1.2.1 Khái niệm về phân tích tài chính doanh nghiệp Phân tích tình hình tài chính là công cụ để đánh giá kết quả hoạt động kinhdoanh của công ty bằng cách kết hợp, vận dụng các chỉ tiêu
Trang 1MỤC LỤC 2.1.2 Chức năng nhiệm vụ cơ cấu tổ chức của Doanh nghiệp 32
Trang 2LỜI MỞ ĐẦU
Quản trị tài chính là một bộ phận quan trọng của quản trị doanh nghiệp Tất cả cáchoạt động kinh doanh đều ảnh hưởng tới tình hình tài chính của doanh nghiệp, ngược lạitình hình tài chính tốt hay xấu lại có tác động thúc đẩy hoặc kìm hãm quá trình kinhdoanh Do đó, để phục vụ cho công tác quản lý hoạt động kinh doanh có hiệu quả các nhàquản trị cần phải thường xuyên tổ chức phân tích tình hình tài chính cho tương lai Bởi vìthông qua việc tính toán, phân tích tài chính cho ta biết những điểm mạnh và điểm yếu vềhoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp cũng như những tiềm năng cần phát huy
và những nhược điểm cần khắc phục Qua đú cỏc nhà quản lý tài chính có thể xác địnhđược nguyên nhân gây ra và đề xuất các giải pháp nhằm cải thiện tình hình tài chính cũngnhư tình hình hoạt động kinh doanh của đơn vị mình trong thời gian tới
Xuất phát từ đó, trong thời gian thực tập tại Công ty Cổ phần Dịch vụ và Thương mạiHoàng Ngân, em đó cố gắng tìm hiểu các hoạt động của Công ty Thông qua việc tìm hiểu đó
em đã hoàn thiện báo cáo tốt nghiệp
Em xin cảm ơn Ban lãnh đạo Công ty cổ phần TMDV Hoàng Ngân và các phòng ban,phân xưởng trong Công ty đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ em trong quá trình thựctập tại Công ty.
Em xin chân thành cảm ơn các thầy Nguyễn Quang Chương và các thầy cô giáo việnKinh tế – Quản lý Trường Đại Học Bách Khoa Hà Nội đã tận tình hướng dẫn tác giả hoànthành đồ án tốt nghiệp này
Quảng Ninh, ngày tháng năm 2013
Sinh viên
Nguyễn Thị Thu Trang
Trang 3CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÍ THUYẾT CHUNG VỀ PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP
1.1 Tổng quát về tài chính doanh nghiệp
1.1.1 Khái niệm tài chính doanh nghiệp:
► Tài chính doanh nghiệp được hiểu là những mối quan hệ về mặt giá trị được biểuhiện bằng tiền trong lòng một doanh nghiệp và giữa nó với các chủ thê cỏ liên quan ở bên ngoài
mà trên cơ sở đó giá trị của doanh nghiệp được tạo lập Giá trị của doanh nghiệp là sự hữu íchcủa doanh nghiệp đối với chủ sở hữu và xã hội
► Hoạt động tài chính doanh nghiệp: Là một bộ phận của hoạt động kinh doanh, baogồm các hoạt động chủ yếu là tạo ra vốn và phân bổ hợp lý vốn vào các tài sản lớn và phân chialợi ích tạo ra cho các chủ thể lien quan Hoạt động tài chính trước hết có nhiệm vụ hỗ trợ chohoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp tiến hành ổn định và có hiệu quả bằng các tàisản dùng trong sản xuất kinh doanh Ngoài ra hoạt động động này cũng có thể tạo ra những thunhập ngoài sản xuất kinh doanh cho doanh nghiệp bằng các tài sản tài chính
Các hoạt động của doanh nghiệp để làm tăng giá trị của nó bao gồm:
+ Tìm kiếm, lựa chọn cơ hội kinh doanh và tổ chức huy động vốn
+ Quản lý chi phí trong quá trình sản xuất kinh doanh, hạch toán chi phí và lợi nhuận.+ Tổ chức phân phối lợi nhuận cho các chủ thể liên quan tái đầu tư
►Vai trò của tài chính doanh nghiệp:
+ Tài chính doanh nghiệp đóng vai trò rất quan trọng đối với hoạt động của doanhnghiệp và được thể hiện ở những điểm chủ yếu sau:
1 Tài chính doanh nghiệp giữ vai trò quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả hoạtđộng kinh doanh cảu doanh nghiệp vầ liên tục
2 Tài chính doanh nghiệp giữ vai trò quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả hoạtđộng kinh doanh của doanh nghiệp vì: Việc đưa ra quyết định đầu tư đúng đắn phụ thuộcrất lớn vào việc đánh giá, lựa chọn đầu tư từ góc độ tài chính
3 Tài chính doanh nghiệp là công cụ rất hữu ích để kiểm soát tình hình kinh doanh củadoanh nghiệp
Quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp cũng là quá trình vận động, chuyểnhóa hình thái vốn thành tiền lệ Thông qua tình hình thu chi tiền tệ hang ngày, tình hình thựchiện các chỉ tiêu tài chính và đặc biệt là báo cáo tài chính có thể kiểm soát kịp thời, tổng quátcác mặt hoạt động của doanh nghiệp, từ đó phát hiện nhanh chóng những tồn tại và những tiềm
Trang 4năng chưa được khai thác để đưa ra những quyết định thích hợp điều chỉnh các hoạt động nhằmđạt tới mục tiêu đề ra của doanh nghiệp.
+ Trong nền kinh tế thị trường, vai trò cuẩ tài chính doanh nghiệp ngày càng trở nênquan trọng hơn đối với hoạt động doanh nghiệp bởi những lẽ sau:
- Hoạt động tài chính của doanh nghiệp liên quan và ảnh hưởng tới tất cả các hoạt độngcủa doanh nghiệp
- Quy mô kinh doanh và nhu cầu vốn cho hoạt động doanh nghiệp ngày càng lớn Mặtkhác, thị trường tài chính càng phát triển nhanh chóng, các công cụ để huy động vốn ngày càngphong phú và đa dạng Chính vì vậy quyết định huy động vốn, quyết định đầu tư…ảnh hưởngngày càng lớn đến tình hình và hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp
- Các thông tin về tình hình tài chính là căn cứ quan trọng đối với các nhà quản lý doanhnghiệp để kiểm soát và chỉ đạo các hoạt động của doanh nghiệp
1.1.2 Các mối quan hệ tài chính chủ yếu của doanh nghiệp.
► Nếu xét trên phạm vi hoạt động, các quan hệ tài chính doanh nghiệp bao gồm:
1 Quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp với thị trường: Bao gồm các quan hệ của doingnghiệp với thị trường hang hóa, thị trường sưc loa động, thị trường tài chính…Đó là các quan
hệ trong mua bán hang hóa dịch vụ, trao đổi các yếu tố phục vụ cho quá trình sản xuất dinhdoanh và tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp, các quan hệ cung ứng đầu tư vốn cho doanhnghiệp
2 Quan hệ tài chính trong nội bộ doanh nghiệp: Là các quan hệ phát sinh về phân phốithu nhập trong nội bộ doanh nghiệp, ví dụ như quan hệ về điều chuyển vốn giữa các bộ phận,chi nhánh củ doanh nghiệp, quan hệ về thanh toán tiền lương, tiền thưởng cho cán bộ nhân viêncủa doanh nghiệp, chi trả cổ tức cho các cổ đông của doanh nghiệp
► Nếu xét theo nội dung kinh tế, các quan hệ tài chính của doanh nghiệp được chiathành các nhóm như sau:
1 Quan hệ tài chính khai thác, thu hút vốn: Bao gồm những quan hệ về vayvốn, nhận góp vốn dưới nhiều hình thức như vay ngân hang, phát triển trái phiếu, nhậnvốn góp liên doanh,…Thông qua các quan hệ này, vốn kinh doanh của doanh nghiệpđược tạo lập
2 Các quan hệ về tài chính về đầu tư sử dụng vốn kinh doanh: Bao gồm những quan hệphân phối vốn của doanh nghiệp để hình thành cơ cấu kinh doanh phù hợp và sử dụng chúngnhằm phục vụ cho các mục tiêu kinh doanh Những quan hệ này hầu hết xảy ra trong nội bộdoanh nghiệp, tuy nhiên, các doanh nghiệp cũng có thể đầu tư vốn ra bên ngoài như mua cổ
Trang 5phiếu của công ty khác, góp vốn lien doanh…Đây cũng là kênh đầu tư quan trọng mà cácdoanh nghiệp có thể sử dụng nhằm thu lợi nhuận.
3 Các quan hệ tài chính về phân phối thu nhập và lợi nhuận: Bao gồm các quan hệ vớinhiều đối tượng phân phối khác nhau như: Nhà nước, ngân hang, cổ đông, các doanh nghiệpgóp vốn lien doanh quan hệ trong nội bộ doanh nghiệp…Mối quan hệ với nhà nước được thểhiện trọng việc nộp thuế, quan hệ với ngân hang trong việc thanh toán lãi tiền vay, quan hệ vớicác cổ đông, các doanh nghiệp góp vốn trong thanh toán cổ tức,lãi lien doanh, quan hệ trongnội bộ doing nghiệp thể hiện trong bù đắp chi phí của các yếu tố đầu vào, phân phối các quỹcủa doanh nghiệp
1.2 Tổng quan về phân tích tài chính doanh nghiệp.
Phân tích tài chính là một quá trình kiểm tra, xem xét các số liệu vè tài chính hiện hành
và so sánh với số liệu quá khứ hoặc kế hoạch nhằm mục đích đánh giá thực trạng tài chính, dựtính các rủi ro và tiềm năng tương lai của một doanh nghiệp, trên cơ sở đó giúp cho nhà phântích ra các quyết định tài chính có liên quan tới lợi ích của họ trong doanh nghiệp đó
1.2.1 Khái niệm về phân tích tài chính doanh nghiệp
Phân tích tình hình tài chính là công cụ để đánh giá kết quả hoạt động kinhdoanh của công ty bằng cách kết hợp, vận dụng các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật trong mộtthời gian nhất định mà thông thường là hai năm Qua sự phân tích đánh giá này để tìmhiểu nguyên nhân dẫn đến hoạt động kinh doanh có hiệu quả hay không có hiệu quả.Nhằm đưa ra các giải pháp, dự báo để nâng cao hiểu quả hoạt động kinh doanh củacông ty Phân tích tình hình tài chính là công cụ quan trọng bậc nhất của các nhà quảntrị để họ có thể đưa ra các giải pháp về hoạt động của công ty
1.2.2 Mục tiêu, nhiệm vụ, ý nghĩa của phân tích tài chính doanh nghiệp
* Mục tiêu về phân tích tài chính doanh nghiệp
Trong nền kinh tế vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước
ở nước ta hiện nay, các doanh nghiệp đều có quyền bình đẳng trước pháp luật trongkinh doanh thì người ta chỉ quan tâm đến tình hình tài chính của doanh nghiệp trên cáckhía cạnh khác nhau như: nhà đầu tư, nhà cho vay, nhà cung cấp, khách hàng Nhưngvấn đề mà người ta quan tâm nhiều nhất là khả năng tạo ra các dòng tiền mặt, khảnăng sinh lời, khả năng thanh toán và mức lợi nhuận tối đa của doanh nghiệp Bởi vậy,trong phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp thì cần phải đạt được các mục tiêuchủ yếu sau đây:
Trang 6+ Một là: Phân tích tình hình tài chính phải cung cấp đầy đủ, kịp thời, trung thực hệthống những thông tin hữu ích, cần thiết phục vụ cho chủ doanh nghiệp và các đối tượng quantấm khác như: cácnhà đầu tư, hội đồng quản trị doanh nghiệp, người cho vay, các cơ quan quản
lý cấp trên những người sử dụng thông tin tài chính khác, giúp họ có quyết định đúng đắn khi raquyết định đầu tư, quyết định cho vay
+ Hai là: Phân tích tính hình tài chính phải cung cấp đầy đủ những thông tin quan trọngnhất cho các chủ doanh nghiệp, các nhà đầu tư, nhà cho vay và những người sử dụng thông tintài chính khác trong việc đánh giá khả năng và tính chắc chắn của các dòng tiền vào, ra và tìnhhình sử dụng vốn kinh doanh, tình hình và khă năng thanh toán của doanh nghiệp
+ Ba là: Phân tích tình hình tài chính phải cung cấp đầy đủ những thông tin về nguồnvốn chủ sở hữu, các khoản nợ, kết quả của quá trình, sự kiện, các tình huống làm biến đổi cácnguồn vốn và các khoản nợ của doanh nghiệp
* Nhiệm vụ của phân tích tài chính doanh nghiệp
Phân tích tài chính doanh nghiệp phải thực hiện nhiệm vụ sau:
- Đánh giá thực trạng của hoạt động tài chính trên các mặt: Đảm bảo vốn chohoạt động kinh doanh, quản lý và phhan phối vốn, tình hình và hiệu quả sử dụng vốn,tình hình và khả năng thanh toán của doanh nghiệp, khả năng và tính chắc chắn củacác dòng tiền ra, vào doanh nghiệp
- Xác định rõ các nhân tố và mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến tình hình tài chínhcủa doanh nghiệp cũng như nguyên nhân gây nên tình trạng biến động của các nhân tố trên
- Trên cơ sở đề ra các biện pháp tích cực nhằm nâng cao hơn hiệu quả sản xuất kinhdoanh của doanh nghiệp
- Đưa ra bài học kinh nghiệm giúp quản lý doanh nghiệp tốt hơn
* Ý nghĩa và vai trò của phân tích tài chính doanh nghiệp
Qua phân tích tài chính mới đánh giá đầy đủ, chính xác tình hình phân phối sửdụng và quản lý các loại vốn, nguồn vốn, vạch rõ khả năng tiềm tàng về vốn củadoanh nghiệp Trên cơ sở đó đề ra biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn
Phân tích tình hình tài chính là công cụ quan trọng trong các chức năng quản trị
có hiệu quả ở doanh nghiệp Phân tích là quá trình nhận thức hoạt động kinh doanh, là cơ sởcho ra quyết định đúng đắn trong tổ chức quản lý, nhất là chức năng kiểm tra, đánh giá vàđiều hành hoạt động kinh doanh để đạt các mục tiêu kinh doanh Phân tích tình hình tàichính là công cụ không thể thiếu phục vụ công tác quản lý của cấp trên, cơ quan tàichính, ngân hàng như: đánh giá tình hình thực hiện các chế độ, chính sách về tài chínhcủa Nhà nước, xem xét việc cho vay vốn
Trang 7Phân tích tình hình tài chính là công cụ để đánh giá hoạt động của công ty.
Bằng các chỉ tiêu kinh tế - kỹ thuật như lợi nhuận, doanh thu, năng suất lao động củathời kỳ phân tích, các nhà quản trị sẽ thấy được tốc độ phát triển và tính chất bền vững ổn địnhcủa các lĩnh vực hoạt động tại công ty trong thời gian qua
Phân tích tình hình tài chính là công cụ đánh giá lại chiến lượng kinh doanh của công ty
và đề ra chiến lược kinh doanh mới
Đây là cách xem xét chiến lược kinh doanh đề ra có đúng đắn, phù hợp với nền kinh tếkhông? Có điểm nào sai và thiếu sót cần điều chỉnh nào không? Như vậy đây chính là cái nhìnđúng đắn đối với con đường phía trước của công ty
Phân tích tài chính là công cụ để công ty soi rọi lại mình, tìm ra những mặt mạnh cầnphát huy và những mặt yếu cần có biện pháp khắc phục
Phân tích tình hình tài chính ta có thể đánh giá được khả năng quản lý công ty, mức độthích ứng phù hợp trong sự phát triển bền vững của nền kinh tế đất nước
Phân tích tài chính là công cụ kiểm soát sự đúng đắn của các hoạt động kế toán
Các chỉ tiêu tài chính, số liệu thể hiện ở bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quảhoạt động kinh doanh, báo cao lưu chuyển tiền tệ… Thông qua phân tích có thể pháthiện ra hạch toán của nhân viên kế toán có chính xác hay không? Tóm lại việc phântích này cung cấp đầy đủ thông tin cho người sử dụng, vạch ra thực trạng về tình hìnhtài chínhcủa công ty hiện tại mạnh hay yếu?
Phân tích tài chính có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với cả đối cả đối tượngbên trong và bên ngoài doanh nghiệp.Mỗi đối tượng này có những nhu cầu thông tinkhác nhau và do vậy mỗi nhóm có xu hướng tập trung vào các khía cạnh khác nhautrong bức tranh tài chính của doanh nghiệp
+ Đối với nhóm đối tượng thứ nhất: Là bên ngoài doanh nghiệp,những kết
quả phân tích tài chính sẽ giúp họ có một cái nhìn toàn diện bao quát về doanh nghiệp,
về vốn, tỷ suất lãi, doanh thu hàng năm, nợ tồn đọng…
- Đối với các nhà đầu tư: các chỉ số tài chính sẽ cung cấp một cách chính xác, kịpthời và thiết yếu cho họ có ý định hoặc trong tương lai sẽ đầu tư vào doanh nghiệp.Chínhnhững kết quả phân tích này là cầu nối giữa doanh nghiệp và nhà đầu tư, là nguồn thu hútvốn từ ngoài vào giúp cho doanh nghiệp phát triển tốt hơn
- Còn đối với các nhà cho vay, những chỉ số trong bảng phân tích tafichinhs phục vụmột yêu cầu duy nhất đó là khả năng thanh toán nợ tồn đọng của doanh nghiệp đối với họ.Nhóm đối tượng này thường chỉ quan tâm chủ yếu đến chỉ số kinh doanh, doanh thu, lưu lượngtiền mà doanh nghiệp có được trong một năm – thường thì không quan tâm đến nguồn tiền – để
Trang 8phục vụ chi trả thanh toán các khoản nợ của công ty đó.Một số chỉ số tài chính khác mà họquan tâm như lưu lượng hàng hóa, hàng tồn kho,đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng…
- Riêng nhóm “cơ quan quản lý” nhóm này chỉ quan tâm đến tốc độ phát triển củadoanh nghiệp trên mặt vĩ mô, những ảnh hưởng của doanh nghiệp trong một ngành, một lĩnhvực hoặc hơn nữa là phạm vi đất nước Những chỉ số này giúp họ có những cái nhìn bao quáthơn về quá trình phát triển và thị phần của doanh nghiệp trong bộ phận, ngành,lĩnh vực
+ Nhóm 2: Là nhóm có tác động từ bên trong doanh nghiệp,bao gồm có chủ doanh
nghiệp, người quản lý, nhân viên…Họ cần có một bản phân tích tài chính đầy đủ, chính xác,rõràng và chi tiết.Phục vụ cho mục đích điều hành, quản lý và xây dựng doanh nghiệp ngày cànglớn mạnh, các nhà quản lý thường yêu cầu những chỉ số phân tích chính xác và chi tiết mangtính thời sự cập nhật để họ đưa ra những biện pháp chiến lược, sách lược trong kế hoạch kinhdoanh của mình, khắc phục những khuyết điểm tồn đọng và xúc tiến những giải pháp kinhdoanh mới Đối với nhân viên công ty, những chỉ số tài chính giúp họ có cái nhìn chính xác,khả quan hơn về doanh nghiệp mà họ đang làm và tất nhiên một điều hoàn toàn có thể xảy ra
đó là họ sẽ trở thành một nhà đầu tư
Hiện nay có rất nhiều phương pháp phân tích tài chính doanh nghiệp, những chỉ số phântích rõ ràng, cụ thể và chi tiết giúp cho tất cả các đối tượng trên đều có thể khai thác một cáchtriệt để phục vụ mục đích của mình
Phân tích tài chính doanh nghiệp là mối quan tâm của nhiều nhóm người khác nhau:Bên trong doanh nghiệp và bên ngoài doanh nghiệp,mỗi nhóm người này có những nhu cầuthông tin khác nhau và do vậy mỗi nhóm có xu hướng tập trung vào các khía cạnh khác nhautrong bức tranh tài chính của doanh nghiệp Chúng ta có thể khái quát qua sơ đố sau:
Trang 9Hình 1.1: Các đối tượng sử dụng thông tin phân tích tài chính.
ĐỐI TƯỢNG SỬ DỤNG THÔNG TIN
Điểmmạnh,điểm
yếu của DN
Lợi tức,cổphần Giá trịgia tăng thêmcủa vốn đầu tư
Khả năng trả
nợ của doanhnghiệp
Khả năng thanhtoán cân đốivốn,hoạt độngsinh lãi của DN
- Kế hoạch
đầu tư ngân
quỹ-Kiểm soát
các HĐQL
Có nên bỏvốn vào DNhay không?
Có nên cho
DN vay vốnhay không?
- Có nên hỗ trợ DNphát triển hay không?
- Có nên tiếp tục làmviệc cho DN haykhông?
Trang 101.2.3 Nguồn tài liệu phân tích tài chính doanh nghiệp
Để tiến hành phân tích tài chính, người phân tích phải sử dụng rất nhiều tài liêụ khácnhau trong đó chủ yếu là báo cáo tài chính Các báo cáo tài chính giữ vai trò quan trọng trongviệc phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp và quan trọng đối với hoạt động kinh doanhcủa doanh nghiệp
Các báo cáo tài chính thường được sử dụng làm nguồn tài liệu để phân tích tình hình tàichính của doanh nghiệp
* Bảng cân đối kế toán:
Bảng cân đối kế toán là một báo cáo tài chính chủ yếu phản ánh tổng quát tình hình tàisản của doanh nghiệp theo giá trị ghi sổ của tài sản và nguồn hình thành tài sản tại một thờiđiểm cuối năm Nội dung của BCĐKT thể hiện qua hệ thống các chỉ tiêu phản ánh tình hình tàisản và nguồn hình thành tài sản
BCĐKT được chia làm 2 phần: Phần “Tài sản” và phần “Nguồn vốn”
Phần tài sản: Phản ánh giá trị ghi sổ của toàn bộ tài sản hiện có của doanh nghiệp đến
cuối năm kế toán đang tồn tại dưới các hình thái được sắp xếp theo nôị dung kinh tế của cácloại tài sản của doanh nghiệp trong quá trình tái sản xuất
Phần nguồn vốn: Phản ánh nguồn hình thành các loại tài sản của doanh nghiệp đến cuối
năm hạch toán Các chỉ tiêu ở phần nguồn vốn được sắp xếp theo từng nguồn hình thành tài sảncủa đơn vị phản ánh tính chất hoạt động, thực trạng tài chính của doanh nghiệp
Ngoài các chỉ tiêu trong phần chính, bảng cân đối kế toán còn có các chỉ tiêu ngoài bảngcân đối kế toán
* Bảng báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh
Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh là một báo cáo kế toán tài chính phản ánh tổnghợp doanh thu, chi phí và kết quả cuả các hoạt động kinh doanh trong doanh nghiệp Ngoài ra,báo cáo này còn phản ánh tình hình thực hiện nghĩa vụ của doanh nghiệp đối với nhà nướctrong một kỳ kế toán
Trang 11* Bảng báo cáo lưu chuyển tiền tệ:
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ là báo cáo tài chính nhằm cung cấp thông tin vê dòng tiềnlưu chuyển ở tổ chức trong một kỳ kinh doanh nhất định Báo cáo lưu chuyển tiền tệ bao gồmcác nội dung chủ yếu sau:
Lưu chuyển tiền thuần từ hoạt động sản xuất kinh doanh: phản ánh toàn bô dòng tiềnliên quan trực tiếp đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Lưu chuyển tiền thuần từ hoạt động đầu tư: phản ánh toán bộ dòng tiền liên quan trựctiếp đến hoạt động đầu tư của doanh nghiệp
Lưu chuyển tiền thuần từ hoạt động tài chính: phản ánh toàn bộ dòng tiền liên quan trựctiếp đến hoạt động tài chính của doanh nghiệp
Lưu chuyển tiền thuần trong kỳ: là chỉ tiêu tổng hợp, phản ánh số tổng cộng của tất cảcác dòng tiền thuần từ hoạt động kinh doanh, dòng tiền thuần từ hoạt động đầu tư và dòng tiềnthuần tư hoạt động tài chính
Trên cơ sở dòng tiền thu vào và dòng tiền chi ra, nhà phân tích thực hiện cân đối quỹvới số dư ngân quỹ đầu kỳ để xác định số dư ngân quỹ cuối kỳ Từ đó có thể thiết lập mức ngânquỹ dự phòng tối thiểu nhằm mục tiêu đảm bảo chi trả
Thuyết minh báo cáo tài chính là một bộ phận hợp thành của hệ thống báo cáo tài chínhcủa doanh nghiệp, được lập để giải thích hoặc bổ sung thêm thông tin về tình hình hoạt động,sản xuất kinh doanh, tình hình tài chính của doanh nghiệp trong kỳ báo cáo mà các báo cáo tàichính khác không thể trình bày rõ về chi tiết
Tóm lại, các nhà phân tích cần phải hiểu được các báo cáo tài chính, qua đó họ nhậnbiết được các chỉ tiêu tài chính liên quan trực tiếp tới mục tiêu phân tích
* Các nguồn thông tin khác
- Thông tin liên quan đến tình hình kinh tế
Hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp chịu tác động của nhiều yếu
tố thuộc môi trường vĩ mô nên khi tiến hành phân tích tài chính cần phải đặt trong bốicảnh chung của nền kinh tế trong nước và khu vực NHững thông tin cần quan tâm là:thông tin về tăng trưởng, suy thoái kinh tế,thông tin về lãi suất ngân hàng, tỷ giá ngoại
tệ, thông tin về tỷ lệ lạm phát, các chính sách kinh tế, chính trị, ngoại giao lớn của Nhànước
- Thông tin theo ngành
Ngoài những thông tin về môi trường vĩ mô, những thông tin liên quan đến ngành, lĩnhvực kinh doanh cũng cần được chú trọng: mức độ và yêu cầu công nghệ của ngành, mức độcạnh tranh và quy mô của thị trường, nhịp độ và xu hướng vận động của ngành, nguy cơ xuấthiện những đối thủ cạnh tranh tiềm tàng
Trang 121.2.4 Phương pháp phân tích tài chính doanh nghiệp
Phương pháp phân tích tài chính là tổng hợp các cách thức, thủ pháp, công thức,
mô hình…được sử dụng trong quá trình phân tích để nghiên cứu bản chất và quy luật vậnđộng của các hiện tượng kinh tế Trong phân tích tài chính, các phương pháp được vậndụng để nghiên cứu các chỉ tiêu, ý nghĩa, các mối quan hệ và sự thay đổi của chúng, từ đóphản ánh thực trạng tài chính và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp Phân tích tài chính
có nhiều phương pháp, trong quá trình phân tích cần dựa vào các loại hình doanh nghiệp,đặc điếmản xuất kinh doanh, nguồn tài liệu Mục đích phân tích…để lựa chọn phươngpháp phù hợp trong phân tích tài chính có 4 phương pháo đặc thù thường được sử dụng:
Ưu điểm: Phương pháp so sánh cho phép tách ra được những nét chung,nét riêng của
các vấn đề được so sánh, từ đó đánh giá được các mặt kém phát triển, hiệu quả hay kém hiệuquả trong mỗi trường hợp cụ thể
So sánh là phương pháp được sử dụng phổ biến trong phân tích để xác định xu hướng,mức độ biến động của chi tiêu phân tích.Vì vậy, để tiến hành so sánh, phải giải quyết vấn đề cơbản như xác định số gốc để so sánh, xác định điều kiện so sánh và xách định mục tiêu so sánh
- Xác định gốc để so sánh phụ thuộc vào mục đích cụ thể của phân tích như khi nghiêncứu nhịp độ biến động tốc độ tăng trưởng của các chỉ tiêu, số gốc để so sánh là trị số của chỉtiêu ở kỳ trước (năm nay so với năm trước, tháng này so với tháng trước…); khi nghiên cứunhịp điệu thực hiện nhiệm vụ kinh doanh trong từng khoảng thời gian trong một năm thường sosánh với cùng kỳ năm trước (tháng hoặc quý);…
- Điều kiện so sánh cần được quan tâm khác nhau khi so sánh theo thời gian và khi sosánh theo không gian
Khi so sánh theo thời gian cần chú ý các điều kiện sau:
+ Đảm bảo tính thống nhất về nội dung kinh tế của chi tiêu Thông thường, nội dungkinh tế của chi tiêu có tính ổn định và thường được quy định thống nhất Tuy nhiên, do pháttriển sản xuất của hoạt động kinh doanh nên nội dung kinh tế của chỉ tiêu có thể thay đổi theochiều hướng khác nhau: Nội dung kinh tế của chỉ tiêu có thể bị thu hẹp hoặc mở rộng do phân
Trang 13ngành sản xuất – kinh doanh, do phân chia các đơn vị quản lý hoặc thay đổi của chính sáchquản lý Đôi khi, nội dung kinh tế của chỉ tiêu cũng thay đổi theo chiều hướng “Quốc tế hóa” đểtiện so sánh trong điều kiện thế giới là một thị trường chung…Trong điều kiện các chỉ tiêu cóthay đổi về nội dung, để đảmbảo so sánh được, cần tính toán lại trị số gốc của chỉ tiêu theo nộidung mới quy định lại.
+ Đảm bảo tính thống nhất về phương pháp tính các chỉ tiêu Trong kinh doanh, cácchỉ tiêu có thể tính toán theo các phương pháp khác nhau Khi so sánh cần lựa chọn hoặctính lại các trị số chỉ tiêu theo một phương pháp thống nhất
+ Đảm bảo tính thống nhất về dươn vị tính các chỉ tiêu cả về số lượng, thời gian
và giá trị
Mục tiêu so sánh trong phân tích kinh doanh là xác định mức biến động tuyệt đối vàmức biến động tương đối cùng xu hướng biến động của chỉ tiêu phân tích Mức biến động tuyệtđối đươck xác định trên cơ sở so sánh trị số của hai thỉ tiêu giữa hai kỳ: Kỳ phân tích và kỳ gốc– hay đúng hơn – so sánh giữa số phân tích và số gốc Mức biến động tương đối là kết quả sosánh giữa số thực tế với số gốc đã được điều chỉnh theo một hệ số của chỉ tiêu có lien quan theohướng quyết định quy mô của chi tiêu phân tích
Đây là phương pháp có tính hiện thực cao với các điều kiện áp dụng và bổsung càng hoàn thiện hơn vì:
Nguồn thông tin tài chính và kế toán được cải tiến và cung cấp đầy đủ hơn là cơ
sở để hình thành những tham chiếu đáng tin cậy nhằm đánh giá những tỷ lệ của doanhnghiệp hay một nhóm doanh nghiệp
Việc áp dụng tin học cho phép tích lũy dữ liệu và thúc đầy nhanh quá trình tính toánhàng loạt tỷ lệ
* Phương pháp thay thế liên hoàn:
Phương pháp thay thế liên hoàn là tiến hành lần lượt thay thế từng nhân tố theo mộttrình tự nhất định Nhân tố nào được thay thế nó sẽ xác định mức độ ảnh hưởng của nhân tố đóđến chỉ tiêu phân tích Phương pháp thay thế liên hoàn phản ánh mối liên hệ giữa các nhân tốđến chỉ tiêu kinh tế rồi sắp xếp các nhân tố theo một trật tự nhất định trong quá trình phân tích.Xác định mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố Cuối cùng, tổng hợp các nhân tố thấy đượcmức độ ảnh hưởng của từng nhân tố và phải xác định bằng đối tượng phân tích
Việc xác định trình tự thay thế liên hoàn hợp lý là một yêu cầu khi sử dụng phươngpháp, trật tự thay thế liên hoàn trong các tài liệu được quy định như sau:
Nhân tố số lượng được thay thế trước, nhân tố thứ phát thay thế sau Khi có thể phânbiệt rõ ràng các nhân tố ảnh hưởng thì vận dụng nguyên tắc trên trong thay thế liên hoàn là khá
Trang 14thuận tiện Trong trường hợp cùng một lúc có nhiều nhân tố chất lượng, số lượng…tức nhiềunhân tố có tính chất như nhau, việc xác định trật tự thay thế trở nên khó khăn thì sử dụngphương pháp phân tích, vi phân cho phương pháp này.
- Chúng ta có thể tóm tắt phương pháp này như sau:Phương pháp thay thé liên hoàn làđặt đối tượng nghiên cứu vào những điều kiện giả định khác nhau để xác định mức độ ảnhhưởng của từng nhân tố đến sự biến động của chỉ tiêu phân tích
=> Bước 1: Xác định đối tượng phân tích: Là mức chênh lệch kỳ phân tích so với kỳ kế
hoạch (hoặc so với kỳ gốc)
Ví dụ: ∆q = q1-qk
=> Bước 2: Thiết lập mối quan hệ của các nhân tố với chỉ tiêu phân tích và sắp xếp các
nhân tố theo một trình tự nhất định từ số lượng nhất đến chất lượng nhất
Ví dụ: q=a*b*c*d -> qk*bk*ck; q1=a1*b1*c1*d1
=> Bước 3: Lần lượt thay thế các nhân tố kỳ phân tích vào kỳ kế hoạch hoặc kỳ gốc
theo trình trự sắp xếp ở bước 2:
Thế lần 1: qa=a1bkckdkThế lần 2: qb=a1b1ckdkThế lần 3: qc=a1*b1*c1*dkThế lần 4: qa=a1*b1*c1*d1=q1
=> Bước 4: Xác định mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đến sựu biến động của chỉ
tiêu bằng cách lấy số thề lần sau trừ số thế lần trước
Nhân tố a: ∆qa = qa-qkNhân tố b: ∆qb = qb-qaNhân tố c: ∆qc = qc-qbNhân tố d: ∆qd = qd-qc
Bước 5: Tổng hợp và nhận xét.
* Phương pháp tỷ số:
Phương pháp tỷ số là phương pháp trong đó các tỷ số được cung cấp đầy đủ hơn Đó làcác chỉ số đơn được thiết lập bởi chỉ tiêu này so với chỉ tiêu hác Đây là phương pháp có tínhhiện thực cao với các điều kiện áp dụng ngày càng được bổ sung và hoàn thiện bởi lẽ:
Nguồn thông tin kế toán và tài chính được cải tiến và được cung cấp đầy đủ hơn Đó là
cơ sở để hoàn thành những tỷ lệ tham chiếu tin cậy cho việc đánh giá một tỷ số của doanhnghiệp hay một nhóm doanh nghiệp
Việc áp dụng công nghệ tin học cho phép tích lũy dữ liệu và thúc đẩy nhanh quá trìnhtính toán hàng loạt các tỷ số
Trang 15Phương pháp này giúp người phân tích khai thác có hiệu quả những số liệu và phân tíchmột cách có hệ thống hàng loạt tỷ số theo chuỗi thời gian liên tục hoặc theo từng giai đoạn.
* Phương pháp phân tích tài chính Dupont:
Phân tích Dupont thực chất là phương pháp tách một tỷ số tổng hợp phản ánh sức sinhlợi của doanh nghiệp như thu nhập trên tài sản (ROA), tỷ suất sinh lợi vốn chủ sở hữu (ROE),thành tích số của các tỷ số có mối quan hệ nhân quả với nhau
Với phương pháp này các nhà phân tích sẽ nhận biết được các nguyên nhân dẫn đến cáchiện tượng tốt, xấu trong hoạt động cảu doanh nghiệp Bản chất của phương pháp này là táchmột tỷ số tổng hợp phản ánh sứ sinh lợi của doanh nghiệp như ROA, ROE thành tích số củachuỗi các tỷ số có mối quan hệ nhân quả với nhau Điều đó cho phép phân tích ảnh hưởng củacác tỷ số đối với tỷ số tổng hợp
+ Thế mạnh của mô hình Dupont:
- Tính đơn giản Đây là một công cụ rất tốt để cung cấp cho mọi người kiến thức cănbản giúp tác động tích cực đến kết quả kinh doanh của công ty
- Có thể dễ dàng kết nối với các chính sách đãi ngộ với nhân viên
- Có thể được sử dụng để thuyết phục cấp quản lý thực hiện một vài bước cải tổnhằm chuyên nghiệp hóa chức năng thu mua và bán hàng Đôi khi điều cần làm trướctiên là nên nhìn vào thực trạng của công ty Thay vì tìm cách thôn tính công ty khácnhằm tăng thêm doanh thu và hưởng lợi thế nhờ quy mô, để bù đắp khả năng sinh lợiyếu kém
+ Hạn chế của mô hình phân tích Dupont:
- Dựa vào số liệu kế toán cơ bản nhưng có thể không đáng tin cậy
- Không bao gồm chi phí vốn
- Mức độ tin cậy của mô hình phụ thuộc hoàn toàn vào giả thuyết, số liệu đầu vào
+ Điều kiện áp dụng phương pháp Dupont:
- Số liệu kế toán đáng tín cậy
Khi phân tích bằng phương pháp này, nhà phân tích sẽ nhận biết được các nguyênnhân ảnh hưởng tốt hay xấu đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
1.2.5 Nội dung phân tích tài chính doanh nghiệp
Khi phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp thì nhà phân tích tài chính chủyếu phân tích:
Phân tích khái quát tình hình tài chính qua các báo cáo tài chính( sự biến động cuattài sản, nguồn vốn, doanh thu, chi phí, lợi nhuận, nộp ngân sách, các cân đối tài chính vàkết luận sơ bộ)
Trang 16Phân tích hiệu quả tài chính( khả năng quản lí tài sản và khả năng sinh lời).
Phân tích rủi ro tài chính: (Công nợ và các khoản phải thu) khả năng thanh toán, khảnăng quản lí nợ
Phân tích tổng hợp tình hình tài chính(Đẳng thức Dupont)
Đánh giá chung về tình hình tài chính của doanh nghiệp
1.2.5.1 Phân tích khái quát các báo cáo tài chính
Tiến hành phân tích tình hình tài chính thông qua các báo cáo tài chính giúp người sử
lý thông tin sẽ thấy được sự biến động của tài sản, nguồn vốn, doanh thu, chi phí, lợi nhuận,nộp ngân sách, các cân đối tài chính và từ đó sẽ đưa ra được kết luận sơ bộ cho một khoảngthời gian sản xuất kinh doanh nhất định mà người phân tích quan tâm, nghiên cứu
* Bảng cân đối kế toán:
Phân tích BCĐKT chính là đi sâu tìm hiểu hai phần Tài sản và Nguồn vốn:
Phần tài sản: bao gồm các khoản mục tài sản lưu động và đầu tư ngắn hạn, vàtài sản cố định và đầu tư dài hạn Xét về mặt kinh tế, các chỉ tiêu này thể hiện vốn củadoanh nghiệp có ở thời điểm lập bảng CĐKT Xét về mặt pháp lý, đây là vốn thuộcquyền sở hữu hay kiểm soát lâu dài của doanh nghiệp Dựa vào các chỉ tiêu phản ánh
ở phần tài sản, nhà quản lý có thể đánh giá khái quát quan hệ giữa năng lực sản xuấtvới trình độ sử dụng vốn và tính hợp lý của từng khoản mục tài sản
Phân tích cơ cấu tài sản là đánh giá sự biến động các bộ phận cấu thành tổng tài sảncủa doanh nghiệp Phân tích kết cấu nhằm đánh giá tầm quan trọng của từng khoản mục tài sảntrong tổng tài sản
Giá trị của khoản mục tài sản
Giá trị của tổng tài sản
Khi phân tích kết cấu tài sản ta cần chú ý đến tỷ suất đầu tư Tỷ suất đầu tư nói lênkết cấu tài sản, là tỷ lệ giữa giá trị tài sản cố định và đầu tư dài hạn so với tổng tài sản
Trị giá tài sản cố định và các khoản đầu tư dài hạn
Trang 17Bảng 1.1 Cơ cấu tài sản
Tài sản ngắn hạn
Tiền và các khoản tương đương tiênCác khoản đầu tư tài chính ngắn hạnKhoản phải thu ngắn hạn
Hàng tồn khoTài sản ngắn hạn khác
Phần nguồn vốn: bao gồm nguồn vốn vay và nguồn vốn chủ sở hữu Xét về mặt kinh
tế, các chỉ tiêu này thể hiện ở nguồn hình thành vốn mà xoanh nghiệp có tại thời điểm lập bảngCĐKT Xét về mặt pháp lý thì các chỉ tiêu này thể hiện trách nhiệm pháp lý về mặt vật chấtcủa tổ chức đối với các đối tượng có quan hệ kinh tế với doanh nghiệp (nhà nước, cổ đông …).Đồng thời thông qua quan hệ này cũng giúp nhà quản trị đánh giá được tính tự chủ về mặt tàichính của doanh nghiệp
Phân tích nguồn vốn giúp người phân tích đánh giá khả năng chủ động trong
kinh doanh đồng thời thấy được tình hình huy động vốn và sử dụng các loại nguồnvốn của doanh nghiệp
Giá trị của khoản mục nguồn vốn Giá trị của tổng nguồn vốn
Cũng như phân tích kết cấu tài sản, ta cũng lập bảng phân tích kết cấu nguồnvốn để xem xét tỷ trọng từng khoản, nguồn vốn chiếm trong tổng số nguồn vốn là caohay thấp Đối chiếu giữa cuối kỳ và đầu năm của từng loại nguồn vốn qua đó đánh giá
xu hướng thay đổi nguồn vốn
Trong phân tích kết cấu nguồn vốn ta cũng đặc biệt chú ý đến tỷ suất tự tài trợ(còn gọi là tỷ suất vốn chủ sở hữu) Chỉ số này cho thấy mức độ tự chủ của doanhnghiệp về vốn, nó là tỷ lệ giữa vốn chủ sở hữu so với tổng nguồn vốn
Trang 18Tỷ suất này càng cao càng thể hiện khả năng tự chủ cao về mặt tài chính hay mức độ tựtài trợ của doanh nghiệp tốt.
Bảng 1.2 Cơ cấu nguồn vốn.
Nợ phải trả Nợ ngắn hạn
Nợ dài hạn
Vốn chủ sở hữu Vốn chủ sở hữuNguồn kinh phí và quỹ khác
Như vậy ta có thể đánh giá sự thay đổi về mặt kết cấu giữa các khoản mục tài sản trongtổng tài sản hoặc giữa các khoản mục nguồn vốn trong tổng nguồn vốn Phân tích biến động kếtcấu được thực hiện bằng cách so sánh kết cấu giữa các kỳ với nhau, qua đó đánh giá biến độngcuả từng khoản mục
Mức tăng (giảm) về kết cấu = Tỷ lệ lúc đầu kỳ - Tỷ lệ lúc cuối kỳ
* Phân tích cân đối giữa tài sản và nguồn vốn:
Phân tích mối liên hệ cân đối này để đánh giá được nguồn vốn huy động và việc sửdụng các nguồn vốn này trong đầu tư, mua sắm, dự trữ có hợp lý hay không Nguyên tắc về cânđối tài chính có thể được biểu diễn như sau:
Nguồn vốn dài hạn duy trì thường xuyên ở doanh nghiệp trong thời hạn trên một nămđược sử dụng tài trợ cho các tài sản có tuổi thọ trên một năm tức là các tài sản cố định Tài sản
có tuổi thọ dưới một năm bao gồm các tài sản lưu động được tài trợ bởi các nguồn vốn ngắnhạn chính là nguồn vốn có thời hạn dưới một năm
Bảng 1.3: Quan hệ cân đối giữa tài sản va nguồn vốn
- Tiền và các khoản tương đương tiền
Nợ ngắn hạn
- Đầu tư tài chính ngắn hạn
- Khoản phải thu
- Hàng tồn kho
- Tài sản ngắn hạn khác
- Tài sản cố định
Nợ dài hạn + Vốn chủ sở hữu
- Đầu tư tài chính dài hạn
- Xây dựng cơ bản dở dang
- Kỹ quỹ, ký cược dài hạn
Trang 19Trong quá trình sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp được phép đi vay để bổ sung vốnkinh doanh Tất cả các khoản vay ngắn hạn, dài hạn chưa đến hạn trả, dùng vào mục đích kinhdoanh đều được coi là nguồn vốn hợp pháp.
Do vậy nảy sinh các trường hợp:
- Nếu tài sản ngắn hạn lớn hơn nợ ngắn hạn: điều này hợp lý, doanh nghiệp giữ vữngquan hệ cân đối giữa tài sản ngắn hạn và nợ ngắn hạn, sử dụng đúng mục đích nợ ngắn hạn.Đảm bảo sự hài hoà kỳ hạn giữa nguồn vốn và tài sản ngắn hạn
- Nếu tài ngắn hạn nhỏ hơn nợ ngắn hạn: Doanh nghiệp không giữ vững quan hệ cânđối giữa tài sản ngắn hạn với nợ ngắn hạn Do đó doanh nghiệp phải sử dụng một nguồn vốnngắn hạn để tài trợ cho tài sản dài hạn
- Nếu tài sản dài hạn lớn hơn nợ dài hạn: doanh nghiệp dùng vốn chủ sở hữu bùđắp phần thiếu hụt thì hợp lý vì như vậy là sử dụng đúng mục đích của nợ dài hạn vàvốn chủ sở hữu
- Nếu tài sản dài hạn nhỏ hơn nợ dài hạn: Doanh nghiệp sử dụng một phần nợ dài hạn
để tài trợ tài sản ngắn hạn điều này vừa lãng phí lãi vay và nợ dài hạn vừa phản ánh doanhnghiệp đã sử dụng sai mục đích nợ dài hạn làm giảm lợi nhuận
Qua bảng CĐKT ta thấy:
Tài sản ngắn hạn + Tài sản dài hạn = Nợ phải trả + Nguồn vốn chủ sở hữu
Như vậy từ công thức trên nhà quản trị có thể đánh giá được
- Hướng đầu tư vốn của tổ chức có phù hợp với mục tiêu hoạt động của tổ chức haykhông thông qua việc phân tích kết cấu giữa tài sản lưu động với tài sản cố định
- Tính tự chủ về tài chính của tổ chức thông qua phân tích kết cấu giữa nợ phải trả vớinguồn vốn chủ sở hữu, sau đó rút ra kết luận về thực trạng tài chính
Xem xét tổng quát Bảng CĐKT cần phân tích:
• Biến động theo thời gian:
Phân tích biến động theo thời gian được thực hiện bằng cách so sánh giá trị của chỉ tiêu
ở các kỳ khác nhau Việc so sánh được thực hiện cả về số tuyệt đối lẫn số tương đối Kết quảtính theo số tuyệt đối thể hiện mức tăng giảm của các chỉ tiêu:
Mức tăng (giảm) = mức độ cuối kỳ - mức độ đầu kỳ.
Kết quả tính theo số tương đối phản ánh tỷ lệ tăng (giảm) của chỉ tiêu:
Tỷ lệ tăng (giảm) = mức tăng giảm : mức độ đầu kỳ.
* Tỷ suất cơ cấu tài sản:
Trang 20Tài sản ngắn hạn và đầu tư dài hạn
Tỷ suất cơ cấu tài sản =
Tài sản cố định và đầu tư dài hạn
Trang 21Tỷ suất cơ cấu tài sản phản ánh việc phân bổ trong các thành phần chính có hợp lý haykhông giữa TSNH và đầu tư ngắn hạn với TSCĐ và đầu tư dài hạn.
* Tỷ suất cơ cấu nguồn vốn:
* Phân tích bảng báo cáo kết quả kinh doanh
Khi phân tích BCKQKD, ta phải tính và so sánh mức và tỷ lệ biến động giữa kỳ phântích so với kỳ gốc trên từng chỉ tiêu so với phần I “lãi, lỗ” của BCKQKD
* Phân tích doanh thu:
Doanh thu là một chỉ tiêu tài chính rất quan trọng, khi phân tích doanh thu, ta cần sosánh giữa các chỉ tiêu biến động với doanh thu thuần để đánh giá hiệu quả kinh doanh củadoanh nghiệp tăng hay giảm so với kỳ trước hoặc so với doanh nghiệp khác là cao hay là thấp.Nếu mức hao phí trên một đơn vị doanh thu thuần càng giảm, mức sinh lợi trên một đơn vịdoanh thu thuần càng tăng so với kỳ gốc và so với các doanh nghiệp khác thì chứng tỏ hiệu quảkinh doanh trong kỳ của doanh nghiệp tăng lên Và ngược lại thì hiệu quả kinh doanh trong kỳ
là thấp đi
* Phân tích chi phí:
Chi phí là các khoản chi tiêu trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Để
có thể nhận định được sự thay đổi chi phí luôn cần đặt trong mối quan hệ với khối lượng, sảnlượng hàng hoá tiêu thụ Khi so sánh, nếu thay đổi chi phí có xu hướng dẫn tới làm tăng mứcchi phí bình quân hoặc làm tăng tỷ trọng phí thì cần đặt dấu hỏi và phân tích sâu hơn nguyênnhân kinh tế, kỹ thuật liên quan
* Phân tích lợi nhuận:
Trang 22Lợi nhuận là chỉ tiêu chất lượng tổng hợp phản ánh kết quả của quá trình sản xuất kinhdoanh Việc phân tích lợi nhuận giúp ta đánh giá được số lượng và chất lượng hoạt động củadoanh nghiệp, kết quả sở dụng các yếu tố sản xuất về tiền vốn, lao động, vật tư khi so sánh lợinhuận thực hiện với lợi nhuận kế tiếp hay lợi nhuận kỳ trước ta thấy được mức độ tăng giảmcủa lợi nhuận từ các hoạt động.
Lợi nhuận sau thuế = Tổng lợi nhuận trước thuế - Thuế thu nhập DN phải nộp
Ta phân tích ảnh hưởng của các nhân tố đấn sự biến động giữa kỳ phân tích so với kỳgốc của tổng lợi nhuận trước thuế như sau:
• Nhân tố “Lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh”:
Ảnh hưởng của LN thuần từ LN thuần từ hđkd kỳ LN thuần từ
hđkd đến tổng LN trước thuế phân tích hđkd kỳ gốc
• Nhân tố “Lợi nhuận thuần từ hoạt động tài chính”:
Ảnh hưởng của LN thuần từ LN thuần từ hđtc kỳ LN thuần từ
hđtc đến tổng LN trước thuế phân tích hđtc kỳ gốc
• Nhân tố “Lợi nhuận thuần từ hoạt động bất thường”:
Ảnh hưởng của LN thuần từ LN thuần từ hđbt kỳ LN thuần từ hđbt đến tổng LN trước thuế phân tích hđbt kỳ gốc
• Xác định lần lượt ảnh hưởng của từng nhân tố đến sự biến động của chúng
LN thuần từ hoạt Doanh thu Giá vốn Chi phí Chi phí
động kinh doanh thuần hàng bán bán hàng quản lý DN
* Phân tích báo cáo lưu chuyển tiền tệ
Tiền là dòng máu để “nuôi sống” một tổ chức, không có tiền, công nhân không được trảlương, các nhà cung cấp không được thanh toán, công nợ không được hoàn trả, cổ đông khôngđược trả lãi, hoạt động sản xuất đình trệ, tổ chức đi đến lằn ranh sống chết Báo cáo lưu chuyểntiền tệ chínhlà công cụ để nhà quản lý biết được số tiền có trong tay để ra quyết định kinh doanhphù hợp thông qua các hoạt động lưu chuyển
Lưu chuyển tiền thuần trong hoạt động kinh doanh: Nếu tổng số thu tiền trong kỳ lớnhơn tổng số tiền chi thì dòng tiền thuần từ hoạt động kinh doanh sẽ dương có nghĩa các hoạtđộng kinh doanh tạo ra tiền mặt cho tổ chức Ngược lại, nếu tổng số tiền thu nhỏ hơn tổng sốtiền chi thì dòng tiền thuần sẽ âm có nghĩa hoạt động kinh doanh không tạo ra đủ tiền để đápứng cho các mặt hoạt động kinh doanh
Trang 23-Lưu chuyển tiền thuần từ hoạt động đầu tư: Nếu dòng tiền thu lớn hơn dòng tiền chi dẫnđến dòng tiền thuần này dương mà nguyên nhân chính là do tổ chức đang thu hẹp quy mô sảnxuất còn nếu chi lớn hơn thu có nghĩa công ty đang đầu tư tái tạo hay mở rộng quy mô sản xuất.
Lưu chuyển tiều thuần thừ hoạt động tài chính: Nếu dòng tiền thu lớn hơn dòng tiền chithì dòng tiền thuần từ hoạt động này sẽ dương và ngược lại sẽ âm Dòng tiền này thể hiện cáckhoản liên quan đến phát hành cố phiếu, tiền nhận góp vốn, tiền vay ngân hàng hay tổ chức tíndụng, chi trả cổ tức, tiền trả nợ vay …
Lưu chuyển tiền thuần trong kỳ: nếu chỉ tiêu này âm chứng tỏ trong kỳ tổ chức khôngtạo ra đủ tiền mặt để hoạt động, điều này không tốt và càng không tốt nếu giá trị âm này chủyếu do dòng tiền thuần từ hoạt động kinh doanh mang lại Ngược lại nếu chỉ tiêu này dương thì
có nghĩa các dòng tiền thu từ các mặt hoạt động của tổ chức trong kỳ đủ đáp ứng nhu cầu vềtiền mặt và có dư
1.2.5.2 Phân tích hiệu quả tài chính
a Phân tích khả năng quản lý tài sản:
Phân tích khả năng quản lí tài sản Là đánh giá hiệu suất, cường độ sử dụng (mức độquay vòng) tài sản trong năm
*Vòng quay hàng tồn kho
Đây là số chu kỳ sản xuất được thực hiện trong một năm.
Doanh thu thuần
Hàng tồn kho bình quân
→ Một đồng vốn đầu tư vào HTK góp phần tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu
- Số ngày trong 1 vòng quay hàng tồn kho
360
Trang 24Doanh thu
Kỳ thu nợ dài phản ánh chính sách bán chịu táo bạo Có thể là dấu hiệu tốt nếu tốc độtăng doanh thu lớn hơn tốc độ tăng khoản phải thu Nếu vận dụng đúng, chính sách bán chịu làmột công cụ tốt để mở rộng thị phần và làm tăng doanh thu
Kỳ thu nợ dài có thê do yếu kém trong việc thu hồi khoản phải thu, doanh nghiệp bịchiếm dụng vốn, khả năng sinh lợi thấp Kỳ thu nợ ngắn có thể do khả năng thu hồi khoản phảithu tốt, doanh nghiệp ít bị chiếm dụng vốn
* Vòng quay tài sản dài hạn:
Một đồng TSCĐ góp phần tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu?
Doanh thu
Giá trị TSDH bình quân
Vòng quay TSDH cao chứng tỏ TSDH có chất lượng cao, được tận dụng đầy đủ, không
bị nhàn rỗi và phát huy hết công suất và là một cơ sở tốt để có lợi nhuận cao nếu doanh nghiệptiết kiệm được chi phí sản xuất
Vòng quay TSDH thấp là do nhiều TSDH không hoạt động, chất lượng tài sản kém,hoặc không hoạt động hết công suất
* Vòng quay tài sản ngắn hạn:
Một đồng tài sản ngắn hạn góp phần tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu ?
Doanh thu Tài sản ngắn hạn bình quân
Vòng quay tài sản ngắn hạn cao chứng tỏ TSNH có chất lượng cao, được tận dụng đầy
đủ, không bị nhàn rỗi trong các khâu của quá trình sản xuất kinh doanh
Vòng quay TSNH thấp là do tiền mặt nhàn rỗi, thu hồi khoản phải thu kém, chính sáchbán chịu quá rộng rãi, quản lý vật tư không tốt, quản lý sản xuất không tốt, quản lý bán hàngkhông tốt
Trang 25Tổng tài sản bình quân
→ Một đồng tài sản góp phần tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu?
Vòng quay TTS cao chứng tỏ các tài sản của doanh nghiệp có chất lượng cao, được tậndụng đầy đủ, không bị nhàn rỗi trong quá trình sản xuất kinh doanh
Vòng quay TTS cao là cơ sở tốt để có lợi nhuận cao Còn nếu thấp là do yếu kém trongquản lý TSCĐ, quản lý tiền mặt, quản lý khoản phải thu, chính sách bán chịu, quản lý vật tư,quản lý sản xuất, quản lý bán hàng
b Phân tích khả năng sinh lời:
- Lợi nhuận biên (Doanh lợi doanh thu sau thuế, ROS)
Lợi nhuận sau thuế
Doanh thu thuần
→ Chỉ số này cho biếu trong một trăm đồng doanh thu có bao nhiêu đồng lãicho chủ sở hữu
- Sức sinh lời cơ sở (BEP), (Doanh lợi trước thuế)
Lợi nhuận trước lãi vay và thuế (EBIT)
Tổng tài sản bq
→ Chỉ số này cho biết một trăm đồng vốn đầu tư vào doanh nghiệp tạo được bao nhiêuđồng lãi cho toàn xã hội Cho phép so sánh các doanh nghiệp có cơ cấu vốn khác nhau và thuếsuất thu nhập khác nhau
- Tỷ suất thu hồi tài sản (ROA)
Lợi nhuận sau thuế
Tổng tài sản bq
→ Chỉ số này cho biết một trăm đồng vốn đầu tư vào doanh nghiệp tạo ra được bao nhiêuđồng lãi cho chủ sở hữu Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ công ty sử dụng tài sản càng có hiệuquả tốt trong quá trình sản xuất kinh doanh
- Tỷ suất thu hồi vốn góp (ROE)
Lợi nhuận sau thuế
Trang 26→ Chỉ số này cho biết một trăm đồng vốn chủ sở hữu đầu tư vào doanh nghiệp gópphần tạo ra bao nhiêu đồng lãi cho chủ sở hữu Chỉ tiêu tính được kết quả càng lớn thì càngchứng tỏ doanh nghiệp sử dụng vốn có hiệu quả cao và ngược lại Đây là chỉ số tài chính thiếtthực nhất đối với chủ sở hữu.
1.2.5.3 Phân tích rủi ro tài chính:
* Phân tích Khả năng thanh toán:
Khả năng thanh khoản là khả năng thanh toán nợ ngắn hạn phản ánh qua:
- Khả năng thanh toán hiện hành:
Tài sản ngắn hạn
Nợ ngắn hạn
→ Một đồng nợ ngắn hạn được đảm bảo bởi bao nhiêu đồng tài sản ngắn hạn
- Khả năng thanh toán tức thời:
tư cho TSNH nhỏ, ROA và ROE có thể tăng
* Phân tích khả năng quản lý vốn vay.
- Chỉ số nợ: Mức độ doanh nghiệp sử dụng vốn vay trong kinh doanh
Trang 27Tổng tài sản
Mức độ doanh nghiệp sử dụng đòn bẩy tài trợ DEL (đoàn bẩy nợ) trong hoạt động kinhdoanh Chỉ số nợ cao chứng tỏ doanh nghiệp mạnh dạn sử dụng nhiều vốn vay trong cơ cấu vốn vàcũng là minh chứng về uy tín của doanh nghiệp đối với các chủ nợ
- Chỉ số khả năng thanh toán lãi vay:
EBIT Lãi vay
→ Chỉ số này cho biết một đồng lãi vay đến hạn được che chở bởi bao nhiêu đồng lợinhuận trước lãi vay và thuế BEIT Mất khả năng thanh toán lãi vay sẽ làm tăng rủi ro và nguy
cơ phá sản của doanh nghiệp
- Khả năng thanh toán tổng quát
Tổng tài sản
Nợ phải trả
→ Chỉ số này cho biết một đồng nợ phải trả được đảm bảo bằng bao nhiêuđồng tài sản Chỉ số này cao sẽ chứng tỏ năng lực thanh toán nợ tổng quát của công ty,làm tăng niềm tin đối với chủ nợ
1.2.5.4 Phân tích tổng hợp tình hình tài chính doanh nghiệp.
*Phân tích tổng hợp tài chính
+ Đẳng thức Du-pont thứ nhất.
Sức sinh lợi tài sản (ROA) = Lợi nhuận sau thuế
Tổng tài sản
Sức sinh lợi tài sản (ROA) = Lợi nhuận sau thế
Doanh thuTổng tài sản
- Dựa vào công thức ta thấy có 02 hướng tăng ROA: Tăng ROS và VQTTS
- Muốn tăng ROS cần phấn đấu tăng lợi nhuận sau thuế bằng cách tiết kiệm chi phí vàtăng giá bán
- Muốn tăng VQTTS cần phấn đấu tăng doanh thu bằng cách giảm giá bán và tăngcường các động bán hàng
Trang 28Vốn chủ sở hữu
- Dựa vào công thức có 02 hướng để tăng ROE: tăng ROA và tỷ số ( Tổng tài sản/ Vốnchủ sở hữu)
- Muốn tăng ROA cần làm theo đẳng thức Du-Pont 1
- Muốn tăng tỷ số (Tổng tài sản/ Vốn chủ sở hữu) cần phấn đấu giảm vốn chủ sở hữu vàtăng nợ Đẳng thức này cho thấy tỷ số nợ càng cao lợi nhuận của chủ sở hữu càng cao
- Khi tỷ số nợ tăng thì rủi ro cũng sẽ tăng
- Việc phân tích này được tiến hành theo phương pháp thay thế liên hoàn
* Đánh giá chung tình hình tài chính của doanh nghiệp và hướng giải pháp cải thiện tình hình tài chính
Dựa vào các phần phân tích mà đưa ra nhận xét về tình hình tài chính của doanh nghiệp
là tốt hay xấu, nếu xấu thì xấu ở đâu như thế nào để tìm hiểu nguyên nhân
- Trên cở tính toán các chỉ số từ kết quả của các báo cáo tài chính từ đó đưa ra các nhậnđịnh và phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp bằng việc so sánh với các năm để thấycác biến động, so sánh với sổ trung bình ngành để biết mức độ hoạt động và nguyên nhân để từ
đó có biện pháp khắc phục phù hợp và phát huy.Ví như:
► Đối với khả năng thanh toán thấp có thể là do:
- Bị khách hàng chiếm dụng vốn
Trang 29- Nhiều khoản nợ đến hạn và quá hạn phải thanh toán.
- Tồn đọng nhiều hàng tồn kho không bán được
- Uy tín của doanh nghiệp giảm
-…
=> Cần phải có biện pháp:
- Tăng cường phải thu hồi các khoản phải thu
- Giảm bớt tiền thanh toán trước cho khách hàng
- Thu hồi công nợ nội bộ
- Thanh toán bớt nợ đến hạn và quá hạn
- Đẩy nhanh công tác bàn giao hàng hóa
- Xin ra hạn nợ phải trả,khất nợ
► Đối với ROA thấp có thể là do:
- Lợi nhuận sau thuế giảm, trong khi đó tài sản tăng
- Hiệu quả sử dụng tài sản thấp
=> Cần phải có biện pháp:
- Quản lý chi phí chặt chẽ hơn,giảm các khoản chi phí không cần thiết
- Nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản
Trang 30SƠ ĐỒ 2: SƠ ĐỒ DUPONT
+
Tỷ suất thu hồi vốn chủ sở hữu
TSNHkhác
Nhân với
Trang 31CHƯƠNG II PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG TÀI CHÍNH CÔNG TY CỔ PHẦN
THƯƠNG MẠI DỊCH VỤ HOÀNG NGÂN
2.1 Giới thiệu khái quát về công ty cổ phần thương mại dịch vụ Hoàng Ngân
a Giới thiệu chung
Tên công ty: Công ty Cổ phần thương mại dịch vụ Hoàng Ngân
+ Địa chỉ: Phường Yên Thanh – Uông Bí - Quảng Ninh
+ Giám đốc: Hoàng Văn Hiền
+ E-mail: Hoangngan@gmail.com
+ Mã số thuế: 5700911712
Nhiệm vụ chủ yếu là sản xuất vật liệu xây dựng, cung cấp dịch vụ vận chuyển và nhiênliệu phục vụ các đơn vị sản xuất kinh doanh trên địa bàn thành Phố Uông bí như; Công tyTNHH 1 thành viên than Nam Mẫu, Công ty TNHH 1 thành viên than Đồng Vông; Công tyTHHH 1 thành viên than Hồng Thái và các đơn vị khác
- Bốc xúc, vận chuyển than và đất đá: Vận tải than nguyên khai và than thành phẩmbằng đường bộ phục vụ cho các đơn vị thuộc ngành than Ngoài ra Công ty còn phục vụ nhànghỉ, vận chuyển hành khách đi thăm quan du lịch nghỉ mát tại những nơi danh nam thắng cảnhcho các đơn vị trong thành phố và Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam và cácngành kinh tế khác
- Sản xuất và kinh doanh vật liệu xây dựng: Công ty Cổ phần Thương mại Dịch vụHoàng Ngân có đủ khả năng cung ứng vật liệu xây dựng cho các đơn vị có nhu cầu trong địabàn thành phố, đảm bảo đúng quy định, thời hạn theo hợp đồng kinh tế, đúng pháp luật củaNhà nước hiện hành
- Cung cấp nguyên nhiên vật liệu như; xăng, dầu, ga và khí hoá lỏng khác đáp ứngnhu cầu cung cấp nguyên nhiên vật liệu cho các đơn vị , các hộ tiêu thụ lẻ
b Ngành nghề kinh doanh chủ yếu:
- Bốc xúc vận chuyển đất đá
- Vận tải đường thuỷ, đường bộ; Vân chuyển khách hàng
- Sản xuất và kinh doanh vật liệu xây dựng
- Thi công lắp đặt công trình công nghiệp và dân dụng
- Đại lý kinh doanh xăng dầu, ga và khí hoá lỏng khác
- Kinh doanh vật tư thiết bị, phụ tùng, hàng hoá
Trang 322.1.1.Quá trình hình thành và phát triển của Công ty
Công ty Cổ phần thương mại dịch vụ Hoàng Ngân được thành lập theo giấychứng nhận đăng ký kinh doanh số 5700911712 do sở kế hoạch và đầu tư tỉnh QuảngNinh cấp ngày 17/5/2007
Trong suốt quá trình 06 năm xây dựng, phát triển và trưởng thành, thông qua sự pháttriển ổn định và bền vững công ty cổ phần thương mại và dịch vụ Hoàng Ngân đã khẳng địnhđược vị thế là một trong nhưng doanh nghiệp có tốc độ phát triển nhanh và có được một vị thếxứng đáng trên thị trường Hệ thống tổ chức sản xuất kinh doanh đa dạng của công ty đã vàđang hoạt động trong nhiều lĩnh vực Đồng thời sau 06 năm hoạt động công ty đã tích lũy đượcnhiều kinh nghiệm quản lý và chỉ đạo sản xuất kinh doanh, tích tụ thêm vốn và năng lực sảnxuất, quan hệ của công ty
Các doanh nghiệp trong và ngoài nước được mở rộng, nhờ vậy doanh thu hàng nămkhông ngừng tăng trưởng ở mức cao và ổn định
2.1.2 Chức năng nhiệm vụ cơ cấu tổ chức của Doanh nghiệp
Công ty cổ phần Thương mại Dịch vụ Hoàng Ngân tổ chức bộ máy quản lý theo cơ cấu tổ
chức trực tuyến - chức năng Với cơ cấu này người lãnh đạo doanh nghiệp được sự chỉ đạo giúp
đỡ của hội đồng quản trị, quyết định, hướng dẫn và kiểm tra việc thực hiện quyết định trongphạm vi doanh nghiệp Việc thực hiện theo quyết định, mệnh lệnh theo trực tuyến chức năng đãquy định, các lãnh đạo ở các bộ phận không trực tiếp ra lệnh cho những người thừa hành ở các
bộ phận sản xuất, mà mọi hoạt động sản xuất phải thông qua sự chỉ đạo của hội đồng quản trị.
Để đáp ứng việc quản lý ngày càng tốt hơn.Công ty cần phải có bộ máy quán lý có
đủ trình độ, năng lực Do vậy Công ty cần có kế hoạch đào tạo bồi dưỡng trình độ nghiệp
vụ cho các cán bộ nằm trong bộ máy điều hành hằng năm như cử đi học các lớp Đại học,các lớp bồi dưỡng nghiệp vụ Thường xuyên bồi dưỡng kèm cặp tay nghề cho công nhânsản xuất nhằm nâng cao trình độ và tay nghề đáp ứng với điều kiện sản xuất thực tế củaCông ty trong những năm tiếp theo
Do vậy công tác quản lý và tổ chức sản xuất, tổ chức lao động trong Công ty cầnphải có biện pháp tổ chức sản xuất một cách hợp lý hoá và khoa học hơn nữa
Quyết định và mệnh lệnh của Giám đốc Công ty theo tuyến chức năng, các lãnh đạo các
bộ phận có trách nhiệm thực hiện, trực tiếp chỉ đạo ra lệnh cho những người thừa hành ở các bộphận sản xuất Các hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty phải thông qua sự chỉ đạo và điềuhành của Hội đồng quản trị Công ty Với cơ cấu quản lý này Giám đốc Công ty vừa chỉ đạochung vừa tận dụng được trình độ chuyên môn và kinh nghiệm trong nghề nghiệp của cácchuyên viên kỹ thuật, kinh tế các chỉ thị được đưa ra không bị chồng chéo Vì thế quản lý dài
Trang 33hạn, ngắn hạn như; quyết định, lệnh sản xuất - tiêu thụ theo quyền lực quản lý bằng mối quan hệthừa hành.
Trang 34a Sơ đồ cơ cấu tổ chức của Công ty:
Hội đồng quản trị
Giám đốc
PX Sản xuất
PXVận tải
PX
Trang 35Do vậy công tác quản lý và tổ chức sản xuất, tổ chức lao động trong Công ty cầnphải có biện pháp tổ chức sản xuất một cách hợp lý hoá và khoa học hơn nữa
Quyết định và mệnh lệnh của Giám đốc Công ty theo tuyến chức năng, các lãnh đạo các
bộ phận có trách nhiệm thực hiện, trực tiếp chỉ đạo ra lệnh cho những người thừa hành ở các bộphận sản xuất Các hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty phải thông qua sự chỉ đạo vàđiều hành của Hội đồng quản trị Công ty Với cơ cấu quản lý này Giám đốc Công ty vừa chỉđạo chung vừa tận dụng được trình độ chuyên môn và kinh nghiệm trong nghề nghiệp của cácchuyên viên kỹ thuật, kinh tế các chỉ thị được đưa ra không bị chồng chéo Vì thế quản lý dàihạn, ngắn hạn như; quyết định, lệnh sản xuất - tiêu thụ theo quyền lực quản lý bằng mối quan
hệ thừa hành
b Chức năng nhiệm vụ cơ bản của các phòng ban chức năng của Công ty Cổ phần Thương mại Dịch vụ Hoàng Ngân.
+ Bổ chức bộ máy quản lý
- Hội đồng quản trị : Có nhiệm vụ hoạch định ra chiến lược sản xuất kinh doanh, định
hướng sự phát triển của toàn Công ty trong công tác quản lý và điều hành sản xuất
- Giám đốc Công ty: Trực tiếp ra lệnh sản xuất để đảm bảo hiệu quả sản xuất kinh
doanh trong Công ty
Khi Giám đốc đi vắng uỷ quyền các công việc cho Phó Giám đốc Phó giám đốc được nhận
uỷ quyền của Giám đốc phải chịu trách nhiệm toàn bộ công việc điều hành trong Công ty như kinh
tế, kỹ thuật, vận tải tiêu thụ và chịu trách nhiệm trước Giám đốc và hội đồng quản trị Công ty
Giám đốc Công ty là đại diện cho doanh nghiệp chịu trách nhiệm về tính pháp nhântrước nhà nước về toàn bộ quyết định của mình và kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh củadoanh nghiệp Thực hiện các nghĩa vụ đóng góp với Nhà nước đúng theo quy định Giám đốcđiều hành bộ máy quản lý theo chế độ một thủ trưởng và tập trung quyền hạn
- Phó giám đốc: Chịu trách nhiệm tham mưu giúp việc cho Giám đốc Công ty và chịu
trách nhiệm về công tác điều hành, chỉ đạo sản xuất trong toàn
+ Các Phòng ban chức năng:
- Văn phòng Công ty
- Phòng KTSX- ĐT
- Phòng Cơ điện - Vận tải
- Phòng Thống kê- Kế toán - Tài chính
- Phòng kế hoạch vật tư
- Phòng TCHC-TT Bảo vệ
- Phòng thương mại dịch vụ
- Các phân xưởng
Trang 36*Phòng Cơ điện - Vận Tải: Tham mưu giúp việc cho Giám đốc Công ty về phương
hướng sản xuất, kiểm tra quản lý kỹ thuật về cơ điện, bốc xúc, vận tải và thực hiện quy trìnhquy phạm kỹ thuật các thiết bị như dây truyền sản xuất, sửa chữa thiết bị vận tải, bốc xúc vàcung cấp điện nước Xây dựng mức năng suất thiết bị, định mức tiêu hao vật tư khoán cho cácđơn vị trong Công ty
*Phòng KT Đầu tư – xây dựng cơ bản: Tham mưu giúp việc cho Giám đốc
Công ty về công tác đầu tư dự án, quản lý, thẩm đinh, thiết kế, dự toán công trình, tổchức nghiệm thu hoàn thiện hồ sơ những công trình đã hoàn thành, đầu tư mua sắmthiết bị Ngoài ra còn có nhiệm vụ đo đạc xác định khối lượng sản phẩm tồn kho, khối
dở dang theo hàng quý trong năm
*Phòng Tổ chức hành chính – Thanh tra bảo vệ: Tham mưu giúp việc cho Giám
đốc Công ty về công tác tổ chức sản xuất, tổ chức lao động, nghiên cứu hoàn thiện tổ chức sảnxuất, bố trí nhân lực lao động Xây dựng hệ thống định mức lao động cho từng công việc phùhợp với từng giai đọan sản xuất của Công ty Quản lý quỹ tiền lương, tiền thưởng và xây dựng
kế họach lao động tiền lương hàng tháng, hàng quý và cả năm của Công ty Xây dựng quy chếđào tạo hàng năm, tổ chức kèm cặp bồi dưỡng nghiệp vụ thi nâng bậc hàng năm, quy chế trảlương và thanh toán trả lương cho CBCNV trong toàn Công ty
Thực hiện chế độ chính sách đối với người lao động làm việc trong Doanh nghiệp
*Phòng kế hoạch – Vật tư: Tham mưu giúp việc cho Giám đốc Công ty về
việc lập kế hoạch sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, cân đối kế hoạch sản xuất kỹ thuật, tàichính theo hàng năm Giao khoán kế hoạch sản xuất kế hoạch vật tư, cung cấp nguyênnhiên vật liệu theo định mức hàng tháng cho các đơn vị phục vụ sản xuất kinh doanh
và xây dựng mức tiêu hao vật tư kỹ thuật
*Phòng Thương mại và Dịch vụ Có trách nhiệm bố trí tổ chức các nhân viên
bán hàng tại cửa hàng, chủ động nguồn nhiên liệu cung cấp cho các khách hàng và thống
kê báo cáo về tình hình cung cấp nhiên liệu theo ngày trong tháng
*Phòng Y tế: Khám chữa bệnh, sơ cấp cứu nhằm bảo vệ sức khoẻ cho Cán bộ công
nhân viên trong toàn Công ty
*Phòng Tài chính kế toán: Người đứng đầu là Kế toán trưởng chịu trách nhiệm về bộ
phận kế toán, hạch toán và hoạt động tài chính theo điều lệ theo quy định của Nhà nước
Thực hiện công tác kế toán thống kê theo quy định kế toán thống kê doanh nghiệp.Hạch toán kế toán các hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty đảm bảo sử dụng tiền vốnmột cách hợp lý, đúng mục đích kiểm tra giám sát hạch toán các phân xưởng và hoạt động
Trang 37Kiểm tra giám sát thống kê khối lượng sản phẩm hằng tháng để làm cơ sở cho việcthanh toán trả lương sản phẩm cho cho các đơn vị sản xuất
Chức năng nhiệm vụ các phân xưởng sản xuất:
Sơ đồ 1-5: Sơ đồ cơ cấu tổ chức bộ phận sản xuất chính
- Quản đốc: là người chịu trách nhiệm chính trước Giám đốc Công ty về thực
hiện mệnh lệnh tổ chức và quản lý các khâu sản xuất, lao động, an toàn, kinh tế , kỹthuật Tổng hợp khối lượng sản phẩm hàng ngày trong các ca sản xuất chi phí vật tưhạch toán giá thành của đơn vị
- Dưới quản đốc phân xưởng là một phó quản đốc: được sự phân công chức
năng nhiệm vụ chỉ đạo và điều hành sản xuất chịu trách nhiệm trước quản đốc về việcthực hiện lệnh sản xuất giải quyết các công việc trong mỗi ca sản xuất như kỹ thuật, quytrình công nghệ và báo cáo khối lương thực hiện trong ca
- Phân xưởng sản xuất được bố trí một nhân viên kinh tế thuộc phòng Tài chính
kế toán: thực hiện các nhiệm vụ về thống kê số lao động đi làm, ốm, nghỉ phép về chuyên
môn nghiệp vụ được sự tham mưu giúp sức các phòng ban chức năng trong Công ty (PhòngTCKT, Phòng TCLĐ, Phòng KHVT ) và cặp nhật khối lượng sản phẩm hoàn thành hàngngày báo cáo số liệu hạch toán kinh tế Tổng hợp khối lượng sản phẩm và các công việc phátsinh hàng tháng nghịêm thu, thanh toán lương cho người lao động
Mỗi phân xưởng bố trí nhân lực thành các tổ sản xuất theo từng loại thiết bị , theo tínhchất công việc khác nhau Hình thức tổ chức ở phân xưởng theo hình thức chuyên môn hoá
Mỗi phân xưởng bố trí nhân lực thành các tổ sản xuất theo từng loại thiết bị , theo tínhchất công việc khác nhau Hình thức tổ chức ở phân xưởng theo hình thức chuyên môn hoá
Quản đốc phân xưởng
xưởng
Bộ phận phục vụ Các tổ sản xuất
Các tổ sản xuất