Tuy nhiên bên cạnh những lợi ích kinh tế và xã hội mà các làng nghềtruyền thống đem lại, thì đang tồn tại những hạn chế của làng nghề truyềnthống do sản xuất theo kinh nghiệm cổ truyền
Trang 1ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong quá trình phát triển nền kinh tế Việt Nam, Đảng và Nhà nước ta cóchủ trương khuyến khích phát triển nền kinh tế nhiều thành phần nhằm pháthuy tối đa những tiềm năng sẵn có của đất nước, đặc biệt là các ngành nghềcông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp truyền thống của dân tộc hay còn gọi làlàng nghề truyền thống
Thực hiện đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước, các làng nghềtruyền thống ngày càng được phục hồi và phát triển mạnh mẽ Giá trị sản xuấtcông nghiệp- tiểu thủ công nghiệp tăng nhanh về số lượng, chất lượng, phongphú về mẫu mã và chủng loại
Làng nghề không chỉ đơn thuần là nơi sản xuất ra sản phẩm hàng hóa thủcông mà còn là môi trường văn hóa - kinh tế - xã hội và công nghệ truyềnthống lâu đời Vì vậy việc phục hồi và phát triển làng nghề truyền thốngkhông những có tác dụng thúc đẩy sự chuyển đổi cơ cấu kinh tế trong nôngnghiệp, tạo việc làm và tăng thu nhập cho người dân lao động mà còn gópphần giữ gìn và phát triển bản sắc văn hóa của dân tộc
Tuy nhiên bên cạnh những lợi ích kinh tế và xã hội mà các làng nghềtruyền thống đem lại, thì đang tồn tại những hạn chế của làng nghề truyềnthống do sản xuất theo kinh nghiệm cổ truyền và làng nghề mang tính tự phát,thiếu quy hoạch, thiếu cơ sở hạ tầng nên quy mô nhỏ chủ yếu hoạt động dướihình thức hộ gia đình, vốn đầu tư ít nên việc cải tiến công nghệ và áp dụngtiến bộ khoa học kỹ thuật rất hạn chế chủ yếu sử dụng lao động phổ thông.Các cơ sở sản xuất làng nghề sử dụng nhiên liệu, nguyên liệu rẻ tiền khôngquan tâm đến việc xử lý chất thải nên không an toàn và gây độc hại, ô nhiễmmôi trường lao động và môi trường xung quanh, ảnh hưởng đến sức khỏe conngười lao động và cả cộng đồng Nghiên cứu của Nguyễn Duy Khánh chothấy hầu hết các làng nghề đều đang bị ô nhiễm nặng: Như ở làng nghề lược,sừng Thụy Ứng, Hòa Bình, Thường Tín, toàn bộ lượng chất thải như dầu mỡ,
Trang 2xương, sừng, da, lông trâu bò đều đổ trực tiếp ra cống rãnh quanh làng, chưa
có biện pháp giảm thiểu ô nhiễm, ảnh hưởng xấu tới mạch nước ngầm Theokết quả nghiên cứu của Viện Nghiên cứu khoa học kỹ thuật bảo hộ lao độnggần đây cho biết, trong các làng nghề, những bệnh mắc nhiều nhất là bệnhliên quan đến hô hấp như viêm họng chiếm 30,56%, viêm phế quản 25% hayđau dây thần kinh chiếm 9,72% Tại làng nghề tái chế chì Đông Mai, tỷ lệngười dân mắc bệnh về thần kinh chiếm khoảng 71%, bệnh về đường hô hấpchiếm khoảng 65,6% và bị chứng hồng cầu giảm chiếm 19,4% Còn tại làngnghề sản xuất rượu Vân Hà (Bắc Giang) tỷ lệ người mắc bệnh ngoài da là68,5% và các bệnh về đường ruột là 58,8%
Chính vì vậy việc xác định tình trạng môi trường làng nghề đặc biệt là ônhiễm nước tại làng nghề hiện đang là mối quan tâm bức xúc của các ban,ngành nhất là ngành y tế và người dân địa phương
Làng nghề “da-sừng” huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội là một làngnghề thuộc da, làm sừng đã lâu, nguy cơ ô nhiễm nguồn nước bởi chất thải rấtcao Nước thải từ các cơ sở sản xuất được xả trực tiếp từ các xưởng chế biến
da, sừng trâu, bò ra môi trường bên ngoài làm nguồn nước như ao, hồ, mươngmáng, cống rãnh nơi đây ô nhiễm có màu đen kịt, bốc mùi hôi khó chịu Tuynhiên vấn đề ô nhiễm nguồn nước ở vùng này tác động đến sức khỏe củangười dân như thế nào lại chưa được quan tâm nghiên cứu Vì vậy chúng tôi
tiến hành đề tài nghiên cứu “Thực trạng chất lượng các nguồn nước và sức khỏe cộng đồng dân cư làng nghề da-sừng xã Hòa Bình, huyện Thường Tín, Hà Nội năm 2014” với các mục tiêu sau:
1 Mô tả thực trạng chất lượng các nguồn nước làng nghề da-sừng xã
Hòa Bình huyện Thường Tín, Hà Nội năm 2014.
2 Mô tả thực trạng các triệu chứng, bệnh chỉ danh của dân cư làng
nghề da-sừng xã Hòa Bình huyện Thường Tín, Hà Nội năm 2014.
Trang 3
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Một số khái niệm chung về ô nhiễm môi trường và ô nhiễm môi trường nước làng nghề hiện nay
1.1.1 Ô nhiễm môi trường
Theo Luật Bảo vệ Môi trường của Việt Nam: Môi trường bao gồm các
yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con người, có ảnh hưởng đến
đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và sinh vật Ô nhiễm môi trường là sự biến đổi của các thành phần môi trường không phù hợp với
tiêu chuẩn môi trường, gây ảnh hưởng xấu đến con người, sinh vật
Trên thế giới, ô nhiễm môi trường được hiểu là việc chuyển các chất thảihoặc năng lượng vào môi trường đến mức có khả năng gây hại đến sức khoẻcon người, đến sự phát triển sinh vật hoặc làm suy giảm chất lượng môitrường Các tác nhân ô nhiễm bao gồm các chất thải ở dạng khí (khí thải),lỏng (nước thải), rắn (chất thải rắn) chứa hoá chất hoặc tác nhân vật lý, sinhhọc và các dạng năng lượng như nhiệt độ, bức xạ Tuy nhiên, môi trường chỉđược coi là bị ô nhiễm nếu trong đó hàm lượng, nồng độ hoặc cường độ cáctác nhân trên đạt đến mức có khả năng tác động xấu đến con người, sinh vật
và vật liệu
1.1.2 Ô nhiễm môi trường nước
1.1.2.1 Định nghĩa ô nhiễm nước
Ô nhiễm nước là sự biến đổi các thành phần của nước, khác biệt với trạng thái ban đầu Đó là sự biến đổi các tính chất lý, hóa, vi sinh và sự có mặt của chúng trong nước làm cho chúng trở thành độc hại đối với sinh vật và con người
- Thay đổi về thành phần lý học: Màu, mùi, độ trong.
- Thay đổi về thành phần hóa học: Các chất vô cơ, chất hữu cơ, các chất độc.
- Thay đổi về sinh vật: Tăng hoặc giảm vi sinh vật hoại sinh, xuất hiện các vi khuẩn và virus gây bệnh.
Trang 4Ngoài ra, Hiến chương Châu Âu về nước định nghĩa: “Ô nhiễm môi trường nước là do tác động của con người gây nên một biến đổi nào đó làm thay đổi chất lượng nước, chính sự thay đổi này gây nên nguy hiểm cho con người, công nghiệp, nông nghiệp, thủy sản, với động vật nuôi và động vật hoang dã”
1.1.2.2 Nguyên nhân gây ô nhiễm nước
- Ô nhiễm nước có nguồn gốc tự nhiên: Do mưa, tuyết tan, gió bão, lũ
lụt đưa vào môi trường nước chất thải bẩn, các sinh vật và vi sinh vật có hại
kể cả xác chết của chúng
- Ô nhiễm nước có nguồn gốc nhân tạo: Quá trình thải các chất độc hại
chủ yếu dưới dạng lỏng như các chất thải sinh hoạt, công nghiệp, nôngnghiệp, giao thông vào môi trường nước
Theo bản chất các tác nhân gây ô nhiễm, người ta phân ra các loại ônhiễm nước: ô nhiễm vô cơ, ô nhiễm hữu cơ, ô nhiễm hóa chất, ô nhiễm sinhhọc, ô nhiễm bởi các tác nhân vật lý
Trong thời đại khi các nước đều đang cố gắng phát triển công nghiệphóa, hiện đại hóa như ngày nay, thì nguyên nhân gây ô nhiễm nguồn nước chủyếu có nguồn gốc nhân tạo Điều này đang tạo ra một thách thức rất lớn vớitất cả các nước trên thế giới, và tất nhiên Việt Nam là một trong số đó
1.1.3 Tình hình làng nghề tại nước ta
1.1.3.1 Khái niệm chung về làng nghề
Hai yếu tố cấu tạo nên làng nghề là “Làng” và “Nghề” “Làng” là khuvực địa lý, không gian, lãnh thổ nhất định mà tại đó tồn tại những tập hợp dân
cư cùng sinh sống, sản xuất và giữa họ có mối quan hệ khăng khít với nhau
“Nghề” là khái niệm chỉ các hoạt động sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệpdiễn ra tại khu vực nông thôn mà lao động trong các nghề này thường đượctách ra từ nông nghiệp với mục tiêu tăng thu nhập
Trang 5Tác giả Trần Minh Yến quan niệm: Làng nghề là một thiết chế kinh tế xãhội ở nông thôn, được cấu thành bởi yếu tố làng và nghề, tồn tại trong mộtkhông gian địa lý nhất định, trong đó bao gồm nhiều hộ gia đình sinh sốngbằng nghề thủ công là chính, giữa họ có mối liên kết về kinh tế - xã hội vàvăn hóa Trong đề tài “Phát triển làng nghề ở các tỉnh duyên hải nam trung
bộ - Thực trạng và giải pháp” năm 2009, quan niệm Làng nghề được hiểurộng hơn, đầy đủ hơn, đó là: “Làng nghề là một địa bàn hay khu vực dân cưsinh sống, có các hoạt động ngành nghề nông thôn, sản xuất ra một hoặcnhiều loại sản phẩm khác nhau, có số hộ, số lao động, thu nhập từ ngành nghềnày chiếm ưu thế so với số hộ, số lao động và thu nhập của làng trong năm” Theo Cục chế biến Nông lâm sản và Ngành nghề Nông thôn tỉnh Hải Dương:
“Làng nghề là làng (thôn, ấp) ở nông thôn có ngành nghề phi nông nghiệpphát triển tới mức trở thành nguồn sống chính hoặc nguồn thu nhập quantrọng của người dân trong làng” Ngoài ra, Thông tư 116/2006/TT-BNN của
Bộ Nông Nghiệp và Phát triển nông thôn, định nghĩa: “Làng nghề là một hoặcnhiều cụm dân cư cấp thôn, ấp, bản, làng, buôn, phum, sóc hoặc các điểm dân
cư tương tự trên địa bàn một xã, thị trấn, có các hoạt động ngành nghề nôngthôn, sản xuất ra một hoặc nhiều sản phẩm khác nhau” Hiện nay, thực tế thìchưa có một định nghĩa chính xác nào về Làng nghề vì mỗi một tỉnh hoặc mộtkhu vực lại hiểu Làng nghề theo một phạm trù sao cho phù hợp nhất với tìnhhình, đặc điểm tại địa phương đó
Trang 61.1.3.2 Phân loại làng nghề.
Dựa trên các tiêu chí khác nhau, có thể chia làng nghề thành một số loạinhư sau :
-Theo làng nghề truyền thống và làng nghề mới
-Theo ngành sản xuất, loại hình sản phẩm
-Theo quy mô sản xuất, theo quy trình công nghệ
-Theo nguồn thải và mức độ ô nhiễm
-Theo mức độ sử dụng nguyên/nhiên liệu
-Theo thị trường tiêu thụ sản phẩm, tiềm năng tồn tại và phát triển
Dựa trên các yếu tố tương đồng về ngành sản xuất, sản phẩm, thị trường,nguyên vật liệu và tiêu thụ sản phẩm có thể chia làng nghề nước ta ra làm 6nhóm chính, bao gồm :
-Làng nghề chế biến lương thực, thực phẩm, chăn nuôi và giết mổ: Có
số lượng làng nghề lớn, phân bố tương đối đều trên cả nước, phần nhiều sửdụng lao động lúc nông nhàn, không yêu cầu trình độ cao, gần như quy trìnhsản xuất ít thay đổi so với thời điểm khi hình thành nghề Các sản phẩm nổitiếng rất nhiều, như: rượu, bánh đa nem, đậu phụ, miến dong, bún, bánh đậuxanh, bánh gai Một số làng nghề như Làng Vân, Phú Đô…
-Làng nghề dệt nhuộm, ươm tơ, thuộc da: Nhiều làng có từ lâu đời,
mang đậm nét văn hóa địa phương; quá trình sản xuất không thay đổi nhiềuvới nhiều lao động có tay nghề cao Các sản phẩm chính như: lụa tơ tằm, thổcẩm, dệt may…
-Làng nghề sản xuất vật liệu xây dựng và khai thác đá: Hình thành từ hàng trăm năm nay, tập trung ở vùng có khả năng cung cấp nguyên liệu cơ bản cho xây dựng, lao động gần như thủ công hoàn toàn, quy trình công nghệ thô sơ, tỷ lệ cơ khí hóa thấp, ít thay đổi.
Trang 7-Làng nghề tái chế phế liệu: Chủ yếu là làng nghề mới hình thành, số
lượng ít, nhưng lại phát triển nhanh về quy mô và loại hình tái chế (giấy,nhựa, vải, kim loại,…) Đa số làng nghề tập trung ở phía Bắc, công nghệ sảnxuất từng bước được cơ khí hóa
-Làng nghề thủ công mỹ nghệ: Là nhóm nghề chiếm tỷ trọng lớn về số
lượng, có truyền thống và đem lại giá trị cao; bao gồm các làng nghề gốm,sành sứ thủy tinh mỹ nghệ, chạm khắc đá, mây tre đan, đồ gỗ mỹ nghệ, sơnmài, làm nón, dệt chiếu, thêu ren Công nghệ sản xuất ít thay đổi, lao động thủcông nhưng đòi hỏi tay nghề cao, tỷ mỷ
-Các nhóm ngành khác: Gồm các làng nghề chế tạo nông cụ thô sơ như:
cày bừa, cuốc xẻng, liềm hái, mộc gia dụng, đóng thuyền, làm quạt giấy, dâythừng, đan vó… Lao động phần lớn là thủ công với số lượng lớn và chấtlượng ổn định
Tỷ lệ các nhóm được phân bố theo như biểu đồ dưới đây :
Biểu đồ 1.1 Phân loại làng nghề Việt Nam theo ngành nghề sản xuất
(Nguồn: Tổng cục môi trường, 2008)
Trang 81.1.4 Tình trạng ô nhiễm nguồn nước
Ô nhiễm môi trường nói chung và ô nhiễm môi trường nước nói riêngđang là một vấn đề rất nghiêm trọng không chỉ với nước ta mà còn với tất
cả các nước trên toàn cầu Ô nhiễm môi trường nước đang ở mức “Báođộng đỏ”, là một thách thức lớn cần giải quyết trên toàn thế giới, khôngngoại trừ nước ta
1.1.4.1 Vài nét về tình hình ô nhiễm nguồn nước trên thế giới
Trên thế giới, ô nhiễm và mất vệ sinh nguồn nước là một vấn đề gây ranhiều bức bối hiện nay Ở Ấn Độ, cục giám sát chất lượng nước đã chỉ ra rằnggần như tất cả các con sông đều có hàm lượng BOD cao Ô nhiễm nhất làdòng sông Markanda (590 mg O/l), tiếp theo là sông Kali (364 mg O/l), sôngAmla Khadi (353 mgO/l), kênh Yamuna (247 mgO/l), sông Yamuna ở Delhi(70 mg O/l) và sông Betwa (58 mg O/l) Các dòng sông Yamuna, sông Hằng,Gomti, Ghaggar, Chambal, Mahi, Wardha ở Ấn Độ đều bị ô nhiễm bởiColiform Trong năm 2006, 47% các trạm giám sát chất lượng nước báo cáorằng nồng độ Coliform trong nước là trên 500 MPN/100 ml, trong khi giớihạn cho phép chỉ là dưới 104 MPN/100 ml Vào năm 2008, chính phủ Ấn Độ
đã nỗ lực kiểm soát tình trạng ô nhiễm nguồn nước nên con số này còn lại là33%, song đây vẫn là một tỷ lệ còn khá cao
Ngoài ra, một nghiên cứu chung vào năm 2008 của Ban kiểm soát ônhiễm PGIMER và Punjab, Ấn Độ cho biết, các ngôi làng ven sông Nullah cónồng độ Flo, thủy ngân, các chất hóa học của thuốc trừ sâu, nồng độ COD vàBOD (nhu cầu oxy hóa học và sinh hóa), ammonia, phosphate, clorua, crom,asen ở trong đất và nước máy vượt giới hạn cho phép rất nhiều lần Nướcngầm cũng chứa nhiều niken và selen, trong khi nước máy có nồng độ chì,niken và cadium vượt tiêu chuẩn an toàn theo quy định
Trang 9Còn tại Malaysia, Fawaz Al Badaii và các cộng sự trong trường đại họcKebangsaan đã tiến hành nghiên cứu nước trên dòng sông Semenyih, chothấy: dòng sông đã bị ô nhiễm nhẹ NH3-N, TSS, COD, NO3 và ô nhiễm PO4,
FC nặng Chất lượng nước tại dòng sông đã bị suy giảm nghiêm trọng do chútrọng các hoạt động công nghiệp, nông nghiệp, chăn nuôi gia súc mà thiếuquan tâm đến bảo vệ môi trường nước
Tại Hoa Kỳ, một nghiên cứu năm 2013 đã chỉ ra rằng: Hơn 2/3 các cửasông và vịnh tại Mỹ bị ô nhiễm bởi Photpho và Nito; khoảng 40% sông, hồ ở
Mỹ bị ô nhiễm nặng nề (con số này ở Ireland là khoảng 30%); 2,2 tỷ Poundthuốc trừ sâu và khoảng 1.200 tỷ lít nước thải, chất thải công nghiệp chưa qua xử
lý bị đổ xuống sông mỗi năm Ngoài ra, gần 85% tổng diện tích tại Banglades cónguồn nước ngầm bị ô nhiễm, đặc biệt là bị nhiễm độc bởi Asen
Tại Trung Quốc, theo các số liệu thống kê 40% sông ngòi ở nước này bị
ô nhiễm nghiêm trọng Bà Triệu Phi Hồng, một nhà nghiên cứu nước thuộcHiệp hội Y tế Bắc Kinh cho biết: “Trong số hơn 100 con sông ở thủ đô BắcKinh hiện nay, chỉ có hai hoặc ba con sông có thể dùng để cấp nước Nhữngcon sông còn lại nếu không khô cạn, cũng bị ô nhiễm vì nước thải” Lượngchất thải và nước thải công nghiệp thải ra các thành phố lớn của Trung Quốctăng từ 23,9 tỷ m3 trong năm 1980 lên khoảng 73,1 tỷ m3 trong năm 2006 Báo cáo trong Ngày nước toàn cầu năm 2013 tổ chức tại Bắc Kinh-TrungQuốc đã chỉ ra rằng: khoảng 40% diện tích nước bề mặt tại Trung Quốc bị ônhiễm nặng
1.1.4.2 Tình hình ô nhiễm nguồn nước tại Việt Nam
Việt Nam cũng đang phải đối mặt với tình trạng nguồn nước ô nhiễm
Có thể nói, nguồn nước ở nước ta đã và đang bị ô nhiễm ngày càng trầm trọnghơn về mức độ, đồng thời quy mô, diện tích ô nhiễm cũng tăng lên, ô nhiễmtrên tất cả các loại nước như là nước mặt, nước ngầm và nước biển
Trang 10Nghiên cứu của Vũ Thị Hồ Vân năm 2004 chỉ ra rằng tại khu vực trườngĐại học Y Hà Nội nguồn nước sinh hoạt bị nhiễm Coliform
Một nghiên cứu khác của Vũ Hoàng Hoa năm 2010 đã kết luận: khu nướcbiển ven bờ thuộc vùng biển Hải Phòng, đặc biệt là khu vực sông có cảng, đang
bị ô nhiễm Sự ô nhiễm trước tiên phải kể đến là ô nhiễm dầu, hàm lượng dầutrong nước vùng biển ven bờ Hải Phòng có xu hướng tăng cao trong các khu vựccửa sông, gần khu vực cảng, bến đỗ tàu thuyền, bám vào lá sú vẹt và ngấm vàotrầm tích mặt đáy Hệ số ô nhiễm dầu trong trầm tích tăng từ 0,7 (năm 2001) lên2,4 (năm 2008) Độ ôxy hoà tan (DO) của vùng biển thấp, trung bình khoảng 3,3đến 10,9 mg/l vào mùa khô và khoảng 0,1 đến 6,1 mg/l vào mùa lũ Nhu cầu ôxyhoá sinh học (BOD) khá cao (13,6 đến 31 mg/l), chỉ số vi sinh (coliform) quakhảo sát đều thấy vượt quá tiêu chuẩn cho phép
Báo cáo Môi trường quốc gia năm 2012, cho thấy hầu hết chất lượngnước ở các sông của nước ta đang và đã bị suy giảm nghiêm trọng: kết quảquan trắc năm 2011 cho thấy, hàm lượng dầu mỡ và chất lơ lửng trong nướcsông Ka Long tại các khu vực cảng vượt QCVN/08:2008/BTNMT trên 7 lần.Nước thải sinh hoạt từ các khu dân cư, nhà hàng, khách sạn, nhà máy cũng đổtrực tiếp vào sông này, gây ô nhiễm môi trường nước Giá trị của các thông sốBOD, COD, TSS, Coliform…vượt ngưỡng QCVN loại A2 từ 3-4 lần Điềunày cũng đang xảy ra trên sông Kỳ Cùng (theo Sở Tài nguyên và Môi trườngLạng Sơn, 2010) Các hệ thống sông lớn đang bị ô nhiễm cục bộ và ngàycàng lan nhanh, rộng Như đầu nguồn (Lai Châu, Lào Cai, Yên Bái, HàGiang) vài năm gần đây mùa khô xuất hiện hiện tượng ô nhiễm bất thườngtrong thời gian ngắn 3-5 ngày Sông Hồng qua Phú Thọ, Vĩnh Phúc hầu hếtcác thông số vượt QCVN 08:2008-A1, một số địa điểm gần các nhà máy thậmchí xấp xỉ B1 (đoạn sông Hồng từ Công ty Super Phốt phát và hóa chất LâmThao đến khu công nghiệp phía nam thành phố Việt Trì), các thông số vượtngưỡng B1 nhiều lần
Trang 11(Nguồn: Tổng cục môi trường 2012)
Biểu đồ 1.2 Diễn biến hàm lượng BOD5, tại sông Cầu đoạn qua Bắc Ninh,
Bắc Giang năm 2007-2011
Biểu đồ cho thấy đoạn sông Cầu qua Bắc Ninh, Bắc Giang phần lớn cácđiểm quan trắc đều có thông số vượt QCVN A1, thậm chí vượt hoặc sấp sỉQCVN B2 Bên cạnh đó, các thông số như COD, BOD5, NH4 có xu hướngtăng, điều này cho thấy chất lượng nước đang suy giảm Thực tế, sông Cầuthời gian qua nhiều đoạn đã bị ô nhiễm nghiêm trọng, nhất là các đoạn sôngchảy qua các đô thị, KCN và các làng nghề thuộc tỉnh Thái Nguyên, BắcGiang, Bắc Ninh Sông Ngũ Huyện Khê là một trong những điển hình ônhiễm trên lưu vực sông Cầu và tình trạng ô nhiễm nặng gần như không thayđổi Lưu vực sông Nhuệ - Đáy nhiều đoạn bị ô nhiễm tới mức báo động, vàomùa khô giá trị các thông số BOD5, COD, TSS… Tại các điểm đo vượtQCVN 08:2008 loại A1 nhiều lần
Trang 12(Nguồn: Tổng cục môi trường, 2012)
Biểu đồ 1.3 Diễn biến hàm lượng COD trên một số sông nội thành thuộc lưu
vực sông Nhuệ, sông Đáy năm 2007-2011
Đặc biệt, các sông ở nội thành Hà Nội do là nơi tiếp nhận và dẫn nướcthải sinh hoạt nên mức ô nhiễm nghiêm trọng, biến thiên tùy thời điểm Cácthông số đều vượt QCVN 08:2008 loại B1 nhiều lần, thậm chí vượt QCVN14:2008/BTNMT Không chỉ sông, mà các hồ ở Hà Nội và nội thị thành phốlớn đã bị ô nhiễm, phần lớn là ô nhiễm các chất hữu cơ: các hồ nội thành vớihầu hết các thông số đều vượt QCVN 08:2008/BTNMT loại B2
Nhìn chung, tình hình ô nhiễm nước của nước ta đang ở mức báo độngcao và là một vấn đề đang tồn tại song song và ảnh hưởng rất lớn tới cuộcsống của người dân Vấn đề này đang là thách thức rất lớn cho các nhà lãnhđạo, quản lý, môi trường trong việc tìm cách khắc phục và hạn chế sự gia tăngcủa tình trạng ô nhiễm nước nói riêng và ô nhiếm môi trường nói chung
Trang 131.2 Thực trạng ô nhiễm môi trường các làng nghề tại Việt Nam
1.2.1 Thực trạng chung
Làng nghề và các điểm công nghiệp làng nghề trong thời gian qua khôngngừng phát triển về số lượng và tăng về hoạt động sản xuất Hiện cả nước cótrên 2.100 làng nghề, sử dụng hơn 11 triệu lao động (khoảng 30% lực lượnglao động tại khu vực nông thôn) Các làng nghề tập trung chủ yếu ở các vùngđồng bằng đông dân cư, gần các đô thị và có vị trí thuận lợi về giao thông.Làng nghề tập trung chủ yếu ở Đồng bằng Sông Hồng (chiếm 67%), còn lại làcác làng nghề ở miền Trung (khoảng 21%) và miền Nam (khoảng 12%) Làng nghề có ý nghĩa lớn trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội ở nôngthôn, giải quyết nhiều việc làm giúp làm thay đổi bộ mặt nông thôn Việt Nam.Tuy nhiên, dù có nhiều làng nghề nhưng trong số đó có nhiều làng nghề tráhình, lấy danh nghĩa làng nghề để trốn tránh các nghĩa vụ đối với xã hội, trốncác loại phí, thuế nói chung và bảo vệ môi trường nói riêng, trốn tránh các chếtài về bảo vệ môi trường Ngoài ra, do trình độ công nghệ sản xuất còn rấtthấp, sản xuất manh mún, lạc hậu, phân bố rải rác, thiếu tập trung, nhận thức
về bảo vệ môi trường còn kém… đã làm cho làng nghề trở thành một tác nhângây ô nhiễm môi trường đặc biệt nghiêm trọng
Nghiên cứu của Phan Hướng Dương năm 2001 tại làng nghề chế biếnlương thực xã Dương Liễu, huyện Hoài Đức cho thấy, nồng độ khí CO tại hộnhà dân bằng hoặc vượt tiêu chuẩn cho phép Thêm vào đó, rác thải sinh hoạt,
bã thải của sản xuất, nước thải, phân gia xúc tồn đọng, liên tục bị phân hủythành các khí độc như amoniac… bay lên khắp nơi Ngoài ra, khi phân tíchmôi trường không khí thì thấy nồng độ bụi và hơi khí độc ở nhà dân cao hơnnơi khác nhiều
Theo nghiên cứu của Lê Văn Đỉnh và cộng sự vào năm 2001, cho thấyhiện trạng ô nhiễm tại làng nghề nấu rượu, bánh đa nem Vân Hà (Bắc Giang):
Trang 14nồng độ bụi đo được là 29,75 mg/m3, SO2 (1,4 mg/m3), NO2 (1,1 mg/m3), H2S(5,5 mg/m3) đều cao hơn gấp nhiều lần tiêu chuẩn cho phép Những nghiêncứu này có kết quả gần tương đồng với Quỳnh Trang (2006) và đề tài cấp Bộcủa trường Đại học Y Hà Nội (1996) , khi chúng cũng chỉ ra là: ở các làngnghề chế tác kim loại, hàng nghề rèn… môi trường không khí đã bị ô nhiễmnặng nề bởi các hơi khí độc như CO, NO2.
Kết quả khảo sát tại 52 làng nghề điển hình trong cả nước cho thấy, cóđến 46% số làng nghề có môi trường (không khí, nước, đất hoặc cả ba dạngtrên) bị ô nhiễm nặng và có 27% ô nhiễm vừa Theo kết quả khảo sát 43 làngnghề trên địa bàn thành phố của Trung tâm Quan trắc và phân tích tài nguyênmôi trường Hà Nội, hầu hết môi trường nước, không khí, đất đai các làngnghề đều bị ô nhiễm, nhiều nơi ô nhiễm nặng tới mức báo động Điển hìnhnhư các làng nghề ở thành phố Hà Nội: Làng nghề lụa Vạn Phúc, quận HàĐông có nồng độ H2S vượt tiêu chuẩn cho phép từ 2,8-3,1 lần; làng nghềlương thực thực phẩm Yên Viên, huyện Gia Lâm chỉ tiêu SO2 vượt 1,4-1,8lần Trong nghiên cứu của Viện khoa học thủy lợi Việt Nam, đã chỉ ra rằng, ônhiễm môi trường không khí tại các làng nghề có nguồn gốc chủ yếu từ sửdụng than làm nhiên liệu (phổ biến là than chất lượng thấp), sử dụng nguyênvật liệu và hóa chất trong dây chuyền công nghệ sản xuất do khí thải chứa cácthành phần đặc trưng là bụi, CO2, CO, SO2 , chất hữu cơ bay hơi Ngoài ra,quá trình tái chế và gia công cũng gây phát sinh các khí độc như hơi a-xít,kiềm, ô-xít kim loại và ô nhiễm nhiệt Hàm lượng bụi ở khu vực sản xuất vậtliệu xây dựng tại một số địa phương vượt quá Quy chuẩn Việt Nam từ 3 đến 8lần, hàm lượng SO2 có nơi vượt 6,5 lần Ở các làng nghề chế biến lương thực,thực phẩm, chăn nuôi và giết mổ còn phát sinh ô nhiễm mùi do quá trình phânhủy các chất hữu cơ trong nước thải và các chất hữu cơ trong chế phẩm thừathải Hầu hết các làng nghề chưa được thu gom và xử lý triệt để chất thải rắn,
Trang 15nhiều làng nghề xả thải bừa bãi gây tác động xấu tới cảnh quan, gây ô nhiễmmôi trường không khí, nước và đất
Thêm một số kết quả quan trắc môi trường không khí năm 2009 tại 23làng nghề cho thấy, có 9/23 làng nghề có từ 1-4 chỉ tiêu quan trắc nồng độ khíthải vượt quá nồng độ cho phép từ 1,1-1,3 lần (so sánh với tiêu chuẩn ViệtNam 5938:2005) Còn vào năm 2010, kết quả quan trắc trên 46 làng cho thấy
có 45/46 làng có 01 chỉ tiêu quan trắc chất lượng không khí vượt quy chuẩncho phép từ 1,1-4,3 lần (QCVN 05:2009)
1.2.2 Thực trạng ô nhiễm môi trường nước tại các làng nghề
Ô nhiễm nước tại các làng nghề là một hiện trạng đã xảy ra từ rất lâu vàngày càng diễn biến nghiêm trọng và phức tạp hơn, gây ra rất nhiều bức xúccho người dân và đặt ra nhiệm vụ giải quyết cho lãnh đạo ban ngành các địaphương, chính phủ
Theo điều tra đánh giá hiện trạng sản xuất và môi trường của Chi cụcBảo vệ môi trường Hà Nội tại các làng nghề sơn mài Hạ Thái, bánh dàyThượng Đình, cơ khí Liễu Nội (Thường Tín) và bún bánh Phú Đô (Từ Liêm)cho thấy, cả nguồn nước ngầm và ao hồ, kênh mương thủy lợi ở những nơinày bị ô nhiễm bởi các chất hóa học độc hại Nguồn nước ngầm sử dụng trongsinh hoạt và sản xuất bị ô nhiễm bởi COD, NH4, phenol; các chỉ tiêu sinh họcnhư Ecoli, coliform, kim loại nặng như As, Hg khá cao Nguồn nước bề mặt
ao, hồ, kênh mương thủy lợi thì bị nhiễm độc bởi SS, BOD5, COD, NH4,
NO2¸PO4, Hg, phenol, dầu mỡ, ecli, coliform
Kết quả điều tra, khảo sát của Bộ Khoa học - Công nghệ cho thấy 100%mẫu nước thải, thậm chí cả nước mặt, nước ngầm ở các làng nghề đều vượtcác tiêu chuẩn cho phép Cho đến nay, phần lớn nước thải tại các làng nghềđều thải thẳng ra ngoài không qua bất kỳ khâu xử lý nào
Trang 16Kết quả quan trắc chất luợng nuớc thải tại vị trí các cống thải của làngnghề đổ ra môi truờng nuớc mặt thực hiện trong hai năm 2009 và 2010 chothấy 100% số luợng làng nghề đuợc quan trắc đều có từ 01 chỉ tiêu phân tíchnuớc thải vuợt TCCP theo TCVN 5945: 2005, trong đó các làng nghề chếbiến nông sản thực phẩm có chỉ tiêu hữu cơ quan trắc vuợt TCCP cao nhất từ10-14 lần so với tiêu chuẩn cho phép
Một nghiên cứu năm 2001 ở Hà Nội đã chỉ ra rằng kết quả phân tích từlượng nước thải rất lớn của làng nghề Dương Liễu, cho thấy môi trường nướctại làng nghề bị ô nhiễm nặng: cụ thể là về chỉ tiêu BOD (phản ánh sự tồn tạicác chất hữu cơ dễ phân hủy có nguồn sinh học) và nồng độ Coliform cao hơntiêu chuẩn cho phép hàng chục lần; hàm lượng COD (phản ánh chất lượngnước hữu cơ có nguồn gốc hóa học, khó phân hủy trong tự nhiên) cũng caohơn rất nhiều lần mức tiêu chuẩn cho phép
Một khảo sát mới đây của Viện Khoa học và Công nghệ Môi trường(Đại học Bách khoa Hà Nội) và Bộ Khoa học và Công nghệ cho thấy, 100%mẫu nước thải ở các làng nghề đều cho thông số ô nhiễm vượt tiêu chuẩn chophép Riêng Hà Nội, khảo sát tại 40 xã cho kết quả khoảng 60% số xã bị ônhiễm nặng từ các hoạt động sản xuất Nghề thuộc da, làm miến dong ở HàTây cũng thường xuyên thải ra các chất như bột, da, mỡ làm cho nước nhanh
bị hôi thối, ô nhiễm nhiều dòng sông chảy qua làng nghề Ngoài ra, việnNghiên cứu khoa học kỹ thuật bảo hộ lao động-Tổng liên đoàn lao động ViệtNam cho biết: Tại khu vực sản xuất cũng như cống rãnh ở các làng nghề chếbiến nông sản trên địa bàn huyện Quốc Oai, Hoài Đức, Ba Vì đều có lượngchất thải lớn, bốc mùi hôi thối nồng nặc, nhất là khi thời tiết nắng nóng và áchtắc cục bộ khi trời mưa Các làng nghề như cơ khí Thanh Thùy (Thanh Oai),Liên Bạt (Ứng Hòa), Nhị Khê (Thường Tín), Phùng Xá (Thạch Thất) khôngchỉ nguồn nước bị ảnh hưởng của nước thải từ công đoạn mạ, cán phôi thép
Trang 17mà không khí cũng chứa đầy bụi độc và ảnh hưởng của tiếng ồn, rung do hoạtđộng của máy búa, máy dập, lò cán thép Tại các làng nghề dệt nhuộm VạnPhúc (Hà Đông), La Phù (Hoài Đức) nước thải từ các công đoạn in, nhuộm,chuội vải xả thẳng ra cống rãnh khiến nguồn nước chuyển màu đen đặc, bốcmùi nồng nặc
Nhìn chung, có thể thấy rằng dù tình trạng ô nhiễm nước tại các làngnghề đang rất phức tạp, nhưng điều đáng nói là có ít những nghiên cứu cặn kẽ
về vấn đề này
1.2.3 Ô nhiễm môi trường làng nghề “Da-sừng”
Làng nghề da-sừng là làng nghề đã được hình thành từ lâu đời Nhữnglàng nghề thuộc nhóm này ngày càng phát triển, đóng một vai trò quan trọngtrong việc đem lại một nguồn thu nhập tương đối cao và ổn định của ngườidân nơi đây Tuy vậy, sự phát triển này đang kéo theo tình trạng ô nhiễm môitrường nghiêm trọng, đặc biệt phải kể đến ô nhiễm ở các làng nghề xương,sừng như ở Thụy Ứng của Hà Nội hay các làng nghề ở Hà Nam
Năm 2012, nghiên cứu của Nguyễn Duy Khánh cho thấy hầu hết cáclàng nghề đều đang bị ô nhiễm nặng: Như ở làng nghề lược, sừng Thụy Ứng,Hòa Bình, Thường Tín, toàn bộ lượng chất thải như dầu mỡ, xương, sừng, da,lông trâu bò đều đổ trực tiếp ra cống rãnh quanh làng, chưa có biện pháp giảmthiểu ô nhiễm, ảnh hưởng xấu tới mạch nước ngầm Thụy Ứng được gọi vớitên “Làng thối”, do nước thải được xả trực tiếp từ các xưởng chế biến da trâubò làm cho một vùng nước có màu đen sì, sủi bọt, xú uế Những ao làng naycũng trở thành ao "chết" vì ngâm xương, sừng và nước tẩy rửa từ các gia đìnhlàm nghề Hằng ngày các hộ buôn bán da trâu bò dùng trung bình 4 tấn muối
để uớp da cộng với hàng trăm mét khối nước rửa Toàn bộ nuớc thải nhiễmmuối và các chất hữu cơ thôi ra từ da có màu đỏ từ các hộ buôn bán da trâu,bò cứ vô tư xả thẳng ra môi trường bên ngoài mà không được xử lý qua bất kì
Trang 18một công đoạn hay kĩ thuật gì, nước thải theo các mương thoát nước chảyxuống ruộng, đồng bốc mùi hôi thối, tanh lợm khiến các sinh vật ở mương aochết, lua cũng chết vì nhiễm mặn, nhiễm bẩn Nguồn nước ngầm ở làng bịnhiễm mặn nghiêm trọng: nước có màu vàng nhạt, có vị mặn chát và đượcngười dân nói rằng “nấu canh không cần cho muối” Tác giả Nguyễn Hiếucũng nhận định một tình trạng ô nhiễm tương tự tại làng nghề Thụy Ứng:mương máng, cống rãnh, ao hồ đâu cũng thấy một mầu nước đen kịt, bốcmùi hôi khó chịu Ngay đầu làng là một vùng ngập nước xú uế, rác thải vàbụi Nước ao đen, bùn sủi lên với những đống xương ngâm vây quanh là ruồimuỗi Hầu hết bào các ao trong làng chết vì nước quá bẩn, mà nguyên nhângây ô nhiễm chính là các chất hữu cơ bị phân huỷ từ việc ngâm xương, ngâmsừng và nước tẩy rửa a xít, ô xi già từ các gia đình làm nghề Cùng với nguồnnước, rác thải cũng là vấn đề gây ô nhiễm, đâu cũng thấy rác, rác ở ao, ngõxóm, cống rãnh bờ mương Ngoài ra, lượng bụi được tạo ra từ việc mài, dũa,chà sừng… bị thải ra đường, phủ trắng trên mái nhà, lối đi, bể nước ăn
Ngoài ra, Trung tâm Quan trắc và phân tích tài nguyên môi trường HàNội cho biết, làng nghề lược sừng Thụy Ứng-Thường Tín có chỉ tiêu hàmlượng SO2 vượt 1,3-1,6 lần tiêu chuẩn cho phép Điều này cho thấy thực tế,làng nghề da-sừng đang bị ô nhiễm rất nặng, ảnh hưởng không nhỏ tới sứckhỏe người dân
Tình hình ô nhiễm tại các làng nghề là một vấn đề báo động, gây ra bứcxúc rất nhiều trong cộng đồng Tuy nhiên, thực tế hiện nay, khi tìm hiểu thìlại ít có nghiên cứu đánh giá sâu rộng vấn đề này Phần lớn các thông tin cóđược chủ yếu do các phóng viên trực tiếp xâm nhập, viết bài nên chỉ dừng lạiđược ở việc đưa ra thực trạng đang tồn tại mà khó có thể đề xuất được cácgiải pháp giải quyết vấn đề một cách thích hợp và khoa học
Trang 191.3 Những ảnh hưởng của ô nhiễm nước ở nước ta
và tiêu chảy đã lên tới con số hàng trăm tỷ đồng Như trong khoảng 4 nămgần đây, chi phí cho chữa trị các bệnh này là 400 tỷ đồng [24]
Ngoài ra, ô nhiễm nước còn gây những thiệt hại kinh tế không nhỏ tronghoạt động sản xuất nông nghiệp và khai thác, nuôi trồng thủy sản Theo mộtnghiên cứu của Vũ Thị Thanh Hương (2010), ô nhiễm nguồn nước tại hệthống thủy lợi Bắc Hưng Hải đã làm 2/15 xã có năng suất lúa bị giảm (xã ĐaTốn có 50 ha đất lúa gần trạm bơm tưới, lúa thường bị lốp đổ, năng suất giảm
từ 15-20% so với năng suất bình quân xã Hưng Long có 200 ha đất lúa năngsuất giảm 35-40% so với năng suất bình quân) Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng9/15 xã đã có ảnh hưởng của ô nhiễm nước đến nuôi trồng thủy sản
Trang 20Bảng 1.1 Ảnh hưởng của ô nhiễm nước đến nuôi trồng thủy sản khu vực
thủy lợi Bắc Hưng Hải.
Từ bảng này dễ thấy, năng suất và sản lượng nuôi trồng thủy sản có thểgiảm từ 10-40% so với bình thường do nước ô nhiễm
Nguồn số liệu của Tổng cục môi trường-sở tài nguyên và môi trườngNinh Bình cho biết, trong 3 ngày từ 13-17/03/2009, hàng chục tấn cá đã chếtnổi trắng, kéo dài 7 km trên sông Nhuệ: do sông này chứa rất nhiều cửa cốngnước thải của các làng nghề và cụm công nghiệp; hay theo báo cáo của Chicục thủy sản Đồng Nai, chỉ trong 3 ngày từ 6-8/06/2010 đã có 55 tấn cá bịchết Trong năm 2012, tại tỉnh Sóc Trăng bị thiệt hại trên 500 ha tôm (tôm
sú bị chết chiếm khoảng 30%); tại tỉnh Trà Vinh, năm 2012, diện tích nuôitôm là khoảng 6.000 ha, nhưng sau khoảng hơn 1 tháng nuôi đã bị chết 600 ha
Những con số thông kê trên cho thấy tác động rất lớn của môi trườngnước bị ô nhiễm tới mọi mặt của đời sống xã hội, đòi hỏi bức thiết cần cónhững can thiệp đúng đắn và kịp thời
Trang 211.3.2 Tác động của ô nhiễm nguồn nước tới sức khỏe con người và sinh vật
Theo thống kế, trên thế giới mỗi năm có khoảng 3.575 triệu người chết
do các bệnh liên quan đến nước Trong đó: 43% số ca chết do tiêu chảy; 84%
số người chết là trẻ em; 98% số ca chết tập trung ở các nước đang phát triển(Việt Nam là một trong số đó)
Ảnh hưởng của ô nhiễm nước đối với sức khỏe con người có thể thôngqua hai con đường: một là do ăn uống phải nước ô nhiễm hay các loại rau quảthủy sản được nuôi trồng trong nước bị ô nhiễm; hai là do tiếp xúc với môitrường nước bị ô nhiễm trong quá trình sinh hoạt và lao động Theo thống kêcủa Bộ y tế, gần ½ trong tổng số 26 bệnh truyền nhiễm có liên quan tới cácnguồn nước bị ô nhiễm Điển hình nhất là bệnh tiêu chảy cấp Ngoài ra cònnhiều bệnh khác như tả, thương hàn, các bệnh về đường tiêu hóa, viêm não,nguy hiểm hơn là ung thư
Bảng 1.2 Số ca mắc bệnh truyền nhiễm liên quan
đến ô nhiễm nước 2004 – 2008
(Nguồn: Niên giám thống kê y tế, 2008.)Nghiên cứu của Vũ Thị Thanh Hương năm 2010 cũng đưa ra kết quả gầntương đồng
Trang 22Bảng 1.3 Tổng hợp các loại dịch bệnh thống kê qua các năm khu vực
thủy lợi Bắc Hưng Hải năm 2010
Ta có thể thấy, mặc dù đời sống của nhân dân ngày được nâng caonhưng tỷ lệ các bệnh liên quan đến ô nhiễm nước lại có chiều hướng tăng lên:bệnh tiêu chảy tăng khoảng 2,03% từ năm 2006 đến 2009; bệnh ung thư trướcđây rất hiếm nhưng đến nay gần như các địa phương nào cũng có người tửvong vì ung thư
Ngoài ra, kết quả nghiên cứu của Viện Nghiên cứu khoa học kỹ thuậtbảo hộ lao động gần đây cho biết, trong các làng nghề, những bệnh mắc nhiềunhất là bệnh liên quan đến hô hấp như viêm họng chiếm 30,56%, viêm phếquản 25% hay đau dây thần kinh chiếm 9,72% Tại làng nghề tái chế chìĐông Mai, tỷ lệ người dân mắc bệnh về thần kinh chiếm khoảng 71%, bệnh
về đường hô hấp chiếm khoảng 65,6% và bị chứng hồng cầu giảm chiếm19,4% Còn tại làng nghề sản xuất rượu Vân Hà (Bắc Giang) tỷ lệ người mắcbệnh ngoài da là 68,5% và các bệnh về đường ruột là 58,8%
Tóm lại, những tác hại mà ô nhiễm nguồn nước tại các làng nghề và cảnước nói chung đến sức khỏe con người đang ngày một nghiêm trọng hơn.Vậy nên, cần có nhiều nghiên cứu thật khoa học hơn nữa để đánh giá đượctình trạng, đặc điểm nổi bật của sự ô nhiễm ở các làng nghề nói chung và làngnghề da-sừng nói riêng, để từ đó giúp tìm ra các giải pháp phù hợp nhất đểkiểm soát ô nhiễm nước ở khu vực này
Trang 23Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Thời gian, địa điểm và đối tượng nghiên cứu
2.1.1 Thời gian nghiên cứu
Từ tháng 7/2014 đến tháng 7/2015
2.1.2 Địa điểm nghiên cứu
Làng Thụy Ứng-Xã Hòa Bình-huyện Thường Tín-thành phố Hà Nội
2.1.3 Đối tượng nghiên cứu
1) Chủ hộ/Người đại diện hộ gia đình: Là người lựa chọn để phỏng vấn
có khả năng cung cấp thông tin chung của hộ gia đình và các thông tin về vệsinh nguồn nước trong gia đình Chúng tôi đánh giá kiến thức của chủ hộ vềnguồn nước và tình hình bệnh tật cấp tính trong 4 tuần qua và bệnh mạn tínhtrong 12 tháng qua liên quan đến ô nhiễm nước
2) Các loại nguồn nước: Nguồn nước sinh hoạt, nguồn nước bề mặt(ao,
hồ, kênh mương) gần các hộ gia đình sản xuất da, sừng có nước thải
3) Sổ sách, báo cáo về nguồn nước sử dụng của thôn Thụy Ứng lưutại trạm y tế xã; sổ khám chữa bệnh tại trạm y tế thống kê trước đó 6 thángđến 1 năm (Sắp xếp tỷ lệ 10 nhóm bệnh thường gặp và so sánh với tìnhhình chung); kết quả giám sát chất lượng nước tại Trung tâm Y tế huyện từnăm 2010- 2014
4) Cán bộ TYT xã Hòa Bình , huyện Thường Tín
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu
- Nghiên cứu mô tả cắt ngang
Trang 242.2.2 Cỡ mẫu nghiên cứu và cách chọn mẫu
2.2.2.1 Cỡ mẫu điều tra hộ gia đình
Đơn vị mẫu là hộ gia đình, được tính theo công thức:
n= Z2 1-α/2 (p x q)
∆2Trong đó:
Làm tròn số được n cần thiết cho mẫu nghiên cứu là 400 hộ gia đình
- Chọn hộ gia đình điều tra: cả thôn Thụy Ứng có 95 HGĐ hiện tại cósản xuất da sừng, chúng tôi chọn toàn bộ số đó để nghiên cứu Số hộ khôngsản xuất da-sừng được điều tra chọn theo cách sau: khi chọn được 1 HGĐ cósản xuất thì chọn 3-4 HGĐ xung quanh gần nhất với HGĐ đó(theo nguyêntắc vết dầu loang), như vậy trong số 95 HGĐ có sản xuất chúng tôi chọn được
305 HGĐ không sản xuất
2.2.2.2 Cỡ mẫu xét nghiệm nước
- Nước sinh hoạt: do điều kiện kinh phí có hạn nên chúng tôi chọn chủ đích
13 mẫu của các HGĐ sản xuất thường xuyên Mặc dù có nhiều nguồn nước sinhhoạt nhưng chỉ chọn nguồn nước sinh hoạt của HGĐ có nguồn nước giếng khơi,giếng khoan để xét nghiệm(không chọn nước mưa và nước máy)
- Nước bề mặt: chọn 13 mẫu nước bề mặt của 13 HGĐ đẫ lấy mẫu nướcsinh hoạt mà có nước thải sản xuất ra ao , hồ, kênh mương ở gần nhà
2.2.2.3 Phỏng vấn sâu: lây 01 cán bộ trưởng TYT hoặc phó TYT
Trang 251 Thông tin chung
Tuổi Độ tuổi của đối tượng tính
theo năm dương dịch Phiếu hỏi Định lượng
Trình độ văn hóa
Mù chữTiểu họcTrung học cơ sởTHPT
Phiếu hỏi Nhị phân
Số năm làm nghề Thời gian làm nghề truyền
thống của đối tượng Phiếu hỏi Định lượng
Tình trạng kinh tế
hộ gia đình
Nghèo/ cận nghèoTrung bình
Khá/giàuKhông biết
Phiếu hỏi +quan sát Danh mục
Mục tiêu 1: Thực trạng chất lượng các nguồn nước làng nghề“Da, Sừng”
Phiếu hỏi +quan sát
Danh mục
Trang 26hồ); Nước máyNước thải có
được xử lý hay
không
Có/ không
Phiếu hỏi +quan sát Nhị phân
Tính chất vật lý
của nước sinh
hoạt
MàuMùi VịpH
ClSulphat (SO4 2-)
-Xét nghiệm Định lượng
Tính chất hóa học
của nước sản xuất
NO2 mg/LNH3 mg/LSắt mg/LSulphat (SO4 2-)
Phiếu hỏi Danh mục
Hoạt động truyền
thông tại thôn
- Nghe nói chuyện nếp sống
vệ sinh trong năm qua
- Nhân viên y tế tuyên truyền
về vệ sinh làng nghề, nguồnnước trong năm qua
- Không biết
Phiếu hỏi Danh mục
Trang 27Ô nhiễm nguồn
nước gây nên các
bệnh tật gì
Tiêu chảyGiun sánĐau mắtNgoài daKhông biết
Phiếu hỏi Danh mục
Mục tiêu 2: Thực trạngcác triệu chứng, bệnh chỉ danh của dân cư làng nghề
Mắt bị chảy nước ướtSưng mi mắt
Phiếu hỏi Danh mục
Phiếu hỏi Danh mục
gì trong 4 tuần qua
Liệt kê những bệnh mà đốitượng mắc trong 4 tuần Phiếu hỏi Danh mục
2.2.4 Phương pháp thu thập số liệu
1 Điều tra viên là cán bộ TTYT huyện đã được tập huấn cách điều tra đánhgiá về sức khỏe môi trường Các phiếu điều tra được giám sát viên kiểm trahàng ngày đảm bảo giám sát được 50% số phiếu điều tra Nếu số liệu khôngchính xác sẽ yêu cầu điều tra lại
Trang 282 Kiểm tra đánh giá chất lượng vệ sinh các nguồn nước(nước sinh hoạt, nước
bề mặt và nước thải) bằng cách sử dụng bảng kiểm(phụ lục 3)
3 Tiến hành lấy mẫu nước xét nghiệm thường quy kỹ thuật viện SKNN và
MT Các mẫu nước gửi đi xét nghiệm tại viện Công nghệ Môi trường - ViệnHàn lâm khoa học và công nghệ Việt Nam Cách đánh giá chất lượng vệ sinhnguồn nước theo quy chuẩn vệ sinh 02/2008
4 Sổ sách báo cáo về nguồn nước sử dụng thôn Thụy Ứng lưu tại trạm y tế;
sổ khám chữa bệnh tại trạm y tế thống kê trước đó 6 tháng đến 1 năm; kết quảgiám sát chất lượng nước tại trung tâm y tế huyện từ năm 2010-2014
5 Phỏng vấn sâu trưởng trạm y tế xã về tình hình cung cấp nước sạch, ônhiễm môi trường và tình hình bệnh tật tại thôn Thụy Ứng
2.2.6 Sai số và phương pháp khống chế sai số
- Sai số hệ thống: Chọn điều tra viên, tập huấn điều tra viên, sử dụngđiều tra viên không phải là cán bộ địa phương, phiếu được điều tra thử trướckhi điều tra và mã hóa trước khi phân tích
- Sai số của số liệu sẵn có: Sử dụng các báo cáo lưu tại trạm y tế xã,trung tâm Y tế huyện và tham khảo các báo cáo của UBND xã, Hợp tác xã
2.2.7 Đạo đức nghiên cứu
- Người nghiên cứu thông báo rõ về mục đích nghiên cứu và được thựchiện dưới sự đồng ý của Trường Đại học Y Hà Nội, Trung tâm Y tế huyện
Trang 29Thường Tín, chính quyền và trạm Y tế xã Hòa Bình Các hộ gia đình đồng ýcung cấp thông tin cho nghiên cứu.
- Các thông tin của HGĐ được phỏng vấn được mã hóa và được giữ kín
- Những kết quả nghiên cứu, điều tra được gửi đến những cơ quan liênquan để tiếp tục xem xét, ứng dụng vào thực tế đưa ra giải pháp can thiệpđược sử dụng vào mục đích cải thiện việc cung cấp nước sạch, quản lý nướcsạch vệ sinh nguồn nước để hạn chế ô nhiễm nguồn nước nâng cao sức khỏenhân dân
2.2.8 Hạn chế của nghiên cứu
Do điều kiện nguồn lực, thời gian hạn chế nên trong nghiên cứu củachúng em chỉ thực hiện được số mẫu không lớn và các chỉ số xét nghiệm chỉtập trung ở một số chỉ số lý, hóa học, không đủ kinh phí để xét nghiệm các chỉ
số vi sinh vật và độc chất Về sức tình hình sức khỏe, bệnh tật dụa trên kếtquả điều tra theo HGĐ và số liệu sẵn có từ TYT xã, không có điều kiện khám,phát hiện một số bệnh chỉ danh
Trang 30Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Thông tin chung
3.1.1 Một số đặc điểm sản xuất da-sừng ở xã Hòa Bình
Làng Thụy Ứng xã Hòa Bình huyện Thường Tín là làng nghề thủ côngnổi tiếng với chế biến da và sừng Làng nghề ra đời khoảng hơn 400 năm naytrải qua bao thăng trầm nhưng làng nghề vẫn tồn tại và phát triển tạo việc làm
và tăng thu nhập đáng kể cho người dân nơi đây Ngoài việc tạo công ăn việclàm, tăng thu nhập cho các hộ gia đình làng nghề da-sừng còn một số tồn tạisản xuất theo kinh nghiệm, thiếu cơ sở hạ tầng, sản xuất mang tính thủ công
hộ gia đình Trước đây có khoảng 40% số hộ tham gia sản xuất da-sừng, ngàynay số hộ sản xuất còn hơn 20%
Làng nghề da-sừng sản xuất với quy mô nhỏ mang tính hộ gia đình, chủyếu sử dụng lao động phổ thông với những biện pháp xử lý thủ công, chưa ápdụng các trang thiết bị máy móc và sản xuất, các hộ gia đình sử dụng cácnguyên liệu, nhiên liệu rẻ tiền và không quan tâm đến việc xử lý chất thải.Chất thải trong sản xuất da sừng xả trực tiếp ra môi trường xung quanh như
ao hồ, sông ngòi gây ô nhiễm môi trường ảnh hưởng đến sức khỏe người dânnơi đây cụ thể:
- Sản xuất da: Người dân mua da trâu, da bò từ các lò mổ về cho vào khoướp muối, trong quá trình ướp các chất hữu cơ da, lông phân hủy kết hợp vớimuối, nước rỉ và chất thải được xả thẳng ra môi trường xung quanh (ao, hồ,kênh mương)
- Sản xuất sừng: Các hộ gia đình mua sừng trâu, sừng bò từ lò mổ trâu bò
về, sau đó lấy tủy sừng bỏ đi, luộc trong dầu ăn, tiếp theo họ mang nhữngchiếc sừng đã luộc đi ép thủy lực cho sản phẩm sừng thẳng ra và làm ra cácsản phẩm như lược, đĩa, bát và các đồ trang trí
Trang 31Trong quá trình làm sừng cũng như làm da các chất hữu cơ từ tủy xươngphân hủy và dầu ăn không được xử lý qua bất kì một khâu trung gian nào mà
xả thẳng ra môi trường qua các cống rãnh hoặc đổ trực tiếp ra kênh, mươngthoát nước, mương thủy lợi gây ô nhiễm môi trường
3.1.2 Đặc điểm hộ gia đình được nghiên cứu
có sản xuất da-sừng được điều tra
Bảng 3.2 Phân bố độ tuổi trong quẩn thể nghiên cứu
Nhóm tuổi
Hộ có sản xuấtn= 95
Trang 32Dân số trong độ tuổi dưới 15 có 381 người chiếm 23,5%; dân số trong
độ tuổi từ 16 đến 59 có 1076 người chiếm 66,4% và nhóm tuổi trên 60 có 163người chiếm 10,1%
Số người trong các hộ gia đình có sản xuất da sừng là 380 người trong
đó dân số dưới 15 tuổi chiếm 23,9%, độ tuổi từ 16 đến 59 chiếm 66,3% vàdân số độ tuổi trên 60 chiếm 9,7%
Trong nhóm hộ gia đình không sản xuất da sừng có 1240 người trong đó
độ tuổi dưới 15 chiếm 23,5%, độ tuổi từ 16 đến 59 chiếm 66,4% và số dântrên 60 tuổi chiếm 10,1%
Bảng 3.3 Đặc điểm nghề nghiệp của đối tượng được phỏng vấn (n=400)
Đặc điểm nChung Có làm nghề Không làm nghề
Phân bố nghề nghiệp chính người dân bao gồm nghề thủ công/làng nghề
là 29,8%; nông nghiệp chiếm 40,5%; nhân viên hành chính chiếm 7,2% vànghề khác chiếm 19,5% Trong đó số người có làm nghề da-sừng là 95 ngườichiếm 23,8% và 76,2% không làm nghề da-sừng
Trang 33Trung cấp, cao đẳng, đại học 16 4,0
Tình trạng kinh tế của hộ
Tỷ lệ đối tượng có trình độ học vấn trung học cơ sở chiếm 47,0%, trình
độ tiểu học chiếm 22,5%, trung học phổ thông chiếm 26,5% và trình độ caođẳng đại học chiếm 4,0%
Đa số các hộ gia đình làng nghề có tình trạng kinh tế trung bình với76,5%; hộ khá giàu chiếm 15,0%, hộ nghèo và cận nghèo chiếm 4,0% và có4,5% hộ không cho biết tình trạng kinh tế của gia đình
Trang 343.2 Thực trạng môi trường nước làng Thụy Ứng
3.2.1 Kết quả điều tra hộ gia đình
Bảng 3.5 Các loại nguồn nước chính người dân sử dụng ăn uống sinh hoạt
STT Nguồn nước
Thụy ứng (n=400)Chung Hộ sản xuất Hộ không sản xuất
Trang 35Bảng 3.6 Các loại nguồn nước đang được người dân sử dụng
Trang 363.2.2 Kết quả đánh giá chất lượng các nguồn nước tại hộ gia đình
Bảng 3.7 Chất lượng các nguồn nước đang sử dụng theo đánh giá
của điều tra viên và hộ gia đình tự đánh giá
STT Nguồn nước Mức độ ĐTV đánh giá HGĐ đánh giá
Các nguồn nước được người dân cho là không đạt tiêu chuẩn vệ sinh lànước bề mặt (ao sông, hồ) với 75% và nước giếng khơi với 66,7% không đạt
Bảng 3.8 Kết quả quan sát nguồn nước mặt tại tại làng nghề da-sừng
Trang 373 Ao 3 Xanh đen Tanh hôi
Nhận xét:
Qua đánh giá nguồn nước bề mặt cho thấy có 9/ 13 số ao, kênh mương
có màu xanh đen và mùi tanh hôi khó chịu, 4/13 ao, kênh mương có màu đục
Trang 38STT Đặc điểm SL %
Không thường xuyên 182 45,5
2 Thời điểm gây ô nhiễm
Ý kiến về thời điểm ô nhiễm, đa số người dân cho rằng thời điểm ônhiễm nhất là sau khi trời nắng to với 54% ý kiến; 26% ý kiến cho rằng thờiđiểm gây ô nhiễm chủ yếu là trong khi sản xuất và 19% người dân cho rằngkhi thay đổi thời tiết là thời điểm gây ô nhiễm nhất
Trang 39Biểu đồ 3.1 Hiểu biết của người dân về nguyên nhân gây ô nhiễm nguồn nước Nhận xét:
Nguyên nhân chủ yếu theo người dân dẫn đến ô nhiễm nguồn nước đó
là nước thải làng nghề, chiếm tỷ lệ 93%; tiếp đó là rác thải sinh hoạt chiếm10,5%; nhà tiêu không hợp vệ sinh chiếm 10% Rất ít người cho rằng ô nhiễmnguồn nước là do nhà bếp hay chăn nuôi, tỷ lệ tương ứng chỉ là 4,5% đối vớinhà bếp và 2,5% đối với chăn nuôi
Biểu đồ 3.2 Hiểu biết của người dân những nguồn nước ăn uống được coi là
hợp vệ sinh Nhận xét:
Nguồn nước ăn được coi là hợp vệ sinh nhất theo người dân đó là nước
máy chiếm tỷ lệ 66%; tiếp theo đó là nước giếng khoan 17,5%; tỷ lệ chọnnước giếng khơi hay nước mưa thấp; không có trường hợp nào chọn nước bềmặt (sông, ao hồ) Ngoài ra có đến 10,5% người dân được phỏng vấn khôngbiết nguồn nước ăn uống nào được coi là vệ sinh
3.2.4 Kết quả xét nghiệm phân tích các nguồn nước tại làng nghề da-sừng Bảng 3.11 Tính chất lý học của nguồn nước sinh hoạt (giếng khoan, khơi)
Chỉ số lý học Giới hạn cho phép Trung bình Nhận xét
Trang 40((*) QCVN 02: 2009/BYT Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về chất lượng nước
sinh hoạt (Giới hạn cho phép II)
Nhận xét:
Màu của các mẫu nước sinh hoạt tại Thụy Ứng giao động xung quanhgiá trị giới hạn cho phép với giá trị trung bình là 20,1 ± 5,2 (so với giới hạncho phép là 15) Độ trong giữa các mẫu nước sinh hoạt tại Thụy Ứng phân bốkhông đồng đều Tuy nhiên, độ đục của nước sinh hoạt ở các mẫu nước thuđược cao hơn rất nhiều so với giới hạn cho phép với trung vị là 37
Các mẫu nước sinh hoạt đã được xét nghiệm tại Thụy Ứng có độ pHtrung tính và không có mùi vị lạ
Bảng 3.12 Tính chất lý học của nguồn nước bề mặt (ao hồ, kênh mương)
Chỉ số lý học Giới hạn cho phép Trung bình
(**) QCVN 08: 2008/BTNMT Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về chất lượng
nước mặt (Giới hạn cho phép B1)
Nhận xét:
Màu và độ đục của các mẫu nước bề mặt thu được tại Thụy Ứng lầnlượt là: 108,4 ± 78,8 và 68,6 ± 59,1 Các giá trị này cao hơn nhiều lần so vớigiời hạn cho phép