1. Trang chủ
  2. » Tài Chính - Ngân Hàng

PHÂN TÍCH HOẠT ĐÔNG KINH DOANH NGÂN HÀNG VIỆT NAM và NGÂN HÀNG THƯƠNG mại QUỐC tế VIB từ năm 2011 đến NAY

40 484 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 40
Dung lượng 913,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hành lang pháp lý Nhà nước cũng đã ban hành các văn bản để phát triển hệ thống ngân hàng điểnhình như điều chỉnh hoạt động góp vốn, mua cổ phần cho nhà đầu tư trong nước đầu tưvào thị t

Trang 1

NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM

HỌC VIỆN NGÂN HÀNG Khoa Ngân hàng

BÀI THẢO LUẬN MÔN: QUẢN TRỊ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

ĐỀ TÀI:

PHÂN TÍCH HOẠT ĐÔNG KINH DOANH NGÂN HÀNG VIỆT NAM

VÀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ VIB

TỪ NĂM 2011 ĐẾN NAY Lớp: Sáng thứ 4 - ca 1 - H307

Giảng viên: ThS Nguyễn Tiến Hưng

Nhóm ATC:

1 Đào Mạnh Cường.(Nhóm trưởng)

2 Bàn Văn Điệp

3 Phan Kim Huệ

4 Bùi Quang Huy

5 Vương Thị Thùy Anh

HÀ NỘI - 2015

Trang 2

MỤC LỤC

CHƯƠNG 1.: TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH NGÂN HÀNG .1

1.1 Những vấn đề chung về NHTM 1

1.2 Đặc điểm của hoạt động của NHTM 1

1.3 Các hoạt động kinh doanh chính của NHTM 1

CHƯƠNG 2.: SỰ THAY ĐỔI VỀ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH NGÂN HÀNG 2 Ở VIỆT NAM TRONG 5 NĂM QUA 2

2.1 Sự thay đổi về môi trường kinh doanh 2

2.1.1 Sự thay đổi của yếu tố bên ngoài tác động đến ngành ngân hàng 2

2.1.2 Sự thay đổi của các yếu tố nội tại ngành ngân hàng Việt Nam 4

2.2 Sự thay đổi chung về hoạt động kinh doing của hệ thống ngân hàng Việt Nam 6

2.2.1 Về phạm vi hoạt động 6

2.2.2 Sự thay đổi về thị trường mục tiêu của các NHTM Việt Nam 8

2.2.3 Sự thay đổi về cơ cấu sản phẩm dịch vụ của các NHTM Việt Nam 8

CHƯƠNG 3.: PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG TMCP QUỐC TẾ VIỆT NAM (VIB) TỪ NĂM 2011 ĐẾN NAY 12

3.1 Giới thiệu về ngân hàng TMCP Quốc Tế Việt Nam (VIB) 12

3.2 Phân tích về hoạt động kinh doanh của VIB từ năm 2011 đến nay 13

3.2.1 Về nguồn vốn 13

3.2.2 Về tài sản có 14

3.2.3 Sự thay đổi trong cơ cấu sản phẩm, dịch vụ của VIB 19

3.3 Dự báo xu hướng hoạt động kinh doanh của VIB trong thời gian sắp tới 25

3.3.1 Về tăng trưởng tín dụng 25

3.3.2 Về huy động vốn: 26

3.3.3 Về đa dạng các hoạt động kinh doanh 26

KẾT LUẬN 28

MỤC LỤC BẢNG SỐ LIỆU VÀ TÀI LIỆU THAM KHẢO 29

A Bảng biểu 29

B Tài liệu tham khảo 37

Trang 3

LỜI NÓI ĐẦU

Ngân hàng là một doanh nghiệp đặc biệt, là trung gian tài chính – một mắt xích

có vai trò vô cùng quan trọng trong nền kinh tế.Khi tiếp cận một ngân hàng người tacũng quan tâm đến hiện trạng hoạt động và triển vọng tương lai của nó như đối vớimột doanh nghiệp

Hoạt động kinh doanh ngân hàng ở Việt Nam cũng tuân theo những nguyên lý cơbản của hệ thống ngân hàng trên thế giới, trên cơ sở đưa ra những chiến lược phù hợpvới điều kiện kinh tế - xã hội, môi trường kinh doanh của Việt Nam Bài thảo luận này

sẽ đưa ra những phân tích khái quát về hoạt động kinh doanh của ngành ngân hàngViệt Nam nói chung và đi vào phân tích cụ thể ngân hàng TMCP Quốc tế Việt Nam(VIB) từ năm 2011 đến nay qua những chỉ số tài chính và những xu hướng thay đổitrong giai đoạn này

Chúng tôi mong muốn khi đọc xong bài thảo luận , người đọc sẽ phần nào hiểu rõhơn về tình hình họat động thực tế của VIB những năm vừa qua và có thêm cho mìnhmột mảnh ghép trong bức tranh toàn cảnh của hệ thống Ngân hàng Việt Nam

Trang 4

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH NGÂN HÀNG

1.1. Những vấn đề chung về NHTM

Khái niệm ngân hàng thương mại: Tuy chưa có một định nghĩa nào chung chokhái niệm NHTM ( NHTM) trên thế giới do ở mỗi quốc gia thì các NHTM hoại độngtrong một thể chế pháp luật khác nhau

Ở Việt Nam có thể hiểu NHTM là loại ngân hàng giao dịch trực tiếp với cáccông ty, xí nghiệp, tổ chức kinh tế và cá nhân bằng cách nhận tiền gửi, tiền tiết kiệmrồi sử dụng số vốn đó để cho vay, chiết khấu, cung cấp các phương tiện thanh toán vàcung ứng dịch vụ ngân hàng cho các đối tượng nói trên

1.2.Đặc điểm của hoạt động của NHTM

NHTM là các doanh nghiệp vay mượn ,huy động tiền tệ từ các chủ thể đangnắm giữ tiền tạm thời chưa dùng tới để rồi dùng tiền đó cho vay, đầu tư vào những lĩnhvực nhà nước cho phép Đây là đặc điểm cơ bản nhất để phân biệt lĩnh vực kinh doanhngân hàng với các lĩnh vực kinh doanh khác Nhưng hoạt động kinh doanh ngân hàng

là hoạt động chứa đựng nhiều rủi ro Do đó mà ngân hàng phải tạo ra những biện pháp,

kỹ thuật để phòng ngừa rủi ro cho người gửi tiền, người vay tiền và cho chính bản thânmình

NHTM kinh doanh mang tính hệ thống cao và chịu sự quản lí nghiêm ngặt củaNhà nước Có thể nói, tình hình lưu thông và giá trị của tiền tệ có ảnh hưởng sâu rộngđến toàn bộ nền kinh tế; hơn nữa, rủi ro trong kinh doanh ngân hàng luôn mang tínhlan truyền, tính hệ thống cao hơn hẳn nhiều lĩnh vực kinh doanh khác Do đó đòi hỏicác cơ quan quản lý Nhà nước phải có các biện pháp quản lý nghiêm ngặt sao choChính sách tiền tệ quốc gia được đảm bảo thực hiện,hệ thống tài chính ngân hàng đượcđảm bảo an toàn, quyền lợi của người gửi tiền và người đầu tư được bảo vệ

1.3.Các hoạt động kinh doanh chính của NHTM

Nghiệp vụ tài sản Nợ: Nghiệp vụ tài sản nợ là nghiệp vụ tạo vốn của NHTM.

Các nghiệp vụ tạo vốn của NHTM bao gồm có: nhận tiền gửi, đi vay, phát hànhGTCG

Nghiệp vụ tài sản Có: Bao gồm hoạt động tín dụng, ngân quỹ, tài chính.

Các nghiệp vụ kinh doanh khác : thanh toán, bảo hiểm, bảo lãnh, dịch vụ ủy

thác, tư vấn, nghiệp vụ ngoại bảng

Trang 5

CHƯƠNG 2

SỰ THAY ĐỔI VỀ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH NGÂN HÀNG

Ở VIỆT NAM TRONG 5 NĂM QUA

2.1.Sự thay đổi về môi trường kinh doanh.

2.1.1 Sự thay đổi của yếu tố bên ngoài tác động đến ngành ngân hàng.

a Hành lang pháp lý

Nhà nước cũng đã ban hành các văn bản để phát triển hệ thống ngân hàng điểnhình như điều chỉnh hoạt động góp vốn, mua cổ phần cho nhà đầu tư trong nước đầu tưvào thị trường ngân hàng Việt Nam như Luật Doanh nghiệp năm 2005, Luật Chứngkhoán năm 2006 và các văn bản hướng dẫn thi hành, Quyết định số 24/2007/QĐ-NHNN của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) ban hành Quy chế cấp giấy phép thành lậpngân hàng Các quy định tại Quyết định số 1122/2001/QĐ-NHNN ngày 04/9/2001,Quyết định số 797/2002/QĐ-NHNN ngày 29/7/2002 và Quyết định số 20/2008/QĐ-NHNN ngày 04/7/2008 sửa đổi, bổ sung Quyết định số 1122 về cổ đông, cổ phần, cổphiếu và vốn điều lệ của NHTM trước đây đã có hướng dẫn cụ thể chung cho hoạtđộng mua cổ phần tại các ngân hàng, theo đó các tổ chức, cá nhân trong nước phảituân thủ các quy định về điều kiện, tỷ lệ, trình tự, thủ tục tăng vốn điều lệ của ngânhàng Các tổ chức, trong đó có tổ chức tín dụng phải tuân thủ các điều kiện về chế độtài chính, kế toán, báo cáo tài chính năm phải được kiểm toán bởi tổ chức kiểm toánđộc lập thuộc danh sách các tổ chức kiểm toán đã được Bộ Tài chính công bố đủ tiêuchuẩn kiểm toán doanh nghiệp

b Yếu tố kinh tế

Kể từ đầu năm 2008 đến nay, nền kinh tế luôn phải đối mặt với những khókhăn, sức cạnh tranh của nền kinh tế yếu, cơ sở hạ tầng trở thành điểm nghẽn, lạm pháttăng cao tới 22% vào cuối năm 2008, rồi giảm sâu xuống 4,09% năm 2014 Để kiềmchế lạm phát và những bất ổn vĩ mô, các chính sách kinh tế, tài chính, tiền tệ được điềuhành theo hướng thắt chặt, đã có tác động mạnh tới lạm phát và sức cầu của nền kinh

tế Đặc biệt là tới hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp (DN), ngânhàng Đối với không ít DN, vốn cho sản xuất kinh doanh chủ yếu vay ngân hàng, trongkhi lãi suất cho vay của các ngân hàng luôn ở mức cao (18%- 25% vào năm 2010,

2011, sau đó giảm dần xuống mức 15% -17% vào năm 2012, 2013) và 8% - 12% vàonăm 2014 Với lãi suất vay cao, thị trường đầu ra cho sản bị thu hẹp do nhiều nguyênnhân, hàng tồn kho tăng cao, nhiều DN rơi vào tình trạng khó khăn Năm 2014, mặc

dù nền kinh tế có nhiều biểu hiện được phục hồi, nhiều chính sách và biện pháp hỗ trợ

DN đã được triển khai, thị trường tài chính có một số chuyển biến tích cực nhưng số

Trang 6

DN giải thể, dừng hoạt động vẫn cao Điều này ảnh hưởng rất lớn đến khả năng trả nợngân hàng, tương ứng với việc nợ xấu giữa DN với ngân hàng ngày càng cao

c.Yếu tố xã hội

Hiện nay tại các thành phố lớn, dân cư sống đông đúc, trình độ dân trí cao,thu nhập cao nên sẽ dẫn đến khả năng tiếp cận với dich vụ ngân hàng dễ hơn, sốtiền nhàn rồi nhiều nên việc huy động vốn cũng như hoạt động cho vay của cácngân hàng Điều này cũng khiến các ngân hàng ngày càng mở ra nhiều chi nhánh ởkhắp các quận của các thành phố lớn Nhưng bên cạnh đó, yếu tố này cũng dẫn đếnsự cạnh tranh chất lượng dịch vụ giữa các ngân hàng, làm cho hệ thống ngân hàngngày càng phát triển

d Cạnh tranh gay gắt giữa các định chế tài chính

Sự phát triển của hệ thống tài chính kể từ khi đổi mới đến nay, mặc dù có nhiềuthành tựu, nhưng đã có sự phát triển sai lệch về mặt cấu trúc, cơ cấu về quy mô chưathực sự hợp lý, hình thành quá nhiều các công ty chứng khoán, các qui đầu tư so vớiqui mô thị trường chứng khoán, các định chế tài chính là ngân hàng thiếu những địnhchế tài chính có quy mô lớn, hoạt động xuyên quốc gia, đồng thời cũng thiếu các địnhchế tài chính có quy mô phù hợp để phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn Sốlượng các định chế tài chính Việt Nam hiện nay là nhiều, phân bố không đều, mạnglưới các định chế tài chính tập trung chủ yếu ở khu vực đô thị, hạn chế khả năng thuhút và phân bổ nguồn lực tài chính tới các vùng miền khác của cả nước Xét về cấutrúc thị trường tài chính, thì thị trường chứng khoán, thị trường trái phiếu phát triểnchưa tương thích với thị trường tiền tệ, qua đó mà gây sức ép tăng 494 trưởng nguồnvốn để đầu tư tín dụng của các định chế tài chính là Ngân hàng; thị trường tài chínhnông thôn phát triển chậm so với yêu cầu; thị trường thứ cấp còn rất manh nha

e Môi trường quốc tế

Cho đến nay, làn sóng toàn cầu hoá đã có thêm nhiều đặc trưng mới do sự pháttriển của xã hội đem lại như: các loại thị trường mới (thị trường chứng khoán, ngânhàng, bảo hiểm…); các công cụ mới (máy fax, điện thoại di động, máy tính, mạnginternet, vận tải đường không …); các thể chế mới (như: các tập đoàn kinh tế đa quốcgia liên kết chi phối nền sản xuất thế giới, tổ chức thương mại thế giới ngày càng cóảnh hưởng và quyền lực lớn đối với các quốc gia…); các quy tắc và chuẩn mực mới(các hiệp định đa phương, song phương xuất hiện ngày càng nhiều và có vai trò to lớntrong việc điều chỉnh hàng loạt chính sách của các quốc gia, hành vi ứng xử giữa cácquốc gia…)Dưới ảnh hưởng của công nghệ và toàn cầu hoá, Các ngân hàng hiện nay

đã đa dạng các loại dịch vụ và mở rộng hoạt động bằng cách vươn tới các thị trườngmới trong và ngoài nước

Trang 7

f Sự phát triển của nền tảng công nghệ thông tin hiện đại.

Công nghệ thông tin đóng vai trò hết sức quan trọng đến HĐKDNH Xét về mặt

cơ hội, công nghệ thông tin giúp tăng 43-48% lãi ròng của ngân hàng nhưng cũng cóthể kéo giảm 29-36% lợi nhuận khi xét ở khía cạnh thách thức

Hiện các kênh phân phối truyền thống của ngân hàng là chi nhánh/phòng giaodịch, ATM/POS, phone banking, home banking và call center Tuy nhiên, dưới tácđộng của công nghệ thông tin, kênh phân phối của ngân hàng sẽ chuyển dịch, pháttriển mạnh trong tương lai là internet banking, mobile banking, tablet banking vàsocial network/media

2.1.2 Sự thay đổi của các yếu tố nội tại ngành ngân hàng Việt Nam.

Sự thay đổi của môi trường kinh doanh Ngân hàng trong những năm vừa qua

a Nợ xấu tăng cao, gia tăng rủi ro hệ thống

Kể từ đầu năm 2008 đến nay, nền kinh tế luôn phải đối mặt với những khókhăn, sức cạnh tranh của nền kinh tế yếu, cơ sở hạ tầng trở thành điểm nghẽn, lạm pháttăng cao tới 22% vào cuối năm 2008, rồi giảm sâu xuống 4,09% năm 2014 Mỗi năm

có khoảng vài chục ngàn DN giải thể, dừng hoạt động Năm 2014, mặc dù nền kinh tế

có nhiều biểu hiện được phục hồi, nhưng số DN giải thể, dừng hoạt động vẫn cao.Đáng chú ý, một số DN có quy mô trung bình và lớn tuy đã cố gắng cầm cự trong giaiđoạn khó khăn, nhưng đến nay vẫn phải ngừng hoạt động có thời hạn, giải thể Điềunày ảnh hưởng rất lớn đến khả năng trả nợ ngân hàng, tương ứng với việc nợ xấu giữa

DN với ngân hàng ngày càng cao [Bảng 1, phụ lục trang 29]

Trong kinh doanh ngân hàng, để xảy ra nợ xấu, trước hết là trách nhiệm củaNHTM (NHTM) và khách hàng vay vốn Tuy nhiên, đó còn là tránh nhiệm của kháchhàng và của cơ quan quản lý

Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã đưa ra phương án xử lý nợ xấu qua Công tyQuản lý tài sản của các tổ chức tín dụng (VAMC) Đến cuối năm 2014, VAMC đãmua được 98.000 tỷ đồng nợ xấu của gần 40 tổ chức tín dụng (TCTD) Vậy nhưng,việc xử lý nợ xấu đã mua rất ít, tính đến nay VAMC mới chỉ xử lý được 4.161 tỷ đồng,chiếm 4,2% số nợ xấu đã mua Trong số nợ xấu được xử lý, có khoảng 50% là nhữngkhoản nợ khách hàng tự nguyện trả, số còn lại là do các NHTM cùng VAMC bán tàisản bảo đảm

Trang 8

b Vấn đề sở hữu chéo trong ngân hàng

Một số NHTM Việt Nam đã có quy mô khá lớn so với một số NHTM trong khuvực, tuy nhiên do tính minh bạch vẫn yếu, gây nên tình trạng sở hữu chéo Việc nắmgiữ cổ phần của nhau trong hoạt động ngân hàng đã đến mức trầm trọng, phát sinhnhiều tiêu cực và phức tạp Chính sở hữu chéo đã giúp không ít ông chủ ngân hàng cóđiều kiện sở hữu hoặc nắm cổ phần chi phối ở một vài ngân hàng khác, cũng như có

DN trực tiếp hoặc giám tiếp sở hữu ngân hàng Khi doanh nghiệp có cổ phần lớn, cókhả năng chi phối hoạt động ngân hàng, đã dễ dàng sử dụng khoản lớn vốn huy độngtrong xã hội, cho mục đích của doanh nghiệp Hậu quả một số ngân hàng yếu kém, bấtổn, nợ xấu lớn có những nguyên nhân sâu xa từ sở hữu chéo Nếu không xử lý mạnh

sở hữu chéo, khó có thể nắn dòng vốn từ những ngân hàng này vào lĩnh vực cần vốncho sản xuất, kinh doanh

Nhằm giải quyết các vấn đề trên, cũng như để xử lý nợ xấu trong toàn bộ hệthống, Ngân hàng Nhà nước, dưới sự chỉ đạo của Đảng và Chính phủ đã thực hiện tái

cơ cấu hệ thống ngân hàng, góp phần nâng cao khả năng quản lý kinh tế nói chung vàthực hiện chính sách tiền tệ nói riêng Trong đó phải kể đến việc thành lập và triểnkhai hiệu quả Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC) -Mua NHTM cổ phần với giá 0 đồng, bảo vệ quyền lợi của nhân dân, không gây đổ bểhàng loạt các ngân hàng và gắn trách nhiệm của các thành viên hội đồng quản trị và cổđông vì quản lý ngân hàng không có hiệu quả Đây có thể xem là một giải pháp “đánhchuột không vỡ bình”, giữ được niềm tin của người dân và doanh nghiệp vào chínhsách tiền tệ nói riêng và cơ chế, chính sách nói chung

c. Hệ thống công nghệ của không ít ngân hàng chưa đồng bộ.

Điều này khiến các dữ liệu để quản lý rủi ro thanh khoản, lãi suất thiếu nhấtquán, gây khó khăn cho công tác phân tích, dự báo, đề xuất chiến lược quản lý rủi rothanh khoản, lãi suất phù hợp.Việc dự báo những thay đổi của môi trường kinh doanhtại các NHTM cũng chưa được quan tâm đúng mức, một phần cũng ảnh hưởng từ sựthay đổi khó lường của cơ chế chính sách, khiến ngân hàng bị động trước những biếnđộng đột ngột của thị trường, ảnh hưởng đến khả năng quản lý và sử dụng vốn củangân hàng

Những hạn chế nêu trên, có nguyên nhân từ bất ổn vĩ mô, hành lang pháp lýchưa hoàn thiện, còn có nguyên nhân từ ngân hàng: Sự thiếu đồng bộ về công nghệ và

Trang 9

quản lý dữ liệu dẫn đến quá trình quản trị điều hành và kiểm tra giám sát hoạt độngngân hàng của các nhà quản trị ngân hàng chưa cao.

2.2 Sự thay đổi chung về hoạt động kinh doing của hệ thống ngân hàng Việt Nam.

2.2.1 Về phạm vi hoạt động

Trong 5 năm từ 2011-2015, hệ thống ngân hàng Việt Nam đã và đang thực hiện

mở rộng phạm vi hoạt động của các chi nhánh ngân hàng ở trong nước cũng như nướcngoài trong giới hạn có thể kiểm soát được

Thứ nhất, mạng lưới ngân hàng mở rộng khắp nơi trong cả nước đã tạo điềukiện cho người dân và doanh nghiệp tiếp cận thuận lợi tới các dịch vụ ngân hàng Bêncạnh kênh phân phối dưới hình thức hiện diện vật lý như điểm giao dịch, chi nhánh,phòng giao dịch thì các kênh phân phối điện tử cũng đang phát triển nhanh

Hệ thống ngân hàng ở Việt Nam cũng thay đổi dần việc phân bổ tới các khunông thôn và trung du, miền núi Theo TS Cao Sỹ Kiêm, trước đây, mặc dù hệ thốngngân hàng đang phát triển rất nhanh, số lượng tăng lên nhiều, nhưng tập trung chủ yếu

ở thành thị Ví dụ như Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển Nông thôn Việt Nam đã

mở rộng và có tới 4.000 – 5.000 điểm giao dịch ở nông thôn Nhưng sau đó cơ cấu lại,

“rút” về các Chi nhánh trực thuộc, khiến cho địa bàn hoạt động tại đây bị co lại Trongkhi đó, các ngân hàng khác mặc dù cũng có hoạt động ở nông thôn, nhưng chỉ phục vụcho những đối tượng thích hợp với chức năng hoạt động của họ Còn ngân hàng hoạtđộng trực tiếp phục vụ cho các hộ nông dân như những món vay tiêu dùng, sản xuấtthì rất hạn chế

Hệ thống QTDND cũng còn khá mỏng Việt Nam có 63 tỉnh, thành với khoảng12.000 xã, phường, nhưng mới có 53 tỉnh, thành phố có Quỹ tín dụng nhân dân(QTDND), với gần 1.200 QTDND cơ sở Có nghĩa mới đáp ứng được hơn 11% số xã,phường trong có cả nước và không đồng đều giữa các địa phương Bên cạnh đó, phầnlớn QTDND tập trung ở vùng đồng bằng, thành phố lớn, còn khu vực cần nhiều hoạtđộng của quỹ ở các vùng sâu vùng xa thì lại chưa thành lập được nhiều Vì vậy, lỗhổng lớn nhất hiện nay là ngân hàng phục vụ cho khu vực nông thôn

Thứ hai là tăng cường mở cửa thị trường và hội nhập quốc tế trong lĩnh vựcngân hàng Thị trường dịch vụ ngân hàng của Việt Nam đã được tự do hóa đáng kể, có

độ mở tương đối cao và mức độ thâm nhập của ngân hàng nước ngoài lớn Các ngânhàng của Việt Nam từng bước gia nhập thị trường tài chính quốc tế và khu vực Đếnnay, hầu hết các ngân hàng lớn trên thế giới đã hiện diện thương mại tại Việt Nam và

Trang 10

một số ngân hàng của Việt Nam đã hiện diện ở nước ngoài (Lào, Campuchia, Mianma,Trung Quốc, Đức).

Nhiều NHTM đã mở chi nhánh và văn phòng đại diện ở nước ngoài, đó là Ngânhàng Thương mại cổ phần (TMCP) Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) có vănphòng đại diện tại Singapore; Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam(BIDV) mở văn phòng đại diện tại Campuchia, Myanmar; Ngân hàng TMCP Sài GònThương tín (Sacombank) mở chi nhánh ở Lào, Campuchia, Sacombank còn thành lậpngân hàng 100% vốn nước ngoài tại Campuchia (10/2011); Ngân hàng Quân đội(MB), Ngân hàng TMCP Sài Gòn - Hà Nội (SHB) cũng đã khai trương chi nhánh tạiCampuchia, Ngoài ra, Vietcombank, ACB, BIDV cũng đã được Ngân hàng Nhànước Việt Nam cho phép mở văn phòng đại diện tại Mỹ, tuy nhiên, Cục Dự trữ liênbang Mỹ chưa chấp thuận Thị trường Lào và Campuchia được các ngân hàng đánh giá

là dễ triển khai dịch vụ và dễ chiếm lĩnh thị trường Tuy nhiên, với dân số khiêm tốnhơn so với Việt Nam, việc mở rộng đầu tư sang thị trường hai nước này cần phải đượccác ngân hàng Việt Nam xem xét, phân tích kỹ nhất là về dân số, tỷ lệ dân thànhthị Bên cạnh thị trường khu vực Đông Dương, nhiều NHTM còn tìm kiếm địa bànhoạt động ở những nước phù hợp với tiêu chuẩn và nguồn lực của mình

Thứ ba, nâng cao hợp tác song phương,đa phương giữa ngân hàng Việt Nam vànước ngoài Trong tháng 2/2014, Vietcombank hợp tác với ngân hàng Nhật AichiBank Theo đó, Aichi Bank sẽ giới thiệu các khách hàng đang hoạt động tại Việt Namđến mở tài khoản và sử dụng các dịch vụ tài chính và phi tài chính do Vietcombankcung cấp Ngược lại, Vietcombank sẽ trao đổi thông tin và hỗ trợ tư vấn cho AichiBank và các khách hàng của Aichi Bank các vấn đề liên quan đến thông tin kinh tế, thịtrường tài chính, môi trường đầu tư, các quy định và hệ thống pháp luật… tại ViệtNam Ngoài ra, trên cơ sở đề nghị và bảo lãnh đối ứng của Aichi Bank, Vietcombankcũng xem xét cho vay các khách hàng doanh nghiệp của Aichi Bank đang hoạt độngtại Việt Nam Tương tự như vậy cũng có nhiều sự hợp tác như hợp tác toàn diện giữangân hàng Công thương (Vietinbank) và Bank of Tokyo-Mitsubishi UFJ, ngân hàngTMCP Đầu tư Phát triển Việt Nam (BIDV) ký biên bản ghi nhớ hợp tác toàn diện(MOU) với Ngân hàng TNHH một thành viên ANZ (Việt Nam) và ký thỏa thuận hợptác toàn diện, hợp đồng vay hợp vốn quốc tế trị giá 105 triệu USD với thời hạn 5 năm

và thỏa thuận trong lĩnh vực chuyển tiền với Ngân hàng Cathay United (Đài Loan)(2015),…

TS Phan Minh Ngọc, chuyên gia kinh tế cũng cho biết, AEC đã hướng tới mụctiêu hội nhập ngành ngân hàng nội khối vào năm 2020, tạo ra một hệ thống ngân hàng

Trang 11

mở cho phép các ngân hàng ASEAN được hoạt động một cách bình đẳng với ngânhàng sở tại của bất kỳ thành viên nào trong khối Trên thực tế, không chỉ các ngânhàng trong khu vực ASEAN, mà nhiều ngân hàng của Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc,Trung Quốc, châu Âu… cũng đang “ném đá dò đường” tìm hiểu thị trường Việt Nam,sẵn sàng đón đầu cơ hội mới từ AEC, TPP

2.2.2 Sự thay đổi về thị trường mục tiêu của các NHTM Việt Nam.

Theo đó, dịch vụ ngân hàng bán buôn là dành cho các công ty, tập đoàn kinhdoanh, còn dịch vụ ngân hàng bán lẻ là dành cho khách hàng cá nhân Tại Việt Nam,quy mô tín dụng tiêu dùng chiếm 20% GDP, thấp hơn rất nhiều so với các nước Châu

Á - Thái Bình Dương Bên cạnh đó, tỷ lệ người lớn có tài khoản ngân hàng theo thống

kê vào năm 2011 của Việt Nam cũng ở mức thấp 21.4% (chỉ cao hơn Campuchia vàIndonesia) Do đó Việt Nam còn rất nhiều dư địa để phát triển mảng bán lẻ của cácngân hàng

Chính vì vậy, dịch vụ ngân hàng bán lẻ đang có sự cạnh tranh mạnh mẽ giữacác NHTM trên các lĩnh vực chính Tính đến hết quý 3/2014, xét về quy mô ngân hàngbán lẻ, tại Việt Nam có tất cả 97 NHTM với khoảng 60,000 tài sản vãng lai Tổng tảisản của các tổ chức tín dụng so với GDP chiếm 158% [Bảng 2, phụ lục trang 29]

2.2.3 Sự thay đổi về cơ cấu sản phẩm dịch vụ của các NHTM Việt Nam.

Để thích ứng với những tác động đến từ sự thay đổi của môi trương bên trongcũng như bên ngoài ngành ngân hàng, các NHTM Việt Nam trong thời gian từ năm

2011 đến 2015 đã thay đổi, phát triển cơ cấu sản phẩm, dịch vụ cung ứng Bên cạnhtiếp tục củng cố và phát huy các sản phẩm mang tính truyền thống (như dịch vụ nhậntiền gửi, cho vạy, thanh toán,…) các ngân hàng cũng đang tích cực học hỏi, sáng tạo

để phát triển các sản phẩm hiện đại

Thật vậy, nhờ việc phát triển các sản phẩm mới, phần thu nhập ngoài lãi của cácngân hàng cũng đã và đang tăng dần tỷ trọng của mình trong tổng thu nhập của cácNHTM Hãy cũng xem xét tỷ lệ này qua số liệu của một số NHTM Việt Nam tại[Bảng 3, phụ lục trang 30]

Có thể thấy, tỷ lệ thu nhập ngoài lãi của các NHTM Việt Nam đã tăng từ 18,9%năm 2010 lên 23,1% năm 2014, thể hiện sự đóng góp ngày càng lớn từ các dịch vụngoài huy động và cho vay tới các ngân hàng, mà một phần không nhỏ trong đó là từviệc phát triển các sản phẩm, dịch vụ hiện đại

Ngoài ra, các ngân hàng cũng luôn nỗ lực đưa ra các gói sản phẩm dịch vụ phùhợp với xu thế mới và đáp ứng kịp thời nhu cầu của khách hàng nhằm chiếm thị phần

Trang 12

Có thể tóm tắt một số xu hướng chính về sự thay đổi cơ cấu sản phẩm dịch vụ của cácNHTM Việt Nam từ năm 2011 đến nay như sau:

a Phát triển sản phẩm, dịch vụ ngân hàng bán lẻ tiện ích và hiện đại

Như đã nói ở trên, các NHTM Việt Nam đang có xu hướng tập trung đánh vàothị trường bán lẻ Tuy nhiên, để có thể cạnh tranh với các đối thủ trên thị trường ngânhàng bán lẻ, các ngân hàng đang không ngừng đổi mới, nâng cao các dịch vụ hướngđến thị trường này, đặc biệt là theo xu hướng hiện đại hóa Cũng theo Hiệp hội thẻViệt Nam, kết quả phỏng vấn các lãnh đạo ngân hàng năm 2013 cho biết 63% sẽ tiếnhành cải tiến, đổi mới, theo các hướng sau:

oTăng tiện ích của tài khoản cá nhân: Ngoài chức năng là tài khoản tiền gửi

thông thường của cá nhân, các NHTM còn cung cấp dịch vụ ngân hàng thấu chi trêntài khoản, với hạn mức thấu chi dựa trên thu nhập ổn định hàng tháng, mức tiền lương,tài sản đảm bảo khác

oĐa dạng các sản phẩm của dịch vụ ngân hàng cá nhân: Các NHTM đang mở

rộng dịch vụ cho vay vốn trả góp mua ô tô, kể cả xe du lịch gia đình, xe du lịch kinhdoanh, xe vận tải, được phối hợp với các đại lý bán xe và dựa trên thu nhập, tài sảnđảm bảo tiền vay của người mua xe ô tô, với thời hạn được vay lên tới 4 -5 năm và sốtiền vay tương ứng với 60% đến 90% giá mua xe

Dịch vụ mua nhà trả góp cũng đang phát triển mạnh tại các đô thị, được đôngđảo các cặp gia đình trẻ có thu nhập khá và ổn định hoan nghênh, với thời hạn vay tối

đa lên tới 10 -15 năm

oGia tăng tính tiện lợi về dịch vụ tài khoản cho khách hàng dựa trên công nghệ ngân hàng hiện đại:

Các sản phẩm hiện đại, đặc biệt là các sản phẩm về thẻ, ngân hàng điện tử, cáckênh cung ứng các dịch vụ ngân hàng đã và đang không ngừng phát triển ở Việt Nam

Có thể kể đến các thành tựu sau đây:

Từ năm 2011 đến năm 2014, số lượng ATM tăng gần 1,5 lần trong khi số lươngPOS tăng gần 2,5 lần [Bảng 4, phụ lục trang 30]

Riêng năm 2014, Báo cáo Driving smarter business Decisions in Vietnam năm

2014 của tập đoàn Nielsen trong số 6% dân cư sử dụng e-banking, trong đó 26% người

là người có thu nhập cao tính; hơn thế nữa, số liệu này đối với ngân hàng điện tử trênnền tảng thiết bị di động lần lượt là 9% và 22% [Bảng 5, phụ lục trang 31]

Trang 13

b Mở rộng các dịch vụ ngân hàng quốc tế.

Đây là mảng dịch vụ mà các Ngân hàng ở Việt Nam chưa triển khai rộng Tuynhiên, khi nền kinh tế ngày càng hội nhập, nhu cầu giao dịch vãng lai bao gồm chuyểnkhoản hay giao thương quốc tế và dịch chuyển vốn từ Việt Nam ra nước ngoài vàngược lại ngày càng tăng Nhận thấy cơ hội này, các ngân hàng đã và đang khôngngừng triển khai, mở rộng các sản phẩm dịch vụ ngân hàng quốc tế

Danh mục các NVNHQT được cung ứng bởi các NHTMVN

Khách hàng

cá nhân

Thẻ thanh toán quốc tếChuyển tiền quốc tếSéc du lịchKhách hàng

doanhnghiệp vàđịnh chế tàichính

Thanh toán quốc tếKinh doanh ngoại tệTài trợ thương mạiBảo lãnh quốc tếBao thanh toán quốc tếNgân hàng đại lý

(Nguồn: Tồng hợp từ website của các NHTMVN)

Đặc biệt, về sản phẩm thanh toán quốc tế và tài trợ thương mại, các ngân hàngViệt Nam đã có những tiến bộ vượt bậc Cuối năm 2014 vưa qua, Citi vừa công bốdanh sách 11 ngân hàng tại Việt Nam được vinh danh bằng giải thưởng về thanh toánquốc tế đạt chuẩn 2014 (Straight Through Processing – STP 2014 award) Đây là sựghi nhận của Citi về chất lượng dịch vụ trong lĩnh vực thanh toán quốc tế của các ngânhàng hoạt động tại Việt Nam, với tỷ lệ điện đạt chuẩn từ 95% Đây là tín hiệu tốt, đặcbiệt là trong bối cảnh Việt Nam đã hoàn thành ký kết các hiệp định tự do hóa thươngmại như Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP), hay sắp tới gia nhập Cộngđồng kinh tế ASEAN (AEC), hứa hẹn sự bùng nổ về thương mại quốc tế giữa ViệtNam và các đối tác ngước ngoài

Tuy nhiên, dịch vụ ngân hàng quốc tế ở Việt Nam cũng vẫn còn nhiều hoạnchế, như mức độ đa dạng các sản phẩm dịch vụ NHQT chưa đáp ứng được yêu cầu củahội nhập, chất lượng cung ứng các NVNHQT chưa cao, kênh phân phối các NVNHQTchưa đa dạng, đòi hỏi các ngân hàng phải chú trọng phát triển dịch vụ này hơn nữatrong thời gian tới

Trang 14

c Phát triển các dịch vụ trên thị trường tài chính, chủ yếu trên thị trường chứng khoán

Một điều dễ nhận thấy đó là đến nay nhiều NHTM thành lập và đưa vào hoạtđộng có hiệu quả công ty chứng khoán trực thuộc Bên cạnh đó, các NHTM cũng phốihợp với các công ty chứng khoán thực hiện dịch vụ cho vay cầm cố cổ phiếu, cầm cốchứng khoán để đầu tư chứng khoán Tham khảo cấu trúc sở hữu Công ty chứngkhoán, Công ty quản lý quỹ của các NHTM tại 31/12/2013 [Bảng 6, phụ lục trang 31]

Năm 2013, trong mẫu nghiên cứu của Hiệp hội ngân hàng Việt Nam (VNBA),trong số 28 NHTM được khảo sát thì tất cả các NTHM Nhà nước đều có công ty con

là công ty chứng khoán Ngoại trừ Agribank và MHB không có công ty quản lý quỹ, 3NHTM Nhà nước còn lại (VietinBank, Vietcombank, BIDV) đều có công ty con làcông ty quản lý quỹ Do đó, có thể nhận thấy toàn bộ các NHTMNN hiện đang thựchiện nghiệp vụ ngân hàng đầu tư thông qua các công ty con là công ty chứng khoán,một số có thêm công ty quản lý quỹ

Đối với các NHTMCP, 12/23 ngân hàng nghiên cứu có đầu tư vào công tychứng khoán Tuy các con số về tỷ lệ sở hữu của các NHTM cổ phẩn thấp hơn so vớicác NHTMNN khi chỉ chỉ 6 (chiếm 26,09%) trong số này thực sự nắm quyền kiểmsoát và do đó có thể thực hiện các nghiệp vụ chứng khoán hóa thông qua công ty con

là công ty chứng khoán, tuy nhiên cũng có khá nhiều NHTMCP nắm giữ tỷ lệ kiểmsoát cao đối với các công ty chứng khoán và quỹ đầu tư như Techcombank, ACB,MBBank,… cho thấy các NHTM cũng đang dần quan tâm đến ngiệp vụ của ngân hàngđầu tư, điều mà trước đây hầu như chưa có ngân hàng nào của Việt Nam cung cấp dịch

vụ đúng nghĩa về nghiệp vụ này

Nói chung ba xu hướng thay đổi về cơ câu sản phẩm, dịch vụ của các NHTMViệt Nam bao gồm phát triển sản phẩm, dịch vụ ngân hàng bán lẻ tiện ích và hiện đại,

mở rộng các dịch vụ ngân hàng quốc tế và phát triển các dịch vụ trên thị trường tàichính, chủ yếu trên thị trường chứng khoán đã cho thấy hệ thống các NHTM Việt Nam

đã phản ứng khá tốt với những tác động của nền kinh tế nói chung và của hệ thốngngân hàng nói riêng để phù hợp với những yêu cầu mới Tuy nhiên các NHTM cũngcần chú ý để vượt qua những thách thức đối với những sản phẩm dịch vụ mới, và tạo

ra một môi trường cạnh tranh công bằng nhằm hoàn thiện hệ thống ngân hàng cũngnhư mang lại lợi ích cho khách hàng

Trang 15

CHƯƠNG 3.

PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG TMCP

QUỐC TẾ VIỆT NAM (VIB) TỪ NĂM 2011 ĐẾN NAY

3.1. Giới thiệu về ngân hàng TMCP Quốc Tế Việt Nam (VIB)

Ngân hàng TMCP Quốc Tế Việt Nam, tên viết tắt là Ngân hàng Quốc Tế

(VIB) được thành lập ngày 18 tháng 9 năm 1996, trụ sở đặt tại 16 Phan Chu Trinh,Quận Hoàn Kiếm, Hà Nội

Đến 20/10/2011, sau 15 năm hoạt động, VIB đã trở thành một trong nhữngngân hàng TMCP hàng đầu Việt Nam với tổng tài sản đạt trên 100 nghìn tỷ đồng, vốnđiều lệ 4.250 tỷ đồng, vốn chủ sở hữu đạt trên 8.200 tỷ đồng VIB hiện có 4.300 cán

bộ nhân viên phục vụ khách hàng tại gần 160 chi nhánh và phòng giao dịch tại trên 27tỉnh/thành trọng điểm trong cả nước Trong quá trình hoạt động, VIB đã được các tổchức uy tín trong nước, nước ngoài và cộng đồng xã hội ghi nhận bằng nhiều danhhiệu và giải thưởng, như: danh hiệu Thương hiệu mạnh Việt Nam, danh hiệu Ngânhàng có dịch vụ bán lẻ được hài lòng nhất, Ngân hàng thanh toán quốc tế xuất sắc,ngân hàng có chất lượng dịch vụ khách hàng tốt nhất, đứng thứ 3 trong tổng số 500doanh nghiệp tư nhân lớn nhất Việt Nam về doanh thu

Năm 2010 ghi dấu một sự kiện quan trọng của VIB với việc Ngân hàngCommonwealth Bank of Australia (CBA) –Ngân hàng bán lẻ số 1 tại Úc và là Ngânhàng hàng đầu thế giới với trên 100 năm kinh nghiệm đã chính thức trở thành cổ đôngchiến lược của VIB với tỉ lệ sở hữu cổ phần ban đầu là 15% Mối quan hệ hợp tác chiếnlược này tạo điều kiện cho VIB tăng cường năng lực về vốn, công nghệ, quản trị rủi ro

… để triển khai thành công các kế hoạch dài hạn trong chiến lược kinh doanh của VIB

và đặc biệt là nâng cao chất lượng Dịch vụ Khách hàng hướng theo chuẩn mực quốc tế

Ngày 22/9/2014, tổ chức xếp hạng uy tín thế giới Moody’s đã nâng bậc tín nhiệm của VIB từ B3 lên B2 đưa ngân hàng này trở thành 1 trong 3 ngân hàng có chỉ

số sức mạnh tài chính (BFSR) cao nhất trong số 9 ngân hàng lớn tại Việt Nam.Song song với việc thăng hạng chỉ số sức mạnh tài chính, Moody’s cũng đã thăng hạng xếp hạng tiền gửi nội tệ và ngoại tệ của VIB lên B2 Ở khía cạnh này, VIB là một trong 2 ngân hàng có thứ hạng cao nhất Bất cứ ai đều có thể nhận thấy sự tiến bộ vượt bậc trong hoạt động của VIB.Sự tiến bộ đó không phải bỗng dưng có mà là cả một quá trình chuyển đổi 3- 4 năm của ngân hàng

Trang 16

3.2 Phân tích về hoạt động kinh doanh của VIB từ năm 2011 đến nay.

3.2.1 Về nguồn vốn.

a. Vốn cấp 1

Vốn cấp 1 bao gồm vốn điều lệ, quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ, quỹ đầu tư pháttriển nghiệp vụ, lợi nhuận chưa chia và thặng dư cổ phần được tính vào vốn theo quyđịnh của pháp luật, trừ đi phần dùng để mua cổ phiếu quỹ (nếu có) Chi tiết về vốn cấp

1 của VIB từ năm 2012 đến tháng 6/2015 được thể hiện ở [Bảng 7, phụ lục trang 32]

Xét về vốn điều lệ, năm 2010, do tạo được niềm tin đối với cổ đông chiến lược

là Commonwealth Bank of Australia (CBA), ngân hàng hàng đầu của Australia, CBA

đã góp thêm vào vốn điều lệ của VIB 1150 tỉ đưa con số này lên 4250 tỉ đồng Đối tácCBA đã nâng cổ phần của mình trong VIB từ mức 15% lên 20% với các cam kết mạnh

mẽ về hỗ trợ nguồn lực nhânsự, chuyển giao công nghệ và hợp tác kinh doanh Từnăm 2012 đến tháng 6/2014, VIB tiếp tục duy trì vốn điều lệ 4250 tỉ đồng

Tuy nhiên, với số vốn điều lệ 4250 tỷ đồng, VIB vẫn còn xếp hạng khá thấp sovới các NH lớn khác (VPbank 8056 tỷ, VCB 26650 tỷ, BIDV 31481 tỷ) Với mục tiêutrở thành một ngân hàng Việt Nam hoạt động theo các chuẩn mực ngân hàng quốc tế,phát triển một thương hiệu mạnh theo hướng gắn bó chặt chẽ với khách hàng, VIB cầnphải nâng mức vốn điều lệ lên mức tương xứng hơn nữa

Từ năm 2012 đến 2013 vốn cấp 1 của VIB giảm 10,1% do quỹ dự trữ bổ sungvốn điều lệ và lợi nhuận không chia giảm mạnh thế hiện tình hình hoạt động kinhdoanh của VIB cũng gặp nhiều khó khăn lớn trong thời kỳ kinh tế Việt Nam chìm vàomảng màu đen tối.Nhưng, sang đến 30/6/2015, vốn cấp 1 đã tăng 6,6% so với 2013cho thấy dấu hiệu sự chuyển biến tích cực.Theo Moody’s, hệ số vốn cấp 1 vào tháng6/2014 của VIB là 16,3%, mức cao nhất trong hệ thống các ngân hàng được tổ chứcnày xếp hạng tín nhiệm Điều này cho thấy khả năng giải quyết thua lỗ của VIB đãđược cải thiện

b Vốn chủ sở hữu.

Từ bảng chi tiết về vốn chủ sở hữu của VIB [Bảng 8, phụ trang 32] có thể thấy,

từ 2012 đến 2013 VCSH đã giảm 4,64% Sự giảm đi của VCSH năm 2013 chủ yếu là

do lợi nhuận giảm mạnh.Tại Đại hội cổ đông thường niên năm 2014 được tổ chức cuốitháng 4 , Ngân hàng VIB cho biết, năm 2013 ngân hàng đạt 81 tỷ đồng lợi nhuận trướcthuế, giảm 88% so với năm 2012 và chỉ đạt 7% kế hoạch đề ra Theo ban lãnh đạoVIB, sự sụt giảm lợi nhuận này xuất phát từ lý do VIB chủ động thay đổi cơ sở kháchhàng, giảm cấp tín dụng đối với doanh nghiệp và cá nhân ở phân khúc rủi ro cao, chiếnlược này đã kéo dài từ năm 2012 Cụ thể, đối tượng khách hàng mà VIB cho vay là

Trang 17

khách hàng có tiềm năng tài chính tốt, tăng trưởng lành mạnh và VIB chấp nhận giảmbiên độ lãi, phí để thu hút các nhóm khách hàng này, dẫn đến thu nhập giảm trongngắn hạn nhằm xây dựng cơ sở khách hàng tốt trong trung và dài hạn.Sang đến 2014,VCSH của VIB cho thấy dấu hiệu tích cực với sự tăng trở lại và đến 30/6/2015 đã đạt

8325754 triệu đồng Sau 4 năm liên tiếp trích lập dự phòng rủi ro ở mức hơn 3000 tỷ,vốn chủ sở hữu của VIB được đánh giá thể hiện thực chất nguồn vốn hơn so với mặtbằng thị trường, không có các rủi ro mất vốn do trích lập thiếu dự phòng

Nhìn chung các thành phần trong nguồn vốn của VIB đều có sự biến động nhẹtheo diễn biến của nền kinh tế và theo chiến lược phát triển lâu dài của ngân hàng này,song VIB vẫn đảm bảo được mức độ an toàn nguồn vốn trong quátrình hoạt động củamình và vượt qua thời kỳ khó khăn nhất đối với hệ thống ngân hàng, đạt được nhữngkết quả đáng ghi nhận trong thời gian gần đây

3.2.2 Về tài sản có.

a Kết cấu tài sản có

Tổng tài sản VIB năm 2014 tăng lên 80.661 tỷ đồng nhờ dư nợ cho vay tăng16% so với 2013

Xem xét kết cấu Tài sản Có của VIB và những thay đổi về tỷ trọng cũng như

xu hướng trong những năm qua tại [Bảng 10, trang]:

Qua bảng tổng hợp trên ta có thể thấy được sự thay đổi rõ rệt giữa các khoản mụcTài sản Có Khủng hoảng nợ, mức tín nhiệm nợ bị hạ bậc, rủi ro vỡ nợ từ hàng loạt tậpđoàn, công ty tài chính đến nhiều quốc gia đã trở thành mảng tối u ám trong bức tranhkinh tế toàn cầu cuối năm 2011 như nhận định của báo Economic Times khiến cho chấtlượng hoạt động tín dụng của hệ thống ngân hàng cũng như VIB chuyển biến mạnh mẽkhi bước sang các năm sau, các ngân hàng tiến hành thu hồi các khoản Tiền gửi và chovay tại các TCTD khác và Cho vay khách hàng về nhằm mục đích đảm bảo thanh khoảncũng như tìm kiếm nguồn sinh lời khác (khoản mục Tiền gửi và cho vay các TCTDkhác sụt giảm từ 28.665.399 triệu đồng năm 2011 xuống còn 7.495.872 triệu đồng năm2014; khoản mục Cho vay khách hàng lần lượt là giảm từ 42.809.646 triệu đồng ăm

2011 xuống 37.289.571 triệu đồng 2014) Năm 2014, tiền gửi đạt mức 49.052 tỷ đồng,tăng 13% so với năm trước Số dư tài khoản vãng lai tăng trưởng 19%

VIB cũng giảm tài sản có khả năng sinh lời thấp là Tiền mặt và vàng tại quỹ từ1.182.590 triệu đồng năm 2011 xuống mức 637.522 triệu đồng năm 2014 Bên cạnh

đó, báo cáo về hoạt động kinh doanh năm 2014 cũng cho biết thêm về doanh thu củakhối ngân hàng bán lẻ đã tăng 11% so với năm trước, chủ yếu từ việc tăng trưởng 22%danh mục cho vay chất lượng cao và tăng 46% doanh thu từ các hoạt động dịch vụ

Trang 18

b.Về danh mục cho vay.

Tiền gửi và cho vay các TCTD khác.

Mặc dù số dư tiền gửi tăng 10%, riêng tài khoản thanh toán tăng đến 50%[Bảng 9, phụ lục trang 33], doanh thu từ tiền gửi vẫn ổn định trong diễn biến thịtrường cạnh tranh và dư thừa thanh khoản khiến lợi nhuận biên không cao

Khối Khách hàng doanh nghiệp cải thiện doanh thu 28% trong năm 2014 Kếthợp với kiểm soát chi phí chặt chẽ, dẫn đến giảm chi phí hoạt động gần 6%, lợi nhuận

từ hoạt động cốt lõi đã tăng 100% so với năm trước Số dư tiền gửi không kỳ hạn củakhách hàng 19% trong năm nay khi thị trường đang có sự cạnh tranh mạnh mẽ

Khối Nguồn vốn và ngoại hối tiếp tục đóng góp đáng kể vào doanh thu hoạtđộng cốt lõi của VIB, thể hiện qua sự tăng trưởng 23% của doanh thu hoạt động so vớinăm 2013 Trong nhiều năm, VIB không có nợ quá hạn trong các hoạt động cho vayliên ngân hàng

Cho vay khách hàng.

Báo cáo về hoạt động kinh doanh năm 2014 cũng cho biết, doanh thu của khốingân hàng bán lẻ đã tăng 11% so với năm trước, chủ yếu từ việc tăng trưởng 22%danh mục cho vay chất lượng cao và tăng 46% doanh thu từ các hoạt động dịch vụ.[Bảng 10, phụ lục trang 34]

Phân tích [Bảng 11, phụ lục trang trang 34] về chất lượng nợ cho vay của VIB,

ta thấy nợ đủ tiêu chuẩn luôn chiếm trên 85% tổng số nợ của Ngân hàng trong khi nợ

có khả năng mất vốn luôn được duy trì 1-2%, thậm chí là dưới 1% Như vậy có thểthấy chất lượng nợ cho vay của VIB là vô cùng tốt

Bài thảo luận xin được so sánh các chỉ số đánh giá rủi ro tín dụng (RRTD) củaVIB qua hai năm gần đây, bao gồm 2013 và 2014, qua đó đánh giá chung về thựctrạng quản lý các khoản cho vay của ngân hàng này

Trang 19

mô tín dụng Đồng thời chỉ số này cao cũng phản ánh khả năng quản lý tín dụng củangân hàng trong khâu cho vay, đôn đốc thu hồi nợ của ngân hàng đối với các khoảnvay chưa tốt và chưa hiệu quả Đến năm 2014, tỷ lệ này giảm xuống còn 3.71% vànằm trong mức chấp nhận được Nguyên nhân của việc giảm này là do VIB đã sử dụngcác công cụ nhằm quản lý RRTD như: xây dựng chính sách và ban hành các quy địnhliên quan đến công tác quản lý RRTD, xây dựng các quy trình tín dụng, thực hiện ràsoát RRTD, xây dựng hệ thống xếp hạng tín dụng và phân loại nợ theo Thông tư02/2013/TT-NHNN và Thông tư 09/2014/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung Thông tư 02,phân cấp thẩm quyền trong hoạt động tín dụng.

Tuy nhiên chỉ tiêu này đôi khi cũng chưa phản ánh hết chất lượng tín dụng củamột ngân hàng bởi vì một số nguyên nhân làm tỷ lệ này thấp ở một số ngân hàng nhưcho vay đảo nợ, không chuyển nợ quá hạn theo đúng quy định,…

o Tỷ lệ nợ xấu = x100%

Theo Thông tư 02/2013/TT-NHNN, nợ xấu (NPL) là nợ thuộc các nhóm 3, 4 và 5

Tỷ lệ nợ xấu cho biết chất lượng và rủi ro của danh mục cho vay của ngân hàng,bao nhiêu đồng đang bị phân loại vào nợ xấu trên 100 đồng cho vay.Với quyết tâm đưa nợ xấu về dưới mức 3%, VIB đã hạn chế nợ xấu mới phát sinh và

xử lý nợ xấu cũ Như vậy cả 2 năm 2013 và 2014, tỷ lệ nợ xấu đều đạt mức chuẩn đã

đề ra (2013 là 2.70%, năm 2014 giảm xuống còn 2.25%) Tỷ lệ này giảm dần và thấphơn so với trung bình ngành Ngân hàng (3.25% tính đến 31/12/2014)cho thấy chấtlượng các khoản tín dụng được cải thiện Nguyên nhân của việc giảm này là do tácđộng của Chỉ thị 02 của NHNN Theo báo cáo của VIB thì trong năm 2014, ngân hàng

Trang 20

này đã bán cho VAMC 2.506 tỷ đồng nợ xấu Năm 2015, VIB dự kiến sẽ xử lý 3.835

tỷ đồng nợ xấu, đảm bảo duy trì tỷ lệ nợ xấu quanh ngưỡng 2,5% Trong đó, VIB dựkiến bán cho VAMC 2.209 tỷ đồng nên sẽ tăng trích lập dự phòng Năm qua, VIBdành 1.188 tỷ đồng trích lập dự phòng tín dụng, song lợi nhuận trước thuế vẫn đạt 648

tỷ đồng, đạt 201% so với kế hoạch đưa ra

 Khả năng bù đắp rủi ro

o HS khả năng bù đắp các khoản cho vay bị mất =

Trong đó: dự phòng RRTD được trích lập=dự phòng RR CV các TCTDkhác+dự phòng RR CV và ứng trước khách hàng

Từ bảng trên có thể thấy hệ số này tăng 1.75 lần từ 0.475 (năm 2013) lên 0.83(năm 2014) Hệ số này cho biết khả năng bù đắp các khoản vay bị mất là bao nhiêu.Theo như số liệu trên thì VIB đã thành công trong việc sử dụng các nguồn để bù đắpcác khoản vay là vốn chủ sở hữu và dự phòng rủi ro

Ngày đăng: 21/04/2017, 22:58

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w