1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

NGHỆ THUẬT kể CHUYỆN TRONG THẰNG NHÓC của ALPHONSE DAUDET

91 715 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 91
Dung lượng 629 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những lời nhận xét ấy cũng là gợi hướng quý báu cho chúng tôi khi khai thác về đề tài, giọng điệu ở nghệ thuật kể chuyện trong tác phẩm của ông.Nghiên cứu trong Văn học lãng mạn và hiện

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

 NGUYỄN THỊ THANH LOAN

NGHỆ THUẬT KỂ CHUYỆN TRONG

THẰNG NHÓC CỦA ALPHONSE DAUDET

Chuyên ngành: Văn học nước ngoài

Mã số: 60.22.02.45

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN

Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Linh Chi

Trang 2

HÀ NỘI - 2014

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình thực hiện đề tài “Nghệ thuật kể chuyện trong “Thằng

Nhóc” của Alphonse Daudet”, tôi đã nhận được rất nhiều nguồn động viên,

giúp đỡ quý báu.

Trước tiên, tôi xin chuyển lời cảm ơn sâu sắc tới tất cả những thầy cô

đã giảng dạy, giúp đỡ tôi hoàn thành chương trình Cao học tại trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội, những người đã truyền thụ và mở mang cho tôi kho tàng kiến thức quan trọng và quý báu trong suốt hai năm qua.

Lời cảm ơn đặc biệt, tôi xin gửi tới TS Nguyễn Linh Chi, người đã

dành nhiều thời gian tận tình giúp đỡ và chỉ dạy cho tôi trong quá trình thực hiện và hoàn thiện luận văn của mình

Cuối cùng, tôi rất mong những đóng góp quý báu của quý thầy cô và các bạn để luận văn hoàn thiện hơn nữa!

Trân trọng cảm ơn!

Hà Nội, tháng 9 năm 2014

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Thanh Loan

Trang 4

MỤC LỤC

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Văn học Pháp là một nền văn học đồ sộ với những tên tuổi lớn Chúng

ta biết đến một Victor Hugo - nhà văn lãng mạn tiến bộ ưu tú với những suy tưởng về lẽ sống, về nỗi khổ, về tình đồng loại, về tình yêu thương những con người khốn khổ bị đầy đọa … Chúng ta biết đến một Honore de Balzac - nhà văn hiện thực lớn nhất nước Pháp đầu thế kỉ XIX với hơn 90 tác phẩm lớn

nhỏ mà phần lớn được tập hợp trong Tấn trò đời Chúng ta biết đến Guy de

Maupassant - nhà văn hiện thực tiêu biểu của giai đoạn văn học hiện thực phê phán Pháp sau năm 1848…Và chúng ta còn biết đến Alphonse Daudet - nhà tiểu thuyết, nhà thơ, nhà viết kịch và là nhà tiểu luận phê bình - một cây bút

ưu tú thuộc thế hệ đàn em của nền văn học Pháp nửa sau thế kỉ XIX

Alphonse Daudet (1840-1897), ông sinh ra tại miền Nam nước Pháp nơi có những vẻ đẹp hùng vĩ, hoang sơ Cha ông là nhà buôn nhỏ chuyên nghề buôn tơ lụa Mẹ ông là người phụ nữ mơ mộng và rất sùng tín Nhưng rồi gia đình bị phá sản buộc phải chuyển từ Minơ đến Li-ông với rất nhiều khó khăn Ông đã từng làm giám thị cho một trường nhỏ tại thị trấn A-lèt Làm việc ở đó trong vòng một năm song cũng giúp ông hiểu thế nào là nghèo hèn, vất vả, cực nhọc và nhục nhã Tiếp đó, vào năm 1857 ông đến Paris lập nghiệp Ở đây may mắn đã mỉm cười khi ông được nhận làm thư kí giúp việc cho Công tước Đơ Moóc-ni Đến năm 1865, khi Công tước qua đời thì công việc thư kí của ông cũng chấm dứt, Daudet lại rơi vào nghèo túng vì cuộc sống ông phải viết nhiều hơn Ông lại làm thêm giám thị cho trường trung học

ở Provence Cũng trong thời gian đó xã hội Pháp trải qua những biến động của cuộc nội chiến Dù uất hận khi Công xã bị đàn áp khủng bố nhưng ông giữ thái độ yên lặng, lánh xa không khí bạo động, náo loạn Nhưng qua những

Trang 6

biến cố ấy tình yêu mến quê hương lại càng tha thiết hơn trong ông Chính tình cảm ấy làm cho ngòi bút của ông nhân hậu hơn và cũng nhiều sáng tạo hơn Từ năm 1884 vì mắc bệnh hiểm nghèo nên sức khỏe giảm sút nhưng ông vẫn nỗ lực sáng tác cho ra đời hàng loạt tác phẩm Năm 1896, ông gia nhập Viện Hàn lâm Goncourt nên phần lớn các tác phẩm xuất bản và được độc giả đón nhận nhiệt thành Tháng 12/1897 Daudet đã qua đời trong niềm tiếc thương vô hạn của gia đình, bạn bè và những độc giả yêu mến ông.

Như vậy, cuộc đời văn nghiệp không dài nhưng Daudet đã để lại một

di sản quý giá Chúng ta có thể kể đến những những sáng tác quan trọng đưa tên tuổi của ông trở thành bất hủ trong nền văn học Pháp và văn học

thế giới Đó là tập truyện ngắn Những bức thư viết từ cối xay gió của tôi (1869),tiểu thuyết tự truyện Thằng Nhóc, tiểu thuyết Những cuộc phiêu

liêu kì thú của Tác-ta-ranh xứ Ta-ra-xcông (1872), Những truyện kể ngày thứ hai (1873)

Với những tác phẩm của mình, Daudet đã cho độc giả mọi thời đại cảm nhận được những bức tranh xinh xắn chân thực về quê hương, về nước Pháp nửa sau thế kỉ XIX Tác phẩm của ông đã đưa chúng ta được đến với vùng đất thanh bình Provence nên thơ nằm ở miền Nam nước Pháp, bên bờ Địa Trung Hải Ở đó có những cánh đồng hoa oải hương tím ngắt, tít tắp tận chân trời cùng với câu chuyện tình yêu cảm động Ở đó có ánh nắng mặt trời như rót mật, óng ả, không hề gay gắt nhưng cũng không hề nhợt nhạt làm mê hoặc lòng người Đến với Alphonse Daudet là chúng ta được cảm nhận tình yêu nồng nàn ông dành cho quê hương yêu dấu Ông yêu xứ sở Provence với thiên nhiên thơ mộng, với những con người thật thà đôn hậu…

Đến với Daudet chúng ta còn thấy được tác phẩm thấm đẫm tinh thần nhân đạo và thực tế, giàu chất thơ, nhiệt thành gửi gắm niềm tin vào phẩm chất tốt đẹp của con người Tác phẩm của Alphonse Daudet đã làm rung lên một tấm

Trang 7

lòng nhân đạo sâu sa, rộng rãi, một sức sống dào dạt thể hiện bằng một phong cách nghệ thuật riêng biệt, kết hợp sự quan sát tinh vi với tính nhạy cảm sắc bén, tinh thần châm biếm ý nhị với những cảm xúc vô cùng dồi dào.

Chúng ta còn nhận thấy thế giới nhân vật của ông đa dạng và phong

phú Đặc biệt ở mảng văn xuôi, chúng ta được cảm nhận một tài năng đặc

biệt, một nhà kể chuyện có duyên và có tài của nước Pháp.

Tuy nhiên, từ trước đến nay dường như các công trình nghiên cứu tập trung nhiều hơn ở mảng truyện ngắn của Daudet còn những sáng tác tiểu thuyết đang bỏ ngỏ Vậy trong khuôn khổ luận văn này chúng tôi mạnh dạn

tìm hiểu về tiểu thuyết đầu tay Thằng Nhóc của ông ở phương diện nghệ thuật kể chuyện Bởi lẽ, tìm hiểu nghệ thuật trần thuật trong tác phẩm Thằng

Nhóc sẽ giúp chúng ta cảm nhận được những nét đặc sắc trong cá tính sáng

tạo của nhà văn đồng thời góp phần lý giải vì sao tác phẩm của ông có sức hấp dẫn đối với độc giả

Bản thân tôi là một giáo viên THCS, đang trực tiếp giảng dạy tác phẩm của Daudet trong chương trình Chính vì vậy tìm hiểu nghệ thuật kể chuyện trong tác phẩm của ông là điều vô cùng bổ ích, thiết thực đối với bản thân và cũng góp phần làm phong phú thêm tư liệu cho các bạn đồng nghiệp

2 Lịch sử vấn đề

2.1 Những nghiên cứu về Alphonse Daudet

Theo như chúng tôi tìm hiểu thì đã có nhiều các công trình nghiên cứu

về cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của Alphonse Daudet Những gì đã có đều khẳng định được giá trị các tác phẩm, vẻ đẹp tâm hồn và vị trí trang trọng của ông trong lòng bạn đọc nhiều thế hệ

Trong bộ giáo trình Lịch sử văn học Phương Tây, khi viết về dòng văn

học hiện thực Pháp cuối thế kỉ XIX, tác giả Đỗ Đức Hiểu đã đánh giá cao về Daudet: “là một nhà văn hiện thực lớn, ông là nhà văn của người dân miền Nam nước Pháp – những người thông minh, yêu đời, yêu người Tác phẩm hiện thực

Trang 8

của ông chứa chan tình cảm và không thiếu những nét hài hước châm biếm Tác phẩm của Daudet bảo vệ tập tục phong hóa của nước Pháp cũ, ông ca ngợi hạnh phúc gia đình, ca ngợi đời sống thơ mộng nơi thôn dã” [32; 167] Những lời nhận xét ấy cũng là gợi hướng quý báu cho chúng tôi khi khai thác về đề tài, giọng điệu ở nghệ thuật kể chuyện trong tác phẩm của ông.

Nghiên cứu trong Văn học lãng mạn và hiện thực phương Tây thế kỉ

XIX [33], tác giả Đặng Thị Hạnh, Lê Hồng Sâm cũng có những cảm nhận ở Daudet là nụ cười hài hước, chất trữ tình thoáng chút đa cảm, niềm mong muốn giữ gìn phong hóa xưa thuần phác rất gần gũi với nhà văn người Anh,

Dickens Lời nhận xét trên khiến chúng ta nhớ đến cuốn tiểu thuyết David

Coperfield của Dickens và có sự liên tưởng so sánh về nghệ thuật kể chuyện

của hai nhà văn

Tác giả Lê Nguyên Cẩn trong cuốn Tác gia tác phẩm văn học nước

ngoài trong nhà trường, đã cảm nhận và khẳng định: “Cuộc đời văn nghiệp

của Đô-đê tuy không dài, ông chỉ sống vỏn vẹn 57 tuổi song ông đã cố gắng, trải nghiệm và thử sức trên nhiều lĩnh vực của sáng tạo nghệ thuật ngôn từ Ông viết thơ, ông sáng tác kịch, ông viết các kiểu truyện ngắn và cả tiểu thuyết nữa Mỗi lĩnh vực như vậy ông đều có cái duyên Những mảng văn xuôi, mảng truyện ngắn thì lại thể hiện một tài năng đặc biệt khiến cho tên tuổi của ông tồn tại mãi với thời gian” [7; 25] Tác giả cũng chỉ ra sức hấp

dẫn và giá trị trong tác phẩm là ở cách thức kể chuyện cũng khá đa dạng Sự

đa dạng đó được thể hiện: “Khi thì ông đóng vai người kể chuyện, khi thì đóng vai người nghe, người tham gia câu chuyện, câu chuyện thì được kể ở ngôi thứ nhất, khi thì ngôi thứ ba Câu chuyện được định hình rất nhanh sau vài nét phác tả ngắn gọn” [7; 37]

Còn các tác giả của cuốn Văn học Phương Tây [34] cũng đã dành vị trí

trang trọng để giới thiệu về văn học Pháp thế kỉ XIX Trong đó Daudet cũng

Trang 9

được khẳng định là một trong những nhà văn tiêu biểu của dòng văn học hiện thực bên cạnh Gustave Flaubert, Guy de Maupassant.

Ở cuốn Thơ và Truyện và Cuộc đời [25], tác giả Đào Duy Hiệp cũng

đã có những nhận xét đầy tâm huyết dành cho Daudet Ông viết rằng vào nửa sau thế kỉ XIX, trên bầu trời văn học Pháp đã xuất hiện một ngôi sao phương Nam xứ Provence lặng lẽ tỏa sáng như một hồn thơ dịu dàng và trong trẻo Ánh sáng, màu sắc, hương thơm, nắng vàng rực rỡ với những ngọn gió; những phong tục địa phương; sự va chạm của thời gian xưa và nay – cái bi kịch muôn đời; cổ tích, dân gian thấm đẫm trong những lời văn âu yếm, buồn

bã thấp thoáng trào lộng, hóm hỉnh hiện đại

Chúng ta có thể thấy ở các nhận xét trên đều nhấn mạnh đến sự nghiệp văn chương của Daudet trên nhiều phương diện Trước hết, ở Daudet là một nghệ sĩ đa tài khi ông có thể hoạt động nghệ thuật đạt đến thành công ở nhiều thể loại khác nhau như làm thơ, viết kịch, viết truyện ngắn và cả tiểu thuyết

Còn trong phong cách chúng ta đều nhận thấy một giọng điệu và ngôn ngữ trần thuật rất đa dạng bởi vừa sâu lắng, chứa chan tình cảm vừa có nét hài hước châm biếm thật ý nhị Nghệ thuật kể chuyện cũng rất linh hoạt Tất cả những đặc sắc ấy tạo nên ấn tượng đậm nét trong lòng bạn đọc

2.2 Những nghiên cứu về tác phẩm Thằng Nhóc của A.Daudet

Trong cuốn Tác gia tác phẩm văn học nước ngoài trong nhà

trường, tác giả Lê Nguyên Cẩn đã đề cập đến cuốn tiểu thuyết đầu tay của

A.Daudet là Chú nhóc con Có thể coi đây là cuốn tiểu thuyết tự truyện bởi

trong tác phẩm chúng ta gặp những dấu ấn khá sâu đậm của cuộc đời tác giả Ông đã có những cảm nhận sâu sắc khi đọc tác phẩm: “Cuốn tiểu thuyết tự truyện này mang tới cho độc giả nhiều tiếng khóc buồn tủi hơn là những tiếng cười vui vẻ Đây là tiếng khóc của một con người thiếu may mắn khi bước vào đời” [7; 45]

Trang 10

Câu chuyện được kể trong tiểu thuyết được kể từ ngôi thứ nhất nên: “đã tạo ra một sự đồng cảm khiến người đọc bị lôi cuốn theo sự dẫn dắt của tác giả Các sự kiện cũng được kể theo trật tự thời gian tuyến tính và được phân

bố theo các tiêu đề riêng Tuy nhiên các sự kiện đều bám theo trình tự thời gian song không bị pha loãng mà chỉ là những sự kiện tiêu biểu mang tính đột biến liên quan đến cuộc đời nhân vật Từ đó tác phẩm hiện lên như một cuốn phim với các cảnh quay chậm rãi” [7; 45]

Trong bài viết của mình, Lê Nguyên Cẩn còn nhận xét: “Câu chuyện nghiêng về mối quan hệ đối xử giữa người với người, giữa tình người với nhau Ở đây không xảy ra cuộc đụng độ gay gắt, không có những tổ chức với mưu mô bí hiểm, không có những mâu thuẫn đầy kịch tính Trùm lên tất cả là một nỗi buồn luyến tiếc, luyến tiếc một cái gì đó vốn đã là vàng son trong quá khứ, nay đã lụi tàn trong cơ chế thị trường mới Nỗi buồn tiếc nuối ấy là cảm xúc chủ đạo của chú nhóc con đang tập tễnh bước đi trên con đường đầy chông gai để mà kiếm sống, để mà mưu sinh” [7; 47]

Ông đánh giá cao giá trị của cuốn tiểu thuyết: “Cuốn sách thực sự gây

ấn tượng mạnh cho độc giả bởi sự chân thành không giả dối, không màu mè trong cách thể hiện Bởi lẽ đây là cuốn sách của một tiếng lòng, của một con tim đa sầu, đa cảm” [7; 48]

Nhà nghiên cứu Paul Guth cho biết ông đã xúc động rất nhiều khi cầm đến cuốn sách để đọc nó và ông cũng không cầm được nước mắt khi viết lời tựa cho cuốn truyện này Daudet thể hiện ở đây tình thương con người nói chung, và vì thế ông xứng đáng là một nhà nhân đạo chủ nghĩa [7; 48]

Như vậy, chúng ta có thể thấy được những tài liệu đề cập trên đây đã giới thiệu và nghiên cứu về Daudet ở nhiều phương diện: cuộc đời, sự nghiệp

và phong cách sáng tác

Những công trình này đã gợi ý và góp phần bổ sung những thông tin cơ bản cho chúng tôi trong quá trình thực hiện đề tài Tuy nhiên chưa có công

Trang 11

trình nào nghiên cứu chuyên sâu vào vấn đề nghệ thuật kể chuyện trong mảng văn xuôi nói chung và tiểu thuyết của ông nói riêng Trong phạm vi đề tài, chúng tôi đang nỗ lực, cố gắng thực hiện điều đó Cụ thể là tìm hiểu về nghệ

thuật kể chuyện trong tiểu thuyết Thằng Nhóc của A Daudet.

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là tiểu thuyết Thằng Nhóc của nhà

văn Pháp Alphonse Daudet Đây là tiểu thuyết đầu tay đã khiến không ít người ngậm ngùi, rơi lệ

Vì vốn ngoại ngữ còn hạn chế nên trong quá trình triển khai luận văn chúng tôi tiến hành khảo sát văn bản trên cơ sở bản dịch của Tôn Gia Ngân, NXB Kim Đồng, 2000

4 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài trên, chúng tôi đã tiếp cận tác phẩm từ góc độ thi pháp học, tự sự học Bên cạnh đó vận dụng linh hoạt nhiều phương pháp khác nhau như so sánh, phân tích, tổng hợp để hỗ trợ triển khai đề tài

Phương pháp khảo sát, phân tích hệ thống

Phương pháp này được thực hiện trên cơ sở đọc, khảo sát văn bản nhiều lần Qua đó rút ra được những nhận xét ban đầu về người kể chuyện, về giọng điệu, về tính cách nhân vật, về các tình huống Từ đó sẽ giúp chúng tôi nhận diện những biểu hiện thành hệ thống, thành quy luật chung, đặc điểm chung của toàn bộ đối tượng nghiên cứu

Trang 12

Phương pháp tổng hợp, khái quát

Phương pháp này được tiến hành sau khi khảo sát, phân tích hệ thống ngữ liệu Nó giúp cho chúng tôi có cái nhìn toàn diện về đối tượng nghiên cứu đồng thời cũng để đánh giá những kế thừa và cách tân với đối tượng khác

Phương pháp so sánh, đối chiếu

Phương pháp này được sử dụng thường xuyên nhằm tìm ra sự khu biệt giữa đối tượng nghiên cứu của đề tài với các đối tượng văn học khác nhằm chỉ ra được những nét đặc trưng riêng biệt của tác phẩm và tác gia văn học

Cụ thể trong đề tài này chúng tôi sẽ tiến hành so sánh ở mức độ nhất định với một số tác phẩm khác của của A Daudet và các nhà văn phương Tây thế kỷ XIX để từ đó khẳng định phong cách sáng tác của nhà văn

5 Đóng góp của luận văn

Chúng tôi hy vọng đây là luận văn thạc sĩ đầu tiên nghiên cứu về nghệ

thuật kể chuyện trong tiểu thuyết Thằng Nhóc của Alphonse Daudet Nếu

được triển khai thành công thì sẽ có một vài đóng góp:

- Tìm hiểu sâu và kĩ hơn về phong cách sáng tác, nghệ thuật viết văn của Alphonse Daudet, từ đó cảm thụ sâu sắc hơn giá trị nhân văn của tác phẩm

- Góp phần giảng dạy tác phẩm của Alphonse Daudet trong nhà trường hiệu quả hơn

- Định hướng tốt hơn cách khai thác về nghệ thuật kể chuyện trong các tác phẩm tự sự khác

6 Cấu trúc luận văn

Tương ứng với nhiệm vụ nghiên cứu, luận văn của chúng tôi ngoài phần mở đầu, kết luận và thư mục tài liệu tham khảo, luận văn được triển khai thành 3 chương:

Chương 1: Người kể chuyện

Chương 2: Cốt truyện

Chương 3: Giọng điệu

Trang 13

Chương 1: NGƯỜI KỂ CHUYỆN

Như chúng ta đã biết, từ thủa sơ khai, kể chuyện và nghe kể chuyện đã trở thành nhu cầu của con người trong cuộc sống Hoạt động ấy giúp con người mở rộng hiểu biết về cuộc sống xung quanh, hiểu biết thêm chính mình và từ đó cuộc sống trở nên ý nghĩa hơn

Trong kể chuyện thì người kể và câu chuyện được kể là hai yếu tố cơ bản nhất mà ở đó người kể chuyện luôn đóng vai trò chủ đạo Như vậy, trong truyện kể, vấn đề ai kể chuyện và câu chuyện được kể như thế nào bao giờ cũng quan trọng hơn là ai mới thật sự là người viết nên truyện kể ấy Điểm nhìn trở thành cơ sở để phân biệt người kể chuyện và tác giả Người kể chuyện có thể mang điểm nhìn của tác giả, song tác giả không phải là trung tâm của truyện kể và không có vai trò đáng kể trong việc tổ chức truyện Điểm nhìn và người kể chuyện trở thành hai phương diện không thể tách rời Pospelov khẳng định vai trò quan trọng của điểm nhìn trần thuật trong tác

phẩm tự sự là điều quan trọng bởi nó thể hiện mối tương quan giữa các nhân

vật với chủ thể trần thuật

Ngày nay cùng với sự phát triển của trần thuật học, người kể chuyện trở thành một trong những vấn đề trung tâm của thi pháp văn xuôi hiện đại Và bàn về khái niệm này cũng có nhiều ý kiến

Trong cuốn Từ điển thuật ngữ Văn học của Lê Bá Hán, Trần Đình Sử,

Nguyễn Khắc Phi đã viết: “Người kể chuyện là hình tượng ước lệ về người trần thuật trong tác phẩm văn học chỉ xuất hiện khi nào câu chuyện được kể bởi một nhân vật cụ thể trong tác phẩm Đó có thể là hình tượng của chính tác giả (dĩ nhiên không nên đồng nhất hoàn toàn với tác giả ngoài đời); có thể là nhân vật đặc biệt do tác giả sáng tạo ra; có thể là một người biết một câu chuyện nào đó Một tác phẩm có thể có một hoặc nhiều người kể chuyện Hình tượng người kể chuyện

Trang 14

đem lại cho tác phẩm một cái nhìn và một sự đánh giá bổ sung về mặt tâm lí, nghề nghiệp hay lập trường xã hội cho cái nhìn tác giả, tái tạo con người và đời sống trong tác phẩm thêm phong phú, nhiều phối cảnh” [35;188].

Trần Đình Sử còn khẳng định trong Giáo trình lí luận văn học: “Người

kể chuyện (người trần thuật) là một người do nhà văn tạo ra để thực hiện hành vi trần thuật Khác với người kể chuyện trực tiếp như trong diễn xướng dân gian người kể chuyện trong văn bản viết ẩn mình trong dòng chữ Người kể chuyện ấy

có thể được kể bằng ngôi thứ ba, ngôi thứ nhất và ngôi thứ hai Người kể chuyện chỉ có thể kể được khi nào họ cảm thấy như người trong cuộc, đang chứng kiến sự việc xảy ra bằng tất cả giác quan của mình” [47; 188]

Cùng quan niệm trên, Lê Ngọc Trà viết: “Người kể chuyện là thuật ngữ chỉ nhân vật đóng vai trò chủ thể của lời kể chuyện, là người đứng ra kể trong tác phẩm văn học” [53; 153] Và ông đặc biệt nhấn mạnh: “Trong tác phẩm tự

sự, vấn đề người kể chuyện có ý nghĩa hết sức quan trọng Nhờ hình thức tường thuật, tác giả có thể trực tiếp phát biểu những cảm nghĩ, nhận xét của mình về nhân vật, về sự kiện được mô tả về cuộc đời chung” [53; 154]

Dù còn nhiều ý kiến khác nhau nhưng chúng ta đều có thể thấy người kể chuyện là người kể lại câu chuyện, là chủ thể của hành vi kể chuyện, là người chịu trách nhiệm dẫn dắt câu chuyện Như vậy, trong văn bản tự sự, người kể chuyện không chỉ là một công cụ do nhà văn hư cấu nên để kể chuyện, không chỉ đóng vai trò là nhân vật đặc biệt mà còn là một nhân tố tích cực trong cấu trúc truyện kể với chức năng tổ chức, kết cấu tác phẩm, chức năng môi giới, dẫn dắt người đọc tiếp cận thế giới nghệ thuật đồng thời cũng là người thay mặt nhà văn trình bày những quan điểm về cuộc sống, nghệ thuật Điều này có ý nghĩa trên cả hai phương diện sáng tác và tiếp nhận Nhà văn khi sáng tác rất có ý thức trong việc lựa chọn cho mình một người kể chuyện thích hợp và ngược lại người đọc thông qua việc nắm bắt hình tượng người kể chuyện có thể dễ dàng hơn trong việc khám

Trang 15

phá thế giới nghệ thuật của tác phẩm từ đó thấy được chân dung, tư tưởng, phong cách của tác giả.

Trên tinh thần đổi mới tư duy nghệ thuật và tư duy tiểu thuyết, các nhà văn hiện đại đặc biệt đề cao sự sáng tạo của lối viết và trong lối viết thì vấn đề người

kể chuyện có một vị trí quan trọng

Trong tiểu thuyết Thằng Nhóc của A Daudet chúng ta cũng sẽ bắt gặp

nhiều điểm nhìn trong kể chuyện và như thế người kể chuyện cũng rất linh hoạt Người kể chuyện trong tác phẩm này lúc đứng ở ngôi thứ nhất để kể, lúc đứng ở ngôi thứ ba nên đã tạo được sự sinh động trong mạch kể và gây được

sự cuốn hút, ấn tượng cho người đọc

1.1 Người kể chuyện trực tiếp ở ngôi thứ nhất

Chúng ta đều nhận ra, trong các tác phẩm văn học, chọn kiểu nhìn nào, xuất phát từ điểm nhìn nào để người kể chuyện kể lại “chuyện” chính là do cách tổ chức “truyện” có dụng ý của nhà văn Có những tác phẩm chỉ có một kiểu điểm nhìn từ đầu đến cuối, có những tác phẩm phối ghép nhiều kiểu điểm nhìn hoặc luân phiên trượt điểm nhìn

Truyện kể ở ngôi thứ nhất là câu chuyện được kể lại do một người kể chuyện hiện diện (lộ diện) như một nhân vật trong truyện Với hình thức này, người kể chuyện trực tiếp tham gia vào câu chuyện và hiện hữu trong thế giới

mà nhân vật hoạt động Chính ngôi kể chuyện này tạo cảm giác cho người đọc có độ tin cậy cao về những sự việc và con người được nói đến trong truyện Mặt khác, việc nhân vật xưng “tôi” ở ngôi thứ nhất giúp người kể đi sâu khám phá thế giới nội tâm, những mối quan hệ, những diễn biến phức tạp của tâm lý nhân vật

Đến với cái “tôi” tự thuật trực tiếp, người đọc không chỉ tìm thấy sự tin cậy vào tính trung thực mà còn thấy được sự đối thoại dân chủ với người viết, câu chuyện cuộc đời của nhân vật qua cách kể chuyện này cũng

Trang 16

tạo nên một cấu trúc trần thuật mang tính trữ tình có khả năng chạm đến sâu thẳm trái tim bạn đọc.

Văn học phương Tây thế kỉ XVIII nổi bật với ưu thế vượt trội của các tiểu thuyết sử dụng ngôi thứ nhất Với sự xuất hiện của người kể ở ngôi thứ nhất câu chuyện được kể trở thành câu chuyện về một cái tôi cá nhân cụ thể nào đó, bởi lẽ cái tôi rất riêng ấy là nhân chứng duy nhất của những sự kiện được kể Chính cách kể ấy đã tạo ra hình thức tồn tại của nhân vật, cho phép nhân vật hồi sinh và gắn với quãng đời đã qua của chính mình Đây là điều kiện để thể loại hồi ức phát triển mạnh, dẫn đến sự xuất hiện của thể loại tự truyện trong tiểu thuyết phương Tây thế kỉ XVIII

Trong tiểu thuyết Thằng Nhóc của Daudet, chúng ta sẽ được đồng

hành cùng cái “tôi” tự thuật từ khi sinh ra, qua những chặng phiêu lưu trong cuộc đời và dừng lại khi có được hạnh phúc đích thực A Daudet đã để cho nhân vật “tôi” - Đa-ni-en Ây-xét tự về kể cuộc đời chính mình Những lời tự

kể này chiếm ưu thế phần lớn trong tác phẩm Nhân vật đã đến với người đọc qua những lời tự kể chân thực đầy xúc cảm ấy

Ngôi kể thứ nhất trong tác phẩm giúp người đọc cảm nhận sự gần gũi với nhân vật ngay từ những câu chuyện đầu tiên: “Tôi ra đời ngày 13 tháng 5 năm 18 trong một thành phố của xứ Lăng-gơ-đốc…Ở ngay cổng vào thành phố, cha tôi, ông Ây-xét, hồi đó làm nghề buôn bán khăn quàng cổ, có một xưởng máy lớn, trong đó ông đã cho xây dựng một căn nhà xinh xắn, nằm dưới bóng những cây tiêu huyền đó là nơi tôi đã ra đời và trải qua những năm tháng đầu tiên, những năm tháng đẹp nhất đời tôi” [10; 7] Những lời kể lần lượt xuất hiện như thước phim quay chậm đưa ta về với những kí ức thủa

ấu thơ của “tôi” Đồng thời trong lời kể ấy ta còn thấy được những cảm nhận, những đánh giá, những cảm xúc liên quan đến câu chuyện được kể: “Kể từ ngày tôi ra đời, những tai họa không bình thường đã dồn dập đổ lên đầu cha

Trang 17

mẹ tôi Đầu tiên là người khách hàng Mác-xây (ông này đã cuỗm đi của cha tôi hơn bốn chục ngàn đồng Phơ-răng), rồi đến hai vụ cháy nhà cũng trong năm ấy, sau đó là cuộc đình công của công nhân , là cuộc cách mạng 18 , [10; 8] rồi xưởng máy hoạt động cầm chừng và dừng hẳn, chúng tôi đã bị phá sản tôi đã chứng kiến những ngày hấp hối của gia đình Ây-xét trong mọi chi tiết của nó” [10;10].

Cậu bé Đa-ni-en còn nhớ rất rõ cảm xúc và tâm trạng mỗi thành viên trong gia đình mình: “Cha trở nên dữ tợn: ông thường nổi nóng, hung bạo, thích kêu la, làm toáng lên… còn mọi người thường khóc sau khi ông Ây-xét dời khỏi bàn ăn, mẹ tôi khóc vì thương ông chồng khổ sở; tu viện trưởng và

bà An-nu khóc vì thấy mẹ tôi khóc; còn Giắc, còn bé quá… khóc vì nhu cầu,

như là thích khóc vậy” [10; 11,12] Lời kể chân thực của nhân vật “tôi” giúp

người đọc hình dung được từng thành viên trong gia đình Ây-xét với những cách biểu lộ cảm xúc khác nhau trước biến cố lớn lao Người đọc cảm nhận được qua những dòng hồi tưởng ấy, bao nhiêu dòng chữ là bấy nhiêu nước mắt Đa-ni-en sẽ cùng gia đình tạm biệt mà không hẹn được ngày trở lại ngôi nhà thân yêu, nơi ghi dấu bao kỉ niệm thủa ấu thơ, nơi gắn bó với mỗi thành viên Khi cả gia đình lên chuyến tàu đến Ly-ông thì tất cả những hình ảnh ấy,

kỉ niệm ấy chỉ còn là hoài niệm mà thôi!

Chúng ta bước theo lời kể của “tôi” để đến Ly-ông và cùng chia sẻ với cảm nhận đầu tiên của nhân vật về ngôi nhà, nơi họ sẽ sống ở đó những ngày tháng tiếp theo: “Ôi! Cái nhà mới ghê tởm chứ! Tôi sẽ nhớ đến nó suốt cả đời người: cái thang gác ướt nhớt; cái sân giống như một cái giếng; người gác cổng là thợ chữa giày… Thật là xấu xí” [10; 26] Lời kể chân thực mà chứa đựng nhiều cảm xúc Đó là sự bất ngờ và vô cùng hụt hẫng về hình ảnh của nơi ở mới với “cái thang gác ướt nhớt; cái sân giống như một cái giếng” và

“tôi” thấy rằng tất cả thật xấu xí

Trang 18

Ở Ly-ông, “tôi” đã không thể quên được ngày đầu tiên đến lớp Vì khoác trên mình chiếc áo bờ-lu nên đã bị các bạn cười nhạo bởi nơi đây con nhà giàu không mặc loại áo này Có lẽ “tôi” nhớ nhất là thái độ của thầy giáo giám thị ngay trong phút đầu gặp gỡ bởi không hiểu tại sao: “ngay lập tức ông

tỏ thái độ thù ghét tôi Không bao giờ ông gọi tôi bằng tên thật; khi nào ông cũng bảo: “À! Còn thằng bé đằng kia, thằng nhóc!”… Cuối cùng bạn bè tôi đặt cho tôi cái biệt hiệu “thằng Nhóc” và cái biệt hiệu ấy được lưu truyền mãi…” [10; 36] Cái tên thằng Nhóc đã ra đời từ đấy! Và trong cuốn hồi kí của mình cái tên mới được nhắc đi nhắc lại nhiều lần như là một cách gọi, như để đánh dấu một quãng thời gian với những kỉ niệm không thể quên trong quá khứ Như vậy, có thể nói những cảm giác đầu tiên có ý nghĩa thật quan trọng đối với mỗi học trò khi đến trường Cả tình yêu thương dìu dắt, hay cả

sự ghét bỏ đều có ảnh hưởng lớn đến tâm hồn trẻ thơ Việc sử dụng ngôi thứ nhất xưng “tôi”, người kể chuyện đã giúp chúng ta hiểu được cảm xúc sâu kín trong tâm hồn nhân vật làm cho họ gần gũi hơn với người đọc Đồng thời người đọc cũng đồng cảm và chia sẻ nhiều hơn với nhân vật của mình Chúng

ta như trải qua những giây phút xót xa, đau đớn tột độ cùng “tôi” khi nhớ lại

sự ra đi của người thân: “việc đó xảy ra đã lâu rồi, anh tôi đã nằm nghỉ dưới

đất, người anh tu viện trưởng thân yêu mà tôi yêu mến biết bao” [10; 47] Chúng ta như cùng được chung trong niềm vui và sự xúc động khi thằng Nhóc được nhận làm công việc giám thị tại trường trung học ở Xác-lăng-đơ:

“Đối với tôi, cái chủ yếu là người ta không đuổi mình… Người ta không đuổi

cổ tôi; thật sung sướng, sung sướng đến phát điên Tôi những muốn rằng ông hiệu trưởng có hàng ngàn bàn tay để tôi cầm lấy và hôn tất cả” [10; 75] Chúng ta có thể hiểu vì sao nhân vật của mình lại hạnh phúc đến thế khi được nhận vào làm việc! Bởi “tôi” rất lo lắng, tự ti về thân hình bé nhỏ của mình Bởi cuộc sống gia đình ngày một khó khăn trong nợ nần và nghèo đói Mỗi

Trang 19

thành viên trong gia đình ấy phải tự lo cho bản thân trong những ngày sắp tới

Có được công việc nghĩa là cuộc sống đang mở ra trước mắt

Chúng ta không thể quên được giây phút làm việc đầu tiên đầy háo hức, hân hoan nhưng cũng vô cùng hồi hộp của “tôi” qua những dòng hồi tưởng đầy xúc động Hình ảnh thằng Nhóc trước lớp học hiện lên trong không khí nghiêm trang và rất trịnh trọng: “Hơi bối rối, tôi thong thả trèo các bậc lên ghế giám thị, tôi cố gắng đưa cặp mắt nghiêm nghị dạo quanh một lượt, rồi cao giọng, tôi nói to giữa hai tiếng gõ khô khốc xuống bàn: “Nào, các bạn, chúng ta hãy làm việc! Hãy làm việc!” [10; 89] Và kể từ ngày hôm đó, công việc làm giám thị của thằng Nhóc bắt đầu với bao khó khăn, thử thách Nhưng cũng chính trong hoàn cảnh ấy chúng ta cũng thấy được những khát khao của thằng Nhóc là phải thi học xong bằng cử nhân, được phong giáo viên, nhanh chóng xây dựng lại tổ ấm đẹp đẽ cho gia đình Ây-xét Lời kể chuyện đã diễn

tả chân thực từng cảm giác, ý nghĩ của thằng Nhóc: “Cái ý nghĩ tôi đang làm việc cho gia đình khiến tôi phấn chấn và cuộc đời trở nên dịu dàng hơn đối với tôi Ngay cả căn buồng sát mái, căn buồng thân yêu, bao thời gian tốt đẹp tôi đã trải qua giữa bốn bức tường! Tôi đã làm việc ở đó thích thú biết bao! Ở

đó tôi tự cảm thấy dũng cảm làm sao…” [10; 96] Suy nghĩ ấy sẽ không thể

có được nếu kể chuyện ở ngôi kể khác Câu văn như toát lên niềm hân hoan, đầy ý chí và nghị lực của “tôi” khi nghĩ đến một cuộc sống nhiều ý nghĩa, cuộc sống vì người khác Như thế câu chuyện tâm tình của “tôi” còn làm bùng lên ngọn lửa nhiệt thành trong lòng mỗi người khi nghĩ rằng cuộc sống của mình sẽ có nhiều niềm vui, ý nghĩa nhiều hơn khi biết nghĩ, biết lo, biết sống

vì người khác!

Câu chuyện vào đời của nhân vật thằng Nhóc càng lúc càng lôi cuốn, hấp dẫn người đọc Sự hấp dẫn ấy không phải bằng những chi tiết li kì mà bằng lời kể mộc mạc giản dị trong từng sự việc với những cung bậc cảm xúc

Trang 20

khác nhau của người kể xưng “tôi” Chúng ta như cùng nhân vật trải qua cảm giác cay đắng khi nghe “tôi” kể chuyện: “Tôi tưởng như tôi đang có mặt ở nơi đó” với cảm giác “Ôi! Lũ trẻ độc ác, chúng làm tôi đau khổ biết bao! ” [10; 108] Tâm trạng ấy của “tôi” khi làm giám thị lớp nhỡ ở trường trung học Giờ đây khi nhớ lại, thằng Nhóc có thể hình dung trong hiện tại, lũ trẻ ấy (giờ

đã lớn lên) có thể vẫn nói chuyện về “chú bé Ây-xét, viên giám thị

Xác-lăng-đơ, với mớ tóc dài và bộ mặt xanh xao? Chúng ta đã chơi cho nó bao nhiêu trò hay ho nhỉ? Ôi! Viên giám thị khốn khổ! Hắn đã làm cho các vị cười khá đủ… Các vị đã làm cho hắn khóc quá đủ! Vâng, khóc! Các vị đã làm cho hắn khóc, và điều đó càng làm cho các trò đùa của các vị hay ho hơn” [10; 109,110] Câu chuyện trong mạch kể tiếp theo của nhân vật mới cho người đọc cảm nhận hết được thế nào là tột cùng của sự cay đắng và bế tắc Một sự kiện quan trọng đã xảy ra, trong lúc nóng giận thằng Nhóc đã đánh học sinh Bu-quay-răng, con ông quận trưởng, để rồi sau đó thằng Nhóc đã bị “thải hồi” Bằng ngôi kể thứ nhất, thằng Nhóc đã cho ta cảm nhận nỗi đau khổ ấy:

“Than ôi! Đối với tôi có lẽ bị đuổi ngay tức khắc còn tốt hơn Cuộc sống của tôi trong trường trung học đã trở nên không chịu đựng nổi Lũ trẻ không nghe lời tôi; bất kì nói gì, chúng cũng dọa tôi là sẽ làm như Bu-quay-răng, đi mách

bố chúng” [10; 152] Ôi! Những ngày đó của thằng Nhóc thật nhiều nỗi đau buồn Không trải lòng mình qua từng trang giấy, không tái hiện lại qua từng câu chữ, người đọc sao thấu hiểu hết tâm tư để mà sẻ chia, để thấy được một điều giản dị mà lớn lao rằng: đến bến bờ hạnh phúc thì không có con đường nào trải đầy hoa hồng Để từ đó con người ta biết trân trọng hơn giá trị cuộc sống, trân trọng hạnh phúc mà mình đang có

Bằng cách kể chuyện để cho nhân vật hồi ức lại kỉ niệm rồi hình dung những gì diễn ra trong hiện tại đã làm câu chuyện cụ thể, sinh động hơn và có sức hấp dẫn với độc giả hơn Hơn thế, người kể chuyện xưng “tôi” còn kéo

Trang 21

cái khoảng cách giữa nhân vật và người đọc gần lại đến mức ta có thể cảm nhận mọi vui buồn, mọi nỗi đau khổ tột cùng của thằng Nhóc vậy! Khi sự tuyệt vọng, bế tắc đã bủa vây tâm trí, “tôi” kể rằng đã nghĩ đến cái chết bởi:

“một ý nghĩ khủng khiếp làm tôi bối rối: để ra đi, phải có tiền: tiền vé tàu hỏa,

và một số món tiền nợ những người bán hàng trong thành phố, đành là những món tiền nhỏ, nhưng lại là lớn trong hoàn cảnh của tôi ” [10; 110] Nhưng rồi, khi thằng Nhóc thực hiện việc kết thúc cuộc đời mình thì tu viện trưởng Ghéc-man xuất hiện và ngăn chặn kịp thời Thằng Nhóc đã hiểu khi nghe ông nói, đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tâm của tu viện trưởng Giây phút xúc động lúc chia tay ân nhân, thằng Nhóc đã kể cho chúng ta biết: “ông dang hai tay cho tôi ôm, với một nụ cười tuyệt đẹp; nhưng tôi đã quỳ xuống ôm lấy gối ông mà khóc nức nở.” Cũng chính bởi lòng biết ơn ấy mà: “Trước khi ra đi, tôi còn đảo mắt nhìn một lần cuối cùng quanh buồng ông; tôi ngắm nhìn một lần cuối cùng cái tủ sách lớn, cái bàn nhỏ, bếp lửa gần tắt, cái ghế bành, nơi tôi đã ngồi khóc, cái giường, nơi tôi đã ngủ ngon biết bao; và nghĩ đến cuộc sống đầy bí ẩn ấy, trong đó tôi đoán thấy nó chứa đựng bao nhiêu sự can đảm, bao nhiêu lòng nhân hậu kín đáo, bao nhiêu sự tận tụy và sự nhẫn nhục, tôi không khỏi xấu hổ về sự hèn nhát của mình, và tôi tự thề với mình là sẽ nhớ mãi tu viện trưởng Giéc-man” [10; 176,177] Thằng Nhóc đã viết lại bằng những dòng chữ đầy mến yêu với người đã đưa mình ra khỏi bế tắc của cuộc đời Ông tu viện trưởng ấy, bề ngoài thì thô ráp và lạnh lùng nhưng ẩn bên trong là trái tim nóng hổi của tình yêu thương, của lòng nhân hậu Đó là những con người thật đáng kính trọng, đáng ghi nhớ! Thằng Nhóc đã viết về ông với cả tấm lòng mình, trái tim mình Người kể chuyện đã truyền lòng mến yêu ấy sang cả người đọc khiến ta vô cùng trân trọng, kính yêu! Quả thực cách kể chuyện ở ngôi thứ nhất đã giúp cho người kể đi sâu khám phá thế giới nội tâm, những diễn biến phức tạp trong tâm lý nhân vật Điều đó làm

Trang 22

cho người đọc thấy được sự tin cậy vào tính trung thực của câu chuyện và sự việc được kể.

Người kể chuyện xưng “tôi” lại tiếp tục những trang truyện của mình Cảm xúc của nhân vật cứ nhẹ nhàng gieo vào lòng người đọc Chúng ta lại cùng chia sẻ gian nan của nhân vật trên hành trình tiếp theo của cuộc đời đến với Paris hoa lệ: “Cuộc hành trình kéo dài hai ngày… Vừa không có tiền, vừa không có thức ăn dự trữ, suốt trên đường, tôi nhịn đói Hai ngày không ăn kể cũng lâu! Đúng là tôi còn một đồng bốn mươi xu, nhưng tôi giữ gìn nó cẩn thận, đề phòng đến Paris không tìm thấy anh Giắc ở ga, và mặc dầu đói, tôi đã

có cái can đảm không đụng đến đồng tiền ấy” [11; 8] Lời kể cho thấy thằng Nhóc không chỉ phải đối diện với cái đói, với cái dạ dày trống không trong hai ngày mà còn là cái rét: “Tôi lạnh quá! Thật là khóc lên được Ban đêm, khi mọi người đã ngủ, tôi lấy tay nắm hai bàn chân, và cứ cầm như thế hàng mấy giờ liền để tìm cách làm cho nó ấm lên” [11; 9] Quả thực, không có gì khổ sở bằng khi người ta phải đối diện cùng một lúc với cái đói và cái rét Nghe “tôi” kể chuyện mà người đọc tưởng chừng như mình cũng đang trải qua nỗi khổ ấy vậy! Nhưng rồi Chúng ta cũng cảm nhận được niềm hạnh phúc dâng trào trong lòng “tôi” khi con tàu dừng lại, Paris đã ngay trước mặt, khi gặp anh Giắc thân yêu: “Tôi vụt chạy đến anh… Và hai tâm hồn tôi quyện chặt lại trong đôi tay đang ôm ghì lấy nhau với tất cả sức mạnh của chúng” [11; 10] và khi đã về đến nhà “Giắc rót rượu cho tôi uống; và mỗi lần ngước mắt lên, tôi lại thấy cái nhìn êm ái của anh, giống như cái nhìn của một người

mẹ, cái nhìn ấy như đang cười dịu dàng với tôi Còn tôi, tôi sung sướng đến nỗi như lên cơn sốt thực sự Tôi nói, nói mãi…” [11; 14] Niềm sung sướng của ngày gặp lại đã khiến Đa-ni-en thốt lên: “Trời ơi! Đêm hôm ấy ấm cúng

biết bao trong căn buồng của Giắc” [11; 13] Và anh trai đã trở thành mẹ của

thằng Nhóc Thằng Nhóc đã thốt lên: “Ồ! Mẹ Giắc của em, anh tốt quá! Và

Trang 23

thế là tôi khóc trên vai anh, khóc với những giọt nước mắt nóng hổi, mà không dừng lại được…” Rồi thằng Nhóc được anh trai tán thưởng về tài làm thơ, rằng nó có thể kiếm sống bằng cái nghề ấy Chính sự phấn chấn của người anh trai đã lây sang Đa-ni-en tự lúc nào: “Lòng tin vào tài năng thơ nảy

nở trong lòng tôi rất nhanh chóng, và tôi đã cảm thấy toàn thân ngứa ngáy muốn làm thơ theo kiểu La-mác-tin…” [11; 42]

Những câu văn của người kể chuyện xưng “tôi” cứ lần lượt hiện lên trong không gian tràn ngập tình yêu thương của hai anh em Còn gì vui hơn, hạnh phúc và sung sướng hơn khi được sống trong tình cảm ấm áp ấy Từ cái

ôm hôn ban đầu, đến hành động, cử chỉ đến cái nhìn, đến lời nói, lời động viên tất cả đều làm xúc động lòng người Những biểu hiện ấy, những cảm xúc ấy là tình cảm anh em ruột thịt, là tình thân gắn bó và hơn thế như là tình mẫu tử vậy khi “tôi” coi anh trai như người mẹ thứ hai của mình Dường như chỉ khi cái “tôi” tự kể chuyện, tự trải lòng ta mới cảm nhận sâu sắc những cung bậc cảm xúc như thế!

Lời kể ở ngôi thứ nhất giúp ta cảm nhận sâu sắc rung cảm trong tâm hồn Đó là sự tự ti, xấu hổ của “tôi” về trang phục của mình khi xuất hiện trên đường phố Pa-ri và niềm vui sướng cực độ như con trẻ khi được anh trai hứa mua cho bộ quần áo mới “Ở quán Xanh Bơ-noa, bao giờ tôi cũng chỉ ngồi ở một cái bàn cách xa tất cả mọi người; ăn nhanh… rồi khi xong, tôi lén lút cầm

mũ và đi về nhà… Tính nhút nhát bệnh hoạn mà tôi thừa hưởng từ bà Ây-xét lại được tăng thêm do bộ quần áo rách rưới và đôi giày cao su khốn khổ chưa làm sao thay được…” [11; 54] và: “Tôi quá hài lòng khi nghĩ đến những quần

áo mới tinh… tôi chỉ biết nhảy lên ôm lấy cổ anh” [11; 58].

Chúng ta còn cảm nhận chân thực những suy nghĩ của “tôi” khi biết Ca-mi Pi-e-rốt là đã yêu mến mình hơn anh trai và khi biết Giắc có tình cảm với Ca-mi mà không được đáp lại Trong lòng “tôi” có biết bao cảm xúc đan

Trang 24

xen: “Tất cả những điều anh nói vừa làm tôi đau khổ vừa làm tôi thích thú Đau khổ vì tôi cảm thấy anh đau khổ; thích thú bởi vì… bởi vì tôi là một thằng bé ích kỉ tồi tệ Anh Giắc tốt bụng thật tội nghiệp!” [11; 88] Và tâm trạng của “tôi” được giải tỏa khi “tôi đến sát bên anh, rất bối rối, rất xấu hổ nhưng vẫn giữ đóa hồng màu đỏ trong tay: “Anh Giắc, bây giờ thì anh sẽ không yêu em nữa chăng?” anh mỉm cười, và ghì chặt tôi vào ngực, anh nói:

“Có lẽ anh sẽ yêu em hơn” [11; 88] Đây là những giây phút khó nói nhất trong tâm tư của hai anh em Nhưng rồi tất cả đều đã được “tôi” thổ lộ, được giãi bày với anh trai và như với chính lòng mình Nhân vật “tôi” đã thuật lại điều ấy thật chân thực, tỉ mỉ để rồi ta nhận ra những tấm lòng thật đáng trân trọng Một người anh sống hết mình vì em, có thể làm tất cả vì em, thậm chí chịu phần thua thiệt về mình Đó còn là một cậu em trai biết nghĩ cho anh, biết trân trọng những gì mình đang được hưởng Câu chuyện của “tôi” không còn là câu chuyện riêng nữa, nó đã là câu chuyện về tình anh em, câu chuyện

về tình người ấm áp Tình cảm ấy mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc!

Câu chuyện của người kể xưng “tôi” còn dẫn dắt chúng ta đến tình huống xảy ra trong cuộc sống của nhân vật Câu chuyện về cuộc chia tay của “tôi” với anh trai một thời gian khi Giắc đi cùng ngài hầu tước đến Ni-

xơ thăm bà chị của ông ta đang ốm và có lẽ sẽ ở đó lâu lâu Sự xa cách ấy

làm cho “tôi” thấy đau thắt lòng “Tôi” đã cảm thấy: “mình bé bỏng hơn,

yếu ớt hơn, trẻ con hơn; ra đi người anh tôi đã mang theo tủy trong xương tôi, sức mạnh của tôi, sự táo bạo của tôi và cả một nửa người tôi Đám đông xung quanh làm tôi sợ hãi Tôi lại là thằng Nhóc…” [11; 110,111] Quả thực “tôi” đã cảm thấy cô đơn biết nhường nào! Cách kể chuyện ngôi thứ nhất mới giúp người đọc nhận thấy những tâm sự sâu kín tận đáy lòng của nhân vật Ấy là nỗi cô đơn, trống trải khi bên cạnh không có người thân đặc biệt với con người yếu đuối như thằng Nhóc Chính vì thiếu đi một

Trang 25

điểm tựa vững chắc trong khi bản thân không có sự tự tin, cuộc đời của thằng Nhóc như “sang trang” Thằng Nhóc kể: “Bây giờ đến những trang

ảm đạm nhất trong câu chuyện của tôi, những ngày cực khổ và xấu hổ mà Đa-ni-en Ây-xét đã trải qua… Tôi trở thành diễn viên hài kịch trong vùng ngoại ô Paris Vâng, diễn viên hài kịch! Và điều tồi tệ nhất là diễn viên không có thiên hướng, không có tài năng… Thời gian này của tôi trắc trở,

ồn ào, đầy những vật lộn xộn, để lại trong tôi nhiều hối tiếc hơn là kỉ niệm Tất cả khoảng hồi ức ấy rối loạn, tôi không thấy gì hết, không hiểu gì hết… Ôi! Khổ nhục biết bao, đê hèn biết bao, cái cuộc đời vừa lố bịch vừa bi thảm!” [11;115,116] Người đọc đã nhận ra biết bao nhiêu xót xa trong những lời tự thuật ấy Đó là cái “tôi” tự vấn lương tâm, tự trách chính bản thân mình đã không làm được những việc lớn lao, đã vô dụng biết mấy

“Tôi” đã rất hối tiếc về quãng thời gian vô nghĩa đã qua Nhưng rồi sau những ngày tháng nặng nề và tối tăm ấy, lại vẫn là Giắc đã đem đến ánh sáng của sự sống cho “tôi” Nhân vật đã kể rằng anh Giắc đã trở về đúng lúc, đã đưa “tôi” ra khỏi gánh xiếc rong và về căn buồng ấm áp của khách sạn Pi-loa Giây phút ấy cũng dâng trào trong lòng thằng Nhóc những cảm xúc vui buồn đan xen “Tôi” còn là cảm nhận về về tâm trạng của anh trai đáng kính: “đáng lẽ cái nhận xét của Giắc làm cho tôi vui lên, thì nó lại làm cho hai mắt tôi trào lên một suối nước mắt Tôi chắc chắn rằng trong đáy lòng anh cũng rất muốn khóc; nhưng anh đã can đảm kìm mình lại, và anh nói với tôi với một giọng thoải mái: “Nào Đa-ni-en, khóc thế là đủ Từ một tiếng đồng hồ nay, em chỉ có khóc” [11;139] Người kể chuyện đã trải lòng mình trong từng câu chữ với bao dằn vặt về lỗi lầm: “Đêm hôm ấy tôi hiểu

ra điều đó Điều đau khổ của tôi là khi nghĩ đến tất cả những điều tốt đẹp

mà mẹ Giắc đã làm cho tôi và tất cả những nỗi khổ mà tôi đã đáp lại anh, khi đem so sánh cuộc đời của tôi với cuộc đời của anh, sự ích kỉ của tôi và

Trang 26

sự hi sinh của anh, cái tâm hồn của đứa bé hèn nhát với tấm lòng của người anh hùng mà phương châm sống là chỉ có một niềm hạnh phúc trên đời này, ấy là hạnh phúc của người khác Nói thế cũng là tự nhủ: “Bây giờ cuộc đời của tôi đã hư hỏng Tôi đã mất sự tin cậy của Giắc, tình yêu thương của đôi mắt xanh, sự quý trọng của bản thân tôi… Tôi sẽ trở nên cái

gì đây?” [11; 141,142] Thằng Nhóc tự trách bản thân, nỗi đau khổ dày vò, vẫn âm thầm gặm nhấm tâm can: “Tôi đã gây ra cho anh bao nhiêu đau khổ! [11; 149] Tôi sinh ra chỉ để làm khổ người khác và làm cho những người yêu mình phải khóc…” [11; 149] Dòng tâm trạng ấy của nhân vật

“tôi” hẳn chứa chan nước mắt “Tôi” đau khổ, “tôi” tự trách bản thân vì những gì tồi tệ nhất mình đã làm, đã phụ lòng anh trai “Tôi” tự coi thường chính bản thân mình về những việc đã xảy ra Và trong lúc đau khổ nhất

“tôi” nhận ra tấm lòng mênh mông tình yêu, đức hi sinh, vị tha của người anh trai Chính con người ấy, tấm lòng ấy đã đưa thằng Nhóc trở về với cuộc sống đích thực Quả thực, những câu kể từ ngôi thứ nhất đã cho ta cảm nhận sâu sắc, cụ thể, chân thực những ngóc ngách sâu thẳm trong trái tim con người mà đôi khi nghĩ dễ nhiều hơn giãi bày

Cũng bằng cách kể chuyện ấy, người đọc như lặng đi trước lời tâm tình của “tôi” khi nhắc đến anh trai ở vào những giờ phút cuối cùng của cuộc đời:

“Trong khi tôi tiến đến gần để hôn anh, bàn tay tôi gặp bàn tay anh, bàn tay thân yêu xâm xấp mồ hôi của người hấp hối Tôi nắm chặt lấy nó và không dời xa nữa… Chúng tôi ở trong tình trạng ấy không biết bao nhiêu lâu nữa, có

lẽ một giờ, có lẽ cả muôn đời, tôi không biết nữa… Anh không thấy tôi nữa, anh không nói với tôi nữa Tuy nhiên, nhiều lần, tay anh đụng đậy trong tay tôi như để nói với tôi: “ Anh cảm thấy em ở đó…” [11; 163] Lời kể chuyện thật chậm rãi, có lúc đứt quãng, có lúc như ngưng lại Có lẽ cảm xúc đang dồn nén, chất chứa Đó không còn là chuyện nữa mà là cuộc sống Câu chuyện

Trang 27

làm trái tim con người dường như mềm lại Những hồi ức của nhân vật qua lời kể xưng “tôi” đã hiển hiện trước mắt người đọc như thể họ cũng đang trải qua nỗi đau sắp mất đi người thân yêu nhất trong cuộc đời Thằng Nhóc đã phải trải qua nỗi đau ấy! Thật xót xa vô cùng! “Tôi” còn kể rằng trong ngày tiễn đưa anh trai: “Trời mưa! Mưa nhiều làm sao!” [11; 166] Trong cơn mưa ấy: “Cỗ xe vẫn tiến lên, nhưng chậm làm sao, chậm làm sao… Cuối cùng, chúng tôi đến một khu vườn buồn bã… Chúng tôi dừng lại bên một cái huyệt lớn… Tôi nghe người ta kêu to: “Chân ra đằng trước! Chân ra đằng trước! ” [11; 167] Bằng cách kể chuyện ngôi thứ nhất, người kể đang tái hiện lại câu chuyện mà chính mình đã trải qua Chúng ta cảm nhận được diễn biến tâm lí của nhân vật “tôi” ở từng cử chỉ, từng cảm xúc, từng ý nghĩ trong những giây phút cuối cùng ở bên anh trai thân yêu mà “tôi” đã kính trọng gọi bằng hai

tiếng thiêng liêng mẹ Giắc Những giây phút đối mặt với sự chia ly mãi mãi

người thân yêu thật đớn đau vô cùng Cái nắm tay níu kéo, chiếc xe tang đưa anh trai xa dần, cái huyệt sâu thẳm… qua những dòng hồi tưởng của “tôi” tất

cả cứ lần lượt trở về như thước phim quay chậm nhưng lại xoáy mạnh trong tâm tưởng của “tôi” Nỗi đau không chỉ có ở nhân vật, đó là nỗi đau chung khi mỗi con người trong cuộc sống này phải chứng kiến sự ra đi của những người thân mà ta vô vòng yêu quý Bởi lẽ, sẽ chẳng có gì, chẳng ai khỏa lấp được những mất mát to lớn ấy Câu chuyện cuộc đời của nhân vật qua cách kể chuyện ở ngôi thứ nhất đã tạo nên cấu trúc trần thuật mang tính trữ tình thật sâu sắc biết bao!

Cách kể chuyện ở ngôi thứ nhất cũng được A Daudet sử dụng nhiều

trong các tác phẩm khác của mình Trong Buổi học cuối cùng (Chuyện của

một em bé người dát), người kể chuyện chính là một cậu bé ở vùng dát Cậu bé đã kể đầy cảm xúc về buổi học Pháp văn cuối cùng của mình, của dân làng trên mảnh đất quê hương thân yêu Bởi ngày mai thôi những người

Trang 28

An-dân Pháp ở vùng này sẽ phải học tiếng Đức - ngôn ngữ của kẻ đang xâm lược dân tộc mình Bằng việc kể chuyện ở ngôi thứ nhất, nỗi xúc động và những cảm xúc của “tôi” đã chạm đến sâu thẳm trái tim người đọc Câu chuyện bắt đầu khi Phrăng – nhân vật “tôi” – người kể chuyện, đến lớp muộn nhưng không bị thầy giáo Ha-men quở mắng mà còn được thầy dành cho những lời thật dịu dàng; không khí lớp học trang nghiêm; dưới lớp lại có cả dân làng ngồi lặng lẽ Tất cả những khác thường ấy làm cho “tôi” vô cùng ngạc nhiên

Và rồi, qua lời thầy, “tôi” hiểu đây chính là buổi học bằng tiếng Pháp cuối cùng Nhân vật “tôi” đi từ ngạc nhiên đến bàng hoàng, xót xa: “A! Quân khốn nạn, Bài học Pháp văn cuối cùng của tôi! Mà tôi thì mới biết viết tập toạng! Vậy là sẽ chẳng bao giờ được học nữa ư, phải dừng ở đó ư! Giờ đây tôi tự giận mình biết mấy về thời gian bỏ phí, về những buổi trốn học Những cuốn sách vừa nãy tôi còn thấy chán ngán đến thế, mang nặng đến thế, quyển ngữ pháp, quyển thánh sử của tôi giờ đây như những người bạn cố tri mà tôi sẽ rất đau lòng phải giã từ ” [39; 51] Những câu văn lần lượt hiện ra diễn tả dòng cảm xúc trào dâng trong lòng “tôi” Sau cảm giác bàng hoàng ban đầu là sự căm giận tột cùng với kẻ xâm lược, là nỗi day dứt ân hận về chính bản thân

mình Buổi học cuối rồi mà “tôi” mới biết viết tập toạng Sự thật chua xót biết

bao! Nhưng cũng chính trong giây phút ấy, “tôi” mới nhận ra những điều có ý nghĩa trong cuộc sống Đó là bài học về cách sử dụng thời gian, bài học về tình yêu tiếng mẹ đẻ, tình yêu ngôn ngữ dân tộc Và cao hơn nữa đó là tình yêu quê hương, yêu Tổ quốc mình Suy nghĩ còn non nớt nhưng sâu sắc vô cùng của một học trò nhỏ đã được thể hiện qua dòng cảm xúc dâng trào Trong giây phút thiêng liêng ấy “tôi” cảm nhận: “Ôi! Tôi sẽ nhớ mãi buổi học cuối cùng này!” [39; 53] Như thế, để diễn tả, để cắt nghĩa thế nào là tình yêu

Tổ quốc, nhà văn không cần hô khẩu hiệu, không cần đưa ra một khái niệm, một định nghĩa mà chuyển tải điều đó bằng một câu chuyện giàu cảm xúc

Trang 29

Chính dòng cảm xúc của nhân vật “tôi” đã thắp lên ngọn lửa cho tất cả chúng

ta về lòng yêu đất nước, Tổ quốc mình Văn chương Daudet nhẹ nhàng mà sâu sắc là bởi lẽ ấy!

Thằng Nhóc còn gợi cho chúng ta liên tưởng đến số phận, cuộc đời của cậu bé David Copperfield trong tác phẩm cùng tên của nhà văn người Anh

Ch Dickens Câu chuyện cũng bắt đầu bằng sự ra đời của cậu bé David và cuộc đời nhiều phiêu lưu sau đó như nhân vật Đa-ni-en Ây-xét của Daudet vậy Cuộc đời của David bắt đầu từ sự xuất hiện của ông Mơcxtôn, người chồng thứ hai của mẹ em Trong những tháng ngày đầu tiên ông Mơcxtôn xuất hiện trong ngôi nhà ấm áp xưa kia thì những chuyện buồn cứ lần lượt xảy ra “Tôi” không thể quên được trận đòn của ông Mơcxtôn: “Ông xiết đầu tôi như một cái kìm tôi van lạy ông đừng đánh tôi Tôi chỉ làm cho ông ngừng lại được một lúc thôi, vì sau đó ông đánh tôi túi bụi, và cùng khi ấy tôi ngoạm tay được bàn tay ông túm lấy tôi, rồi nghiến răng cắn “bập” một cái Lập tức ông ta nện túi bụi tựa hồ như ông ta muốn đánh tôi kì chết tôi nghe tiếng chân người chạy lên thang gác, kêu ầm ĩ Tôi nghe tiếng mẹ tôi kêu, và tiếng chị Pécgôti tôi nằm quay lơ dưới đất, người phát sốt nóng nhừ,

tơi bời, ê ẩm và giận dữ theo cách trẻ con của tôi” [14; 125] Qua lời người kể

chuyện xưng “tôi” chúng ta thấy được từng cảnh, từng việc, từng hành động,

cử chỉ đến từng cảm giác cứ lần lượt hiện ra trước mắt ta Người đọc hình dung cảnh tượng một người lớn to cao đầy dữ dằn đang trút nỗi tức giận vào một chú bé con Chú bé ấy thật tội nghiệp biết bao! Ẩn sau những lời kể việc,

ta còn nhận ra những xúc cảm của nhân vật “tôi” Đó là nỗi sợ hãi khi bị xiết

đầu như một cái kìm; đó là cái van lạy rối rít xin đừng đánh; đó là nỗi căm

phẫn vùng lên để tự vệ Và ta còn nhận ra tình yêu sâu nặng của “tôi” dành

cho mẹ Chỉ cần cách diễn tả Tôi nghe tiếng mẹ tôi kêu, chúng ta biết được

rằng David đã yêu, đã thương mẹ biết bao nhiêu! Không phải là người trong

Trang 30

cuộc, không tự diễn tả lại tất cả những sự việc hành động sẽ khó có được những hình ảnh, chi tiết và những cảm xúc chân thực, xúc động đến vậy!

Như thế, ở lối kể chuyện theo ngôi thứ nhất: “Cho tới nay, nó vẫn được coi như một biện pháp có lợi để thú nhận, để trần tình, để thể hiện thế giới nội tâm, giàu trữ tình và đơn âm – theo nghĩa thể hiện “cái tôi” với một giọng điệu mang dấu ấn chủ quan” [17; 455,456] Và một điều hiển nhiên rằng, chúng ta sẽ bị thuyết phục hơn, thấy tin hơn khi ai nghe đó tự kể câu chuyện của chính mình đồng thời còn băn khoăn khi nghe họ kể chuyện của người khác Đó dường như chính là điểm mạnh của ngôi thứ nhất trong kể chuyện!

1.2 Người kể chuyện ẩn mình qua hình thức trần thuật ở ngôi thứ ba

Hầu hết người trần thuật được đặt ở ngôi thứ nhất và ngôi thứ ba Mỗi truyện được kể ở một ngôi nhất định, nhưng cũng có truyện, tác giả đan xen giữa hai ngôi kể chuyện Kể chuyện ở ngôi thứ ba là cách kể “khách quan hóa” Chủ thể của hoạt động kể hoàn toàn đứng ngoài cốt truyện nghĩa là không thuộc về thế giới các nhân vật trong truyện Người kể ở đây không trực tiếp tham gia vào sự kiện, biến cố mà thực hiện nhiệm vụ dẫn dắt câu chuyện, quan sát và dõi theo hành động của nhân vật rồi kể lại Bởi tính chất hướng ngoại nên điểm nhìn của chủ thể kể chuyện hầu hết là từ bên ngoài

Kể chuyện ở ngôi thứ ba luôn có vị trí tốt nhất để theo dõi, dẫn dắt câu chuyện Dù cách kể này, người kể ít cơ hội phát biểu, suy ngẫm hoặc hồi tưởng song người đọc vẫn nhận thấy thái độ tình cảm của người kể

Theo R Barthes, vai “tôi” (ngôi thứ nhất), ít tính nước đôi hơn, vì thế cũng ít tính tiểu thuyết hơn, vai “nó” (ngôi thứ ba) trái lại là một thứ quy ước – điển hình của tiểu thuyết; cùng với thời gian tự sự, nó báo hiệu và hoàn tất

sự kiện tiểu thuyết Không có ngôi thứ ba, sẽ không thể đạt được đến tiểu thuyết, hoặc sẽ là muốn phá hủy nó Nếu như vai “tôi” là nhân chứng thì vai

“nó” mới là diễn viên Đặc trưng của vai “tôi” nhân chứng là sự tin cậy, chân

Trang 31

thành thì tính chất của vai “nó” – diễn viên, là sự biến hóa, sinh động, có ý nghĩa còn hơn một

Đây cũng là lí do vì sao các nhà tiểu thuyết khi muốn “dát mỏng” nhân cách của mình trong các tự thuật và làm nổi bật sự tồn tại một thế giới bên ngoài, đều lựa chọn người kể chuyện ở ngôi thứ ba Ngôi thứ ba cho phép người kể có thể kể về nhiều chuyện, nhiều người, cả những bí mật trong tâm hồn con người Ngôi kể này mang tính khách quan và tự do nhất Loại người trần thuật ẩn tàng cho phép nhà văn có cơ hội quan sát toàn diện cuộc sống cũng như số phận con người và phản ánh nó vào tác phẩm một cách cụ thể, khách quan Với ngôi thứ ba, người thuật chuyện dường như là người “toàn thông” sắm vai “thực tế” để “phán xét” về mọi điều Khi người kể chuyện gọi nhân vật bằng tên, bằng “hắn” thì câu chuyện đang được kể ở ngôi thứ ba Sự việc trở nên khách quan hơn và vì thế nhân vật “tôi” cũng trở nên chân thực hơn

Trong tiểu thuyết Thằng Nhóc chúng ta cũng thấy được sự đan xen ngôi

kể linh hoạt như thế Câu chuyện không chỉ được kể ở ngôi thứ nhất mà còn đan xen điểm nhìn trần thuật khi kể ở ngôi thứ ba Khi đó nhân vật được kể ở đây được gọi là thằng Nhóc và nhiều khi được gọi là “hắn”

Người kể chuyện ở ngôi thứ ba đã kể lại cho người đọc biết được việc thằng Nhóc xuống tàu đi Pa-ri để đến với Giắc trong muôn vàn khó khăn: “mặc cho cơn đói thắt ruột, mặc cho cơn lạnh quái ác làm chảy nước mắt, thằng Nhóc vẫn thấy rất sung sướng” [11; 9] Lời kể khách quan ấy cho thấy thằng Nhóc vô cùng sung sướng bởi nó đã thoát được lũ học trò nghịch ngợm ở Xác-lăng-đơ, nó sung sướng bởi sắp được gặp anh Giắc thân yêu sau bao tháng ngày xa cách Chính động lực tinh thần ấy đã giúp nó chiến thắng cái đói và cái rét đang cận kề

Trang 32

Lời kể chuyện ở ngôi thứ ba cũng cho người đọc biết được sự thật về việc sáng tác thơ và tâm trạng của thằng Nhóc khi nhiều ngày trôi qua chưa

có một sự đáp lại của công chúng thật khách quan: “chưa hề có một nhà phê bình nào nói đến cuốn sách của hắn; sách không bán được, hoàn toàn không bán được, và còn một cái thực nữa, ấy là lòng tự ái của thằng Nhóc –

và cái tính tự ái ấy nó thật là to lớn – nó biến thành hận thù trước sự im lặng hoàn toàn của mọi người đối với tác phẩm mới ra đời của hắn, đã làm cho hắn ta phẫn nộ căm ghét toàn thể loài người…” [11; 112,113] Lời kể thì thật bình thản nhưng người đọc thấy được tâm trạng của nhân vật được

kể không bình thản chút nào! Lời kể cho biết, thằng Nhóc đã chờ đợi trong

vô vọng khi mỗi ngày trôi qua không có một cuốn sách nào được đọc, được bán Sáng tác của nó đã không được công chúng đón nhận, công sức của nó không được người ta biết đến Có lẽ chính nỗi xấu hổ xen lẫn đau đớn ấy

mà thằng Nhóc trở nên biết thù hận và căm ghét Tâm trạng ấy khó có thể

nói thành lời khi trần thuật ở ngôi thứ nhất Chỉ có người đứng ngoài cuộc mới có thể phản ánh khách quan và chân thực đến thế!

Cũng bằng ngôi kể khách quan ấy, nhà văn đã để cho thằng Nhóc nghe được những điều cần nghe, dù cho phũ phàng nhưng lại là một thực tế cay đắng nó phải đối diện và vượt qua: “một họa sĩ quen biết các bạn của hắn; và gã này đã có cái can đảm độc ác để nói thẳng với hắn những lời sau đây: “Anh tự cho anh là nhà thơ! Nhưng anh bạn khốn khổ ạ, anh không có một chút hơi hướng gì của nhà thơ cả… Tôi thử hỏi anh nhé, anh đã cho in một cuốn sách tồi mà không ai nói đến, không ai muốn đọc, mà anh tự cho là nhà thơ… Anh bạn khốn khổ ạ, cuốn sách của anh là phi lí và có lẽ là ngu ngốc Anh mà là thơ ư, khoan đã nào! Chỉ có ông anh của anh là tin một điều ngốc nghếch như vậy… Lại một gã ngây thơ nữa, anh ta ấy…” [11;

Trang 33

112,113] Sự thất bại đó khiến cho: “Hắn trở nên tàn ác, ganh tị, hay hằn thù

và cùng với điều đó cảm thấy bất lực, không thể làm được việc gì… hắn muốn thà chết còn hơn” [11; 114,115] Lời kể chuyện ở ngôi thứ ba thật lạnh lùng Trong hoàn cảnh của thằng Nhóc thì lời kể ấy thật phũ phàng Bởi lẽ thằng Nhóc đã hy vọng biết bao tác phẩm đầu tay của mình Nhưng sự thật không thể thay đổi là nó đã thất bại Thất bại một cách thảm hại bởi kết quả

là đã cho ra đời “một cuốn sách tồi mà không ai nói đến, không ai muốn đọc” [11; 112,113] Cũng qua lời kể khách quan ấy người đọc mới nhận ra

rõ hơn thằng Nhóc, kẻ thất bại, đã trở nên tàn ác, ganh tị và bất lực với

chính mình Thằng Nhóc đã muốn chết vì xấu hổ và vì cả thói kiêu ngạo của

nó Chúng ta chỉ có thể nhận ra đúng con người của thằng Nhóc lúc này bằng lời kể của người ngoài cuộc khách quan ở ngôi thứ ba

Tâm trạng của thằng Nhóc trong những ngày phải làm một diễn viên hài kịch để kiếm sống cũng được kể lại khách quan như thế này: “Chính khi thằng Nhóc lên sân khấu, được hóa trang, được đánh phấn bự mặt, ăn mặc hào nhoáng, là lúc hắn nghĩ đến Giắc, đến đôi mắt xanh Chính giữa lúc đang nhăn nhó, đang bông đùa một cách ngu ngốc, mà hình ảnh của tất cả những con người thân yêu đó, những người mà hắn đã phản bội hèn nhát, bỗng nhiên xuất hiện trước mắt hắn… Trong những lúc đó, tâm hồn hắn ra khỏi hắn, vượt qua hàng đèn chiếu, chọc thủng trần nhà hát và bay ra khá xa để gửi lời chào đến Giắc, gửi một cái hôn đến bà Ây-xét, xin đôi mắt xanh tha thứ, và than thở một cách chua xót về cái nghề nghiệp đáng buồn mà không hiểu vì sao hắn lại rơi vào đó…” [11; 112,113] Những lời nhận xét cho thấy trong tâm can thằng Nhóc luôn có biết bao cảm xúc đan xen Quá khứ và hiện tại, cái tốt đẹp và cái xấu xa, sự hối tiếc và cuộc sống phải đối mặt tất cả luẩn quẩn trong tâm trí, dày vò thằng Nhóc Nó không thể tìm được lối thoát cho chính mình Nó gần như sống trong tuyệt vọng và bế tắc Người kể chuyện đứng

Trang 34

ngoài cuộc như đọc được những suy tư trăn trở ấy trên nét mặt và ánh mắt của thằng Nhóc giúp người đọc hiểu hơn chiều sâu tâm hồn nhân vật Chúng ta cũng nhận ra rằng bên ngoài nụ cười gượng, ánh đèn lung linh bao quanh thì sâu thẳm trái tim con người vẫn chất chứa những tâm sự sâu kín những nỗi đau không dễ nói thành lời.

Sự di chuyển điểm nhìn của người kể chuyện từ ngôi thứ nhất sang ngôi thứ ba dường như đã tạo một khoảng cách giúp nhân vật dễ dàng quan sát bản thân mình một cách khách quan hơn: “Trong hai tháng thằng Nhóc đã

nợ như chúa chổm Hắn nợ khách sạn, nợ tiệm ăn, nợ người gác cổng rạp hát… thằng Nhóc đã vay anh chàng in cuốn Mục ca … vị chi lên tới một ngàn

ba trăm phơ-răng” [11; 121] Bởi thế: “hắn sống, không phải, hắn tàn rữa,… Ôi! Tính hiếu danh của thằng Nhóc, nó đã làm khổ cho kẻ nào khăng khăng yêu mến nó” [11; 123]

Nhưng điều kì diệu đã đến với thằng Nhóc vào một đêm sau buổi diễn khi Giắc xuất hiện Trong giây phút ấy: “Họ nhìn nhau một chặp không nói nên lời… Giắc rùng mình và cầm chặt tay hắn, anh kéo hắn ra ngoài” [11; 124,125 ] Lời kể chuyện đã giúp người đọc nhận ra thằng Nhóc đã được anh trai “ban tặng” cho một cuộc sống mới Cuộc đời thằng Nhóc như được hồi sinh! Đổi lại anh trai của nó đã phải nghỉ việc chỗ ông hầu tước, đã đôn đáo tìm nó khắp nơi, đã phải đến nhà Pi-e-rốt vay hai ngân phiếu một ngàn phơ-răng để trang trải số nợ của thằng Nhóc và chuẩn bị cho cuộc sống những ngày tới của hai anh em Những lời kể ấy càng cho thấy tấm lòng yêu thương bao la của một người anh và hơn thế nữa là của một người mẹ dành cho đứa con thân yêu bé bỏng nhiều lầm lỡ của mình Và để lo lắng cho em, Giắc đã làm tất cả, hi sinh tất cả Lời kể dù không bộc lộ cảm xúc nhưng tình cảm vẫn

cứ dâng trào, vẫn làm những giọt nước mắt xúc động của người đọc tuôn rơi trên từng trang sách

Người kể chuyện theo bước chân của thằng Nhóc tiếp tục những chặng

Trang 35

đường mới của cuộc đời Thằng Nhóc đã bị ốm nặng sau nỗi mất mát khi người anh trai ra đi: “Thằng Nhóc ốm; thằng Nhóc sắp chết… Tất cả các thầy thuốc đều đã lên án tử hình hắn Hai trận thương hàn trong hai năm, là quá nhiều đối với cái tiểu não của con chim ruồi!” [11; 169] Trước tình hình ấy:

“Trong ngôi nhà La-lu-ét cũ mọi người rụng rời! Pi-e-rốt không còn ngủ nữa; đôi mắt xanh tuyệt vọng Người đàn bà có danh giá giở những trang sách về Ra-xpay một cách hoảng loạn… Phòng khách không còn ai vào, chiếc dương cầm chết lặng, tiếng sáo câm bặt Nhưng cái làm não lòng hơn cả là một chiếc

áo dài đen nhỏ ngồi ở góc nhà, và đan áo từ sáng đến chiều không nói một lời, những giọt nước mắt lăn tròn trên đôi má” [11; 169,170] Còn hình ảnh thằng Nhóc khi đó được kể lại: “Thằng Nhóc nằm ngủ khá yên tĩnh trên một chiếc giường đệm lông, không biết gì về những giọt nước mắt mà hắn đã gây ra xung quanh mình Mắt hắn mở và không thấy gì; các đồ vật không đi vào tâm hồn hắn…” [11; 169,170] Lời văn như ngừng lại, giọng văn như chùng xuống Dưới sự quan sát của người kể chuyện, tất cả trở nên im lặng không có

âm thanh, không có hoạt động Cái im lặng ấy thật đáng sợ biết bao! Thằng Nhóc không hề biết những gì đang xảy ra với chính mình và những người xung quanh Lúc này chỉ có những người đứng ngoài cuộc, quan sát tất cả thì mới có thể phản ánh lại được mà thôi! Như thế, sự việc được kể trở nên khách quan hơn và nhân vật “tôi” cũng trở nên chân thực hơn! Cứ như vậy, từng sự việc trôi qua thật nặng nề, buồn thảm Cho đến một hôm người ta thấy sự biến chuyển trong sự sống của thằng Nhóc: “Đôi mắt hắn nhìn thấy, đôi tai hắn nghe được Hắn thở; hắn lấy lại sức khỏe… Bộ máy tư duy, nằm ngủ trong một góc của bộ não với những bánh xe mỏng manh như tóc tiên, tỉnh dậy và bắt đầu hoạt động… Ồ! Bây giờ thì thằng Nhóc nhớ lại Khách sạn Pi-loa, cái chết của Giắc, đám ma, đến nhà Pi-e-rốt trong cơn mưa, hắn thấy lại hết, hắn

Trang 36

nhớ lại hết! Than ôi! Vừa trở lại với cuộc đời, đứa trẻ khốn nạn cũng vừa trở lại với nỗi đau khổ; và lời nói đầu tiên của hắn là một tiếng rên rỉ” [11; 171,172] Những giây phút tỉnh lại đầu tiên cũng là lúc thằng Nhóc phải đối diện với sự thật đau buồn nữa khi biết người mẹ yêu quý vĩnh viễn không bao giờ nhìn thấy ánh sáng được nữa Người kể nhận ra rằng chính điều đau buồn

ấy lại mang đến cho nó sức mạnh để sống: “Không đâu… thằng Nhóc sẽ không chết Hắn không được chết Người mẹ mù lòa đáng thương sau đó sẽ sống ra làm sao? Bà còn tìm đâu ra nước mắt để khóc đứa con trai thứ ba ấy?” [11; 179,180] Ở đây, nhân vật như đã tự phân thân ra làm hai nửa để tự đối thoại với chính mình Những câu hỏi không lời đáp vang lên thảng thốt nghe thật xót xa, đau đớn! Đau đớn hơn nữa khi: “Hắn thấy rõ là người ta không yêu hắn nữa, rằng người ta lẩn tránh hắn, rằng hắn làm cho người ta ghê tởm… thằng bé khốn khổ tự bảo, “đừng nghĩ đến nó nữa, và hãy chấm dứt những điều mơ mộng hão huyền” [11; 179,180]

Người kể chuyện đã đứng ngoài quan sát đã thấy được từng bước đi trong cuộc đời thằng Nhóc cho đến lúc trở thành một nhà buôn khôn khéo và lương thiện của Pari Người kể chuyện đã cho chúng ta biết: “Thằng Nhóc yêu nghề nghiệp của hắn, hắn tự hào về nghề nghiệp của hắn; nhưng cái làm cho hắn tự hào hơn tất cả, đó là Ây-xét phu nhân, người vợ yêu quý của hắn, hiểu biết trong mọi công việc, một nhà buôn giỏi, một người vợ thảo, một người vợ hiền Vui mừng biết bao khi Đa-ni-en tìm thấy trong những nét của con trai đầu và trong tính cách của nó, những nét tính cách của anh Giắc thân yêu, trừ cái khiếu hay khóc, và trong hai đứa con gái, đôi mắt xanh hiền dịu biết bao, êm ái biết bao và ngoan ngoãn biết bao của người mẹ đáng yêu của chúng!” [11; 190] Những lời kể ở cả ngôi thứ nhất và ngôi thứ ba khép lại cuốn tiểu thuyết tự thuật về cuộc đời thằng Nhóc thật nhẹ nhàng biết bao! Vậy

Trang 37

là cuộc sống đã mỉm cười với con người sau bao nhiêu bài học rút ra từ những sóng gió cuộc đời Lời kể ấy hay là những triết lí thầm kín mà Daudet muốn gửi gắm đến bạn đọc qua cuốn hồi kí này.

Tiểu kết chương 1

Như vậy, đối với một tác phẩm thuộc loại hình tự sự, phương thức tự

sự đặc biệt quan trọng Trong chương đầu tiên của luận văn chúng tôi đã đi vào tìm hiểu cụ thể đặc điểm cũng như vai trò yếu tố người kể chuyện

Chúng tôi nhận thấy, người kể chuyện là sản phẩm sáng tạo của nhà văn, là phương tiện quan trọng để người sáng tác thể hiện quan niệm nghệ thuật của mình Trong bất kì tác phẩm nào cũng có người kể chuyện Người

kể có mặt ở mọi nơi, mọi lúc để thực hiện nhiệm vụ của mình như giới thiệu,

kể lại các sự kiện và thể hiện chiều sâu tâm lí nhân vật Người kể như chiếc cầu nối tạo mối quan hệ trung gian giữa nhân vật – người kể chuyện – độc giả Người kể có thể dừng mạch kể để phân tích, bình luận những thay đổi của hoàn cảnh, diễn biến tâm lí của nhân vật

Cũng trong chương này chúng tôi đã đi vào tìm hiểu cụ thể người kể

chuyện trong tiểu thuyết tự thuật Thằng Nhóc của Daudet Có thể thấy ý đồ

của nhà văn trong việc mở rộng điểm nhìn khi xây dựng nhiều chủ thể kể chuyện trong tác phẩm Nhà văn đã sử dụng linh hoạt ngôi kể thứ nhất và ngôi kể thứ ba để có thể quan sát ở các góc độ khác nhau về nhân vật, về sự kiện Tuy nhiên dù truyện được kể ở ngôi nào thì vẫn có sự thống nhất góp phần làm rõ sự phong phú của việc sáng tạo hình thức người kể chuyện trong tác phẩm Đồng thời cách kết hợp nhiều điểm nhìn đã tránh được lối kể đơn

điệu đồng thời tạo nên sức hấp dẫn và sức sống lâu tác phẩm Thằng Nhóc

của Daudet Đúng như Phùng Văn Tửu đã viết: “Nói chung, nhân vật người

kể chuyện trong tiểu thuyết là những chủ thể đơn, dù người kể chuyện đứng

Trang 38

ngoài hay là một nhân vật trong truyện, dù chỉ là một người kể chuyện hay nhiều người kể chuyện, dù người kể chuyện chọn vị trí cố định để quan sát hay di chuyển điểm nhìn Nhưng có khi nhà văn tạo nhân vật người kể chuyện là các chủ thể kép khá độc đáo; người kể chuyện cùng lúc đóng hai vai trò, vừa giấu mặt, vừa lộ diện xưng “tôi” vừa kể chuyện mình ở ngôi thứ

ba số ít, vừa là chuyện mình ở ngôi thứ nhất, vừa hòa mình vào câu chuyện, vừa đứng ngoài mọi diễn biến của tiểu thuyết” [ 57; 239, 240]

Trang 39

Chương 2: CỐT TRUYỆN

Cốt truyện được xem như một trong những yếu tố quan trọng trong tác phẩm văn học nói chung và tiểu thuyết truyền thống nói riêng Một tác phẩm

có cuốn hút được người đọc hay không là ở yếu tố cốt truyện

Bàn về cốt truyện, trong cuốn Từ điển thuật ngữ Văn học do Lê Bá

Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi chủ biên cho rằng: “Cốt truyện là hệ thống sự kiện cụ thể được tổ chức theo yêu cầu tư tưởng và nghệ thuật nhất định, tạo thành bộ phận cơ bản, quan trọng nhất trong hình thức động của tác phẩm văn học thuộc các loại tự sự và kịch… Có thể tìm thấy qua một cốt truyện hai phương diện gắn bó hữu cơ: một mặt, cốt truyện là một phương tiện bộc lộ tính cách nhờ cốt truyện nhà văn thể hiện sự tác động qua lại giữa các tính cách; mặt khác cốt truyện còn là phương tiện để nhà văn tái hiện các xung đột xã hội Cốt truyện vừa góp phần bộc lộ có hiệu quả đặc điểm mỗi tính cách, tổ chức tốt hệ thống tính cách, lại vừa trình bày một hệ thống sự kiện phản ánh chân thực xung đột xã hội, có sức mạnh lôi cuốn và hấp dẫn người đọc [35; 85,86,87]

Trần Đình Sử (trong cuốn Giáo trình lí luận văn học tập II) cũng

khẳng định: “Cốt truyện là chuỗi các sự kiện được tạo dựng trong tác phẩm tự

sự và kịch” [47; 56] Ông còn bàn về cốt truyện ở phương diện tính chất Ông cho rằng: “Cốt truyện có hai tính chất cơ bản Một là tính liên tục hữu hạn trong trật tự thời gian, sự kiện này đặt sau sự kiện trước và cứ thế cho đến kết thúc Hai là các sự kiện trong chuỗi có mối quan hệ nhân quả hoặc quan hệ bộc lộ ý nghĩa” [47; 56] Ở phương điện chức năng, ông chỉ ra bốn nội dung

cơ bản: “Một là nó gắn kết các sự kiện thành một chuỗi và tạo thành lịch sử của một nhân vật; hai là bộc lộ các xung đột, mâu thuẫn của con người; ba là tạo ra một ý nghĩa về nhân sinh ; thứ tư là gây hấp dẫn” [47; 57]

Trang 40

Về phương diện kết cấu và quy mô nội dung người ta thường chia cốt truyện thành hai loại là cốt truyện đơn tuyến và cốt truyện đa tuyến… Tuy nhiên, dù có đa dạng đi chăng nữa thì mọi cốt truyện đều trải qua một tiến trình vận động có mở đầu, phát triển và cuối cùng là kết thúc.

Trong tiểu thuyết Thằng Nhóc của Alphonse Daudet, người đọc cũng

tìm được và nhận ra vai trò của cốt truyện, của sự kiện trong sự thành công của tác phẩm

2.1 Cốt truyện theo hình thức tiểu thuyết phiêu lưu

Phiêu lưu là tính chất không chỉ của riêng tiểu thuyết, nó tiềm tàng từ trong sử thi (những bản anh hùng ca) và trong các câu chuyện cổ tích… Sau

đó tiểu thuyết ra đời, ngay từ khi mới xuất hiện nó đã ẩn chứa trong mình tính chất phiêu lưu Qua những bước phát triển của lịch sử văn học, tiểu thuyết phiêu lưu có nhiều biến dạng: tiểu thuyết hiệp sĩ, tiểu thuyết du đãng

là những dạng tiêu biểu của tiểu thuyết phiêu lưu trong văn học trung đại

Tiểu thuyết phiêu lưu không chỉ là những cuộc phiêu lưu tìm kiếm những chiến công, những câu chuyện li kì trong thế giới tưởng tượng mà là phiêu lưu kết hợp với khám phá thế giới và phản ánh hiện thực Rồi trải qua thời gian nó đã định hình và trở thành một thể loại văn học thực sự có giá trị:

“Nó thể hiện như một loại hình riêng biệt, đứng vững với tư cách là một trong những thể loại tiểu thuyết chủ chốt của văn học bình dân” [21; 724]

Tiểu thuyết phiêu lưu hướng tới số đông độc giả, người ta đọc nó say

mê và háo hức vì nó không chỉ là văn chương giải trí mà còn lấp lánh trí tuệ Giờ đây, tiểu thuyết phiêu lưu bên cạnh những đặc trưng của thể loại còn đan cài kết hợp nhuần nhuyễn đặc điểm của các thể loại khác như tiểu thuyết tâm

lí, xã hội, phong tục “sức hấp dẫn của tiểu thuyết phiêu lưu không giới hạn trong cái phiêu lưu mạo hiểm nữa, mà còn là sự khám phá chiều sâu của sự khám phá con người” [43; 338] Như vậy, tiểu thuyết phiêu lưu không còn

Ngày đăng: 21/04/2017, 23:24

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lại Nguyên Ân (2004), 150 thuật ngữ văn học, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 thuật ngữ văn học
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2004
2. Bakhtin. M (1992), Lý luận và thi pháp tiểu thuyết, (Phạm Vĩnh Cư tuyển chọn, dịch và giới thiệu) NXB Bộ Văn hóa Thông tin và Thể thao, Trường viết văn Nguyễn Du, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận và thi pháp tiểu thuyết
Tác giả: Bakhtin. M
Nhà XB: NXB Bộ Văn hóa Thông tin và Thể thao
Năm: 1992
3. Barthes. R (1997), Độ không của lối viết (Nguyên Ngọc dịch và giới thiệu), NXB Hội nhà văn Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Độ không của lối viết
Tác giả: Barthes. R
Nhà XB: NXB Hội nhà văn Hà Nội
Năm: 1997
4. Barthes. R, Nhập môn phân tích cấu trúc truyện kể (Tôn Quang Cường dịch và chú thích).Nguồn: http://evan.vnexpress.net/News/phe-binh/ly-luan Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhập môn phân tích cấu trúc truyện kể
5. Lê Huy Bắc (2006), Dạy-học Văn học nước ngoài trong chương trình THCS, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy-học Văn học nước ngoài trong chương trình THCS
Tác giả: Lê Huy Bắc
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2006
6. Lê Huy Bắc (2008), Vấn đề cách dịch thuật ngữ cốt truyện trong tự sự (in trong Tự sự học, một số vấn đề lí luận và lịch sử, Phần 2), NXB Đại học sư phạm, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề cách dịch thuật ngữ cốt truyện trong tự sự "(in trong "Tự sự học, một số vấn đề lí luận và lịch sử
Tác giả: Lê Huy Bắc
Nhà XB: NXB Đại học sư phạm
Năm: 2008
7. Lê Nguyên Cẩn (2006), Tác gia tác phẩm văn học nước ngoài trong nhà trường, Alphonse Daudet, NXB Đại học Sư Phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác gia tác phẩm văn học nước ngoài trong nhà trường
Tác giả: Lê Nguyên Cẩn
Nhà XB: NXB Đại học Sư Phạm
Năm: 2006
8. Lê Nguyên Cẩn (2004), Về tiểu thuyết sử dụng ngôi thứ nhất trong văn học Phương Tây thế kỉ XVIII, (in trong Tự sự học, một số vấn đề lí luận và lịch sử), NXB Đại học Sư Phạm, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về tiểu thuyết sử dụng ngôi thứ nhất trong văn học Phương Tây thế kỉ XVIII", (in trong "Tự sự học, một số vấn đề lí luận và lịch sử
Tác giả: Lê Nguyên Cẩn
Nhà XB: NXB Đại học Sư Phạm
Năm: 2004
9. Nguyễn Thị Mai Chanh (2008), Tự sự ngôi thứ nhất theo điểm nhìn đa tuyến qua truyện ngắn “Trong quán rượu” và “Con người cô độc” của Lỗ Tấn, Tạp chí nghiên cứu văn học, số 3, Viện văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tự sự ngôi thứ nhất theo điểm nhìn đa tuyến qua truyện ngắn “Trong quán rượu” và “Con người cô độc” của Lỗ Tấn
Tác giả: Nguyễn Thị Mai Chanh
Năm: 2008
10. Daudet. A (2000), Thằng Nhóc, Tập 1 (Tôn Gia Ngân dịch), NXB Kim Đồng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thằng Nhóc
Tác giả: Daudet. A
Nhà XB: NXB Kim Đồng
Năm: 2000
11. Daudet.A (2000), Thằng Nhóc, Tập 2 (Tôn Gia Ngân dịch), NXB Kim Đồng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thằng Nhóc
Tác giả: Daudet.A
Nhà XB: NXB Kim Đồng
Năm: 2000
12. Defoe. D (2011), Robinson Crusol, (Hoàng Thái Anh dịch), NXB Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Robinson Crusol
Tác giả: Defoe. D
Nhà XB: NXB Văn học
Năm: 2011
13. Dickens. C (1986), Cuộc phiêu lu của Oliver Twist (Phan Ngọc dịch) NXB Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cuộc phiêu lu của Oliver Twist
Tác giả: Dickens. C
Nhà XB: NXB Văn học
Năm: 1986
14. Dickens. C (1996), David Copperfield, Tập 1,2 (Như Thành dịch), NXB Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: David Copperfield
Tác giả: Dickens. C
Nhà XB: NXB Đà Nẵng
Năm: 1996
15. Đặng Anh Đào (2007), và nhiều tác giả, Giáo trình Văn học Phương Tây, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Văn học Phương Tây
Tác giả: Đặng Anh Đào
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2007
16. Đặng Anh Đào (2008), Bàn về một vài thuật ngữ thông dụng trong truyện kể (in trong Tự sự học, một số vấn đề lí luận và lịch sử, Phần 2), NXB Đại học sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về một vài thuật ngữ thông dụng trong truyện kể
Tác giả: Đặng Anh Đào
Nhà XB: NXB Đại học sư phạm
Năm: 2008
17. Đặng Anh Đào (2006), Việt Nam và Phương Tây, tiếp nhận và giao thoa trong văn học, NXB Giáo dục, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam và Phương Tây, tiếp nhận và giao thoa trong văn học
Tác giả: Đặng Anh Đào
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2006
18. Đặng Anh Đào (1995), Đổi mới nghệ thuật tiểu thuyết phương Tây hiện đại, NXB Giáo dục, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới nghệ thuật tiểu thuyết phương Tây hiện đại
Tác giả: Đặng Anh Đào
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1995
19. Phan Cự Đệ (Sưu tầm, tuyển chọn và giới thiệu), (1984), Tuyển tập Nguyên Hồng, II, NXB Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập Nguyên Hồng
Tác giả: Phan Cự Đệ (Sưu tầm, tuyển chọn và giới thiệu)
Nhà XB: NXB Văn học
Năm: 1984
20. Hà Minh Đức (chủ biên) (1998), Lí luận văn học, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận văn học
Tác giả: Hà Minh Đức (chủ biên)
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1998

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w