Đối với khách hàng, sử dụng dịch vụ ngân hàngđiện tử đem lại sự tiện nghi, tiết kiệm được thời gian và chi phí; đối với ngânhàng, phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử không những tiết ki
Trang 1Tôi xin cam đoan bản luận văn là công trình nghiên cứu khoa học, độclập của tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và có nguồngốc rõ ràng.
Tác giả
NGUYỄN TRIỆU PHƯỚC
Trang 2CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ DỊCH VỤ NGÂN HÀNG
ĐIỆN TỬ 3
1.1.KHÁI NIỆM 3
1.1.1.THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ 3
1.1.2 Lợi ích của thương mại điện tử 3
1.1.3 Dịch vụ Ngân hàng điện tử 4
1.2 S Ự PHÁT TRIỂN CỦA DỊCH VỤ N GÂN HÀNG ĐIỆN TỬ 4
1.2.1 Các giai đoạn phát triển của Ngân hàng điện tử 4
1.2.2 SỰ PHÁT TRIỂN CỦA DỊCH VỤ NGÂN HÀNG ĐIỆN TỬ TẠI CÁC NHTM VIỆT NAM 6
1.3 ĐIỀU KIỆN ĐỂ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ NGÂN HÀNG ĐIỆN TỬ 7 1.3.1 ĐIỀU KIỆN PHÁP LÝ 7
1.3.2 ĐIỀU KIỆN CÔNG NGHỆ 8
1.3.3 ĐIỀU KIỆN VỀ CON NGƯỜI 13
1.4 TÍNH TẤT YẾU PHẢI PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ NGÂN HÀNG ĐIỆN TỬ 14
1.4.1 VAI TRÒ CỦA NGÂN HÀNG ĐIỆN TỬ TRONG XU THẾ HỘI NHẬP 14
1.4.2 TÍNH ƯU VIỆT CỦA DỊCH VỤ NGÂN HÀNG ĐIỆN TỬ 15
1.4.3 MỘT SỐ DỊCH VỤ NGÂN HÀNG ĐIỆN TỬ TẠI VIỆT NAM 18
1.5 KINH NGHIỆM VÀ BÀI HỌC VỀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ NGÂN HÀNG ĐIỆN TỬ 22
1.5.1 KINH NGHIỆM PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ NGÂN HÀNG ĐIỆN TỬ CỦA CÁC NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI 22
Trang 3NGÂN HÀNG ĐIỆN TỬ CHO VIỆT NAM 25 KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 27 CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG DỊCH VỤ NGÂN HÀNG ĐIỆN TỬ TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN QUÂN ĐỘI 28 2.1 TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN QUÂN ĐỘI (MB) 28 2.1.1 QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA NH TMCP QUÂN ĐỘI 28 Thông tin cơ bản về ngân hàng thương mại cổ phần Quân Đội: 29 2.1.2 Cơ cấu tổ chức 30 2.1.3 Tình hình hoạt động kinh doanh trong 3 năm gần đây từ năm 2013 đến năm 2015 34 2.2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ NGÂN HÀNG ĐIỆN TỬ TẠI MB 38 2.2.1 GIỚI THIỆU CHUNG VỀ HỆ THỐNG NGÂN HÀNG ĐIỆN TỬ TẠI MB 38 2.2.2 CÁC DỊCH VỤ NGÂN HÀNG ĐIỆN TỬ ĐƯỢC TRIỂN KHAI TẠI MB 39 2.2.3 CẠNH TRANH TRONG VIỆC CUNG CẤP DỊCH VỤ NGÂN HÀNG ĐIỆN TỬ GIỮA MB VÀ CÁC NGÂN HÀNG KHÁC 45 2.2.4 KẾT QUẢ KINH DOANH TỪ NGÂN HÀNG ĐIỆN TỬ TRONG THỜI GIAN QUA 47 2.3 NHỮNG THUẬN LỢI VÀ KHÓ KHĂN KHI PHÁT TRIỂN DỊCH
VỤ NGÂN HÀNG ĐIỆN TỬ TẠI MB 48 2.3.1 THUẬN LỢI 48 2.3.2 KHÓ KHĂN 49
Trang 4VỤ NGÂN HÀNG ĐIỆN TỬ CỦA MB 51
2.4.1 NHỮNG THÀNH CÔNG ĐẠT ĐƯỢC 51
2.4.2 NHỮNG HẠN CHẾ CÒN TỒN TẠI 53
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 55
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ GÓP PHẦN PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ NGÂN HÀNG ĐIỆN TỬ TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN QUÂN ĐỘI 56
3.1 ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN CÔNG NGHỆ THÔNG TIN NGÂN HÀNG ĐẾN NĂM 2020 56
3.1.1 VỀ MỤC TIÊU 57
3.1.2 VỀ ĐỊNH HƯỚNG 58
3.1.3 VỀ NHIỆM VỤ TRỌNG TÂM ĐẾN NĂM 2020 58
3.2 THỜI CƠ VÀ THÁCH THỨC ĐỐI VỚI MB TRONG VIỆC PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ NGÂN HÀNG ĐIỆN TỬ TRONG GIAI ĐOẠN TỚI60 3.2.1 THỜI CƠ 61
3.2.2 THÁCH THỨC 62
3.3 GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ NGÂN HÀNG ĐIỆN TỬ TẠI MB 63
3.3.1 ĐẨY MẠNH VIỆC QUẢNG BÁ SẢN PHẨM 63
3.3.2 PHÁT TRIỂN HẠ TẦNG CƠ SỞ VÀ ĐẦU TƯ CÁC CÔNG NGHỆ HIỆN ĐẠI 65
3.3.3 ĐA DẠNG HÓA, PHÁT TRIỂN CÁC DỊCH VỤ NGÂN HÀNG ĐIỆN TỬ 66
3.3.4 PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC 67
3.3.5 NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ KHÁCH HÀNG 70
3.4 KIẾN NGHỊ ĐỐI VỚI NHNN VÀ CƠ QUAN QUẢN LÝ: 71
Trang 5CÁC DỊCH VỤ NGÂN HÀNG ĐIỆN TỬ 71
3.4.2 HỖ TRỢ CÁC NGÂN HÀNG NÂNG CAO NĂNG LỰC TÀI CHÍNH: 73
3.4.3 TẠO THUẬN LỢI CHO SỰ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ NGÂN HÀNG ĐIỆN TỬ: 73
3.4.4 HỖ TRỢ CÁC NGÂN HÀNG TRONG VIỆC TẠO CẦU VỀ DỊCH VỤ NGÂN HÀNG TRÊN THỊ TRƯỜNG 75
3.4.5 NHNN PHẢI LÀ ĐẦU MỐI HỢP TÁC GIỮA CÁC NHTM TRONG NƯỚC VÀ TĂNG CƯỜNG HỢP TÁC QUỐC TẾ 76
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 77
KẾT LUẬN 78
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 79
Trang 6TTLNH : Thanh toán liên ngân hàng
Trang 7BẢNG 1.1: PHÍ GIAO DỊCH BÌNH QUÂN 16 BẢNG 2.1: KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA MB TỪ 2013 ĐẾN 2015 35 BIỂU ĐỒ 2.2: TÌNH HÌNH HUY ĐỘNG VỐN CỦA MB GIAI ĐOẠN
2013 - 2015 35 BIỂU ĐỒ 2.3: SO SÁNH TỶ LỆ NỢ XẤU CỦA MB VỚI HỆ THỐNG NGÂN HÀNG 2013 - 2015 37 BIỂU ĐỒ 2.4: LỢI NHUẬN CỦA MB QUA CÁC NĂM 2013, 2014, 2015
37
BẢNG 2.5 SO SÁNH TIỆN ÍCH DỊCH VỤ NGÂN HÀNG ĐIỆN TỬ CỦA MB VÀ CÁC NGÂN HÀNG TMCP 46 BẢNG 2.6: KẾT QUẢ KINH DOANH TỪ DỊCH VỤ NGÂN HÀNG ĐIỆN TỬ 47
SƠ ĐỒ 2.1: CƠ CẤU TỔ CHỨC BỘ MÁY HOẠT ĐỘNG NGÂN HÀNG TMCP QUÂN ĐỘI 30
SƠ ĐỒ 2.2: CƠ CẤU TỔ CHỨC BỘ MÁY HOẠT ĐỘNG PHÒNG
NHDT 39
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Sự phát triển như vũ bão của khoa học công nghệ, đặc biệt là ngành côngnghệ thông tin, đã tác động mạnh đến mọi mặt hoạt động của đời sống kinh tế xãhội, làm thay đổi nhận thức và phương pháp sản xuất kinh doanh của nhiều lĩnhvực, nhiều ngành kinh tế khác nhau, trong đó có lĩnh vực hoạt động ngân hàng.Phát triển các dịch vụ của ngân hàng điện tử là xu hướng tất yếu, mang tính kháchquan trong nền kinh tế hiện đại, là kết quả tất yếu của quá trình phát triển côngnghệ thông tin trong thời đại hội nhập kinh tế quốc tế Dịch vụ ngân hàng điện tửđược ứng dụng trong hoạt động kinh doanh ngân hàng, hiện nay các ngân hàngtrên thế giới đã và đang phát triển mạnh các hoạt động dịch vụ của ngân hàng điện
tử Đối với nước ta đây là lĩnh vực hoàn toàn mới và chỉ mới phát triển ở một mức
độ nhất định
Lợi ích đem lại của ngân hàng điện tử là rất lớn nhờ tính tiện ích, nhanhchóng, chính xác và bảo mật Đối với khách hàng, sử dụng dịch vụ ngân hàngđiện tử đem lại sự tiện nghi, tiết kiệm được thời gian và chi phí; đối với ngânhàng, phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử không những tiết kiệm chi phí và đemlại lợi nhuận mà còn giúp ngân hàng nâng cao khả năng cạnh tranh, nâng cao hiệuquả sử dụng vốn; như vậy đối với nền kinh tế nó góp phần làm tăng quá trình lưuthông tiền tệ và hàng hóa, hiện đại hóa hệ thống thanh toán và góp phần thúc đẩy
sự phát triển của thương mại, đặc biệt là thương mại điện tử
Thực tế hiện nay cho thấy dịch vụ ngân hàng điện tử ở các ngân hàng ViệtNam nói chung cũng như Ngân hàng Thương mại Cổ phần (NHTMCP) Quân Độicòn hạn chế, vì điều kiện cơ sở hạ tầng và trình độ phát triển khoa học kỹ thuậtkhông được như các nước phát triển, hơn nữa các dịch vụ này cũng chưa tiếp cậnđược với người dân, vì thế việc tìm ra giải pháp phát triển dịch vụ ngân hàng điện
Trang 9tử đang là một vấn đề đáng quan tâm hiện nay của các ngân hàng Việt Nam cũngnhư của NHTMCP Quân Đội.
Trước tình hình đó, trên cơ sở lý luận được học tập tại trường và thực tiễnthu được trong quá trình làm việc tại NHTMCP Quân Đội , em đã lựa chọn đề tài
“Phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần QuânĐội” cho luận văn của mình
2 Mục đích nghiên cứu
Xem xét một cách tổng quát và có hệ thống thực trạng dịch vụ ngân hàngđiện tử của NHTMCP Quân Đội, đồng thời đề tài cũng đưa ra một số giải phápnhằm góp phần phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử của NHTMCP Quân Đội
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đề tài chọn hoạt động ngân hàng điện tử tại NHTMCP Quân Đội trongnhững năm gần đây làm đối tượng nghiên cứu
4 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, luận văn đã sử dụng các phương pháp nghiêncứu khoa học để phân tích lý luận giải thực tiễn : Phương pháp duy vật biệnchứng, phương pháp duy vật lịch sử, phương pháp phân tích hoạt động kinh tế,phương pháp tổng hợp thống kê…
5 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận thì luận văn gồm có ba chương:
Chương 1: Tổng quan về dịch vụ ngân hàng điện tử
Chương 2: Thực trạng dịch vụ ngân hàng điện tử tại NH TMCP Quân Đội Chương 3: Giải pháp và kiến nghị nhằm phát triển dịch vụ Ngân hàng điện tử tại NH TMCP Quân Đội.
Trang 10Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ DỊCH VỤ NGÂN HÀNG ĐIỆN TỬ
1.1.Khái niệm
1.1.1.Thương mại điện tử
Thương mại điện tử đã ra đời từ lâu và vẫn đang phát triển vượt bậc
Có nhiều khái niệm về thương mại điện tử (TMĐT.E-Commerce), nhưng hiểumột cách tổng quát TMĐT là một khái niệm dùng để chỉ quá trình mua và bánmột sản phẩm (hữu hình) hoặc dịch vụ (vô hình) thông qua một mạng điện tử(electronic network), phương tiện trung gian (medium) phổ biến nhất củaTMĐT là Internet Qua môi trường mạng, người ta có thể thiết lập giao dịch,thanh toán, mua bán bất cứ sản phẩm gì từ hàng hoá cho đến dịch vụ, kể cảdịch vụ ngân hàng
1.1.2 Lợi ích của thương mại điện tử
Lợi ích lớn nhất mà thương mại điện tử đem lại chính là sự tiết kiệmchi phí và tạo thuận lợi cho các bên giao dịch Giao dịch bằng phương tiệnđiện tử nhanh hơn so với giao dịch truyền thống, ví dụ gửi fax hay thư điện tửthì nội dung thông tin đến tay người nhận nhanh hơn gửi thư Các giao dịchqua Internet có chi phí rất rẻ, một doanh nghiệp có thể gửi thư tiếp thị, chàohàng đến hàng loạt khách hàng chỉ với chi phí giống như gửi cho một kháchhàng Với TMĐT, các bên có thể tiến hành giao dịch khi ở cách xa nhau, giữathành phố với nông thôn, từ nước này sang nước kia, hay nói cách khác làkhông bị giới hạn bởi không gian địa lý Điều này cho phép các doanh nghiệptiết kiệm chi phí đi lại, thời gian gặp mặt trong khi mua bán Với người tiêudùng, họ có thể ngồi tại nhà để đặt hàng, mua sắm nhiều loại hàng hóa, dịch
vụ thật nhanh chóng
Những lợi ích như trên chỉ có được với những doanh nghiệp thực sự
Trang 11nhận thức được giá trị của TMĐT Vì vậy, TMĐT góp phần thúc đẩy sựcạnh tranh giữa các doanh nghiệp để thu được nhiều lợi ích nhất Điều nàyđặc biệt quan trọng trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, khi các doanhnghiệp trong nước phải cạnh tranh một cách bình đẳng với các doanhnghiệp nước ngoài.
1.1.3 Dịch vụ Ngân hàng điện tử
Dịch vụ Ngân hàng điện tử là một hệ thống phần mềm vi tính cho phépkhách hàng tìm hiểu hay mua dịch vụ Ngân hàng thông qua việc nối mạngmáy vi tính của mình với Ngân hàng.Với dịch vụ Ngân hàng điện tử, kháchhàng có khả năng truy nhập từ xa nhằm: thu thập thông tin; thực hiện cácgiao dịch thanh toán, tài chính dựa trên các tài khoản lưu ký tại Ngân hàng, vàđăng ký sử dụng các dịch vụ mới
Khái niệm trên đều khái niệm Ngân hàng điện tử thông qua các dịch vụcung cấp hoặc qua kênh phân phối điện tử Khái niệm này có thể đúng ở từngthời điểm nhưng không thể khái quát hết được cả quá trình lịch sử phát triểncũng như tương lai phát triển của Ngân hàng điện tử Do vậy, nếu coi Ngânhàng cũng như một thành phần của nền kinh tế điện tử, một khái niệm tổng
quát nhất về Ngân hàng điện tử có thể được hiểu như sau: “Ngân hàng điện
tử là Ngân hàng mà tất cả các giao dịch giữa Ngân hàng và khách hàng (cá nhân và tổ chức) dựa trên quá trình xử lý và chuyển giao dữ liệu số hóa nhằm cung cấp sản phẩm dịch vụ Ngân hàng.”
1.2 Sự phát triển của dịch vụ Ngân hàng điện tử
1.2.1 Các giai đoạn phát triển của Ngân hàng điện tử
Năm 1989, Ngân hàng tại Mỹ (WellFargo), lần đầu tiên cung cấp dịch
vụ Ngân hàng qua mạng, đến nay, có rất nhiều tìm tòi, thử nghiệm, thànhcông cũng như thất bại trên con đường xây dựng hệ thống Ngân hàng điện tửhoàn hảo, phục vụ tốt nhất cho khách hàng Tổng kết những mô hình đó, nhìn
Trang 12chung, hệ thống Ngân hàng điện tử được phát triển qua những giai đoạn sau:
- Website quảng cáo (Brochure-Ware): Là hình thái đơn giản nhất của
Ngân hàng điện tử Hầu hết các NH khi mới bắt đầu xây dựng Ngân hàngđiện tử là thực hiện theo mô hình này Việc đầu tiên chính là xây dựng mộtwebsite chứa những thông tin về NH, về sản phẩm lên trên mạng nhằm quảngcáo, giới thiệu, chỉ dẫn, liên lạc,… thực chất đây chỉ là một kênh quảng cáomới ngoài những kênh thông tin truyền thống (báo chí, truyền hình, …), mọigiao dịch của NH vẫn thực hiện qua hệ thống phân phối truyền thống, đó làcác chi nhánh Ngân hàng
- Thương mại điện tử (E-commerce): với TMĐT, Ngân hàng sử dụng
Internet như một kênh phân phối mới cho những dịch vụ truyền thống như:xem thông tin tài khoản, nhận thông tin giao dịch chứng khoán… Internet chỉđóng vai trò như một dịch vụ cộng thêm để tạo thuận lợi thêm cho kháchhàng Hầu hết, các Ngân hàng vừa và nhỏ đang ở hình thái này
- Quản lý điện tử (E-business): Trong hình thái này, các xử lý cơ bản
của Ngân hàng cả ở phía khách hàng (front-end) và phía người quản lý end) đều được tích hợp với Internet và các kênh phân phối khác Giai đoạnnày được phân biệt bởi sự gia tăng về sản phẩm và chức năng của NH với sựphân biệt sản phẩm theo nhu cầu và quan hệ của khách hàng đối với NH Hơnthế nữa, sự phối hợp, chia sẽ dữ liệu giữa hội sở NH và các kênh phân phốinhư chi nhánh, mạng Internet, mạng không dây… giúp cho việc xử lý yêu cầu
(back-và phục vụ khách hàng được nhanh chóng (back-và chính xác hơn Internet (back-và khoahọc công nghệ đã tăng sự liên kết, chia sẽ thông tin giữa NH, đối tác, kháchhàng, cơ quan quản lý… Một vài NH tiên tiến trên thế giới đã xây dựng được
mô hình này và hướng tới xây dựng được một Ngân hàng điện tử hoàn chỉnh
- Ngân hàng điện tử (E-bank): chính là mô hình lý tưởng của một Ngân
hàng trực tuyến trong nền kinh tế điện tử, một sự thay đổi hoàn toàn trong mô
Trang 13hình kinh doanh và phong cách quản lý Những NH này sẽ tận dụng sức mạnhthực sự của mạng toàn cầu nhằm cung cấp toàn bộ các giải pháp tài chính chokhách hàng với chất lượng tốt nhất Từ những bước ban đầu là cung cấp cácsản phẩm và dịch vụ hiện hữu thông qua nhiều kênh riêng biệt, NH có thể sửdụng nhiều kênh liên lạc này nhằm cung cấp nhiều giải pháp khác nhau chotừng đối tượng khách hàng chuyên biệt.
1.2.2 Sự phát triển của dịch vụ Ngân hàng điện tử tại các NHTM Việt Nam
Hiện nay, Ngân hàng điện tử tồn tại dưới hai hình thức: hình thức Ngânhàng trực tuyến, chỉ tồn tại dựa trên môi trường mạng Internet, cung cấp dịchvụ100% thông qua môi trường mạng; và mô hình kết hợp giữa hệ thống Ngânhàng thương mại truyền thống và điện tử hoá các dịch vụ truyền thống, tức làphân phối những sản phẩm dịch vụ cũ trên những kênh phân phối mới Ngânhàng điện tử tại Việt Nam chủ yếu phát triển theo mô hình này Từ năm 1994,
NH Ngoại thương Việt Nam triển khai dịch vụ Homebanking Đến năm 1999,
NH Ngoại thương Việt Nam thực hiện dịch vụ Ngân hàng bán lẻ đầu tiên ởViệt Nam với hệ thống VCB Vision 2010 Đến tháng 11/2002, NH CôngThương Việt Nam khai trương dịch vụ này Trên thị trường có vài NHTMcung cấp dịch vụ Ngân hàng tại nhà “Home-banking” (Vietcombank,Techcombank, ACB, Eximbank ) và 2 Ngân hàng nước ngoài là ANZ vàCitibank Dịch vụ Phone-banking, Intertnetbanking có các Ngân hàng cungcấp là VCB, ACB, Techcombank, HSBC, ANZ và Citibank… Dịch vụMobile-banking thì có Ngân hàng Đông Á, ACB, VCB và Techcombank…Hiện nay, có một số Ngân hàng cung cấp dịch vụ liên kết giữa ngân hàng vàmạng viễn thông, đi đầu là MB với sản phẩm Bankplus liên kết với Viettel vàhiện tại VCB, BIDV cũng đang cung cấp dịch vụ này
Bên cạnh đó, để phục vụ cho hệ thống thanh toán cho TMĐT, VASC
Trang 14đã xây dựng cổng thanh toán VASC Payment để làm cơ sở cho hệ thốngthanh toán qua mạng Internet và hệ thống quản lý chứng chỉ số - VASC CA(Certificate Authority), để cung cấp chữ ký điện tử và chứng nhận điện tử đểlàm cơ sở pháp lý cho giao dịch điện tử, tạo niềm tin cho khách hàng cũngnhư nhà cung cấp dịch vụ, là xương sống cho sự phát triển thương mại điện tửtrong thời gian tới.
- Hệ thống thanh toán điện tử bắt đầu có sự tham gia của hệ thốngSWIFT (Tháng 3 năm 1995)
- Hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng (T5/2002) cho phép pháttriển ngân hàng bán lẻ và bán buôn
- Các ngân hàng áp dụng dịch vụ cơ bản của ngân hàng điện tử (Truyvấn) : TECHCOMBANK, VCB, và một số ngân hàng khác
- Các kênh giao dịch phi truyền thông như ATM, POS cũng được cácngân hàng đầu tư và khách hàng sử dụng ngày càng phổ biến
- Một số NHNN tại việt Nam cung cấp dịch vụ NHĐT thực thụ:Citibanking (Citibank), Hexagon (HSBC), ANZ-link (ANZ bank) Tuy nhiênmới dừng lại ở việc cung cấp cho khách hàng là doanh nghiệp
- Techcombank là ngân hàng TMCP đầu tiên được NHNN cấp phépcho cung cấp dịch vụ E-banking thực thụ theo các tiêu chuẩn quốc tế ra thịtrường và đặc biệt là khách hàng bán lẻ
1.3 Điều kiện để phát triển dịch vụ Ngân hàng điện tử
1.3.1 Điều kiện pháp lý
Dịch vụ Ngân hàng điện tử với việc sử dụng công nghệ mới đòi hỏikhuôn khổ pháp lý mới Các dịch vụ Ngân hàng điện tử chỉ có thể triển khaiđược hiệu quả và an toàn khi các dịch vụ này được công nhận về mặt pháp lý.Các văn bản, quyết định sẽ tạo hành lang pháp lý cơ sở để các ngân hàng triểnkhai các dịch vụ ngân hàng điện tử mới cũng như hỗ trợ khách hàng trong
Trang 15trường hợp phát sinh tranh chấp với ngân hàng
Ở Việt Nam, ngày 29/11/2005 Quốc hội nước Cộng Hòa Xã Hội ChủNghĩa Việt Nam đã thông qua Luật giao dịch điện tử số 51/2005/QH11 Luậtnày đã chính thức được áp dụng vào ngày 1/3/2006 Tiếp đó, Chính Phủ cũng
đã ban hành một số Nghị định nhằm hướng dẫn chi tiết việc thi hành Luậtgiao dịch điện tử:
- Ngày 09/06/2006: ban hành Nghị định số 57/2006/NĐ-CP hướngdẫn thi hành Luật giao dịch điện tử
- Ngày 15/02/2007: ban hành Nghị định số 26/2007/NĐ-CP quy địnhchi tiết thi hành luật giao dịch điện tử về chữ ký số và dịch vụ chứng thực chữ
ký số
- Ngày 23/02/2007: ban hành Nghị định số 27/2007/NĐ-CP quy địnhchi tiết thi hành luật giao dịch điện tử trong hoạt động tài chính
- Ngày 08/03/2007: ban hành Nghị định số 35/2007/NĐ-CP quy định
về giao dịch điện tử trong Ngân hang
1.3.2 Điều kiện công nghệ
1.3.2.1 Hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng
Hệ thống TTLNH là hệ thống thanh toán điện tử trực tuyến online hiệnđại nhất từ trước tới nay, được xây dựng theo tiêu chuẩn quốc tế, thiết kế theo
mô hình tập trung hóa tài khoản Thông qua việc tập trung số dư tài khoảntiền gửi của các Chi nhánh về Hội sở của NHNN; Thanh toán trực tuyến(online) kết nối các Hội sở chính, các chi nhánh của NHTM với Trung tâmthanh toán Quốc gia, tạo luồng thông tin thông suốt, bảo đảm sự chính xác,nhanh chóng, an toàn cho mọi khoản thanh toán Nhờ có hệ thống TTLNH màdịch vụ ngân hàng điện tử mới có thể phát triển vững mạnh
Hệ thống TTĐTLNH ở Việt Nam là một tiểu dự án trong dự án "Hiệnđại hóa ngân hàng và hệ thống thanh toán" do WB tài trợ Ngày 16/01/1996,
Trang 16hiệp định tín dụng “Dự án Hiện đại hoá Ngân hàng và Hệ thống Thanh toán”
ký kết giữa Chính phủ Việt nam và WB số 2785 VN, bao gồm 7 Tiểu dự án:
01 của NHNN và 06 của các NHTM, trong đó Tiểu dự án thanh toán điện tửliên Ngân hàng do NHNN trực tiếp quản lý và thực hiện là Tiểu dự án xươngsống, quan trọng nhất trong toàn Dự án Việc triển khai Tiểu dự án được bắtđầu vào cuối năm 1999 đến 6/3/2001 hoàn thành thi công kỹ thuật Từ3/2001- 02/2002 hệ thống chạy thử nghiệm với số liệu giả định và từ 03/2002đến 30/04/2002, hệ thống chạy thử nghiệm với số liệu thật Từ ngày02/05/2002 Hệ thống TTLNH chính thức được đưa vào vận hành Tiếp nốiTTLNH-1, hệ thống TTLNH-2, được NHNNVN chính thức vận hành từ18/11/2008 là một nền tảng công nghệ quan trọng để phát triển các dịch vụngân hàng điện tử hiện đại và phát triển thương mại điện tử tại Việt Nam Đâycũng là công cụ hỗ trợ đắc lực cho việc điều hành và thực thi chính sách tiền
tệ của NHNN Việt Nam
Hiện nay hệ thống TTLNH đã hoạt động ổn định và ngày càng pháthuy hiệu quả Hiện nay hệ thống có 672 đơn vị tham gia thanh toán là cácngân hàng (81 ngân hàng), chi nhánh của các tổ chức tín dụng trong cả nước,
có thể xử lý 50.000 - 54.000 giao dịch/ngày, doanh số trung bình khoảng 90nghìn tỷ đồng/ngày Số lệnh thanh toán qua hệ thống ngày càng gia tăng, năm
2008 trung bình mỗi ngày có khoảng 35.000 đến 45.000 lệnh thanh toán thìđến năm 2011 bình quân mỗi ngày có khoảng 65.000 đến 75.000 lệnh thanhtoán với thời gian thực hiện một lệnh thanh toán chỉ trong vòng 10 giây Tất
cả các món thanh toán đều bảo đảm an toàn; Số liệu đối chiếu cuối ngày đềukhớp đúng
1.3.2.2 Hệ thống tập trung hóa tài khoản kế toán (core banking)
Core banking chính là một hệ thống các phân hệ nghiệp vụ cơ bản củangân hàng như tiền gửi, tiền vay, khách hàng, là hệ thống kế toán khách
Trang 17hàng tập trung hóa tài khoản dựa trên nền tảng ứng dụng công nghệ hiện đại.Thông qua đó, ngân hàng phát triển thêm nhiều dịch vụ, sản phẩm và quản
lý nội bộ chặt chẽ, hiệu quả hơn Trước đây, khi các ngân hàng chưa có
"core" hiện đại hoặc dùng "core" lỗi thời, việc quản lý khách hàng rất rải rác
và vô cùng bất tiện cho khách hàng Tiền gửi ở đâu, phải đến đó, không thểrút ở điểm giao dịch khác, mặc dù các điểm này đều trong cùng hệ thốngmột ngân hàng Thậm chí, khách hàng muốn giao dịch ở bao nhiêu điểm thìphải mở bấy nhiêu tài khoản Với sự ra đời của core banking hiện đại, kháchhàng chỉ cần có một mã duy nhất ở ngân hàng là có thể giao dịch với rấtnhiều sản phẩm và ở bất cứ điểm giao dịch trong cùng hoặc không trongcùng một hệ thống
Như vậy, với hệ thống core banking, các dữ liệu về khách hàng đượccập nhật và lưu trữ tập trung, giúp cho việc quản lý, phân loại khách hàngđược chính xác, tiết kiệm thời gian và chi phí Ngoài ra, core banking còngiúp tăng tốc độ xử lý, rút ngắn thời gian giao dịch phục vụ khách hàng, giúpngân hàng tiết kiệm chi phí nhân công, và nhiều chi phí hành chính khác.Ngân hàng có thể thực hiện tới 1.000 giao dịch/giây, quản trị tới 50 triệu tàikhoản khách hàng và hỗ trợ thực hiện giao dịch qua hệ thống 24h/ngày
Công nghệ phần mềm lõi (core banking) là điều kiện cần để hiện đạihóa hoạt động ngân hàng, mở ra khả năng xử lý đa dịch vụ với cơ sở dữ liệutập trung Tiền, tài sản thế chấp trong ngân hàng thực ra chỉ ở trên giấy, sổsách kế toán, dữ liệu máy tính chỉ hiển thị bằng thông tin và quản lý tài sản
đó thông qua thông tin chứ không thể quản lý tài sản vật lý Lõi bankingchính là hạt nhân toàn bộ hệ thống thông tin của một hệ thống ngân hàng
Tại Việt Nam năm 2005, chỉ có 7 ngân hàng triển khai hệ thống CoreBanking, nhưng đến nay đã có khoảng 50 ngân hàng quốc doanh và cổ phầntrong nước triển khai hệ thống này, tức 84% các ngân hàng Việt Nam đã triển
Trang 18khai xong và đưa vào sử dụng hệ thống Core banking phù hợp với công nghệhiện đại của thế giới, trong đó có một số ngân hàng đã kết nối toàn quốc, một
số mới trong giai đoạn đầu thử nghiệm Các ngân hàng cũng đã quan tâm chú
ý đến việc phát triển và hoàn thiện hệ thống bảo mật của ngân hàng mình.Tuy nhiên, quy mô hệ thống vẫn còn nhỏ và chưa đầy đủ các chức năng
1.3.2.3 Cơ sở hạ tầng và trình độ khoa học công nghệ cao
Dịch vụ ngân hàng điện tử ra đời và phát triển với sự hỗ trợ đắc lực củacông nghệ thông tin, công nghệ hiện đại cao, nhờ vậy mà khách hàng hiệnnay không cần phải đến ngân hàng mà có thể ngồi tại nhà để thực hiện cácgiao dịch thông qua các dịch vụ home banking, phone banking, internetbanking, mobile banking… Các dịch vụ ngân hàng điện tử đều gắn liền vớiyếu tố khoa học công nghệ và đòi hỏi phải có sự đầu tư rất lớn về cơ sở vậtchất kỹ thuật Để có thể kết nối dữ liệu giữa các chi nhánh trong một ngânhàng đồng bộ, các ngân hàng phải có hệ thống cơ sở dữ liệu tập trung, đượcquản lý bằng một hệ thống máy tính với phần mềm tương thích, mà chi phícho phần mềm công nghệ hiện đại không hề nhỏ Bên cạnh đó, việc đầu tưcho các loại máy móc như máy ATM, máy POS, hệ thống core banking nhằm
hỗ trợ cho việc sử dụng dịch vụ ngân hàng điện tử cũng là một đòi hỏi kháchquan
Như vậy để đầu tư phát triển các dịch vụ ngân hàng điện tử đòi hỏi mộtlượng vốn lớn Lượng vốn lớn đầu tư cho cơ sở hạ tầng và khoa học côngnghệ là một điều kiện tất yếu để có thể phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử.Yêu cầu về công nghệ cao cũng đòi hỏi nguồn nhân lực hoạt động trong lĩnhvực ngân hàng, ngoài nghiệp vụ chuyên môn thành thạo, nhiều kinh nghiệm,còn cần phải có kiến thức về công nghệ thông tin Với số lượng dịch vụ ngânhàng vô cùng đa dạng, liên tục gia tăng tính mới mẻ, các nhân viên ngân hàngphải luôn nâng cao tay nghề, nghiệp vụ, hiểu biết sâu rộng về sản phẩm và có
Trang 19hiểu biết về các ứng dụng khoa học công nghệ trong ngân hàng.
1.3.2.4 Hạ tầng công nghệ thông tin
Công nghệ thông tin – truyền thông phát triển sẽ tạo điều kiện cho cácngân hàng triển khai các dịch vụ ngân hàng điện tử ứng dụng hàm lượng côngnghệ thông tin cao Các yếu tố như dung lượng đường truyền internet, tính ổnđịnh của đường truyền, mức độ tin học hóa trong các cơ quan quản lý, trongcộng đồng dân cư nâng cao sẽ giúp cho các dịch vụ như internet banking,phone banking, mobile banking đáp ứng tốt hơn
Công nghệ thông tin – truyền thông ở Việt Nam hiện nay đang pháttriển mạnh mẽ Cụ thể, theo đánh giá của Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam tạiDiễn đàn Cấp cao CNTT – Truyền thông Việt Nam 2015 (Vietnam ICTSummit) thì: “CNTT của nước ta trong năm 2015 có tốc độ tăng trưởng 16%.Việt Nam cũng đứng trong top 5 nước tăng trưởng CNTT nhanh nhất thế giới.Trong lĩnh vực dịch vụ phần mềm “thuê ngoài”, Việt Nam còn đứng đầu thếgiới Chưa kể, 1 loạt hiện tượng những cá nhân, doanh nghiệp trẻ, các doanhnghiệp khởi nghiệp (startup) mới của chúng ta có những sản phẩm được cảthế giới thừa nhận”
Về sự phát triển của mạng Internet nói riêng, tháng 11 năm 1997 ViệtNam tham gia mạng toàn cầu, đến nay dịch vụ internet đã mở rộng đến từngdoanh nghiệp, từng gia đình, từng cá nhân Đến năm 2000 chỉ có khoảng200.000 người dân trong nước truy cập mạng thông tin toàn cầu, nhưng đếnnay con số này đã tăng hơn 100 lần Theo thống kê của Trung tâm số liệuquốc tế Internet World Stats, Việt Nam hiện đứng thứ 6 ở châu Á về số ngườikết nối Internet
Nhờ vậy, thương mại điện tử có tốc độ phát triển khả quan, bắt đầuxuất hiện vào năm 2003, đến cuối năm 2010 tại Việt Nam đã có khoảng 40sàn thương mại điện tử B2B (business to business), và 90 doanh nghiệp kinh
Trang 20doanh sàn thương mại điện tử B2C (business to customer) Đây vừa là cơ hội,vừa là yêu cầu bắt buộc các NHTM phải cung cấp nhiều hơn các dịch vụ ứngdụng công nghệ thông tin để đáp ứng nhu cầu mới.
1.3.3 Điều kiện về con người
1.3.3.1 Mức sống của người dân
Mức sống là một nhân tố quan trọng để phát triển các dịch vụ thanhtoán điện tử Khi người dân phải sống với thu nhập thấp, hay nói cách khác có
ít tiền thì có lẽ họ sẽ không quan tâm đến các dịch vụ Ngân hàng Họ sẽ dùngtiền mặt thay vì các dịch vụ thanh toán điện tử Do vậy, phát triển kinh tế vàcải thiện mức sống luôn luôn là những yếu tố tiên quyết cho việc phát triểncác dịch vụ Ngân hàng điện tử
1.3.3.2 Sự hiểu biết và chấp nhận các dịch vụ Ngân hàng điện tử
Thói quen và sự yêu thích dùng tiền mặt, tính “ì” của khách hàng trướccác dịch vụ mới có thể là những trở ngại chính cho việc phát triển các dịch vụNgân hàng điện tử Sự phổ biến của các dịch vụ Ngân hàng điện tử liên quanchặt chẽ tới sự chấp nhận của khách hàng hơn là những gì mà phía mời chàocung ứng dịch vụ đưa ra Sẽ chẳng có lý do nào cho các Ngân hàng cung cấpcác dịch vụ Ngân hàng điện tử mà không được sự chấp nhận của khách hàng
Sự hiểu biết của đông đảo khách hàng về các dịch vụ Ngân hàng điện tử vàích lợi của các dịch vụ này là hết sức cần thiết Rõ ràng, các dịch vụ Ngânhàng điện tử là các dịch vụ hiện đại và tốt Tuy vậy, chúng ta không thể chorằng có các dịch vụ tốt là đủ Để xúc tiến các dịch vụ Ngân hàng điện tử cácNgân hàng cung cấp các dịch vụ này cần phải làm cho khách hàng biết rằng
có những dịch vụ như vậy và hướng dẫn họ sử dụng các dịch vụ đó
1.3.3.3 Nguồn nhân lực của Ngân hàng
Các hệ thống thanh toán điện tử đòi hỏi một lực lượng lớn lao độngđược đào tạo tốt về CNTT và truyền thông để cung cấp các ứng dụng cần
Trang 21thiết, đáp ứng yêu cầu hỗ trợ và chuyển giao các tri thức kỹ thuật thíchhợp Thiếu các kỹ năng để làm việc trên Internet và làm việc với cácphương tiện hiện đại khác, hạn chế về khả năng sử dụng tiếng Anh - ngônngữ căn bản của Internet cũng là những trở ngại cho việc phát triển cácdịch vụ thanh toán điện tử.
1.4 Tính tất yếu phải phát triển dịch vụ Ngân hàng điện tử
1.4.1 Vai trò của Ngân hàng điện tử trong xu thế hội nhập
Việc phát triển các dịch vụ thanh toán điện tử tiên tiến giúp chu chuyểnvốn tăng nhanh và đáp ứng tốt hơn các nhu cầu thanh toán của nền kinh tế đấtnước đang thay đổi nhanh chóng Chính điều đó sẽ làm cho luồng tiền từ mọiphía chảy vào Ngân hàng sẽ rất lớn và được điều hòa với hệ số hữu ích cao,làm thay đổi cơ cấu tiền lưu thông, chuyển từ nền kinh tế tiền mặt qua nềnkinh tế chuyển khoản Thông qua hệ thống Ngân hàng điện tử, Ngân hàng cóthể kiểm soát hầu hết các chu chuyển tiền tệ, cũng từ đó có thể hạn chế đượccác vụ rửa tiền, chuyển tiền bất hợp pháp, tham nhũng…Với các nguồn dữliệu được truy cập kịp thời, chính xác qua hệ thống mạng thông tin, Ngânhàng Trung Ương có thể phân tích, lựa chọn các giải pháp, sử dụng các công
cụ điều tiết, kiểm soát cung ứng tiền tệ tối ưu nhằm điều hòa, ổn định tiền tệđối nội và đối ngoại chủ động, có đủ điều kiện để đánh giá tình hình cán cânthương mại, cán cân thanh toán, và diễn biến tốc độ phát triển kinh tế Ngânhàng Trung Ương sẽ nâng cao hơn vai trò của mình, phát huy hết chức năngcủa mình nếu như việc ứng dụng Ngân hàng điện tử ngày càng được đẩymạnh trong hệ thống Ngân hàng Mạng thông tin giúp cho hoạt động thanhtra, giám sát Ngân hàng chặt chẽ, kịp thời chấn chỉnh những vi phạm, giữvững an toàn hệ thống Việc quản lý hệ thống kho quỹ, in ấn tiền, tổ chứcđiều hành văn phòng, quản lý hồ sơ cán bộ, đào tạo huấn luyện nghiệp vụ, hội
Trang 22họp từ xa trong nước và quốc tế… đều có thể ứng dụng qua mạng thông tin sẽrất thuận tiện, giảm được đáng kể chi phí đi lại, chi phí tổ chức, tiết kiệm thờigian…Đầu tư tín dụng cũng sẽ thay đổi lớn Các dự án đầu tư cũng có thểđược đưa lên mạng để chào mời các Ngân hàng thương mại Máy tính điện tửphân tích các dữ liệu truy cập, đưa ra các phương án để lựa chọn tối ưu Ngânhàng thương mại thấy rõ những điều cần tư vấn để bổ khuyết vào dự án đảmbảo khả năng thực thi Ngoài ra, mạng thông tin cung cấp cho các tổ chức tíndụng nắm được diễn biến của các thị trường: tiền tệ, chứng khoán, hối đoái.Những diễn biến về lãi suất, giá cổ phiếu, tỷ giá hối đoái Các luồng vốn khảdụng được chào mời trên thị trường liên Ngân hàng phản ánh qua mạng sẽgiúp cho Ngân hàng có các chính sách đúng đắn và hoạch định các phương ánhoạt động phù hợp có thể nói, Ngân hàng điện tử có vai trò vô cùng to lớntrong hệ thống Ngân hàng, nó đang tác động đến các Ngân hàng, xúc tiến việcsáp nhập, hợp nhất, hình thành các Ngân hàng lớn, nâng cao nguồn vốn tự có
đủ sức trang bị công nghệ thông tin hiện đại để đương đầu với cuộc cạnhtranh khốc liệt giành lợi thế về mình Mặt khác, nó cũng đẩy mạnh việc liênkết, hợp tác giữa các Ngân hàng ngày càng chặt chẽ, phát triển đa dạng, mạnh
mẽ, rộng khắp trong nước và thế giới… để thiết lập các đề án phát triểnnghiệp vụ kinh doanh sản phẩm và dịch vụ mới, sử dụng mạng lưới thanhtoán điện tử, thông tin rủi ro, tư vấn pháp luật, kiểm toán phòng ngừa, lập quỹbảo toàn tiền gửi, xây dựng các chương trình đồng tài trợ, lập chương trìnhphối hợp đào tạo, nâng cao trình độ cán bộ nhân viên, kể cả các hình thức hợptác trong lĩnh vực dịch vụ và văn hóa xã hội…
1.4.2 Tính ưu việt của dịch vụ Ngân hàng điện tử
- Nhanh chóng, thuận tiện
Ngân hàng điện tử giúp khách hàng có thể liên lạc với Ngân hàng mộtcách nhanh chóng, thuận tiện để thực hiện một số nghiệp vụ Ngân hàng tại bất
Trang 23kỳ thời điểm nào (24 giờ mỗi ngày, 7 ngày một tuần) mà không cần đến ngânhàng Mọi lúc mọi nơi khách hàng có thể tiếp cận với ngân hàng điện tử, chỉcần gửi một tin nhắn, gọi điện thoại hay vào mạng Internet tại bất cứ đâu là cóthể giao dịch, vấn tin, trả tiền các dịch vụ,… thay vì phải mất thời gian đếnngân hàng Điều này đặc biệt có ý nghĩa đối với các khách hàng có ít thờigian để đi đến văn phòng trực tiếp giao dịch với Ngân hàng, các khách hàngnhỏ và vừa, khách hàng cá nhân có số lượng giao dịch với Ngân hàng khôngnhiều, số tiền mỗi lần giao dịch không lớn Đây là lợi ích mà các giao dịchkiểu Ngân hàng truyền thống khó có thể đạt được với tốc độ nhanh, chính xác
so với Ngân hàng điện tử
- Tiết kiệm chi phí, tăng thu nhập
Dịch vụ ngân hàng điện tử với công nghệ hiện đại đã giúp khách hàngtiết kiệm được thời gian và giảm chi phí dịch vụ Khách hàng có thể giao dịch
mà không cần đến ngân hàng do vậy tiết kiệm chi phí đi lại, đối với doanhnghiệp thì không chỉ tiết kiệm chi phí đi lại khi cần chuyền khoản, thanh toánhóa đơn,… mà còn tiết kiệm chi phí lưu trữ bảo quản khi trả lương qua tàikhoản thay cho trả lương bằng tiền mặt, nhân viên không cần trực tiếp đếnngân hàng để thực hiện giao dịch nên có nhiều thời gian làm việc hơn Hơnnữa phí giao dịch Ngân hàng điện tử được đánh giá là ở mức rất thấp so vớigiao dịch truyền thống, đặc biệt là giao dịch qua Internet, từ đó góp phần tăngthu nhập cho Ngân hàng Số liệu về phí giao dịch Ngân hàng khảo sát ở Mỹ
đã minh chứng cho điều đó:
Bảng 1.1: Phí giao dịch bình quân
STT Hình thức giao dịch Phí giao dịch bình quân/
1 gd ( USD)
1 Giao dịch qua nhân viên ngân hàng 1,07
Trang 24- Mở rộng phạm vi hoạt động, tăng khả năng cạnh tranh
Ngân hàng điện tử là một giải pháp của NHTM để nâng cao chất lượngdịch vụ và hiệu quả hoạt động, qua đó nâng cao khả năng cạnh tranh củaNHTM Điều quan trọng hơn là Ngân hàng điện tử còn giúp NHTM thực hiệnchiến lược “toàn cầu hóa” mà không cần mở thêm chi nhánh ở trong nướccũng như ở nước ngoài Ngân hàng điện tử cũng là công cụ quảng bá,khuyếch trương thương hiệu của NHTM một cách sinh động, hiệu quả
- Nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng vốn
Xét về mặt kinh doanh, Ngân hàng điện tử sẽ giúp khách hàng tiếp cậnthông tin nhanh chóng đặc biệt là thông tin về tài khoản Điều này đặc biệt có
ý nghĩa đối với các doanh nghiệp có nhiều tài khoản khác nhau Họ có thểkiểm tra số dư trên tất cả tài khoản của mình Ngoài ra, khách hàng được ngânhàng phục vụ tận nơi với những thông tin nóng hổi nhất như biến động tỷ giá,lãi suất…
Mặt khác, doanh nghiệp có thể quản lý tiền tốt hơn, do ngân hàng điện
tử có thể giúp bạn tăng vòng quay của đồng tiền và sử dụng, quản lý tiền mặthiệu quả hơn trong kinh doanh
- Tăng khả năng chăm sóc và thu hút khách hàng
Chính tiện ích từ công nghệ ứng dụng, từ phần mềm, từ nhà cung cấpdịch vụ mạng, dịch vụ Internet đã thu hút và giữ khách hàng sử dụng, quan hệgiao dịch với Ngân hàng, trở thành khách hàng truyền thống của Ngân hàng.Với mô hình Ngân hàng hiện đại, kinh doanh đa năng nên khả năng pháttriển, cung ứng các dịch vụ cho nhiều đối tượng khách hàng, nhiều lĩnh vựckinh doanh của Ngân hàng điện tử là rất cao
- Cung cấp dịch vụ trọn gói
Điểm đặc biệt của dịch vụ Ngân hàng điện tử là có thể cung cấp dịch
Trang 25vụ trọn gói Theo đó các Ngân hàng có thể liên kết với các công ty bảo hiểm,công ty chứng khoán, công ty tài chính khác để đưa ra các sản phẩm tiện íchđồng bộ nhằm đáp ứng căn bản các nhu cầu của một khách hàng hoặc mộtnhóm khách hàng về các dịch vụ liên quan tới Ngân hàng, bảo hiểm, đầu tư,chứng khoán
- Hiện đại hóa hệ thống thanh toán và góp phần thúc đẩy TMĐT
Dịch vụ e-banking cho phép khách hàng giảm lượng giao dịch tiền mặt,
do đó giúp người bán hàng nhanh chóng nhận được tiền thanh toán, bất chấpkhoảng cách về địa lý nên có thể yên tâm tiến hành giao hàng một cách nhanhchóng nhất, sớm thu hồi vốn để đầu tư tiếp tục sản xuất hay mua bán, giúpcho quá trình giao dịch được đơn giản và nhanh chóng, chi phí giao dịch đượcgiảm bớt đáng kể và tính an toàn được đảm bảo hơn, và đã làm cho việc thanhtoán trở nên thuận tiện hơn nhiều
Dịch vụ ngân hàng điện tử góp phần thúc đẩy sự phát triển của thươngmại, đặc biệt là thương mại điện tử Nhờ các phương thức thanh toán hiện đạiqua e-banking mà doanh nghiệp có nhiều sự lựa chọn hơn trong các giao dịchthương mại Dịch vụ thanh toán trực tuyến là nền tảng của các hệ thốngthương mại điện tử, do vậy việc đa dạng hóa dịch vụ ngân hàng điện tử sẽhoàn hiện hóa thương mại điện tử
1.4.3 Một số dịch vụ Ngân hàng điện tử tại Việt Nam
Về nguyên tắc, thực chất của dịch vụ Ngân hàng điện tử là việc thiếtlập một kênh trao đổi thông tin tài chính giữa khách hàng và Ngân hàng nhằmphục vụ nhu cầu sử dụng dịch vụ Ngân hàng của khách hàng một cách thực
sự nhanh chóng, an toàn và thuận tiện Sau rất nhiều tìm tòi, thử nghiệm vàứng dụng, hiện nay dịch vụ Ngân hàng được các Ngân hàng thương mại ViệtNam cung cấp qua các kênh chính sau đây: Ngân hàng trên mạng Internet(Internet-banking), Ngân hàng tại nhà (Home-banking), Ngân hàng tự động
Trang 26qua điện thoại (Phonebanking), Ngân hàng qua mạng thông tin di động(Mobile-banking)…
1.4.3.1 Ngân hàng trên mạng Internet (Internet-banking)
Internet-banking là dịch vụ cung cấp tự động các thông tin sản phẩm vàdịch vụ NH thông qua đường truyền Internet Đây là một kênh phân phối rộngcác sản phẩm và dịch vụ NH tới khách hàng ở bất cứ nơi đâu và bất cứ thờigian nào Với máy tính kết nối Internet, khách hàng có thể truy cập vàowebsite của NH để được cung cấp các thông tin, hướng dẫn đầy đủ các sảnphẩm, dịch vụ của Ngân hàng Bên cạnh đó, với mã số truy cập và mật khẩuđược cấp, khách hàng cũng có thể xem số dư tài khoản, in sao kê…Internet-banking còn là một kênh phản hồi thông tin hiệu quả giữa khách hàng vàNgân hàng
Các dịch vụ Internet-banking cung cấp:
- Xem số dư tài khoản tại thời điểm hiện tại
- Vấn tin lịch sử giao dịch
- Xem thông tin tỷ giá, lãi suất tiền gửi tiết kiệm
- Thanh toán hóa đơn điện, nước, điện thoại
- Chuyển tiền trong và ngoài hệ thống ngân hàng
- Khách hàng có thể gửi tất cả các thắc mắc, góp ý về sản phẩm, dịch
vụ của Ngân hàng và được giải quyết nhanh chóng
1.4.3.2 Ngân hàng tại nhà (Home-banking)
Ứng dụng và phát triển Home-banking là một bước phát triển chiếnlược của các NHTM Việt Nam trước sức ép rất lớn của tiến trình hội nhậptoàn cầu về dịch vụ NH Đứng về phía khách hàng, Home-banking đã manglại những lợi ích thiết thực như tiết kiệm chi phí, thời gian Và khẩu hiệu
“Dịch vụ Ngân hàng 24 giờ mỗi ngày, bảy ngày mỗi tuần” chính là ưu thế lớnnhất mà mô hình Ngân hàng “hành chính” truyền thống không thể nào sánh
Trang 27được Hiện nay, dịch vụ Home-banking tại Việt Nam đã được nhiều NH tạiViệt Nam ứng dụng và triển khai rộng rãi như: NH Á Châu, NH Ngoạithương Việt Nam, NH Kỹ thương….Dịch vụ Ngân hàng tại nhà được xâydựng trên một trong hai nền tảng: hệ thống các phần mềm ứng dụng(Software Base) và nền tảng công nghệ Web(Web Base), thông qua hệ thốngmáy chủ, mạng Internet và máy tính con của khách hàng, thông tin tài chính
sẽ được thiết lập, mã hóa, trao đổi và xác nhận yêu cầu sử dụng dịch vụ Mặc
dù có một số điểm khác biệt, nhưng nhìn chung, chu trình sử dụng dịch vụNgân hàng tại nhà bao gồm các bước cơ bản sau:
- Bước 1: Thiết lập kết nối (khách hàng kết nối máy tính của mình với
hệ thống máy tính của Ngân hàng qua mạng Internet (dial-up, Direct-cable,LAN,WAN…), sau đó truy cập vào trang Web của Ngân hàng phục vụ mình(hoặc giao diện người sử dụng của phần mềm) Sau khi kiểm tra và xác nhậnkhách hàng, khách hàng sẽ được thiết lập một đường truyền bảo mật (https)
và đăng nhập (login) vào mạng máy tính của Ngân hàng
- Bước 2: Thực hiện yêu cầu dịch vụ (khách hàng có thể sử dụng rất
nhiều dịch vụ Ngân hàng điện tử phong phú và đa dạng như truy vấn thông tintài khoản, chuyển tiền, hủy bỏ việc chi trả séc, thanh toán điện tử… và rấtnhiều dịch vụ trực tuyến khác)
- Bước 3: Xác nhận giao dịch, kiểm tra thông tin, và thoát khỏi mạng
(thông qua chữ ký điện tử, xác nhận điện tử, chứng từ điện tử…); khi giaodịch được hoàn tất, khách hàng kiểm tra lại giao dịch và thoát khỏi mạng,những thông tin chứng từ cần thiết sẽ được quản lý, lưu trữ và gửi tới kháchhàng khi có yêu cầu Đối với các Ngân hàng khác nhau, quy trình nghiệp vụcũng tương tự cùng với một vài đặc trưng riêng của mỗi Ngân hàng
1.4.3.3 Ngân hàng qua điện thoại (Phone-banking)
Cũng như Home-banking, dịch vụ NH được cung cấp qua một hệ thống
Trang 28máy chủ và phần mềm quản lý đặt tại NH, liên kết với khách hàng thông quatổng đài của dịch vụ Thông qua các phím chức năng được khái niệm trước,khách hàng sẽ được phục vụ một cách tự động hoặc thông qua nhân viên tổngđài Khi đăng ký sử dụng dịch vụ Phone-banking, khách hàng sẽ được cungcấp một mã khách hàng, hoặc mã tài khoản, tùy theo dịch vụ đăng ký, kháchhàng có thể sử dụng nhiều dịch vụ khác nhau Nhìn chung, quy trình sử dụngdịch vụ Phone-banking như sau:
Đăng ký sử dụng dịch vụ: Khách hàng phải cung cấp các thông tin cần
thiết và ký hợp đồng sử dụng dịch vụ Phone-banking Sau đó, khách hàng sẽđược cung cấp 2 số định danh (duy nhất) là Mã khách hàng và Mã khóa truynhập hệ thống, ngoài ra khách hàng còn được cung cấp một Mã tài khoảnnhằm tạo sự thuận tiện trong giao dịch cũng như đảm bảo an toàn và bảo mật
Xử lý một giao dịch: Khi khách hàng gọi tới tổng đài, nhập mã khách hàng
và khóa truy nhập dịch vụ, theo lời nhắc trên điện thoại, khách hàng chọn phímchức năng tương ứng với dịch vụ mình cần giao dịch Khách hàng có thể thay đổi,chỉnh sửa trước khi xác nhận giao dịch với Ngân hàng, chứng từ giao dịch sẽ được
in ra và gửi tới khách hàng khi giao dịch được xử lý xong
Các dịch vụ được cung cấp: qua Phone-banking, khách hàng có thể sử
dụng rất nhiều dịch vụ Ngân hàng như: hướng dẫn sử dụng dịch vụ, giới thiệuthông tin về dịch vụ Ngân hàng, cung cấp thông tin tài khoản và bảng kê cácgiao dịch, báo Nợ, báo Có, cung cấp thông tin Ngân hàng như lãi suất, tỷ giáhối đoái, chuyển tiền, thanh toán hóa đơn và dịch vụ hỗ trợ khách hàng… vànhiều dịch vụ khác Tuy nhiên, tại Việt Nam, các dịch vụ Ngân hàng mới tạmthời cung cấp dịch vụ tra cứu thông tin tài khoản và cung cấp thông tin tàichính Ngân hàng
1.4.3.4 Ngân hàng qua mạng di động (Mobile-banking)
Cùng với sự phát triển của mạng thông tin di động, các NHTM Việt
Trang 29Nam cũng đã nhanh chóng ứng dụng những công nghệ mới này vào các dịch
vụ NH Về nguyên tắc, thông tin bảo mật được mã hóa và trao đổi giữa trungtâm xử lý của NH và thiết bị di động của khách hàng (điện thoại di động,Pocket PC, Palm…) Dịch vụ này đã được ACB và Techcombank triển khai
từ lâu nhưng ở mức độ tra cứu thông và hiện nay các NH khác cũng đã vàđang bắt đầu xây dựng hệ thống và cung ứng dịch vụ Mobile-banking vớinhiều tính năng vượt trộ do tính chất thuận tiện và nhanh chóng đặc trưngcủa nó
1.4.3.5 Call center
Call center là dịch vụ Ngân hàng qua điện thoại với nhiệm vụ cung cấptất cả các thông tin về sản phẩm, dịch vụ của Ngân hàng, bao gồm: tiền gửithanh toán, tiết kiệm, cho vay, chuyển tiền, …
- Giới thiệu qua điện thoại các sản phẩm thẻ của Ngân hàng.
- Đăng ký làm thẻ qua điện thoại Tư vấn sử dụng thẻ, thông báo và
giải đáp số dư thẻ, hướng dẫn đăng ký thẻ
- Đăng ký vay cho khách hàng cá nhân qua điện thoại.
- Thực hiện thanh toán các hóa đơn tiền điện, nước, điện thoại,
Internet,truyền hình cáp, bảo hiểm,…và các hình thức chuyển tiền khác
- Tiếp nhận qua điện thoại các khiếu nại, thắc mắc từ khách hàng khi
Trang 30văn hóa, xã hội của loài người Để thúc đẩy quá trình hội nhập, thu hút kháchhàng cũng như giành giật cơ hội trong kinh doanh, hầu hết các ngân hàng trênthế giới đang không ngừng tăng cường và đưa ra các dịch vụ tiện lợi, nhanhgọn và được hỗ trợ mạnh mẽ của các công nghệ hiện đại như máy giao dịch tựđộng (ATM), máy thanh toán tại điểm bán hàng (POS), mạng lưới cung cấpdịch vụ ngân hàng thông qua mạng điện thoại, máy tính cá nhân,… Với sựphát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin và truyền thông, của khoa học kỹthuật, của công nghệ mới như Internet, mạng điện thoại di động, mô hìnhngân hàng truyền thống đang dần được cải tiến và thay thế bằng mô hình ngânhàng mới – ngân hàng điện tử Ngân hàng điện tử đã có những bước phát triểnvượt bậc và trở thành mô hình tất yếu cho hệ thống ngân hàng hiện nay.
E-banking xuất hiện lần đẩu tiên tại Mỹ, vào năm 1995 khi phần mềmQuicken của công ty Intuit được triển khai, 16 ngân hàng lớn nhất nước Mỹ
đã tham gia Kể từ đó, e-banking đã và đang được nhân rộng ra ngoài nước
Mỹ đến tất cả các châu lục khác Đến nay, theo một nghiên cứu của Stegmanchi phí trung bình cho việc thực hiện một giao dịch ngân hàng bất kỳ theokênh truyền thống qua quầy giao dịch tại Mỹ là 1.07 USD Với việc áp dụngcông nghệ, chi phí của một giao dịch tương tự thực hiện qua các kênh ngânhàng tự động động khác nhau lần lượt là: 0.04 USD đối với một giao dịchthực hiện qua trung tâm liên lạc khách hàng (call/contact center); 0.27 USDqua ATM; và 0.01 USD thông qua dịch vụ Internet Banking thực hiện trênmột máy tính cá nhân bình thường Điều này hiển nhiên chứng tỏ rằng cácgiao dịch dựa trên công nghệ Internet đã trở nên kinh tế và hiệu quả chongành ngân hàng Mỹ trong việc giảm chi phí và cải thiện chất lượng dịch vụcho các khách hàng hiện tại và tiềm năng của ngân hàng ở phạm vi toàn cầu.Đến nay, ngân hàng trên Internet là kênh phân phối ngân hàng điện tử ở cấp
độ cao nhất đã đem lại cho ngân hàng của Mỹ những khoản lợi nhuận khổng
Trang 31lồ, hầu hết ngân hàng ở Mỹ cung ứng dịch vụ ngân hàng trên Internet, trong
đó số lượng các ngân hàng thực hiện giao dịch điện tử trên các website ngàycàng tăng lên Năm 2006, hơn 85% ngân hàng Mỹ đã cung cấp dịch vụ ngânhàng điện tử, trong tổng số khách hàng của các ngân hàng trên toàn nước Mỹ
có tới 95% là sử dụng dịch vụ ngân hàng qua Internet Trung bình mỗi ngày,một ngân hàng trên Internet ở Mỹ thu hút được 10000 khách hàng Năm 2008,thanh toán trực tuyến chiếm 85% tổng thanh toán, các ngân hàng hầu như đãcung cấp đầy đủ các dịch vụ trực tuyến cho khách hàng và việc giao dịch trựctiếp với phương thức truyền thống sẽ giảm xuống hẳn
Tại Anh và các nước châu Âu khác, phần lớn khách hàng tại Anh vàchâu Âu sử dụng Internet Banking để xem số dư tài khoản tiền gửi, tài khoảntiết kiệm, kiểm tra giao dịch hàng ngày, đối chiếu số dư Sử dụng dịch vụInternet Banking giúp các ngân hàng giảm chi phí hoạt động và thời gian làmviệc của nhân viên tại các trung tâm liên lạc khách hàng (call center), các chinhánh để trả lời khách hàng và thực hiện các giao dịch lặp đi lặp lại Kháchhàng cũng được hưởng lợi nhờ dịch vụ nhanh, chính xác, đảm bảo sự riêng tư,tiết kiệm thời gian đi lại… Cùng với những cải tiến mới trong công nghệ, hệthống phone-banking trở thành công cụ hỗ trợ đắc lực cho khách hàng tronghoạt động tư vấn dịch vụ, thực hiện nghiệp vụ giao dịch tại ngân hàng, 55%
số lượng bảo lãnh, cầm cố tại ngân hàng ở châu Âu được thực hiện qua mạngđiện thoại Dự đoán trong thời gian tới, phone banking vẫn sẽ giữ vai trò quantrọng trong hệ thống phân phối tại các ngân hàng nhưng tốc độ phát triển sẽchậm lại, nhường lại vị trí cho dịch vụ internet banking Tính đến năm 2006, tạichâu Âu, 60% số lượng khách hàng thường xuyên sử dụng dịch vụ internet đểgiao dịch với ngân hàng, và con số này sẽ tiếp tục tăng lên trong thời gian tới
Tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương, e-banking đã được triển khaitại nhiều nước như Trung Quốc, Hong Kong, Singapore và Thái Lan Tại
Trang 32Hồng Kông, dịch vụ ngân hàng điện tử có từ năm 1990 Tại Thái Lan banking hoạt động từ năm 2001, còn Trung Quốc, mặc dù mới tham gia vào
e-hệ thống Ngân hàng trực tuyếntừ năm 2000 nhưng đã có rất nhiều cải cách
về chính sách cũng như chiến lược để phát triển lĩnh vực này Tại HongKong, ngân hàng HSBC bắt đầu cung cấp dịch vụ Internet Banking vào1/8/2000 Với dịch vụ Internet Banking của HSBC, khách hàng có thể gửitiết kiệm, đầu tư chứng khoán, thanh toán hoá đơn dịch vụ và giao dịchngoại hối Còn tại Singapore, dịch vụ Internet Banking đầu tiên đã xuất hiện
từ năm 1997 Hiện tại các ngân hàng lớn tại Singapore đều cung cấp dịch vụnày như Oversea Union Bank (OUB), DBS Bank, Citibank, Hong Kong’sBank of East Asia, Oversea-Chinese Banking Corp (OCBC) Tại Thái Lan,dịch vụ Internet Banking được cung cấp từ năm 1995 Đặc biệt sau cuộckhủng khoảng tài chính năm 1997, các ngân hàng Thái chịu sức ép phải cắtgiảm chi phí đã chuyển hướng sang đẩy mạnh cung cấp các dịch vụ InternetBanking, coi đây là một giải pháp để giảm chi phí nhân công và tăng độ thoảmãn của khách hàng
1.5.2 Một số bài học kinh nghiệm về phát triển dịch vụ Ngân hàng điện tử cho Việt Nam
Với sự phát triển của dịch vụ ngân hàng điện tử trên thế giới như vậy,
ta có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm cho Việt Nam như sau:
Thứ nhất: Trình độ phát triển công nghệ là một trong những điều kiện
quan trọng để phát triển thành công dịch vụ ngân hàng điện tử, các nước pháttriển dịch vụ này thành công đều có trình độ khoa học công nghệ tiên tiến,hiện đại Cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật cần phải được nâng cấp đểviệc triển khai các dịch vụ ngân hàng điện tử trở nên khả thi hơn ở các vùngmiền, đặc biệt ở vùng sâu, vùng xa, có thể thấy ở các nước có dịch vụ ngânhàng điện tử phát triển tốt thì cơ sở hạ tầng, vật chất kỹ thuật rất vững chắc,
Trang 33hiện đại
Thứ hai: Hệ thống pháp luật phải phù hợp, tạo điều kiện cho các dịch
vụ ngân hàng điện tử phát triển, nếu so sánh hệ thống pháp luật về dịch vụngân hàng điện tử của Việt Nam với một số nước phát triển thì có thể thấyViệt Nam còn ít quy định về vấn đề này Quy định của pháp luật cần mangtính mở để các bên cung cấp, sử dụng dịch vụ ngân hàng có thể cập nhật cáctiến bộ khoa học vào hoạt động của mình
Thứ ba: Dịch vụ ngân hàng điện tử muốn phát triển phải kết hợp được
hài hòa 3 nhân tố: người sử dụng (khách hàng), người cung cấp dịch vụ (ngânhàng) và nhân tố môi trường Nhu cầu, thói quen sử dụng dịch vụ ngân hàngcủa khách hàng đối với các dịch vụ ngân hàng truyền thống cần có sự thayđổi Do một thời gian dài quen với các dịch vụ ngân hàng truyền thống, cáchgiao dịch truyền thống tại quầy, thêm nữa, mức độ hiểu biết về các ứng dụngcủa công nghệ tin học trong các tầng lớp dân cư không phải ai cũng giốngnhau nên phần đông khách hàng ở nông thôn và ở độ tuổi trung niên thường
có tâm lý e dè khi tiếp xúc với các dịch vụ ngân hàng điện tử Do vậy, cácNHTM cần tìm cách quảng bá, tuyên truyền, giới thiệu các dịch vụ ngân hàngđiện tử tới khách hàng để họ hiểu về quy trình cũng như những tiện ích do cácdịch vụ này mang lại, từ đó sẽ thay đổi nhận thức và sẽ tin dùng dịch vụ ngânhàng điện tử
Ngoài ra, sự cạnh tranh của các ngân hàng, đặc biệt là giữa ngân hàngtrong nước và ngân hàng nước ngoài đã buộc các ngân hàng phải khôngngừng nỗ lực trong việc cung cấp các dịch vụ mới Các NHTM phải tổ chức,
cơ cấu lại để có thể cung cấp hiệu quả hơn các dịch vụ ngân hàng điện tử Cácngân hàng cần phải tích cực trong việc đầu tư cho nghiên cứu phát triển vàcho nguồn nhân lực
Trang 34Kết luận Chương 1
Chương 1 đã nêu khái quát những khái niệm cơ bản cũng như các giaiđoạn phát triển của Ngân hàng điện tử, đưa ra một bức tranh tổng quan về sựphát triển của Ngân hàng điện tử tại các NHTM Việt Nam Với những tiệních, ưu điểm của các sản phẩm Ngân hàng điện tử cho thấy việc phát triểndịch vụ này tại các NHTM Việt Nam trong xu thế hội nhập hiện nay là tấtyếu Tuy nhiên, để phát triển dịch vụ Ngân hàng hiện đại này cũng cần có sựhiểu biết, chấp nhận của khách hàng, đồng thời vấn đề về pháp lý và côngnghệ cũng góp phần không kém trong việc triển khai thành công dịch vụNgân hàng điện tử
Trang 35Chương 2 THỰC TRẠNG DỊCH VỤ NGÂN HÀNG ĐIỆN TỬ TẠI
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN QUÂN ĐỘI
2.1 Tổng quan về Ngân hàng Thương mại cổ phần Quân Đội (MB)
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của NH TMCP Quân Đội
Với ý tưởng xây dựng một định chế tài chính doanh nghiệp và pháttriển doanh nghiệp Quân đội, ngày 04/11/1994, Ngân hàng thương mại cổphần Quân Đội chính thức đi vào hoạt động theo giấy chứng nhận Đăng kýkinh doanh số 0100283873 ngày 30 tháng 9 năm 1994 do Sở kế hoạch và Đầu
tư Hà Nội cấp và giấy phép số 0054/NH - GP ngày 14 tháng 9 năm 1994 củaNgân hàng Nhà nước Việt Nam
Từ khi mới thành lập với số vốn điều lệ 20 tỷ và 25 cán bộ nhân viên,hiện nay vốn điều lệ của Ngân hàng thương mại cổ phần Quân Đội (MB) đãđạt 11.594 tỷ đồng, tổng tài sản đạt trên 194.000 tỷ đồng cùng gần 7.000 nhân
sự đang làm việc tại hơn 200 điểm giao dịch trên toàn quốc, 2 chi nhánh nướcngoài tại Lào và Campuchia Với định hướng phát triển theo mô hình tậpđoàn tài chính, Ngân hàng thương mại cổ phần Quân Đội cũng đã phát triểncác công ty con gồm: Công ty cổ phần chứng khoán MB (MBS), Công tyquản lý quỹ đầu tư MB (MB Capital), Công ty quản lý Nợ và khai thác tài sản
MB (MB AMC), công ty cổ phần địa ốc MB (MB Land) và công ty Cổ phầnViệt Remax
Liên tiếp những năm gần đây, Ngân hàng thương mại cổ phần QuânĐội luôn khẳng định vị trí vững chắc trong Top 5 Ngân hàng thương mại cổphần hàng đầu Việt Nam Đặc biệt, năm 2012, ngân hàng Quân Đội vươn lên
vị trí dẫn đầu thị trường về tăng trưởng huy động vốn, tín dụng và lợi nhuận.Năm 2013, MB tiếp tục giữ vững vị trí này Năm 2014, Ngân hàng thươngmại cổ phần Quân Đội đánh dấu mốc son kỷ niệm tròn 20 tuổi với việc vinh
Trang 36dự đón nhận giải thưởng Huân chương Lao động hạng Nhất do Chủ tịch nướctrao tặng
Trải qua 20 năm xây dựng và trưởng thành, Ngân hàng thương mại cổphần (TMCP) Quân Đội đã có những đóng góp nhất định vào sự phát triểncủa Đất nước, đồng thời khẳng định được vị thế, uy tín trên thị trường trongnước và quốc tế Thương hiệu MB giờ đây đã trở thành một cái tên thườngxuyên được nhắc đến với niềm tin tưởng lớn lao của đối tác và khách hàng
Thông tin cơ bản về ngân hàng thương mại cổ phần Quân Đội:
- Tên đầy đủ: Ngân hàng Thương mại cổ phần Quân đội
- Tên tiếng Anh: Military Commercial Joint Stock Bank
+ Cung ứng sản phẩm phái sinh theo quy định của Pháp luật;
+ Đại lý bảo hiểm và thực hiện các dịch vụ liên quan khác theo quyđịnh của Pháp luật;
+ Kinh doanh trái phiếu và các Giấy tờ có giá khác theo đúng quyđịnh của Pháp luật;
+ Mua bán, gia công, chế tác Vàng;
+ Hoạt động trung gian tiền tệ khác
Trang 372.1.2 Cơ cấu tổ chức
Sơ đồ 2.1: Cơ cấu tổ chức bộ máy hoạt động Ngân hàng TMCP Quân Đội
- Hội đồng Quản trị: là cơ quan có thẩm quyền quyết định các vấn đề
liên quan đến mục đích, quyền lợi của MB bao gồm: chiến lược, kế hoạchtrung hạn, hàng năm và các vấn đề khác theo quy định của pháp luật và điều
Cơ quan Kiểm
soát nội bộ
Ban Kiểm soát
Hội đồng Quản trị
Các ủy ban cao cấp:
1 Ủy ban về vấn đề nhân sự
2 Ủy ban ALCO
3 Ủy ban quản trị rủi ro
Khối Tổ chức Nhân sự Văn phòng CEO
Văn phòng Triển khai chiến lược Khối Đầu tư Khối Thẩm định
cá nhân
Khối nguồn vốn, kinh doanh tiền tệ
Khối mạng lưới, phân phối
Khối vận hành
Khối công nghệ thông tin
Chi nhánh
Tổng Giám đốc
Trang 38lệ của MB.
- Ban Kiểm soát: Là cơ quan đại diện cổ đông, có trách nhiệm kiểm tra,
giám sát các hoạt động của hội đồng quản trị, Ban điều hanh, hoạt động tàichính của MB, giám sát việc chấp hành chế độ hạch toán, sự an toàn tronghoạt động của MB, thực hiện kiểm toán nội bộ hoạt động từng thời kỳ, từnglĩnh vực nhằm đánh giá chính xác hoạt động kinh doanh và thực trạng tàichính của MB, đảm bảo Ngân hàng hoạt động hiệu quả, đúng pháp luật vàđảm bảo các quyền lợi của cổ đông
- Các ủy ban cao cấp: Các ủy ban cao cấp giúp việc cho Hội đồng quản
trị bao gồm: Ủy ban tín dụng và đầu tư; Ủy ban nhân sự và đãi ngộ; Ủy banAlco; Ủy ban quản lý rủi ro Các ủy ban này giúp việc cho Hội đồng quản trịtrong từng mảng công việc cụ thể nhằm đảm bảo các quyết định chiến lượccủa Hội đồng quản trị được xây dựng và triển khai có hiệu quả và tuân thủđúng pháp luật
- Cơ quan Kiểm toán nội bội: Là cơ quan giúp việc cho Ban kiểm soát
triển khai các hoạt động giám sát của Ban kiểm soát
- Văn phòng Hội đồng quản trị: Là cơ quan chuyên môn giúp Hội đồng
quản trị, Thường trực hội đồng quản trị triển khai thực hiện các chức năng,nhiệm vụ phù hợp quy định của Pháp luật và điều lệ của ngân hàng Quân Đội,tham mưu hỗ trợ cho Hội đồng quản trị trong những vấn đề mang tính địnhhướng chiến lược, đưa ra các dự báo cũng như đề xuất cụ thể cho các hoạtđộng quan trọng của MB cũng như toàn bộ các công ty thành viên thuộc MB.Đồng thời hỗ trợ việc đề xuất, triển khai, đánh giá chương trình phát triển cho
MB và các công ty thành viên khác khi có yêu cầu Với vai trò quan trọng làcầu nối giữa quản trị và điều hành, Văn phòng HĐQT là kênh truyền tải cácthông tin từ HĐQT, thường trực HĐQT đến ban điều hành và ngược lại đảmbảo thông suốt, kịp thời
Trang 39- Ban điều hành: Là cơ quan điều hành các hoạt động hàng ngày của
MB, tổ chức triển khai các chiến lược kinh doanh, chiến lược hoạt động nhằmđạt được các mục tiêu, kế hoạch đã được Đại Hội đồng cổ đông, Hội đồngquản trị thông qua
- Khối Quản trị rủi ro: Là cơ quan giúp Tổng giám đốc kiểm soát toàn
bộ các rủi ro phát sinh trong hoạt động kinh doanh Ngân hàng trong đó tậptrung vào rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản, rủi ro thị trường và rủi ro hoạtđộng Nhiệm vụ chính của Khối quản trị rủi ro là đề xuất chính sách rủi ro,các kế hoạch duy trì kinh doanh liên tục, kế hoạch đối phó tình huống bấtngờ, thiết lập hạn mức, đo lường, kiểm soát và báo cáo rủi ro, xây dựng vàphổ biến văn hóa quản trị rùi ro trong toàn hệ thống
- Khối Kiểm tra, Kkiểm soát nội bộ: là cơ quan giúp Tổng giám đốc
thực hiện việc thiết lập, duy trì và phát triển hệ thống kiểm tra, kiểm soát nội
bộ hợp lý và hoạt động hiệu quả, đáp ứng yêu cầu về nhận dạng, đo lường,đánh giá và quản lý rủi ro, đảm bảo ngân hàng hoạt động an toàn, hiệu quả,tuân thủ đúng theo pháp luật Khối kiểm tra kiểm soát nội bộ gồm 3 phòng:Phòng kiểm tra kiểm soát, Phòng kiểm soát tuân thủ, và Phòng quản lý chấtlượng, đảm bảo kiểm soát độc lập, khách quan mọi hoạt động ngân hàng trênphạm vi toàn hệ thống
- Khối Thẩm định: Thực hiện thẩm định các phương án cấp tín dụng
cho toàn bộ các Khách hàng trên toàn hệ thống: Quản trị hệ thống về tổ chức,triển khai công tác thẩm định và giám sát việc tổ chức, triển khai phương áncấp tín dụng cho các Khách hàng Xử lý và thu hồi nợ quá hạn trên toàn hệthống đảm bảo đạt kế hoạch nợ quá hạn, nợ xấu được Ban lãnh đạo phân giaotừng thời kỳ Phối hợp với các đơn vị liên quan trong quá trình thực hiện tổchức thực hiện thẩm định tín dụng và xử lý thu hồi nợ, xây dựng chính sáchtín dụng phù hợp với định hướng của Ngân hàng
Trang 40- Các Cơ quan Quản lý hệ thống: Bao gồm các khối và phòng ban làm
nhiệm vụ quản lý hệ thống, được tổ chức và hoạt động theo các chức năngquản lý như Văn Phòng triển khai chiến lược, Văn phòng CEO, Khối tàichính kế toán, Khối tổ chức nhân sự, Khối Công nghệ thông tin, Phòng chínhtrị, Ban xây dựng cơ bản có chức năng xây dựng và duy trì phát triển cácnguyên tắc và cơ chế quản lý nhằm hỗ trợ mạnh mẽ các khối kinh doanh,hướng dẫn quản lý hỗ trợ chi nhánh theo trục dọc, tạo ra các dịch vụ có chấtlượng cao phục vụ khách hàng
- Các Cơ quan hỗ trợ kinh doanh: Bao gồm các Khối Vận hành, Khối
mạng lưới và phân phối, có chức năng hỗ trợ hoạt động kinh doanh ngày càngphát triển, xây dựng và duy trì các quy trình cung cấp sản phẩm, dịch vụ MBvới chất lượng cao, đảm bảo phòng ngừa rủi ro, phát triển mạng lưới và kênhphân phối của MB cũng như các hoạt động hành chính quản trị
- Các khối kinh doanh: được tổ chức chuyên sâu theo từng phân khúc
khách hàng và thị trường bao gồm:
+ Khối Nguồn vốn và kinh doanh tiền tệ: Kinh doanh vốn, ngoại tệ và
các dịch vụ sản phẩm phái sinh trên thị trường tiền tệ, thị trường vốn, thịtrường hàng hóa Điều hành, quản lý tập trung nguồn vốn và xây dựng chínhsách huy động vốn toàn hệ thống, quản lý trạng thái ngoại tệ toàn hệ thốngnhằm tập trung quản trị rủi ro lãi suất, tỷ giá nhằm đa dạng hóa sản phẩm dịch
vụ và gia tăng lợi nhuận cho MB Đống thời, thiết lập quan hệ giao dịch, liênkết sản phẩm dịch vụ với các tổ chức tín dụng, tài chính trong và ngoài nước
+ Khối Doanh nghiệp lớn: Cung cấp trọn gói các giải pháp tài chính
cho nhóm doanh nghiệp lớn
+ Khối Doanh nghiệp vừa và nhỏ: Cung cấp các sản phẩm và dịch vụ
tài chính ngân hàng chuyên biệt cho tới từng khách hàng vừa và nhỏ rộngkhắp trên địa bàn cả nước