Tuy nhiên một trong những bệnh làm hạn chế khả năng sinh sản của đàn lợnnái là các bệnh về sinh sản đặc biệt là bệnh viêm tử cung chiếm tỉ lệ cao.. Với mục đích góp phần nâng cao năng su
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
Người thực hiện: SV Phạm Hồng Quân Lớp: Thú y c –K55
Người hướng dẫn: ThS.Đào Công Duẩn
Bộ môn: Nội - Chuẩn
Trang 2Lời cảm ơn
Để hoàn thành khóa luận tôt nghiệp, ngoài sự nỗ lực hết mình của bản thân,tôi luôn nhận được sự giúp đỡ của các thầy cô khoa thú y Học Viện Nông NghiệpViệt Nam, các thầy cô trong bộ môn Nội –Chuẩn,vợ chồng chú Vũ Đức Chínhcùng toàn thể mọi nời cùng làm việc tai nơi tôi thực tập ,cùng với sự quan tâm giúp
đỡ của gia đình bạn bè đã tao điều kiện cho tôi hoàn thành khóa luận tôt nghiệp Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc về sự giúp đỡ tận tình của thầygiáo Ths.Đào Công Duẩn – Giảng viên khoa thú Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam,người đã hướng dẫn tôi hoàn thành khóa luân tôt nghiệp này
Qua đây tôi cũng xin trân thành cảm ơn tới vợ chồng chú Vũ Đức Chính(chủ trại), anh Hưởng kỹ thuật trại, cùng toàn thể anh chị em làm việc tai trại đãnhiệt tình giúp đỡ nhiệt tình tôi trong thời gian tôi thực tập tại cơ sở để hoàn thànhkhóa luân tốt nghiệp
Đồng thời tôi cũng xin gửi lơi cảm ơn tới gia đình, bạn bè,những người đãluôn ủng hộ, tạo điều kiện cho tôi hoàn thành tốt khóa luận của mình
Một lần nữa tôi xin trân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 31 tháng 10 năm 2014 Sinh Viên
Phạm Hồng Quân
Trang 3MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Các tiêu chí chẩn đoán viêm tử cung
Bảng 4.1 Cơ cấu đàn lợn của trại lợn nái DOANH CHÍNH, huyện Văn Giang, tỉnhHưng Yên trong thời gian thực tập
Bảng 4.2 Tình hình bệnh viêm tử cung trên đàn lợn nái nuôi tại trại lợn DOANHCHÍNH trong 3 năm 2012, 2013 và Tháng 09/2014
Bảng 4.3 Tỷ lệ viêm tử cung trên đàn lợn nái nuôi tại trại lợn DOANH CHÍNHqua các giai đoạn
Bảng 4.4: Kết quả thử nghiệm phòng bệnh viêm tử cung
Bảng 4.5 Kết quả điều trị bệnh viêm tử cung và khả năng sinh sản của lợn nái saukhi khỏi bệnh tại trại lợn DOANH CHÍNH
Trang 5Để chăn nuôi đàn lợn ngoại đạt hiệu quả cao bên cạnh các yếu tố về thức ăn,chuồng trại, kỹ thuật chăn nuôi thì một trong những yếu tố hết sức quan trọng cầnđược đảm bảo là phải có đàn giống tốt Điều này phụ thuộc rất lớn vào năng suấtsinh sản của đàn lợn nái ngoại
Tuy nhiên một trong những bệnh làm hạn chế khả năng sinh sản của đàn lợnnái là các bệnh về sinh sản đặc biệt là bệnh viêm tử cung chiếm tỉ lệ cao Bệnh nàykhông những làm ảnh hưởng trực tiếp tới khả năng sinh sản của lợn mẹ mà còn làmột trong những nguyên nhân làm tăng cao tỉ lệ mắc bệnh tiêu chảy ở đàn lợn conđang trong thời gian theo mẹ, do đó chất lượng của đàn giống bị ảnh hưởng Nếukhông điều trị kịp thời có thể kế phát viêm vú, mất sữa, nặng có thể dẫn tới rối loạnsinh sản, chậm sinh, vô sinh, viêm phúc mạc và có thể chết
Những vấn đề nêu trên chỉ ra rằng việc nghiên cứu về bệnh viêm tử cung ở đàn lợn nái ngoại và tìm ra phương pháp phòng trị bệnh là một việc là cần thiết Với mục đích góp phần nâng cao năng suất sinh sản của đàn lợn nái ngoại, đồng thời bổ sung vào các tài liệu nghiên cứu về lĩnh vực sinh sản của giống lợn nái ngoại tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: Thực trạng bệnh viêm tử cung trên đàn
Trang 6lợn nái nuôi tại trang trại Doanh Chính –huyện Văn Giang- Tỉnh Hưng Yên
và thử nghiệm điều trị bằng amoxil retard
1.2.MỤC ĐÍCH CỦA ĐỀ TÀI
- Khảo sát tình hình chăn nuôi của trại giống Doanh Chính – Tân Tiến- Văn
Giang- Hưng Yên
- Xác định thực trạng mắc bệnh viêm tử cung của đàn lợn nái ngoại nuôi tại trangtrại Doanh Chính –Văn Giang -Hưng Yên
- Đánh giá ảnh hưởng của bệnh viêm tử cung đến năng suất của lợn nái
- Đưa ra quy trình phòng và điều trị bệnh viêm tử cung của đàn lợn nái ngoại nuôitại trang trại
Trang 7Phần II TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 ĐẶC ĐIỂM GIẢI PHẪU CƠ QUAN SINH SẢN CỦA LỢN NÁI
Bộ phận sinh dục của lợn nái được chia thành bộ phận sinh dục bên trong (buồng trứng, ống dẫn trứng, tử cung, âm đạo) và bộ phận sinh dục bên ngoài (âm môn, âm vật, tiền đình)
2.1.1 Buồng trứng (Ovarium)
Buồng trứng của lợn gồm một đôi treo ở cạnh trước dây chằng rộng, nằmtrong xoang chậu Hình dáng của buồng trứng rất đa dạng nhưng phần lớn có hìnhbầu dục hoặc hình ovan dẹt, không có lõm rụng trứng
Buồng trứng có hai chức năng cơ bản là tạo giao tử cái và tiết các hocmon:estrogen, progesterone, oxytoxin, relaxin và inhibin Các hocmon này tham gia vào
việc điều khiển chu kỳ sinh sản của lợn nái Estrogen cần thiết cho sự phát triển của cơ xương, tử cung và hệ thống ống dẫn của tuyến vú Progesterone do thể vàng
tiết ra giúp duy trì sự mang thai do nó kích thích phân tiết của tử cung để nuôi
dưỡng thai, ức chế sự co thắt của tử cung và phát triển nang tạo sữa của tuyến vú
Oxytoxin được tiết chủ yếu bởi phần sau của tuyến yên nhưng cũng dược tiết bởi thể
vàng ở buồng trứng khi thú gần sinh, nó làm co thắt cơ tử cung trong lúc sinh đẻ và
cũng làm co thắt cơ trơn tuyến vú để thải sữa Ở lợn, relaxin do thể vàng tiết ra để
gây dãn nở xương chậu, làm dãn và mềm cổ tử cung, do đó mở rộng đường sinh dục
khi gần sinh Inhibin có tác dụng ức chế sự phân tiết kích tố noãn (FSH) từ tuyến
yên, do đó ức chế sự phát triển nang noãn theo chu kỳ (Trần Thị Dân, 2004) Ở bềmặt ngoài của buồng trứng có một lớp liên kết được bao bọc bởi lớp biểu mô hìnhlập phương Bên dưới lớp này là lớp vỏ chứa các noãn nang, thể vàng, thể trắng
Trang 8( thể vàng thoái hóa ) Phần tủy nằm của buồng trứng nằm ở giữa, gồm có mạchmáu, dây thần kinh, mạch bạch huyết và mô liên kết Miền vỏ có tác dụng về sinhdục vì ở đó xảy ra quá trình trứng chín và rụng trứng Trên buồng trứng có từ70.000 – 100.000 noãn bào ở các giai đoạn khác nhau, tầng ngoài cùng là nhữngnoãn bào sơ cấp phân bố tương đối đều, tầng trong là những noãn bào thứ cấp đangsinh trưởng, khi noãn bao chín sẽ nổi lên bề mặt buồng trứng (Khuất Văn Dũng,2005) Có 4 loại noãn nang trong buồng trứng: Noãn nang nguyên thủy nhỏ nhất vàđược bao bọc bởi lớp tế bào vảy Noãn nang nguyên thủy phát triển thành noãnnang bậc một, nó được bao bọc bởi một lớp tế bào biểu mô hình lập phương (tế bàonang) Khi được sinh ra bưồng trứng đã có sẵn hai loại noãn nang này Noãn nangbậc một có thể bị thoái hóa hoặc phát triển thành noãn nang bậc hai Noãn nang bậchai có hai hoặc nhiều lớp tế bào nang nhưng không có xoang nang (là khoảngtrống chứa dịch nang) Noãn nang có xoang được xem như noãn nang bậc ba,chứadịch nang và có thể trở nên trội hẳn để chuẩn bị xuất noãn ( nang Graaf ) Noãnnang có xoang bao gồm 3 lớp: lớp bao ngoài, lớp bao trong và lớp tế bào hạt Lớpbao ngoài là mô liên kết lỏng lẻo Lớp bao trong sản xuất androgen dưới tác dụngcủa LH Lớp tế bào hạt tách rời lớp bao trong bởi màng đáy mỏng Tế bào hạt sảnxuất nhiều chất sinh học và trên bề mặt tế bào có thụ thể (receptor) tiếp nhận kíchthích tố LH Những chất quan trọng được sản xuất bởi tế bào hạt là estrogen,inhibin và dịch nang.
Khi nang Graaf xuất noãn, những mạch máu nhỏ bị vỡ và gây xuất huyết tạichỗ Sau khi xuất noãn, phần còn lại của nang noãn cùng với vết xuất huyết đượcgọi là thể xuất huyết với kích thước nhỏ hơn nang noãn nhiều lần Sau đó tế bàobao trong và tế bào hạt biệt hóa thành tế bào thể vàng để tạo nên thể vàng, (TrầnThị Dân, 2004)
2.1.2 Ống dẫn trứng (Oviductus)
Trang 9Ống dẫn trứng (vòi Fallop) gồm có phễu, phần rộng và phần eo Phễu mở ra
để tiếp nhận noãn và có những sợi lông nhung để gia tăng diện tích tiếp xúc vớibuồng trứng khi xuất noãn Phễu tiếp nối với phần rộng Phần rộng chiếm khoảng
½ chiều dài của ống dẫn trứng, đường kính tương đối lớn và mặt trong có nhiều nếpvới tế bào biểu mô có lông nhỏ Phần eo nối tiếp sừng tử cung, nó có thành dày hơnphần rộng và ít nếp gấp hơn
Vai trò cơ bản của ống dẫn trứng là vận chuyển noãn và tinh trùng đến nơithụ tinh trong ống dẫn trứng (1/3 phía trên ống dẫn trứng ), tiết các chất để nuôidưỡng noãn, duy trì sự sống và gia tăng khả năng thụ tinh của tinh trùng, tiết cácchất nuôi dưỡng phôi trong vài ngày trước khi phôi đi vào tử cung Nơi tiếp giápgiữa phần eo và tử cung có vai trò điều khiển sự di chuyển của tinh trùng đến phầnrộng của ống dẫn trứng hoặc di chuyển của phôi vào tử cung Ở lợn, sự co thắt củanơi tiếp giáp eo – tử cung tạo thành cái cản đối với tinh trùng để không có quánhiều tinh trùng đi đến phần rộng, nhờ đó tránh được hiện tượng nhiều tinh trùngxâm nhập noãn
2.1.3 Tử cung (Uterus)
Tử cung nằm trong xoang chậu, dưới trực tràng, trên bàng quang và niệu đạotrong xoang chậu, 2 sừng tử cung ở phần trước xoang chậu Tử cung được giữ tạichỗ nhờ sự bám của âm đạo vào cổ tử cung và được giữ bởi các dây chằng
Tử cung lợn thuộc loại tử cung sừng kép, gồm 2 sừng thông với một thân và
cổ tử cung:
Sừng tử cung dài 50 – 10 cm, hình ruột non, thông với ống dẫn trứng
Thân t cung dài 3 – 5cmử cung dài 3 – 5cm
Cổ tử cung lợn dài 10 – 18cm, có thành dày, hình trụ, có các cột thịt xếp theokiểu cài răng lược, thông với âm đạo
Trang 10Vách tử cung gồm 3 lớp từ ngoài vào trong: lớp tương mạc, lớp cơ trơn, lớpnội mạc.
- Lớp tương mạc: là lớp màng sợi, dai, chắc phủ mặt ngoài tử cung và nối
tiếp vào hệ thống các dây chằng
- Lớp cơ trơn: gồm cơ vòng rất dày ở trong, cơ dọc mỏng hơn ở ngoài Giữa
2 tầng cơ chứa tổ chức liên kết sợi đàn hồi và mạch quản, đặc biệt là nhiều tĩnhmạch lớn Ngoài ra, các bó sợi cơ trơn đan vào nhau theo mọi hướng làm thànhmạng vừa dày vừa chắc Cơ trơn là lớp cơ dày và khoẻ nhất trong cơ thể Do vậy,
nó có đặc tính co thắt ( Đặng Đình Tín, 1986)
Theo (Trần Thị Dân, 2004) , trương lực co càng cao ( tử cung trở nên cứng)khi có nhiều estrogen trong máu và trương lực co giảm ( tử cung mềm ) khi có nhiềuprogesterone trong máu Vai trò của cơ tử cung là góp phần cho sự di chuyển củatinh trùng và chất nhày trong tử cung, đồng thời đẩy thai ra ngoài khi sinh đẻ Khimang thai, sự co thắt của cơ tử cung giảm đi dưới tác dụng của progesterone, nhờvậy phôi thai có thể bám chắc vào tử cung
- Lớp nội mạc tử cung: là lớp niêm mạc màu hồng được phủ bởi một lớp tế
bào biểu mô hình trụ, xen kẽ có các ống đổ của các tuyến nhày tử cung Nhiều tếbào biểu mô kéo dài thành lông rung, khi lông rung động thì gạt những chất nhàytiết ra về phía cổ tử cung Trên niêm mạc có các nếp gấp
Lớp nội mạc tử cung có nhiệm vụ tiết các chất vào lòng tử cung để giúp phôithai phát triển và duy trì sự sống của tinh trùng trong thời gian di chuyển đến ốngdẫn trứng Dưới ảnh hưởng của estrogen, các tuyến tử cung phát triển từ lớp màngnhày, xâm nhập vào lớp dưới màng nhày và cuộn lại Tuy nhiên các tuyến chỉ đạtđược khả năng phân tiết tối đa khi có tác dụng của progesterone Sự phân tiết củatuyến tử cung thay đổi tuỳ theo giai đoạn của chu kỳ lên giống
2.1.4 Âm đạo (Vagina)
Trang 11Âm đạo nối sau tử cung, trước âm hộ, đầu trước giáp cổ tử cung, đầu sauthông ra tiền đình, giữa âm đạo và tiền đình có nếp gấp niêm mạc gọi là màngtrinh.
Âm đạo là một ống tròn chứa cơ quan sinh dục đực khi giao phối, đồng
thời là bộ phận cho thai đi ra ngoài trong quá trình sinh đẻ và là ống thải các chấtdịch từ tử cung
Âm đạo có cấu tạo gồm 3 lớp:
- Lớp liên kết ở ngoài
- Lớp cơ trơn: có cơ dọc bên ngoài, cơ vòng bên trong Các lớp cơ âm đạoliên kết với các lớp cơ ở cổ tử cung
- Lớp niêm Theo Đặng Đình Tín (1986), âm đạo lợn dài 10 – 12cm
2.1.5 Tiền đình (Vestibulum vaginae sinusinogenitalism)
Là giới hạn giữa âm đạo và âm hộ Tiền đình bao gồm:
- Màng trinh là một nếp gấp gồm 2 lá, phía trước thông với âm đạo, phía
sau thông với âm hộ.Màng trinh gồm các sợi cơ đàn hồi ở giữa và do 2 lá niêm mạcgấp lại thành một nếp
- Lỗ niệu đạo ở sau và dưới màng trinh.
- Hành tiền đình là 2 tạng cương ở 2 bên lỗ niệu đạo Cấu tạo giống thể
hổng ở bao dương vật của con đực
Tiền đình có một số tuyến, các tuyến này xếp theo hang chéo, hướng quay về
âm vật
2.1.6 Âm vật (Clitoris)
Âm vật có cấu tạo như dương vật nhưng thu nhỏ lại và là tạng cương củađường sinh dục cái, được dính vào phần trên khớp bán động ngồi, bị bao xungquanh bởi cơ ngồi hổng
Âm vật được phủ bởi lớp niêm mạc có chứa các đầu mút thần kinh
Trang 12cảm giác, lớp thể hổng và tổ chức liên kết bao bọc gọi là mạc âm vật.
2.1.7 Âm hộ (Vulva)
Âm hộ hay còn gọi là âm môn, nằm dưới hậu môn và ngăn cách với nó bởivùng hồi âm Bên ngoài có 2 môi đính với nhau ở mép trên và mép dưới Môi âm
hộ có sắc tố đen, tuyến mồ hôi, tuyến bã tiết ra chất nhờn trong và hơi dính
2.2 MỘT SỐ HIỂU BIẾT VỀ BỆNH VIÊM TỬ CUNG Ở LỢN NÁI
2.2.1 Nguyên nhân của bệnh viêm tử cung.
Theo Trần Tiến Dũng, Dương Đình Long, Nguyễn Văn Thanh (2002), viêm tửcung là một quá trình bệnh lý thường xảy ra ở gia súc cái sinh sản sau đẻ Quá trìnhviêm phá huỷ các tế bào tổ chức của các lớp hay các tầng tử cung gây rối loạn sinhsản ở gia súc cái làm ảnh hưởng lớn, thậm chí làm mất khả năng sinh sản ở gia súccái
Bệnh thường xảy ra do một số nguyên nhân sau: công tác phối giống khôngđúng kỹ thuật, can thiệp khi nái đẻ khó, vi sinh vật, do phối giống trực tiếp, nái sau
đẻ bị sát nhau và do khâu vệ sinh:
- Công tác phối giống không đúng kỹ thuật:
Những năm gần đây cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật thì phươngpháp thụ tinh nhân tạo đang được áp rộng rãi, ngoài những ưu điểm so với phươngpháp thụ tinh trực tiếp thì phương pháp này cũng tiềm ẩn một số nguy cơ gây bệnh.Phương pháp này làm xây xát niêm mạc tử cung, dụng cụ dẫn tinh không được vôtrùng khi phối giống hoặc tay của người phối không được sát trùng cẩn thận màcầm vào ống dẫn tinh sẽ làm cho vi khuẩn từ ngoài vào tử cung lợn nái gây viêm
- Lợn nái đẻ khó và phải can thiệp bằng tay:
Thông thường trong quá trình đẻ tử cung co bóp rất mạnh để đẩy thai ra ngoài,tuy nhiên trong một số trường hợp lợn đẻ khó do tử cung co bóp yếu, tiêmOxytocin để tăng cường co bóp cổ tử cung nhưng ít hiệu quả, vì vậy phải can thiệp
Trang 13bằng tay để đưa con ra ngoài.Trong quá trình thao tác làm có thể niêm mạc tử cung
bị xây sát, tổn thương, vi khuẩn xâm nhập và phát triển gây viêm
- Do vi sinh vật:
Hầu hết các trường hợp viêm tử cung đều có sự hiện diện của vi sinh vật cơhội thường xuyên có mặt trong chuồng nuôi Lợi dụng lúc sinh sản tử cung, âm đạotổn thương chứa nhiều sản dịch, vi khuẩn xâm nhập đường sinh dục gây viêm tửcung Một số vi khuẩn gây bệnh thường là: Staphylococcus, Escherichia coli (E.coli), Streptococcus, Klebsiella.
- Lợn nái phối giống trực tiếp:
Lợn đực mắc bệnh viêm bao dương vật hoặc mang vi khuẩn từ những con lợnnái khác đã bị viêm tử cung, viêm âm đạo Khi sử dụng lợn đực mang vi khuẩn đểphối chúng sẽ truyền sang cho lợn nái khoẻ mạnh
- Lợn nái sau đẻ bị sát nhau xử lý không triệt để:
Sót nhau rất thường gặp trong chăm nuôi heo nái, nhất là ở những đàn có chế
độ chăm sóc nuôi dưỡng kém, điều kiện vệ sinh không tốt Bệnh thường do hainguyên nhân chính: do heo nái bị viêm nhiễm thường xuyên khi mang thai và dothức ăn kém chất lượng, nhất là khi thức ăn thiếu các khoáng vi lượng và vitamin.Lợn nái sau đẻ bị sát nhau xử lý không triệt để có thể dẫn đến viêm tử cung
- Do kế phát từ một số bệnh truyền nhiễm như:
Sẩy thai truyền nhiễm, phó thương hàn, bệnh lao gây viêm Lợn mẹ mắc bệnhsảy thai truyền nhiễm làm cho nhau thai con và nhau thai mẹ dính chặt với nhaunên mặc dù tử cung co bóp bình thường nhưng nhau thai mẹ và nhau thai conkhông thể tách rời nhau được dẫn đấn việc bị sát nhau và cuối cùng là viêm tửcung
- Do khâu vệ sinh:
Vệ sinh chuồng đẻ vệ sinh bộ phận sinh dục lợn nái trước và sau đẻ không
Trang 14sạch sẽ, trong thời gian đẻ cổ tử cung mở vi sinh vật có điều kiện để xâm nhập vàogây viêm.
Ngoài các nguyên nhân kể trên viêm tử cung còn có thể là biến chứng nhiễmtrùng do vi khuẩn xâm nhập vào dạ con gây nên trong thời gian động đực (vì lúc đó
cổ tử cung mở), vi khuẩn xâm nhập vào tử cung theo đường máu và viêm tử cung
là một trong những triệu chứng lâm sàng chung (Theo Lê Văn Năm và cộng sự,1997)
Theo Hội thú y Việt Nam (1995), bệnh viêm tử cung và các bệnh ở đườngtiết niệu có mối quan hệ với nhau, vi khuẩn trong nước tiểu cũng phát triển trong
âm đạo và việc gây nhiễm ngược lên tử cung là rất dễ xảy ra
Nhiễm khẩn tử cung qua đường máu là do vi khuẩn sinh trưởng ở một cơquan nào đó có kèm theo bại huyết, do vậy có trường hợp lợn hậu bị chưa phốinhưng đã bị viêm tử cung
2.2.2 Các thể viêm tử cung
Theo Đặng Đình Tín (1985), bệnh viêm tử cung được chia làm 3 thể: viêmtương mạc tử cung, viêm cơ tử cung, viêm nội mạc tử cung
2.2.2.1 Viêm tương mạc tử cung (Perimestritis Puerperalis)
Theo Đặng Đình Tín (1995), viêm tương mạc tử cung thường kế phát từ viêm
cơ tử cung Thể viêm này thường cấp tính cục bộ, toàn thân xuất hiện những triệuchứng điển hình và nặng Lúc đầu lớp tương mạc tử cung có màu hồng, sau chuyểnsang đỏ sẫm, sần sùi mất tính trơn bóng Sau đó các tế bào bị hoại tử và bong ra,dịch thẩm xuất tăng tiết Nếu bị viêm nặng, nhất là viêm có mủ, lớp tương mạc cóthể dính với các tổ chức xung quanh gây nên tình trạng viêm mô tử cung ( thểParamestritis ), thành tử cung dày lên, có thể kế phát viêm phúc mạc
Lợn nái biểu hiện triệu chứng toàn thân: nhiệt độ tăng cao, mạch nhanh, convật ủ rũ, mệt mỏi, uể oải, đại tiểu tiện khó khăn, ăn uống kém hoặc bỏ ăn Lượng
Trang 15sữa rất ít hoặc mất hẳn, thường kế phát viêm vú Con vật luôn biểu hiện trạng tháiđau đớn, khó chịu, lưng và đuôi cong, rặn liên tục Từ âm hộ thải ra ngoài rất nhiềuhỗn dịch lẫn mủ và tổ chức hoại tử, có màu nâu và mùi thối khắm Khi kích thíchvào thành bụng thấy con vật có phản xạ đau rõ hơn, rặn nhanh hơn, từ âm hộ dịchchảy ra nhiều hơn.Trường hợp một số vùng của tương mạc đã dính với các bộ phânxung quanh thì có thể phát hiện được trạng thái thay đổi về vị trí và hình dáng của
tử cung, có khi không tìm thấy
một hoặc cả hai buồng trứng Nếu điều trị không kịp thời sẽ chuyển thànhviêm mãn tính, tương mạc đã dính với các bộ phân xung quanh thì quá trình thụtinh và sinh đẻ lần sau sẽ gặp nhiều khó khăn, có thể dẫn tới vô sinh Thể viêm nàythường kế phát bệnh viêm phúc mạc, bại huyết, huyết nhiễm mủ
2.2.2.2 Viêm cơ tử cung (Myomestritis Puerperalis)
Theo Nguyễn Hữu Ninh, Bạch Đăng Phong (2000), viêm cơ tử cung thường
kế phát từ viêm nội mạc tử cung thể màng giả Niêm mạc tử cung bị thấm dịchthẩm xuất, vi khuẩn xâm nhập và phát triển sâu vào tổ chức làm niêm mạc bị phângiải, thối rữa gây tổn thương cho mạch quản và lâm ba quản, từ đó làm lớp cơ vàmột ít lớp tương mạc của tử cung bị hoại tử Nếu bệnh nặng, can thiệp chậm có thểdẫn tới nhiễm trùng toàn thân, huyết nhiễm trùng hoặc huyết nhiễm mủ Có khi dolớp cơ và lớp tương mạc của tử cung bị phân giải mà tử cung bị thủng hoặc tử cung
bị hoại tử từng đám to
Lợn nái bị bệnh này thường biểu hiện triệu chứng toàn thân rõ: thân nhiệt tăngcao, mệt mỏi, ủ rũ, ăn uống giảm, lượng sữa giảm hoặc mất hẳn Mép âm đạo tímthẫm, niêm mạc âm đạo khô, nóng màu đỏ thẫm Gia súc
biểu hiện trạng thái đau đớn, rặn liên tục Từ cơ quan sinh dục luôn thải rangoài hỗn dịch màu đỏ nâu, lợn cợn mủ và những mảnh tổ chức thối rữa nên cómùi tanh, thối Con vật thường kế phát viêm vú, có khi viêm phúc mạc
Trang 16Thể viêm này thường ảnh hưởng đến quá trình thụ thai và sinh đẻ lần sau Cótrường hợp điều trị khỏi nhưng gia súc vô sinh.
2.2.2.3 Viêm nội mạc tử cung (Endomestritis)
Theo Nguyễn Văn Thanh (1999), viêm nội mạc tử cung là viêm lớp niêm mạccủa tử cung, đây là một trong các nguyên nhân làm giảm khả năng sinh sản của giasúc cái, nó cũng là bệnh phổ biến và chiếm tỉ lệ cao trong các bệnh của viêm tửcung Viêm nội mạc tử cung thường xảy ra sau khi gia súc sinh đẻ, nhất là trongtrường hợp đẻ khó phải can thiệp làm niêm mạc tử cung bị tổn thương, tiếp đó các
vi khuẩn Streptococcus, Staphylococcus, E.coli, Salmonella, C.pyogenes,Bruccella, roi trùng Trichomonas Foetus xâm nhập và tác động lên lớp niêm mạcgây viêm
Theo Nguyễn Hữu Ninh, Bạch Đăng Phong (2000), bệnh viêm nội mạc tửcung có thể chia 2 loại:
- Viêm nội mạc tử cung thể cata cấp tính có mủ, chỉ gây tổn thương ở niêmmạc tử cung
- Viêm nội mạc tử cung thể màng giả, tổ chức niêm mạc đã bị hoại tử, tổnthương lan sâu xuống dưới tầng cơ của tử cung và chuyển thành viêm hoại tử
*Viêm nội mạc tử cung thể cata cấp tính có mủ (Endomestritis Puerperalis)
Lợn bị bệnh này thân nhiệt hơi cao, ăn kém, lượng sữa giảm Con vật có trạngthái đau đớn nhẹ, có khi con vật cong lưng rặn, tỏ vẻ không yên tĩnh Từ âm hộchảy ra hỗn dịch, niêm dịch lẫn với dịch viêm, mủ, lợn cợn những mảnh tổ chứcchết Khi con vật năm xuống, dịch viêm thải ra ngày càng nhiều hơn Xung quanh
âm môn, gốc đuôi, hai bên mông dính nhiều dịch
viêm, có khi nó khô lại thành từng đám vảy màu trắng xám Kiểm tra qua âmđạo, niêm dịch và dịch rỉ viêm thải ra nhiều Cổ tử cung hơi mở và có mủ chảy qua
cổ tử cung Niêm mạc âm đạo bình thường
Trang 17* Viêm nội mạc tử cung thể màng giả
Ở thể viêm này, niêm mạc tử cung thường bị hoại tử Những vết thương đã ănsâu vào tầng cơ của tử cung và chuyển thành hoại tử Lợn nái mắc bệnh này thườngxuất hiện triệu chứng toàn thân rõ: thân nhiệt tăng cao, lượng sữa giảm có khi hoàntoàn mất sữa, kế phát viêm vú, ăn uống giảm xuống Con vật đau đớn, luôn rặn,lưng và đuôi cong lên Từ cơ quan sinh dục luông thải ra ngoài hỗn dịch: dịchviêm, máu, mủ, lợn cợn những mảnh tổ chức hoại tử, niêm dịch
2.2.3 Chẩn đoán viêm tử cung.
Theo Hội thú y Việt Nam (1995), xuất phát từ quan điểm lâm sàng thì bệnhviêm tử cung thường biểu hiện vào lúc đẻ và thời kì tiền động đực, vì đây là thờigian cổ tử cung mở nên dịch viêm có thể chảy ra ngoài Số lượng mủ không ổnđịnh, từ vài ml cho tới 200ml hoặc hơn nữa Tính chất mủ cũng khác nhau, từ dạngdung dịch màu trắng loãng cho tới màu xám hoặc vàng, đặc như kem, có thể màumáu cá Người ta thấy rằng thời kì sau sinh đẻ hay xuất hiện viêm tử cung cấp tính,viêm tử cung mạn tính thường gặp trong thời
kì cho sữa Hiện tượng chảy mủ ở âm hộ có thể cho phép nghi viêm nội mạc
tử cung
Tuy nhiên, cần phải đánh giá chính xác tính chất của mủ, đôi khi có nhữngmảnh trắng giống như mủ đọng lại ở âm hộ nhưng lại có thể là chất kết tinh củanước tiểu từ trong bàng quang chảy ra Các chất đọng ở âm hộ lợn nái còn có thể là
do viêm bàng quang có mủ gây ra.Khi lợn nái măng thai, cổ tử cung sẽ đóng rấtchặt vì vậy nếu có mủ chảy ra thì có thể là do viêm bàng quang Nếu mủ chảy ởthời kỳ động đực thì có thể bị nhầm lẫn
Như vậy, việc kiểm tra mủ chảy ra ở âm hộ chỉ có tính chất tương đối Vớimột trại có nhiều biểu hiện mủ chảy ra ở âm hộ, ngoài việc kiểm tra mủ nên kếthợp xét nghiệm nước tiểu và kiểm tra cơ quan tiết niệu sinh dục Mặt khác, nên kết
Trang 18hợp với đặc điểm sinh lý sinh dục của lợn nái để chẩn đoán cho chính xác
Mỗi thể viêm khác nhau biểu hiện triệu chứng khác nhau và có mức độ ảnhhưởng khác nhau tới khả năng sinh sản của lợn nái Để hạn chế tối thiểu hậu quả doviêm tử cung gây ra cần phải chẩn đoán chính xác mỗi thể viên từ đó đưa ra phác
đồ điều trị tối ưu nhằm đạt được hiệu quả điều trị cao nhất, thời gian điều trị ngắnnhất, chi phí điều trị thấp nhất
Để chẩn đoán người ta dựa vào những triệu chứng điển hình ở cục bộ cơ quansinh dục và triệu chứng toàn thân Có thể dựa vào các chỉ tiêu ở bảng sau:
Bảng 2.1: Các chỉ tiêu chẩn đoán viêm tử cung
Các tiêu chí để
Viêm tương mạc
Tanh
Hồng,nâu đỏ
Tanh thối
Nâu rỉ sắt
Thối khắm
rõPhản ứng co
của cơ tử cung
Phản ứng co giảm
Phản ứng
co rất yếu
Phản ứng co mất hẳn
Bỏ ăn
Bỏ ăn mộtphần hoặc hoàntoàn
Bỏ ănhoàn toàn
Bỏ ănhoàn toàn Nguồn:
Trang 19* Đối với lợn nái sau khi đẻ có thể dựa trên cách tính điểm sau:
+ Số ngày chảy mủ, tính từ ngày đầu tới ngày thứ 5 sau khi sinh, 1 ngày = 1điểm
+ Bỏ ăn từ ngày đầu tới ngày thứ 5 sau khi sinh, 1 ngày = 1 điểm, nếu bỏ ănmột phần tính ½ điểm
+ Ngưỡng thân nhiệt để tính sốt và số ngày bị sốt là 39.80C, 1 ngày = 1 điểm
*Tổng số điểm được dùng để đánh giá mức độ nghiêm trọng của bệnh nhưsau:
+ Tổng số điểm dưới 1 điểm: không có vấn đề
+ Tổng số điểm từ 2 đến 5 điểm: mắc bệnh nhẹ đến trung bình
+ Tổng số điểm trên 6: bệnh nghiêm trọng
Tóm lại: chẩn đoán viêm tử cung cần rất cẩn thận, phải theo dõi thườngxuyên vì mủ chảy ra ở âm hộ chỉ mang tính chất thời điểm và có khi viêm tử cungnhưng không sinh mủ
2.2.4 Hậu quả của bệnh viêm tử cung
Tử cung là một trong những bộ phận quan trọng nhất trong cơ quan sinh dụccủa lợn nái, nếu tử cung xảy ra bất kỳ quá trình bệnh lý nào thì đều ảnh hưởng rấtlớn tới khả năng sinh sản của lợn mẹ và sự sinh trưởng, phát triển của lợn con.Đánh giá được hậu quả của viêm tử cung nên đã có rất nhiều nhà khoa họcnghiên cứu về bệnh và đưa ra các nhận xét có ý nghĩa rất lớn cho quá trình chẩnđoán, phòng và điều trị bệnh
Theo Trần Tiến Dũng, Dương Đình Long, Nguyễn Văn Thanh (2002) vàPGS.TS Trần Thị Dân (2004) khi lợn nái bị viêm tử cung sẽ dẫn tới một số hậu quảchính sau:
- Khi lợn bị viêm tử cung dễ dẫn tới sẩy thai
Lớp cơ trơn ở thành tử cung có đặc tính co thắt Khi mang thai, sự co thắt
Trang 20của cơ tử cung giảm đi dưới tác dụng của progesterone, nhờ vậy phôi có thể bámchặt vào tử cung.
Khi tử cung bị viêm cấp tính do nhiễm trùng, tế bào lớp nội mạc tử cung tiếtnhiều prostaglandin F2α (PGF2α), PGF2α gây phân huỷ thể vàng ở buồng trứng bằngcách bám vào tế bào của thể vàng để làm chết tế bào và gây co mạch hoặc thoái hoácác mao quản ở thể vàng nên giảm lưu lượng máu đi đến thể vàng Thể vàng bị pháhuỷ, không tiết progesterone nữa, do đó hàm lượng progesterone trong máu sẽ giảmlàm cho tính trương lực co của cơ tử cung tăng nên gia súc cái có chửa dễ bị sẩythai
- Lợn mẹ bị viêm tử cung bào thai cũng phát triển kém hoặc thai chết lưu
Lớp nội mạc của tử cung có nhiệm vụ tiết các chất vào lòng tử cung để giúpphôi thai phát triển Khi lớp nội mạc bị viêm cấp tính, lượng progesterone giảm nênkhả năng tăng sinh và tiết dịch của niêm mạc tử cung giảm, do đó bào thai nhậnđược ít thậm chí không nhận được dinh dưỡng từ mẹ nên phát triển kém hoặc chếtlưu
- Sau khi sinh con lượng sữa giảm hoặc mất hẳn sữa nên lợn con trong giaiđoạn theo mẹ thường bị tiêu chảy
Khi lợn nái bị nhiễm trùng tử cung, trong đường sinh dục thường có mặt của
vi khuẩn E.coli, vi khuẩn này tiết ra nội độc tố làm ức chế sự phân tiết kích thích tốtạo sữa prolactin từ tuyến yên, do đó lợn nái ít hoặc mất hẳn sữa Lượng sữa giảm,thành phần sữa cũng thay đổi nên lợn con thường bị tiêu chảy, còi cọc
- Lợn nái bị viêm tử cung mạn tính sẽ không có khả năng động dục trở lại
Nếu tử cung bị viêm mạn tính thì sự phân tiết PGF2α giảm, do đó thể vàng vẫntồn tại , vẫn tiếp tục tiết progesterone
Progesterone ức chế thuỳ trước tuyến yên tiết ra LH, do đó ức chế sự pháttriển của noãn bao trong buồng trứng, nên lợn nái không thể động dục trở lại được
Trang 21và không thải trứng được.
Theo Hội thú y Việt Nam (1995), ảnh hưởng rõ nhất trên lâm sàng mà ngườichăn nuôi và bác sỹ thú y nhận thấy ở lợn viêm tử cung lúc sinh đẻ là: chảy mủ,sốt, bỏ ăn Mặt khác, các quá trình bệnh lý xảy ra lúc sinh đẻ ảnh hưởng rất lớn tớinăng suất sinh sản của lợn nái sau này Tỷ lệ phối giống không đạt tăng lên ở đànlợn nái viêm tử cung sau khi sinh đẻ Hiện tượng viêm tử cung âm ỉ kéo dài từ lứa
đẻ trước đến lứa đẻ sau là nguyên nhân làm giảm độ mắn đẻ Mặt khác, viêm tửcung là một trong các nguyên nhân dẫ đến hội chứng MMA, từ đó làm cho tỷ lệ lợncon nuôi sống thấp Đặc biệt, nếu viêm tử cung kèm theo viêm bàng quang thì cònảnh hưởng tới hoạt động của buồng trứng
Qua đó ta thấy hậu quả của viêm tử cung là rất lớn, để tỷ lệ mắc bệnh giảm,người chăn nuôi phải có những hiểu biết nhất định về bệnh từ đó tìm ra biện pháp
để phòng và điều trị hiệu quả
2.2.5 Một số bệnh thường gặp ở đường sinh dục của lợn nái.
Trong số các bệnh ở đường sinh dục ở lợn nái, bệnh mà chúng ta thường gặpnhất bao gồn: viêm âm môn, tiền đình, âm đạo và bệnh ở tử cung
Viêm âm môn, tiền đình và âm đạo
Trong quá trình sinh đẻ, niêm mạc âm môn, tiền đình và âm đạo bị xây sát,tổn thương do bào thai hay do can thiệp các trường hợp đẻ khó Do trong quá trình
đỡ đẻ thao tác kỹ thuật không đúng, dụng cụ đỡ đẻ không vô trùng gây tổn thươngcác bộ phận sinh dục bên ngoài Ngoài ra bệnh có thể kế phát từ hiện tượng sẩythai, thai thối rữa trong tử cung hoặc từ bệnh sát nhau
Lúc đầu niêm mạc bộ phận bị viêm xung huyết nhẹ, có nhiều dịch thẩm xuất.Kiểm tra âm đạo bằng mỏ vịt, con vật không có phản xạ đau, không có triệu chứng
Trang 22toàn thân Con vật rặn vặt, đi đái rắt Nhiều dịch viêm lẫn tổ chức hoại tử màu trắngchảy ra ngoài.
2.3 MỘT SỐ HIỂU BIẾT VỀ THUỐC DÙNG ĐỂ PHÒNG VÀ ĐIỀU TRỊ BỆNH VIÊM TỬ CUNG TRÊN LỢN
2.3.1 Thuốc sát trùng:
Là những chất có tác dụng ức chế sự sinh trưởng và sinh sản của vi sinh vậthoặc giết chết vi khuẩn ở một nồng độ không làm ảnh hưởng đến mô bào vật chủ
Do đó chúng được sử dụng cho các mô bệnh để ngăn chặn sự nhiễm khuẩn Ngoài
ra còn có tác dụng tái tạo rất nhanh các mô tại chỗ sát trùng
1 số thuốc sát trùng thường dùng:
+ Rivanol 0,1-0,2%: diệt trùng mạnh, thậm chí mạnh hơn cả Phenol,Sublimat,
tác dụng mạnh cả trong môi trường có dịch mủ lẫn máu Thụt rửa dung dịch nàycho lợn sau đẻ có tác dụng phòng và chữa các bệnh đường sinh dục của gia súc cái.Cách dùng: Thụt rửa tử cung bằng dung dịch Rivanol 0,1-0,2% (2-5g pha 2 lítnước)
+ Han-iodine 5%: có tác dụng diệt khuẩn đặc biệt là các chủng vi khuẩn gây
bệnh ngoài da, vết thương như Staphylococci, Streptococci, Escherichia coli,
Proteus và Pseudomonas Cách dùng: pha 75ml Han-iodine 5% với 4 lít nước đem
thụt rửa tử cung 500ml/lần/con/ngày
2.3.2 Thuốc kháng sinh
- Khái niệm: Thuốc kháng sinh là các chất có nguồn gốc tự nhiên và các sản
phẩm cải biến chúng bằng con đường hóa học, có khả năng ức chế hoặc tiêu diệtcác vi sinh vật ngay ở nồng độ thấp ; ở liều điều trị, không hoặc ít độc với cơ thểvật chủ Một số còn còn có tác dụng ức chế sự phát triển của tế bào ung thư
Trang 23- Nguyên tắc dùng kháng sinh: Để phát sử dụng kháng sinh 1 cách hiệu quả
trong điều trị và hạn chế hiện tượng kháng thuốc cần tuân thủ các nguyên tắc sau:
Chỉ sử dụng kháng sinh khi có nhiễm khuẩn; Phải chọn đúng kháng sinh và đường
cho thuốc thích hợp; Phải sử dụng kháng sinh đúng liều lượng và đúng thời gianqui định; Phải biết các nguyên tắc chủ yếu về phối hợp kháng sinh.
- Một số thuốc thường dùng để điều trị bệnh viêm tử cung:
* Nhóm β – lactamin các thuốc hay sử dụng trong điều trị viêm tử cung:Penicillin tự nhiên, Penicillin G, Ampicillin và Amoxycillin điều trị viêm tử cung
do vi khuẩn Gram (+) và một vài vi khuẩn Gram (-) gây ra
* Kháng sinh nhóm Aminoglycosid (AG) gồm có Gentamycin, Kanamycin,Apramycin được dùng điều trị bệnh viêm tử cung do các vi khuẩn Gram (-), cáccầu khuẩn gây ra
- Streptomycin phối hợp với Penicillin có tác dụng hiệp đồng tốt để chống lạicác vi khuẩn Grm(+) và Gram(-) gây bệnh viêm tử cung
- Neomycin dùng điều trị viêm tử cung do vi khuẩn Gram (-) vàStaphylococcus cho hiệu quả cao
- Gentamycin ứng dụng điều trị viêm tử cung do vi khuẩn Gram (-) và các vikhuẩn yếm khí khác gây ra
2.3.3 Thuốc chống viêm
-Viêm là 1 phản ứng bảo vệ cơ thể Nhưng khi phản ứng viêm xảy ra quá trìnhquá mạnh thì phải dùng các thuốc chống viêm.Thuốc chống viêm là thuốc có tácdụng lên một khâu nào đó của quá trình viêm hoặc làm ngưng hẳn quá trình viêm
- Thuốc thường dùng: Dexamethasone là một loại thuốc corticoid do vỏ nangthượng thận tiết ra Có tác dung chống viêm, chống dị ứng và ức chế miễn dịch
2.3.4 Thuốc kích thích co bóp tử cung, thuốc tăng cường sức đề kháng
Trang 24-Thuốc kích thích co bóp tử cung:
+ Oxytocin: là thuốc có tác dụng làm tăng co bóp cơ tử cung cả về cường độ(độ mạnh của mỗi cơn co) cả về tần số (số cơn co trong một đơn vị thời gian), vìthế nó được gọi là thuốc “thúc đẻ”: làm tăng cơn co, thúc đẩy cuộc chuyển dạ cócơn co tử cung thưa và yếu Do đó thuốc có tác dụng điều trị 1 số bệnh như:cơ tử
cung co bóp yếu, điều trị sót nhau, viêm tử cung Về cách dùng: Có thể Tiêm bắp thịt, dưới da hoặc tĩnh mạch, với lợn nái tiêm liều từ 2- 4 ml.
+ Hanprost: Là thuốc dạng dung dịch tiêm, thuốc có tác dụnggiúp tiêu thểvàng tồn lưu, nhanh chóng phục hồi tử cung, rút ngắn thời gian động dục trở lại,tăng co bóp tử cung, tống sản dịch làm sạch tử cung, phòng nhiễm trùng tử cung,phòng viêm vú, viêm tử cung, nái khoẻ mạnh, tăng tiế sữa, tăng trọng lượng lợncon cai sữa Tiêm Han-prost 0.7ml/con tiêm 1 mũi duy nhất
- Thuốc tăng cường sức đề kháng:
Trong quá trình điều trị để tăng hiệu quả và rút ngắn thời gian khỏi bệnh ngoàiviệc sử dụng thuốc trị bệnh cần kết hợp sử dụng các thuốc thêm một số thuốc trợsức, trợ lực cho cơ thể giúp tăng cường sức đề khá, nhanh chóng phục hồi Một sốthuốc thường dùng :
+ NANOMIN : Thuốc có tác dụng hỗ trợ điều trị bệnh, trợ sức, trợ lực, cungcấp năng lượng tăng cường sức đề kháng chó gia súc mắc bệnh, vật nuôi suy nhược
cơ thể,kích thúc kém ăn
+ BIO-ADE+B.COMPLEX : Phòng ngừa và điều trị bệnh thiếu vitamin, tăng
cường sức đề kháng, giúp gia súc mau phục hồi khi mắc bệnh, kích thích tăng năng suất ở gia súc, gia cầm
+
Trang 25Phần III ĐỐI TƯỢNG,NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Đối tượng nghiên cứu