật TTTM Đối với trường hợp cần phải thay đổi Trọng tài viên theo quy định của pháp luật (trong vụ tranh chấp do Hội đồng trọng tài vụ việc giải quyết), nếu các thành viên còn lại của Hội đồng trọng tài không quyết định được hoặc nếu các Trọng tài viên hay Trọng tài viên duy nhất từ chối giải quyết tranh chấp, thì Tòa án có thẩm quyền Tòa án nơi Hội đồng trọng tài giải quyết tranh chấp) có thể hỗ trợ việc quyết định thay đổi Trọng tài viên này Cụ thể là Chánh án Tòa án có thẩm quyền sẽ phân công một Thẩm phán quyết định về việc thay đổi Trọng tài viên (Khoản 4 điều 42)
Quy định về áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời
Trong quá trình HĐTT giải quyết vụ tranh chấp, nếu cảm thấy quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm hại hoặc có nguy cơ trực tiếp bị xâm hại thì các bên có quyền làm đơn đến Tòa án để yêu cầu áp dụng một hoặc một số biện pháp khẩn cấp tạm thời thích hợp để bảo vệ tài
Trang 30sản đang bị tranh chấp theo quy định tại Điều 48 “Các bên tranh chấp có quyền yêu cầu Hội đồng trọng tài, Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời theo quy định của Luật này và các quy định của pháp luật có liên quan, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác; Việc yêu cầu Tòa án
áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không bị coi là sự bác bỏ thỏa thuận trọng tài hoặc khước
từ quyền giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài” Theo đó, HĐTT hoặc Tòa án có quyền áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời khi có một hoặc các bên đương sự yêu cầu, tùy theo sự thỏa thuận giữa các bên
Quy định về hủy phán quyết của trọng tài
Khoản 1 Điều 44 Luật TTTM 2010 đã quy định: bên không đồng ý với quyết định trọng tài "có quyền gửi đơn yêu cầu Toà án có thẩm quyền xem xét lại quyết định của Hội đồng trọng tài"
Khoản 1 Điều 68 LTTTM 2010 quy định: “Tòa án xem xét việc hủy phán quyết trọng tài khi có đơn yêu cầu của một bên” Điều 71 quy định quy trình Tòa án xét đơn yêu cầu hủy phán của trọng tài: Sai khi thụ lý đơn yêu cầu đơn hủy phán quyết trọng tài, Toà án có thẩm quyền thông báo ngay cho Trung tâm trọng tài hoặc các Trọng tài viên của Hội đồng trọng tài vụ việc, các bên tranh chấp và Viện kiểm sát cùng cấp Sau 7 ngày, Chánh án Toà án chỉ định một Hội đồng xét đơn yêu cầu gồm ba Thẩm phán và , Hội đồng xét đơn yêu cầu phải phải mở phiên họp
để xét đơn yêu cầu huỷ phán quyết trọng tài trong 30 ngày
m) Tổ chức và hoạt động của Trọng tài nước ngoài tại Việt Nam và thi hành phán quyết trọng tài
Tổ chức trọng tài nước ngoài đã được thành lập và đang hoạt động hợp pháp tại nước ngoài:
Tôn trọng Hiến pháp và pháp luật của Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thì được phép hoạt động tại Việt Nam theo quy định của Luật TTTM 2010 Điều 73), gồm 2 hình thức là Chi nhánh của Tổ chức trọng tài nước ngoài (Chi nhánh và văn phòng đại diện của Tổ chức trọng tài nước ngoài Văn phòng đại diện) Quyền và nghĩa vụ của Chi nhánh của Tổ chức trọng tài nước ngoài tại Việt Nam và Quyền và nghĩa vụ của Văn phòng đại diện của Tổ chức trọng tài nước ngoài tại Việt Nam lần lượt được quy định rõ ràng trong Điều 76 và điều 78 của bộ luật
Thi hành phán quyết trọng tài
Các Trung tâm trọng tài được thành lập trước ngày Luật này có hiệu lực (Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2011 không phải làm thủ tục thành lập lại Các Trung tâm trọng tài phải sửa đổi, bổ sung điều lệ, quy tắc tố tụng trọng tài cho phù hợp với quy định của Luật này trong thời hạn 12 tháng, kể từ ngày Luật này có hiệu lực Hết thời hạn nêu trên mà các Trung tâm trọng tài không sửa đổi, bổ sung điều lệ, quy tắc tố tụng trọng tài thì bị thu hồi Giấy phép thành lập và phải chấm dứt hoạt động
Trang 313 Thực tiễn áp dụng phương thức giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài thương mại ở việt nam và nguyên nhân giải pháp khắc phục:
a) Thực trạng giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài ở Việt Nam
Số lượng các vụ tranh chấp thương mại được giải quyết tại các trung tâm trọng tài còn thấp Như chúng ta đã biết trọng tài được chính thức thành lập từ những năm 1960 với tên gọi là trọng tài king tế, qua những chặng đường phát triển hiện nay cả nước ta có 7 trung tâm trọng tài tập trung ở các thành phố lớn, trung tâm kinh tế chính trị-xã hội như: Hà Nội, Thành Phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Cần Thơ, Bình Dương
Tuy số lượng của các trung tâm trọng tài không phải là quá ít nhưng số vụ tranh chấp thương mại được giải quyết bằng trọng tài lầ rất ít, theo bản báo cáo của các trung tâm trọng tài các năm 2004,2005,2006 thì năm 2004 tổng số vụ tranh chấp thương mại giải quyết bằng trọng tài là 37 vụ, năm 2005 là 34 vụ, năm 2006 là 46 vụ
Qua số liệu trên cho thấy các trung tâm trọng tài hoạt động chưa có hiệu quả, trọng tài tuy không phải là một chế định mới mẻ nhưng các doanh nghiệp việt nam vẫn chưa có thói quen sử dụng dịch vụ trọng tài như một trong những cơ chế cơ bản đẻ giaiar quyết tranh chấp phát sinh trong quá trình hoạt động thương mại.Các lĩnh vực tranh chấp được giải quyết bằng trọng tài thương mại ở Việt Nam còn rất hạn chế phần lớn là các vụ đòi nợ tranh chấp liên quan tới việc thanh toán không đúng hạn , hoặc các tranh chấp về chất lượng hàng hóa, điều kiện giao hàng
Số lượng phán quyết của trọng tài được thi hành trên thực tế còn rất ít
b) Những ưu điểm và hạn chế của hoạt động giải quyết tranh chấp thương mại của trọng tài ở Việt Nam
Qua tìm hiểu về trọng tài thương mại, ta thấy hoạt động giải quyết ttranh chấp của trọng tài có một số ưu điểm như: các vụ việc được giải quyết bởi các chuyên gia có nhiều king nghiệm, số lượng các vụ tranh chấp dược giải quyết tuy ít nhưng triệt để, tất cả cấc vụ tranh chấp đều được giữ bí mật từ đầu tới cuối Chưa có bất kỳ sự phản ánh nào về việc tin tức các vụ tranh chấp bị lộ ra ngoài
Ngoài một số ưu điểm trên thì hoạt động giải quyết tranh chấp của trọng tài cũng
có một số hạn chế như tính chuyên nghiệp chưa cao, trên thực tế thì chưa phát huy được một số
ưu điểm trong quá trình giải quyết tranh chấp
c) Nguyên nhân và giải pháp:
Sở dĩ tính chuyên nghiệp của hoạt động giải quyết tranh chấp của trọng tài chưa cao là vì hoạt động này chưa được mội người biế đến một cách phổ biến, chưa lấy được lòng tin của thương nhân, dẫn đến sự lựa chọn sử dụng phương thức này thấp
Trang 32 Số lượng các vụ tranh chấp giải quyết bằng trọng tài ít, các trọng tài viên ít có
cơ hội tích lũy kinh nghiệm nên tính chuyên nghiệp chưa cao
Thứ nhất: tăng cường năng lực của trung tâm trọng tài và đội ngũ trọng tài viên nhằm nâng cao chất lượng giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài, chiếm được sự tin cậy của các thương nhân Vì trọng tài viên là trung tâm, là hạt nhân quan trọng nhất của hoạt động này, tất cả những công tác hỗ trợ khác như sửa đổi pháp luật, phổ biến tuyên ttruyeenf về trọng tài sẽ không có hiệu quả nếu đội ngũ trọng tài viên còn thiếu về số lương, yếu về chất lượng, trình độ chuyên môn.Dội ngũ trọng tài viên yếu kém sẽ không thuyết phục được các doanh nghiệp rằng trọng tài là một phương thức giải quyết các tranh chấp đáng tin cậy vì vậy vấn đề cốt lõi hiện nay là phải tăng cường năng lực của đội ngũ trọng tài viên, để làm được điều này các trung tâm trọng tài cần phải:
Có chiến lược bồi dưỡng, đào tạo đội ngũ trọng tài viên Hiện nay lĩnh vực chuyên sâu của đội ngũ trọng tài viên không đồng đều, số lượng đọi ngũ trọng tài viên hoạt động trong lĩnh vực lao động, liên doanh, vận chuyển hàng hóa, xây dựng kỹ thuật còn rất ít do đó phải có chiến lược đòa tạo đội ngũ trọng tài viên trong các lĩnh vực này để đáp ứng được nhu cầu của thị trường
Tăng cường cơ sở vật chất cần thiết cho các trung tâm trọng tài vì đó chính là “bộ mặt” của các trung tâm trọng tài Các trung tâm trọng tài phải chú ý phát triển hoạt động của mình theo hướng chuyên nghiệp
Có chính sách thu hút các trọng tài viên giỏ, giàu kinh nghiệm trong việc giải quyết các tranh chấp
Thứ hai: để hoạt động giải quyết tranh chấp thương mại được nhiều người biết đến thì các trung tâm trọng tài cần có chiến lược quảng cáo để số lương người biết đến hoạt động này ngày càng nhiều hơn, có nhiều cách như phổ biến, tuyên truyền bằng cách phát tờ rơi, tài liệu, tổ chức buổi tọa đàm hội thảo, nói chuyện chuyên đề Có thể kết hợp việc tuyên truyền với các hoạt động khác như tư vấn trợ giúp pháp lí, diễn đàn doanh nghiệp, các khóa học bồi dưỡng pháp luât Ngoài ra cần tạo điều kiện thuận lợi cho các cá nhân, tổ chức kinh doanh trong việc tiếp cận dịch vụ trọng tài thông qua trang web của các trung tâm trọng tài
Thứ ba: hiện nay LTTTM không đưa ra biện pháp đảm bảo cho việc thực hiện quy định trong tài viên phải giữ bí mật về vụ tranh chấp mà mình giải quyết pháp luật phải đưa ra các biện pháp bảo đảm rõ rang Ví dụ: có thể quy định hình thức chế tài là cấm trọng tài viên hành nghề trong một thời gian nhất định nếu vi phạm quy định đảm bảo tính bí mật của vụ tranh chấp
Thứ tư: LTTTM 2010 có nghi nhận sự hỗ trợ của tòa án và cơ quant hi hành án đối với hoạt động giải quyết tranh chấp thương mại của trọng tài, nhưng không có văn bản cụ thể
Trang 33hướng dẫn cụ thể vấn đề này Đối với sự hỗ trợ cuả tòa án đã có một số quy định trong LTTTM
2010 nhưng đối với sự hỗ trợ của cơ quan thi hành án thì chưa có văn bản nào hướng dẫn cụ thể
IV NGHỊ ĐỊNH QUY ĐỊNH CHI TIẾT VÀ HƯỚNG DẪN THI HÀNH MỘT SỐ ĐIỀU CỦA LUẬT TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI ; NGHỊ QUYẾT THẨM PHÁN 01/2014/NQ-HĐTP BAN HÀNH 30/03/2014 HƯỚNG DẪN THI HÀNH MỘT SỐ QUY ĐỊNH LUẬT TTTM VỀ THẨM QUYỀN, TRÌNH TỰ, THỦ TỤC TỐ TỤNG CỦA TÒA ÁN ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG TRỌNG TÀI
1 Một số thuật ngữ
a) Nghị định là chính phủ ban hành dùng để hướng dẫn luật hoặc quy định những việc phát
sinh mà chưa có luật hoặc pháp lệnh nào điều chỉnh Mặt khác, nghị định do Chính phủ ban hành để quy định những quyền lợi và nghĩa vụ của người dân theo Hiến pháp và Luật do
Quốc hội ban hành
Nói một cách dễ hiểu hơn thì Nghị định là quy định cho từng lĩnh vực nhà nước, doanh nghiệp
b) Nghị quyết là văn bản được ban hành theo quyết định của tập thể cơ quan, tổ chức Nghị
quyết của Quốc hội được sử dụng để điều chỉnh các nhóm quan hệ xã hội có tầm quan trọng quốc gia và trong nhiều trường hợp mang tính nhất thời, cụ thể
c) Nội dung tổng quát Nghị định 63/2011/NĐ – CP và nghị quyết số 01/2014 NQ – HĐTP
Nghị định 63/2011/NĐ – CP hướng dẫn tổ chức cơ cấu hoạt động và thực hiện của các trung tâm trọng tài thương mại
Nghị quyết 01/2014 NQ – HĐTP hướng dẫn chi tiết các vấn đề liên quan đến Luật trọng tài thương mại
Nghị định 63/2011 là bộ nguyên tắc cơ cấu của các tổ chức hoạt động trọng tài Trên thực tế, khi nhắc đến luật thương mại trọng tài thì nghị quyết 01/2014 NQ – HĐTP là văn bản có mức độ áp dụng rộng rãi hơn Chính vì thế, ở phần 2, bài tiểu luận xin được phép bàn về chủ đề mở rộng hơn đó là Quy tắc tố tụng VIAC 2017 - quy tắc trọng tài đầu tiên tại Việt Nam ra đời đáp ứng sự thay đổi của quy định pháp luật tại Nghị quyết 01/2014/HĐTP/TANDTC
2 Quy tắc tố tụng VIAC 2017
a) Động lực ra đời
Công cuộc cải cách kinh tế của Việt Nam đang bước đến thời kỳ chuyển mình khẩn cấp Trong nhiệm kỳ mới, Chính phủ đã đưa ra thông điệp Kiến tạo – Liêm chính – Hành động và đang từng bước thực hiện phương châm này Suốt 20 năm qua, bằng những nỗ lực không ngừng, VIAC luôn lắng nghe ý kiến của doanh nghiệp, luật sư, cơ quan quản lý nhà nước để luôn cải thiện, hoàn thành nhiệm vụ theo tinh thần minh bạch – hoàn thiện – hiệu quả Nhằm tạo điều kiện cho các doanh nghiệp rút ngắn thời gian, chi phí tranh chấp và đặc biệt là giải quyết quan hệ luật pháp phức tạp trong lĩnh vực ngân hang VIAC đã cho ra đời bộ quy tắc tố tụng 2017 có hiệu lực vào ngày 01/03/2017
Trang 34b) Thành tựu
Trong bối cảnh Chính phủ đang cải cách thủ tục hành chính, cải thiện đầu tư, môi trường kinh doanh thì VIAC nổi lên như là một điểm sáng và là tổ chức đáng tin cậy, minh bạch trong giải quyết các tranh chấp.Tốc độ giải quyết các vụ tranh chấp trung bình là: 53.6 ngày/vụ tranh chấp Trong số hàng ngàn vụ đã được xử lý, mấy trăm vụ được xét xử, VIAC tự hào bởi chưa có bất cứ một vụ nào có dấu hiệu nhũng nhiễu từ bộ máy ban thư ký VIAC hay tham nhũng từ các trọng tài viên
Điểm sáng trong bộ quy tắc VIAC 2017
Thứ nhất, tiết kiệm được các chi phí cho doanh nghiệp Với các quy định hoàn
toàn mới tại Điều 6 và Điều 15 Quy tắc VIAC 2017, các tranh chấp phát sinh từ nhiều quan hệ pháp luật đã có thể được gộp vào để giải quyết trong một vụ tranh chấp theo các quy định của pháp luật, giúp tiết kiệm từ 15%-37% phí trọng tài, giảm tối đa thời gian theo kiện của các bên
Thứ hai, theo điều 37 VIAC 2017 là thủ tục rút gọn Thủ tục trọng tài rút gọn theo
ông Đạt là hứa hẹn sẽ tiếp tục rút ngắn thời gian giải quyết tranh chấp tại VIAC, đặc biệt là đối với các vụ việc có tình tiết đơn giản; hồ sơ chứng cứ gọn nhẹ, điển hình là các tranh chấp trong lĩnh vực tài chính ngân hàng, bảo hiểm, mua bán hàng hóa
Theo Quy tắc mới Hội đồng Trọng tài gồm Trọng tài viên duy nhất; Trung tâm hoặc Hội đồng Trọng tài có thể rút ngắn bất kỳ thời hạn nào Hội đồng Trọng tài căn cứ vào tài liệu và chứng cứ hiện có để tiến hành phiên họp giải quyết tranh chấp mà không cần sự có mặt của các bên Ngoài ra, phương thức giải quyết qua kết nối video conference và teleconference mang lại hiệu quả cao đặc biệt đối với các doanh nghiệp nước ngoài vì đỡ tốn chi phí đi lại và thời gian
Thứ ba, Quy tắc tố tụng trọng tài 2017 đã giải quyết được rất nhiều vấn đề của
lĩnh vực ngân hàng Đối với hoạt động ngân hàng rất hay có người thứ 3 tham gia vào các vụ tố tụng, nếu các bên tham gia đồng lòng thì sẽ rất khó thực hiện được các vụ tranh chấp thành công
Thứ tư, có thể gọi đây là tính linh hoạt của bộ quy tắc 2017 chính bởi điều này đã
giúp cho các đương sự có nhiều sự lựa chọn hơn Khi doanh nghiệp chọn tòa án thì không được chọn trọng tài nhưng khi chọn phương thức trọng tài vẫn có thể chọn cả tòa án Điều này đã tạo được tâm thế vững vàng cho các doanh nghiệp hơn
3 Kết luận
Tóm lại, vòng quay thời đại luôn kéo theo sự cải cách để đáp ứng kịp thời vấn đề mới của
xã hội Với tiền đề là nghị quyết số 01/2014 kèm theo sự kết hợp sáng tạo với tình huống thực tiễn, VIAC 2017 đã thực sự trở thành điểm nhấn về trọng tài tại Việt Nam VIAC ngày càng khẳng định được vị thế uy tín, đáng tin cậy, đầy trách nhiệm, dám tiên phong để đưa phương thức TRỌNG TÀI đến với mọi doanh nghiệp trong và ngoài nước
Trang 35HỎI ĐÁP
Trọng tài là gì?
Trọng tài là phương thức giải quyết tranh chấp phát sinh trong hoạt động thương mại được tiến hành theo trình tự, thủ tục do các bên thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật Việc giải quyết tranh chấp được tiến hành bởi Hội động Trọng tài thuộc một Trung tâm Trọng tài nhất định hoặc bởi Hội đồng Trọng tài do các bên thành lập, tùy thuộc vào quyền lựa chọn của các bên
Trọng tài và hòa giải khác nhau như thế nào?
Trong trọng tài, trọng tài viên giải quyết vụ tranh chấp và ra quyết định chung thẩm Một khi quyết định trọng tài đã được tuyên sẽ có giá trị ràng buộc các bên cho dù các bên có đồng ý hay không
Đối với hòa giải, hòa giải viên không quyết định vụ tranh chấp mà có vai trò giúp các bên giải quyết vụ tranh chấp thông qua một quá trình thương lượng và thu hẹp những điểm bất đồng Hòa giải viên sẽ giúp các bên đạt được một thỏa thuận Tuy nhiên, khác với quyết định trọng tài, thỏa thuận của các bên không mang tính ràng buộc Trong trường hợp một bên không tự nguyện thực hiện thỏa thuận hòa giải, bên kia có thể khởi kiện ra trọng tài hoặc tòa án tùy theo thỏa thuận của các bên
Những tranh chấp nào có thể giải quyết bằng trọng tài?
Những tranh chấp phát sinh từ hoạt động thương mại có thể được giải quyết bằng trọng tài Theo Điều 2 Khoản 3 Pháp lệnh Trọng tài Thương mại năm 2003, hoạt động thương mại là việc thực hiện một hay nhiều hành vi thương mại của cá nhân, tổ chức kinh doanh bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ; phân phối; đại diện, đại lý thương mại; ký gửi; thuê, cho thuê; thuê mua; xây dựng; tư vấn; kỹ thuật; li-xăng; đầu tư; tài chính, ngân hàng; bảo hiểm; thăm dò, khai thác; vận chuyển hàng hóa, hành khách bằng đường hàng không, đường biển, đường sắt, đường
bộ và các hành vi thương mại khác theo quy định của pháp luật
Trong quá trình giải quyết tranh chấp, việc các bên tự hoà giải có được công nhận không? Nếu có thì quyết định công nhận hoà giải thành được thi hành như thế nào?
Ðiều 37 Pháp lệnh Trọng tài Thương mại ngày 25/2/2003 (có hiệu lực kể từ ngày 01/7/2003) quy định, các bên có thể tự hoà giải Trong trường hợp hoà giải thành thì theo yêu cầu của các bên, Hội đồng Trọng tài sẽ đình chỉ tố tụng Các bên có thể yêu cầu Hội đồng Trọng tài lập biên bản hoà giải thành và ra quyết định công nhận Biên bản phải được các bên và các trọng tài viên
ký Quyết định công nhận hoà giải thành của Hội đồng trọng tài là chung thẩm và được thi hành
Trang 36theo quy định tại điều 57 của Pháp lệnh này
Ðiều 57 Pháp lệnh quy định về thi hành Quyết định trọng tài như sau: Sau thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày hết thời hạn thi hành quyết định trọng tài, nếu một bên không tự nguyện thi hành, bên đươc thi hành quyết định có quyền làm đơn yêu cầu cơ quan thi hành án cấp tỉnh, nơi
có trụ sở, nơi cư trú hoặc nơi có tài sản của bên phải thi hành quyết định
Tiêu chuẩn để trở thành trọng tài viên là gì? Những ai không được làm trọng tài viên?
Theo Điều 12 Pháp lệnh Trọng tài Thương mại, công dân Việt Nam có đủ các điều kiện sau đây có thể làm Trọng tài viên:
a Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ;
(b) Có phẩm chất đạo đức tốt, trung thực, vô tư, khách quan;
(c) Có bằng đại học và đã qua thực tế công tác theo ngành đã học từ năm năm trở lên
Cũng theo Điều 12 Pháp lệnh Trọng tài Thương mại, những người sau đây không được làm trọng tài viên:
a Người đang bị quản chế hành chính, đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc đã bị kết án
mà chưa được xoá án tích không được làm Trọng tài viên
(b) Thẩm phán, Kiểm sát viên, Điều tra viên, Chấp hành viên, công chức đang công tác tại Toà án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, cơ quan điều tra, cơ quan thi hành án không được làm Trọng tài viên
Các bên tranh chấp có thể chọn trọng tài vụ việc (adhoc) để giải quyết tranh chấp được không?
Theo Điều 19 Pháp lệnh Trọng tài Thương mại, các bên có quyền lựa chọn Trung tâm Trọng tài hoặc Hội đồng Trọng tài do các bên thành lập (trọng tài adhoc để giải quyết vụ tranh chấp
Mức phí giải quyết bằng trọng tài tại trung tâm VIAC?
Hiện nay VIAC có Biểu phí trọng tài được chia làm hai loại gồm phí trọng tài áp dụng cho các vụ tranh chấp trong nước và phí trọng tài áp dụng cho vụ tranh chấp có yếu tố nước ngoài Mức phí
cụ thể sẽ được tính theo trị giá vụ tranh chấp mà các bên yêu cầu (Biểu phí mẫu minh hoạ sẽ được trình chiếu trên slide thuyết trình)
Trang 37Liệu các bên có thể đưa tranh chấp ra tòa án giải quyết khi đã có thỏa thuận trọng tài không?
Trả lời: Không Theo quy định của Điều 5 Pháp lệnh Trọng tài Thương mại năm 2003, trong
trường hợp vụ tranh chấp đã có thỏa thuận trọng tài, nếu một bên khởi kiện tại Tòa án thì Tòa án phải từ chối thụ lý, trừ trường hợp thỏa thuận trọng tài vô hiệu
Theo Điều 10 của Pháp lệnh Trọng tài Thương mại, thỏa thuận trọng tài vô hiệu trong những trường hợp sau đây:
1 Tranh chấp phát sinh không thuộc hoạt động thương mại;
2 Người ký thỏa thuận trọng tài không có thẩm quyền ký kết theo quy định của pháp luật;
3 Một bên ký kết thỏa thuận trọng tài không có năng lực hành vi dân sự đầy đủ;
4 Thỏa thuận trọng tài không quy định hoặc quy định không rõ đối tượng tranh chấp, tổ chức trọng tài có thẩm quyền giải quyết vụ tranh chấp mà sau đó các bên không có thỏa thuận bổ sung;
5 Thỏa thuận trọng tài không được lập theo quy định tại Điều 9 của Pháp lệnh;
6 Bên ký thỏa thuận trọng tài bị lừa dối, bị đe dọa và có yêu cầu tuyên bố thỏa thuận trọng tài vô hiệu
Giải quyết tranh chấp bằng trọng tài có những ưu điểm gì?
Thủ tục giải quyết tranh chấp bằng trọng tài đơn giản hơn so với tòa án và trọng tài được giải quyết không công khai, quyết định trọng tài có giá trị chung thẩm Ngoài ra, trong trọng tài các bên được tự do chỉ định trọng tài viên của riêng mình và tự do thỏa thuận về các trình tự, thủ tục giải quyết vụ tranh chấp như ngôn ngữ trọng tài, địa điểm trọng tài, luật áp dụng v.v
Nhược điểm của thi hành quyết định trọng tài là gì?
Việc thi hành còn phụ thuộc vào ý thức các bên tranh chấp, nếu một bên thua kiện không thực hiện theo quyết định trọng tài thì bên còn lại có thể kiện ra toà án, tuy nhiên lúc này lại gây tốn kém thời gian, tiền bạc, công sức và tính bí mật của vụ việc cũng sẽ mất đi
Về trọng tài và hòa giải có những văn kiện quan trọng nào? Hãy kể tên?
=> Về trọng tài và hòa giải, có 3 văn bản quan trọng Văn bản thứ nhất là Công ước New York về công nhận và thi hành phán quyết của trọng tài nước ngoài năm 1958 Văn bản quan trọng thứ hai là Quy tắc tố tụng Trọng tài của UNCITRAL được soạn thảo năm 1967và văn bản thứ ba về trọng tài là Luật trọng tài mẫu của UNCITRAL
Cơ quan nào là cơ quan pháp lý chủ chốt của Liên Hợp Quốc trên lĩnh vực Luật thương mại quốc tế ?
Trang 38=> UNCITRAL là cơ quan pháp lý chủ chốt của Liên Hợp Quốc trên lĩnh vực Luật thương mại quốc tế
Thương mại đồng nghĩa với tăng trưởng kinh tế nhanh hơn, mức sống của người dân cao hơn, và nhiều cơ hội kinh doanh hơn Để mở rộng và tăng cường các cơ hội đó trên khắp thế giới, UNCITRAL đưa ra các quy tắc hiện đại, công bằng và hài hoà đối với các giao dịch thương mại Đó là những quy tắc nào?
=> Các quy tắc đó là:
Các quy ước, luật và quy tắc mẫu được chấp nhận trên toàn thế giới;
Các hướng dẫn về luật và pháp lý có ý nghĩa thực tế lớn;
Các thông tin cập nhật về các case law và việc ban hành luật thương mại thống nhất; Trợ giúp kĩ thuật cho các dự án cải cách, sử đổi luật;
Hội nghị quốc gia và khu vực về vấn đề luật thương mại thống nhất
Luật mẫu có tính bắt buộc thi hành với tất cả các quốc gia hay không? Giai thích?
=> Luật Mẫu không có tính ràng buộc thi hành đối với các quốc gia đây chỉ là một Bản thoả thuận nguyên tắc mà Tổ chức Liên Hiệp Quốc bảo trợ Điều này cho ta hiểu Luật Mẫu là một hình thức Thoả ước lập pháp được khuyến nghị áp dụng
Với điều kiện nào thì Toà án có thẩm quyền rất hạn chế trong việc ra tuyên bố huỷ bỏ một phán quyết trọng tài theo đơn yêu cầu của một bên tranh chấp ?
=> Toà án có thẩm quyền rất hạn chế trong việc ra tuyên bố huỷ bỏ một phán quyết trọng tài theo đơn yêu cầu của một bên tranh chấp với điều kiện:
– Phù hợp với quy định của Luật mẫu
– Phù hợp với Công ước New York năm 1958
Toà án có thể từ chối việc thừa nhận một phán quyết trọng tài hoặc không cho thi hành một phán quyết trọng tài hay không? Nếu có thì với điều kiện nào?
=> Toà án có thể từ chối việc thừa nhận một phán quyết trọng tài hoặc không cho thi hành một phán quyết trọng tài Với điều kiện:
– Phù hợp với quy định của Luật mẫu
– Phù hợp với Công ước New York năm 1958
Nhiệm vụ của UNCITRAL là gì?
Trang 39=> Nhiệm vụ của UNCITRAL là làm hiện đại hoá và hài hoà hoá hệ thống quy tắc trong
thương mại quốc tế
UNCITRAL gồm những nhóm làm việc nào ?
=> Ủy ban đã thành lập sáu nhóm làm việc để thực hiện công việc chuẩn bị nội dung về các chủ
đề trong chương trình làm việc của Ủy ban Mỗi nhóm làm việc bao gồm tất cả các nước thành viên của Ủy ban Sáu nhóm làm việc và các chủ đề hiện tại của họ như sau:
Nhóm công tác I - Các doanh nghiệp nhỏ, vừa và nhỏ
Nhóm công tác II – Trọng tài và hòa giải
Nhóm làm việc III – Giải quyết tranh chấp trực tuyến
Nhóm làm việc IV - Thương mại điện tử
Nhóm làm việc V - Luật phá sản
Nhóm làm việc VI - Quyền lợi bảo mật
Luật mẫu UNCITRAL về trọng tài thương mại quốc tế quy định như thế nào về số lượng trọng tài trong Ủy ban trọng tài?
A Các bên được tự do quyết định số
lượng trọng tài viên
B Nếu các bên không quyết định, số
trọng tài viên sẽ là 3 người
Đáp án D
C Các bên không được tự do quyết định số lượng trọng tài viên; số lượng tối đa là 3 trọng tài viên
D A & B đúng
Ủy ban trọng tài sẽ đưa ra yêu cầu chấm dứt tố tụng trọng tài khi:
A Nguyên đơn rút đơn kiện, trừ khi bị đơn phản đối việc này và ủy ban trọng tài công nhận lợi ích chính đáng của bị đơn trong việc có được một giải pháp cuối cùng về tranh chấp
Trang 40A Tính độc lập của thỏa thuận trọng tài, sự kiểm tra và hỗ trợ rất hạn chế của tòa án
B Quyền của các bên được đối xử bình đẳng trong quá trình giải quyết tranh chấp bằng trọng tài
C Sự thống nhất của hợp đồng chính không làm thỏa thuận trọng tài của hợp đồng đó vô hiệu
D Tất cả đều đúng
Đáp án D
Luật mẫu của UNCITRAL đã được sửa đổi vào năm nào? (2006)
Trường hợp các bên đã ký thỏa thuận trọng tài nhưng khi tranh chấp phát sinh, một bên
có thể khởi kiện tại Tòa án được hay không?
Đáp án: Không được, chỉ khi thỏa thuận trọng tài vô hiệu hoặc không thể thực hiện được Theo
Điều 6 Luật Trọng tài thương mại, trong trường hợp các bên tranh chấp đã có thỏa thuận trọng tài mà một bên khởi kiện tại Tòa án thì Toà án phải từ chối thụ lý
Thỏa thuận trọng tài được thành lập khi nào thì được xem là hợp lệ?
Có mấy loại trọng tài? Kể tên
Đáp án: 2 loại trọng tài, đó là trọng tài đơn vụ và trọng tài thường trực
Trình bày nguyên nhân dẫn đến sự khác biệt giữa Phương án giải quyết bằng trọng tài và tòa án?
Đáp án: Nguyên nhân của sự khác biệt: Tòa án là cơ quan trong hệ thống tư pháp của quốc gia
nên khi tiến hành tố tụng nhân danh Nhà nước, thực hiện chủ quyền quốc gia trên lãnh thổ của mình; còn trọng tài quốc tế là tổ chức mang tính tự nguyện, phi quyền lực công, nên phương thức giải quyết tranh chấp bằng Tòa án chặt chẽ, rườm rà vì phải tuân theo pháp luật quốc gia còn trọng tài có cơ chế giải quyết thoáng hơn, linh hoạt hơn, do ý chí và sự thỏa thuận của các bên liên quan Mặt khác, các tranh chấp giải quyết bằng trọng tài quốc tế chủ yếu là các tranh chấp ngoại thương, kinh doanh thương mại nên cần sự nhanh gọn, linh hoạt, đảm bảo được lợi ích tối
đa của các bên, tránh thiệt hại về kinh tế