Mặt khác, giao tiếp tronggiờ dạy học Văn khác với các hoạt động giao tiếp thông thường trong đời sống - đólà giao tiếp thẩm mĩ, giao tiếp nghệ thuật với hình thức là thông qua văn bản ng
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
-&& -NGUYỄN HÀ CHI
PH¸T TRIÓN N¡NG LùC GIAO TIÕP THÈM MÜ
Chuyên ngành: LL và PPDH bộ môn Văn
Mã số: 60.14.01.11
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS NGUYỄN VIẾT CHỮ
HÀ NỘI - 2016
Trang 2Lời cảm ơn Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất tới PGS TS Nguyễn Viết Chữ, người thầy đã nhiệt tình và tận tâm hướng dẫn, giúp đỡ tôi
trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện đề tài luận văn.
Tôi xin trân trọng gửi lời cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa Ngữ văn,
tổ bộ môn Lý luận và phương pháp dạy học Văn, phòng Sau Đại học Trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã tạo điều kiện và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu tại đây.
-Tôi cũng xin chân thành cảm ơn BGH cùng các thầy cô giáo công tác tại trường THPT số 2 TP Lào Cai; gia đình và bạn bè đã luôn tạo điều kiện, động viên và khích lệ tôi trong thời gian thực hiện luận văn này.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng nhưng do hạn chế về thời gian và kiến thức nên luận văn không tránh khỏi những thiếu sót Tôi rất mong nhận được
sự đóng góp ý kiến của thầy cô và các bạn để luận văn được hoàn thiện hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 10 năm 2016
Tác giả
Nguyễn Hà Chi
Trang 35 GTNN : Giao tiếp ngôn ngữ
6 GTVH : Giao tiếp văn học
Trang 4MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 1
1 LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1
2 LỊCH SỬ VẤN ĐỀ 4
3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 9
4 MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU 9
5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 10
6 ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN 11
7 CẤU TRÚC LUẬN VĂN 11
Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 12
1.1 Cơ sở lí luận 12
1.1.1 Giao tiếp và giao tiếp thẩm mĩ 12
1.1.2 Năng lực giao tiếp và năng lực giao tiếp thẩm mĩ 38
1.2 Cơ sở thực tiễn 48
1.2.1 Đối tượng và tư liệu khảo sát 48
1.2.2 Quá trình khảo sát 49
1.2.3 Kết quả khảo sát 49
Tiểu kết chương 1 51
Chương 2: BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC GIAO TIẾP THẨM MĨ TRONG DẠY HỌC TRUYỆN NGẮN “CHÍ PHÈO” CỦA NAM CAO 52
2.1 Những định hướng cần thiết nhằm phát triển NLGTTM trong dạy học truyện ngắn Chí Phèo của Nam Cao 52
2.1.1 Phát triển NLGTTM gắn liền với tạo tâm thế tiếp nhận và xây dựng bầu không khí GT, đối thoại dân chủ; giàu màu sắc văn chương 52
2.1.2 Phát triển NLGTTM gắn liền với cắt nghĩa, luận giải những tiềm năng GT thẩm mĩ của truyện ngắn Chí Phèo 54
2.1.3 Phát triển NLGTTM phải kích thích được tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học trong GT, GT thẩm mĩ 59
Trang 52.2 Biện pháp phát triển NLGTTM trong dạy học truyện ngắn Chí Phèo 60
2.2.1 Biện pháp tạo tâm thế tiếp nhận, xây dựng bầu không khí GT, đối thoại dân chủ; giàu màu sắc văn chương trong dạy học truyện ngắn Chí Phèo 60
2.2.2 Biện pháp phát triển NLGTTM gắn liền với cắt nghĩa, luận giải những tiềm năng GT thẩm mĩ của truyện ngắn Chí Phèo 69
2.2.3 Biện pháp tổ chức GT đa chiều giúp người học tự bộc lộ, tự nhận thức giá trị thẩm mĩ của truyện ngắn Chí Phèo 92
Tiểu kết chương 2 100
Chương 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 101
3.1 Mục đích thực nghiệm 101
3.2 Thời gian, đối tượng và địa bàn thực nghiệm 101
3.3 Yêu cầu thực nghiệm 102
3.4 Tổ chức hoạt động thực nghiệm 102
3.4.1 Cách thức tiến hành thực nghiệm 102
3.4.2 Giáo án thực nghiệm 104
3.5 Đối chứng kết quả thực nghiệm 122
3.6 Đánh giá về kết quả thực nghiệm 124
Tiểu kết chương 3 125
KẾT LUẬN 126 PHỤ LỤC
Trang 6là phương pháp dạy học Nhưng đáng chú ý nhất là đổi mới về quan niệm, nhất làvới bộ môn nghệ thuật như môn Ngữ văn Thực tế sư phạm bốn thập kỉ qua đã chỉ
ra rằng: việc dạy học nghiêng về kiến thức văn chương, nội dung nghệ thuật của tácphẩm được nhìn từ nhiều góc độ trong mỗi giờ học đã được chú ý Bản chất của quátrình dạy học môn Ngữ văn cũng khác hẳn so với trước Thầy hướng đạo, trò chủđộng, tự giác, tích cực, tự lực Hàng loạt năng lực thiết yếu được đặt ra trong mụctiêu giáo dục bộ môn Ngữ văn: Năng lực giao tiếp, năng lực cảm thụ thẩm mĩ, nănglực nêu và giải quyết vấn đề, năng lực sáng tạo Nhưng rất tiếc việc phát triển nănglực giao tiếp thẩm mĩ là hạt nhân của quá trình dạy học Văn hiện đại lại chưa đượcchú ý một cách nghiêm túc
Để khắc phục được tình trạng này, ngành Giáo dục và đào tạo Việt Namđang có những đổi mới đồng bộ, toàn diện về chương trình và sách giáo khoa Ngữvăn sau năm 2015 Một trong những định hướng quan trọng của chương trình là chútrọng đến mục tiêu hình thành và phát triển toàn diện năng lực cho người học Đểđạt được mục tiêu đó, mỗi cá nhân HS phải tích cực tham gia các hoạt động giáodục, tự tìm kiếm, tự khám phá và chiếm lĩnh tri thức, từ đó hình thành và phát triểnnhững năng lực cần thiết cho bản thân Mỗi GV đứng lớp cũng phải suy nghĩ, trăntrở tạo ra một môi trường học tập hiện đại, năng động, dân chủ với những hoạt độnggiáo dục phong phú để không chỉ phát triển được năng lực toàn diện mà còn phát
huy được sự“chủ động, tự giác, tích cực, tự lực” của người HS hiện đại Trong đó,
giao tiếp được xác định là năng lực đặc thù của môn học Ngữ văn, cũng là năng lựccốt lõi trong các chương trình dạy tiếng mẹ đẻ, cả trong quá khứ, hiện tại và tương
Trang 7lai Bởi vì dạy giao tiếp chính là dạy kĩ năng sống cho HS Mặt khác, giao tiếp tronggiờ dạy học Văn khác với các hoạt động giao tiếp thông thường trong đời sống - đó
là giao tiếp thẩm mĩ, giao tiếp nghệ thuật với hình thức là thông qua văn bản ngôn
từ, chỉnh thể nghệ thuật, hình tượng nghệ thuật để đi giải mã những thông điệp thẩm
mĩ của một TPVC Do đó, dạy học TPVC là dạy trong giao tiếp thẩm mĩ và nhằmgiao tiếp thẩm mĩ; từ đó góp phần hình thành và phát triển năng lực giao tiếp, nănglực giao tiếp thẩm mĩ cho người học Đây chính là lí do chúng tôi lựa chọn nghiên
cứu đề tài “Phát triển năng lực giao tiếp thẩm mĩ trong dạy học truyện ngắn Chí Phèo” của Nam Cao”.
1.2 Bản chất nghệ thuật của tác phẩm văn chương tồn tại trong giao tiếp và giao tiếp thẩm mĩ
Tác giả Trần Đình Sử khi nói về thi pháp học có nhận định: “Nếu thi pháp học truyền thống xem nghệ thuật như những vật được sáng tạo tinh xảo bằng chất liệu, thì thi pháp học hiện đại xem nghệ thuật là một hoạt động giao tiếp, một hệ thống kí hiệu mà sản phẩm của nó là một khách thể thẩm mĩ, một sáng tạo tinh thần tồn tại vừa trong văn bản, vừa trong cảm thụ người đọc” [34, 105] Hay nói cách
khác, quá trình sáng tạo và tiếp nhận trong nghệ thuật nói chung và văn chương nóiriêng là một hoạt động giao tiếp Tính chất giao tiếp của văn chương bắt nguồn từquan hệ giữa tác giả và người đọc thông qua tác phẩm văn chương Có thể quanniệm tác phẩm văn chương là một thông điệp thẩm mĩ, người nghệ sĩ là người phát
đi những thông điệp nghệ thuật, còn bạn đọc là người nhận thông điệp đó Tuynhiên, hoạt động phát tin và nhận tin giữa tác giả (người phát tin) và người đọc(người nhận tin) là một quá trình đặc biệt Công việc sáng tạo văn chương củangười nghệ sĩ là một quá trình tư duy ngôn ngữ thầm lặng, là cả một quá trình giankhổ nhà văn đi tìm tòi ý tứ, thổi hồn vào từng câu, từng chữ, từng hình tượng…nhằm dẫn dắt người đọc vào những cuộc giao tiếp đồng điệu, tri âm về những vấn
đề của đời sống Khi đó, sự sáng tạo của người nghệ sĩ đã là một hoạt động giaotiếp, giao tiếp đối với đời sống, với mọi người và với chính bản thân mình
Trang 8Ngược lại, “tiếp nhận văn học là một cuộc giao tiếp, đối thoại tự do giữa người đọc và tác giả qua tác phẩm Nó đòi hỏi người đọc tham gia với tất cả trái tim, khối óc, hứng thú và nhân cách, tri thức và sức sáng tạo” [35, 325] Tiếp nhận
một tác phẩm văn chương, người đọc sẽ “giao lưu”, đối thoại về cuộc sống qua lăngkính nhà văn Đồng thời, người đọc bằng niềm say mê và vốn sống, vốn văn hóa,vốn ngôn ngữ của bản thân để bồi đắp thêm, làm phong phú thêm những ý nghĩathẩm mĩ của tác phẩm văn chương Thông qua quá trình GT thầm lặng ấy giữangười đọc với tác phẩm, với hiện thực đời sống (phản ánh thông qua lăng kính củanhà văn), TPVC mới có thể trường tồn cùng thời gian và ngày càng tỏa sáng tronglòng bạn đọc nhiều thế hệ
Do đó, dạy học Văn trong giao tiếp, bằng giao tiếp, đặc biệt là giao tiếpthẩm mĩ là đi đúng bản chất nghệ thuật của tác phẩm văn chương
1.3 Gia tài văn học của nhà văn Nam Cao có một vị trí đặc biệt trong lịch sử văn học và trong nhà trường
Nam Cao là một trong những nhà văn hiện thực phê phán xuất sắc nhất củanền văn học Việt Nam hiện đại Số lượng sáng tác của ông không nhiều nhưng đãvượt qua được những thử thách khắc nghiệt của thời gian, càng thử thách lại càngngời sáng Đời văn của Nam Cao đã khép lại nhưng những trang văn của ông ngàycàng bộc lộ những tư tưởng nhân văn cao cả, những giá trị hiện thực sâu sắc vànhững kết tinh nghệ thuật điêu luyện, độc đáo Gia tài văn học của ông là nhữngđóng góp quan trọng vào tiến trình hiện đại hóa nền Văn học dân tộc Trong sốnhững tác phẩm làm nên tên tuổi của ông trên văn đàn Văn học Việt Nam hiện đại
không thể không nhắc đến kiệt tác Chí Phèo Bằng một trái tim nhân hậu và một tài
năng nghệ thuật đặc biệt, Nam Cao đã làm sống dậy thật cụ thể và sinh động nhữngcuộc đời và số phận, những vẻ đẹp đáng trân trọng của người nông dân trước cáchmạng tháng Tám Ông đã biết đi qua những phong trào nhất thời để đề cập đếnnhững tính tình bất diệt của loài người, chỉ tác phẩm như thế mới vững bền mãi mãicùng thời gian Không phải ngẫu nhiên mà Chí Phèo luôn chiếm một vị trí không
Trang 9thể thay thế trong sự nghiệp sáng tác của Nam Cao và trong chương trình Ngữ vănTHPT nhiều năm qua.
Trong thực tiễn dạy học ở nhà trường phổ thông từ xưa đến nay, để đi khám
phá, chiếm lĩnh những vẻ đẹp “ẩn tàng” của truyện ngắn Chí Phèo, người dạy đã tiếp cận tác phẩm từ nhiều hướng khác nhau như: Tiếp cận từ góc độ loại thể, tiếp cận theo hướng cấu trúc hệ thống, tiếp cận từ thi pháp truyện ngắn Nam Cao, tiếp cận từ hướng vận dụng Ngôn ngữ học văn bản… Hướng tiếp cận truyện ngắn Chí Phèo ngày càng phong phú hơn, phần nào đáp ứng được nhu cầu của người học.
Tuy nhiên, để nâng cao hơn nữa hiệu quả dạy học tác phẩm này, thiết nghĩ cònnhiều vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu, trong đó có vấn đề phát triển năng lựcnói chung và năng lực giao tiếp thẩm mĩ nói riêng cho người học
Xuất phát từ những lí do trên, chúng tôi chọn đề tài: “Phát triển năng lực
giao tiếp thẩm mĩ trong dạy học truyện ngắn “Chí Phèo” của Nam Cao” với
mong muốn hướng đến một cách dạy học mới, vừa kích thích được sự hứng thútrong học tập, vừa hình thành và phát triển được một năng lực thiết yếu cho ngườihọc trong học tập và đời sống – năng lực giao tiếp thẩm mĩ
Trong một số những nghiên cứu của mình, tác giả Nguyễn Quang Ninh đã đisâu phân tích những vấn đề về lí thuyết của GT bằng ngôn ngữ, trên cơ sở đó ông đề
xuất quy trình vận dụng quan điểm GT vào dạy học Làm văn “Làm văn là một hoạt động GT” và “dạy làm văn chính là dạy cách thức tổ chức GT, hay nói một cách chính xác là dạy cách thức tổ chức GT bằng văn bản” Tác giả Nguyễn Trí trên cơ
Trang 10sở tiếp cận, nghiên cứu những thành tựu hiện đại của việc dạy tiếng nói chung, dạyTập làm văn nói riêng của các nước trong khu vực và trên thế giới đã khẳng định
“dạy tập làm văn nói và dạy tập làm văn viết trong GT và để GT là phương hướng dạy học hiện đại tạo nên sự thay đổi cơ bản trong cấu trúc chương trình, lựa chọn nội dung và phương pháp giảng dạy” [41, 24] Như vậy, mục đích của dạy học
Tập làm văn theo hướng GT là tích cực hóa hoạt động của HS Nghiên cứu của cáctác giả trên là những gợi mở, tạo tiền đề cho chúng tôi có thể triển khai nhữngnghiên cứu của mình về vấn đề liên quan đến giao tiếp trong dạy học TPVC nói
chung, truyện ngắn Chí Phèo nói riêng.
Trong lĩnh vực nghiên cứu đổi mới phương pháp dạy học bộ môn Văn, cũng
có nhiều nhà nghiên cứu đề cập đến vấn đề dạy học Văn gắn liền với hoạt động GT.Tác giả Nguyễn Trọng Hoàn có đề cập tới “Cuộc giao tiếp im lặng giữa nhà văn –bạn đọc, học sinh trong giờ giảng văn” Tác giả cho rằng, tác phẩm văn chương phải
trở thành “môi trường giao cảm giữa nhà văn và bạn đọc, phải thực sự là nơi bộc lộ những tình cảm chân thành, những rung động thẩm mĩ, từ đó mới nảy sinh nhu cầu tiếp nhận” [20, 9] Tác giả Nguyễn Thanh Hùng lại khẳng định “Tiếp nhận văn học trong nhà trường là quá trình thực hiện giao tiếp đặc biệt đầy cảm hứng với tác phẩm trong những điều kiện sư phạm cụ thể chính yếu ” [23, 200] Trong công
trình “Dạy học tác phẩm văn chương cho học sinh trung học phổ thông theo hướng
giao tiếp”, tác giả Phạm Văn Nam cho rằng “Dạy học TPVC theo hướng giao tiếp không những tạo điều kiện để học sinh chủ động nhận thức mà còn giúp họ phát triển năng lực giao tiếp” [45, 79], đồng thời khẳng định “hoạt động giao tiếp có nhiều ưu thế trong việc phát triển nhận thức cho HS, hoàn toàn có thể ứng dụng vào dạy học nói chung và dạy học TPVC nói riêng Vận dụng giao tiếp vào hoạt động văn học thích hợp với người học ở một xã hội hiện đại có tốc độ phát triển nhanh ” [45, 181] Trên cơ sở nghiên cứu lí thuyết về GT, tác giả làm rõ hoạt động
GT trong giờ học TPVC gồm hai phương diện: GT văn học và GT sư phạm Về
giao tiếp văn học tác giả đề xuất tổ chức cho HS thực hiện giao tiếp văn học để các
em trực tiếp đối thoại với tác phẩm, tìm ra giá trị thẩm mĩ của tác phẩm biểu hiện
Trang 11qua hệ thống ngôn ngữ và hình tượng văn học Về giao tiếp sư phạm, tác giả khẳng
định dạy học TPVC phải tổ chức các hoạt động trao đổi, bàn luận, đánh giá trongmột quy trình dạy và học chặt chẽ với sự tham gia của GV (người dạy) và HS(người học) để việc tiếp nhận văn học trở nên đa chiều và sâu sắc hơn Giao tiếp sưphạm có thể được tổ chức dưới nhiều hình thức: giữa GV và cá nhân HS, giữa GV
và nhóm HS, giữa GV và tập thể lớp Điều này giúp HS biết ứng dụng các kiến thứcvăn học, kiến thức ngôn ngữ vào đời sống, giao tiếp văn hóa, sử dụng văn học nhưmột phương tiện giao tiếp Trên cơ sở đó, luận án nghiên cứu một cách khá hệ thống
từ quan điểm, nguyên tắc đến các bước thực hiện bài học TPVC theo hướng giaotiếp Tác giả Nguyễn Viết Chữ trong bài “Đối thoại trong dạy học Văn” cũng đề cậpđến vai trò quan trọng của việc dạy học Văn theo hướng giao tiếp, đối thoại Tác giảkhẳng định trong dạy học TPVC, thông qua ngôn ngữ, GV hướng dẫn HS tiếp nhậntác phẩm bằng việc tổ chức các quan hệ đối thoại giữa HS và thế giới nghệ thuậttrong tác phẩm, với các nhân vật, các sự kiện, tình tiết trong tác phẩm, với tác giả để
từ đó HS có thể khám phá tác phẩm, để hiểu nội dung tác phẩm một cách căn kẽhơn Hay nói cách khác, dạy học TPVC phải gắn liền với GT, đối thoại Trong công
trình nghiên cứu “Ngôn ngữ với văn chương” tác giả Bùi Minh Toán chỉ rõ “Giao tiếp chính là sự tiếp xúc giữa người với người, trong đó diễn ra quá trình trao đổi nhận thức tư tưởng, tình cảm, bàn bạc hành động ” [63, 11], giao tiếp có thể tiến
hành bằng những phương tiện khác nhau, tuy nhiên ngôn ngữ vẫn là phương tiệngiao tiếp quan trọng nhất và hiệu quả nhất của con người Tác giả phân chia hoạtđộng giao tiếp bằng ngôn ngữ thành hai phương diện: giao tiếp ngôn ngữ đờithường và giao tiếp trong văn chương Xuất phát từ lí thuyết về hoạt động giao tiếpngôn ngữ, tác giả đã khẳng định bản chất giao tiếp của văn chương, phân xuấtnhững đặc điểm của giao tiếp văn chương về phương diện nhân vật giao tiếp, vềngữ cảnh giao tiếp, về đặc tính siêu ngôn ngữ Từ đó tác giả Bùi Minh Toán trìnhbày một số nguyên tắc chung và một số thao tác cần thiết trong việc cảm thụ vàphân tích nghệ thuật văn chương
Trang 12Vấn đề giao tiếp và hoạt động giao tiếp gắn với hoạt động dạy học TPVCkhông chỉ nhận được sự quan tâm của các nhà nghiên cứu ngôn ngữ, nhà nghiêncứu phương pháp dạy học Văn mà còn là một nội dung chính thức được đưa vàochương trình và SGK ở trường THPT hiện nay Trong nội dung chương trình từ lớp
10 đến lớp 12, quan điểm dạy học Văn gắn liền với hoạt động giao tiếp được thểhiện rõ nhất ở hệ thống câu hỏi hướng dẫn học bài và mục tiêu bài học Mục tiêu bàihọc xác định rõ những yêu cầu cụ thể với từng đối tượng HS: Lớp 10 “Biết vậndụng kiến thức về giao tiếp bằng ngôn ngữ trong đọc – hiểu và tạo lập văn bản”,Lớp 11 “Biết vận dụng hiểu biết về ngữ cảnh vào việc nói, viết và đọc - hiểu vănbản”, Lớp 12 “Biết vận dụng những hiểu biết về nhân vật giao tiếp trong hoạt độnggiao tiếp” Định hướng dạy học Ngữ văn gắn liền với hoạt động giao tiếp, nhằmmục tiêu giao tiếp trong chương trình hiện hành cho thấy tư duy dạy học kiểu mớitrong nhà trường hiện đại, đó là “lấy học sinh làm trung tâm”
Qua nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy hoạt động dạy học TPVC hướng GT đãxuất hiện như một nhu cầu tất yếu của dạy học Ngữ văn ở trường THPT Tuy nhiên,
từ các kết quả nghiên cứu đến chương trình và SGK mới chỉ nhìn nhận việc dạy họcTPVC theo hướng giao tiếp nói chung mà chưa cập nhật quan điểm về dạy họcnhằm phát triển năng lực giao tiếp, năng lực giao tiếp thẩm mĩ cho người học Do
đó, chúng tôi thực hiện đề tài “Phát triển năng lực giao tiếp thẩm mĩ trong dạy học truyện ngắn “Chí Phèo” của Nam Cao” với mong muốn đề xuất một hướng tiếp cận mới trong việc tổ chức dạy học truyện ngắn nói chung, truyện ngắn Chí Phèo
nói riêng ở trường THPT
2.2 Vấn đề nghiên cứu dạy học truyện ngắn Chí Phèo của Nam Cao trong nhà trường phổ thông
Có thể khẳng định truyện ngắn Chí Phèo là kiệt tác trong sự nghiệp sáng tác
của nhà văn Nam Cao về mảng đề tài người nông dân và nông thôn Việt Nam trướccách mạng tháng Tám; đồng thời cũng là kiệt tác của nền Văn học Việt Nam hiệnđại Do đó, tác phẩm được đưa vào giảng dạy trong chương trình THPT từ khá lâu
và nhận được nhiều sự quan tâm của những nhà nghiên cứu phương pháp dạy học
Trang 13Văn và những GV đang hằng ngày trực tiếp đứng lớp Họ luôn trăn trở, tìm tòinghiên cứu để tìm ra những hướng tiếp cận mới mẻ, thiết thực sao cho giờ học đạthiệu quả cao nhất Ngoài tài liệu hướng dẫn giảng dạy, tài liệu học tập, sách thamkhảo phong phú thì các công trình nghiên cứu của các tác giả có uy tín như PhanTrọng Luận, Nguyễn Thanh Hùng, Nguyễn Thị Thanh Hương, Nguyễn Viết Chữ,Nguyễn Ái Học… cũng cung cấp rất nhiều những thông tin, những cách thức tổ
chức thiết thực cho công việc dạy và học truyện ngắn Chí Phèo của GV và HS
Bên cạnh đó, còn có nhiều công trình nghiên cứu của sinh viên, học viên về
phương pháp, biện pháp dạy học truyện ngắn Chí Phèo ở trường THPT hiện nay:
- Luận văn thạc sĩ (1985) “Đặc sắc nghệ thuật tác phẩm Chí Phèo và biện pháp giáo dục thẩm mĩ cho học sinh lớp 12” của Đỗ Thị Bích Liên.
- Luận văn thạc sĩ (2004) “Xác định nội dung tri thức học sinh cần nắm vững
để hướng dẫn đọc hiểu trong quá trình dạy học tác phẩm Chí Phèo của Nam Cao ở lớp 11 – Trung học phổ thông” của Nguyễn Thị Hồng Thắm
- Luận văn thạc sĩ (2005) “Hướng dạy học truyện ngắn Chí Phèo của Nam Cao ở nhà trường THPT theo đặc trưng loại thể” của Dương Văn Binh.
- Luận án tiến sĩ (2009) “Dạy học tác phẩm văn chương cho học sinh trung học phổ thông theo hướng giao tiếp” của Phạm Văn Nam.
- Luận văn thạc sĩ (2010) “Kết hợp các hướng tiếp cận trong dạy học tác phẩm Chí Phèo của Nam Cao” của Đàm Thu Nga.
- Luận văn thạc sĩ (2011) “Dạy học truyện ngắn Chí Phèo từ thi pháp truyện ngắn của Nam Cao” của Lê Thị Kim Lăng.
- Luận văn thạc sĩ (2014) “Dạy học truyện ngắn Chí Phèo của Nam Cao theo hướng cấu trúc hệ thống” của Bùi Thu Hà.
Ngoài ra còn nhiều các công trình khác nghiên cứu về truyện ngắn Chí Phèo
và các cách thức dạy học tác phẩm này Trên cơ sở nghiên cứu lí thuyết và thựctiễn, các tác giả đã mở ra những hướng nghiên cứu khác nhau với những phát hiện
mới mẻ, thiết thực nhằm dạy học truyện ngắn Chí Phèo một cách tối ưu nhất Mỗi
công trình nghiên cứu xem xét vấn đề ở một phương diện với những phạm vi rộng
Trang 14hẹp khác nhau, góp phần làm sáng rõ những giá trị thẩm mĩ cao đẹp của truyện
ngắn Chí Phèo và đóng góp to lớn của Nam Cao đối với nền Văn học dân tộc Tuy
nhiên, dạy học tác phẩm này nhằm phát triển năng lực GTTM cho người học làhướng đi hoàn toàn mới, chưa có ai nghiên cứu
Với đề tài “Phát triển năng lực giao tiếp thẩm mĩ trong dạy học truyện ngắn
“Chí Phèo” của Nam Cao”, chúng tôi hi vọng mở ra được một hướng dẫn dạy học
mới, làm cho giờ dạy học tác phẩm trở nên lôi cuốn và đạt hiệu quả cao và góp phầnhình thành và bồi dưỡng những năng lực thiết yếu, đặc biệt năng lực giao tiếp thẩm
mĩ cho HS để từ đó nâng cao khả năng tìm tòi khám phá thế giới nghệ thuật trongmột TPVC
3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
3.1 Giải quyết đề tài luận văn này, chúng tôi tập trung vào vấn đề “phát triển năng lực giao tiếp thẩm mĩ trong dạy học truyện ngắn Chí Phèo của Nam Cao”.
3.2 Trong khuôn khổ luận văn, chúng tôi tập trung nghiên cứu các nội dung:
- Phát triển NLGTTM trong dạy học TPVC nói chung, truyện ngắn nói riêng
- Phát triển NLGTTM trong dạy học truyện ngắn Chí Phèo của Nam Cao.
4 MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
4.1 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu việc “Phát triển năng lực giao tiếp thẩm mĩ trong dạy học truyện
ngắn Chí Phèo của Nam Cao” nhằm nâng cao hiệu quả dạy học truyện ngắn này ở
trường THPT hiện nay
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để triển khai đề tài, tác giả luận văn xác định ba nhiệm vụ sau:
4.2.1 Nghiên cứu những tiền đề lí luận và thực tiễn làm cơ sở cho việc phát triển NLGTTM cho HS trong dạy học truyện ngắn Chí Phèo của Nam Cao Xây
dựng những định hướng cần thiết nhằm thực hiện tối ưu mục tiêu phát triểnNLGTTM cho HS
Trang 154.2.2 Đề xuất một số biện pháp dạy học nhằm đạt mục tiêu phát triển NLGTTM cho HS trong dạy học truyện ngắn Chí Phèo của Nam Cao.
4.2.3 Xây dựng mô hình thiết kế bài học dạy học truyện ngắn Chí Phèo của
Nam Cao nhằm phát triển năng lực giao tiếp thẩm mĩ cho HS
5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
5.1 Phương pháp phân tích, tổng hợp
Đây là phương pháp được sử dụng để nghiên cứu phương diện lí luận của đềtài Phương pháp này được thực hiện theo các bước: phân tích, tổng hợp, hệ thốnghoá các vấn đề trong những công trình nghiên cứu của các tác giả ở Việt Nam vàtrên thế giới về giao tiếp, năng lực giao tiếp, NLGTTM trong dạy học TPVC
5.2 Phương pháp điều tra, khảo sát
Đây là phương pháp được sử dụng để điều tra, khảo sát thực tiễn thông quacác phiếu câu hỏi để nắm bắt được một số nội dung: thực trạng dạy học truyện ngắn
Chí Phèo của Nam Cao ở trường THPT, tri thức và kĩ năng GT ngôn ngữ, GT văn
học, GT thẩm mĩ của HS, năng lực của GV trong việc vận dụng những nội dung này
vào hoạt động dạy học truyện ngắn Chí Phèo.
5.3 Phương pháp thống kê, xử lí số liệu
Phương pháp này được chúng tôi xử lí số liệu sau khi thu thập phiếu điều trahọc tập, phiếu điều tra NLGTTM của HS, phiếu điều tra dạy học của GV Phươngpháp thống kê giáo dục học được sử dụng để xử lí số liệu trong giai đoạn thựcnghiệm sư phạm của đề tài
5.4 Phương pháp thực nghiệm
Việc sử dụng phương pháp thực nghiệm sư phạm nhằm xem xét, xác nhận,kiểm tra tính đúng đắn và tính khả thi của các phương pháp, biện pháp dạy học doluận văn đề xuất Phương pháp này được tiến hành theo quy trình thực nghiệm gồm:thực nghiệm triển khai, thực nghiệm đối chứng và kiểm tra đánh giá Cụ thể làchúng tôi chọn một số lớp học cụ thể để tiến hành thực nghiệm việc dạy truyện
ngắn Chí Phèo theo những đề xuất của luận văn Thực nghiệm đối chứng để kiểm
Trang 16tra giả thuyết khoa học của đề tài Từ đó, chúng tôi đưa ra kết luận sư phạm về việc
tổ chức dạy học truyện ngắn Chí Phèo nhằm phát triển NLGTTM cho HS.
6 ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN
6.1 Đóng góp về lí luận
Luận văn mô tả và hệ thống hóa các cơ sở lí luận và thực tiễn nhằm phát
triển NLGTTM cho người học trong giờ học truyện ngắn Chí Phèo của Nam Cao.
Phân tích và chỉ ra ý nghĩa, giá trị của những cơ sở đó với chuyên ngành lí luận vàphương pháp dạy học bộ môn Văn Đặc biệt, luận văn vận dụng và cập nhật nhữngthành tựu nghiên cứu hiện đại của khoa học văn học (lí luận văn học, lí thuyết tiếpnhận, thi pháp học) và khoa học giáo dục (lí luận dạy học hiện đại, tâm lí học, tâm líhọc lứa tuổi) để làm sáng tỏ hoạt động dạy học nhằm phát triển NLGTTM cho HS.Luận văn góp phần bổ sung và hoàn thiện nội dung lí luận của dạy học TPVC nói
chung, truyện ngắn Chí Phèo của Nam Cao nói riêng.
6.2 Đóng góp về thực tiễn
- Luận văn giúp GV nhận thức đúng đắn, sâu sắc tư tưởng đổi mới ở THPThiện nay Đồng thời giúp GV thấy rõ những yêu cầu, nguyên tắc và điều kiện cần
thiết để phát triển NLGTTM cho HS trong giờ học truyện ngắn Chí Phèo.
- Luận văn cụ thể hóa việc phát triển NLGTTM trong dạy học truyện ngắnChí Phèo qua các biện pháp cụ thể, có tính khả thi
7 CẤU TRÚC LUẬN VĂN
Ngoài Phần mở đầu, Phần kết luận và Thư mục tài liệu tham khảo, nội dung
chính của luận văn được triển khai qua 3 chương
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn
Chương 2: Biện pháp phát triển năng lực giao tiếp thẩm mĩ trong dạy học
truyện ngắn Chí Phèo của Nam Cao.
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Trang 17Chương 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1 Cơ sở lí luận
1.1.1 Giao tiếp và giao tiếp thẩm mĩ
1.1.1.1 Lí thuyết giao tiếp
Trong bản chất xã hội của mình, con người luôn cần giao tiếp, đối thoại đểhiểu biết, để tâm hồn được gặp tâm hồn, để sống, để hòa hợp nhân quần Không ai
có thể sống mà không có GT “bản thân sự tồn tại của con người (cả bên ngoài và bên trong) là một cuộc giao tiếp sâu sắc nhất, tồn tại có nghĩa là giao tiếp, cái chết tuyệt đối (không tồn tại) là không nghe thấy gì, không được thừa nhận, không được nhắc tới” (Bakhtin) Do đó, “giao tiếp” mãi mãi là một vấn đề hấp dẫn, lôi cuốn sự
tham gia nghiên cứu của đông đảo các nhà khoa học trên thế giới thuộc các lĩnh vựckhác nhau như tâm lí học, giáo dục học, xã hội học, triết học, ngôn ngữ học Cùngvới thời gian, những công trình nghiên cứu về những vấn đề cơ bản của GT như:quan niệm GT, mô hình GT đến các nhân tố GT, quá trình GT được nhận thứcngày càng đầy đủ hơn, sâu sắc hơn Nhưng dù nhìn nhận ở những lĩnh vực nào vớinhững phương diện nghiên cứu rộng hẹp khác nhau thì các tác giả đều thống nhất ởmột điểm: GT là một quá trình trao đổi thông tin (hiểu theo nghĩa rộng) dưới sự chiphối của nhiều yếu tố như nhân vật GT, thông điệp, hoàn cảnh, mã GT và chứcnăng của ngôn ngữ
Ở Việt Nam, các nhà nghiên cứu chủ yếu kế thừa những thành tựu nghiêncứu về GT trên thế giới GT cũng được nhìn nhận ở nhiều phương diện khác nhau,
đặc biệt trong lĩnh vực ngôn ngữ học Trong Đại cương ngôn ngữ học - tập 2, tác giả Đỗ Hữu Châu cho rằng: “Nói một cách tổng quát, GT là một hoạt động liên cá nhân, có chức năng truyền đạt những thông tin về sự vật, hiện tượng của thực tế (thông tin miêu tả hay thông tin sự vật) nhằm tạo ra những biến đổi trong tình cảm,
Trang 18trạng thái tâm lí và hoạt động giữa những người tham gia giao tiếp (thông tin liên
cá nhân hay thông tin tác động) Nó cũng là nơi con người bộc lộ chính mình Mỗi chức năng trên của GT đòi hỏi phải có một loại tín hiệu thích hợp với nó” [8, 225].
Tác giả xác định nhân tố GT bao gồm: ngữ cảnh (nhân vật GT, hiện thực ngoài diễnngôn), ngôn ngữ (với các phương diện: đường kênh thính giác và thị giác của ngônngữ; các biến thể của ngôn ngữ; biến thể chuẩn mực hóa, biến thể phương ngữ địa lí
và phương ngữ xã hội, ngữ vực và phong cách chức năng) và diễn ngôn Bùi Minh
Toán quan niệm “GT chính là sự tiếp xúc giữa người và người, trong đó diễn ra quá trình trao đổi nhận thức tư tưởng, tình cảm, bàn bạc hành động ” [63, 62].
Theo ông, hoạt động GT bằng ngôn ngữ của con người tuy rất đa dạng, nhưngthường được tạo nên bởi các nhân tố GT: nhân vật GT, ngôn ngữ, văn bản (hay diễnngôn, thông điệp), ngữ cảnh GT (ngữ cảnh tình huống và ngữ cảnh văn hóa) Nếuthiếu các nhân tố này thì hoạt động GT không thể tiến hành được Tác giả Diệp
Quang Ban lại khẳng định “GT là hiện tượng phổ biến trong các xã hội, đó là sự tiếp xúc giữa các cá thể trong một cộng đồng để truyền đạt một nội dung nào đó.
GT là một trong những đặc trưng của xã hội, giúp phân biệt xã hội với các quần thể không phải là xã hội” [4, 17] Như vậy, các tác giả có thể xem xét ở góc độ này hay
góc độ khác, rộng hay hẹp, nhưng đều thống nhất chung ở một điểm trong quanniệm về GT: GT là sự trao đổi thông tin (hiểu theo nghĩa rộng) giữa con người vớicon người trong cộng đồng xã hội
GT là hoạt động thường xuyên của con người Con người không thể sống màkhông có GT Chỉ trong GT và bằng GT, con người mới càng ngày càng trưởngthành hơn Để thực hiện GT, con người có thể sử dụng nhiều phương tiện khác nhaunhưng ngôn ngữ vẫn là phương tiện GT cơ bản nhất và chiếm nhiều ưu thế nhất củacon người và xã hội loài người Điều đó được khẳng định khi xét về mặt thời gianlịch sử, về không gian hay phạm vi sử dụng, nhất là hiệu quả của nó về mặt nhậnthức, tư duy và giao tiếp Do đó, khả năng ứng dụng của GT ngôn ngữ vào lĩnh vựcdạy học đã và đang là vấn đề hấp dẫn được các nhà nghiên cứu quan tâm Ở đây GT
ngôn ngữ được hiểu “là hoạt động trao đổi thông tin của con người trong xã hội,
Trang 19được tiến hành chủ yếu bằng phương tiện ngôn ngữ (dạng nói hoặc dạng viết), nhằm thực hiện mục đích về nhận thức tư tưởng, tình cảm, bàn bạc hành động ”.
GT bằng ngôn ngữ bao gồm các nhân tố: Nhân vật GT (người phát tin, ngườinhận tin), nội dung GT, mục đích GT, ngữ cảnh GT, phương tiện GT, kênh GT Đây là những nhân tố bắt buộc để tạo nên một hoạt động GT ngôn ngữ Chúng cómối quan hệ hữu cơ với nhau và luôn chi phối, chế định các yếu tố ngôn ngữ tronghoạt động GT, đồng thời cũng để lại dấu ấn trong sản phẩm GT (diễn ngôn) Ta cóthể hình dung khái quát về hoạt động GT, nhân tố GT qua sơ đồ sau:
Sơ đồ 1.1 Sơ đồ hoạt động giao tiếp
GT bằng ngôn ngữ bao giờ cũng diễn ra trong một tình huống nhất định: mối
tương quan giữa các nhân tố trong hoạt động GT Người nói (người phát thông tin)
là người sản sinh ra văn bản hoặc phát ngôn Người nghe (người nhận thông tin) là
người lĩnh hội văn bản hoặc phát ngôn Trong suốt quá trình GT, vai GT luôn thayđổi, các nhân vật GT thay phiên nhau giữ vai trò là người “phát” và người “nhận”
Đó là một quá trình tương tác hai chiều Nội dung GT có thể là hiện thực của thế
giới khách quan ngoài ngôn ngữ (những sự vật, hiện tượng, đặc điểm, tính chất…),
có thể là những sản phẩm tinh thần của tư duy con người và là cả những cảm xúc,trạng thái tâm lí tinh vi, tế nhị của con người đối với điều được nói đến hoặc đối với
người tham gia hoạt động GT, với chính hoạt động GT Ngôn ngữ là hệ thống các kí
hiệu và quy tắc sử dụng các kí hiệu này, mà cả người nói và người nghe đều có thể
Người phát
thông tin Nội
dung GT
Nội dung
GT
Người nhậnthông tin Mục
đích GT
Mục đích
GT
Kênh GT
Phương tiện GT
Trang 20vận dụng trong giao tiếp Mỗi tín hiệu ngôn ngữ, đồng thời truyền tải nội dung sựvật, hiện tượng vừa có thể biểu hiện cả các sắc thái tình cảm (yêu, ghét, hờn, giận )của chủ thể đối với sự vật, hiện tượng mà nó biểu hiện Là một hệ thống tín hiệu cótính xã hội cao, ngôn ngữ không chỉ là phương tiện tư duy và GT của những conngười trong cùng một thời đại mà còn ở các thời đại, lứa tuổi và các nền văn hóa
khác nhau Đường kênh là môi trường để truyền đạt và tri giác văn bản Văn bản (hay diễn ngôn, thông điệp) là sản phẩm được tạo ra trong GT, vừa là phương tiện
GT, qua đó người phát thể hiện nội dung GT, còn người nhận lĩnh hội nội dung GT.Thông điệp trong GT có thể ở dạng nói (thường gọi là diễn ngôn) hoặc dạng viết
(thường gọi là văn bản) Ngữ cảnh GT là bối cảnh diễn ra hoạt động GT, bao gồm:
ngữ cảnh tình huống (ngữ cảnh hẹp) và ngữ cảnh văn hóa (ngữ cảnh rộng) Nó luônluôn chi phối nội dung, hình thức và cách thức GT Trong hoạt động GT, luôn cómối tương quan giữa người nói và người nghe với đối tượng được đề cập tới, giữavăn bản với đường kênh, giữa văn bản với ngôn ngữ
Hoạt động GT bằng ngôn ngữ hoàn chỉnh gồm hai quá trình, mỗi nhân vật
GT thực hiện một quá trình: người phát thực hiện quá trình phát tin (hay quá trình
kí mã, tạo lập văn bản, phát thông điệp) Còn người nhận thực hiện quá trình tiếp nhận (đọc, nghe và lĩnh hội hay giải mã thông điệp, văn bản hoặc diễn ngôn) Như thế một hoạt động GT ngôn ngữ để đạt được mục đích và hiệu quả cần bao gồm hai quá trình tương tác: phát (tạo lập) và nhận (tiếp nhận) Hai quá trình này cần được
tiến hành theo cùng một mã ngôn ngữ, cùng một đường kênh GT Có thể thể hiệnhoạt động GT bằng ngôn ngữ với các nhân tố và các quá trình GT trong sơ đồ sau:
Ngữ cảnh
Ngôn ngữ
NGƯỜI PHÁT VĂN BẢN NGƯỜI NHẬN
phát tin (nội dung, nhận tin
(mã hóa, tạo lập) hình thức, (giải mã, tiếp nhận)
mục đích)
Sơ đồ 1.2 Sơ đồ hoạt động giao tiếp ngôn ngữ
Trang 21Theo sơ đồ trên, khi có nội dung GT cần truyền đạt xuất hiện trong đầu,người phát tin tìm cách truyền nó đến với người nhận Nhưng nội dung GT lại thuộc
lĩnh vực tinh thần nên để truyền được nội dung ấy, người phát phải “mã hóa” thông
tin bằng ngôn ngữ Có được tín hiệu ngôn ngữ từ người phát tin, người nhận tinphải dựa vào năng lực ngôn ngữ cùng với thói quen GT trong một ngữ cảnh cụ thể
để “giải mã” nội dung ý nghĩa của văn bản Hiệu quả của việc truyền tải nội dung
GT phụ thuộc vào: năng lực “mã hóa” (tạo lập) thông tin của người phát và “giải mã” (tiếp nhận) thông tin của người nhận; vào vốn sống, vốn hiểu biết, vốn ngôn
ngữ phong phú của cả người phát tin và người nhận tin
Hoạt động GT bằng ngôn ngữ trong đời sống rất đa dạng, phong phú nhưngchủ yếu diễn ra ở hai phương diện:
- Giao tiếp ngôn ngữ đời thường (còn gọi là giao tiếp ngôn ngữ - GTNN).
- Giao tiếp ngôn ngữ trong văn chương (giao tiếp văn học - GTVH)
Do khuôn khổ của luận văn, chúng tôi chủ yếu đi sâu vào nghiên cứu GTVHnhằm giải quyết những vấn đề cơ bản của một giờ dạy học TPVC hướng đến thựchiện mục tiêu phát triển NLGTTM cho người học
Giao tiếp văn học được hiểu là hoạt động GT dùng Văn học làm phương tiện
chuyển tải thông điệp giữa người phát (nhà văn) và người nhận (độc giả) Người
nghệ sĩ sáng tạo ra tác phẩm để chuyển tải những nhận thức tư tưởng, tình cảm củabản thân và người đọc nhờ tác phẩm đồng điệu, tri âm cùng tác giả Giữa nhà văn vàbạn đọc khi ấy là những cuộc GT, đối thoại thầm lặng thông qua tác phẩm gọi làGTVH Xét về bản chất, GTVH là một hoạt động GT bằng ngôn ngữ diễn ra tronglĩnh vực văn chương Bản chất này được lí giải thông qua quá trình sáng tạo và tiếpnhận TPVC
Sáng tác văn học là một nhu cầu GT, là hành động GT với đời sống, với mọi người và với chính bản thân chủ thể sáng tạo
Trong vô vàn mối quan hệ của con người với hiện thực, tác động của thế giớibên ngoài thường để lại những dấu ấn về xúc cảm, suy nghĩ và nhận thức trong đờisống tâm hồn của con người Những dấu ấn ấy đôi khi đặc biệt sâu sắc, mạnh mẽ và
Trang 22lâu bền Nó tạo nên những khát khao và mơ ước, nghĩ suy và dằn vặt, hạnh phúc vàkhổ đau Những trải nghiệm tâm tư ấy khi dồn nén, chất chứa đến một mức độ nào
đấy cần được bộc lộ Khi buồn thì khóc, khi vui thì cười, đó là một trạng thái mang
bản chất tự nhiên của con người
Như những người bình thường khác, nghệ sĩ cũng có nhu cầu giải thoátnội tâm để bộc lộ những ấn tượng, những xúc cảm về thế giới Do bản chất nhạycảm, dễ rung động, kho tích lũy về ấn tượng của người nghệ sĩ thường rất phongphú, sâu nặng và thường gắn với những xúc cảm mãnh liệt Những ấn tượng -
xúc cảm này nhiều khi sâu nặng đến mức trở thành “những vết khắc trong tim” (Pauxtốpxki), thành “nỗi niềm ùn ùn giữa ngực, rạo rực tâm hồn” (Huy Cận) Nó
đòi hỏi phải được bộc lộ, được “giải phóng tỏa cảm xúc” (Phơrớt), “giải phóngnội tâm” (Arnauđốp) Và sáng tạo nghệ thuật lúc này trở nên một nhu cầu mãnhliệt, là một phương tiện mạnh mẽ để người nghệ sĩ giải thoát và bộc lộ những
xúc cảm bị dồn nén của mình với cuộc đời Nói như Nguyễn Công Hoan: “ nếu đánh trận là đánh vào đồn thì viết truyện là đánh vào tình cảm người đọc ”.
Mong muốn lớn nhất của người nghệ sĩ là tấc lòng của mình đến với được tìnhcảm, với tấm lòng người đọc
Bên cạnh khát vọng tự biểu hiện, tự bộc lộ, người nghệ sĩ còn có nhu cầuđồng cảm và giao tiếp bằng hình tượng nghệ thuật Nghệ thuật chính là phương tiện
để đồng cảm, để thuyết phục khi mong muốn người khác tiếp xúc, thấu hiểu những
trải nghiệm đời sống, những triết lí nhân sinh, những xúc cảm mãnh liệt “Người nghệ sĩ luôn muốn truyền đạt một cách hào phóng nhất tất cả những cái phong phú của tư tưởng và tình cảm đang tràn ngập trong chính tâm hồn nhà văn” (Pauxtốpxki) và“mong muốn được tiếp xúc với những tâm hồn cô độc và những trái tim chân thành sống bên ngoài văn giới” (R Rôlăng) Khát vọng đồng điệu muốn
được chia sẻ này đã giúp người nghệ sĩ kéo dài, mở rộng những giới hạn nhất thời,những kinh nhiệm cá nhân để hòa nhập với đồng loại và vĩnh cửu Khi đó, sáng tạo
Trang 23nghệ thuật trở thành một cách ứng xử, một cách giao tiếp của người nghệ sĩ vớicuộc đời, với con người và với chính bản thân mình
Tiếp nhận văn học là một hoạt động GT, đối thoại giữa bạn đọc và tác giả thông qua tác phẩm
Trong hoạt động GT ngôn ngữ thông thường, người nhận tin luôn luôn chi phối mạnh mẽ đến chủ thể phát tin Mục đích và hiệu quả của GT có đảm bảo được hay không thể hiện khá rõ ở khả năng lĩnh hội của người nhận Do đó, người phát
muốn duy trì và định hướng quá trình GT thì phải luôn luôn quan tâm, tìm tòi và
thấu hiểu người nhận Với hoạt động GT trong lĩnh vực văn chương nghệ thuật cũng vậy: phát tin là quá trình sáng tạo nghệ thuật của nhà văn (người phát) với
mong muốn gửi đến bạn đọc (người nhận) một nỗi niềm, một tấc lòng, một nỗi
niềm xúc động của mình về cuộc đời, về con người (thông điệp thẩm mĩ) Nhận tin
là quá trình người đọc (người nhận) tiếp nhận bổ sung, sáng tạo, làm đầy đặn, sống
động thêm bức thông điệp thẩm mĩ ấy Sáng tạo và tiếp nhận văn học luôn tồn tạitrong sự tương tác với nhau Có sáng tác văn học thì có tiếp nhận văn học, cũng như
có sản xuất thì có tiêu dùng Trong đó, người đọc có một vai trò đặc biệt quan trọng,
chỉ cần nhắc đến nỗi mong ước cháy bỏng của Nguyễn Hành “Tiếng kêu não nùng của con cuốc, cuối cùng chỉ lơ lửng treo trên cành mà thôi Ta kêu bằng văn chương chữ nghĩa, đến tập thơ này là tột cùng của sự đau khổ rồi Ai là người nghe thấy được, để tiếp nối tiếng kêu của tập thơ này mà kêu thêm lên” [37, 324] là
ta thấy rõ được điều đó Người đọc không chỉ tham gia hoạt động lĩnh hội tác phẩmsau khi nhà văn hoàn thành mà thật ra đã bắt đầu xuất hiện ngay từ khi nhà văn thainghén, và trong suốt quá trình hình thành tác phẩm Sự sống của tác phẩm chỉ đượcnuôi dưỡng, mở rộng và nâng cao khi có người đọc và sự tiếp nhận của người đọc:
“tác phẩm văn học như một con quay kì lạ, chỉ có thể xuất hiện trong sự vận động Muốn làm cho nó xuất hiện cần phải có một hoạt động cụ thể được gọi là sự đọc,
và tác phẩm văn học chỉ kéo dài chừng nào sự đọc còn có thể tiếp tục Ngoài sự đọc
ra, nó chỉ còn là vệt đen trên từ giấy trắng” [63, 77]
Trang 24Trong hoạt động GTVH, tiếp nhận văn học là một quá trình quen thuộcnhưng cũng đầy bí ẩn A France coi đó là cuộc đối thoại tay đôi giữa tác giả và độcgiả V Huygo thì coi đó là một trận đấu mà kết quả khó mà biết trước được Tác giả
Trần Đình Sử có lí khi cho rằng “Tiếp nhận văn học là một cuộc giao tiếp, đối thoại
tự do giữa người đọc và tác giả qua tác phẩm Nó đòi hỏi người đọc tham gia bằng tất cả trái tim, khối óc, hứng thú và nhân cách, tri thức và sức sáng tạo” [20, 325].
Như vậy, tiếp nhận TPVC là độc giả đi thực hiện một hoạt động giao lưu, đối thoại,một hành vi khám phá, nhận thức về con người và cuộc sống qua lăng kính của nhàvăn Trong quá trình tiếp nhận, thế giới nội tâm của độc giả sẽ gặp gỡ thế giới nộitâm của nhà văn, từ đó người đọc tìm thấy ở tác phẩm một sự hòa đồng thẩm mĩ,tạo một sự đồng nhất thẩm mĩ Khi đó TPVC trở thành nơi bộc bạch của trí tuệ vàtâm hồn, tình cảm con người Phần thì của tác giả, phần thì của nhân vật, lúc thì củamọi người, lúc thì của “cái tôi” riêng lẻ, lúc thì của người đối thoại Ở đó, nhà văn
và người đọc “giao lưu”, tiếp xúc để thấu hiểu, cảm thông những cung bậc tâm tư,tình cảm; trao đổi không ngừng nghỉ về những vấn đề nhân sinh của đời sống con
người Chẳng hạn khi đọc truyện ngắn Chí Phèo của Nam Cao, người đọc có thể
đồng điệu, tri âm với những mong muốn, khát vọng, những vui buồn hay những đaukhổ, dằn vặt của Nam Cao gửi gắm qua hình tượng nhân vật cùng tên Có thể nói,Chí Phèo là hiện thân đầy đủ nhất cho nỗi cùng cực, bất hạnh của người nông dân.Chí Phèo sinh ra trong đói nghèo, tủi nhục, cô độc; tồn tại trong sự ghê sợ, ghẻ lạnhcủa người đời và chết đi cũng trong tuyệt vọng, cô độc Hắn chết mà vẫn mang theo
một khát vọng lương thiện cháy bỏng “Tao muốn làm người lương thiện” cùng nỗi đau đớn, tuyệt vọng “Ai cho tao lương thiện? Làm thế nào cho mất được những vết mảnh chai trên mặt này? Tao không thể là người lương thiện nữa!.” Chí Phèo thức
tỉnh lương tâm, Chí gắng gượng trở về với xã hội con người, Chí đã đến ngưỡngcửa trở lại làm người nhưng cánh cửa mở vào xã hội loài người vẫn đóng chặt trước
mắt Chí Hắn có hai sự lựa chọn – quay trở về với cuộc sống của loài quỷ dữ, tồn tại
về thân xác nhưng một lần nữa bị hủy hoạn về linh hồn và chết về thân xác nhưnggiữ được nhân tính con người? Vậy Chí Phèo sẽ lựa chọn như thế nào? Sau khi
Trang 25nhân tính trở về, hắn thấm thía ý nghĩa của cuộc sống được sống với linh hồn conngười, với nhân tính con người Chí Phèo thà chết chứ không thể một lần nữa quaytrở về cuộc sống của loại quỷ dữ để bán linh hồn, để hủy hoại lương tâm Cái chếtcủa Chí chỉ là cái chết về thân xác nhưng lương tâm thì chiến thắng Đúng như có
nhà nghiên cứu đã nói “Chí Phèo sống với Thị Nở, Chí có năm ngày sống như một con người và chết như một con người” Chết như một con người chính là sự chiến
thắng của lương tâm Từ hình tượng Chí Phèo, người đọc có thể nhận thấy: điềuNam Cao đau khổ nhất và khai thác nhiều nhất ở nhân vật nông dân là nhân phẩm bịxúc phạm: tâm hồn thui chột, tích cách méo mó, ngay cả đến bộ mặt người cũngkhông còn nguyên vẹn Nhưng đồng thời đằng sau những nhân hình, nhân tình méo
mó ấy là bản chất lương thiện bị khuất lấp chỉ cần gặp ngọn gió yêu thương sẽ bùnglên dữ dội Đó cũng là điều nhà văn Nam Cao luôn trăn trở, suy nghĩ, thể nghiệm,khám phá và đề xuất đối thoại, GT với người đọc ngày hôm nay TPVC khi đó trởthành người bạn, người đồng hành trên đường đời chuyện trò, tâm sự đối thoại vớingười đọc Sự đối thoại đó là sự đối thoại bên trong tâm hồn người đọc, là sự tự đốithoại giữa phần tốt và phần xấu, lương tri và tội lỗi, giữa lý trí sáng suốt, cao đẹp vàham muốn tối tăm đê hèn trong mỗi cá nhân TPVC luôn khơi gợi và kích thíchnhững cuộc GT, đối thoại, đấu tranh ấy Xét về bản chất, TPVC là một sự GT, đốithoại đa chiều và diễn ra liên tục
Mặt khác, người đọc khi đến với TPVC cũng là đến với sự thể nghiệm, sựnếm trải thẩm mĩ Chính sự nếm trải ấy đem lại những rung động, những phản ứngriêng ở mỗi thế hệ, mỗi cá nhân người đọc Người đọc sẽ huy động toàn bộ nhữngvốn sống, vốn ngôn ngữ, vốn văn hóa của mình để nhận thức lại một lần nữanhững vấn đề nhân sinh thẩm mĩ được đặt ra trong tác phẩm Giữa bạn đọc với nhàvăn, với TPVC khi ấy luôn luôn diễn ra một cuộc đối thoại giữa quá khứ và hiện tại,giữa hiểu theo cách này hay theo cách khác, giữa đúng và sai Sự kiến giải củangười đọc không nhất thiết trùng khớp với ý tưởng sáng tác của tác giả, thậm chícòn bổ sung, sáng tạo thêm những sắc thái mới, những ý nghĩa mới, làm cho giá trịthẩm mĩ của tác phẩm giàu có hơn, phong phú hơn, lung linh tỏa sáng hơn Sự
Trang 26“vênh lệch” ấy bắt nguồn từ nguyên lí sáng tạo “ý tại ngôn ngoại”, ở cách nói “nửachừng” của nhà văn, dành phần cho người tiếp nhận nhưng cũng có phần nằm ngoài
ý tưởng sáng tác của tác giả Lí luận văn học gọi đó là khả năng đồng sáng tạo của người đọc Nhà thơ Nguyễn Đức Mậu trong bài thơ Hành trình của bầy ong viết:
Với đôi cánh đẫm nắng trờiBầy ong bay đến trọn đời tìm hoaKhông gian là nẻo đường xaThời gian vô tận mở ra sắc màu
Tìm nơi sâu thẳm rừng sâuBập bùng hoa chuối, trắng màu hoa ban
Tìm nơi bờ biển sóng trànHàng cây chắn bão dịu dàng mùa hoaTìm nơi quần đảo khơi xa
Có loài hoa nở như là không tên
Khi tiếp nhận bài thơ này, nhà thơ Bế Kiến Quốc có suy nghĩ “tác giả giúp tacảm nhận theo cách cảm nhận của loài ong, nghĩa là cảm nhận qua những loài hoađặc trưng của từng nơi” Nhưng ông đặc biệt chú ý đến loài hoa không tên trong câu
thơ “Có loài hoa nở như là không tên”: “Phải chăng nhà thơ muốn nói tới những loài hoa mới mẻ, lạ lùng, chưa bao giờ được ai biết tới (của vùng đất lạ, khơi gợi trí tò mò?) Hoặc nhà thơ muốn ta liên hệ tới những cuộc đời hi sinh thầm lặng, không tuổi, không tên của người chiến sĩ bảo vệ biên cương hải đảo của đất nước?”
[46, 236] Có thể thấy, khi sáng tác bài thơ này, ý tưởng nghệ thuật của nhà thơNguyễn Đức Mậu tập trung khắc họa hình tượng bầy ong và theo đó “đời con ong làmột hành trình qua bao mùa mưa nắng để đi tìm mật ngọt”, chẳng “khác chi đờisống có ích của một con người” Đó chính là một ý nghĩa thẩm mĩ cao đẹp của cuộcsống Nhưng khi thâm nhập vào không khí nghệ thuật của bài thơ, nhà thơ Bế KiếnQuốc ngoài sự rung động về hình tượng bầy ong, còn rất xúc cảm với hình tượngcủa các loài hoa, trong đó có những loài hoa không tên – có thể liên tưởng đếnnhững cuộc đời hi sinh thầm lặng nơi biên cương hay hải đảo của những người
Trang 27chiến sĩ vô danh Ở đây bạn đọc vừa GT, đối thoại về vấn đề nhân sinh tác giả đềxuất, vừa bổ sung thêm những nét nghĩa mới bất ngờ, độc đáo góp phần làm cho giátrị nghệ thuật và phạm vi GT của bài thơ càng mở rộng hơn
Như vậy, mục đích của TPVC không chỉ là thông tin mà còn là một môi
trường thẩm mĩ để người đọc chuyển hóa từ “chủ thể tiếp nhận” thành “người tham
dự” vào những biến cố và số phận con người (tự sự) hoặc những xúc cảm mãnh liệt(trữ tình) trong tác phẩm TPVC khi đó là một “đề án tiếp nhận”, “một cấu trúc mời
gọi” chỉ được “giải mã” trong thước đo của người đọc: tính chất mở là điều kiện của mọi sự thưởng thức thẩm mĩ, và tất cả mọi hình thức thưởng thức, nếu mang giá trị thẩm mĩ đều mở (Umberto Eco) Thâm nhập vào thế giới nghệ thuật của
TPVC là người đọc bước vào một cuộc GT lớn, liên tục với tác giả trên mọi phươngdiện của đời sống thực tại Người đọc mong chờ ở nhà văn những kiến giải độc đáo,những ý tưởng mới mẻ giúp họ mở rộng tầm nhìn, các nghĩ Đồng thời họ cũngđóng góp thêm “tiếng nói cá nhân” mình vào cách cảm, cách nghĩ, cách lí giải củatác giả gửi gắm trong tác phẩm Chính quá trình đối thoại, GT này của bạn đọc đãlàm nên sự sống của TPVC Không chỉ GT với tác giả (thông qua TPVC), độc giảđồng thời còn GT với nhau, GT với chính bản thân mình và mỗi độc giả lại có một
kiến giải riêng làm phong phú thêm tác phẩm:“cùng một văn bản có thể làm xuất hiện những tác phẩm khác nhau trong quá trình GT với những người đọc khác nhau hoặc cùng với một người đọc ở những thời điểm khác nhau” [Rosenblatt, 34,
Trang 28tiếp nhận của mình Nếu không có TPVC hoạt động tiếp nhận của người đọc khôngthể diễn ra Thông qua hệ thống ngôn ngữ và hình tượng nghệ thuật trong tác phẩm,người đọc mới có thể nhận ra khả năng phản ánh hiện thực đời sống, hiểu được tưtưởng, thái độ, tình cảm của nhà văn trước những vấn đề của cuộc sống Trong đó,văn bản ngôn ngữ là nền tảng vật chất duy nhất của TPVC Nhờ có văn bản ngôn
ngữ mà người đọc có thể tiếp nhận một TPVC nhiều lần, nhiều mức độ trong những
không gian và thời gian khác nhau Điều mà bạn đọc đầu tiên lĩnh hội được qua tácphẩm dường như là vấn đề mà tác phẩm nêu ra cho người đọc, đòi hỏi được giảiđáp Rồi sự giải đáp của người đọc đối chiếu trở lại với tác phẩm sẽ nảy sinh vấn đềmới, đòi hỏi người đọc lại tiếp tục giải đáp Nhờ đó mà quá trình GT, đối thoạigiữa nhà văn và người đọc luôn diễn ra liên tục Rosenblatt đã mô tả cơ chế GT
giữa người đọc và văn bản như sau: “Qua phương tiện ngôn từ, văn bản đem vào trong ý thức người đọc những ý niệm nào đó, những trải nghiệm đáng nhớ, hình ảnh về những nơi chốn, con người, hoạt động, khung cảnh nào đó Những nét riêng biệt này, đặc biệt là những liên tưởng đã bị nhấn chìm, bị che phủ mà từ ngữ và hình ảnh đang gợi lên cho người đọc sẽ xác định rõ điều tác phẩm muốn truyền đạt, muốn gửi đến anh ta” [34, 44] TPVC trở thành phương tiện GT văn hóa tinh thần
bền vững giữa nhà văn và bạn đọc từ chất liệu ngôn ngữ đến toàn bộ nội dung vàhình thức biểu đạt
Tóm lại, bản chất của mối quan hệ giữa nhà văn và bạn đọc, giữa sáng tạo
và tiếp nhận là một hoạt động GT với đầy đủ các nhân tố: nhân vật GT (người phát,
người nhận), nội dung GT, phương tiện GT hướng tới mục đích GT cụ thể GT như vậy rõ ràng là chức năng thường tại của TPVC Một TPVC chân chính luôn ra
đời trong GT và bằng GT thầm lặng giữa nhà văn với cuộc sống, nhà văn với bạnđọc TPVC sẽ tạo nên những vòng sóng GT vô cùng vô tận nếu nội dung và hìnhthức của nó đạt được độ hoàn mĩ của nghệ thuật Là một hiện tượng tinh thần,TPVC mang trong nó rất nhiều tầng bậc, giọng điệu tâm hồn, trí tuệ nên tiếng nóicủa nó thường đa thanh, đa giọng điệu Ai cũng có thể đọc TPVC với hứng thú, khảnăng và trình độ của riêng mình nên hoạt động GT giữa tác phẩm với công chúng là
Trang 29hết sức rộng rãi, dễ tạo ra những nhìn, cách cảm, cách nghĩ khác nhau Vì vậy, cần
có cái nhìn rộng mở về GT và tiếp nhận văn chương, có thể và cần thiết gạn lọc cáchạt nhân hợp lí của tiếp nhận Đây là cơ sở khoa học để người đọc khám phá, chiếmlĩnh một TPVC; đồng thời cũng là một gợi ý thiết thực cho hoạt động dạy họcTPVC ở trường THPT gắn với mục tiêu phát triển NLGTTM cho người học
1.1.1.2 Giao tiếp thẩm mĩ
Giao tiếp thẩm mĩ (GTTM) là quan hệ thẩm mĩ giữa chủ thể thẩm mĩ với đối tượng thẩm mĩ và giá trị thẩm mĩ được hình thành trong mối quan hệ này Giao tiếp thẩm mĩ được tạo thành từ hai yếu tố cơ bản là giao tiếp thẩm mĩ của con người đối với hiện thực, với đối tượng và giá trị thẩm mĩ được xác định trong quan hệ này.
Để làm rõ nội hàm khái niệm “giao tiếp thẩm mĩ” trong dạy học TPVC,trước hết, ta cần làm rõ khái niệm “quan hệ thẩm mĩ” Theo triết học nghiên cứu về
Mỹ học của Mác - Lênin thì “quan hệ thẩm mĩ là mối quan hệ cụ thể về mặt thẩm
mĩ của một chủ thể thẩm mĩ nào đó trước một đối tượng thẩm mĩ nhất định” Quan
hệ thẩm mĩ chỉ có thể được thiết lập khi có hai yếu tố cơ bản: đối tượng thẩm mĩ vàchủ thể thẩm mĩ
Chủ thể thẩm mĩ là chủ thể người hoạt động về mặt thẩm mĩ, “là chủ thể xã hội có khả năng hưởng thụ, sáng tạo và đánh giá thẩm mĩ” Con người không cóhoạt động thẩm mĩ thì không thể trở thành chủ thể thẩm mĩ Hoạt động nhận thứcthẩm mĩ của chủ thể thẩm mĩ gắn liền với toàn bộ xúc cảm, tình cảm, các quan hệthưởng ngoạn, đánh giá, sáng tạo theo quy luật của cái Đẹp Để biểu thị chủ thểthẩm mĩ, người ta sử dụng các phạm trù cơ bản: ý thức thẩm mĩ, cảm xúc thẩm mĩ,thị hiếu thẩm mĩ, quan điểm và lí tưởng thẩm mĩ
Ý thức thẩm mĩ có thể hiểu là một bộ phận của ý thức xã hội được biểu hiện
dưới hình thức trực tiếp, cảm tính Nó được cấu thành bởi những phạm trù thẩm mĩkhác vốn là những thành tố quan trọng phụ thuộc và làm nên nó như cảm xúc thẩm
mĩ, thị hiếu thẩm mĩ, quan điểm thẩm mĩ và lý tưởng thẩm mĩ… Do đó, ý thức thẩm
mĩ là phạm trù thể hiện chủ thể thẩm mĩ một cách bao quát nhất Ý thức thẩm mĩđặc biệt tập trung trong hoạt động nghệ thuật của người nghệ sĩ Với tư cách là một
Trang 30hoạt động thẩm mĩ chuyên biệt, nghệ thuật đã làm cho ý thức thẩm mĩ ở người nghệ
sỹ được thể hiện một cách trọn vẹn nhất, dưới hình thức biểu hiện cao nhất Về bảnchất, ý thức thẩm mĩ không chỉ là một hình thái nhận thức thế giới mà còn là hìnhthái tự nhận thức của con người Với ý nghĩa đó, ý thức thẩm mĩ làm phong phúthêm cuộc sống vốn đã vô cùng phong phú của con người
Cảm xúc thẩm mĩ chính là trạng thái rung động trực tiếp của con người trước
các hiện tượng thẩm mĩ khách quan trong thiên nhiên, trong đời sống và trong nghệthuật; bao gồm cảm xúc thẩm mĩ tích cực và tiêu cực Sắc thái cảm xúc thẩm mĩ đadạng như chính hiện tượng thẩm mĩ khách quan muôn hình vạn trạng Đó có thể làcảm giác sảng khoái trước cái đẹp, sửng sốt trước cái cao cả, đau xót trước cái bi,khinh bỉ trước cái hài, ghê tởm trước cái thấp hèn và buồn rầu trước cái xấu… Đâychính là phạm trù biểu hiện chủ thể thẩm mĩ đầu tiên trước đối tượng thẩm mĩ Nó
là dấu hiệu đầu tiên thể hiện mối quan hệ thẩm mĩ của con người đối với đối tượngthẩm mĩ và thực tại đời sống Nó được coi như một trong những biểu hiện rõ nhấtcủa “tính người” Bêlinxki cho rằng nếu không có tình cảm thẩm mĩ thì ngay mộtcon người có học thức cũng không đứng cao hơn động vật mấy tí Hiển nhiên làcảm xúc thẩm mĩ có vai trò to lớn trong mọi hoạt động thẩm mĩ nhất là trong hoạtđộng nghệ thuật Cảm xúc thẩm mĩ chính là động lực mạnh mẽ thôi thúc người nghệ
sĩ trong hoạt động sáng tạo Thiếu sức mạnh tự bên trong này sẽ không giải thíchnổi vì sao người nghệ sĩ thường coi sáng tạo như “sự giải thoát nội tâm” Ngườinghệ sĩ sáng tạo khi không thể đừng, không thể không sáng tạo Và cảm xúc chính
là nhân tố thấm vào mọi khâu, mọi giai đoạn của quá trình sáng tạo nghệ thuật Vềphương diện thưởng ngoạn và đánh giá nghệ thuật thì cảm xúc thẩm mĩ là nguồngốc, là yếu tố đầu tiên và quan trọng chi phối hiệu quả thẩm mĩ Vì vai trò đặc biệt
đó trong mọi hoạt động thẩm mỹ nên chủ thể thẩm mĩ cần phải tích lũy và trau dồithường xuyên để cảm xúc thẩm mĩ ngày một dồi dào, tinh tế và sâu sắc
Thị hiếu thẩm mĩ thì được hiểu là các sở thích tương đối ổn định của cá nhân
hay cộng đồng về phương diện thẩm mĩ Thị hiếu thẩm mĩ không mang tính bẩmsinh, không có tính chất huyền bí mà được hình thành, biến đổi nhờ những hoạt
Trang 31động duy trì, phát triển sự sống của bản thân con người Thị hiếu thẩm mĩ thường
đa dạng, riêng biệt, độc đáo; nói lên sự giàu có của đời sống thẩm mĩ, đời sống vănhóa và đời sống tinh thần của con người Trong các hình thái ý thức, nghệ thuật cóvai trò rất lớn trong việc xây dựng những thị hiếu thẩm mĩ tích cực
Quan điểm thẩm mĩ là một bộ phận hợp thành thế giới quan của cá nhân và
xã hội Quan điểm thẩm mĩ là sự khái quát nhu cầu thẩm mĩ của xã hội và hoạt độngthẩm mĩ của con người Đó là những nguyên tắc tiếp cận các hiện tượng và quátrình thẩm mĩ ngoài đời sống và trong nghệ thuật Do vậy, quan điểm thẩm mĩ chỉđạo mọi hoạt động thẩm mĩ, đặc biệt là hoạt động nghệ thuật của người nghệ sĩ
Lý tưởng thẩm mĩ là hình ảnh mẫu mực cảm quan về sự hoàn thiện hoàn mĩ
của cuộc sống và con người Lý tưởng thẩm mĩ nói lên hình ảnh đẹp cần phải hướngtới của con người và cuộc sống nên nó là hình thức biểu hiện cao nhất của ý thứcthẩm mĩ Mọi hoạt động thẩm mĩ đều lấy nó làm đích để vươn tới, đều coi nó làmchuẩn mực để đánh giá hiệu quả và ý nghĩa của mình Lý tưởng thẩm mĩ còn là sảnphẩm cao nhất của ý thức thẩm mĩ Xây dựng một lý tưởng thẩm mĩ cao đẹp luôn làmong muốn của mỗi cá nhân và của cả xã hội
Trong quan hệ thẩm mĩ, yếu tố cơ bản thứ hai gắn liền với chủ thể thẩm mĩ làđối tượng thẩm mĩ Theo Mác - Lênin: “Đối tượng thẩm mĩ chính là giá trị thẩm mĩ chứa đựng trong các sự vật, hiện tượng khách quan trong một mối quan hệ thẩm mĩ
cụ thể nào đó” Đối tượng thẩm mĩ thường trực tiếp tác động tới chủ thể thẩm mĩ ởmột thời điểm, một địa điểm cụ thể, xác định Nó cuốn hút chủ thể thẩm mĩ bởi sức
gợi cảm đặc biệt Đặc tính đầu tiên, cơ bản nhất của đối tượng thẩm mĩ là tính
khách quan I.Kant cho rằng, “vẻ đẹp không phải ở má hồng người thiếu nữ mà trong đôi mắt của kẻ si tình” là chưa thật thấu đáo Ta biết rằng: cái thẩm mĩ của
bản thân sự vật, hiện tượng toát lên từ toàn bộ những phẩm chất, những thuộc tính
có thật, không lệ thuộc vào người tiếp nhận nó Năng lực thẩm mĩ của chủ thể cóthể làm tăng hay giảm phẩm chất hay thuộc tính thẩm mĩ, song không tạo ra chúng.Nhấn mạnh mặt này hay xem nhẹ mặt kia đều không biện chứng, không khoa học.Tuy nhiên, phẩm chất và thuộc tính của đối tượng thẩm mĩ không chỉ bắt nguồn từ
Trang 32bản thân sự vật, hiện tượng mà còn bắt nguồn từ mối tương quan giữa chúng vớimôi trường chung quanh Cánh chim chỉ đẹp khi chao lượn giữa bầu trời xanh baola; cánh buồm chỉ đẹp khi vượt muôn trùng sóng vỗ giữa biển khơi, tác phẩm nghệthuật chỉ đẹp khi sống giữa cuộc đời và gắn với cuộc đời rộng lớn Phẩm chất vàthuộc tính của đối tượng thẩm mĩ có thể nảy sinh trước hết từ hình thức hoặc nộidung, song giá trị thẩm mĩ của sự vật, hiện tượng bao giờ cũng được xác định chủyếu bởi nội dung Điều này có ý nghĩa phổ quát, đúng với mọi hiện tượng thẩm mỹngoài đời sống Còn trong nghệ thuật, nó trở thành nguyên lý mỹ học chi phối mọihoạt động sáng tạo, cảm thụ, và đánh giá nghệ thuật Nhấn mạnh đến đặc tính kháchquan của đối tượng thẩm mĩ, chúng ta cần lưu tâm đến mối quan hệ của nó với chủthể Giá trị thẩm mĩ tồn tại khách quan nhưng nó chỉ được xác định trong mối quan
hệ với một chủ thể thẩm mĩ Bởi vì chủ thể là người sinh ra giá trị nhưng cũng làngười xác định giá trị của đối tượng thẩm mĩ Chỉ người có năng lực thẩm mĩ mới
có thể khai thác hết giá trị của đối tượng thẩm mĩ Ngoài tính khách quan, ta cần
chú ý đến tính độc đáo của đối tượng thẩm mĩ Có thể xem đời sống thẩm mĩ là lãnh
địa của cái riêng, nơi sự vật, hiện tượng tìm thấy sự bộc lộ mình đầy đủ nhất Điềunày đặc biệt có ý nghĩa đối với nghệ thuật, Lêonit Lêonop đã từng khẳng định
“Không có tiếng nói riêng, không mang lại những điều mới mẻ cho văn chương mà chỉ biết dẫm theo đường mòn thì tác phẩm nghệ thuật sẽ chết” Nếu trong sản xuấtvật chất, người ta cần tạo ra những sản phẩm hàng loạt “làm theo một vài kiểu mẫuđưa cho” thì nghệ thuật lại đòi hỏi những sản phẩm độc đáo, duy nhất “do cá nhânthi sĩ làm” Nếu trong hoạt động xã hội, người ta muốn có những người ưu tú nhất,càng nhiều càng quý thì nghệ thuật lại cần những gương mặt sáng tạo riêng, không
lặp lại người khác “là người thì không nên có cái tôi nhưng làm thơ thì không thể
không có cái tôi” (Viên Mai) Không nắm bắt được quy luật này, người nghệ sĩ sẽ
nhanh chóng bị công chúng yêu nghệ thuật lãng quên
Để biểu thị đối tượng thẩm mỹ, người ta sử dụng các phạm trù thẩm mĩ cơ
bản như cái đẹp, cái xấu, cái cao cả, cái thấp hèn, cái bi, cái hài, cái hùng… Ngoài
ra còn có rất nhiều những phạm trù thẩm mĩ không cơ bản mà chúng ta không thể
Trang 33liệt kê hết được, chúng phong phú như chính bản thân đời sống thẩm mĩ Mỹ học
Mác - Lênin sử dụng khái niệm cái thẩm mĩ để khái quát đối tượng thẩm mĩ Đó là
phạm trù thẩm mĩ bao trùm lên các phạm trù thẩm mĩ cụ thể, cơ bản và không cơbản Căn cứ vào sự phù hợp với quy luật phát triển tất yếu của sự sống, của lịch sử
và của xã hội, ta có phạm trù thẩm mĩ tích cực (cái đẹp, cái cao cả, cái bi, cái hùng)
và phạm trù thẩm mĩ tiêu cực (cái xấu, cái thấp hèn, cái hài) Trong đó, cái đẹp
giữ vị trí trung tâm trong hệ thống các phạm trù thể hiện đối tượng thẩm mĩ Còn cái
cao cả, cái bi, cài hài là các hình thức tồn tại khác của cái đẹp Từ trong bản chất, cái bi chính là cái đẹp, cái cao cả bị thất bại tạm thời mà tạo nên sự đồng cảm, đồng
khổ xã hội rộng lớn Cho nên cái bi còn được gọi là cái đẹp bị hủy diệt Cái hài là gì nếu không phải là sự phá bỏ sự hài hòa vốn là đặc tính nổi bật của cái đẹp Cái hài lại ưa đội lốt cái đẹp, nhân danh cái đẹp Càng đội lốt cái đẹp, cái hài càng đáng phỉ báng, giễu cợt Thế còn cái cao cả? Mỹ học Mác - Lênin xem cái cao cả là cái đẹp
ở mức độ phát triển rực rỡ Cái cao cả thể hiện tập trung ở những sự kiện, hiện
tượng trọng đại gợi ra trong con người một tình cảm đặc biệt, gắn liền với sự kínhtrọng, khâm phục, tự hào và vui sướng Bên cạnh những phạm trù thẩm mĩ tích cực,
Mỹ học còn quan tâm đến cái xấu - phạm trù thẩm mĩ sóng đôi đối lập với cái đẹp,
bằng việc đảo ngược toàn bộ thuộc tính của cái đẹp Với ý nghĩa ấy, mọi hiện tượng
và các quá trình càng xấu thì càng xa lạ với cái đẹp Như vậy, cái đẹp đóng vai trò
trung tâm của các phạm trù thẩm mĩ
Vị trí trung tâm của cái đẹp trước hết bộc lộ ở chỗ, trong một chừng mực
nhất định, người ta có thể dùng các thuộc tính cơ bản của cái đẹp để xác định bản
chất các phạm trù thẩm mĩ khác Ngoài ra, vị trí trung tâm ấy còn đặc biệt được bộc
lộ trong hình thái biểu hiện cao nhất của mối quan hệ thẩm mỹ là nghệ thuật Tìm
tòi và sáng tạo cái đẹp là khát vọng mãnh liệt của người nghệ sĩ muôn đời Tácphẩm nghệ thuật - sản phẩm sáng tạo của người nghệ sĩ chính là nơi hội tụ và lưugiữ tất cả những vẻ đẹp của tự nhiên, xã hội và con người Cái đẹp trong nghệ thuậtmang vẻ hoàn thiện, đẹp cả nội dung và hình thức Đó là cội nguồn sức mạnh đểnhững tác phẩm nghệ thuật chân chính sống mãi với thời gian
Trang 34Tuy nhiên, sự phân chia các phạm trù thẩm mĩ như trên chỉ là tương đốinhằm đáp ứng yêu cầu nhận thức về đối tượng thẩm mĩ Trong thực tế, các phạm
trù thẩm mĩ không tồn tại độc lập, tách biệt nhau mà giữa chúng luôn tồn tại sự
gắn bó và sự chuyển hóa qua lại tinh tế và sâu sắc Cho nên, mọi cách xem xét
đơn giản, một chiều đều tỏ ra cất cập, đôi khi bất lực trong việc giải đáp nhữnghiện tượng thẩm mĩ vốn vô cùng phức tạp đan chéo nhau trong đời sống cũngnhư trong nghệ thuật
Quan hệ thẩm mĩ nói chung được xác lập trên mối quan hệ giữa chủ thể thẩm
mĩ và đối tượng thẩm mĩ về phương diện thẩm mĩ Các quan hệ thẩm mĩ của con
người vô cùng phong phú và phức tạp Nó gắn liền với bản chất thẩm mĩ của đối tượng thẩm mĩ, và được chi phối bởi ý thức thẩm mĩ của chủ thể thẩm mĩ
Trong một giờ học TPVC, chủ thể gắn liền với hoạt động tìm tòi, thưởngngoạn và đánh giá thẩm mĩ là bạn đọc HS (chủ thể thẩm mĩ) Đối tượng hướng tớicủa chủ thể HS chính là TPVC (đối tượng thẩm mĩ) Quan hệ thẩm mĩ ở đây chính
là quan hệ giữa bạn đọc HS và TPVC về phương diện thẩm mĩ Căn cứ vào nội hàmcủa khái niệm quan hệ thẩm mĩ, chủ thể và đối tượng thẩm mĩ đã trình bày ở trên,chúng tôi đề xuất cách hiểu về “Giao tiếp thẩm mĩ” trong dạy học TPVC như sau:
Giao tiếp thẩm mĩ (GTTM) là quan hệ thẩm mĩ giữa chủ thể thẩm mĩ (HS) với đối tượng thẩm mĩ (TPVC) và giá trị thẩm mĩ được hình thành trong mối quan
hệ này GTTM được tạo thành từ hai yếu tố cơ bản là giao tiếp thẩm mĩ của HS với hiện thực, với đối tượng và giá trị thẩm mĩ được xác định trong quan hệ này
Trong hoạt động dạy học TPVC, ta có thể khẳng định quan hệ giữa bạn đọc
HS và TPVC là quan hệ về phương diện thẩm mĩ là xuất phát từ bản chất thẩm mĩ
của TPVC – sản phẩm sáng tạo nghệ thuật theo “quy luật của cái đẹp” Do đó,TPVC chính là nơi hội tụ của cái đẹp, là đỉnh cao của các giá trị thẩm mĩ
Cái đẹp có thể có khắp mọi nơi, mọi lúc nhưng khát vọng về cái đẹp củanhân loại thì chưa bao giờ được thỏa mãn hay dừng lại bởi cuộc sống cạnh cái đẹpcòn biết bao cái xấu, cái chưa đẹp và nhu cầu tinh thần của con người thì vô tận:
“nhu cầu về cái đẹp và sự sáng tạo thể hiện cái đẹp gắn bó hữu cơ với con người và
Trang 35nếu không có nó có lẽ con người không còn muốn sống trên cõi đời này nữa”
(Đôxtôiépxki) Trong khát khao tìm tòi và sáng tạo cái đẹp, TPVC ra đời như mộtnhu cầu không thể thiếu của tâm hồn, trí tuệ con người
Nói đến TPVC là nói đến quy luật của những tình cảm, cảm xúc thẩm mĩ.Phẩm chất giàu tình cảm khiến người nghệ sĩ dễ rung động trước những sự kiện,biến cố từ quá khứ đến hiện tại Nghệ sĩ có thể xúc động trước những sự kiện lớnlao của đất nước, của dân tộc; nhưng cũng dễ động lòng trắc ẩn, chia sẻ niềm vui,nỗi buồn với những số phận nhỏ bé bình dị trong cuộc sống Tấm lòng nhạy cảm, dễrung động trước hiện thực cuộc sống sẽ là động cơ trực tiếp, là cội nguồn của sángtạo văn chương Tình cảm ấy của người nghệ sĩ thường được nâng lên đến mứcmãnh liệt, trở thành một nhu cầu được chia sẻ, được đồng cảm Khi đó tình cảmkhông chỉ là động cơ của sáng tạo mà đã trở thành đối tượng của tiếp nhận vănchương Đến với TPVC là ta đến với thế giới của những tình cảm, cảm xúc cao quýcủa con người Đó có thể là nỗi nhớ trong tình yêu, là sự say mê lí tưởng hay sựphẫn nộ trước cái ác, cái xấu; sự xúc động nghẹn ngào của con tim và khối óc trướcnhân cách cao đẹp của con người Chính những tình cảm cao đẹp của văn chương
sẽ đánh thức những tình cảm thẩm mĩ sâu sắc, mới mẻ ở người đọc: “lời văn tả ra hình như máu chảy ở đầu ngọn bút, nước mắt thấm ở trên tờ giấy, khiến ai đọc đến cũng phải thấm thía, ngậm ngùi, đau đớn như đứt ruột ”(Mộng Liên Đường chủ
nhân đánh giá về Truyện Kiều - Nguyễn Du)
Không chỉ chứa đựng những tình cảm thẩm mĩ cao đẹp, TPVC còn là nơi lưugiữ và thể hiện lí tưởng về cái đẹp, cái đẹp hoàn thiện trong đời sống tự nhiên và xãhội Cái đẹp trong văn chương có thể tập trung hơn, đậm đặc hơn cái đẹp trong đờisống nhưng đều được bắt nguồn, được nâng cao, được kết tinh từ chính cái đẹp
muôn hình vạn trạng của đời sống khách quan Trước hết, cái đẹp trong TPVC là cái đẹp của thiên nhiên được phản ánh qua bàn tay, trái tim và khối óc của người nghệ sĩ Với người nghệ sĩ, thiên nhiên vừa là nơi khởi nguyên, vừa là thước đo đầu
tiên của vẻ đẹp trong đời sống và trong nghệ thuật Thiên nhiên do đó trở thành mộttrong những đối tượng thể hiện hấp dẫn nhất của nghệ thuật muôn đời Đến với
Trang 36TPVC, ta không thể nào quên những câu thơ miêu tả vẻ đẹp hài hòa tuyệt diệu của
bức tranh rừng núi Việt Bắc trong thơ Tố Hữu với “rừng xanh hoa chuối đỏ tươi,
mơ nở trắng rừng, rừng phách đổ vàng, rừng thu trăng rọi hòa bình ” Hay những
câu văn tài hoa miêu tả vẻ đẹp trữ tình, thơ mộng của dòng sông mang nhịp điệu,
âm hưởng của thơ ca trong văn Nguyễn Tuân: “Con sông Đà tuôn dài như một áng tóc trữ tình, đầu tóc chân tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc bung nở hoa ban, hoa gạo tháng hai và cuồn cuộn mù khói Mèo đốt nương xuân… Bờ sông hoang dại như một bờ tiền sử Bờ sông hồn nhiên như một nỗi niềm cổ tích tuổi xưa” Nhưng điều
đáng nói là trong TPVC, con người không chỉ mô phỏng vẻ đẹp của tự nhiên màcòn thiết lập những trật tự và quan hệ mới để cái đẹp đó nằm trong một cấu trúc độcđáo có khả năng tồn tại mãi mãi Chẳng hạn như trong thơ Đường, dù chỉ chấm phámột cánh chim trời, vẽ một nhành mai, đôi cành trúc, vài ba rặng liễu người nghệ
sĩ cũng mong thể hiện nhịp điệu và hơi thở vô hình, huyền diệu của vũ trụ, niềm vuisống, niềm an ủi của người bạn tự nhiên phóng khoáng, vô tư đối với con người.Hoặc đôi khi các nhà thơ Đường lại mượn vài ba cảnh vật thiên nhiên để gửi gắm
những suy tư, trăn trở của mình trước những vấn đề của đời sống nhân sinh
Nhưng có lẽ, vẻ đẹp chiếm vị trí trung tâm trong TPVC chính là vẻ đẹp nơi
con người và đời sống con người Vẻ đẹp đó có thể toát lên nơi hình hài, vóc dáng con người: “Em tươi tắn như mùa xuân thứ nhất/ Nhưng thủy chung như một sắc mai già/ Đôi mắt mở to, dịu dàng thấm mát/ Sau rất nhiều gian khổ đã đi qua (Bằng
Việt) Cũng có thể đó là vẻ đẹp trong tâm hồn tinh tế, sâu sắc, trong những phẩm
chất cao đẹp của con người: “Hắn (Hộ) có thể hy sinh tình yêu, thứ tình yêu vị kỷ đi; nhưng hắn lại không thể bỏ lòng thương; có lẽ hắn nhu nhược, hèn nhát, tầm thường, nhưng hắn vẫn còn được là người ” (Nam Cao) Đặc biệt, cái đẹp về con
người trong TPVC không xuôi chiều mà được thể hiện ở nhiều phương diện của đời
sống gắn liền với những phạm trù thẩm mĩ khác như cái cao cả “Bác sống như trời đất của ta/ Mong manh áo vảo hồn muôn trượng” cái bi “Anh ngã xuống trên đường băng Tân Sơn Nhất/ Nhưng Anh gượng đứng lên tì súng trên xác trực thăng?
Và Anh chết trong khi đang đứng bắn/ Máu Anh phun theo lửa đạn cầu vồng”(Lê
Trang 37Anh Xuân) Thậm chí khi TPVC miêu tả cái xấu xa, cái thấp hèn, cái tiêu cực cũngđều nhằm làm nổi bật cái cái đẹp, đưa cái đẹp lên tầm cao lí tưởng Tình yêu thươngcon người chân thành và thánh thiện của thị trưởng Ma-đơ-len (từng là người tù khổsai Giăng Van-giăng) càng trở lên đẹp đẽ, cao quý trong sự đối lập tương phản vớitính cách độc ác và thái độ lạnh lùng đến tàn nhẫn của viên cảnh sát Gia-ve Tấmlòng biết “trọng giá người” của Viên quản ngục càng ngời sáng trong thế đối lập về
vị thế xã hội với người tử tù Huấn Cao Như vậy, TPVC là những khám phá mới
mẻ trong đời sống, những khám phá về những giá trị thẩm mĩ, giá trị mang tính tinhthần mang lại cho con người niềm rung cảm thẩm mĩ trước cái đẹp, cái cao cả, cáihùng vĩ, cái hài hòa tinh tế, lòng yêu đời, yêu cuộc sống
TPVC không chỉ là nơi lưu giữ, lưu truyền cái đẹp mà còn là nơi sáng tạo cáiđẹp vốn chưa có hoặc không có trong hiện thực Đó là cái đẹp của tưởng tượng mơước, của lý tưởng, là cái đẹp cần có và nên có trong văn chương lãng mạn, thầnthoại, huyền thoại như đôi hài bảy dặm của Tí Hon, cây đèn thần của Alađanh,chiếc niêu cơm của Thạch Sanh TPVC đã sáng tạo ra một thế giới nghệ thuật mới,
ở đó hàm chứa một cái nhìn mới, một quan niệm mới của người nghệ sĩ về cái đẹpcủa đời sống và con người
Thông qua tìm kiếm, phản ánh và sáng tạo cái đẹp, TPVC nhằm hướng tớimục đích cao cả: rèn luyện, bồi dưỡng cảm xúc, thị hiếu, thẩm mĩ, lý tưởng, nhậnthức và năng lực sáng tạo thẩm mĩ Cảm xúc thẩm mĩ có thể tinh tế, vi diệu khi đọc
những câu thơ như “Ô hay! Buồn vương cây ngô đồng/ Vàng rơi, vàng rơi/ Thu mênh mông” của Bích Khê mà Hoài Thanh, Hoài Chân trong Thi nhân Việt Nam đã
xếp hạng “những câu thơ hay nhất trong thơ Việt Nam” Hình tượng PavelKorchagin trong “Thép đã tôi thế đấy” của nhà văn N.A.Ostrovsky với phương
châm sống: Cái quý nhất của con người ta là sự sống Đời người chỉ sống có một lần Phải sống sao cho khỏi xót xa, ân hận vì những năm tháng đã sống hoài, sống phí, cho khỏi hổ thẹn vì dĩ vãng ti tiện và hèn đớn của mình, để khi nhắm mắt xuôi tay có thể nói rằng: tất cả đời ta, tất cả sức ta, ta đã hiến dâng cho sự nghiệp cao đẹp nhất trên đời, sự nghiệp đấu tranh giải phóng loài người đã từng cuốn hút
Trang 38bao thế hệ thanh niên trên thế giới như một hình mẫu lí tưởng thẩm mĩ về ngườicách mạng Nhờ tiếp xúc với cái đẹp phong phú và đa dạng trong TPVC, con người
sẽ được “thanh lọc” tâm hồn mình, sẽ biết sống ý nghĩa hơn, cao đẹp hơn
Bên cạnh đó, cái đẹp trong TPVC còn thể hiện ở vẻ đẹp hoàn thiện, đẹp cả
về nội dung lẫn hình thức Về phương diện nội dung, cái đẹp được thể hiện qua sự
khám phá và thể hiện mới mẻ, độc đáo của người nghệ sĩ về thiên nhiên, con người
và đời sống con người “nhìn cuộc sống lúc nào cũng như mới, như lần đầu tiên được thấy, trong tất cả dáng vẻ tươi nguyên và đầy ý nghĩa của từng hiện tượng cho dù là có vẻ nhỏ nhất” (Pautốpsxki) Về phương diện nghệ thuật, cái đẹp được
bộc lộ qua chất liệu và cách thức thể hiện nội dung Giống như các loại hình nghệthuật khác, văn chương không thể hiện một cách trực tiếp ý tưởng, nhận thức, cảmxúc, tình cảm của người sáng tạo mà thông qua chất liệu (ngôn từ) và cách thức tổchức nội dung (hình tượng thẩm mĩ) Khi tiếp xúc với một TPVC, bạn đọc khôngtiếp xúc như với một vật thể trong đời sống khách quan TPVC không phải là mộtáng mây bay, một vầng trăng đẹp, một rặng liễu đìu hiu hay một dòng sông xanhmát Nguồn tác động thẩm mĩ của TPVC là hình tượng thẩm mĩ được xây dựng lênqua tưởng tượng của nhà văn theo một lí tưởng thẩm mĩ nhất định Hình tượng đượckhắc họa qua ngôn ngữ nghệ thuật, thứ ngôn ngữ đã được chắt lọc, tinh luyện mangtính chất hàm ẩn, đa nghĩa Ngôn từ và hình tượng là phương tiện người nghệ sĩchuyển tải nhận thức thẩm mĩ, thông điệp thẩm mĩ đến công chúng yêu văn chương.Sức hấp dẫn của TPVC như vậy không chỉ ở nội dung sáng tạo mà còn cần đượcbiểu hiện qua một hình thức mang tính thẩm mĩ Tính hoàn thiện, hoàn mĩ về cả nộidung và hình thức bao giờ cũng là mục tiêu phấn đấu của người nghệ sĩ Nhờ thế màTPVC chân chính mới sống mãi cùng thời gian Điều đó được khẳng định trong
những vần thơ giàu chất triết lí của nhà thơ Lò Ngân Sủn: Cha mẹ sinh ra nàng/ Gọi nàng là người con gái/ Nghệ thuật sinh ra nàng/ Gọi nàng là Thần vệ nữ/ Nàng sinh ra lần thứ nhất – để chết/ Nàng sinh ra lần thứ hai – để sống mãi.
Tóm lại, TPVC là sản phẩm của hoạt động nhận thức và sáng tạo thẩm mĩ,mang bản chất thẩm mĩ Người nghệ sĩ chọn lọc thẩm mĩ trong phản ánh sáng tạo và
Trang 39người tiếp nhận cũng hướng vào tác phẩm trong một giao tiếp định hướng từ cáiChân, cái Thiện, cái Mĩ TPVC trở thành phương tiện giao lưu, đối thoại giữa cácdân tộc, thời đại, quá khứ - hiện tại và tương lai trong hành trình đi tìm kiếm, biểuhiện và sáng tạo những giá trị thẩm mĩ Giao tiếp giữa TPVC và người đọc là quátrình GT thẩm mĩ đa chiều Dạy học TPVC là dạy học trong GT thẩm mĩ và bằng
GT thẩm mĩ Chỉ có như vậy mới phù hợp với bản chất thẩm mĩ của TPVC
Xuất phát từ bản chất thẩm mĩ của TPVC, bản chất của quá trình tiếp nhậnvăn chương, ta có thể hiểu GTTM trong dạy học TPVC chính là quá trình tiếp nhậntác phẩm về phương diện thẩm mĩ của bạn đọc HS và giá trị thẩm mĩ được xác địnhtrong quá trình này GTTM khi đó được hình thành trên hai yếu tố:
1 GT, đối thoại về mặt thẩm mĩ của HS với TPVC, với hiện thực đời sống (thông qua lăng kính của nhà văn).
2 Giá trị thẩm mĩ được xác định trong hoạt động GT, đối thoại này
Như chúng ta đã biết, phương thức tồn tại của TPVC là thông qua nhữnghình tượng thẩm mĩ được kí hiệu hóa bằng hệ thống ngôn ngữ nghệ thuật do nhàvăn sáng tạo nên Do đó, GTTM với TPVC, với nhà văn (thông qua tác phẩm) là
GT với hình tượng thẩm mĩ, ngôn từ nghệ thuật để từ đó chiếm lĩnh được giá trị
thẩm mĩ của tác phẩm Giá trị thẩm mĩ ở đây có thể hiểu là những cái đẹp, những điều mới lạ, mang bản chất đời sống và ý nghĩa nhân sinh sâu sắc, có khả năng làm rung cảm lòng người của TPVC Nó thường được biểu hiện qua nội dung và hình thức mang tính chất thẩm mĩ.
Hình tượng thẩm mĩ là đối tượng tiếp xúc đầu tiên khi người đọc đến vớiTPVC Hình tượng thẩm mĩ trong TPVC khác với thực tế đời sống ở chỗ: hìnhtượng trong TPVC luôn luôn hướng tới cái Chân, cái Thiện, cái Mĩ, luôn hướng tới
sự khái quát hóa Vì vậy, để phác họa sinh động, đầy đặn hình tượng, người nghệ sĩthường tìm tòi, lựa chọn những từ ngữ, hình ảnh, chi tiết có khả năng biểu đạt cao
Đó được coi là những điểm sáng thẩm mĩ của mỗi hình tượng, mỗi tác phẩm.GTTM với hình tượng thẩm mĩ là đi cắt nghĩa, luận giải ý nghĩa trong các điểm
sáng thẩm mĩ ấy Chằng hạn như chi tiết “bát cháo hành” trong truyện ngắn Chí
Trang 40Phèo là một điểm sáng thẩm mĩ Bát cháo hành là biểu tượng của tình yêu, của sự
quan tâm, của tất cả những gì Thị Nở có thể có để dành cho Chí Phèo Bát cháokhông chỉ giúp Chí tỉnh rượu mà còn đánh thức ý thức của một con người trongChí Nhờ bát cháo ấy mà Chí cảm động, bâng khuâng: Chí nhớ lại mơ ước giản dị,Chí ý thức được hiện tại và tương lai cô độc của mình Và quan trọng hơn cả là nóđánh thức ở Chí khao khát mãnh liệt – khao khát được làm người lương thiện VớiChí, đó là món quà của sự yêu thương, là sự “giải độc” của tâm hồn Qua chi tiếtnày, Nam Cao muốn khẳng định: con người dù có trượt dài trên con đường lưumanh hóa thì ở nơi khuất lấp của tâm hồn bản chất lương thiện vẫn còn đó, nó giốngnhư ngọn lửa vẫn âm thầm cháy dưới lớp tro tàn nguội lạnh để đến khi gặp ngọn giócủa tình yêu thương sẽ bùng cháy một cách mãnh liệt Từ đó, Nam Cao kêu gọichúng ta hãy tin vào con người, tin vào bản chất tốt đẹp của mỗi con người Do đó,dạy học TPVC nhằm mục đích GTTM không thể tách rời hoạt động cắt nghĩa, luậngiải hình tượng thẩm mĩ của tác phẩm
TPVC nào cũng tồn tại qua một hệ thống ngôn ngữ vốn là vỏ “vật chất” củatác phẩm Con đường đi vào TPVC, vào thế giới nghệ thuật của người nghệ sĩ phảibắt đầu từ bước cắt nghĩa, luận giải ngôn từ nghệ thuật Không có hoạt động này thìtác phẩm chỉ là một tập hợp kí hiệu câm lặng, không có linh hồn Một câu thơ tuyệt
mĩ như: Long lanh đáy nước in trời hay Em ơi Ba Lan mùa tuyết tan/ Đường bạch dương sương trắng nắng tràn chưa có sự tiếp nhận của người đọc thì chỉ là những
tín hiệu chết Chỉ có sự tiếp nhận của người đọc ngôn từ nghệ thuật mới làm cho tácphẩm sống dậy, âm vang, phập phồng, cựa quậy Qua ngôn ngữ, bạn đọc HS đồngthời thấy được giọng điệu, cảm xúc thẩm mĩ nhà văn cũng như cái ý ngầm ẩn dướicâu chữ Và thông qua câu chữ, người đọc mới có thể tái hiện, tái tạo, cắt nghĩa vàluận giải thế giới hình tượng, từ đó nắm bắt được thông điệp thẩm mĩ của tác phẩm
Do đó, GTTM với TPVC chính là bạn đọc HS đi khám phá, chiếm lĩnh giá trị thẩm
mĩ của hệ thống ngôn từ nghệ thuật trong tác phẩm
Hiệu quả của GTTM trong dạy học TPVC chịu sự chi phối không chỉ do giátrị thẩm mĩ vốn có của tác phẩm, mà còn do những đặc điểm, những phẩm chất của