Ví dụ: Đèn xe máy là mộtứng dụng kĩ thuật của định luật ôm cho đoạn mạch nối tiếp và song song.- HĐNK của chúng tôi đề cập là một ứng dụng kĩ thuật của Vật lí chưađược đề cập tron
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Ngọc Hưng
HÀ NỘI - 2014
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành đề tài nghiên cứu khoa học này, ngoài sự nỗ lực của bản thân, tôi đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ nhiệt tình, chân thành từ thầy cô, bạn bè và người thân
Tôi xin chân thành cảm ơn các Thầy Cô giáo trong tổ Phương pháp dạy học bộ môn Vật lí, các Thầy Cô giáo Khoa Vật lí, phòng quản lí khoa học, các Thầy Cô giáo trường ĐHSP Hà Nội đã giúp tôi hoàn thành khóa học.
Với lòng biết ơn sâu sắc, tôi xin chân thành cảm ơn PGS.TS Nguyễn Ngọc Hưng, người thầy đã tận tình hướng dẫn và đóng góp những ý kiến quý
báu trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn Sở Giáo dục và Đào tạo TP Hà Nội, Sở Nội vụ TP Hà Nội, UBND TP Hà Nội đã tạo điều kiện cho tôi được tham gia và hoàn thành khóa học này.
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, Chi bộ, các thầy cô giáo trong tổ Khoa học tự nhiên 1 và các em học sinh của trường phổ thông Dân tộc nội trú Hà Nội đã tạo điều kiện và giúp đỡ tôi trong thời gian tham gia khóa học và trong đợt thực nghiệm sư phạm.
Cuối cùng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đối với gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã luôn là chỗ dựa tinh thần vững chắc, động viên, giúp đỡ tôi vượt qua mọi khó khăn để hoàn thành đề tài nghiên cứu của mình Đối với tôi, thực sự đã có được một trải nghiệm vô cùng quý báu.
Hà Nội, tháng 10 năm 2014
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Hồng Minh
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu của đề tài 2
3 Giả thuyết khoa học của đề tài 2
4 Đối tượng nghiên cứu của đề tài 2
5 Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài 2
6 Phương pháp nghiên cứu đề tài 3
7 Đóng góp của đề tài 3
8 Cấu trúc của luận văn 4
Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 5
1.1 Các hình thức dạy học Vật lí ở trường phổ thông 5
1.2 HĐNK Vật lí trong các hình thức dạy học Vật lí ở trường phổ thông 6
1.2.1 Vị trí, vai trò của HĐNK Vật lí 6
1.2.2 Các đặc điểm của HĐNK Vật lí 7
1.2.3 Nội dung của HĐNK Vật lí 8
1.2.4 Phương pháp dạy học ngoại khóa Vật lí 9
1.2.5 Các hình thức tổ chức HĐNK Vật lí 11
1.2.6 Quy trình tổ chức HĐNK Vật lí 12
1.3 Các con đường dạy học các ứng dụng kĩ thuật của Vật lí 14
1.3.1 Khái niệm về ứng dụng kĩ thuật của Vật lí 14
1.3.2 Dạy học các ƯDKT của Vật lí theo con đường thứ nhất 15
1.3.3 Dạy học các ƯDKT của Vật lí theo con đường thứ hai 16
1.3.4 Cách xác định con đường dạy học ƯDKT của Vật lí 18
1.3.5 Một số yêu cầu khi chế tạo và sử dụng các dụng cụ thí nghiệm về điện 20
1.4 Tính tích cực và năng lực sáng tạo của HS trong học tập 20
1.4.1 Tính tích cực của HS trong học tập 20
Trang 41.4.2 Năng lực sáng tạo của HS trong học tập 23
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 26
Chương 2: TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG NGOẠI KHÓA CỦA HS LỚP 9 TÌM HIỂU VỀ CÁC ĐÈN TRÊN XE MÁY 27
2.1 Nội dung kiến thức phần Điện học trong chương trình THCS 27
2.1.1 Kiến thức chương “Điện học” - Vật lí lớp 7 27
2.1.2 Kiến thức chương “Điện học” - Vật lí lớp 9 27
2.2 Mục tiêu dạy học chương “Điện học” lớp 9 28
2.2.1 Mục tiêu về kiến thức 28
2.2.2 Mục tiêu về kĩ năng 28
2.2.3 Mục tiêu về phát triển tư duy 29
2.3.4 Mục tiêu về thái độ 29
2.3 Tình hình dạy học ở trường THCS 29
2.3.1 Tình hình dạy của giáo viên 30
2.3.1 Tình hình học của học sinh 30
2.3.3 Nguyên nhân của tình hình dạy học 30
2.3.4 Những sai lầm của HS khi học các kiến thức chương “Điện học”, nguyên nhân và cách khắc phục 32
2.3.5 Giải pháp nâng cao chất lượng dạy học chương “Điện học” lớp 9 32
2.4 Tìm hiểu các đèn xe máy 33
2.5 Quy trình tổ chức HĐNK tìm hiểu về các đèn trên xe máy 44
2.5.1 Lựa chọn chủ đề ngoại khóa và mục tiêu của HĐNK 44
2.5.2 Lập kế hoạch HĐNK 45
2.6 Các công cụ đánh giá tính khả thi và hiệu quả của HĐNK 52
2.6.1 Mục tiêu của đánh giá 52
2.6.2 Các phương pháp đánh giá 52
2.6.3 Đánh giá trong HĐNK 53
2.6.4 Các hình thức đánh giá 54
2.6.5 Các tiêu chí đánh giá và phiếu đánh giá 54
Trang 5KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 59
Chương 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 60
3.1 Mục đích thực nghiệm sư phạm 60
3.2 Đối tượng thực nghiệm sư phạm 60
3.3 Thời gian thực nghiệm sư phạm 60
3.4 Phương pháp thực nghiệm sư phạm 60
3.5 Những thuận lợi và khó khăn của quá trình thực nghiệm sư phạm 61
3.5.1 Thuận lợi 61
3.5.2 Khó khăn 62
3.6 Kế hoạch thực nghiệm sư phạm 62
3.7 Kết quả thực nghiệm sư phạm 65
3.7.1 Phân tích diễn biến của HĐNK 65
3.7.2 Đánh giá kết quả thực nghiệm sư phạm 76
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 82
KẾT LUẬN 83
TÀI LIỆU THAM KHẢO 90 PHỤ LỤC
Trang 6CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Bảng tổng hợp các đặc điểm, chức năng của các đèn trên xe máy 34
Bảng 2.2 Các linh kiện trên xe máy và linh kiện tượng trưng 39
Bảng 2.3 Chế độ hoạt động của các đèn trên xe máy 43
Bảng 2.4 Hướng dẫn của GV khi HS gặp khó khăn 46
Bảng 2.5 Công việc và người hỗ trợ 51
Bảng 2.6 Tiêu chí đánh giá tính tích cực 54
Bảng 2.7 Tiêu chí đánh giá năng lực sáng tạo của nhóm 55
Bảng 2.8 Tiêu chí đánh giá sản phẩm cuối cùng qua buổi tổng kết HĐNK 56
Bảng 2.9 Tiêu chí đánh giá các thành viên trong nhóm 57
Bảng 3.1 Kế hoạch thực nghiệm sư phạm 63
Bảng 3.2 Các nhóm tham gia HĐNK 66
Bảng 3.3 Kết quả chung của các nhóm tham gia HĐNK 75
Bảng 3.4 Kết quả đánh giá tính tích cực của các nhóm khi tham gia HĐNK .79
Bảng 3.5 Kết quả đánh giá năng lực sáng tạo của các nhóm khi tham gia HĐNK 80
Trang 8DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1 Sơ đồ quy trình tổ chức HĐNK 14
Hình 2.1 Sơ đồ mạch điện các đèn trên xe máy 33
Hình 2.2 Diễn giải sơ đồ mạch điện các đèn trên xe máy 33
Hình 2.3 Mô hình các đèn trên xe máy mặt trước 42
Hình 2.4 Mô hình các đèn trên xe máy mặt sau 43
Hình 3.1 Sơ đồ mạch điện đèn pha, đèn cốt, đèn báo pha 69
Hình 3.2 Sơ đồ mạch điện đèn xi nhan 69
Hình 3.3 Sơ đồ mạch điện đèn sương, đèn hậu, đèn phanh 70
Hình 3.4 Đồ thị đánh giá kết quả của các nhóm tham gia HĐNK 76
Hình 3.5 Đồ thị đánh giá kết quả của cá nhân tham gia HĐNK 76
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Hiện nay, Bộ GD & ĐT nước ta đang tích cực mọi hoạt động nhằm đẩynhanh công cuộc đổi mới căn bản toàn diện GD & ĐT theo nghị quyết hội nghị
Trung ương 8 khóa XI: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo
hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức,
kĩ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc Tập trung dạy cách học, cách suy nghĩ, khuyến khích tự học tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kĩ năng, phát triển năng lực Chuyển từ học chủ yếu trên lớp sang tổ chức hình thức học tập đa dạng, chú ý các hoạt động
xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin
và truyền thông trong dạy và học” Cùng với chiến lược phát triển giáo dục giai
đoạn 2011 - 2020 ban hành kèm:“Tiếp tục đổi mới PPDH và đánh giá kết quả học
tập, rèn luyện hướng phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo và năng lực
tự học của người học” Việc đổi mới phương pháp giảng dạy theo hướng phát triển
kĩ năng của người học là rất cần thiết Để đáp ứng yêu cầu đó, người thầy cần áp
dụng linh hoạt nhiều phương pháp giảng dạy như: DH giải quyết vấn đề; DH theo
trạm; học dựa trên tìm tòi, khám phá khoa học; DH ngoại khóa…nhằm tích cực hóa
HS về hoạt động trí tuệ và rèn luyện năng lực giải quyết vấn đề gắn với những tìnhhuống của cuộc sống và nghề nghiệp, đồng thời gắn hoạt động trí tuệ với hoạt độngthực hành, thực tiễn Tăng cường việc học tập trong nhóm, tăng mối quan hệ giữathầy và trò theo hướng cộng tác có ý nghĩa nhằm phát triển năng lực xã hội
Qua điều tra thực tế, chúng tôi nhận thấy việc dạy và học hiện nay đã cónhững chuyển biến Tuy nhiên, dạy học nội khoá vẫn còn rất nặng nề, chưa kíchthích được sự hứng thú học tập và chưa phát triển được năng lực sáng tạo của họcsinh Do vậy, để đạt được mục tiêu đã đề ra của nền giáo dục, cần phải đa dạng hoácác hình thức tổ chức hoạt động học tập của học sinh, và cần phải khẳng định vaitrò quan trọng của hoạt động ngoài giờ lên lớp (hay hoạt động ngoại khoá(HĐNK)) Đây là một hình thức dạy học mang lại hiệu quả cao nhưng hiện nay
Trang 10chưa được chú trọng ở các trường phổ thông nước ta Nó không những giúp họcsinh củng cố các kiến thức đã học ở nội khoá mà còn giúp đào sâu, mở rộng kiếnthức, phát huy tính tích cực, sáng tạo của học sinh Đây là những điều mà nội khoálàm chưa tốt do điều kiện thời gian, phương tiện dạy học hay do sức ép thi cử.
Qua quá trình nghiên cứu sách giáo khoa vật lí 9, chúng tôi nhận thấy kiếnthức về Điện học có nhiều ứng dụng trong đời sống và kĩ thuật Việc tổ chức, hướngdẫn cho HS tìm hiểu chức năng các ứng dụng kĩ thuật liên quan đến kiến thức phầnĐiện học là rất cần thiết Các em được tiếp cận với máy móc thực tế, gắn lí thuyếtvới thực hành, nhằm kích thích nhu cầu học tập, tìm hiểu khoa học, tăng cườnghứng thú và phát huy năng lực sáng tạo của HS
Xe máy là một phương tiện giao thông rất phổ biến ở Việt Nam, trong đó cácloại đèn trên xe máy có vai trò quan trọng trong việc đảm bảo an toàn cho cả lái xe
và những người cùng tham gia giao thông Tuy HS phổ thông chưa được phép sửdụng, nhưng việc tìm hiểu về các loại đèn trên xe máy giúp trang bị các em cónhững kiến thức cần thiết để chuẩn bị bước vào đời Đây cũng là dịp củng cố cáckiến thức về Điện
Chính vì những lí do đó mà chúng tôi đã chọn đề tài: “Tổ chức hoạt động ngoại khóa của học sinh lớp 9 tìm hiểu về các đèn trên xe máy”.
2 Mục đích nghiên cứu của đề tài
Tổ chức hoạt động ngoại của HS lớp 9 tìm hiểu về các đèn trên xe máy theohướng phát huy tính tích cực và phát triển năng lực sáng tạo của học sinh
3 Giả thuyết khoa học của đề tài
Nếu HĐNK có nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức hợp lí thì có thểphát huy được tính tích cực và năng lực sáng tạo của học sinh
4 Đối tượng nghiên cứu của đề tài
HĐNK của HS lớp 9 tìm hiểu về các đèn trên xe máy
5 Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
- Nghiên cứu cơ sở lí luận về: HĐNK; tính tích cực và năng lực sáng tạo của
HS trong học tập
Trang 11- Nghiên cứu mục tiêu dạy học, chương trình, sách giáo khoa vật lí lớp 9, nội dung
cơ bản phần Điện học ở các lớp 7 và lớp 9 để lựa chọn nội dung ngoại khóa phù hợp
- Tìm hiểu thực trạng dạy học phần Điện học lớp 9 ở các trường THCShuyện Ba Vì - TP Hà Nội, đặc biệt việc tổ chức các HĐNK Từ đó, phát hiện ranhững sai lầm của học sinh mắc phải khi học phần Điện học
- Tìm hiểu cấu tạo, chức năng, nguyên tắc hoạt động và cách sử dụng các đèntrên xe máy Thiết kế, chế tạo mô hình chức năng của các đèn trên xe máy để từ đó
dự kiến phương pháp hướng dẫn HS lắp mạch điện các đèn trên xe máy
- Xây dựng quy trình tổ chức HĐNK của HS tìm hiểu về các đèn trên xe máy
- Thực nghiệm sư phạm quy trình tổ chức hoạt động ngoại khoá tìm hiểu vềcác đèn trên xe máy đã xây dựng
6 Phương pháp nghiên cứu đề tài
Để thực hiện các nhiệm vụ trên, đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứuchủ yếu sau:
- Nghiên cứu lí luận: Nghiên cứu các tài liệu về giáo dục học, lôgic học, phươngpháp nghiên cứu khoa học giáo dục, lí luận dạy học Vật lí…, đặc biệt là nghiên cứu líluận về HĐNK, tính tích cực, năng lực sáng tạo của học sinh trong học tập
- Nghiên cứu thử nghiệm: thiết kế, chế tạo mô hình chức năng về các đèntrên xe máy
- Nghiên cứu thực tiễn: điều tra, khảo sát thực trạng dạy học phần điện học ởmột số trường THCS
Trang 128 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các tài liệu tham khảo, luận văn gồm
3 chương:
Chương 1 Cơ sở lí luận
Chương 2 Tổ chức hoạt động ngoại của HS lớp 9 tìm hiểu về các đèntrên xe máy
Chương 3 Thực nghiệm sư phạm
Trang 13Chương 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
1.1 Các hình thức dạy học Vật lí ở trường phổ thông
Dạy học Vật lí ở trường phổ thông hiện nay thường dùng những hìnhthức: bài lên lớp (nội khóa), ngoại khóa và tự học ở nhà [15] Các hình thức trênđều có chung mục tiêu đó là giúp cho người hình thành những kiến thức và kĩnăng nhất định Tuy nhiên mỗi một hình thức dạy học có những đặc trưng cơ bản
cụ thể như sau:
- Bài lên lớp là hình thức dạy học cơ bản và phổ biến ở trường phổ thônghiện nay, nó có đặc trưng riêng là diễn ra trong một khoảng thời gian xác định (tiếthọc), tại một địa điểm xác định, với số lượng học sinh giới hạn, tương đối đồng đều
về tuổi tác và trình độ phát triển, trong đó có sự phối hợp chặt chẽ giữa GV và HS[26] GV giữ vai trò tổ chức, chỉ đạo còn HS là chủ thể của quá trình hoạt độngnhận thức Mỗi tiết học có mục tiêu chung cho toàn thể HS theo quy định củachương trình môn học
- Dạy học ngoại khóa là hình thức dạy học ngoài giờ lên lớp, bổ sung cho bàilên lớp làm cho quá trình dạy học thêm phong phú và đa dạng HĐNK kết hợp giữahọc tập và vui chơi, gắn hoạt động học tập với thực tiễn cuộc sống…[18] Nó không
bị giới hạn bởi không gian, thời gian và số lượng của HS tham gia mà tùy thuộc vàohứng thú, sở thích và nguyện vọng của mỗi HS trong khuôn khổ và điều kiện tổchức của nhà trường Nội dung ngoại khóa đa dạng, hấp dẫn, lôi cuốn HS tham gia.Đánh giá HĐNK không thông qua điểm mà thông qua sản phẩm HS làm được
- Tự học ở nhà là HS tự thực hiện nhiệm vụ học tập do GV giao cho Trongquá trình thực hiện nhiệm vụ ấy không có sự hướng dẫn của GV mà việc chiếm lĩnhkiến thức hoàn toàn do bản thân chủ thể người học GV đánh giá kết quả của việc tựhọc thông qua mức độ hoàn thành công việc của HS; nội dung tự học phong phú, đadạng trong khuôn khổ nội dung chương trình và tùy vào trình độ của HS được giaonhiệm vụ học tập
Trang 14Nhìn chung mỗi hình thức dạy học Vật lí có những đặc trưng cơ bản riêng,trong mỗi hình thức đó lại có nhiều cách tổ chức hoạt động cho HS Tùy vào mụcđích, nội dung dạy học và trình độ của HS mà GV có thể lựa chọn hình thức tổchức hoạt động sao cho phù hợp với HS Mỗi hình thức dạy học cũng có những ưuđiểm và khuyết điểm riêng nên đòi hỏi phải phối hợp hài hòa, khéo léo các hìnhthức tổ chức dạy học sao cho mang lại hiệu quả cao.
1.2 HĐNK Vật lí trong các hình thức dạy học Vật lí ở trường phổ thông
Mục tiêu dạy học Vật lí ở trường phổ thông hiện nay không nằm ngoài mụctiêu chung của giáo dục phổ thông Một trong những mục tiêu đó là phát huy tính tựgiác, tích cực và rèn luyện tư duy sáng tạo cho người học [2] Để hoàn thành tốtmục tiêu dạy học thì GV phải khéo léo lựa chọn phương pháp và hình thức dạy họcsao cho phù hợp Mỗi nội dung trong chương trình có thể phối hợp nhiều phươngpháp, nhiều hình thức dạy học có thể là nội khóa hay ngoại khóa cho HS
HĐNK Vật lí là một hoạt động ngoài giờ lên lớp có tổ chức, có kế hoạch và có
sự định hướng, được HS tiến hành theo nguyên tắc tự nguyện ở ngoài giờ nội khóadưới sự hướng dẫn của GV [25] Nó bổ sung cho giờ học nội khóa tạo hứng thú vàphát triển tư duy, rèn luyện kĩ năng, phát triển và mở rộng kiến thức Vật lí HĐNK vớinội dung, phương pháp dạy học và hình thức tổ chức phù hợp sẽ đáp ứng được cả bamục tiêu dạy học đó là: Kiến thức, kĩ năng, thái độ
1.2.1 Vị trí, vai trò của HĐNK Vật lí
HĐNK là một trong ba hình thức dạy học chủ yếu ở trường phổ thông hiệnnay HĐNK nói chung và HĐNK Vật lí nói riêng có vai trò rất quan trọng trongcông tác giáo dục ở nhà trường phổ thông, góp phần nâng cao chất lượng giáo dụctrên tất cả các mặt, cụ thể là:
- Về mặt kiến thức: HĐNK giúp HS ôn tập, đào sâu, mở rộng những kiếnthức đã học trong giờ nội khóa; bên cạnh đó còn giúp cho HS vận dụng những kiếnthức đã học để giải quyết những nhiệm vụ thiết thực trong thực tiễn, gắn lí thuyếtvới thực tiễn và khoa học kĩ thuật HS sẽ thấy hứng thú vì thấy những kiến thức đãhọc sống động, có ý nghĩa chứ không phải là kiến thức “chết” hoặc chỉ để phục vụcho mục đích kiểm tra và thi cử
Trang 15- Về mặt rèn luyện kĩ năng: HĐNK giúp cho HS được rèn luyện kĩ năng thiết
kế, chế tạo dụng cụ là ứng dụng kĩ thuật của Vật lí, kĩ năng chế tạo dụng cụ thínghiệm đơn giản, tiến hành thí nghiệm, rèn luyện kĩ năng làm việc theo nhóm, kĩnăng tổ chức, kĩ năng tự quản lí, kĩ năng điều khiển hoạt động nhóm Bên cạnh đó,HĐNK còn giúp cho HS phát triển kĩ năng thuyết trình, báo cáo một vấn đề cụ thể
- Về phát triển tư duy: HĐNK rèn luyện và phát triển năng lực tư duy củ HSnhư: tư duy logic, tư duy trừu tượng, tư duy sáng tạo, HĐNK còn góp phần pháttriển năng lực giải quyết vấn đề
- Về mặt giáo dục tinh thần, thái độ làm việc: HĐNK kích thích sự hứng thúhọc tập, khơi dậy niềm ham hiểu biết, tính tò mò thích khám phá thể hiện năng lựccủa bản thân, tính tích cực, tự lực, bồi dưỡng phong cách làm việc như nhà khoahọc Tóm lại, HĐNK có mục đích hỗ trợ cho hoạt động nội khóa, giúp hoàn thiệnnhân cách cho người học Nhờ đó, HĐNK góp phần quan trọng trong việc đào tạonguồn nhân lực có tính tích cực, tự lực cao và có khả năng sáng tạo trong công việc,đáp ứng được yêu cầu của nền giáo dục nước ta trong giai đoạn hiện nay
1.2.2 Các đặc điểm của HĐNK Vật lí
HĐNK nói chung và HĐNK Vật lí nói riêng có các đặc điểm cơ bản sau:
- Việc tổ chức các HĐNK phải được lập kế hoạch cụ thể cả về mục tiêu, nộidung, phương pháp dạy học, hình thức tổ chức, lịch hoạt động cụ thể và thời gianthực hiện
- Tổ chức HĐNK dựa trên tinh thần tự nguyện tham gia và sự hứng thú của
HS, dưới sự hướng dẫn của GV Do đó, HS sẽ yêu thích công việc, hoạt động cóhiệu quả và phát triển được năng lực của mình
- Số lượng HS tham gia không hạn chế, có thể tổ chức HĐNK theo nhómhoặc theo tập thể đông người Trong điều kiện cho phép, có thể huy động HS toàntrường tham gia, không phân biệt trình độ của HS
- Nội dung và hình thức tổ chức HĐNK phải đa dạng, phong phú, hấp dẫn đểlôi cuốn được nhiều HS tham gia
Trang 16- Việc đánh giá kết quả của các HĐNK của HS không phải bằng điểm sốthông qua các bài kiểm tra như trong các giờ nội khóa, mà thông qua tính tích cực,sáng tạo của HS và sản phẩm của quá trình hoạt động.
Ngoài ra, nội dung của HĐNK được đánh giá một cách công khai thông quacả GV và HS Để khích lệ quá trình hoạt động của HS thì cũng cần khích lệ các embằng những phần thưởng để động viên kịp thời
1.2.3 Nội dung của HĐNK Vật lí
Nội dung của HĐNK phải hỗ trợ, bổ sung cho hoạt động nội khóa Nội dungcủa ngoại khóa giúp cho HS củng cố, đào sâu kiến thức Vật lí đã học trong giờ nộikhóa, bổ sung những kiến thức lí thuyết hoặc khắc phục những khó khăn, sai lầm
mà HS thường mắc phải khi học trong giờ nội khóa, giúp cho HS hiểu rõ, biết liênkết khái quát hóa kiến thức đã được hình thành một cách rời rạc Ngoài ra, nội dungngoại khóa giúp cho HS tăng thêm lòng yêu thích, ham hiểu biết về Vật lí - kĩ thuật,Vật lí - đời sống, Vật lí - thiên văn,… phát triển tính độc lập, óc sáng tạo của HS,tạo điều kiện cho HS rèn luyện một số kĩ năng và kĩ xảo
Có thể kể đến một số nội dung HĐNK mà HS có thể thực hiện được như:
- Tìm hiểu thêm những kiến thức về Vật lí và kĩ thuật
- Nghiên cứu các lĩnh vực riêng biệt của Vật lí học, tìm hiểu những ứng dụngcủa Vật lí trong đời sống, kĩ thuật như, kĩ thuật điện, kĩ thuật vô tuyến điện, kĩ thuậtchụp ảnh, các ứng dụng của sóng siêu âm…
- Thiết kế, chế tạo và sử dụng các dụng cụ thí nghiệm đơn giản, các mô hìnhvật chất chức năng của thiết bị kĩ thuật
Để lựa chọn nội dung tổ chức HĐNK Vật lí phù hợp thì GV cần căn cứ vàonội dung kiến thức mà HS được học trong giờ nội khóa và tầm quan trọng của kiếnthức này trong đời sống, kĩ thuật cũng như mục tiêu dạy học về phần kiến thức đó
mà HS cần phải đạt được
Dựa trên lí luận về tổ chức HĐNK Vật lí và qua điều tra thực tiễn dạy học ởtrường THCS nơi chúng tôi đang công tác, chúng tôi thấy rằng: Khi học chương “Điệnhọc” ở trên lớp HS được làm thí nghiệm (cả trong bài lí thuyết và bài thực hành),
Trang 17nhưng không có các bài tìm hiểu về các ứng dụng kĩ thuật Ví dụ: Đèn xe máy là mộtứng dụng kĩ thuật của định luật ôm cho đoạn mạch nối tiếp và song song.
- HĐNK của chúng tôi đề cập là một ứng dụng kĩ thuật của Vật lí chưađược đề cập trong dạy học nội khóa đòi hỏi HS suy nghĩ, quan sát để tìm hiểu cấutạo, chức năng các đèn, thiết kế, chế tạo mô hình chức năng, hoạt động của cácđèn trên xe máy
Vì những lí do trên chúng tôi lựa chọn nội dung HĐNK về đề tài tìm hiểu cácđèn trên xe máy để khắc phục những mặt hạn chế của nội khóa
1.2.4 Phương pháp dạy học ngoại khóa Vật lí
Phương pháp dạy học ngoại khóa Vật lí mang tính mềm dẻo, không cứngnhắc, phụ thuộc vào nội dung của HĐNK và trình độ HS Cũng giống như trong dạyhọc nội khóa, trong dạy học ngoại khóa, việc hướng dẫn của GV cũng theo các kiểuđịnh hướng: Định hướng tìm tòi, định hướng khái quát chương trình hóa, địnhhướng tái tạo Các bước thực hiện như sau: Ban đầu GV định hướng HS tìm tòi, tựtìm ra cách áp dụng các kiến thức, kĩ năng để giải quyết các nhiệm vụ đặt ra Nếu
HS không đáp ứng được yêu cầu thì GV định hướng khái quát chương trình hóa,gợi ý thêm cho HS Nếu như HS vẫn không thực hiện được nhiệm vụ thì GVchuyển dần sang kiểu định hướng tái tạo angôrit
a) Định hướng tìm tòi
Là kiểu hướng dẫn mà người dạy không chỉ ra cho HS một cách tường minhcác kiến thức và cách hoạt động cần áp dụng, mà người dạy chỉ đưa ra những gợi ýmang tính tổng quát để HS có thể tìm tòi, huy động hoặc xây dựng những kiến thức
và cách thức hoạt động thích hợp để giải quyết nhiệm vụ mà họ đảm nhận, tức làđòi hỏi HS phải tự xác định được kế hoạch hành động trong tình huống đang xét
b) Định hướng khái quát chương trình hóa
Đó là kiểu hướng dẫn trong đó người dạy cũng gợi ý cho HS tìm tòi nhưkiểu định hướng tìm tòi nói trên, nhưng giúp cho HS ý thức được lối khái quátcủa việc tìm tòi giải quết vấn đề và sự định hướng được chương trình hóa theocác bước dự định hợp lí, theo yêu cầu từ cao đến thấp đối với HS: Từ tổng quát,
Trang 18tổng thể, toàn bộ đến riêng biệt, chi tiết, bộ phận sao cho thực hiện được mộtcách hiệu quả các yêu cầu.
Người dạy phải thực hiện từng bước việc hướng dẫn HS tự lực giải quyết vấnnhiệm vụ mà họ đảm nhận
- Sự định hướng ban đầu đòi hỏi HS tự lực tìm tòi giải quyết vấn đề
- Nếu HS không đáp ứng được thì sự giúp đỡ tiếp theo của GV là sự phát triểnđịnh hướng khái quát ban đầu (gợi ý thêm, cụ thể hóa, chi tiết hóa thêm một bước) đểthu hẹp hơn phạm vi, mức độ cần phải tìm tòi giải quyết cho vừa sức với HS
- Nếu HS vẫn không đáp ứng được thì sự hướng dẫn của GV chuyển dầnsang kiểu định hướng tái tạo, mà trước tiên là kiểu định hướng angorit (hướng dẫntrình tự các hành động, thao tác hợp lí) để theo đó HS tự giải quyết vấn đề đã đặt ra
- Trong trường hợp HS vẫn không đáp ứng được thì mới thực hiện sự hướngdẫn tái tạo đối với mỗi hành động, thao tác cụ thể riêng biệt của trình tự hành động,thao tác đó
c) Định hướng tái tạo
Đó là kiểu định hướng trong đó GV hướng HS vào việc huy động, áp dụngnhững kiến thức, cách thức hoạt động HS đã nắm được hoặc đã được GV chỉ ra mộtcách tường minh, để HS có thể thực hiện được nhiệm vụ mà họ có thể đảm nhận.Nghĩa là HS chỉ cần tái tạo những hành động đã được GV chỉ rõ hoặc những hànhđộng trong các tình huống đã quen thuộc với HS
Sự định hướng tái tạo có thể phân biệt hai trình độ khác nhau đối với hànhđộng đòi hỏi ở HS Đó là:
- Định hướng tái tạo từng thao tác cụ thể riêng rẽ: Trong kiểu định hướngnày người học sẽ theo dõi, thực hiện bắt chước lặp lại theo thao tác mẫu cụ thể do
Trang 19dạng những nhiệm vụ học tập, sau đó yêu cầu HS thảo luận nhóm để tìm cách giảiquyết nhiệm vụ được giao Nếu HS khó khăn thì GV gợi ý thêm, cụ thể hóa nhiệm
vụ hơn để thu hẹp phạm vi tìm tòi, nghiên cứu và vừa sức hơn với HS
Việc hướng dẫn HĐNK khác với dạy học nội khóa ở chỗ:
Ở nội khóa, nếu HS gặp khó khăn không trả lời được câu hỏi GV đưa ra thì
GV có thể ngay lập tức thu hẹp phạm vi nghiên cứu dần sao cho vừa sức với HS.Nếu HS vẫn không đáp ứng được thì hướng dẫn của GV chuyển dần sang định hướngtái tạo đối với hành động đó, thao tác đó
Ở dạy học ngoại khóa thì không như vậy, nếu HS gặp khó khăn trong việcthực hiện nhiệm vụ được giao, do có nhiều thời gian nên GV có thể cho HS về nhàsuy nghĩ tiếp trong vài ngày thì HS có thể tự giải quyết được khó khăn đó Nếu HSvẫn khó khăn thì GV gợi ý tiếp mà không sử dụng phương pháp tái tạo ngay từ đầu
1.2.5 Các hình thức tổ chức HĐNK Vật lí
Việc phân chia các hình thức tổ chức HĐNK chỉ mang tính chất tương đối Cóthể phân chia theo số lượng HS tham gia, cũng có thể phân chia theo nội dung ngoạikhóa hoặc theo thời gian và địa điểm diễn ra HĐNK… Các hình thức tổ chức HĐNKthông thường nhất ở trường phổ thông hiện nay là:
HĐNK ở trường như: Hội thi Vật lí, Hội vui Vật lí, chuyên đề Vật lí, tổ chức
câu lạc bộ Vật lí, viết báo về nội dung Vật lí…
HĐNK ở nhà: Tham gia thiết kế chế tạo đồ dùng học tập và làm thí nghiệm
với các đồ dùng vừa chế tạo
HĐNK ở nơi khác: Tham quan công trình kĩ thuật có ứng dụng công nghệ
liên quan đến kiến thức Vật lí: thăm quan các xưởng sản xuất, các khu công nghiệp,các nhà máy thủy điện…
Dựa vào tình hình thực tế dạy học chương Điện học ở lớp 9, chúng tôi thấyrằng: thời lượng dạy học nội khóa eo hẹp, cần có thời gian cho HS tìm hiểu cấu tạo,chức năng, hoạt động của đèn xe máy nên việc hướng dẫn HS tìm hiểu cấu tạo, chứcnăng, hoạt động của đèn xe máy được thực hiện trong HĐNK
Trang 201.2.6 Quy trình tổ chức HĐNK Vật lí.
Kết quả của HĐNK Vật lí phụ thuộc rất nhiều vào việc lập kế hoạch và tổchức hoạt động của GV Vật lí Qua nghiên cứu và tìm hiểu, chúng tôi thấy việc tổchức HĐNK về Vật lí cho HS có thể thực hiện theo các bước sau:
Bước 1: Lựa chọn chủ đề ngoại khóa
Căn cứ vào nội dung chương trình, mục tiêu dạy học và tình hình thực tế củadạy học nội khóa bộ môn, đặc điểm của HS và điều kiện của nhà trường, GV lựachọn chủ đề ngoại khóa cần tổ chức Việc lựa chọn này phải rõ ràng để có tác dụngđịnh hướng tâm lí và kích thích sự tích cực của HS ngay từ đầu
Bước 2: Lập kế hoạch ngoại khóa
Khi lập kế hoạch ngoại khóa thì GV cần phải xây dựng các nội dung sau: mụctiêu về kiến thức; mục tiêu về kĩ năng và yêu cầu phát triển năng lực, trí tuệ; mụctiêu thái độ, tình cảm
- Xây dựng nội dung ngoại khóa dưới dạng những nhiệm vụ học tập cụ thể
- Dự kiến phương pháp dạy học, đặc biệt là các tình huống có thể xảy ra vàcách giải quyết
- Dự kiến hình thức tổ chức HĐNK
- Dự kiến những công việc có thể nhờ đến sự giúp đỡ của các lực lượng giáodục khác
- Dự kiến thời gian, địa điểm tổ chức
Bước 3: Tiến hành HĐNK theo kế hoạch
Khi tổ chức HĐNK theo kế hoạch, GV cần phải chú ý những nội dung sau:
- Luôn theo dõi HS thực hiện các nhiệm vụ để có những hướng dẫn kịp thời,đặc biệt là những tình huống phát sinh ngoài dự kiến, kịp thời điều chỉnh những nộidung diễn ra không đúng kế hoạch
- Đối với những hoạt động diễn ra ở quy mô lớn như lớp, khối thì GV đóngvai trò là người tổ chức, điều khiển các hoạt động Đồng thời GV cũng là trọng tài
để tổ chức cho HS tham gia tranh luận hay bảo vệ những ý kiến của mình về nhữngnội dung HĐNK
Trang 21- Đối với những hoạt động diễn ra quy mô nhỏ như trong tổ, nhóm HS thìcần để cho HS hoàn toàn tự chủ cả việc tổ chức và nhiệm vụ được giao, GV chỉ cóvai trò hướng dẫn khi HS gặp khó khăn không xử lí được.
Bước 4: Tổ chức cho HS báo cáo kết quả, rút kinh nghiệm, khen thưởng
Sau mỗi đợt tổ chức HĐNK thì GV phải đánh giá, rút kinh nghiệm để điềuchỉnh nội dung, phương pháp, hình thức cho hợp lí để tổ chức những đợt ngoại khóasau đạt kết quả cao
Việc đánh giá HĐNK không giống như trong nội khóa, mà phải đánh giáthông qua cả quá trình hoạt động GV đánh giá hiệu quả thông qua sự tích cực, sựhứng thú, sự sáng tạo của HS và cả những kết quả mà HS đạt được trong quá trìnhhoạt động Sản phẩm của quá trình hoạt động là một căn cứ quan trọng để đánh giá
Do vậy, GV cần tổ chức cho HS trao đổi, tranh luận đánh giá trên sản phẩm đã tạo
ra được trong quá trình HĐNK Mặt khác, việc làm này còn có tác dụng trong việckhích lệ, động viên tinh thần tích cực học tập của HS về sau
Quy trình HĐNK trên có thể đem lại hiệu quả cao nếu GV biết vận dụng tốtcác điều kiện và tổ chức hợp lý các hoạt động của HS Tuy nhiên, trong quá trìnhthực hiện thì GV cần phải căn cứ vào tình hình thực tế của nhà trường, HS và cácyêu cầu giáo dục của bộ môn mà vận dụng quy trình trên một cách mềm dẻo saocho quá trình HĐNK đạt hiệu quả cao nhất
Trang 22Hình 1.1 Sơ đồ quy trình tổ chức HĐNK
1.3 Các con đường dạy học các ứng dụng kĩ thuật của Vật lí
1.3.1 Khái niệm về ứng dụng kĩ thuật của Vật lí.
Ứng dụng kĩ thuật (ƯDKT) của Vật lí được hiểu là tất cả các phương tiệnvật chất, thiết bị máy móc có tính năng, tác dụng nhất định do con người chế tạo và
sử dụng nhằm thỏa mãn các nhu cầu xác định của mình (đáp ứng được những yêucầu nhất định, giải quyết được một nhiệm vụ cụ thể nào đó trong sản xuất và trongđời sống) mà nguyên tắc hoạt động của chúng dựa trên các kiến thức các kháiniệm, định luật, hiệu ứng, nguyên lí của Vật lí [4]
ƯDKT của Vật lí là một trong những nội dung dạy học của Vật lí ở trườngphổ thông Đề cập các ƯDKT của Vật lí trong dạy học Vật lí là đề cập đến mụcđích sử dụng, nguyên tắc cấu tạo và hoạt động về mặt Vật lí của thiết bị kĩ thuật màkhông chú ý nhiều đến chi tiết, những giải pháp kĩ thuật nhằm nâng cao hiệu quảcủa thiết bị kĩ thuật
Dạy học các ƯDKT của Vật lí được tiến hành theo hai con đường: Tìm hiểubản thân thiết bị kĩ thuật, nguyên tắc hoạt động của nó và đi tới làm sáng tỏ cơ sởVật lí của thiết bị kĩ thuật (con đường 1), hoặc hướng dẫn HS dựa trên những kiếnthức, kĩ năng đã có, thiết kế, chế tạo thiết bị kĩ thuật có một chức năng nào đó (đáp
Trang 23ứng được một yêu cầu kĩ thuật xác định), giải quyết một nhiệm vụ cụ thể trong sảnxuất và đời sống (con đường 2).
1.3.2 Dạy học các ƯDKT của Vật lí theo con đường thứ nhất
Việc dạy học các ƯDKT theo con đường thứ nhất thực chất là giải thích bàitoán “hộp trắng” Biết cấu tạo bên trong của hộp, hiểu tác động đầu vào và kết quảcủa đầu ra, giải thích vì sao đầu vào thế này nhờ thiết bị lại có đầu ra như vậy Sựgiải thích dựa vào các định luật Vật lí đã biết, để đưa ra được lời giải thích đúng đắnthì trước hết cần làm rõ được “điều cần giải thích”, nghĩa là phát hiện được chínhxác những điều kiện tác động đầu vào, hiện tượng xuất hiện ở đầu ra, rồi tìm nhữngđịnh luật, qui tắc Vật lí chi phối quá trình biến đổi bên trong đối tượng kĩ thuật từđầu vào đến đầu ra [4]
Các giai đoạn của dạy học các ƯDKT của Vật lí theo con đường thứ nhất(có 4 giai đoạn)
Giai đoạn 1: Đề xuất vấn đề cần nghiên cứu:
Xác định nhiệm vụ, chức năng của thiết bị kĩ thuật Tìm hiểu xem thiết bị kĩthuật có cấu tạo và nguyên tắc hoạt động như thế nào mà đáp ứng nhiệm vụ (chứcnăng) đó
Giai đoạn 2: Nghiên cứu cấu tạo, chức năng các bộ phận của thiết bị kĩ
thuật, mối liên hệ giữa chúng để giải thích nguyên tắc hoạt động của thiết bị kĩthuật, đưa ra mô hình hình vẽ của thiết bị kĩ thuật
- Quan sát bên trong thiết bị kĩ thuật và cho nó vận hành để xác định tácdụng ở đầu vào, kết quả thu được ở đầu ra
- Tìm hiểu cấu tạo bên trong của thiết bị kĩ thuật, xác định các bộ phận chính,cấu tạo và chức năng của từng bộ phận chính, mối liên kết giữa các bộ phận nàytrong việc tạo ra quá trình hoạt động khi thiết bị kĩ thuật vận hành (ở đây, có thể sửdụng các hình vẽ để bổ dọc, bổ ngang thiết bị kĩ thuật, và nếu được, khi cần thiết,tháo rời dần các bộ phận của thiết bị kĩ thuật)
- Từ cấu tạo, sự vận hành của thiết bị kĩ thuật phát hiện ra những mối liên hệ cótính quy luật các định luật, nguyên lí Vật lí) đã biết tồn tại trong thiết bị kĩ thuật, giúpgiải thích được nguyên tắc hoạt động của thiết bị kĩ thuật
Trang 24- Đưa ra mô hình hình vẽ của thiết bị kĩ thuật chỉ chứa những bộ phận chính
và minh họa được nguyên tắc hoạt động của thiết bị kĩ thuật
Giai đoạn 3: Chế tạo và vận hành mô hình vật chất - chức năng để minh họa
nguyên tắc hoạt động đã xác định của thiết bị kĩ thuật
- Dựa vào mô hình hình vẽ thiết kế, chế tạo mô hình vật chất - chức năng củathiết bị kĩ thuật
- Vận hành mô hình vật chất - chức năng để chỉnh sửa, bổ sung mô hình vậtchất - chức năng đã chế tạo và minh họa nguyên tắc hoạt động của thiết bị kĩ thuật
Giai đoạn 4: Nêu thêm chức năng của các bộ phận khác trong thiết bị kĩ
thuật để làm tăng thêm hiệu quả của thiết bị kĩ thuật Khác với trước đây, dạy họctheo con đường này cũng cần phải hướng dẫn HS dựa vào mô hình hình vẽ chỉ chứanhững bộ phận chính của thiết bị kĩ thuật, thiết kế, chế tạo và vận hành sao chominh họa được nguyên tắc hoạt động của thiết bị kĩ thuật mà HS đã xác định đượctrong giai đoạn 3
Thiết bị kĩ thuật thực ngoài những bộ phận chính được mô tả như mô hìnhvật chất - chức năng ở giai đoạn 3 thì còn rất nhiều bộ phận khác cũng rất quantrọng Vì vậy sau khi vận hành mô hình vật chất - chức năng, cho mô hình vận hành
để minh họa nguyên tắc hoạt động đã xác định của thiết bị kĩ thuật thì cần nêu thêmchức năng các bộ phận khác của thiết bị kĩ thuật thực qua đó HS biết sâu về giảipháp kĩ thuật khi được sử dụng khi thiết kế chế tạo thiết bị kĩ thuật thực, hiểu rõ vềnguyên lí cấu tạo và nguyên tắc vận hành của thiết bị kĩ thuật
1.3.3 Dạy học các ƯDKT của Vật lí theo con đường thứ hai
Con đường này thực chất là đặt ra nhiệm vụ cho HS tìm tòi, phát minh lạimột thiết bị máy móc dùng trong kĩ thuật, là yêu cầu HS giải một bài toán sáng tạo
Cơ sở đề xuất vấn đề nghiên cứu đối với con đường dạy học này là từ kiến thức, kĩnăng (khái niệm, định luật, quy tắc, nguyên lí) vật lí đã biết cần sử dụng để chế tạomột thiết bị kĩ thuật có chức năng nhất định
Trong quá trình vận dụng kiểu dạy học giải quyết vấn đề để dạy học cáckiến thức ứng dụng kĩ thuật của Vật lí theo con đường thứ hai, chúng tôi đã cụ thể
Trang 25hóa thành 4 giai đoạn Tuy nhiên, không phải tất cả các HS đếu thực hiện cả 4 giaiđoạn mà tùy thuộc vào khả năng HS và đặc điểm của từng thiết bị kĩ thuật, GV sẽyêu cầu HS thực hiện những giai đoạn và ở mức độ nào trong từng giai đoạn Tiếntrình xây dựng kiến thức về ứng dụng kĩ thuật theo con đường thứ hai trải qua cácgiai đoạn sau:
Giai đoạn 1: Đề xuất vấn đề cần nghiên cứu: Sau khi HS đã nghiên cứu một
kiến thức, kĩ năng Vật lí (khái niệm, định luật, quy tắc, nguyên lí) nào đó GV hay
HS đặt ra vấn đề “Thiết kế, chế tạo một thiết bị kĩ thuật có một chức năng nào đó”.Việc làm nảy sinh vấn đề cần nghiên cứu cũng có thể xảy ra hai hướng:
+ Nếu HS khá thì có thể đặt ra nhiệm vụ có thể thiết kế, chế tạo một thiết bị
kĩ thuật có một chức năng nào đó
+ Trường hợp thứ hai là GV nêu luôn vấn đề cần nghiên cứu.
Giai đoạn 2: Thiết kế phương án chế tạo thiết bị kĩ thuật.
- Xác định những kiến thức Vật lí (khái niệm, định luật, nguyên lí) đã biếtcần vận dụng để chế tạo thiết bị kĩ thuật
- Đề xuất các phương án thiết kế khác nhau thể hiện qua mô hình hình vẽthiết bị kĩ thuật
- Lựa chọn các phương án thiết kế khả thi thiết bị kĩ thuật
Giai đoạn 3: Chế tạo, vận hành mô hình vật chất - chức năng của thiết bị
kĩ thuật
- Dựa trên các phương án thiết kế khả thi thiết bị kĩ thuật đã lựa chọn, chế tạocác mô hình vật chất - chức năng của thiết bị kĩ thuật Việc chế tạo các mô hình vậtchất - chức năng của thiết bị kĩ thuật tùy vào trường hợp cụ thể, khả năng của HS vàđiều kiện có thể HS chế tạo hoàn chỉnh mô hình vật chất - chức năng hay chỉ chếtạo một số bộ phận hay có thể không tham gia chế tạo
- Vận hành các mô hình vật chất chức năng kiểm tra tính hợp lí đúng đắncủa các phương án thiết kế đã lựa chọn, tiếp tục bổ sung, chỉnh sửa mô hình vật
- chức năng
Trang 26- Vận hành các mô hình vật chất - chức năng để kiểm tra tính đúng đắn, hợp
lí của các phương án thiết kế đã lựa chọn, bổ sung, chỉnh sửa các mô hình vật chất chức năng
-Giai đoạn 4: Bổ sung, hoàn thiện mô hình vật chất - chức năng về phương
diện kĩ thuật, phù hợp với thiết bị kĩ thuật trong thực tế
- Nêu rõ các điểm bổ sung, hoàn thiện thêm của thiết bị kĩ thuật trong thực tế sovới mô hình vật chất - chức năng để làm tăng hiệu quả của thiết bị kĩ thuật
- Xem các mô hình hình ảnh về thiết bị kĩ thuật, tìm hiểu thiết bị thật để hiểubiết đầy đủ hơn về thiết bị kĩ thuật
- Tóm tắt lại chức năng, nguyên tắc cấu tạo, hoạt động của thiết bị kĩ thuật
- Trong một số trường hợp, có thể yêu cầu HS chế tạo thiết bị kĩ thuậtđơn giản
Ngoài những bộ phận chính như mô hình như mô hình vật chất - chức năngđược chế tạo và đưa vào đưa vào vận hành ở giai đoạn 3 thì thiết bị kĩ thuật thựctrong thực tế có nhiều bộ phận khác có vai trò rất quan trọng về phương diện kĩthuật để tăng hiệu quả hoạt động của thiết bị kĩ thuật đó Việc bổ sung hoàn thiện
mô hình vật chất - chức năng về phương diện kĩ thuật phù hợp với thiết bị kĩ thuậtthực GV phải thực hiện
1.3.4 Cách xác định con đường dạy học ƯDKT của Vật lí
Dạy học ứng ƯDKTcủa Vật lí là nội dung đặc thù của dạy học theoHĐNKđược vận dụng trong dạy học Vật lí ở trường phổ thông, mà sản phẩm do HStạo ra là các mô hình minh họa nguyên tắc hoạt động của các thiết bị kĩ thuật [6] Ví
dụ các mô hình về ứng dụng kĩ thuật của dòng điện Fu-cô, mô hình phanh điện từ,tốc kế, bếp điện từ hoặc chính là các thiết bị kĩ thuật đơn giản: ví dụ các thiết bịnhiệt đơn giản sử dụng năng lượng mặt trời
Để dạy học ứng dụng kĩ thuật của Vật lí có hiệu quả thì sau khi xác địnhđược các ứng dụng kĩ thuật mà HS cần phải nghiên cứu thì trước hết GV phải lựachọn được những ứng dụng kĩ thuật nào có thể tổ chức dạy học theo con đường thứnhất và những ứng dụng kĩ thuật nào có thể tổ chức dạy học theo con đường thứ hai
là hết sức quan trọng
Trang 27Trong quá trình nghiên cứu và vận dụng kiểu dạy học giải quyết vấn đề đểdạy học các ứng dụng kĩ thuật, chúng ta cần dựa vào một số dấu hiệu về đặc điểmcủa thiết bị kĩ thuật là ứng dụng kĩ thuật của Vật lí giúp GV lựa chọn con đường dạyhọc ứng dụng kĩ thuật đó [15].
Dạy học theo con đường thứ nhất khi: Thiết bị kĩ thuật thực có đặc điểm
là rất phổ biến tuy nó được sử dụng rộng rãi, quen thuộc trong đời sống nhưng
nó lại có cấu tạo phức tạp và gồm nhiều bộ phận, các bộ phận liên kết với nhauchặt chẽ khó tháo rời Ví dụ: Máy biến áp, công tơ điện, đàn ghi ta điện…
Dạy học theo con đường thứ hai khi: Thiết bị kĩ thuật thực được sử dụng rộng rãi
và có cấu tạo khá đơn giản
Ngoài ra có một số ứng dụng kĩ thuật thì có thể kết hợp cả hai con đường dạyhọc 1 và 2
Theo lí luận dạy học hiện đại, dạy học các ƯDKT của Vật lí nếu diễn ra theocon đường 2 thì có tác dụng lớn đối với việc phát triển năng lực sáng tạo của HS,tuy nhiên đối với các thiết bị kĩ thuật có cấu tạo phức tạp, việc yêu cầu HS ngay từđầu thiết kế, chế tạo dù chỉ là mô hình vật chất - chức năng, nguyên tắc cấu tạo,hoạt động của chúng là đòi hỏi cao, quá khó với HS nên chọn dạy học các ƯDKTnày theo con đường 1 Ngay cả ở con đường này, việc tách bóc thiết bị kĩ thuật đểnhận ra được những bộ phận chính, phát hiện được các mối liên hệ vật lí tồn tạitrong thiết bị kĩ thuật cũng có tác dụng phát triển tư duy khoa học - kĩ thuật của HS.Ngoài ra, HS cũng có nhiều cơ hội để phát triển năng lực sáng tạo ở giai đoạn 3 củacon đường này
Đối với đề tài này chúng tôi thấy rằng: Các đèn trên xe máy là một ứngdụng kĩ thuật của Vật lí khá phổ biến, bởi 70% người dân Việt Nam sử dụngphương tiện giao thông là xe máy (theo thống kê năm 2012) Nhìn tổng thể sơ đồmạch điện trong xe máy phức tạp, các dây dẫn thường được bó thành bó, cuộnchặt Nhưng thực chất chúng chỉ mắc nối tiếp hoặc song song với nhau Để hạnchế việc ngắt mạch khi một bóng đèn hỏng ảnh hưởng tới cả mạch, nên chúngthường mắc song song Để phù hợp với năng lực HS, chúng tôi yêu cầu HS tìmhiểu theo cụm nhỏ từ 03 đến 06 đèn, sơ đồ mạch điện sẽ đơn giản HS không chỉ
Trang 28mắc các đèn theo đúng mạch mà phải trình bày, bố trí mạch điện sao cho gầngiống với thực tế để có cơ hội cho các em phát huy năng lực sáng tạo Do đóchúng tôi chọn dạy học theo con đường 1.
1.3.5 Một số yêu cầu khi chế tạo và sử dụng các dụng cụ thí nghiệm về điện
Khi chế tạo dụng cụ và tiến hành thí nghiệm với chúng, ngoài việc dụng cụchế tạo phải đảm bảo tuân theo đúng các định luật, nguyên lí vật lí ra còn phải đảmbảo tính an toàn tuyệt đối nhất là các dụng cụ đó lại do HS chế tạo, tiến hành thínghiệm với nó ở nhà
Vì vậy, khi giao cho HS lắp mạch điện đèn xe máy, chúng tôi lưu ý HSnhững điểm sau:
- Các thao tác thực hiện đảm bảo đúng kĩ thuật (GV hướng dẫn HS thực hiệncác thao tác)
- Các dây nối phải được cách điện hoàn toàn
- Các bộ phận phải có, vỏ bọc tránh rò rỉ điện
- Các mối nối phải chắc chắn và cố định
- Lựa chọn vật liệu phù hợp và đảm bảo các chỉ số kĩ thuật
- Các thí nghiệm HS làm ở nhà được chỉ định sử dụng với nguồn điện khôngđổi hiệu điện thế 3V - 24V để đảm bảo an toàn
- Cần kiểm tra lại sơ đồ mạch điện trước khi bật công tắc điện
1.4 Tính tích cực và năng lực sáng tạo của HS trong học tập
HĐNK là một hình thức dạy học có thể tạo điều kiện cho HS phát huyđược tính tích cực và phát triển được năng lực sáng tạo của mình [8] Để đánhgiá được hiệu quả của HĐNK trong việc phát huy tính tích cực và phát triểnnăng lực sáng tạo của HS thì cần phải nghiên cứu những đặc điểm và biểu hiệncủa chúng trong quá trình hoạt động của HS
1.4.1 Tính tích cực của HS trong học tập
a) Khái niệm về tính tích cực của HS
Tính tích cực trong học tập là một hiện tượng sư phạm biểu hiện ở sự cốgắng cao về nhiều mặt trong học tập [23] Học tập là một trường hợp riêng của nhận
Trang 29thức “một sự nhận thức làm cho dễ dàng đi được và được thực hiện dưới sự chỉ đạocủa GV” ( P.N.Erddoniev, 1974) [20] Vì vậy, nói tới tích cực học tập thực chất lànói đến tích cực của nhận thức Tính tích cực nhận thức là trạng thái hoạt động nhậnthức của HS, đặc trưng ở khát vọng học tập, cố gắng trí tuệ và nghị lực cao trongquá trình nắm vững kiến thức.
b) Các biểu hiện của tính tích cực trong học tập
Tính tích cực của HS trong học tập biểu hiện qua các hành động cụ thể như sau:
- HS tự nguyện tham gia vào các hoạt động học tập
- HS sẵn sàng, hồ hởi đón nhận các nhiệm vụ mà GV giao cho
- HS tự giác thực hiện các nhiệm vụ mà mình đã nhận mà không cần phải đểcho GV đôn đốc, nhắc nhở
- HS yêu cầu được giải đáp thắc mắc về những lĩnh vực còn chưa rõ
- HS mong muốn được đóng góp ý kiến với GV, với bạn bè những thông tinmới mẻ hoặc những kinh nghiệm ngoài sách vở, từ những nguồn khác nhau
- HS tận dụng những thời gian rỗi của mình để cố gắng hoàn thành công việc,hoặc hoàn thành công việc sớm hơn, hoặc xin nhận thêm nhiệm vụ…
- HS thường xuyên trao đổi, tranh luận với bạn bè để tìm phương án giải quyếtvấn đề, mong muốn được GV giúp đỡ, chỉ dẫn mà không nản chí khi gặp khó khăn
Ngoài ra, tính tích cực học tập của HS trong hoạt động học tập cũng nhưtrong HĐNK còn có thể nhận thấy trong ý chí như: sự tập trung vào vấn đề đangnghiên cứu, kiên trì theo đuổi mục tiêu, không nản chí trước những khó khăn hoặcthái độ phản ứng trong những buổi học, buổi hoạt động nhóm là hào hứng, sôi nổihay chán nản, thờ ơ
Những biểu hiện trên đây của tính tích cực trong học tập của HS cũng lànhững căn cứ để chúng tôi đánh giá hiệu quả của HĐNK đối với việc phát huy tínhtích cực của HS trong thực nghiệm sư phạm
c) Các cấp độ của tính tích cực trong học tập của học sinh
Có thể phân biệt tính tích cực ở ba cấp độ khác nhau như sau:
Trang 30- Cấp độ 1 - bắt chước: HS tích cực bắt chước hoạt động của GV của bạn bè.Trong hành động bắt chước cũng phải có sự cố gắng của thần kinh và cơ bắp.
- Cấp độ 2 - tìm tòi: HS tìm cách độc lập giải quyết vấn đề, thử nhiều cáchkhác nhau để giải quyết hợp lí vấn đề
- Cấp độ 3 - sáng tạo: HS nghĩ ra cách giải quyết mới độc đáo hoặc cấutạo những nhiệm vụ mới, bài tập mới hay những thí nghiệm mới để chứng minhbài học
d) Những yếu tố thúc đẩy tính tích cực của HS trong học tập
Qua nghiên cứu và tìm hiểu chúng tôi thấy các yếu tố thúc đẩy tính tích cựccủa HS trong quá trình học tập đó là:
- Không khí học tập và các mối quan hệ trong nhóm, lớp
+ Nội dung, nhiệm vụ và các hoạt động phù hợp với mức độ phát triển của
HS; gần gũi với thực tế; đa dạng về hình thức; tạo điều kiện cho HS tự do sáng tạo
+ Môi trường học tập thân thiện, mang tính kích thích thể hiện thông qua
việc bố trí bàn ghế, trang trí trên tường, cách sắp xếp không gian lớp học, quan tâmtới sự thoải mái về tinh thần, không căng thẳng, không nặng nề, không gây phiềnnhiễu, có các hoạt động giải trí nhẹ nhàng, truyện vui, hài ước trong quá trình thựchiện nhiệm vụ
+ Hỗ trợ cá nhân một cách tích cực; tạo điều kiện cho HS giao tiếp, thể hiện
quan điểm, giá trị, ước mơ, chia sẻ kinh nghiệm… và hợp tác trong các hoạt độnghọc tập
- Sự phù hợp với mức độ phát triển của HS
+ Nhiệm vụ, các hoạt động học tập cần có sự phân hóa, quan tâm đến sự khác
biệt về nhịp độ học tập, trình độ phát triển giữa các đối tượng HS khác nhau
+ Có sự thỏa thuận cam kết rõ ràng về những mong đợi của thầy cô đối với
trò và ngược lại
+ Các yêu cầu đối với HS cần rõ ràng tránh mơ hồ, đa nghĩa.
+ Khuyến khích HS giúp đỡ lẫn nhau.
Trang 31+ Quan sát HS học tập để tìm ra phong cách và sở thích học tập của từng HS,
có sự hỗ trợ phù hợp, yêu cầu HS động não và hỗ trợ cá nhân, tạo điều kiện để HStrao đổi về nhiệm vụ học tập
- Sự gần gũi với thực tế
Nội dung nhiệm vụ học tập gắn với các mối quan tâm của HS và với thế giớithực tại xung quanh, tận dụng mọi cơ hội có thể HS tiếp xúc với vật thực, tìnhhuống thực, sử dụng các công cụ dạy học hấp dẫn (trình chiếu, video, tranh ảnh…)
để đưa HS lại gần gũi đời sống thực tế, giao nhiệm vụ vận dụng kiến thức, kĩ năngvào thực tế, khai thác các đề tài vượt ra ngoài giới hạn của môn học
- Mức độ và sự đa dạng của hoạt động
+ Trong các hoạt động học tập, hạn chế tối đa thời gian chết và thời gian chờ đợi + Tạo ra các thời điểm hoạt động và trải nghiệm tích cực.
+ Tích cực các hoạt động học mà chơi (chơi các trò chơi giáo dục), thay đổi
xen kẽ các hoạt động và nhiệm vụ học tập
+ Tăng cường các trải nghiệm thành công.
+ Tăng cường tham gia tích cực.
+ Đảm bảo hỗ trợ đúng mức.
+ Đảm bảo đủ thời gian thực hành.
+ Phạm vi tự do sáng tạo.
+ HS được tạo điều kiện lựa chọn hoạt động theo sở thích.
+ HS được tham gia xây dựng kế hoạch và đánh giá bài học
+ Trong khuôn khổ một số nhiệm vụ nhất định, HS được khuyến khích tự do
xác định quá trình thực hiện và xác định sản phẩm
+ HS được tạo điều kiện tham gia vào các hoạt động học tập.
Những yếu tố thúc đẩy tính tích cực của HS được chúng tôi đặc biệt lưu ýtrong quá trình thực nghiệm sư phạm
1.4.2 Năng lực sáng tạo của HS trong học tập
a) Khái niệm năng lực sáng tạo
“Sáng tạo là một hoạt động mà kết quả của nó là một sản phẩm tinh thần hayvật chất có tính đổi mới, có ý nghĩa xã hội, có giá trị” (Sáng tạo, Bách khoa toàn thưLiên Xô, tập 42, trang 54) [20]
Trang 32Năng lực sáng tạo có thể hiểu là khả năng tạo ra những giá trị mới về vậtchất hoặc tinh thần, tìm ra cái mới, giải pháp mới, công cụ mới, vận dụng thànhcông những hiểu biết đã có vào hoàn cảnh mới Như vậy, sản phẩm của sự sáng tạokhông thể suy ra từ cái đã biết bằng cách suy luận lôgic hay bắt chước làm theo mà
nó là sản phẩm của tư duy trực giác [20]
Năng lực sáng tạo gắn liền với kĩ năng, kĩ xảo và vốn hiểu biết của chủ thể.Trong bất cứ lĩnh vực nào, nếu chủ thể hoạt động càng thành thạo và có vốn hiểubiết sâu rộng thì càng nhạy bén trong dự đoán, đề ra được nhiều dự đoán, nhiềuphương án để lựa chọn, càng tạo điều kiện cho trực giác phát triển Bởi vậy, muốnrèn luyện năng lực sáng tạo thì nhất thiết không thể tách rời, độc lập với học tậpkiến thức về một lĩnh vực nào đó
b) Đặc điểm của năng lực sáng tạo
Sự sáng tạo xuất hiện trong tư duy trực giác Trong sáng tạo, tri thức đượcthu nhận một cách nhảy vọt, một cách trực tiếp, các giai đoạn của nói không thểhiện một cách minh bạch Người suy nghĩ không thể chỉ ngay ra làm thế nào mà họ
đi đến được quyết định đó, con đường đó vẫn chưa nhận thức được, phải sau nàymới xác lập được logic của phỏng đoán trực giác đó Tuy trực giác thể hiện như mộtquá trình ngắn gọn, chớp nhoáng mà ta không thể nhận biết được diễn biến
H Poimcare nói: “ Lôgic là chứng minh, còn trực giác thì sáng tạo”
Đặc trưng tâm lí quan trọng của hoạt động sáng tạo là tính chất hai mặt chủquan và khách quan: Chủ quan theo quan điểm của người nhận thức mà trong đầu
họ đang diễn ra quá trình sáng tạo và khách quan theo quan điểm của người nghiêncứu cái quá trình sáng tạo đó xem như một qua trình diễn ra có quy luật, tác độngqua lại giữa ba thành tố là tự nhiên, ý thức con người và sự phản ánh tự nhiên vào ýthức con người Đối với người sáng tạo thì tính mới mẻ, tính bất ngờ, tính ngẫunhiên của phóng đều là chủ quan Đối với các nhà khoa học thì chỉ những phát minh
mà loài người chưa từng biết đến mới được coi là sự sáng tạo Còn đối với HS thìsáng tạo là tạo ra cái mới đối với bản thân mình, chứ GV và những người khác cóthể đã biết rồi Bởi vậy hoạt động sáng tạo của HS mang ý nghĩa là một hoạt độngtập dượt sáng tạo hay sáng tạo lại Điều quan trọng cần đạt được không phải là
Trang 33những sản phẩm sáng tạo mà là khả năng sáng tạo của họ, khả năng này sẽ luônđược HS sử dụng trong hoạt động thực tiễn sau này kể cả khi kiến thức mà họ thunhận được đã bị quên.
c) Các biểu hiện của năng lực sáng tạo của HS trong học tập Vật lí
Những hành động của HS trong học tập mang tính sáng tạo cụ thể như sau:
- Từ những kinh nghiệm thực tế, từ các kiến thức đã có, HS nêu ra được các
ý tưởng mới mẻ, các giả thuyết
- Trong chế tạo những dụng cụ ứng dụng kĩ thuật của Vật lí, HS có thể đưa
ra những phương án thiết kế khác nhau, cùng một dụng cụ có thể đưa ra nhiều cáchchế tạo, đề xuất được những sáng kiến kĩ thuật để cải tiến dụng cụ bền, đẹp…
- Khi gặp khó khăn, HS có thể đưa ra những phương án giải quyết vấn đềmới mẻ, nhanh chóng, chính xác có tính khả thi
- Nhìn thấy những cái mới, kết hợp các phương thức hành động để tạo rasản phẩm
- Vận dụng lí thuyết đã học vào thực tế một cách linh hoạt như tiên đoánđược một số hiện tượng Vật lí hoặc các ứng dụng kĩ thuật có liên quan
- Kết quả của hoạt động sáng tạo của bản thân HS sẽ được thể hiện thông quasản phẩm mà họ tạo ra được: đó là công dụng của sản phẩm, tính bền, thẩm mĩ, hiệuquả, và kinh tế, có khả năng ứng dụng rộng rãi trong thực tiễn đời sống
Chính những biểu hiện trên của năng lực sáng tạo là căn cứ để chúng tôi đánh giáhiệu quả của HĐNK mà chúng tôi tổ chức trong thực nghiệm sư phạm
Trang 34KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
HĐNK là một hình thức dạy học thuộc hệ thống các hình thức dạy học
ở trường phổ thông hiện nay HĐNK góp phần hỗ trợ cho học nội khóa trong việc củng cố, mở rộng, đào sâu kiến thức, vận dụng những kiến thức đã học vào thực tế cuộc sống và kĩ thuật, phát huy tính tích cực, sáng tạo của HS.
HĐNK mang tính tự nguyện, có nội dung và hình thức đa dạng, gây được hứng thú cho người học, phương pháp tổ chức linh hoạt, mềm dẻo, có thể tùy thuộc vào tình hình nhà trường và HS để điều chỉnh cho phù hợp.
Trong các hình thức tổ chức HĐNK ở trường phổ thông hiện nay, hình thức tổ chức cho học sinh thiết kế, chế tạo các ứng dụng kĩ thuật của Vật lí có khả năng phát huy tốt tư duy sáng tạo Bên cạnh đó, nó phù hợp với đặc thù môn Vật lí là môn khoa học thực nghiệm có ứng dụng rộng rãi trong thực tiễn, có vai trò gắn thực tiễn với lí luận, đáp ứng được nhu cầu đổi mới phương pháp dạy học hiện nay.
Qua việc nghiên cứu cơ sở lí luận về việc tổ chức HĐNK ở trường phổ thông hiện nay, chúng tôi thấy rõ hơn vai trò quan trọng và tác dụng to lớn của HĐNK trong việc thực hiện các mục tiêu dạy học.
Những cơ sở lí luận về việc tổ chức HĐNK nhằm phát huy tính tích cực và năng lực sáng tạo của HS và cơ sở của dạy học các ứng dụng kĩ thuật của Vật lí là căn cứ để chúng tôi xây dựng quy trình HĐNK từ việc lựa chọn nội dung đến hình thức tổ chức sao cho phù hợp với lí luận, phù hợp với thực tiễn dạy học hiện nay và đạt được hiệu quả cao nhất.
Trang 35Chương 2
TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG NGOẠI KHÓA CỦA HS LỚP 9
TÌM HIỂU VỀ CÁC ĐÈN TRÊN XE MÁY
2.1 Nội dung kiến thức phần Điện học trong chương trình THCS
Để xây dựng được nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức hoạt độngdạy học phù hợp, hiệu quả, chúng tôi đã nghiên cứu nội dung phần Điện học Vật líTHCS (lớp 7 và lớp 9)
2.1.1 Kiến thức chương “Điện học” - Vật lí lớp 7
HS lớp 7 bước đầu làm quen với kiến thức về Điện học Nội dung kiến thứcbao gồm:
- Vật nhiễm điện và cách làm vật nhiễm điện (bằng cách cọ xát);
- Hai loại điện tích, tương tác giữa hai loại điện tích đó;
- Sơ lược về cấu tạo nguyên tử để giải thích sự nhiễm điện dương, nhiễmđiện âm;
- Khái niệm về dòng điện, nguồn điện, mạch điện: sơ đồ, chiều dòng điện;
- Chất dẫn điện, chất cách điện Dòng điện trong kim loại;
- Các tác dụng của dòng điện: tác dụng nhiệt, tác dụng phát sáng, tác dụng
từ, tác dụng hóa học, tác dụng sinh lí;
- Khái niệm cường độ dòng điện, hiệu điện thế và cách đo;
- An toàn khi sử dụng điện
2.1.2 Kiến thức chương “Điện học” - Vật lí lớp 9
Tiếp tục nội dung kiến thức đã học ở lớp 7, chương trình lớp 9 gồm các nộidung sau:
- Khái niệm điện trở Định luật Ôm;
- Đoạn mạch nối tiếp Đoạn mạch song song;
- Sự phụ thuộc của điện trở dây dẫn vào chiều dài, tiết diện và vật liệu làmdây dẫn;
- Biến trở và các điện trở trong kĩ thuật;
Trang 36- Công thức tính công và công suất của dòng điện;
- Định luật Jun - Lenxơ;
- Sử dụng an toàn và tiết kiệm điện năng;
2.2 Mục tiêu dạy học chương “Điện học” lớp 9
- Phát biểu được định luật Ôm đối với một đoạn mạch có điện trở
- Viết được công thức tính điện trở tương đương đối với đoạn mạch nối tiếp,đoạn mạch song song gồm nhiều nhất ba điện trở
- Nêu được mối quan hệ giữa điện trở của dây dẫn với độ dài, tiết diện và vậtliệu làm dây dẫn Nêu được các vật liệu khác nhau thì có điện trở suất khác nhau
- Nhận biết được các loại biến trở
- Nêu được ý nghĩa các trị số vôn và oat có ghi trên các thiết bị tiêu thụ điện năng
- Viết được các công thức tính công suất điện và điện năng tiêu thụ của mộtđoạn mạch
- Nêu được một số dấu hiệu chứng tỏ dòng điện mang năng lượng
- Chỉ ra được sự chuyển hoá các dạng năng lượng khi đèn điện, bếp điện, bàn
là, nam châm điện, động cơ điện hoạt động
- Phát biểu và viết được hệ thức của định luật Jun - Lenxơ
- Nêu được tác hại của đoản mạch và tác dụng của cầu chì
2.2.2 Mục tiêu về kĩ năng
- Xác định được điện trở của một đoạn mạch bằng vôn kế và ampe kế
- Xác định được bằng thí nghiệm mối quan hệ giữa điện trở tương đương củađoạn mạch nối tiếp hoặc song song với các điện trở thành phần
- Vận dụng được định luật Ôm cho đoạn mạch gồm nhiều nhất ba điện trởthành phần
Trang 37- Xác định được bằng thí nghiệm mối quan hệ giữa điện trở của dây dẫn vớichiều dài, tiết diện và với vật liệu làm dây dẫn.
- Vận dụng được công thức R l
- Vận dụng được định luật Jun - Lenxơ để giải thích các hiện tượng đơn giản
có liên quan Giải thích và thực hiện được các biện pháp thông thường để sử dụng
an toàn điện và sử dụng tiết kiệm điện năng
2.2.3 Mục tiêu về phát triển tư duy
- Tư duy logic: Bố trí được các dụng cụ thí nghiệm để đạt được mục đíchthí nghiệm
- Tư duy sáng tạo: Thiết kế được ý tưởng các thí nghiệm với mục đích sẵn có
2.3.4 Mục tiêu về thái độ
- Có hứng thú học Vật lí nói chung và phần điện học nói riêng, yêu thích tìmtòi khoa học; trân trọng đối với những đóng góp của Vật lí cho sự tiến bộ của xã hội
và đối với công lao của các nhà khoa học
- Có thái độ khách quan trung thực; có tác phong tỉ mỉ, cẩn thận, chính xác
và có tinh thần hợp tác trong học tập cũng như trong việc áp dụng các kiến thứcphần Điện học
2.3 Tình hình dạy học ở trường THCS
Qua thực tế giảng dạy hơn 10 năm tại trường phổ thông dân tộc nội trú HàNội và tìm hiểu một số trường THCS trên địa bàn Huyện Ba Vì bằng quan sát, điềutra Chúng tôi nhận thấy:
Trang 382.3.1 Tình hình dạy của giáo viên
- Hầu hết GV sử dụng các phương pháp dạy học truyền thống, giảng dạytheo từng bài (theo phân phối chương trình) Chưa đa dạng các hình thức DH như:
DH theo góc, DH theo trạm, DH HĐNK và đặc biệt là tổ chức HĐNK chưa được
GV quan tâm tìm hiểu và sử dụng;
- Việc sử dụng thí nghiệm trong dạy học còn hạn chế và chưa phát huy hếtvai trò của thí nghiệm;
- Việc kiểm tra đánh giá chỉ xuất phát từ phía GV thông quá đánh giá các bàitập tự luận hoặc trắc nghiệm hoặc khách quan hoặc kiểm tra miệng, tức là mới chútrọng đến đánh giá kết quả học tập (đánh giá kiến thức, kĩ năng), chưa chú ý đếnquá trình, chưa đánh giá năng lực; mới chỉ có GV đánh giá, chưa có HS tham gia tựđánh giá và đánh giá HS khác;
- GV thường cho HS vận dụng kiến thức vào các bài tập trừu tượng, rất ít bàitập mang tính thực tế;
- Một số GV chưa thực sự coi trọng các kiến thức ứng dụng liên quan đếnthực tế Các kiến thức này vẫn bị nặng về mô tả, lí thuyết
- GV chưa khai thác hiệu quả của công nghệ thông tin trong dạy học bộ mônnhư: sử dụng thí nghiệm ảo, thí nghiệm mô phỏng hoặc dùng công nghệ thông tin
để phân tích thí nghiệm thật mà chỉ dùng chiếu các hình ảnh, bài giảng
2.3.1 Tình hình học của học sinh
- Đa số HS chỉ chú ý tới các kiến thức dùng để vận dụng trực tiếp khi làm bàitập nhưng vẫn gặp khó khăn trong việc nhớ và vận dụng chúng Nhiều HS có thái
độ xem nhẹ, bỏ qua các kiến thức liên quan đến ứng dụng thực tế;
- Trong một số giờ dạy, HS lười suy nghĩ, ít hứng thú với việc tìm hiểu kiếnthức mới;
- Ở HS luôn có khoảng cách lớn giữa kiến thức lĩnh hội được với thực tế;
2.3.3 Nguyên nhân của tình hình dạy học
a) Về phía giáo viên
- Bản thân người GV chưa ý thức được cụ thể nhiệm vụ đổi mới PPDH, còn
bỡ ngỡ khi tiếp cận với những PPDH mới Hơn nữa, lối truyền thụ một chiều đã trởthành thói quen khó chữa trong nhiều người
Trang 39- GV bị áp lực về kết quả học tập của HS (theo cách đánh giá hiện hành), dovậy GV phải dành nhiều thời gian cho việc nhấn mạnh kiến thức trọng tâm, cho HSluyện nhiều bài tập.
- Kĩ năng làm thí nghiệm của GV chưa cao hoặc khai thác thí nghiệm chưahiệu quả Thí nghiệm tiến hành không đúng lúc hoặc chỉ minh họa mà chưa khai thác
để đặt vấn đề hoặc để tìm kiến thức mới (theo một trong hai con đường: suy luận líthuyết và con đường thực nghiệm của kiểu DH phát hiện và giải quyết vấn đề)
b) Về phía học sinh
- Tính tích cực và tự chủ của HS phụ thuộc rất nhiều vào cách thức tổ chức,quản lí giờ học của GV Nếu GV có các hình thức tổ chức, quản lí không tốt thì HScũng hạn chế được tính chủ động, không hứng thú trong học tập;
- Một số HS thừa nhận rằng các em chưa tích cực suy nghĩ, dễ bỏ cuộc khigặp bài khó Một số em cảm thấy mình thiếu sự mạnh dạn, tự tin;
- HS và phụ huynh cũng chịu nhiều áp lực bởi mục tiêu thi cử, dẫn đến thái
độ thực dụng của HS trong học tập
c) Nguyên nhân chung
- Dù có giảm tải song lượng kiến thức vẫn còn nhiều, thời gian học kéo dàigây áp lực cho HS và GV;
- Nhiều nội dung học còn nặng về lí thuyết, khô khan, chưa hấp dẫn HS Một
số HS cho rằng các em chưa hứng thú với môn học vì chưa thấy rõ các kiến thức đó
sẽ giúp ích gì cho cuộc sống
- Ngành giáo dục kêu gọi đổi mới PPDH để phù hợp với mục tiêu dạy họccủa thời đại Tuy nhiên, việc kiểm tra đánh giá có thay đổi nhưng vẫn chưa phù hợpvới mục tiêu dạy học mới, PPDH mới;
- Do nguyên nhân khách quan mà nhiều GV chưa có cơ hội tiếp cận vớinhững PPDH mới;
- Cơ sở vật chất của các trường phổ thông chưa đáp ứng được yêu cầu Dụng
cụ thí nghiệm còn thiếu và hỏng nhiều, phòng bộ môn chưa đáp ứng đủ cho sốlượng lớp học trong trường Đôi khi phải vận chuyển thiết bị thí nghiệm đến lớp họccũng gây nhiều bất tiện cho GV
Trang 402.3.4 Những sai lầm của HS khi học các kiến thức chương “Điện học”, nguyên nhân và cách khắc phục
- Khi dạy chương “Điện học” chúng tôi thấy:
+ Một số em quan niệm điện trở của một vật dẫn xác định thì tỉ lệ thuận vớihiệu điện thế và tỉ lệ nghịch với cường độ dòng điện
+ Học sinh còn nhầm lẫn giữa cách mắc vônkế và ampe kế
+ Học sinh nhầm lẫn các công thức điện trở nối tiếp, song song
- Nguyên nhân của sai lầm:
+ Học sinh chủ yếu học thuộc các công thức để giải bài tập mà không quantâm đến bản chất
+ GV không tổ chức cho các em tiến hành các thí nghiệm mắc các mạchđiện, HS học theo thói quen đọc chép
- Cách khắc phục
+ Cho học sinh sử dụng các dụng cụ thí nghiệm trong quá trình GV tổ chứccác hoạt động nhận thức để các em hứng thú và tin tưởng vào những kiến thức màmình tiếp thu được
+ Tổ chức cho HS đề xuất các phương án thí nghiệm và tiến hành làm thínghiệm thực hiện các phương án đã đề xuất
+ Tổ chức cho HS tham gia các hoạt động ngoại khoá để HS được củng cốthêm kiến thức và phát huy tính tích cực, năng lực sáng tạo của HS
2.3.5 Giải pháp nâng cao chất lượng dạy học chương “Điện học” lớp 9
- Tiến hành đổi mới PPDH đồng bộ với đổi mới hình thức kiểm tra đánh giá;
- Tăng tính thực tiễn của nội dung dạy học;
- Tuyên truyền, tập huấn sâu rộng hơn nữa về các PPDH tích cực tới từng
GV để họ hiểu rõ được cách thức, ưu nhược điểm của từng phương pháp và vậndụng sao cho phù hợp;
- Mỗi GV phải ý thức được trách nhiệm vụ đổi mới PPDH và thực hiện mộtcách chủ động sáng tạo GV cũng chính là người truyền cảm hứng dẫn đến sự thayđổi phương pháp học tập của HS;