Nhằm đa dạng hóa các hình thức đào tạo khác nhau để phát triểnnguồn nhân lực y tế cho tuyến cơ sở, Bộ Y tế ban hành công văn số 2043/BYT-K2ĐT về việc tăng cường chất lượng công t
Trang 1ĐỀ CƯƠNG DỰ TUYỂN NGHIÊN CỨU SINH
Người dự kiến hướng dẫn khoa học:
1 TS Nguyễn Ngô Quang
2 PGS.TS Đỗ Thị Phương
HÀ NỘI - 2016CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Trang 2BÀI LUẬN VỀ DỰ ĐỊNH NGHIÊN CỨU
Họ và tên thí sinh : NGUYỄN THÀNH TRUNG
Cơ quan công tác : Khoa Y Dược, Đại học Quốc gia Hà Nội
Chuyên ngành dự tuyển : Y tế công cộng Mã số: 62720301
1 LÝ DO LỰA CHỌN ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
Ngành Y tế nước ta trong những năm gần đây liên tục có những bướcphát triển mạnh mẽ và đạt nhiều kết quả tốt trong chăm sóc sức khỏe nhândân Cơ sở hạ tầng, trang thiết bị hiện đại được ứng dụng là một phần trợ giúpcán bộ y tế trong quá trình phòng và điều trị bệnh tật Tuy vậy vai trò của cán
bộ y tế vẫn là quan trọng nhất trong quá trình hành nghề, điều này đòi hỏinăng lực chuyên môn của người thầy thuốc phải vững chắc và luôn được củng
cố, cập nhật để phục vụ tốt nhất cho việc phục vụ người bệnh
Nền y tế hiện nay bao gồm song song hai phương thức chính là Y họchiện đại phát triển và Y học cổ truyền tiên tiến kế thừa truyền thống dân tộc.Trong khi Y học hiện đại ngày càng có nhiều thành tựu mới, kĩ thuật côngnghệ hiện đại, phương thức điều trị mới thì nền Y học cổ truyền cũng luôntìm ra những phương pháp chữa trị hiệu quả và áp dụng những kĩ thuật mớitrong quá trình điều trị Đặc biệt Y học cổ truyền có ý nghĩa ứng dụng quantrọng trong dự phòng và điều trị cho nhân dân ở tuyến cơ sở Việc tăng sốlượng cán bộ y tế tuyến cơ sở có chuyên môn về Y học cổ truyền, nâng caochất lượng cán bộ Y học cổ truyền có ý nghĩa rất quan trọng trong việc điều
Trang 3truyền (YHCT) lâu đời Trải qua hàng nghìn năm lịch sử, YHCT Việt Nam đãtrở thành một nền y học chính thống của dân tộc, đã đúc kết nhiều kinhnghiệm phòng và chữa bệnh có hiệu quả Đặc biệt sau khi thống nhất đấtnước, Đảng và nhà nước đã có những chủ trương chính sách quan trọng vềphát triển YHCT như chủ trương kết hợp Y học hiện đại (YHHĐ) và YHCT,tổ chức hệ thống khám và chữa bệnh bằng YHCT từ tuyến trung ương đếncác địa phương
Đào tạo liên tục là một hình thức bảo đảm duy trì, cập nhật trình độ, kỹnăng, đạo đức nghề nghiệp của nhân viên y tế trong các cơ sở y tế đáp ứngnhu cầu cung cấp dịch vụ y tế, bảo đảm chất lượng dịch vụ y tế Vai trò củađào tạo liên tục trong việc đảm bảo và nâng cao chất lượng của hệ thốngchăm sóc y tế ngày càng trở nên quan trọng Nhằm đa dạng hóa các hình thứcđào tạo khác nhau để phát triển nguồn nhân lực y tế cho tuyến cơ sở, Bộ Y tếban hành văn bản số 1915/BYT-K2ĐT ngày 8/4/2013 hướng dẫn các cơ sởđào tạo nhân lực y tế triển khai thực hiện Thông tư số 55/2012/TT-BGDĐTngày 25/12/2012 của Bộ giáo dục và Đào tạo quy định liên thông trình độ caođẳng, đại học Đặc biệt, ngày 9/8/2013, Bộ Y tế đã ban hành Thông tư số22/2013/TT-BYT, Hướng dẫn đào tạo liên tục trong lĩnh vực y tế, thay choThông tư số 07/2008/TT-BYT ngày 28 tháng 5 năm 2008 Ngày 8/4/2014 Bộ
Y tế cũng đã ký Quyết định về việc ban hành Chiến lược đào tạo liên tụctrong lĩnh vực y tế giai đoạn đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030
Đến thời điểm hiện tại có rất ít những nghiên cứu đánh giá thực trạng
và hiệu quả của đào tạo liên tục cho nhân viên y tế đặc biệt là trong công tácđào tạo liên tục về YHCT Để có thêm những thông tin tổng thể về công tác
Trang 42 MỤC TIÊU VÀ MONG MUỐN ĐẠT ĐƯỢC KHI ĐĂNG KÝ HỌC NGHIÊN CỨU SINH
Qua quá trình làm luận án thí sinh có thể học thêm và nâng cao phươngpháp luận của nghiên cứu khoa học để từ đó có thể lập kế hoạch và tiến hànhtriển khai thực hiện các nghiên cứu khoa học một cách mạch lạc, rõ ràng(thông qua cách viết luận án, bài báo, chuyên đề, cách trình bày báo cáo tạicác hội đồng, hội nghị)
Qua luận án, dưới sự chỉ bảo của Thầy hướng dẫn, cùng với các ý kiếngóp ý của các thầy cô trong hội đồng, các góp ý trao đổi của các đồng nghiệp,thí sinh hy vọng sẽ học hỏi thêm nhiều kiến thức chuyên sâu về lĩnh vực Y tếcông cộng từ đó nâng cao hiểu biết, kiến thức cho thí sinh, đáp ứng mục tiêuphục vụ các yêu cầu ngày càng cao của thực tế lâm sàng
3 LÝ DO LỰA CHỌN CƠ SỞ ĐÀO TẠO
Trường Đại học Y Hà Nội là nơi học của thí sinh trong suốt quá trìnhhọc cao học chuyên ngành Y tế công cộng, đồng thời thí sinh đang công táctại Phòng Quản lý Đào tạo & Công tác Sinh viên, Khoa Y Dược, Đại họcQuốc gia Hà Nội Thí sinh hiểu rất rõ đây là mái trường có bề dày lịch sử vàtruyền thống nhất trong cả nước, là nơi đào tạo chuyên gia Y tế công cộngchất lượng cao Với kinh nghiệm đào tạo sau đại học nói chung và đào tạonghiên cứu sinh nói riêng trong nhiều năm, trường có thể tạo điều kiện cho thísinh hoàn thành tốt quá trình học tập của mình
Với bề dầy lịch sử cùng với các giáo sư đầu ngành về y tế công cộnghướng dẫn và giảng dạy, việc tiến hành thực hiện nghiên cứu và làm luận áncủa thí sinh là có thể khả thi
4 KẾ HOẠCH ĐỂ ĐẠT MỤC TIÊU
Trang 5Tính khả thi của đề tài: Thí sinh lựa chọn thực hiện đề tài này là mộtphần trong dự án “Giáo dục và đào tạo nhân lực y tế phục vụ cải cách hệthống y tế” do Bộ y tế là cơ quan chủ quản và được hỗ trợ kinh phí trong quátrình thực hiện đề tài này Đồng thời thí sinh lựa chọn đề tài này là bước pháttriển tiếp của đề tài cao học mà thí sinh đã thực hiện về nhu cầu và khả năngcung cấp các loại hình đào tạo liên tục về Y học cổ truyền cho nhân viên y tếtuyến Huyện tại tỉnh Thanh Hóa.
4 KINH NGHIỆM NGHIÊN CỨU, KIẾN THỨC VÀ KỸ NĂNG HÀNH NGHỀ CỦA THÍ SINH
4.1 Kinh nghiệm nghiên cứu
- Sau khi tốt nghiệp đại học, trong quá trình công tác thí sinh đã tham
gia nghiên cứu 07 đề tài từ cấp cơ sở đến đề tài ngang bộ, và hiện tại đang chủtrì 01 đề tài cấp cơ sở
- Năm 2016, dưới sự hướng dẫn của TS Nguyễn Ngô Quang và GS.
TS Trương Việt Dũng, thí sinh đã bảo vệ thành công luận văn tốt nghiệp cao
học: “Nhu cầu và khả năng cung cấp các loại hình đào tạo liên tục về Y học
cổ truyền cho nhân viên y tế tuyến Huyện tại tỉnh Thanh Hóa”.
4.2 Kinh nghiệm thực hành chuyên ngành
Ngay sau khi tốt nghiệp Trường Đại học Trung Y Dược Nam KinhTrung Quốc, từ tháng 7 năm 2009, thí sinh về làm việc tại Bệnh viện Đa Khoa
Y học cổ truyền Hà Nội
Từ tháng 7/2010 đến tháng 7/2011: thí sinh học Bác sỹ chuyên khoađịnh hướng chuyên ngành Y học cổ truyền tại Trường Đại học Y Hà Nội
Từ năm 2014 đến năm 2016: thí sinh học Cao học khóa 23 chuyênngành Y tế công cộng tại Trường Đại học Y Hà nội, dưới sự hướng dẫn tận
Trang 6hành nghề trong thực tế.
Từ tháng 9/2011 đến nay: thí sinh công tác tại Phòng Quản lý Đào tạo
& Công tác Sinh viên, Khoa Y Dược, Đại học Quốc gia Hà Nội
4.3 Hiểu biết về đề tài nghiên cứu:
Thí sinh đã đọc và nghiên cứu nhiều đề tài trong và ngoài nước về lĩnhvực đào tạo liên tục, đào tạo nguồn nhân lực y tế và đặc biệt là đào tạo nhânlực y học cổ truyền Những hiểu biết cụ thể về đề tài nghiên cứu thí sinh trìnhbày trong đề cương nghiên cứu
5 DỰ KIẾN VIỆC LÀM - NGHIÊN CỨU SAU KHI TỐT NGHIỆP
Đăng tải trên các tạp chí và báo cáo tại các hội nghị để phổ biến các kếtquả nghiên cứu tới các đồng nghiệp
Mở rộng nghiên cứu tìm tòi các phương pháp mới trong đào tạo nguồnnhân lực y tế
6 ĐỀ XUẤT NGƯỜI HƯỚNG DẪN
Thí sinh xin đề xuất 02 thầy hướng dẫn:
1 TS Nguyễn Ngô Quang – Cục phó Cục Cục Khoa học Công nghệ
Trang 8ATNB An toàn người bệnh
BYT Bộ Y tế
CBYT Cán bộ y tế
CME Đào tạo liên tục
(Continuing medical eduction)CSSK Chăm sóc sức khỏe
CSSKBĐ Chăm sóc sức khỏe ban đầu
JAHR Báo cáo chung tổng quan ngành y tế
TM/CAM Y học cổ truyền
(Traditional medicine/complementary and alternative medicine)WFME Liên đoàn giáo dục y học thế giới
WHO Tổ chức Y tế Thế giới
WPRO Tổ chức Y tế Thế giới Tây Thái Bình Dương
YDCT Y dược cổ truyền
YHCT Y học cổ truyền
YHDT Y học dân tộc
YHHĐ Y học hiện đại
Trang 9ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1: TỔNG QUAN 3
1.1 Khái niệm nguồn nhân lực y tế 3
1.1.1 Khái niệm 3
1.1.2 Mối liên quan giữa nguồn nhân lực và các thành phần khác của hệ thống y tế 4
1.2 Tình hình chung nhân lực y tế Việt Nam 5
1.2.1 Tình hình nhân lực y tế tại Việt Nam 5
1.3 Đào tạo liên tục 7
1.3.1 Quan niệm về đào tạo liên tục 7
1.3.2 Sự cần thiết về đào tạo liên tục 8
1.3.3 Trên thế giới 8
1.3.4 Tại Việt Nam 10
1.4 Hệ thống y học cổ truyền trên thế giới và tại Việt Nam 15
1.4.1 Hệ thống y học cổ truyền ở các nước trên thế giới 15
1.4.2 Y học cổ truyền trong chăm sóc sức khỏe tại các châu lục khác .18 1.5 Hệ thống Y học cổ truyền trong chăm sóc sức khỏe ở Việt Nam 19
1.5.1 Khái quát lịch sử YHCT Việt Nam 19
1.5.2 Hệ thống tổ chức y học cổ truyền Việt Nam hiện nay 19
1.5.3 Mạng lưới bệnh viện y dược cổ truyền tỉnh, thành phố 20
1.6 Phân bố nguồn lực cán bộ y tế và đào tạo của các Bệnh viện Y dược cổ truyền 22
1.6.1 Thực trạng nguồn nhân lực y học cổ truyền Việt Nam 22
1.6.2 Thực trang về đào tạo cho cán bộ y dược cổ truyền 22
1.6.3 Hệ thống đào tạo cán bộ y dược cổ truyền hiện nay 23
Trang 102.1 Nghiên cứu mô tả cắt ngang 26
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 26
2.1.2 Đối tượng loại trừ 27
2.1.3 Phương pháp nghiên cứu mô tả 27
2.1.4 Thời gian nghiên cứu 31
2.2 Nghiên cứu can thiệp 31
2.2.1 Đối tượng nghiên cứu 31
2.2.2 Tiêu chuẩn lựa chọn đối tượng nghiên cứu 31
2.2.3 Đối tượng ngoại trừ 32
2.2.4 Phương pháp nghiên cứu can thiệp 32
2.3 Phân tích số liệu 37
2.4 Các sai số và cách khắc phục 37
2.5 Đạo đức trong nghiên cứu 37
Chương 3: DỰ KIẾN KẾT QUẢ 38 3.1 Đặc điểm chung của cán bộ y dược cổ truyền 38
3.2 Thực trang về chương trình đào tạo liên tục về YHCT ở các khoa YHCT tuyến huyện của Tỉnh Thanh Hóa 39
3.3 Thực trạng chương trình đào tạo liên tục về YHCT cho nhân viên y tế bệnh viện tuyến huyện 3 tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh 41
3.4 Nhu cầu đào tạo liên tục của cán bộ y dược cố truyển tuyến huyện tại Thanh Hóa 43
3.5 Bước đầu đánh giá kết quả lớp đào tạo can thiệp nâng cao năng lực cán bộ châm cứu 46
Trang 113.5.3 Đánh giá hiệu quả của lớp đào tạo sau 1 năm can thiệp 48
Chương 4: DỰ KIẾN BÀN LUẬN 49
4.1 Bàn luận theo mục tiêu 1 494.2 Bàn luận theo mục tiêu 2 49
DỰ KIẾN KẾT LUẬN 50
DỰ KIẾN KHUYẾN NGHỊ 50
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 12Bảng 2.1 Các biến số, chỉ số trong nghiên cứu 29
Bảng 2.2 Danh sách các khoa của bệnh viện tham gia tập huấn 34
Bảng 2.3 Chỉ tiêu và mức độ đánh giá lớp tập huấn can thiệp 35
Bảng 3.1 Đặc tính của mẫu nghiên cứu 38
Bảng 3.2 Đặc trung về dân tộc của cán bộ YHCT 39
Bảng 3.3 Loại hình đào tạo của cán bộ YHCT 39
Bảng 3.4 Thực trạng đào tạo liên tục của đối tượng nghiên cứu 39
Bảng 3.5 Tỷ lệ cán bộ YHCT được đào tạo liên tục theo số năm công tác
tại bệnh viện 40
Bảng 3.6 Tỷ lệnội dung mà các đối tượng đã được đào tạo 40
Bảng 3.7 Phân bố trình độ của cán bộ y tế và y học cổ tuyền theo bệnh viện
40
Bảng 3.8 Phân loại cán bộ y tế theo chuyên ngành đào tạo 41
Bảng 3.9 Thực trạng đào tạo liên tục của đối tượng nghiên cứu 41
Bảng 3.10 Tỷ lệ cán bộ YHCT được đào tạo liên tục theo số năm công tác
tại bệnh viện 42
Bảng 3.11 Tỷ lệ nội dung đối tượng đã được đào tạo 42
Bảng 3.12 Nhu cầu đào tạo liên tục 43
Bảng 3.13 Những khó khăn của CBYT trong công tác hàng ngày 43 Bảng 3.14 Tỷ lệ nội dung mà các đối tượng mong muốn đào tạo liên tục
Trang 13Bảng 3.18 Phân bố nhu cầu đào tạo liên tục của CBYT theo nhóm tuổi
45
Bảng 3.19 Phù hợp với nội dụng chuyên môn 46
Bảng 3.20 Thời gian tập huấn 46
Bảng 3.21 Nhu cầu nội dung bài giảng tập huấn46
Bảng 3.22 Nội dung chi tiết trong bài giảng 46
Bảng 3.23 Kiến thức của cán bộ về châm cứu trước khi can thiệp 47 Bảng 3.24 Kỹ năng của cán bộ về châm cứu trước khi can thiệp 47 Bảng 3.25 Kiến thức của cán bộ về châm cứu sau 1 năm can thiệp 47 Bảng 3.26 Kỹ năng của cán bộ về châm cứu sau 1 năm can thiệp 48 Bảng 3.27 Hiệu quả về kiến thức châm cứu của cán bộ48
Bảng 3.28 Hiệu quả về kỹ năng châm cứu của cán bộ 48
Trang 14ĐẶT VẤN ĐỀ
Ngành Y tế Việt Nam có truyền thống lâu đời về y học cổ truyền Trải quahàng ngàn năm lịch sử dân tộc, các thầy thuốc y học cổ truyền Việt Nam đã đúckết được nhiều kinh nghiệm phòng và chữa bệnh có hiệu quả Việt Nam là mộtquốc gia thuộc khối ASEAN được đánh giá là có tiềm năng lớn phát triển ngành
y học cổ truyền , Ở một số nước trong khu vực châu Á như Liên bang Nga,Trung Quốc, Nhật Bản, Thái Lan, Bangladesh đưa y học cổ truyền vào chươngtrình mục tiêu quốc gia Trong những năm gần đây liên tục có những bước pháttriển mạnh mẽ và đạt nhiều kết quả tốt trong chăm sóc sức khỏe nhân dân ,,
Trong khi Y học hiện đại ngày càng có nhiều thành tựu mới, kĩ thuậtcông nghệ hiện đại, phương thức điều trị mới thì nền Y học cổ truyền cũngluôn tìm ra những bài thuốc, chữa trị hiệu quả và áp dụng những kĩ thuật mớitrong quá trình điều trị Đặc biệt Y học cổ truyền có ý nghĩa ứng dụng quantrọng trong dự phòng và điều trị cho nhân dân ở tuyến cơ sở Việc tăng sốlượng cán bộ y tế tuyến cơ sở có chuyên môn về y học cổ truyền, nâng caochất lượng cán bộ Y học cổ truyền có ý nghĩa rất quan trọng trong việc điềutrị tại tuyến cơ sở, tận dụng nguồn nguyên liệu thuốc sẵn có tại địa phương,giảm chi phí, giảm tập trung bệnh nhân chuyển tuyến trên không cần thiết
Trong những năm gần đây Đảng và Chính Phủ đã ban hành một sốvăn bản quy phạm pháp luật quan trọng để đẩy mạnh công tác y học cổtruyền trong chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân như: Quyết định 2166/
QĐ – BYT ngày 31/10/2010 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Kếhoạch hành động của Chính phủ về phát triển y, dược cổ truyền Việt Namđến năm 2020
Tuy nhiên, đến nay chất lượng công tác khám, chữa bệnh bằng y học cổtruyền còn nhiều hạn chế do một số tỉnh chưa có bệnh viện y dược cổ truyền;nhiều tỉnh, bệnh viện y dược cổ truyền tiếp thu cơ sở của bệnh viện đa khoa tỉnh
Trang 15nên cơ sở hạ tầng xuống cấp, đội ngũ cán bộ chuyên ngành y dược cổ truyền cònthiếu về số lượng, yếu về chất lượng, đặc biệt là thiếu đội ngũ cán bộ chuyênmôn sâu Việc đầu tư nguồn lực cho chuyên ngành y dược cổ truyền chưa đượcquan tâm đúng mức
Để có thể phát triển được nguồn nhân lực y dược cổ truyển để đáp ứngvới nhu cầu hiện nay trong chăm sóc sức khỏe nhân dân cả về số lượng và chấtlượng thì ngoài việc đánh giá thực trạng nguồn nhân lực hiện có thì vấn đề đàotao nguồn nhân lực cũng là một trong những vấn đề rất cần được quan tâm Đàotạo liên tục là một hình thức bảo đảm duy trì, cập nhật trình độ, kỹ năng, đạo đứcnghề nghiệp của nhân viên y tế trong các cơ sở y tế đáp ứng nhu cầu cung cấpdịch vụ y tế, bảo đảm chất lượng dịch vụ y tế Vai trò của đào tạo liên tục trongviệc đảm bảo và nâng cao chất lượng của hệ thống chăm sóc y tế ngày càng trởnên quan trọng Nhằm đa dạng hóa các hình thức đào tạo khác nhau để phát triểnnguồn nhân lực y tế cho tuyến cơ sở, Bộ Y tế ban hành công văn số 2043/BYT-K2ĐT về việc tăng cường chất lượng công tác đào tạo liên tục cán bộ y tế
Đến thời điểm hiện tại có rất ít những nghiên cứu đánh giá hiệu quả củachương trình đào tạo liên tục cho nhân viên y tế đặc biệt là trong công tác đàotạo liên tục về YHCT Để có thêm những thông tin tổng thể về công tác đàotạo liên tục Y học cổ truyền tại tuyến cơ sở và kịp thời có những biện pháp hỗtrợ nâng cao chất lượng chuyên môn của cán bộ y tế Y học cổ truyền chúng
tôi thực hiện đề tài nghiên cứu “Đánh giá hiệu quả của phương pháp can thiệp chương trình đào tạo liên tục về Y học Cổ truyền cho nhân viên y tế tuyến huyện tại tỉnh Thanh Hóa” với 2 mục tiêu sau:
1 Mô tả thực trạng Chương trình Đào tạo liên tục về Y học cổ truyền cho nhân viên y tế tuyến huyện tại tỉnh Thanh Hóa năm 2017.
2 Bước đầu đánh giá hiệu quả can thiệp của chương trình đào tạo liên tục cho các cán bộ trong Khoa Y học cổ truyền tại các bệnh viện tuyến huyện thuộc tỉnh Thanh Hóa.
Trang 16Chương 1 TỔNG QUAN
1.1 Khái niệm nguồn nhân lực y tế
1.1.1 Khái niệm
Nguồn nhân lực là nguồn lực con người của những tổ chức (với quy mô,loại hình, chức năng khác nhau) có khả năng và tiềm năng tham gia vào quátrình phát triền của tổ chức cùng với sự phát triển kinh tế xã hội của quốc gia,khu vực, thế giới Cách hiểu này về nguồn nhân lực xuất phát từ quan niệm coinguồn nhân lực là nguồn lực với các yếu tố vật chất, tinh thần tạo nên năng lực,sức mạnh phục vụ cho sự phát triển nói chung của các tổ chức ,
Năm 2006, WHO đã đưa ra định nghĩa: “Nhân lực y tế bao gồm tất cả
những người tham gia chủ yếu vào các hoạt động nhằm nâng cao sức khoẻ”.
Theo đó, nhân lực y tế bao gồm những người cung cấp dịch vụ y tế, ngườilàm công tác quản lý và cả nhân viên giúp việc mà không trực tiếp cung cấpcác dịch vụ y tế Nó bao gồm cán bộ y tế (CBYT) chính thức và cán bộ khôngchính thức (như tình nguyện viên xã hội, những người chăm sóc sức khỏe giađình, lang y ); kể cả những người làm việc trong ngành y tế và trong nhữngngành khác (như quân đội, trường học hay các doanh nghiệp)
Theo định nghĩa nhân lực y tế của WHO, ở Việt Nam các nhóm đốitượng được coi là “Nhân lực y tế” sẽ bao gồm các cán bộ, nhân viên y tếthuộc biên chế và hợp đồng đang làm trong hệ thống y tế công lập (bao gồmcả quân y), các cơ sở đào tạo và nghiên cứu khoa học y/dược và tất cả nhữngngười khác đang tham gia vào các hoạt động quản lý và cung ứng dịch vụCSSK nhân dân (nhân lực y tế tư nhân, các cộng tác viên y tế, lang y và bà
Trang 17đỡ/mụ vườn) Có hai khái niệm thường được sử dụng khi bàn luận về nguồnnhân lực y tế:
Có hai khái niệm thường được sử dụng khi bàn luận về nguồn nhân lực y
tế Khái niệm “phát triển nguồn nhân lực” liên quan đến cơ chế nhằm pháttriển kỹ năng, kiến thức và năng lực chuyên môn của cá nhân và về mặt tổchức công việc Bên cạnh đó, cần quan tâm đến khái niệm “quản lý nguồnnhân lực” Theo WPRO, “quản lý nguồn nhân lực là một quá trình tạo ra môitrường tổ chức thuận lợi và đảm bảo rằng nhân lực hoàn thành tốt công việccủa mình bằng việc sử dụng các chiến lược nhằm xác định và đạt được sự tối
ưu về số lượng, cơ cấu và sự phân bố nguồn nhân lực với chi phí hiệu quảnhất Mục đích chung là để có số nhân lực cần thiết, làm việc tại từng vị tríphù hợp, đúng thời điểm, thực hiện đúng công việc, và được hỗ trợ chuyênmôn phù hợp với mức chi phí hợp lý” ,
1.1.2 Mối liên quan giữa nguồn nhân lực và các thành phần khác của hệ thống y tế.
Theo WHO, hệ thống y tế có 6 thành phần cơ bản ,:
- Nguồn nhân lực y tế được coi là một trong những thành phần cơ bản vàquan trọng nhất trong hệ thống Nguồn nhân lực có mối liên hệ rất chặt chẽ vàkhông thể thiếu đối với các thành phần khác của hệ thống y tế
- Phát triển nguồn nhân lực không chỉ thông qua đào tạo, mà còn phải sửdụng, quản lý một cách phù hợp để cung cấp hiệu quả các dịch vụ y tế đếnngười dân
- Cần có một mô hình tổ chức và chức năng của các thành phần của hệthống cung ứng dịch vụ để biết được nhu cầu về quy mô và cơ cấu nhân lực y
tế như thế nào, ngược lại, hệ thống cung ứng dịch vụ y tế phụ thuộc mật thiếtvào mô hình tổ chức và cơ cấu nhân lực y tế
Trang 181.2 Tình hình chung nhân lực y tế Việt Nam
1.2.1 Tình hình nhân lực y tế tại Việt Nam.
a Tính sẵn có của nguồn nhân lực y tế Việt Nam.
Trong vòng 10 năm qua, số lượng học sinh, sinh viên được đào tạo tạicác cơ sở đào tạo y tế đã tăng lên nhiều Trung bình hàng năm có khoảng6.200 sinh viên tốt nghiệp đại học thuộc các lĩnh vực y tế, 18.000 học sinh tốtnghiệp trung học y, dược và khoảng 3.000 học viên tốt nghiệp sau đại học Tổng số sinh viên đại học khối ngành y tốt nghiệp đại học năm 2010 là7.897 Với các loại hình nhân lực y tế cơ bản là bác sỹ, dược sỹ đại học vàđiều dưỡng, số lượng sinh viên tốt nghiệp hàng năm đã tăng khá nhanh Năm
2008, có 2.365 sinh viên y khoa, 817 sinh viên dược đại học và 790 sinh viênđiều dưỡng tốt nghiệp Năm 2010, đã có 4.069 sinh viên y khoa, 1.583 sinhviên dược đại học và 1.710 sinh viên điều dưỡng tốt nghiệp, tức là khoảnggấp đôi năm 2008 Các con số này cho thấy nguồn cung ứng nhân lực y tế đãđược cải thiện đáng kể Số lượng sinh viên tốt nghiệp cũng tăng ở các loạihình đào tạo khác như kỹ thuật viên y học, bác sỹ y học dự phòng , nhưng
số lượng tăng không nhiều
Nếu xét số CBYT trên 1 vạn dân, tổng số CBYT tăng từ 29,9 năm 2003lên 34,7 năm 2008 Số bác sỹ trên vạn dân tăng từ 5,9 năm 2003 lên 6,52 năm
2008 Số điều dưỡng trên vạn dân tăng từ 6,0 năm 2003 lên 7,78 năm 2008
Số dược sỹ đại học tăng từ 0,8 năm 2003 lên 1,22 năm 2008 Năm 2009 sốbác sỹ/vạn dân tăng lên 6,59; số điều dưỡng/vạn dân tăng lên 8,82; số dượcsỹ/vạn dân tăng lên 1,78
Thiếu nhân lực y tế cho một số chuyên khoa: Một số chuyên ngành ykhoa hiện nay có sự thiếu hụt lớn về nhân lực so với các chuyên ngành khácnhư RHM, chuyên ngành lao và bệnh phổi, chuyên ngành da liễu, chuyên
Trang 19ngành nhi, chuyên ngành GP bệnh học, chuyên ngành y pháp, chuyên ngànhsốt rét - Ký sinh trùng - Vi nấm - Côn trùng y học…
b Tình trạng phân bố nguồn nhân lực y tế tại Việt Nam.
Có rất nhiều nguyên nhân liên quan đến phân bố NLYT Thu nhập thấp,điều kiện làm việc khó khăn, ít có cơ hội phát triển nghề nghiệp… là nhữngnguyên nhân quan trọng dẫn tới sự thiếu hụt NLYT, phân bố bất hợp lý, dịchchuyển nhân lực ở một số vùng địa lý và lĩnh vực công tác Đối với vùngnông thôn, miền núi và các lĩnh vực đặc biệt như dự phòng, lao, phong, tâmthần… mặc dù đã có những phụ cấp đặc thù, nhưng mức độ vẫn còn hạn chế
và so với nhân viên y tế ở các bệnh viện thì vẫn thấp hơn rất nhiều (do cácnhân viên bệnh viện có nguồn thu nhập thêm đáng kể từ nguồn thu do thựchiện tự chủ của bệnh viện và từ làm thêm)
Nếu xét theo tuyến, hệ thống y tế công được tổ chức rộng rãi từ tuyến cơsở (huyện, xã, thôn/bản) đến tuyến tỉnh và trung ương Tuy nhiên, số lượng và
cơ cấu nhân lực ở mỗi tuyến, mỗi vùng, miền có khác nhau Tuyến tỉnh chiếm tỷlệ CBYT lớn nhất, gồm cả cán bộ KCB, YTDP và hành chính Ở tuyến tỉnh vàhuyện, điều dưỡng chiếm tỷ lệ lớn nhất, trong khi tuyến xã lại dựa vào y sỹnhiều hơn Ở trung ương, số lượng cán bộ là 38.578 chiếm 15% tổng số CBYTkhu vực công, tuyến tỉnh với 97.906 cán bộ chiếm tỷ lệ 37%, tuyến huyện có73.345 cán bộ chiếm 29% và tuyến xã là 56.205 người chiếm 21%
Công tác đào tạo cán bộ y tế hiện nay còn nhiều bất cập, cụ thể:
Các trường đại học khối ngành khoa học sức khỏe đang phải đối mặtvới tình trạng quá tải sinh viên và học viên Trong 10 năm qua, số lượng sinhviên đại học tuyển mới tăng lên hàng năm, trung bình khoảng 10%, cá biệt cónăm tăng 26% , nhưng cơ sở vật chất, đội ngũ giảng viên của các trườngkhông được phát triển tương xứng Số lượng các cơ sở thực hành lâm sàng
Trang 20gần như là giữ nguyên, dẫn đến sinh viên ít có cơ hội thực hành bệnh việnhơn, chất lượng đào tạo giảm sút Đối với đào tạo bậc cao đẳng, hầu hết cáctrường cao đẳng y tế mới được nâng cấp từ trường trung cấp lên trong vàinăm gần đây, nhưng chưa được địa phương đầu tư đủ, làm ảnh hưởng tới chấtlượng đào tạo.
Công tác cải cách giáo dục y học trong các trường y dược đã và đangđược tiến hành, nhưng còn hạn chế ở một số trường, chủ yếu là ở bậc đại học,
và kết quả thực hiện cũng chưa được đánh giá Chương trình đào tạo, phươngpháp dạy học chưa cập nhật với các xu hướng mới trong giáo dục y học ,,thiếu tài liệu, vật liệu giảng dạy, đội ngũ giáo viên, giảng viên thiếu và khôngđược đào tạo thường xuyên, cơ sở vật chất thiếu thốn, kinh phí dành cho hoạtđộng đào tạo thấp vẫn tiếp tục là các vấn đề cần được cải thiện
Công tác kiểm định chất lượng giáo dục đã được triển khai trong các cơsở đào tạo, nhưng các tiêu chí sử dụng cho kiểm định là các tiêu chí chungcho tất cả các khối ngành, và chưa có tiêu chí đặc thù cho đào tạo khối ngànhkhoa học sức khỏe
1.3 Đào tạo liên tục
1.3.1 Quan niệm về đào tạo liên tục
Hiện nay, Bộ y tế ban hành Thông tư 22/2013/TT-BYT ngày09/08/2013 của Bộ trưởng Bộ y tế về hướng dẫn công tác đào tạo liên tục đốivới cán bộ y tế, trong đó nêu rõ: Đào tạo liên tục là các khóa đào tạo ngắnhạn, bao gồm: đào tạo bồi dưỡng để cập nhật kiến thức, kỹ năng, thái độthuộc lĩnh vực chuyên môn đang đảm nhận; đào tạo lại, đào tạo theo nhiệm vụchỉ đạo tuyến, đào tạo chuyển giao kỹ thuật và các khóa đào tạo chuyên mônnghiệp vụ khác của ngành y tế mà không thuộc hệ thống văn bằng giáo dụcquốc dân
Trang 211.3.2 Sự cần thiết về đào tạo liên tục
Các trường Đại học, Cao đẳng, Trung cấp và Dạy nghề và các cơ sở y
tế trực thuộc Bộ Y tế có nhiệm vụ chỉ đạo tuyến trình Bộ Y tế chương trình,tài liệu đào tạo và danh sách giảng viên để được chính thức giao nhiệm vụđào tạo liên tục của ngành
Bộ Y tế quản lý chương trình, tài liệu dạy học của những khóa học ởtuyến trung ương và những khóa học liên quan đến nhiều cơ sở y tế (từ 2 tỉnh/thảnh phổ trở lên); những khóa học có kiến thức, kỹ thuật, thủ thuật thuộc lĩnhvữ y học mới, lần đầu tiên được đưa vào áp dụng tại Việt Nam Các cơ sở y tếtrung ương có nhiệm vụ chỉ đạo tuyến đã được Bộ Y tế ủy quyền chịu tráchnhiệm về nội dung chuyên môn thuộc lĩnh vực, nhiệm vụ được giao và theo
kế hoạch của Bộ Y tế; các Sở Y tế chịu trách nhiệm quản lý công tác đào tạoliên tục trong địa phương mình và tổ chức các khóa đào tạo cho cán bộ thuộcphạm vi quản lý của Sở; các trường Đại học, Cao đặng, Trung cấp, Dạy nghề
y tế thuộc tỉnh/thành phố trực thuộc trung ương có trách nhiệm tham mưu,phối hợp với Sở Y tế trong công tác quản lý, xây dựng kế hoạch, tổ chức vàtriển khai thực hiện nhiệm vụ đào tạo liên tục tại địa phương
Trong lĩnh vực YHCT hiện nay, việc đào tạo liên tục cho các cán bộYHCT chủ yếu là kinh phí đóng góp của người tham gia khóa đào tạo để nângcao trình độ chuyên môn nghiệp vụ của bản thân, và kinh phí của cơ sở y tếcho cán bộ của đơn vị có nhu cầu đào tạo liên tục cho cán bộ, chưa có kinhphí đào tạo liên tục được kết cấu từ NSNN trong kế hoạch hàng năm của các
cơ sở đào tạo do cơ quan có thẩm quyền phân bố
1.3.3 Trên thế giới
Một nghiên cứu đánh giá tính hiệu quả của đào tạo liên tục y khoa thuthập kết quả trên 248 bài báo đánh giá về đào tạo liên tục, trong đó 13% cácbài báo mô tả thử nghiệm ngẫu nhiên, nhưng chỉ có 7% tất cả các bài báo và
Trang 2220% các thử nghiệm ngẫu nhiên đánh giá tác động của đào tạo liên tục trênbệnh nhân Những nghiên cứu này đưa ra bằng chứng thuyết phục rằng đàotạo liên tục có thể cải thiện hành vi của bác sĩ
Theo nghiên cứu đánh giá hiệu quả chiến lược đào tạo liên tục y khoa trongviệc thay đổi hiệu quả làm việc của bác sĩ thực hiện bởi David A Davis và cộng
sự cho thấy trên 99 cuộc thử nghiệm với 160 can thiệp theo tiêu chuẩn củanghiên cứu Gần hai phần ba trong số những can thiệp (101/160) thể hiện sự cảithiện: 70% biểu hiện sự thay đổi trong hoạt động của bác sĩ và 48% các can thiệpcho thấy có sự thay đổi tích cực trong chăm sóc sức khỏe Bên cạnh đó cũng cónhiều nghiên cứu chỉ ra hiệu quả tích cực của đào tạo liên tục trong chăm sócsức khỏe, nhưng nếu không thực hiện đúng lại làm giảm chất lượng chăm sócbệnh nhân và tăng chi phí ,,,,,
Mặc dù các bác sĩ báo cáo họ phải chi tiêu một số tiền và thời gian đáng kểcho việc đào tạo liên tục, nhưng các nghiên cứu đã chỉ ra một sự khác biệt lớngiữa hiệu quả thực tế và lý tưởng của CME Dave Davis và cộng sự (1999) thựchiện trên 14 nghiên cứu với 17 can thiệp cho kết quả: 9 thay đổi tích cực tronghành nghề, ¾ can thiệp làm thay đổi tích cực việc chăm sóc sức khỏe
Tuy nhiên theo một nghiên cứu Maliheh Mansouri và cộng sự cho thấymức độ ảnh hưởng của đào tạo liên tục trên hiệu quả làm việc của bác sĩ vàtrên bệnh nhân là không cao, có một mối tương quan tích cực giữa mức độhiệu quả của đào tạo liên tục và khoảng thời gian can thiệp (r=0,33)
Theo WHO, các chương trình đào tạo liên tục (CME) được tổ chức tạiBelgaum, Mangalore, Madurai, Manipal, Tirunelveli ở phía Nam,Dharamshala, Aligarh và Muzaffarnagar ở phía Bắc, Bhopal, Nagpur vàJaipur ở phía tây và Cuttack, Patna và Guwahati ở phía Đông, tuy nhiên cácbác sĩ ở nhiều khu vực nông thôn vẫn còn đang bỏ lỡ các khóa học do họ íthoặc không có khả năng tiếp cận với các khóa học này Theo một nghiên cứu
Trang 23“Thúc đẩy tỷ lệ sử dụng thuốc” công bố vào tháng 9 năm 2002 của danh mụccác thuốc thiết yếu của WHO và Vụ chính sách thuốc cho thấy CME là mộtyêu cầu cho việc đăng ký của các chuyên gia y tế tại nhiều nước phát triểnnhư Hoa Kỳ, nhưng các cơ hội đào tạo liên tục lại bị giới hạn tại các nướcđang phát triển vì còn thiếu các văn bản quy phạm pháp luật, các biện phápkhuyến khích Hội đồng Y khoa của Ấn Độ thành lập một quy định rằng cácthành viên phải hoàn thành 30 giờ đào tạo liên tục mỗi năm để nhận đượcchứng chỉ hành nghề như bác sĩ, nhưng chỉ có 20% bác sĩ của Ấn Độ làm theovì quy định này không mang tính ràng buộc về mặt pháp lý
Theo một vài nghiên cứu, đào tạo trực tuyến được thực hiện để bổ sungkiến thức cho các chủ đề không gây tranh cãi hoặc không phức tạp, còn cácchủ đề có nhiều tranh cãi hoặc có nguy cơ áp dụng sai hoặc có nhiều lợi ích từ
sự tương tác và thảo luận Một nghiên cứu cho rằng “Đào tạo liên tục (CME)trực tiếp thích hợp cho các nội dung mới và gây nhiều tranh luận và CME trựctuyến thích hợp để lấp đầy khoảng trống về kiến thức” ,
Bên cạnh đó những nhà lãnh đạo y tế, cần có sự thay đổi qua quá trìnhđào tạo liên tục là cần thiết, đặc biệt là đối với những người làm việc tại cácphòng ban chức năng quản lý Các nhà nghiên cứu đã thấy việc can thiệp vàohành chính đã tạo một không khí thay đổi trong toàn tổ chức y tế
Vai trò lãnh đạo của các bác sĩ là cần thiết trong việc thiết kế và cung cấpcác giáo trình đào tạo liên tục, đây cũng chính là một lĩnh vực của các nghiêncứu, “các bác sĩ tìm hiểu thông qua sự tương tác với các đồng nghiệp trong cácbuổi đào tạo theo nhóm nhỏ, chính thức hoặc không chính thức”
1.3.4 Tại Việt Nam
a Thực trạng và tầm quan trọng của công tác đào tạo liên tục trong ngành Y tế
Nghề Y có đặc thù quan trọng do gắn liền với tính mạng và sức khỏecủa con người, việc cập nhật liên tục những kiến thức, kỹ thuật mới, hạn chếtối thiểu những sai sót chuyên môn là một nhiệm vụ bắt buộc với mọi người
Trang 24hành nghề Trên thế giới đào tạo y khoa liên tục luôn gắn với lịch sử ra đời vàphát triển của nghề Y Trong bối cảnh hiện nay với sự phát triển mạnh mẽ củakhoa học kỹ thuật và nhu cầu ngày càng cao về chất lượng dịch vụ y tế, việcđào tạo liên tục càng trở nên cấp thiết.
Ở nước ta, đào tạo liên tục nhân lực y tế đã được triển khai thông quacác hình thức ban đầu như tập huấn chuyên môn, chỉ đạo tuyến, hội thảo, hộinghị, giao ban chuyên môn bệnh viện,…Nghị quyết số 46/NQ-TW của BộChính trị đã chỉ rõ “nghề Y là một nghề đặc biệt, cần được tuyển chọn, đàotạo, sử dụng và đãi ngộ đặc biệt”, đây là quan điểm chỉ đạo xuyên suốt nêubật tính đặc thù trong đào tạo, sử dụng nhân lực y tế
Các luật cán bộ, công chức; viên chức; giáo dục; giáo dục đại học đềuđề cập đến chất lượng nhân lực y tế nói riêng Luật khám bệnh, chữa bệnh đãquy định nghĩa vụ học tập cho bác sĩ, điều dưỡng, hộ sinh, kỹ thuật viên hànhnghề khám chữa bệnh và chỉ rõ những người không tham gia cập nhật kiếnthức y khoa liên tục trong 2 năm sẽ bị thu hồi chứng chỉ hành nghề
Trong vòng 10 năm qua, chính phủ đã ban hành nhiều chính sách liênquan đến đào tạo, sử dụng, đãi ngộ cán bộ y tế: Quyết định số 243/2005/QĐ-TTg “Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết 46/NQ-TW”; Nghị định số 18/2010/NĐ-CP về đào tạo bồi dưỡng công chức đã quyđịnh nghĩa vụ học tập của mọi công chức; Nghị định 29/2012/NĐ-CP vềtuyển dụng, sử dụng và quản lý viên chức có hướng dẫn thực hiện bắt buộccập nhật kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp chuyên ngành…
Theo báo cáo đánh giá năng lực của các cơ sở đào tạo nhân lực y tế tạiViệt Nam, chương trình đào tạo mới và đào tạo liên tục vẫn chưa được chútrọng Phần lớn các ý kiến cho rằng chương trình đào tạo cần dành nhiều thờigian hơn cho thực hành kỹ năng, tập trung hơn nữa để tăng cường kỹ nănglâm sàng cho sinh viên, kỹ năng y tế công cộng cũng như kỹ năng mềm Thời
Trang 25gian dành cho học lâm sàng chỉ chiếm bằng 1/3 tổng số chương trình giảngdạy Phương pháp dạy học phổ biến tại các trường vẫn là học lý thuyết trêngiảng đường
b Một số định hướng đào tạo liên tục ở Việt Nam
Trước đây việc đào tạo liên tục giao cho các trường y đảm nhận, hiệnnay do quá tải về số lượng tuyển sinh mới nên việc đào tạo liên tục ở cáctrường y còn hạn chế Mọi cán bộ y tế cần được đào tạo liên tục thườngxuyên để nâng cao trình độ chuyên môn nên số lượng người tham gì họctập là rất lớn, với số lượng trên 500.000 cán bộ y tế đang làm việc trong hệthống y tế thì các trường y không có khả năng đảm nhận, mặt khác thực tếcho thấy cán bộ y tế được đào tạo tại chỗ sát với nhu cầu công việc hàngngày có kết quả hơn là cứ đưa họ về các trường để học tập, do vậy Bộ y tếchủ trương giao cho các Sở y tế, các đơn vụ y tế trung ương cùng với cáctrường phải tham gia công tác tổ chức đào tạo liên tục Do vậy cơ sở đào tạoliên tục hiện nay bao gồm:
- Các trường y tế tổ chức các khóa đào tạo liên tục theo các chươngtrình chính quy mà trường đang triển khai để đào tạo cập nhật, đào tạo kỹthuật, công nghệ mới và gắn mã số đào tạo liên tục để quản lý mã A
- Các bệnh viện, viện nghiên cứu, các cơ sở y tế được Bộ y tế giao nhiệmvụ chỉ đạo tuyến và các trung tâm có đào tạo nhân lực y tế phải tổ chức đào tạotheo hệ thống, theo nhiệm vụ gắn mã số đào tạo liên tục là mã B
- Các Sở y tế và đơn vị trực thuộc phải tổ chức đào tạo cho đội ngũcán bộ y tế mà Sở đang quản lý và hành nghề trên địa bàn và gắn mã số đàotạo liên tục là mã C
Hiện nay, số lượng các cơ sở đào tạo liên tục được công nhận tiếp tụctăng Bộ y tế cấp phép cho các đơn vị tham gia đào tạo liên tục như các bệnh
Trang 26viện, Sở y tế, trung tâm y tế, các trường Hai trung tâm đào tạo cán bộ quản lý
y tế nằm trong Đại học Y tế công cộng và Viện y tế công cộng thành phố HồChí Minh được thành lập và sẽ đảm nhận nhiệm vụ đào tạo về quản lý chocán bộ y tế toàn ngành
Tuy nhiên cũng gặp một số khó khăn và hạn chế, số lượng các khóađào tạo liên tục giảm do các dự án với nguồn tài trợ quốc tế đóng vai trò chủđạo trong việc tổ chức các khóa đào tạo liên tục bị giảm đi Chất lượng nhiềukhóa đào tạo liên tục chưa bảo đảm Nhiều khóa học cấp chứng chỉ đươc các
cơ sở y tế cử người đi học đánh giá là kém hiệu quả Nhiều cán bộ y tế ở cáctuyến cơ sở không được đào tạo liên tục do thiếu kinh phí, các khóa học tổchức quá xa, thiếu khóa học đúng nhu cầu Một số nơi do thiếu nhân lực y tếnên không thể cử cán bộ y tế đi học nâng cao trình độ, nhất là với các khóađào tạo kéo dài
Đào tạo liên tục cán bộ y tế đang là một trong những hoạt động được
Bộ Y tế đặc biệt quan tâm và được xác định là quyền lợi, nghĩa vụ, tráchnhiệm của cán bộ y tế, Mặc dù hệ thống đào tạo liên tục cán bộ y tế đã đượchình thành từ trung ương đến địa phương, các văn bản pháp quy và tài liệuhướng dẫn triển khai đang dần được hoàn thiện, tuy nhiên chất lượng chứngchỉ của các khóa học này luôn cần được kiểm định và nâng cao
Theo kết quả nghiên cứu của Trịnh Yên Bình về nhu cầu đào tạo chocán bộ y dược cổ truyền, cho thấy thực trạng đào tạo liên tục: số lượng cán bộ
y tế được đào tạo bổ sung kiến thức chiếm tỷ lệ thấp, cán bộ y tế có thâm niêncông tác càng cao thì tỷ lệ được đào tạo liên tục càng lớn Những cán bộ y tếcó thâm niên trên 10 năm thì tỷ lệ được đi đào tạo bổ sung kiến thức là47,4% Phần lớn cán bộ y tế thường được 1 khóa đào tạo bổ sung kiến thức,có một số lượng nhỏ CBYT được 2 khóa đào tạo bổ sung kiến thức Thời
Trang 27lượng của một khóa học đa số từ 4 tuần trở lên, đây có thể là khóa học caohọc hoặc chuyên khoa Nhu cầu đào tạo lại trong thời gian tới của cán bộ ydược học cổ truyền là rất lớn, 64,2% CBYT chưa được đào tạo bổ sungchuyên môn, nâng cao kỹ năng, nội dung cần đào tạo liên tục cho cán bộ làbác sĩ chủ yếu là: kiến thức về thuốc YHCT, nâng cao kỹ năng về điều trịbệnh và nâng cao kiến thức về chẩn đoán Kiến thức cần bổ sung cho cán bộdược sĩ là: nâng cao kiến thức về phân biệt một số thuốc YHCT dễ nhầm lẫn
và kiến thức về chế biến một số loại thuốc YHCT
Bộ y tế vừa ban hành chương trình và tài liệu đào tạo liên tục về "Antoàn người bệnh" (ATNB) Tài liệu này sẽ được sử dụng để đào tạo liên tụccho cán bộ y tế từ giám đốc bệnh viện cho đến tất cả các nhân viên trongcác cơ sở khám, chữa bệnh Theo PGS.TS Lương Ngọc Khuê, Cục trưởngCục quản lý Khám, chữa bệnh (KCB), Tài liệu đào tạo ATNB do Bộ y tếban hành dựa trên các khuyến cáo và hướng dẫn cập nhật của Tổ chức y tếthế giới và triển khai thực hiện Điều 7 của Thông tư số 19/2013/TT-BYTvề triển khai các biện pháp bảo đảm ATNB và nhân viên y tế Tài liệu đàotạo cung cấp các kiến thức về tần suất các sai sót chuyên môn, sự cố ykhoa, các nguyên nhân và các giải pháp để hạn chế các sai sót chuyên môn
và sự cố y khoa tới mức thấp nhất có thể trong các cơ sở KCB.Tài liệu gồm
6 chủ đề được thiết kế theo trình tự hệ thống từ việc nhận dạng sai sót, sự
cố y khoa đến việc tìm hiểu nguyên nhân, đưa ra các giải pháp can thiệp và
áp dụng quy trình cải tiến chất lượng liên tục vào việc đảm bảo ATNB Đólà: Tổng quan về ATNB; Phòng ngừa sự cố y khoa trong việc xác địnhngười bệnh và cải thiện thông tin trong nhóm chăm sóc; Phòng ngừa sai sóttrong sử dụng thuốc; Phòng ngừa sự cố y khoa trong phẫu thuật; Phòng vàkiểm soát nhiễm khuẩn bệnh viện; Phòng ngừa sự cố y khoa trong chămsóc và sử dụng trang thiết bị vật tư y tế
Trang 281.4 Hệ thống y học cổ truyền trên thế giới và tại Việt Nam
1.4.1 Hệ thống y học cổ truyền ở các nước trên thế giới
Theo định nghĩa của WHO (2000): YHCT là toàn bộ kiến thức, kỹnăng và thực hành dựa trên lý luận, lòng tin và kinh nghiệm vốn có của nhữngnền văn hóa khác nhau, dù đã được giải thích hay chưa, nhưng được sử dụng
để duy trì sức khỏe, cũng như để phòng bệnh, chẩn đoán, cải thiện hoặc điềutrị tình trạng đau ốm về thể xác hoặc tinh thần
Thực trạng các quy định về pháp lý đề cập đến YHCT ở mỗi quốc gia
là khác nhau Một số nước YHCT được quản lý tốt, trái lại ở một số nước nóchỉ được đề cập đến như những thực phẩm chức năng và những phương phápchữa bệnh truyền miệng mà không được cho phép Tuy nhiên, ở các nướcđang phát triển tỷ lệ người dân sử dụng YHCT là rất cao với nhiều kinhnghiệm dân gian quý báu
Y học cổ truyền trong chăm sóc sức khỏe ở các nước phát triển
Một trong các quốc gia tiêu biểu sử dụng YHCT trong chăm sóc sứckhỏe phải kể tới Trung Quốc, quốc gia có một nền YHCT lâu đời và có ảnhhưởng sâu sắc tới nền YHCT của nhiều quốc gia khác nhau: Đại hàn DânQuốc, Cộng hòa dân chủ nhân dân Triều Tiên, Nhật Bản, Việt Nam… Đây làmột quốc gia có nền YHCT phát triển lâu đời vào bậc nhất thế giới Năm
1995 Trung Quốc đã có 2.522 bệnh viện YHCT với 353.373 nhân viên y tế và236.060 giường bệnh, những bệnh viện này đã điều trị 200 triệu bệnh nhânngoại trú và 3 triệu bệnh nhân nội trú 1 năm, đồng thời 95% các bệnh viện ởTrung Quốc có khoa YHCT ,
Hội nghị phát triển YHCT Trung Quốc năm 2005 đã thống kê: YHCTTrung Quốc đã được hơn 120 quốc gia và khu vực trên thế giới chấp nhận ỞAnh, hơn 3000 bệnh viện thực hành về YHCT Trung Quốc đã được mở Cókhoảng 2,5 triệu người Anh đã chi tổng số 90 triệu bảng Anh hàng năm để
Trang 29được điều trị bằng YHCT Trung Quốc Ở Pháp có 2600 bệnh viện thực hànhvề YHCT Trung Quốc có tới 7000 đến 9000 cán bộ châm cứu Cho đến naytrên 50 hợp đồng y học được ký giữa Trung Quốc với các nước khác trong đócó sự hợp tác về YHCT
Nhật Bản: Với lịch sử nền YHCT trên 1400 năm, được xem là nước có
tỷ lệ người khám chữa bệnh bằng YHCT cao nhất thế giới hiện nay Thầythuốc YHCT Nhật Bản là sự kết hợp giữa YHCT Trung Quốc và thuốc dângian Nhật Bản gọi chung là Kampo Tính từ năm 1974 đến 1989, sửdụng cácloại thuốc YHCT ở Nhật Bản đã tăng 15 lần trong khi các loại tân dược chỉtăng 2,6 lần Ít nhất 65% bác sĩ ở Nhật khẳng định rằng họ đã sử dụng phốihợp đồng thời thuốc YHCT và thuốc YHHĐ Một bài thuốc Kampoo dự định
áp dụng cho bệnh nhân phải qua 2 giai đoạn: giai đoạn 1 tất cả bệnh nhânđược cho sử dụng và những người có đáp ứng với thuốc được lựa chọn,giaiđoạn 2 một thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có nhóm chứng chỉ bao gồmnhững người bệnh nhân có đáp ứng với thuốc được tiến hành trên và đánh giátác dụng của thuốc , Kampoo không nằm trong hệ thống nhà nước nhưngđược khuyến khích phát triển và Nhật Bản là nước có tỷ lệ người dân sử dụngYHCT cao nhất thế giới
Hàn Quốc: ở quốc gia này hầu hết các cơ sở y tế nhà nước và tư nhân
đều hoạt động vì lợi nhuận Do việc mở rộng các cơ sở y tế tư nhân dẫn đến
sự thiếu hiệu quả của hệ thông y tế công lập, sử dụng quá mức dịch vụ cầnthiết, tập trung các bác sỹ ở các thành phố lớn và dẫn đến sự mất cân bằnggiữa chi phí y tế cao và lợi ích chi phí thấp Tại Đại Hàn Dân Quốc, YHCTrất phát triển và có vị thế ngang bằng YHHĐ Tuy nhiên những năm gần đâyYHCT có khuynh hướng bị thu hẹp lại do chế độ chi trả cho YHHĐ có xuhướng rộng rãi và ưu đãi hơn
Trang 30Khu vực Đông Nam á: Chiến lược toàn cầu của Tổ chức Y tế thế giới
chú ý vai trò quan trọng của TM/CAM (traditional medicine/complementaryand alternative medicine) trong việc bảo vệ, cải tiến và dự phòng y tếtốt nhất,phổ biến nhất WHO khuyến khích tất cả những thành viên Asean ủng hộT/CAM và tiếp tục lượng giá, công thức của chính sách quốc gia với cấu trúcphù hợp, tiến tới thực hành và sử dụng TM/CAM phù hợp nhất và hợp với hệthống chăm sóc sức khỏe đặc biệt có lợi cho sức khỏe, thuận lợi kinh tế xã hội
và thương mại ,,,, Các nước Indonesia, Malaysia, đặc biệt là Thái Lan… cũng
là những nước có truyền thống sử dụng YHCT để bảo vệ, chăm sóc và nângcao sức khoẻ Từ năm 1950 đến 1980 YHCT Thái Lan gần như bị tê liệt hoàntoàn do quá coi trọng YHHĐ Điều này có ảnh hưởng đến chất lượng chămsóc sức khoẻ ban đầu (CSSKBĐ) ở Thái Lan Từ năm 1980, chính phủ vàngành y tế Thái Lan đã khẩn trương thiết lập chính sách phát triển thuốc thảomộc trên phạm vi cả nước, tiến hành các cuộc điều tra về cây thuốc, cácnghiên cứu dược học, dần từng bước đưa thuốc YHCT vào hệ thống y tế quốcgia phục vụ công tác CSSK nhân dân Brunei Darussalam bắt đầu thành lậpT/CAM – Vụ YHCT – Bộ Y tế vào ngày 26/05/2008 tập trung mũi nhọn lồngghép T/CAM trong dịch vụ chăm sóc sức khỏe Từ 23/12/2002đến 4/2/2005
đã có 8 chuyên gia về YHCT của Bệnh viện YHCT Trung ương - Việt Namđến trung tâm nghiên cứu YHCT – Bộ Y tế Lào để nghiên cứu lâmsàng về yhọc cổ truyền, trong thời gian này các chuyên gia chữa khỏi bệnh cho hơn 5000bệnh nhân bằng YHCT Bộ Y tế Lào đã có kế hoạch hợp tác với Bộ Ytế ViệtNam đào tạo sau đại học và các khóa đào tạo ngắn về phương pháp chữa bệnhbằng YHCT
Hiện nay, hầu như chưa có đề tài nghiên cứu nào trên thế giới đưa rađược nghiên cứu cụ thể về nguồn nhân lực để phát triển YHCT cũng như nhucầu đào tạo liên tục cho các cán bộ làm về công tác YHCT, tuy nhiên trong
Trang 31chiến lược phát triển YHCT năm 2002 – 2005, Tổ chức Y tế Thế giới tiếp tụckhẳng định vai trò và giá trị của YHCT trong chăm sóc sức khỏe ban đầu chonhân dân Chiến lược y học cổ truyền khu vực Tây Thái Bình Dương (2011 –2020) đã tính đến các thách thức và xu hướng của khu vực cũng như bối cảnhchiến lược toàn cầu Bản chiến lược đã ghi nhận phương hướng của mỗi quốcgia và vùng lãnh thổ sẽ tùy thuộc vào nhu cầu, năng lực, ưu tiên, chính sách y
tế hiện hành, các quy định, chiến lược, nguồn lực, văn hóa và lịch sử của quốcgia đó Mục tiêu của chiến lược bao gồm :
- Đưa y học cổ truyền vào hệ thống y tế quốc gia
- Thúc đẩy sử dụng y học cổ truyền an toàn và hiệu quả
- Tăng cường cơ hội sử dụng y học cổ truyền an toàn và hiệu quả
- Thúc đẩy bảo vệ sử dụng bền vững nguồn lực y học cổ truyền
- Tăng cường hợp tác trong việc xây dựng, chia sẻ kiến thức, kỹ năngthực hành y học cổ truyền
1.4.2 Y học cổ truyền trong chăm sóc sức khỏe tại các châu lục khác
Theo kết quả của một số nghiên cứu ở Australia, 48,5% dân số sử dụng
ít nhất một loại hình chữa bệnh theo phương pháp YHCT, các bác sỹ thựchành đã khuyến cáo người dân sử dụng thảo dược - một trong mười liệu phápđiều trịthay thế (châm cứu, thôi miên, ngồi thiền, tác động cột sống, thể dụcnhịp điệu,Yoga, vi lượng đồng căn, thảo dược, xoa bóp, ngửi hoa) Chínhphủ đã cónhững chính sách phổ cập biện pháp thay thế này đến toàn cộngđồng ,
Trong chiến lược phát triển YHCT năm 2002 – 2005, Tổ chức Y tế Thếgiới tiếp tục khẳng định vai trò và giá trị của YHCT trong chăm sóc sức khỏeban đầu cho nhân dân Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã tích cực và nỗ lực hỗtrợcho các hoạt động phát triển nguồn lực YHCT ở các nước thông qua cáckhoáđào tạo cho lương y ở Lào, Mông Cổ, Philippin và các quốc đảo Tây Thái
Trang 32Bình Dương Mục tiêu là sử dụng những lương y đã được đào tạo để giáo dụcsức khoẻ hoặc cung cấp dịch vụ CSSKBĐ bằng YHCT , Nâng cao nănglựcnghiên cứu về YHCT cho các nước thông qua tổ chức các hội thảo khu vực,cáckhoá đào tạo và những học bổng đào tạo chuyên gia
1.5 Hệ thống Y học cổ truyền trong chăm sóc sức khỏe ở Việt Nam
1.5.1 Khái quát lịch sử YHCT Việt Nam
YHCT Việt Nam ra đời từ rất sớm, gắn liền với lịch sử phát triển củatruyền thống văn hoá dân tộc Trải qua hàng nghìn năm lịch sử, YHCT ViệtNam đã đúc rút được nhiều kinh nghiệm phòng và chữa bệnh có hiệu quả.Nền YHCT Việt Nam còn được phát triển trong sự giao lưu với Trung Quốc
và các nước trong khu vực Bằng sự xuất hiện nhiều danh y lớn như Tuệ Tĩnh,Hải Thượng Lãn Ông, Chu Doãn Văn, Hoàng Đôn Hòa, Nguyễn Đạo An…YHCT Việt Nam không chỉ là một nền y học kinh nghiệm đơn thuần mà cònphát triển về mặt lý luận Các tác phẩm YHCT Việt Nam có giá trị to lớntrong nền y học và văn hóa dân tộc
1.5.2 Hệ thống tổ chức y học cổ truyền Việt Nam hiện nay
- Năm 1946, Hội Đông y được thành lập để phát triển y học cổ truyềnphục vụ chế độ mới ,
- Nam bộ kháng chiến: Ban nghiên cứu Đông y Nam bộ được thành lậpphục vụ nhân dân và bộ đội Ngoài việc xây dựng mạng lưới YHCT, Ban nghiêncứu Đông y đã xây dựng và biên soạn "Toa căn bản" trị bệnh thông thường Tập
"Tủ thuốc nhân dân" được soạn để phổ biến và sử dụng thuốc YHCT
- Ngày 27/02/1955 Bác Hồ đã gửi thư cho ngành y tế Trong thư Bácviết: “Y học phải dựa trên nguyên tắc: dân tộc, khoa học, đại chúng Ông cha
ta đã có nhiều kinh nghiệm quí báu chữa bệnh bằng thuốc ta, thuốc bắc Đểmởrộng phạm vi y học, các cô, các chú cũng nên chú trọng nghiên cứu phốihợp thuốc Đông và thuốc Tây” ,
Trang 33- Năm 1957 Vụ Đông y và Viện Đông y được thành lập với mục đích làđoàn kết giới lương y, những người hành nghề y học cổ truyền (YHCT) vàYHHĐ, đồng thời phát huy hoạt động của các cơ sở nghiên cứu và điều trịbằng thuốc YHCT ,
- Đến năm 1978: 33/34 tỉnh thành có bệnh viện YHCT Phong trào trồng
và sử dụng thuốc nam chữa bệnh phát triển mạnh mẽ hơn bao giờ hết
- Đến năm 2010 sau khi có chính sách quốc gia về YDCT ban hànhnăm 2003 đến nay có 56/63 tỉnh thành phố có bệnh viện YDCT
1.5.3 Mạng lưới bệnh viện y dược cổ truyền tỉnh, thành phố
- Tổng số bệnh viện y dược cổ truyền: 59
- Tuyến Trung ương: 3 bệnh viện
- Tuyến tỉnh: 53 bệnh viện
- Bệnh viện YDCT ngành: 2 bệnh viện (Bệnh viện YDCT Bộ Công an;bệnh viện YDCT Quân đội)
- Bệnh viện y dược cổ truyền trong học viện: 1 bệnh viện (bệnh việnTuệ Tĩnh thuộc Học viện YDCT Việt Nam)
- Xếp loại bệnh viện:
Xếp hạng I: 4
Xếp hạng II: 15
Xếp hạng III: 40
- Trong đó, 12 tỉnh chưa có bệnh viện YDCT tỉnh, thành phố bao gồm:
An Giang, Bà rịa - Vũng tàu, Bạc Liêu, Bắc Cạn, Quảng Trị, Quảng Ngãi,Kon Tum, Khánh Hòa, Sóc Trăng, Hậu Giang, Bạc Liêu, Cà Mau ,
Bệnh viện tuyến Trung ương ,,,,.
Bệnh viện Y học cổ truyền tuyến Trung ương, bệnh viện Châm cứuTrung ương, Viện Y dược dân tộc học Thành phố Hồ Chí Minh là bệnh việnđầu ngành về y học cổ truyền, là tuyến cuối cùng trong bậc thang chuyên môn
Trang 34điều trị, tiếp nhận người bệnh từ tuyến dưới chuyển lên , với chức năng nhiệmvụ:
- Kế thừa, nghiên cứu ứng dụng những bài thuốc, những phương phápchữa bệnh bằng YHCT
- Nghiên cứu, đánh giá các phương pháp chữa bệnh bằng YHCT, kếthợpYHCT với YHHĐ và triển khai các phương pháp này cho các cơ sở khámchữa bệnh bằng YHCT trong cả nước
- Nghiên cứu, ứng dụng các phương pháp chữa bệnh của các nước cónền YHCT phát triển ứng dụng vào Việt Nam
- Nghiên cứu và xây dựng công tác hiện đại hóa YHCT, kết hợp YHCTvới YHHĐ Tổ chức đào tạo và hợp tác quốc tế về YHCT
- Tổ chức chỉ đạo và chuyển giao các kỹ thuật về YDCT cho tuyếndưới
Bệnh viện y dược cổ truyền tuyến tỉnh :
Bệnh viện y dược cổ truyền tuyến tỉnh với chức năng là tuyến điều trịcao nhất về chuyên ngành y dược cổ truyền tại tỉnh, tiếp nhận người bệnh từtuyến huyện chuyến đến do vượt khả năng chuyên môn của các bệnh việntuyến huyện và thực hiện nhiệm vụ:
- Đáp ứng hầu hết các kỹ thuật chuyên môn thuộc chuyên ngành, thựchiện các kỹ thuật chuyên môn chuyên sâu
- Kết hợp y dược cổ truyền với y dược hiện đại
- Bệnh viện YDCT là đơn vị chuyên môn cao nhất; là cơ sở thực hànhphục vụ công tác đào tạo của các trường y, dược;
- Nhiệm vụ chỉ đạo tuyến dưới về chuyên ngành y dược cổ truyềntrong tỉnh
- Nghiên cứu kế thừa, phát huy phát triển, bảo tồn những kinh nghiệmchữa bệnh bằng y dược cổ truyền cũng như phát triển các phương pháp chữabệnh kết hợp y dược cổ truyền với y dược hiện đại