Nguyên nhân của tình trạng này đã được người sản xuất thừa nhận: do việc tuỳ tiện trong việc chọn cây giống, trong việc áp dụng cách trồng và chăm bón chuối của những vườn mới; đặc biệt
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
& TẠ THỊ THU XUÂN
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC
VÀ BẢO TỒN GIỐNG CHUỐI NGỰ ĐẠI HOÀNG
TẠI HUYỆN LÝ NHÂN, TỈNH HÀ NAM
Chuyên ngành: Sinh thái học
Mã số: 60.42.01.20
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC SINH HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN THỊ HỒNG LIÊN
Trang 2HÀ NỘI - 2014
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Nguyễn Thị Hồng Liên, người đã tận tâm, nhiệt tình chỉ bảo, động viên và hướng dẫn tác giả
trong suốt quá trình thực hiện và hoàn thành luận văn này.
Tác giả xin trân trọng cảm ơn tới các thầy, cô giáo trong Khoa Sinh đặc biệt
là Tổ bộ môn thực vật, Phòng sau đại học trường Đại học Sư Phạm Hà Nội đã giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho tác giả trong suốt quá trình lựa chọn và hoàn thiện đề tài luận văn.
Cuối cùng, xin gửi lời biết ơn chân thành đến gia đình, bạn bè và các đồng nghiệp đã luôn ủng hộ, giúp đỡ, động viên tác giả trong suốt quá trình thực hiện luận văn.
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng10 năm 2014
Tác giả luận văn
Tạ Thị Thu Xuân
Trang 4MỤC LỤC
5.4.2 Thu thập thông tin sơ cấp 5
* Trụ dẫn (trung trụ) là phần giữa của rễ gồm: 55
3.2.3.2 Thực trạng tiêu thụ chuối ngự Đại Hoàng 89
3.2.4.1 Bảo tồn nguồn gen và nhân giống 95
* Bảo tồn nguồn gen 95
3.3.1 Định hướng 103
Để có định hướng đúng đắn về vấn đề bảo tồn chuối ngự Đại Hoàng trong thời gian tới, chúng tôi đã xây dựng mô hình phân tích SWOT: 103
Bảng 3.18 Mô hình phân tích SWOT của chuối ngự Đại Hoàng 104
Từ những nghiên cứu về các đặc điểm sinh học kết hợp với thu thập thông tin, lấy ý kiến của các đối tượng về bảo tồn chuối ngự Đại Hoàng, chúng tôi tiến hành lập phiếu điều tra, phỏng vấn và dự kiến số mẫu: 107
Bảng 3.19 Số mẫu và đối tượng điều tra, phỏng vấn thu thập thông tin 107
107
Qua việc tổng hợp các phiếu điều tra, phỏng vấn lấy ý kiến của 60 hộ trồng chuối ngự Đại Hoàng, 5 cơ sở chế biến, 10 cửa hàng tiêu thụ chuối ngự và 10 cán bộ quản lý các cấp (3 thành viên trong Hội sản xuất và tiêu thụ chuối ngự , 3 thành viên của hợp tác xã Hòa Hậu, 2 cán bộ Sở Khoa học và công nghệ Hà Nam, 2 cán bộ Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn Hà Nam), chúng tôi tổng hợp kết quả như sau: 107
3.3.2.1 Sản xuất 107
a) Điều tra đánh giá hiện trạng sản xuất chuối ngự Đại Hoàng 107
1.KẾT LUẬN 117
Từ kết quả nghiên cứu, chúng tôi rút ra một số kết luận sau: 117
1.1.Chuối ngự Đại Hoàng tại huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam có 3 loại: chuối ngự trắng, chuối ngự trâu, chuối ngự mít, thuộc loài Musa paradisiaca 117 1.2.Các bộ phận của cây chuối ngự mang đặc trưng cho loài Trong cấu trúc của rễ, thân, lá đều có cấu trúc đặc trưng cho thực vật một lá mầm, thích nghi với đời sống
Trang 5trên cạn, nhu cầu nước cao Quả chuối ngự có kích thước nhỏ hơn các loại quả chuối khác, màu sắc vàng óng, hương thơm dịu, vị ngọt mát 1171.3.Trong những năm gần đây, tại huyện Lý Nhân tỉnh Hà Nam diện tích trồng chuối ngự có xu hướng tăng lên, nhưng chất lượng giảm xuống Nguyên nhân của tình trạng này đã được người sản xuất thừa nhận: do việc tuỳ tiện trong việc chọn cây giống, trong việc áp dụng cách trồng và chăm bón chuối của những vườn mới; đặc biệt là chủ vườn chạy theo nhu cầu tiêu thụ chuối vào các ngày rằm, mồng một hàng tháng, vào các dịp lễ tết giá tăng cao, nên đã thu hoạch chuối không đúng tuổi, thu cưỡng cả những buồng chuối còn non, dù được giấm đúng kỹ thuật thì chuối vẫn là chín ép, chất lượng kém 1171.4 Sản phẩm từ chuối ngự chủ yếu là ăn tươi Huyện Lý Nhân có nhiều cơ sở chế biến (rấm) chuối ngự sau thu hoạch, nhưng hầu hết các cơ sở chế biến vẫn theo phương pháp thủ công Sản phẩm chuối được tiêu thụ qua nhiều kênh khác nhau, tuy nhiên các kênh tiêu thụ đều không ổn định 1172.KIẾN NGHỊ 118
PHỤ LỤC 1 Phụ lục 1 Phiếu câu hỏi xác định tính chất lượng đặc thù chuối ngự Đại Hoàng gắn với vùng sản xuất 1 Ông (bà) hãy lựa chọn các đặc điểm nổi bật nhất về tính đặc thù của chuối ngự mà chúng tôi đã liệt kê trong bảng dưới đây 1 Phụ lục 2 Điều tra kỹ thuật canh tác, sản xuất chuối truyền thống 3 Phụ lục 3 Phiếu điều tra các tác nhân ngành hàng (sản xuất, thương mại) 10PHỤ LỤC
Trang 6DANH MỤC BẢNG
5.4.2 Thu thập thông tin sơ cấp 5
3.3.1 Định hướng 103
Để có định hướng đúng đắn về vấn đề bảo tồn chuối ngự Đại Hoàng trong thời gian tới, chúng tôi đã xây dựng mô hình phân tích SWOT: 103
Bảng 3.18 Mô hình phân tích SWOT của chuối ngự Đại Hoàng 104
Bảng 3.19 Số mẫu và đối tượng điều tra, phỏng vấn thu thập thông tin 107
1.KẾT LUẬN 117
Từ kết quả nghiên cứu, chúng tôi rút ra một số kết luận sau: 117
1.1.Chuối ngự Đại Hoàng tại huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam có 3 loại: chuối ngự trắng, chuối ngự trâu, chuối ngự mít, thuộc loài Musa paradisiaca 117
1.2.Các bộ phận của cây chuối ngự mang đặc trưng cho loài Trong cấu trúc của rễ, thân, lá đều có cấu trúc đặc trưng cho thực vật một lá mầm, thích nghi với đời sống trên cạn, nhu cầu nước cao Quả chuối ngự có kích thước nhỏ hơn các loại quả chuối khác, màu sắc vàng óng, hương thơm dịu, vị ngọt mát 117
1.3.Trong những năm gần đây, tại huyện Lý Nhân tỉnh Hà Nam diện tích trồng chuối ngự có xu hướng tăng lên, nhưng chất lượng giảm xuống Nguyên nhân của tình trạng này đã được người sản xuất thừa nhận: do việc tuỳ tiện trong việc chọn cây giống, trong việc áp dụng cách trồng và chăm bón chuối của những vườn mới; đặc biệt là chủ vườn chạy theo nhu cầu tiêu thụ chuối vào các ngày rằm, mồng một hàng tháng, vào các dịp lễ tết giá tăng cao, nên đã thu hoạch chuối không đúng tuổi, thu cưỡng cả những buồng chuối còn non, dù được giấm đúng kỹ thuật thì chuối vẫn là chín ép, chất lượng kém 117
1.4 Sản phẩm từ chuối ngự chủ yếu là ăn tươi Huyện Lý Nhân có nhiều cơ sở chế biến (rấm) chuối ngự sau thu hoạch, nhưng hầu hết các cơ sở chế biến vẫn theo phương pháp thủ công Sản phẩm chuối được tiêu thụ qua nhiều kênh khác nhau, tuy nhiên các kênh tiêu thụ đều không ổn định 117
2.KIẾN NGHỊ 118
Trang 7DANH MỤC HÌNH
5.4.2 Thu thập thông tin sơ cấp 5
3.3.1 Định hướng 103
Để có định hướng đúng đắn về vấn đề bảo tồn chuối ngự Đại Hoàng trong thời gian tới, chúng tôi đã xây dựng mô hình phân tích SWOT: 103
Bảng 3.18 Mô hình phân tích SWOT của chuối ngự Đại Hoàng 104
Bảng 3.19 Số mẫu và đối tượng điều tra, phỏng vấn thu thập thông tin 107
1.KẾT LUẬN 117
Từ kết quả nghiên cứu, chúng tôi rút ra một số kết luận sau: 117
1.1.Chuối ngự Đại Hoàng tại huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam có 3 loại: chuối ngự trắng, chuối ngự trâu, chuối ngự mít, thuộc loài Musa paradisiaca 117
1.2.Các bộ phận của cây chuối ngự mang đặc trưng cho loài Trong cấu trúc của rễ, thân, lá đều có cấu trúc đặc trưng cho thực vật một lá mầm, thích nghi với đời sống trên cạn, nhu cầu nước cao Quả chuối ngự có kích thước nhỏ hơn các loại quả chuối khác, màu sắc vàng óng, hương thơm dịu, vị ngọt mát 117
1.3.Trong những năm gần đây, tại huyện Lý Nhân tỉnh Hà Nam diện tích trồng chuối ngự có xu hướng tăng lên, nhưng chất lượng giảm xuống Nguyên nhân của tình trạng này đã được người sản xuất thừa nhận: do việc tuỳ tiện trong việc chọn cây giống, trong việc áp dụng cách trồng và chăm bón chuối của những vườn mới; đặc biệt là chủ vườn chạy theo nhu cầu tiêu thụ chuối vào các ngày rằm, mồng một hàng tháng, vào các dịp lễ tết giá tăng cao, nên đã thu hoạch chuối không đúng tuổi, thu cưỡng cả những buồng chuối còn non, dù được giấm đúng kỹ thuật thì chuối vẫn là chín ép, chất lượng kém 117
1.4 Sản phẩm từ chuối ngự chủ yếu là ăn tươi Huyện Lý Nhân có nhiều cơ sở chế biến (rấm) chuối ngự sau thu hoạch, nhưng hầu hết các cơ sở chế biến vẫn theo phương pháp thủ công Sản phẩm chuối được tiêu thụ qua nhiều kênh khác nhau, tuy nhiên các kênh tiêu thụ đều không ổn định 117
2.KIẾN NGHỊ 118
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Theo truyền thuyết, cây chuối được cho là xuất phát từ vườn của Enden (thiên
đường) do đó tên của nó là Musa paradise có nghĩa là trái của thiên đường Tên này
được gọi đầu tiên cho đến khi được thay bằng từ “banana” bởi những người thuộc bộ tộc African Congo Từ “banana” dùng để chỉ chuối dùng ăn tươi còn từ “plantain” dùng để chỉ chuối nấu chín để ăn Tuy nhiên hiện nay việc phân biệt các từ này không còn khác biệt rõ [60]
Chuối được trồng ở Ấn Độ, Nam Trung Quốc, Maylaysia, Việt Nam các nước Đông Phi, Tây Phi, Mỹ Latinh… Các loài chuối hoang dại được tìm thấy rất nhiều ở Đông Nam Á, do đó có thể cho rằng Đông Nam Á là quê hương của cây chuối [60]
Loài chuối (Musa paradisiaca) là loài cây ăn quả nhiệt đới, ngắn ngày, dễ trồng và
cho sản lượng khá cao, trung bình có thể đạt năng suất 20 - 30 tấn/ha, một số quốc gia trên thế giới có sản lượng chuối lớn như Guatemala đạt năng suất 100 tấn/ha Việt Nam nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa, điều kiện khí hậu rất thuận lợi cho cây chuối sinh trưởng, phát triển Chuối gần gũi với người nông dân và phổ biến khắp các vùng nông thôn, thành thị Chuối được sử dụng như là rau, là quả, là lương thực, thực phẩm Sản lượng chuối ở nước ta hàng năm cao, theo Tổng Cục Thống Kê năm 2012: đạt 1,8 triệu tấn, tăng 3% so với năm 2011 Ngoài việc ăn tươi trong nhân dân, chúng ta còn thu mua được một số lượng lớn để xuất khẩu tươi
Ở nước ta, các giống chuối hiện nay được trồng chủ yếu gồm: chuối tiêu, chuối tây
và chuối ngự Trong đó chuối ngự có tiếng là thơm ngon, trước đây dùng để tiến vua nên còn gọi là chuối tiến vua
Chuối ngự là đặc sản nổi tiếng của vùng quê Hà Nam, cách đây khoảng 10 năm về trước, giống chuối ngự chưa được đầu tư đúng mức nên diện tích trồng còn ít, manh mún Thông qua dự án bảo tồn của GEF/SGP/UNDP diện tích chuối ngự được mở rộng từ năm
2001 đến nay, diện tích đã tăng đáng kể [52]
Hơn nữa, việc quản lý và phát triển thương hiệu “Chuối ngự Đại Hoàng ” có nhiều hạn chế làm cho thị trường chuối ngự Đại Hoàng, ở huyện Lý Nhân Hà Nam còn nhiều
Trang 9bất ổn, chưa thực sự đem lại hiệu quả cho người sản xuất Vì vậy, công tác bảo tồn chuối ngự Đại Hoàng là vấn đề thực sự cần thiết.
Đã có nhiều công trình nghiên cứu về đặc điểm sinh học, sinh lý, hóa sinh, sinh thái hay kỹ thuật chăm sóc và bảo quản, chế biến chuối nhằm tăng năng suất và giá trị kinh tế nhưng chưa có một tài liệu nào đầy đủ nghiên cứu về vấn đề bảo tồn giống chuối quý này Việc bảo tồn giống chuối ngự Đại Hoàng có ý nghĩa vô cùng quan trọng, không chỉ có ý nghĩa về kinh tế mà còn mang lại giá trị về văn hóa, xã hội và giá trị đa dạng sinh học
Để bổ sung thêm những kiến thức về cây chuối, đánh giá thực trạng và đưa ra các
biện pháp bảo tồn giống chuối tại địa phương, chúng tôi quyết định chọn đề tài: "Nghiên
cứu một số đặc điểm sinh học và bảo tồn giống chuối ngự Đại Hoàng tại huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam ".
2 Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.2 Đối tượng nghiên cứu
Giống chuối ngự Đại Hoàng tại huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam
Loài chuối (Musa paradisiaca)
Họ Chuối (Musaceae)
Bộ Gừng (Zingiberales)
Lớp Một lá mầm (Monocotyledone)
2.3 Phạm vi nghiên cứu
2.3.1 Địa điểm nghiên cứu
Chúng tôi tiến hành nghiên cứu thực trạng trồng và sử dụng nguồn gen giống chuối ngự tại vùng trồng chuối ngự Đại Hoàng trọng điểm của huyện Lý Nhân bao gồm xã Phú Phúc, Nhân Thịnh, Nhân Mỹ, Xuân Khê, Tiến Thắng và Hoà Hậu Các nghiên cứu về hình thái, giải phẫu của cây chuối ngự được thực hiện ở xã Hòa Hậu, Tiến Thắng vì các lý
do sau:
Trang 10- Vùng trung tâm trồng chuối ngự (vùng 1) thuộc thôn Đại Hoàng xã Hòa Hậu và
một phần mới được mở rộng thêm từ xã Tiến Thắng Theo người dân đây là vùng cho sản phẩm chất lượng ngon nhất trong khu vực Đất ở vùng này chủ yếu là đất cát pha, đất phù
sa do sông Châu Giang bồi đắp
- Vùng ven sông Hồng (vùng 2) gồm các xã Nhân Thịnh, Phú Phúc, một phần
xã Tiến Thắng và một phần xã Hòa Hậu Đây là vùng đất thịt đất thịt nặng, chua
- Vùng xã Xuân Khê, Nhân Mỹ (vùng 3) là vùng đất cát pha ven sông Châu Giang
có cùng điều kiện về đất đai với vùng trung tâm chuối ngự nhưng cách khoảng 10-12 km
2.3.2 Thời gian nghiên cứu
Quá trình nghiên cứu, thu thập thông tin và khảo sát thực địa của chúng tôi tiến hành từ tháng 06/2013 đến tháng 08/2014
3 Nội dung nghiên cứu của đề tài
Đề tài tập trung vào những nội dung sau:
- Nghiên cứu một số đặc điểm về hình thái, giải phẫu của giống chuối ngự được trồng tại huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam
- Nghiên cứu thực trạng trồng và sử dụng nguồn gen giống chuối ngự tại huyện Lý Nhân tỉnh Hà Nam
- Đề xuất các biện pháp bảo tồn giống chuối ngự tại huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam
4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
4.1 Ý nghĩa khoa học của đề tài
Đề tài hệ thống hoá kiến thức tổng quan về cây chuối và vấn đề bảo tồn giống chuối ngự tại Hà Nam, góp phần vào nguồn tài liệu khoa học hữu ích cho những nghiên cứu về bảo tồn chuối ngự sau này
4.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Đề tài góp phần giúp người nông dân hiểu thêm về giá trị của cây chuối, các yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng, phát triển giống chuối ngự Đại Hoàng tại Hà Nam để từ đó có các biện pháp nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả của giống cây trồng này tại địa phương
Trang 115 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện nghiên cứu một số đặc điểm sinh học và bảo tồn giống chuối ngự tại huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam, chúng tôi sử dụng các phương pháp phổ biến đang được áp dụng hiện nay Các bước tiến hành cụ thể như sau:
5.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu
Kế thừa các kết quả về thông tin, số liệu và những tư liệu liên quan đến đề tài mà các công trình nghiên cứu đã báo cáo tổng kết công khai, công bố, đăng tải trên các phương tiện thông tin chính thức
5.2 Phương pháp điều tra, thống kê, phân tích
Đánh giá thực trạng tình hình kinh tế - xã hội tác động diễn biến đến sự phát triển cây ăn quả đặc sản của địa phương (đặc biệt là giống chuối ngự) ở nơi nghiên cứu
5.3 Phương pháp phân tích các đặc điểm hình thái, giải phẫu thực vật
* Thu mẫu
- Thu mẫu cơ quan sinh dưỡng, cơ quan sinh sản của giống chuối ngự ở ngoài tự nhiên
Rễ, thân giả, lá, hoa, quả
- Quan sát, mô tả về hình thái cây chuối: thân, rễ, lá, hoa, quả ở ngoài thực địa Chụp ảnh mẫu vật
* Bảo quản mẫu : Cắt và rửa sạch mẫu vật ( thân giả, rễ, lá), ngâm mẫu vật trong
dung dịch cồn 500 đối với rễ, lá, 700 đối với thân, đựng trong bình kín
* Nghiên cứu giải phẫu: Làm tiêu bản hiển vi theo phương pháp Trần Công
Khánh, R.MKlein và D.T.Klein, Hoàng Thị Sản [11], [25], [29]
Sau khi làm xong tiêu bản, tiến hành quan sát, mô tả và chụp ảnh hiển vi Sử dụng trắc vi vật kính và trắc vi thị kính để xác định kích thước tế bào và mẫu vật cần đo Ghi lại hình ảnh quan sát được bằng máy ảnh kỹ thuật số nối với kính hiển vi quang học
5.4 Phương pháp thu thập thông tin
Thu thập thông tin là việc làm rất cần thiết bao gồm thu thập thông tin thứ cấp và thông tin sơ cấp Thu thập thông tin tốt sẽ cung cấp đầy đủ các thông tin về lý luận và thực
tế, tạo điều kiện thuận lợi cho việc xử lý và phân tích thông tin, từ đó đưa ra đánh giá chính
Trang 12xác về thực trạng của vấn đề nghiên cứu và đề xuất các giải pháp xác thực giúp cho việc hoàn thiện công việc nghiên cứu của mình.
5.4.1 Thu thập thông tin thứ cấp
Thông tin thứ cấp là các tài liệu đã công bố, là cơ sở để đề tài kế thừa và phát triển cũng như khai thác các khía cạnh mà các nghiên cứu trước đây chưa có, để thu thập các văn bản, tài liệu của Nhà nước có liên quan đến các hộ sản xuất - kinh doanh (qua sách báo, internet, các ban, ngành của tỉnh, huyện) Niên giám thống kê hàng năm của tỉnh, luận án tốt nghiệp, các báo cáo, quy hoạch, dự án, những thông tin này có vai trò quan trọng làm cơ sở phục vụ cho việc nghiên cứu đề tài
5 .4 2 Thu thập thông tin sơ cấp
Thông tin sơ cấp là các thông tin được thu thập trực tiếp thông qua các cuộc điều tra, phỏng vấn các cán bộ, người dân, khách hàng hay tại các cửa hàng, đại lý, tổ chức kinh doanh chuối ngự Đại Hoàng Thu thập thông tin này giúp chúng ta thấy được nguyên nhân của những tồn tại và thành tựu đạt được, đồng thời giúp phân tích rõ được hiện tượng, qua đó đề xuất các kiến nghị và giải pháp kịp thời
- Điều tra hộ: chọn những hộ điển hình, trồng nhiều và có kinh nghiệm trồng chuối ngự nhằm tìm hiểu quá trình sản xuất, tiêu thụ chuối và tác dụng của việc bảo tồn chuối ngự Đại Hoàng đối với người dân địa phương… Qua đó, tìm hiểu ý kiến của người dân về việc xây dựng những mô hình trồng chuối đảm bảo đúng yêu cầu kỹ thuật, đáp ứng về chất lượng cho chuối ngự Đại Hoàng, thấy những thuận lợi và khó khăn cũng như nhu cầu của người dân trồng chuối ngự
Điều tra trên toàn xã diện tích trồng giống chuối ngự, cách trồng, nguồn giống, phương pháp nhân giống bằng các phiếu điều tra soạn sẵn (phụ lục 2, 4)
- Điều tra các cửa hàng, đại lý, các tổ chức kinh doanh mục tiêu để thấy được vai trò của các đơn vị trong quá trình bảo tồn, đặc biệt là trong việc xây dựng và phát triển thương hiệu
- Phỏng vấn: tiến hành phỏng vấn các cán bộ, nông dân điển hình trong Hội và các
cá nhân khác tham gia vào quá trình sản xuất, tiêu thụ và bảo tồn chuối ngự, bao gồm:
+ Xây dựng nội dung phỏng vấn về quá trình sản xuất, tiêu thụ và bảo tồn chuối ngự Đại Hoàng
Trang 13+ Xây dựng các bảng câu hỏi phỏng vấn để thực hiện các nội dung trên.
- Tiến hành điều tra phỏng vấn thu thập thông tin
Điều tra thực trạng các hộ sản xuất chuối ngự về vốn, lao động, nhà xưởng, thị trường tiêu thụ, sản lượng chuối sản xuất, sản lượng chuối tiêu thụ, lợi ích kinh tế
Phỏng vấn trực tiếp theo phiếu điều tra (phụ lục 2, 3, 4)
Sử dụng một số công cụ PRA và phương pháp điều tra thống kê để thu thập thông tin
* Phương pháp đánh giá nông thôn có sự tham gia của người dân (PRA)
PRA (Participatory Rapid Appraisal Participatory Rural Assessment) là một cách tiếp cận nhằm tạo điều kiện cho người dân tự mình phân tích điều kiện sống của gia đình, cộng đồng, qua đó tự đề ra kế hoạch phát triển và tự thực hiện kế hoạch đó PRA không chỉ rất hữu ích trong thu thập những thông tin cần thiết mà còn là một phương pháp cùng nông dân tham gia chia sẻ, thảo luận phân tích kiến thức của họ về đời sống và điều kiện nông thôn để từ đó tìm ra cách giải quyết vấn đề Có nhiều công cụ sử dụng trong phân tích thông tin của PRA như thảo luận nhóm có trọng tâm, phỏng vấn những người cung cấp thông tin chủ yếu (KIP), phỏng vấn bán cấu trúc, phác họa thực trạng kinh tế - xã hội, lịch thời vụ, cây vấn đề, cây mục tiêu, xếp hạng (so sánh cặp, ma trận điểm ) (Nguyễn Bá Ngãi, 1999) [17]
Đề tài sử dụng phương pháp PRA trong phân tích các kết quả thu thập được với các công cụ sau:
- Thảo luận nhóm có trọng tâm
Một nhóm ít người thảo luận một vấn đề quan tâm chung được gọi là thảo luận nhóm có trọng tâm Buổi thảo luận được định hướng bởi một loạt các câu hỏi chính nhằm lắng nghe, chia sẻ những ý kiến và đề nghị thảo luận để đưa ra các giải pháp, cải thiện tình hình hiện tại
Trong phạm vi đề tài nghiên cứu, tác giả tiến hành thảo luận nhóm các hộ trồng chuối ngự, xã viên hợp tác xã trồng chuối ngự với mục đích thăm dò, tổng hợp các nguyện vọng, nhu cầu của họ; đề nghị họ cùng tham gia chia sẻ, thảo luận và phân tích kiến thức của họ về kỹ thuật trồng và chăm sóc, nhu cầu thị trường, các yếu tố ảnh hưởng và những
Trang 14yêu cầu trong việc bảo tồn chuối ngự, cùng với họ đưa ra xu hướng, nhận định mới phù hợp, làm cơ sở để đưa ra các giải pháp có căn cứ khoa học.
- Phỏng vấn những người cung cấp thông tin chủ yếu (KIP- Key Imformant Panel)Phỏng vấn KIP để thu thập những hiểu biết đặc biệt về một vấn đề nào đó KIP là những người có kiến thức đặc biệt về một chủ đề riêng biệt nào đó Những người nắm giữ thông tin (KIP) có thể trả lời các câu hỏi về kiến thức và hành vi của người khác, và đặc biệt về hoạt động của các hệ thống (chủ đề, vấn đề) rộng hơn
Trong đề tài, chúng tôi tiến hành phỏng vấn trực tiếp những người cán bộ đứng đầu, những người nắm giữ nhiều thông tin cơ bản, thu thập có chọn lọc các ý kiến đánh giá của những người đại diện trong các lĩnh vực chuyên môn như: lãnh đạo Sở Nông nghiệp
và Phát triển nông thôn Hà Nam, Sở Khoa học - Công nghệ Hà Nam, Hội chuối ngự Đại Hoàng, Hợp tác xã Hòa Hậu, Hợp tác xã Tiến Thắng, các nhà khoa học để làm cơ sở đưa
ra các giải pháp của bản thân được chính xác và khách quan hơn
* Dùng mô hình SWOT để phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và hiểm họa
về việc phát triển vùng sản xuất, từ đó xây dựng mô hình phát triển, mở rộng và nâng cao chất lượng sản phẩm
Khái niệm ma trận SWOT lần đầu tiên được xây dựng tại Trường kinh doanh Havard Mỹ vào năm 1965, là từ viết tắt của bốn chữ cái đầu tiên của bốn từ: S là Strength (Điểm mạnh), W là Weakness (Điểm yếu), O là Opportunity (Cơ hội) và T là Thread (Hiểm họa) Có thể định nghĩa ma trận SWOT như sau: "Ma trận SWOT là một trong những công cụ khách quan và hiệu quả nhất đối với doanh nghiệp trong việc quyết định khả năng bên trong của doanh nghiệp như thế nào khi phải đối đầu với những hiểm hoạ và tận dụng được những cơ hội "
Các thành phần của Ma trận SWOT:
Điểm mạnh (Strength: S) "Điểm mạnh là những hoạt động có thể kiểm soát được trong một tổ chức được thực hiện đặc biệt tốt".
Điểm yếu (Weakness: W): "Điểm yếu là những hoạt động có thể kiểm soát được
trong một tổ chức được thực hiện đặc biệt xấu"
“Điểm mạnh” và “Điểm yếu” của một doanh nghiệp là những yếu tố xuất phát từ môi trường bên trong mà doanh nghiệp có khả năng kiểm soát và khống chế được
Trang 15Cơ hội (Opportunity: O) "Cơ hội là những khuynh hướng và sự kiện kinh tế, xã
hội, chính trị, công nghệ và cạnh tranh có thể làm lợi cho một tổ chức trong tương lai"
Hiểm họa (Threat: T) "Hiểm họa là những khuynh hướng và sự kiện kinh tế, xã
hội, chính trị, công nghệ và cạnh tranh có thể làm hại cho một tổ chức trong tương lai"
Các yếu tố “Cơ hội” và “Hiểm họa” xuất hiện từ môi trường kinh doanh bên ngoài doanh nghiệp Các yếu tố này doanh nghiệp không kiểm soát được mà phải xây dựng chiến lược phù hợp để tận dụng cơ hội và hạn chế hiểm họa
5.5 Phương pháp tổng hợp và xử lý số liệu
Với các số liệu thu thập được từ điều tra thực địa, từ hệ thống câu hỏi đã chuẩn bị trước ghi trong phiếu điều tra, chúng tôi tổng hợp và xử lý thông tin bằng chương trình máy tính qua phần mềm Excel theo phương pháp thống kê toán học (Đào Hữu Hồ, 2001) [9]:
Trung bình số học:
1
n i
Xi X
X X n
X X n
−
(n ≥ 30)Trong đó:
Xi : giá trị cụ thể
X : giá trị trung bìnhn: số mẫu quan sátδ: độ lệch chuẩn
Trang 16Chương 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Tổng quan về cây chuối
1.1.1 Nguồn gốc và phân bố
Chuối lần đầu tiên được trồng ở New Ghinea (Simonds, 1966) sau đó chuyển đến Châu Á (từ 4000 năm trước công nguyên) [60]
Những mô tả về cây chuối một cách rõ ràng và sớm nhất là do người Hy Lạp
cổ xưa thực hiện năm 325 trước công nguyên trong cuộc hành trình của Alexander đến Ấn Độ (Rocynolds 1927, Kervegant, 1935) Theo Rocynolds (1927) đã đưa vào những hóa thạch, các bức vẽ trên các hang động cho rằng cây chuối cũng đã trồng và phát triển được 15 thế kỷ ở Châu Phi Trong đó, Đông Phi chủ yếu trồng 2 loại chuối
có kiểu gen AA và AAA Vùng gần xích đạo hơn phát triển chủ yếu chuối thuộc mang kiểu gen AAB Vansina 1984, 1990 [43], đã giải thích về sự xuất hiện hai loài chuối có kiểu gen AAB ở Châu Phi và cả ở Ấn Độ là một phần do sự thích nghi về khí hậu, song chủ yếu là nhu cầu cấp bách về lương thực ở những nước này Đến thế
kỷ thứ X do ảnh hưởng của nền văn minh Ả Rập, mối quan hệ giữa các nước này được mở rộng, thời kỳ này chuối là mặt hàng được trao đổi mạnh nhất trên thương trường cả ở những nước xa như Trung Quốc (Davidson, 1974) [36]
Người ta cho rằng, cây chuối do người Bồ Đào Nha di chuyển đến trồng ở Châu
Mỹ từ thế kỷ 14, sau đó phát triển mạnh vào năm 1607 cho đến nay (Kenvegent, 1935) Trong thời gian gần đây sự du nhập nguồn gen và phổ biến các giống chuối có chất lượng ngày một lan rộng, hơn nữa chuối đã được đưa ra thị trường làm mặt hàng xuất khẩu chính Điều này đã gây ra sự chú ý đầu tư của các nhà khoa học về năng suất và chất lượng của các giống chuối ngày nay Chuối đã được phát triển rộng khắp trên thế giới, không chỉ
nó quan trọng do việc xuất khẩu mà còn ở sự đa dạng sinh học các giống chuối [40]
Như vậy, chuối trồng đã có một quá trình phát triển lịch sử lâu dài, đầu tiên
là những cây hoang dại rải rác ở New Ghinea, sau đó được thuần hóa và lan rộng
Ở Châu Á, chuối đã xuất hiện từ 4000 năm trước công nguyên Chính vì vậy, có thể nói cây chuối có nguồn gốc từ Châu Á, điều này không những thể hiện ở sự
Trang 17phát triển mạnh của các giống chuối do thích hợp khí hậu mà còn ở sự đa dạng các loài chuối: ví dụ ở Philippin có 80 loài, Malaysia 32 loài, New Ghinea 54 loài, Ấn
Độ 57 loại … [39]
Trong khi đó, ở Việt Nam các tác giả Persley, G.J và De Longhe, E.Acds (1978) [40] đã đánh giá: "ViệtNamlà một trong những trung tâm xuất xứ của các giống chuốiMusaspp và có nhiều loài, giống nhân bản "
ViệtNamlà một nước nằm trong vùng phát sinh của các loài chuối hoang dại và chuối trồng
Loài: Musa paradisiaca
(Hoàng Thị Sản, 2003) [27]
Họ Chuối(Musaceae) thuộc lớp thực vật Một lá mầm gồm 2 chi và 70 loài, chủ
yếu gặp ở các nước nhiệt đới Đó là:
- Chi chuối ăn(Musa) có nguồn gốc ở Đông Nam Á.
- Chi chuối cảnh(Ensete) có nguồn gốc ở Đông Phi
Chi Chuối ăn(Musa) bao gồm hai nhóm:
+ Nhóm chuối mềm(banana) là những loài chuối khi chín quả mềm, bóc vỏ được
và dùng để ăn tươi
+ Nhóm chuối cứng(p lantains) là những loài chuối có quả khi chín vẫn cứng rắn, không bóc vỏ được, phải dùng dao để gọt Chuối cứng trước khi ăn phải nấu hoặc chiên, là nguồn cung cấp tinh bột quan trọng ở các nước nhiệt đới đang phát triển như Châu Á, Châu Phi và Nam Mỹ [51], [60]
Ở Việt Nam có cả 2 chi và 10 loài trong số 70 loài phân bố khắp thế giới [27]
+ Chuối nhà (Musa paradisiacal L.): cây được trồng lấy quả ăn, có nhiều thứ khác
nhau (chuối ngự, chuối tây, chuối tiêu, chuối mật,…) Ở miền Trung và miền Nam còn
Trang 18trồng chuối hột ( M balbislona Clla) để nuôi lợn, lấy sợi, chuối lá lùn (M nana Lour) ra
hoa quanh năm, quả nhiều nhưng vỏ hơi dày
+ Chuối rừng (Musa uranoscopos): cuống cụm hoa và lá bắc màu đỏ tươi, quả
nhiều hạt Gặp nhiều ở các rừng ẩm, ven khe suối
1.1.3 Giá trị của cây chuối
Chuối là cây ăn quả quý, có nhiều giá trị trong các loại cây ăn quả ở nước ta Chuối không những có giá trị dinh dưỡng cao mà còn được sử dụng nhiều làm dược liệu, chế biến
ra nhiều loài sản phẩm khác nhau: mứt chuối, kẹo chuối,…
1.1.3.1 Giá trị dinh dưỡng
Chuối là loại trái cây giàu chất dinh dưỡng Quả chuối chín chứa 70- 80% nước, 20- 30% chất khô, chủ yếu là đường trong đó đường khử chiếm 55% Hàm lượng protein thấp (1- 1,8 %) gồm 17 acid amin, chủ yếu là histidin, lipid không đáng kể Acid hữu cơ trong chuối chỉ vào khoảng 0,2%, chủ yếu là acid malic và oxalic, vì thế chuối có độ chua dịu Chuối chứa ít vitamin (carotene, vitamin B1, C, acid folic) nhưng hàm lượng cân đối Ngoài ra còn có muối khoáng, pectin và hợp chất polyphenol [60]
Thành phần hoá học của thịt quả chuối thay đổi theo loại chuối, nơi trồng, độ chín
Theo các nhà dinh dưỡng học, quả chuối có giá trị dinh dưỡng cao, ăn 100g thịt quả cho mức năng lượng khoảng 89 kcalo, hấp thụ nhanh (sau 1 giờ 45 phút hấp thụ hết)
Do đó, chuối đặc biệt thích hợp để bổ sung khẩu phần dinh dưỡng cho trẻ em và người già Quả chuối cũng có vị trí đặc biệt trong khẩu phần ăn giảm mỡ, cholesterol và muối Na+
Trang 19(quả chuối ít chứa Na+ và giàu K+, hàm lượng K+ đạt mức 400mg/100g thịt quả) [52].
Theo các phát hiện mới đây, quả chuối có lợi cho những người bị nhiễm độc than chì, có tác dụng hạn chế hình thành các vết lở loét gây ra khi người bệnh dùng thuốc Aspirin và làm lành các vết loét này [54]
Theo Đông Y,quả chuối có vị ngọt, nhuận phế, lợi tràng vị Củ chuối vị ngọt, tính hàn, có tác dụng thanh nhiệt, giải độc Theo phân tích thành phần hóa học của thịt chuối chín bao gồm nhiều chất bột, chất đạm, chất xơ, vitamin và khoáng chất Đặc biệt chuối có hàm lượng Potassium rất cao và 10 loại axid amin thiết yếu của cơ thể Theo Viện Nghiên Cứu và Phát Triển Nông Nghiệp Malaysia (MARDI), chuối là loại trái cây duy nhất hội tụ đầy đủ thành phần những chất dinh dưỡng cần thiết cho cơ thể con người Y học dân gian dùng chuối hột để trị sạn thận và sạn mật Các thành phần của cây chuối có rất nhiều công dụng khác nhau và dễ áp dụng, nhưng còn ít được quan tâm…
Hình 1.1 Giá chuối 30 năm qua (Nguồn: IMF - Quỹ tiền tệ Thế giới)
Nhiều nước ở Châu Á dùng bột chuối ăn thay một phần lương thực, góp phần đảm bảo vấn đề an ninh lương thực Quả chuối xanh, hoa chuối, thân chuối non dùng làm rau
ăn Thân cây chuối còn dùng làm thức ăn cho lợn Lá chuối dùng để bao gói làm các lại bánh Bẹ chuối lấy sợi làm giấy, bện thừng, pha trộn với sợi khác dùng để dệt bao tải Tro thân chuối có chất kiềm, được dùng làm thuốc giữ màu sắc vải nhuộm
Trang 20Bên cạnh việc dùng quả để ăn tươi là chủ yếu, ở Châu Á, Châu Phi và Châu Mỹ Latinh quả chuối mềm cũng còn được chế biến nhiều thức ăn như:
- Món canh chuối là món canh chay đơn giản phổ biến ở ViệtNamvà nhiều nước Đông Nam Á
- Món canh kiểm: phổ biến ở Miền Nam ViệtNam Món này được nấu bằng chuối xiêm chín với khoai mì, khoai lang, bí rợ trong nước cốt dừa
- Chuối nấu: các loài chuối xiêm, chuối sứ, chuối sáp…được để cả vỏ luộc chín
- Chuối phơi khô, chuốt sấy: chuối xiêm, chuối sứ được ép dẹp và phơi khô để ăn dần Đây là cách bảo quản có hiệu quả khi chuối chín ăn tươi không hết Ngoài cách phơi khô chuối chín còn được sấy khô để làm mứt chuối Quả chuối cứng dùng làm lương thực
a Canh chuối b Canh kiểm nước cốt dừa
Hình 1.2 Một số món ăn chế biến từ chuối
Ở Châu Phi và Nam Mỹ, quả chuối cứng hay chuối bột được trồng phổ biến để dùng làm lương thực chính trong bữa ăn hàng ngày Các loài chuối này khi ăn phải gọt vỏ, luộc, chiên, nấu như khoai tây Ngoài ra chuốt bột còn được sấy khô xay thành bột đun với nước sôi để có món hồ bột chuối, dùng làm thức ăn cho trẻ em và người lớn Ngoài ra, quả chuối còn được dùng làm nguyên liệu chế biến các sản phẩm khác như: bột chuối, mứt chuối, rượu chuối, tương chuối, kẹo chuối…
Trang 21Bột chuối Kẹo chuối Chuối sấy
Hình 1.3 Một số sản phẩm được chế biến từ chuối
Chuối là loại trái cây nhiệt đới được trồng phổ biến ở nhiều quốc gia và vùng miền trên thế giới, đồng thời cũng chiếm một tỷ trọng đáng kể trong giá trị thương mại rau quả của toàn cầu Theo tính toán của các nhà khoa học, để thu hoạch được một tấn quả chuối, người ta phải bỏ đi 10 tấn rác thải gồm vỏ, lá và thân cây Tận dụng nguồn vỏ và lá của cây chuối làm bánh than góp phần vào xu hướng tái sử dụng chất thải, giảm chi phí xử lý chất thải, giảm sự ô nhiễm môi trường Giải pháp này có thể ngăn chặn nạn phá rừng và giúp nhiều người thoát khỏi cảnh nghèo đói So với các loại rau quả khác, chuối có chu kì kinh tế khá ngắn, mức đầu tư không cao, kỹ thuật không phức tạp Thị trường tiêu thụ trong nước và ngoài nước còn đang mở rộng Theo tính toán kinh tế thì 1 ha trồng chuối đem lại giá trị sản phẩm bằng 3.8 ha trồng lúa hoặc 10 ha trồng lạc hoặc 6 ha trồng ớt [24]
Hiện nay, nhu cầu chuối ngự trên thị trường rất lớn, nhất là thị trường Hà Nội, Nam Định Một buồng chuối ngự chín có lúc lên đến 300.000 - 500.000 VNĐ và thấp là 200.000VNĐ Việc mở rộng diện tích trồng chuối nói chung, trồng chuối ngự nói riêng, là một trong những biện pháp chuyển dịch cơ cấu kinh tế hữu hiệu hiện nay ở nông thôn Hà
Trang 22Nam, cũng như toàn quốc.
1.1.3.4 Giá trị văn hóa thẩm mĩ
Mỗi dịp tết đến xuân về nhân dân nhiều nơi có tập tục chuẩn bị một vài nải chuối đẹp để bày biện mâm ngũ quả, có ý nghĩa tâm linh hay cầu may mắn Đó là nét đẹp văn hóa truyền thống của dân tộc ta mà còn là hình ảnh quen thuộc của làng quê Việt Nam, tượng trưng cho quê hương (Gió đưa bụi chuối sau hè…)
Giống chuối ngự Đại Hoàng cùng với giống quýt hương Văn Lý, giống hồng Nhân Hậu là những cây ăn quả đặc sản của đất Lý Nhân tỉnh Hà Nam, được người dân địa phương lưu giữ và phát triển hàng trăm năm nay trong vườn hộ Chuối ngự gắn liền với truyền thuyết các đời vua Trần, chuối tiến Vua Dân vùng Đại hoàng hầu như 100% người mang họ Trần Theo người dân trong vùng, chuối ngự là sản phẩm quí hiếm dành làm quà biếu vào những trường hợp quan trọng tỏ lòng tôn kính với người nhận quà Chuối ngự được dùng biếu thầy giáo và bà mụ (bà đỡ đẻ thời xưa) những người thân yêu trong dịp lễ tết Chính nét văn hóa này mà giống chuối ngự quí hiếm từ bao đời nay vẫn được người dân gìn giữ bảo tồn
Với truyền thống văn hoá và tập quán của một vùng quê thuần nông, người dân ở đây siêng năng, cần mẫn và quí khách; làng quê còn giữ được nhiều nét mang bản sắc dân tộc sâu sắc (lễ hội, hát chèo, văn nghệ dân gian ) Cùng với việc phát triển các vùng cây
ăn quả đặc biệt là chuối ngự, trong tương lai Lý Nhân có thể xây dựng nội dung Du lịch văn hoá và sinh thái kết hợp cảnh quan thơ mộng, phát triển kinh tế nông nghiệp đa dạng của địa phương
1.1.4 Tình hình sản xuất và tiêu thụ chuối trên thế giới và ở Việt Nam
1.1.4.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ chuối trên thế giới
a Các loài và giống chuối trên thế giới
Hầu hết cácgiống chuối ăn quảhiện đại là giống lai đa bội của các loài chuối hoang dại của chúng là loài chuối hột hoangMusa acuminata vàloài chuối hột
hoang Musa balbisiana Hầu hết các giống chuối này không có hạt và sinh sản vô tính
Chúng được phân loại dựa trên hệ thống do Ernest Cheesman, Norman Simmonds và Ken Shepherd đưa ra [51], [60]
“A” là kiểu gen củaMusa acuminata, “B” là kiểu gen của Musa balbisiana Các
Trang 23giống chuối đa bội là kết hợp giữa hai kiểu gen A và B Các dạng đa bội của Musa acuminatathườngdùngđể ăn tươitrong khi các dạng đa bội củaMusa balbisianavà các giống lai giữa hai kiểu gen thường đượcdùng để chế biến công nghiệp.
+ Các loài chuối hoang dại:
- Loài chuối hột hoang dã (Musa acuminata Colla) (ký hiệu “A”).
- Loài chuối hột hoang dã (Musa balbisianaColla) (ký hiệu “B”)
- Loài chuối lai hoang dã (Musa paradisiacaL.)
- Loài chuối hồng hoang dã (M velutinaH.Wendl & Drude)
- Loài chuối rừng VânNam(M yunnanensisHäkkinen & H.Wang)
- Loài chuối sợi Nhật bản (M basjoo Siebold & Zucc ex Iinuma)
- Chuối hoang Đông Phi (Musa acuminatassp.zebrina)
Ngoài ra, còn có nhiều loài chuối hoang dại khác
+Các loài chuối ăn tươi (banana) hay còn gọi chuối mềm
Có hai nhóm:chuối không hạt vàchuối có hạt
- Nhóm chuối không hạt(P arthenocarpicbanana) được gọi theo tiếng Anh gọi là
“banana” Banana là các loài chuối khi chín quả mềm, ngọt, dễ bóc vỏ, được dùng để ăn tươi khi quả đã chín Đây là nhóm chuối được trồng phố biến ở tất cả các nước và được mua bán trên thị trường các nước trồng chuối
- Nhóm chuối không hạt bao gồm các loài chuối lai (Musa paradisiacaL.) có kiểu gen đa bội, trong đó kiểu gen “A” là nổi trội như: AA, AAA, AAAA, AAAB,AAB, AB [51]
b Tình hình sản xuất và tiêu thụ chuối trên thế giới
Chuối được xem là giống cây trồng thứ tư trên thế giới về sản lượng Theo số liệu của FAO [50], hàng năm toàn thế giới sản xuất trên 88 triệu tấn chuối Khoảng 98% sản lượng chuối của thế giới thuộc các nước đang phát triển Các nước phát triển là địa chỉ cho các nước xuất khẩu Những năm 1970, sản lượng chuối của châu Mỹ chiếm tới 50%, châu
Á gần 34%, châu Phi khoảng 13% tổng sản lượng chuối thế giới Đến năm 2007 sản lượng chuối châu Á chiếm 58%, châu Mỹ khoảng gần 31% Hiện nay khu vực châu Á vượt lên dẫn đầu, tiếp theo là các nước Nam Mỹ và cuối cùng là châu Phi (hình 1.4)
Trang 24Nguồn: UNCTAD Secretariat from FAO statistics
Hình 1.4 Phân bố sản lượng chuối ở những vùng sản xuất chính
* Tình hình sản xuất chuối trên thế giới
Hiện nay, chuối được trồng ở hầu hết các vùng nhiệt đới, cận nhiệt đới, phân bố từ
30o vĩ độ Bắc đến 30o vĩ độ Nam Chuối chủ yếu được trồng chủ yếu ở những nước đang phát triển Khoảng 98% sản lượng chuối của thế giới được trồng ở những nước đang phát triển và được xuất khẩu tới các nước phát triển Tuy nhiên, về việc sản xuất cũng như xuất nhập khẩu chuối thường là tập trung vào một số nước nhất định Trong đó thì Ấn Độ, Ecuador, Braxin và Trung Quốc chiếm một nửa của toàn thế giới Điều này càng ngày càng tăng lên cho thấy sự tập trung hóa về phân phối chuối trên toàn thế giới Vào năm
2007, tổng cộng có 130 quốc gia sản xuất chuối [1], [49]
+ Cơ cấu sản xuất chuối trên thế giới
Theo thống kê của FAO, 10 quốc gia sản xuất chuối và chuối bột hàng đầu thế giới trong năm 2011 gồm có:
1-Ấn Độ, 2-Uganda, 3-Trung Quốc, 4-Philippine, 5-Ecuador, 6-Brax in, 7
-Inđônêx ia, 8-Cô lômbia, 9- Cameroon và 10- Tanzania đã sản xuất được 59,9 triệu
tấn chuối, so toàn thế giới là 145,5 triệu tấn, chiếm66% Trong đó dẫn đầu là Ấn Độ sản
xuất 29,7 triệu tấn, đạt 23% so thế giới
Việc trồng chuối xuất khẩu thành công nhất là ở nướcEcuador Trong năm
2011, Ecuadorlà nước sản xuất chuối hàng thứ 5 trên thế giới chiếm khoảng 9% tổng sản lượng chuối thế giới Nhiều nước nhiệt đới có diện tích trồng chuối lớn như Ấn Độ
Trang 25(chiếm 23% sản lượng chuối thế giới) nhưng không phải là nước xuất khẩu được nhiều chuối do còn giới hạn về khâu kỹ thuật chọn giống, sơ chế và vận chuyển để đáp ứng cho xuất khẩu (hình 1.5).
Nguồn: UNCTAD Secretariat from FAO statistics
Hình 1.5 Cơ cấu sản xuất chuối trên thế giới năm 2011
Sản xuất chuối trên thế giới có xu hướng ngày càng phát triển, chất lượng chuối và
độ an toàn thực phẩm ngày được quan tâm Chuối trồng chủ yếu là chuối Cavendish (chuối tiêu) theo quy trình sản xuất an toàn Điển hình là Pêru, nước sản xuất 100% chuối
an toàn để xuất khẩu, với những vùng sản xuất tập trung quy mô lớn đáp ứng nhu cầu nhập khẩu chuối của các nước trên thế giới, nhất là các nước trong Liên minh Châu Âu
+ Cơ cấu xuất khẩu chuối trên thế giới
Trong những năm 90, xuất khẩu chuối từ Mỹ La tinh và khu vực Caribê giảm nhẹ
và xuất khẩu từ khu vực Châu Á tăng lên Xuất khẩu chuối trên thế giới chủ yếu là tập trung vào các nước đang phát triển Riêng Mỹ La tinh và khu vực Caribê đã chiếm 70% lượng xuẩt khẩu chuối năm 2004 Năm nước xuất khẩu chuối nhiều nhất thế giới vào năm
2011, Ecuador, Costa Rica, Philipine, Colombia đã chiếm tới 64% xuất khẩu chuối trên toàn thế giới Chỉ tính riêng Ecuador đã chiếm 29% (hình 1.6)
Trang 26Nguồn: UNCTAD Secretariat from FAO statistics
Hình 1.6 Cơ cấu xuất khẩu chuối trên thế giới năm 2011
Năm nước xuất khẩu sản phẩm chuối hàng đầu trên thế giới (2011) gồm:
1-Ecuador, 2-Costa Rica, 3-Colombia, 4-Philippines, 5-Guatemala đạt 11,9
triệu tấn, so toàn thế giới là 17,9 triệu tấn, chiếm tỷ lệ 66% Trong đó dẫn đầu là
Ecuador xuất khẩu được 5,2 triệu tấn, chiếm 29%.
+ Cơ cấu nhập khẩu chuối
Chỉ riêng EU, Mỹ và Nhật, đã chiếm đến 67% nhập khẩu trên toàn thế giới năm
2004 Mặc dù sự tập trung về mặt địa lý vẫn khá cao nhưng xu hướng đa dạng hóa ngày càng tăng, đặc biệt là vào những năm 1990, khi có sự xuất hiện của một số nước nhập khẩu mới Điều này cho thấy nhập khẩu chuối ngày càng lớn của một số thị trường mới nổi như Liên bang Nga, Trung Quốc, Đông Âu Trong khi đó mức nhập khẩu của khu vực
EU vẫn tương đối ổn định
Giai đoạn 2005 – 2011 các nước nhập khẩu chuối lớn là Vương Quốc Bỉ, Mỹ, Đức,…có khoảng 17 nước nhập khẩu chuối trên 100 triệu USD/ năm
Trang 27Hình 1.7 Cơ cấu nhập khẩu chuối giai đoạn 2005 – 2011
Cho đến nay các nước nhập khẩu là các nước phát triển tập trung chủ yếu ở các nước thuộc Liên minh Châu Âu, Mỹ, Nhật Bản, Liên Bang Nga, các nước Trung Đông Nhật Bản là thị trường nhập khẩu chuối lớn thứ ba thế giới sau Liên minh Châu Âu, Mỹ Quốc gia cung cấp chuối chủ yếu cho Nhật Bản nhiều nhất là Philippin, tiếp theo là Ecuador Thị trường nhập khẩu chuối của Nhật Bản có tính tập trung cao, chỉ với quốc gia trên đã cung cấp xấp xỉ 95% lượng chuối nhập khẩu vào Nhật Bản Nhìn chung cây chuối
có thế mạnh xuất khẩu ở các nước nhiệt đới, nếu khai thác tốt thế mạnh này sẽ giúp tạo công ăn việc làm và xóa đói giảm nghèo cho một bộ phận dân cư [1], [50]
1.1.4.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ chuối ở Việt Nam
a Các loài và giống chuối trồng phổ biến ở Việt Nam
Việt Nam là nước nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm thuận lợi cho sinh trưởng, phát triển của chuối Theo các tài liệu [27], [51], [60] điển hình các giống chuối trồng phổ biến gồm có :
Chuối tiêu (Cavendish)
Chuối tiêu được trồng nhiều ở các vùng đồng bằng sông Hồng, sông Cửu Long Có
ba giống chuối tiêu phân loại theo độ cao của thân
Trang 28+ Chuối tiêu lùn: thân cao 1,5 - 2m Lá mọc sít nhau, cuống ngắn lá màu xanh đậm Quả hơi cong, dài 14 - 16cm, đường kính quả 2,5 - 3cm Mỗi buồng chuối tiêu lùn nặng trung bình 14 -18 kg, có buồng nặng trên 20 kg Thịt quả chắc, thơm ngọt Cây sinh trưởng khỏe, chịu gió khá tốt.
+ Chuối tiêu nhỡ: thân cao 2 - 3m Lá dài hơn giống chuối tiêu lùn Quả ít cong hơn trái chuối tiêu lùn, dài 15 - 18cm, đường kính trái 2,5 – 3cm Buồng chuối tiêu nhỡ nặng trung bình 15 - 20kg, có buồng nặng 25 - 30kg Thịt quả có màu nhạt hơn mềm hơn chuối tiêu lùn Mùi vị cũng không thơm ngon bằng chuối tiêu lùn Cây sinh trưởng khỏe, năng suất cao
+ Chuối tiêu cao: thân cao 3,5 – 4 m Lá dài, to, mọc thưa Quả to, hơi thẳng, dài 16
- 20cm, đường kính 3,5 – 4cm Buồng chuối tiêu cao nặng trung bình 20 – 25kg, có buồng nặng 35 – 40 kg Thịt quả không chắc, mùi vị kém nhất trong ba giống chuối tiêu Cây sinh trưởng khỏe, năng suất cao nhưng chống gió bão kém Buồng quả nặng nên dễ gãy đổ (hình 1.8)
Hình 1.8 Chuối tiêu
Chuối tây (chối sứ, chuối xiêm)
Chuối sứ được trồng phổ biến ở nhiều nơi, cây mọc khỏe, cao to, lá dài, rộng, cuống lá có phấn trắng Quả to, ngắn, mập, vỏ mỏng, khi chín vàng tươi, vị ngọt, kém thơm Buồng nặng 15 - 20kg
Chuối sứ không kén đất, chịu được hạn, úng, đất xấu và chịu rét khá hơn chuối tiêu Do đó, chuối sứ thường được trồng ở các vùng trung du, miền núi (hình 1.9)
Trang 29Hình 1.9 Chuối tây
Chuối ngự
Dọc bờ sông Châu Hà Nam, nhiều nơi nổi tiếng về trồng chuối ngự, nhưng ngon nhất vẫn là chuối ngự làng chiêm trũng Đại Hoàng (huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam) Cây chuối ngự cao khoảng 2,5 - 3m, lá có màu xanh Có ba giống chuối ngự là chuối ngự trắng, chuối ngự trâu và chuối ngự mít (chuối ngự thóc)
Chuối ngự trắng: quả to, khi chín vỏ quả có màu vàng tươi, sáng bóng, quả hơi tròn lẳn, thịt quả vàng thơm nhẹ, loại này dễ tiêu thụ vì mã đẹp
Chuối ngự trâu: quả to, vỏ quả khi chín có màu vàng nhạt, thịt quả màu vàng nhạt, không có hương thơm, loại này ít được người tiêu thụ ưa dùng
Chuối ngự mít: quả nhỏ, thon, khi chín vỏ quả mỏng và có màu vàng đậm, thịt quả vàng hơi hồng, hương thơm ngát Đây là loại chuối ngự được người dân Lý Nhân trồng chủ yếu, với thương hiệu “chuối ngự Đại Hoàng” (hình 1.10)
Hình 1.10 Chuối ngự
Trang 30 Chuối hột
Bao gồm chuối hột rừng và chuối hột trồng:
- Chuối hột rừngMusa balbisiana nhị bội ( loài chuối nhị bội có kiểu gen BB),
loài này mọc hoang trong rừng được khai thác làm thuốc
- Chuối hột trồngMusa balbisiana tam bội ( loài tam bội có kiểu gen BBB), loài
này được trồng chủ yếu dùng thân và bắp chuối để làm rau, quả to khi chín ăn được, chủ yếu để ngâm rượu thuốc (rượu chuối hột) Hạt của loài này được bán ở dạng nguyên hạt hoặc xay thành bột để làm thuốc (hình 1.11)
Trang 31 Chuối mật (chuối lá)
Chuối mật được trồng rải rác khắp nơi, cây cao lớn 3,5 - 4m Quả lớn có ba cạnh,
vỏ dày hơi khó bóc Thịt quả khi chín màu vàng nhạt, nhão, không thơm, hàm lượng đường thấp, vị ngọt pha chua Cây sinh trưởng khỏe, năng suất thấp thường được dùng để sản xuất chuối khô
Chuối cau (chuối cơm)
Cây chuối cau có thân nhỏ, quả ngắn, buồng nhỏ, vỏ quả dày Quả chín ăn không ngọt, hơi chua
b Tình hình sản xuất và tiêu thụ chuối ở Việt Nam
* Diện tích và sản lượng của chuối ở Việt Nam
Ở nước ta chuối là loại trái cây có diện tích và sản lượng cao Tuy nhiên, diện tích trồng chuối lại không tập trung Do đặc điểm là loại cây ngắn ngày, nhiều công dụng và ít tốn diện tích nên chuối được trồng ở rất nhiều nơi trong các vườn cây ăn trái và hộ gia đình.Theo Tổng cục Thống kê, năm 2009 diện tích chuối của cả nước là 115.565 ha, sản lượng 1.751.153 tấn Vùng trồng chuối lớn nhất là đồng bằng sông Cửu Long chiếm 25,35% sản lượng; Bắc Trung bộ chiếm 19,26% sản lượng chuối so với cả nước Năng suất chuối của các tỉnh đồng bằng sông Hồng cao nhất cả nước, do điều kiện đất đai màu
mỡ, điều kiện thời tiết thuận lợi và trình độ thâm canh của người dân cao Một số tỉnh miền Trung và miền Nam có diện tích trồng chuối khá lớn (Thanh Hóa, Nghệ An, Khánh Hòa, Đồng Nai, Sóc Trăng, Cà Mau có diện tích từ 3.000 ha đến gần 8.000 ha)
Trong khi đó các tỉnh miền Bắc có diện tích trồng chuối lớn nhất như: Hải Phòng, Nam Định, Phú Thọ, Hà Nam …chưa đạt đến 3.000 ha Tốc độ phát triển bình quân về diện tích cao nhất là Tây Bắc 9,16% /năm, do người dân chuyển dịch cơ cấu cây trồng thay cho những cây trồng khác kém hiệu quả, vùng Bắc Trung Bộ tốc
độ tăng diện tích hàng năm thấp nhất 0,69%/năm, đồng bằng sông Cửu Long sản lượng tăng bình quân cao nhất là 10,30%/ năm
Gần đây, một số tỉnh miền Bắc như Hưng Yên, Nam Định, Hà Nam, đang rất quan tâm vấn đề khôi phục lại các giống chuối quý của địa phương như chuối tiêu hồng, chuối ngự Đây là những giống cho năng suất cao, chất lượng vượt trội so với các giống chuối khác, thời gian sinh trưởng ngắn khoảng 10 – 11 tháng Hiện nay, mỗi cây chuối tiêu hồng có số nải trung bình khoảng 11 nải/buồng và số nải hữu hiệu là 9 nải chiếm trên 80%
Trang 32số nải trên buồng Trọng lượng trung bình mỗi buồng là 30 kg Nếu so với giống chuối tiêu đang được trồng phổ biến thì giống chuối tiêu hồng cho năng suất cao hơn từ 1,5 đến 1,7 lần Chuối tiêu hồng có nguồn gốc từ huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam Bên cạnh đó, chuối ngự có vị ngọt đậm, hương thơm đặc biệt khi quả chín, có thể ra hoa quả quanh năm, ở mùa nào quả cũng thơm ngon, không như chuối tiêu chỉ thơm ngon vào mùa đông, chuối goòng chỉ ngon vào mùa hè Chuối ngự được trồng cả miền Nam và miền Bắc, miền Trung Tập trung chủ yếu ở các tỉnh miền Bắc, Bắc Trung Bộ như Nam Định, Thái Bình,
Hà Nam,Thanh Hóa, Nghệ An, HàTĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị,
* Tiêu thụ chuối
Về tiêu thụ chuối của Việt Nam chủ yếu ở dạng ăn tươi Tiêu thụ dưới dạng quả tươi là chủ yếu, các sản phẩm chế biến rất ít, bao gồm chuối sấy, kẹo chuối, bánh chuối, Các sản phẩm chế biến cũng chủ yếu tiêu thụ ở thị trường nội địa, một phần rất nhỏ được xuất khẩu sang Hàn Quốc, Ucraina, Belaraut thông qua thương lái tư nhân Hầu hết không
có những hợp đồng giữa người sản xuất với người tiêu thụ hay sản xuất theo kiểu liên doanh, liên kết
Kênh tiêu thụ chủ yếu:
+ Người sản xuất → Người thu gom địa phương → Người bán buôn → Chuyển đi thị trường khác
+ Người sản xuất→ Người bán buôn → Người xuất khẩu
+ Người sản xuất kiêm bán lẻ →Người bán lẻ → Người tiêu dùng
Bảng 1.2 Các hình thức tiêu thụ chuối của các hộ nông dân
ĐVT: %
Người thu gom
Người bán buôn
Người tiêu dùng
Người thu gom
Người bán buôn
Người tiêu dùng
Nguồn: Viện Nghiên cứu Rau quả Việt Nam 2008 - 2009
Nhìn chung giá chuối tiêu ở miền Bắc cao hơn miền Nam, do chất lượng
Trang 33chuối miền Bắc cao hơn, miền Nam lại có nhiều loại quả có khả năng thay thế chuối Chuối tây ở vụ hè do có chất lượng tốt hơn nên giá bán cao hơn chuối tiêu Chuối ngự mặc dù sản lượng không cao, diện tích trồng còn nhỏ lẻ nhưng giá bán cao hơn so với các giống chuối khác ở tất cả các vụ trong năm Ở ViệtNamcó nhiều giống chuối ngon nổi tiếng nhưng chưa có cơ hội xuất khẩu với sản lượng lớn Do còn vướng phải các rào cản về thương hiệu chuối và chưa có quy trình thâm canh chuối hiện đại (từ khâu chọn giống sạch bệnh cho đến kỹ thuật sản xuất để thu hoạch đồng loạt và kỹ thuật sơ chế, vận chuyển hợp lý).
1.1.5 Những công trình nghiên cứu về cây chuối trên thế giới và ở Việt Nam
Nhiều nước trên thế giới chú trọng thực hiện với mục tiêu tạo ra các giống chuối có thời gian sinh trưởng ngắn, thấp cây, năng suất và chất lượng cao, có khả năng kháng một số loại bệnh hại nguy hiểm như héo rũ, tuyến trùng…
Hàng loạt các giống chuối mới được tạo ra từ lai hữu tính như FHIA 01, FHIA 03, FHIA 21 (Philippine), Udhayam, H1, H2, H59, H65, H1009 (Ấn Độ) Hiện nay, một trong những phương pháp chủ yếu tạo giống mới là nuôi tế bào trần
và tạo đột biến Các nhà khoa học Đài Loan đã tạo ra các giống chuối có khả năng kháng bệnh Fusarium như chủng 4: Hshien Jinchao, Tai Chiao 1 đã được tạo ra nhờ
sự chọn lọc từ đột biến tế bào chất xảy ra ở vườn chuối bị bệnh [1]
Theo Reuveni O (1986), kỹ thuật nuôi cấy invitro chuối có một số ưu điểm sau (dẫn theo Hoàng Nghĩa Nhạc) [18]:
- Nhân được số lượng lớn giống từ cây ban đầu đã xác định tính trạng
- Chất lượng cây giống hoàn toàn sạch bệnh, tránh được những sâu hại lây nhiễm qua nguồn đất (tuyến trùng)
- Cây nuôi cấy mô có thể trồng một vụ với mức độ thâm canh cao, thời gian sinh trưởng ngắn, có thể điều khiển được thời gian thu hoạch
- Tỷ lệ cây sống cao trên điều kiện đồng ruộng (>98%), khả năng sinh trưởng nhanh hơn cây có nguồn gốc từ chồi nách
- Cây giống invitro phát triển đồng đều, ra hoa đồng loạt và thời gian thu hoạch ngắn
- So với cây giống từ chồi nách, cây nuôi cấy mô có giá thành rẻ, dễ vận
Trang 34chuyển, dễ nhân giống.
- Tiện lợi cho việc trao đổi nguồn gen quốc tế
Hiện nay kỹ thuật nuôi cấy invitro ở chuối cũng được các nhà khoa học quan tâm, nhằm đáp ứng nhu cầu sản xuất chuối trên quy mô lớn mục tiêu nội địa và chế biến xuất khẩu Vì vậy, sử dụng kỹ thuật nuôi cấy mô tế bào nhân giống chuối đã được nghiên cứu, ứng dụng từ rất lâu tại nhiều nước trên thế giới như Malayxia, Australia, Pháp, Trung Quốc… và đã góp một phần đáng kể phục vụ ngành sản xuất chuối xuất khẩu
Rodriguez-Enriquez và cộng sự (1987) cho biết từ một chồi chuối ban đầu qua cấy chuyển liên tiếp có thể sinh sản và duy trì được 3 năm trong ống nghiệm [41]
Weathers và cộng sự (1988) đã đề xuất phương pháp nuôi cấy mô chuối cải tiến trong hệ phun mù Các mô hoặc tế bào chuối nuôi cấy được đặt trên giấy lọc bằng vật liệu trơ sinh học, vô trùng và được phun dung dịch dinh dưỡng qua hệ thống phun mù để vừa điều chỉnh độ ẩm vừa cung cấp dinh dưỡng cho cây Kết quả cho thấy, chuối non mọc tốt hơn, các mô hoặc tế bào chuối tái sinh cao hơn 4-6 tuần, số lượng chồi lớn hơn 3-20 lần, chu kỳ nhân ngắn hơn 20-50% và chất lượng cây tốt hơn so với đối chứng (nghiên cứu trên môi trường agar thường) [44]
Ở Việt Nam, các nghiên cứu về nhân giống chuối trước đây chỉ chú trọng các biện pháp kỹ thuật nhân bằng củ và tách chồi Những kỹ thuật này hiện nay vẫn được áp dụng khá phổ biến ở nhiều vùng miền và nhất là quy mô sản xuất nhỏ.
Theo Nguyễn Quang Thạch, Nguyễn Thị Nhẫn và Hoàng Thị Nga (1995) cho biết hoàn toàn có thể sử dụng phương pháp invitro để nhân nhanh cây chuối, vật liệu nuôi cấy tốt nhất cho mục đích nhân nhanh là các mô chồi đỉnh của nó, có thể sử dụng kỹ thuật bóc
Trang 35tác chọn tạo giống.
Vũ Công Hậu (1999), trong cuốn sách: “Trồng cây ăn quả ở Việt Nam”, Nxb Nông nghiệp thành phố Hồ Chí Minh, đã đưa ra lượng phân bón thích hợp tính cho
1 gốc chuối trong một vụ là 50 – 60g đạm, 30 – 40g lân và 70 – 80g kali [8]
Theo Trần Thế Tục (1998), đã chỉ ra trong cuốn sách “Giáo trình cây ăn quả”, Nxb Nông nghiệp Hà Nội, lượng phân bón tính cho một gốc chuối trong một chu kỳ là 100 – 200g đạm, 20 – 40g lân và 250 – 300g kali [31]
Hồ Hữu Nhị (2000) đã xác định 17 loại sâu, bệnh hại chuối ở Việt Nam, chuối bị
một số sâu, bệnh hại chính như sau: sâu vòi voi, bọ nẹt, sâu gặm vỏ quả do Basilepta, bệnh
chùn ngọn, bệnh hán thư quả, bệnh đốm đen và đốm vàng lá,….[19]
Một số tác giả Nguyễn Văn Cống, Dương Tấn Lợi đã tổng kết những kinh nghiệm thực tiễn trồng chuối ở một số địa phương, trong những cuốn sách này đã trình bày được các đặc điểm sinh trưởng, ra hoa đậu quả cũng như các kinh nghiệm thực tiễn trong việc trồng và chăm sóc chuối ở Hà Nam nói riêng, các tỉnh thành trên toàn quốc nói chung [4], [14]
Tác giả Hồ Đình Hải đã đề cập đến lịch sử trồng cây chuối, phân loại, các đặc điểm sinh học và các kinh nghiệm thực tiễn trong việc trồng, chăm sóc cây chuối [51]
Trong các luận văn những năm gần đây, cây chuối cũng là đề tài được quan tâm nghiên cứu Tác giả Hoàng Việt Anh (2011) đã tiến hành đề tài “Nghiên cứu giải pháp phát triển vùng sản xuất chuối tiêu tập trung ở tỉnh Hưng Yên” trong luận văn thạc sỹ Nông nghiệp của mình [1] Trong khi đó, Lê Thanh Loan (2005) lại nghiên cứu cây chuối ngự ở khía cạnh: “Nghiên cứu nhân nhanh invitro giống chuối ngự Đại Hoàng”, khi hoàn thành luận văn tốt nghiệp Đại học, Đại học nông nghiệp [12] Tác giả Nguyễn Thị Việt Nga (1996): “Điều tra thu thập và bước đầu phân loại một số chuối ở miền Bắc Việt Nam” trong luận án Tiến sĩ Nông nghiệp [16]
Rất nhiều công trình nghiên cứu khác đã quan tâm, đề cập đến cây chuối Nói chung, những công trình nghiên cứu về cây chuối trên thế giới và ở Việt Nam đều đi sâu vào các đặc điểm sinh học, sinh lý, sinh hóa và các biện pháp kỹ thuật đối với cây
Trang 36chuối còn việc đánh giá hiện trạng cũng như công tác bảo tồn cây trồng này chưa được nghiên cứu nhiều Trong những năm gần đây, tỉnh Hà Nam chú trọng bảo tồn và phát triển các cây ăn quả đặc sản của địa phương thông qua các dự án:
- Dự án VN/02/002 “Xây dựng mô hình bảo tồn và phát triển quĩ gen cây ăn quả bản địa quí hiếm, nhằm góp phần bảo vệ và phát triển bền vững hệ sinh thái nông nghiệp đặc trưng vùng đồng bằng chiêm trũng, có tác động của qui luật nước
lũ sông Hồng hàng năm tại huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam” thực hiện từ 09/2002 – 09/2005 (giai đoạn 1) [23]
- Dự án VN/05/005 với tên gọi “Khai thác, sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên thiên nhiên, bảo tồn và phát triển quỹ gen cây ăn quả của hệ sinh thái nông nghiệp vùng chiêm trũng huyện Lý Nhân tỉnh Hà Nam” đã được Quỹ Môi trường toàn cầu, Chương trình tài trợ các dự án nhỏ tại Việt Nam (GEF/SGP/UNDP) thực hiện từ tháng 03/2006-03/2009 (giai đoạn 2) [24]
- Dự án “ Xây dựng mô hình phát triển sản xuất và quản lý Chỉ dẫn Địa lý chuối Ngự Đại Hoàng”, dự án được thực hiện bởi Trung tâm nghiên cứu và phát triển hệ thống Nông nghiệp, Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam phối hợp với
Sở Nông nghiệp Hà Nam, Sở Khoa học Công nghệ Hà Nam Dự án thực hiện từ tháng 09/2010 – 09/2012 [5]
1.2 Những nghiên cứu về bảo tồn giống cây trồng
1.2.1 Khái niệm về bảo tồn
Hiện nay, có nhiều quan niệm về bảo tồn, là từ dùng để chỉ sự duy trì những sản phẩm hữu hình hoặc vô hình có giá trị lịch sử, mang trong mình yếu tố văn hóa sâu sắc Theo từ điển tiếng Việt (1999), “Bảo tồn là giữ lại không để cho mất đi” [31]
1.2.2 Những nghiên cứu về bảo vệ đa dạng sinh học
Đa dạng sinh học là một phần quan trọng của môi trường Việt Nam được coi là một trong những nước có độ đa dạng sinh học cao, cả về động vật và thực vật
Cho đến nay, các nhà khoa học đã thống kê được ở nước ta có khoảng 12.000 loài thực vật, trong đó có khoảng 2.300 loài đã được nhân dân sử dụng là nguồn lương thực, thực phẩm, dược liệu và khoảng 7.000 loài động vật khác
Trang 37nhau Nguồn đa dạng sinh học này không chỉ là cơ sở vững chắc cho sự tồn tại của con người trong quá khứ mà còn là cơ sở cho sự phát triển của dân tộc Việt Nam trong tương lai (Richard B Primarck, 1999) [26].
Có hai phương pháp bảo tồn đa dạng sinh học Phương pháp thứ nhất là bảo tồn In - situ (bảo tồn nguyên vị) Đây là phương pháp bảo tồn các quần xã và quần thể ngay trong điều kiện tự nhiên Phương pháp này thường được thực hiện bằng cách lập các khu bảo tồn thiên nhiên Phương pháp thứ hai là bảo tồn Ex - situ (bảo tồn chuyển vị) Phương pháp này bao gồm các biện pháp di dời các loài thực vật, động vật và các vi sinh vật ra khỏi môi trường sống tự nhiên của chúng Mục đích của việc di dời đó là để nhân giống, lưu giữ, nhân giống vô tính hay cứu hộ sinh vật Bảo tồn Ex - situ nhằm bảo tồn các loài có nguy cơ bị tiêu diệt, loài quý hiếm, loài
có giá trị kinh tế lớn có nguy cơ đe dọa, nguy cơ tuyệt chủng, đưa các loài này đến nơi mới, ngoài nơi sinh sống của chúng (Richard B Primarck, 1999) [26]
Việt Nam đã chú ý đến việc bảo vệ đa dạng sinh học từ năm 1962 và khu bảo tồn thiên nhiên được thành lập đầu tiên là Vườn Quốc gia Cúc Phương Tuy nhiên công việc bảo vệ đa dạng sinh học bị đình trệ trong thời gian khá dài, trong khoảng
30 năm bởi chiến tranh Đến năm 1983, công việc này mới được tiếp tục tiến hành
và với tốc độ khẩn trương hơn Trong vòng 3 năm, Chính phủ đã quyết định thành lập 87 khu bảo tồn hay các khu đặc dụng, trong đó có 56 vườn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên, 31 khu rừng văn hóa, lịch sử với diện tích khoảng 1.169.000 ha, chiếm 5,7% diện tích đất rừng và chiếm khoảng 3,3% diện tích cả nước Từ năm
1986 đến nay, hệ thống các khu bảo tồn được mở rộng thêm Số lượng các khu bảo tồn cũng tăng lên đến 105 khu, trong đó có 12 vườn quốc gia, còn lại là các khu bảo tồn thiên nhiên, khu rừng văn hóa, lịch sử Những năm gần đây, Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn đã trình Chính phủ bổ sung thêm các khu bảo tồn và mở rộng thêm một số khu bảo tồn đã có để tổng diện tích các khu bảo tồn chiếm 6% diện tích cả nước [7], [26], [35]
Ngoài việc thành lập các khu bảo tồn, Việt Nam còn lưu ý đến việc bảo vệ các hệ sinh thái biển và tài nguyên sinh vật ở đó Hơn nữa, nước ta cũng đang thực hiện một số
dự án đặc biệt, dựa chủ yếu vào nhân dân bằng cách khuyến khích người dân tham gia bảo
Trang 38vệ các loài động vật quý hiếm đang có nguy cơ bị tiêu diệt như bảo vệ loài Gà lam đuôi trắng ở vùng Kẻ Gỗ (Hà Tĩnh), loài Voọc mũi hếch ở Na Hang (Tuyên Quang), loài Hổ ở Thừa Thiên Huế và Chư Môm Rây ở Kon Tum [3], [7], [26].
Để phục vụ cho mục đích chăm sóc bảo vệ sức khoẻ con người, cho sự phát triển của xã hội và để chống lại các bệnh nan y thì sự kết hợp giữa Đông y với Tây y, giữa y học hiện đại với y học cổ truyền của các dân tộc là một vấn đề cấp thiết Chính từ những kinh nghiệm của y học cổ truyền đã giúp cho nhân loại khám phá ra những loại thuốc có ích trong tương lai Cho nên, việc khai thác kết hợp với bảo tồn các loài cây thuốc là điều hết sức quan trọng Các nước trên thế giới đang hướng về thực hiện chương trình Quốc gia kết hợp sử dụng, bảo tồn và phát triển bền vững cây thuốc Trong quá trình điều tra dược liệu ở Việt Nam từ năm 1961 đến nay, Viện Dược liệu đã phát hiện nhiều vùng rừng có cây thuốc phong phú, nay đã bị phá huỷ làm nương rẫy, trồng cà phê, cao su (ở miền Nam) hoặc thay vào đó là các công trình dân sự Bên cạnh các hoạt động có chủ ý của con người, nạn cháy rừng, lũ lụt và lở đất cũng làm mất đi nhiều vùng rừng có nhiều cây thuốc quý hiếm mọc tập trung Hơn nữa, do sức ép của thị trường, tài nguyên cây thuốc bị khai thác quá mức nên ngày càng cạn kiệt và đứng trước nguy cơ bị đe doạ Chính phủ và ngành y tế đã có những nỗ lực để bảo tồn tài nguyên sinh vật nói chung và tài nguyên cây thuốc nói riêng Nhiều công trình Nhà nước về bảo tồn cây thuốc (Bảo tồn nguồn gen cây thuốc - Viện Dược liệu, Bộ Y tế) hoặc các mô hình bảo tồn nguồn gen cây thuốc ở các dự án đầu tư của Nhà nước, cũng như các dự án của tổ chức phi chính phủ (Bảo tồn cây thuốc của đồng bào Dao tại Ba Vì, Hà Tây - CREDEP; Bảo tồn nguồn gen cây thuốc - Bộ Y tế; Mô hình bảo tồn và phát triển cây thuốc ở Sa Pa; Mô hình bảo tồn cây thuốc ở Nà Ớt, Sơn La của Viện Sinh thái
và Tài nguyên sinh vật) đã được hình thành nhằm duy trì bảo tồn nguồn gen cây thuốc quý hiếm
1.2.3 Những nghiên cứu về bảo tồn giống cây trồng
Trong quá trình nghiên cứu chúng tôi nhận thấy có ít tài liệu luận văn nghiên cứu riêng về vấn đề bảo tồn giống cây trồng mà nội dung bảo tồn giống cây trồng chỉ chiếm một phần nhỏ trong nội dung nghiên cứu của các tác giả luận văn Trong
Trang 39luận văn thạc sĩ sinh học, tác giả Trung Thị Xuân (2009): “Nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái và bảo tồn loài sen hồng (Nelumbo nucifera Gaertn.)”, đã đề xuất một số biện pháp bảo tồn loài cây này về khía cạnh tự nhiên và khía cạnh kinh tế -
xã hội [35] Năm 2013, tác giả Nguyễn Thị Thanh Hải đã làm về đề tài bảo tồn giống nhãn lồng Hưng Yên, trong luận văn thạc sĩ khoa học sinh học, trường Đại học Sư phạm Hà Nội [7]
Tại nhiều địa phương, các giống cây đặc sản cũng đã được quan tâm nghiên cứu
và bảo tồn qua các đề tài, dự án Đề án phục tráng giống mận Tam Hoa do Trung tâm Giống nông - lâm nghiệp tỉnh Lào Cai phối hợp với Ủy ban Nhân dân huyện Bắc Hà thực hiện đã được triển khai từ đầu tháng ba năm 2012 (http://www.khoahoc.com.vn) [54] Viện Bảo vệ thực vật (Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam) đang thực hiện đề
tài “Ứng dụng công nghệ vi ghép đỉnh sinh trưởng để phục tráng và phát triển giống
cam Trưng Vương, quýt Hà Trì, Hòa An, Cao Bằng” với mục tiêu phục tráng bảo tồn
và phát triển giống quả đặc sản, sản xuất giống sạch bệnh, xây dựng mô hình trồng thâm canh và quản lý dịch hại, xây dựng nhãn hiệu hàng hóa mới (http://www vaas. vn ) [58] Viện Cây lương thực và Cây thực phẩm đã chọn lọc và phục tráng giống cam Chanh đặc sản của huyện Ninh Giang năng suất khá, chất lượng tốt, sạch bệnh, giữ được các tính trạng quý của cam Chanh nguyên sản phục vụ cho việc duy trì và phát triển giống cam Chanh nói trên tại Ninh Giang và một số vùng có điều kiện tương tự (http://www.fcri.com.vn) [51]
Ngoài ra, công tác bảo tồn, phục tráng giống cây trồng còn được tiến hành ở nhiều địa phương khác Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Bắc Trung Bộ đã lập dự
án, xây dựng chương trình “Nhân giống, bảo tồn và phục tráng cây ăn quả có múi sạch
bệnh tại nơi nguyên sản” (http://www.nghean.gov.vn) [54] Dự án nghiên cứu phục
tráng và phát triển giống nếp đặc sản Tú Lệ - một giống lúa bản địa mang tính đặc trưng cao ở thung lũng Tú Lệ, huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái (http://www nomafsi.com.vn) [56] Dự án “Nghiên cứu tuyển chọn, nhân giống và kỹ thuật thâm canh cải tạo vùng đào đặc sản ở khu du lịch Mẫu Sơn” do các nhà nghiên cứu của Trung tâm Sinh học Thực nghiệm thực hiện tại vùng đào của thôn Khuổi Cấp, xã Mẫu
Trang 40Sơn, huyện Lộc Bình và thôn Pắc-đây, xã Công Sơn, huyện Cao Lộc (http://www.baolangson.com.vn) [47] Nhằm bảo tồn và phát triển giống cam sành có chất lượng tốt, góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế, giúp nông dân trồng cam huyện Hàm Yên xóa đói giảm nghèo, Phòng trồng trọt - Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Tuyên Quang đang triển khai dự án bình tuyển, công nhận và nhân giống cây cam sành đầu dòng (http://www.vietnamplus.vn) [59] Xuất phát từ mục tiêu phục tráng giống chuối tiêu hồng, một giống chuối đặc sản của tỉnh và nâng cao năng suất, chất lượng giống nhãn lồng để làm cây mũi nhọn, tạo hàng hoá cho xuất khẩu, tỉnh Hưng Yên tiến hành xây dựng mô hình thâm canh với hai loại cây này (http://www.baohungyen vn ) [48] Dự án VN/02/002 và dự án VN/05/005 về bảo tồn và phát triển nguồn gen cây ăn quả đặc sản vùng chiêm trũng huyện Lý Nhân tỉnh
Hà Nam đã được triển khai qua hai giai đoạn, từ năm 2002 – 2009 [23], [24]
Như vậy, vấn đề bảo tồn đa dạng sinh học nói chung và bảo tồn giống cây trồng nói riêng đang được Chính phủ và các cấp lãnh đạo địa phương rất quan tâm Tuy nhiên chưa có nhiều tài liệu khoa học cung cấp những dẫn liệu chi tiết, cụ thể
về các đặc điểm sinh học, hiện trạng sản xuất, chế biến, tiêu thụ, kỹ thuật trồng và chăm sóc, phân bón, làm cơ sở định hướng các biện pháp bảo tồn các giống cây trồng nói chung và với giống chuối ngự nói riêng